Với mục đích đóvie65c tìm hiểu về lục đia, biển và đại dương là một phần không thể thiếu trong quá trình khám phá về hành tinh này.Những tư liệu sau đay sẽ giúp các bạn có một cái nhìn t
Trang 1MỞ ĐẦU
Con người đang sống trên trái đất, sự hình thành và phát triển của trái đất tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của con người, việc ngiên cứu trái đất chính là ngiên cứu môi trường sống, không gian sống ở quá khứ, hiện tại và tương lai của chính chúng ta Với mục đích đóvie65c tìm hiểu về lục đia, biển và đại dương là một phần không thể thiếu trong quá trình khám phá về hành tinh này.Những tư liệu sau đay sẽ giúp các bạn có một cái nhìn tổng quát về lục địa, biển và đại dương trên phương diện địa hình và cấu tạo
Thông tin được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau trong một khoang thời gian ngắn do đó có những hạn chế và thiếu sót, mong nhận được sự đóng góp, bổ sung và sửa chữa chân thành từ cô và các bạn
A.BIỂN VÀ CÁC ĐẠI DƯƠNG:
• VỎ ĐẠI DƯƠNG :
Lớp vỏ này nằm ở dưới đại dương, dày khoảng 6-11 km Đá của vỏ đại dương thì rất trẻ so với vỏ lục địa.Đá của vỏ Trái Đất có độ tuổi không hơn 200 triệu năm Vỏ dại dương được làm từ loại đá bazan không có Olivin Bazan có màu tối, được tạo ra từ núi lửa Nó được tạo thành từ dung nham lỏng làm lạnh nhanh
• ĐỊA HÌNH BIỂN VÀ ĐAI DƯƠNG:
a.Địa hình thềm lục địa:
Trang 2Các vùng biển theo luật biển quốc tếThềm lục địa là vành đai mở rộng của mỗi lục địa, trong các thời kỳ băng hà đã là các vùng đất liền còn hiện nay là các biển tương đối nông (còn được biết đến như là các biển cạn) và các vịnh Các thềm lục địa có độ dốc thoải đều (1-2 °) và thông thường kết thúc bằng các sườn rất dốc (gọi là đứt gãy thềm lục địa) Đáy biển phía dưới các đứt gãy là dốc lục địa có độ dốc cao hơn rất nhiều so với thềm lục địa Tại chân dốc nó thoải đều, tạo ra bờ lục địa và cuối cùng hợp nhất với đáy đại dương tương đối phẳng, có độ sâu đạt từ 2.200 đến 5.500 m Ranh giới ngoài của thềm lục địa có độ sâu đạt tối
đa 200-600 m hoặc sâu hơn tùy theo cấu tạo địa chất sườn lục địa
Chiều rộng của thềm lục địa dao động một cách đáng kể Có rất nhiều khu vực không có thềm lục địa, đặc biệt là ở các khu vực mà các gờ của vỏ đại dương nằm gần vỏ lục địa trong các khu vực sút giảm ven bờ, chẳng hạn như các vùng bờ biển của Chile hay bờ biển phía tây của đảo Sumatra Thềm lục địa lớn nhất— thềm lục địa Siberi ở Bắc Băng Dương— kéo dài tới 1.500 kilômét Biển Đông nằm trên một khu vực mở rộng khác của thềm lục địa, thềm lục địa Sunda, nó nối liền các đảo Borneo, Sumatra và Java với
châu Á đại lục Các biển khác cũng nằm trên các thềm lục địa còn có biển
Trang 3Bắc và vịnh Ba Tư (còn gọi là vịnh Péc xích) Chiều rộng trung bình của các thềm lục địa là khoảng 80 km Độ sâu của các thềm lục địa cũng dao động mạnh Nó có thể chỉ nông khoảng 30 m mà cũng có thể sâu tới 600 m.
Thềm lục địa chia ra thềm nội (phần giáp đất liền), thềm giữa và thềm ngoài (giáp sườn lục địa) Ranh giới giữa chúng được phân định tùy theo từng vùng Phần ngoài cùng của thềm là mép thềm (shelf-break)
Theo nguồn gốc có thể chia thềm lục dịa ra ba kiểu:
+Thềm lục địa nhận chìm: là các đồng bằng tích tụ-bào mòn và bào mòn-tích tụ nửa ngập nước tương ứng với đới rìa các miền lục địa bị ngập nước
+Thềm lục địa mài mòn của các công trình tạo núi trẻ, cung đảo
và đảo đại dương
Newfoundland đã nuôi những người châu Âu nghèo khó hơn 500 năm trước khi chúng bị đánh bắt cạn kiệt Nếu các điều kiện yếm khí chiếm ưu thế trong các lớp trầm tích thì các thềm lục địa theo thang niên đại địa chất sẽ trở thành các nguồn nhiên liệu hóa thạch
Xa hơn nữa, việc tương đối dễ tiếp cận của các thềm lục địa là phương thức tốt nhất để tìm hiểu các bộ phận của đáy đại dương
b.Địa hình sườn lục địa:
Sườn lục địa là phần dốc của thềm lục địa chuyến tiếp ra trũng đại dương , đây cũng là đới ngoài của vỏ lục địa chuyển sang vỏ đại dương Sườn lục địa có độ dốc và độ sâu lớn là do 2 hệ thống đứt gãy kiến tạo : đứt gãy tạo bờ dốc sụt bậc , đứt gãy ngang tạo nên các rãnh sâu gọi là Canhon
Vì vậy , địa hình sườn lục địa còn giữ lại dấu ấn của quá trình địa chất nội sinh là chủ yếu
Theo độ sâu người ta chia ra biển khơi (sâu trên 3000 m), biển thẳm (3000-6000 m) và biển vực sâu (hơn 6000 m) Ngoài ra còn có những tên gọi khác như lòng chảo đại dương hay rốn đai dương là những vùng nước sâu trên 3000 m, có bề mặt khá phẳng; còn vùng trũng nước sâu là vùng có
độ sâu trên 6000 m
Sườn và chân lục địa có địa hình lởm chởm phức tạp với nhiều ngọn núi, đồng bằng dưới nước và có những ngọn núi cao 2000-3000 m đứng riêng lẻ(seamounts)
c.Địa hình chân lục địa:
Trang 4Chân lục địa là một dải tương đối hẹp có dạng nón quạt ngầm không liên tục nằm ở chân dốc sườn lục địa Chân lục địa thường là những thể turbidit-sản phẩm hỗn hợp của dòng chảy theo thung lũng canhon từ sườn lục địa đổ vào lòng chảo đại dương trộn lẫn bùn sét, bùn vôi, bùn silic và vật liệu núi lửa được tái phân bố do dòng rối của đáy biển sâu.
từ sườn lụa địa
Trong khi đó đáy đại dương rìa tích cực thường bị băm nát bởi các đứt gãy Ở đây ngoài các núi cao trên 1000 m còn có vô số các đồi núi biển thẳm cao vài trăm m Các đồi núi này ở rìa lụa địa thụ động (yên tĩnh) cũng khá nhiều song bị chôn vùi dưới lớp trầm tích dày và chỉ thấy trên mặt cắt địa chấn
e.Địa hình các sống núi trung tâm đại dương:
Các sống núi trung tâm đại dương là những sốnng núi kì vĩ nằm giữa các đại dương, chiếm 1/3 diện tích đại dương thế giới Trên các sống núi nằm ở sâu khoảng 5000 m, đỉnh núi thường đạt độ cao 2500 m, đôi khi nhô lên khỏi mặt biển Chiều rộng chân núi đạt từ 1000-3000 km Đây là đới
“động” bởi hoạt động địa chấn tăng cao và hoạt động núi lửa mạnh Các sống núi này léo dài qua tất cả các đại dương và đạt trên 70000 km
Các sống núi bị chia cắt bởi rất nhiều đứt gãy chuyển dạng (đứt gãy ngang) làm cho các khối bị xê dịch tương đối với nhau Các trục đối xứng của sống núi (đường sống lưng hay đỉnh núi) thường trùng với thung lũng trung tâm với chiều rộng tương đối hẹp (gần 30 km) và cắt sâu xuống (đến 2 km)
f.Các dạng khác của địa hình đáy đại dương:
+Núi dưới nước: thường là các núi lửa cổ phân bố rời rạc trên đáy biển và đại dương
+Các sống núi địa chấn ổn định: chúng là các khối nhô kéo dài khà yên tĩnh về mặt địa chấn Nguồn gốc các dãy núi ngầm này cũng do các hoạt động núi lửa dưới biển
+Các đảo và quần đảo núi lửa: trên đó phát triển san hô atol
g.Địa hình đáy biển:
Biển là các thủy vực nằm giữa đại lục hoặc ằnm sát các đại lục và liên thông với đại dương qua các đảo và quần đảo
Trang 5Theo địa mạo và độ sâu, biển được chia làm hai loại: laoi5 đáy bằng phẳng và loại máng sâu hay biển nông và biển sâu Biển nông thường có đáy phẳng đặc trưng cho miền nền hay gọi là biển á lục địa Còn biển máng có đáy khá sâu và địa hình đáy phân cắt đặc trưng cho địa máng hay đới hút chìm, tuy nhiên cũng có ngoại lệ.
Theo mối tương quan với lục địa (đất liền) chia ra biển nội lục (giữa lục địa) và biển ven đại dương
Địa hình đáy biển có thể chia ra các yếu tố như đáy đại dương thềm lục địa, sườn lục địa; ở một số biển có đới chân lục địa, thậm chí có đồng bằng biển thẳm và sống trung tâm với thung lũng rift
Phần lớn các biển có độ sâu không lớn và có cấu tạo bề mặt khá phức tạp
Nghiên cứu địa hình đáy biển và đại dương có tầm quan trọng về nhiều mặt.Đặc điểm địa hình có ảnh hưởng đến sự di chuyển của nước và phát triển thế giới sinh vật Vị trí tương đối của biển với lục địa, mức độ liên thông của nó với đại dương sẽ xác định độ muối của chúng, khối lượng vật liệu trầm tích vụn do sông mang tới, cũng như tính chất hoàn lưu của nước
và sự phát triển của thế giới sinh vật
•
HÌNH THÀNH ĐẠI DƯƠNG CỔ:
Trôi dạt lục địa đã tái định hình thể cho các đại dương của Trái Đất, kết hợp và chia cắt các đại dương cổ để tạo ra các đại dương như hiện nay Các đại dương cổ có:
Trang 6Đại dương sông Bridge, đại dương nằm giữa quần đảo Insular cổ đại
Đại dương Rheic
Đại dương núi Slide, đại dương nằm giữa quần đảo Intermontane cổ đại và Bắc Mỹ
Đại dương Tethys, đại dương nằm giữa các lục địa cổ Gondwana và
Laurasia
Đại dương Khanty, đại dương nằm giữa Baltica và Siberia
Mirovia, đại dương bao quanh siêu lục địa Rodinia
Đại dương Paleo-Tethys, đại dương nằm giữa Gondwana và địa hình Hunic
Đại dương Proto-Tethys,
Đại dương Pan-Africa, đại dương bao quanh siêu lục địa Pannotia
Superocean, đại dương bao quanh siêu lục địa toàn cầu
Đại dương Ural, đại dương nằm giữa Siberia và Baltica
Bản đồ động chỉ ra các vùng nước đại dương của thế giới Một khối
nước liên tục bao quanh Trái Đất, Đại dương thế giới (toàn cầu) được chia thành một số các khu vực cơ bản Sự phân chia thành 5 đại dương là điều thường được công nhận: Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương,
Năm đại dương của Trái Đất
• Ấn Độ Dương
• Bắc Băng Dương
• Đại Tây Dương
• Nam Đại Dương
• Thái Bình Dương
Trang 7Bắc Băng Dương và Nam Đại Dương; hai đại dương cuối đôi khi được hợp nhất trong ba đại dương đầu tiên.
SỰ HÌNH THÀNH ĐAI DƯƠNG: Nước trên trái đất có nguồn gốc đầu tiên từ sự phun trào các chất khí và hơi nước của các núi lửa, tạo nên bầu khí quyển đầu tiên trên trái đất Sau đó, hơi nước ngưng tụ lại và trút xuống lấp đầy các chỗ trũng trên bề mặt trái đất.Từ các vùng nước
rộng lớn này, các đại dương thế giới được hình thành Lúc đầu nước biển còn nóng, sau đó nguội dần và những thực vật đầu tiên đã hình thành, làm giàu oxi trong nước, tạo điều kiện cho sự sống phát triển trên trái đất Nước biển cũng mặn dần do sông ngòi hòa tan muối từ đất đá trong đất liền đem ra
biển hoặc từ các núi lửa ngầm phun ra.Vậy Đại dương là một vùng lớn chứa
nước mặn tạo thành thành phần cơ bản của thủy quyển
Khoảng 71% diện tích bề mặt Trái Đất (khoảng 361 triệu kilômét vuông) được các đại dương che phủ, một khối nước liên tục theo tập quán được chia thành một vài đại dương chủ chốt và một số các biển nhỏ Trên một nửa diện tích khu vực này có độ sâu trên 3.000 mét (9.800 ft) Độ mặn
trung bình của đại dương là khoảng 35 phần ngàn (ppt) (3,5%) và gần như mọi loại nước biển có độ mặn dao động trong khoảng từ 30 (ở vùng cận cực) tới 38 ppt (vùng nhiệt đới/cận nhiệt đới) Nhiệt độ nước bề mặt ở ngoài khơi
là 29°C (84°F) ở vùng ven xích đạo xuống đến 0°C (32°F) ở các vùng địa cực
a TỔNG QUAN:
Mặc dù nói chung được công nhận như là các đại dương 'tách biệt', nhưng các vùng nước mặn này tạo thành một khối nước nối liền với nhau trên toàn cầu, thường được gọi chung là Đại dương thế giới hay đại dương toàn cầu Khái niệm về đại dương toàn cầu như là một khối nước liên tục với
sự trao đổi tương đối tự do giữa các bộ phận của nó có tầm quan trọng nền tảng cho hải dương học Các phần đại dương chính được định nghĩa một phần dựa vào các châu lục, các quần đảo khác nhau cùng các tiêu chí khác: các phần này là (theo trật tự giảm dần của diện tích) Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương (đôi khi được phân chia và tạo thành phần phía nam của Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương) và Bắc Băng Dương (đôi khi được coi là một biển của Đại Tây Dương[4]) Thái Bình Dương và Đại Tây Dương cũng có thể phân chia tiếp bởi đường xích đạo thành các phần Bắc và Nam Các khu vực nhỏ hơn của đại dương được gọi là các biển, vịnh hay một số các tên gọi khác Cũng tồn
Trang 8tại một số khối nước mặn nhỏ hơn trong đất liền và không nối với Đại dương
thế giới, như biển Aral, Great Salt Lake (Hồ Muối Lớn) – mặc dù chúng có thể coi như là các 'biển', nhưng thực ra chúng là các hồ nước mặn Có 5 đại dương trên thế giới, trong đó Thái Bình Dương là lớn nhất và sâu nhất, thứ hai về diện tích và độ sâu là Đại Tây Dương, tiếp theo là Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương còn nhỏ và nông nhất là Bắc Băng Dương
Nước đại dương luôn luôn chuyển động do tác động của thuỷ triều, gây ra bởi lực hấp dẫn của Mặt Trăng và Mặt Trời đối với Trái Đất, sóng và hải lưu do tác dụng của gió Các dòng bù trừ phát sinh do sự thiếu hụt của nước Chẳng hạn nước của Địa Trung Hải bị bốc hơi rất mạnh, ít sông suối
đổ vào, do đó nước có độ mặn cao và có tỉ trọng lớn Nước ở dưới sâu chảy
từ Địa Trung Hải ra Đại Tây Dương tạo ra sự thiếu hụt, vì thế một hải lưu bề mặt lại chảy từ Đại Tây Dương vào Địa Trung Hải để bù vào chỗ thiếu hụt đó
Do độ che phủ bề mặt Trái Đất tới 71% nên các đại dương có ảnh hưởng lớn tới sinh quyển Sự bốc hơi nước của các đại dương quyết định phần lớn lượng giáng thủy mà Trái Đất nhận được, nhiệt độ nước của các đại dương cũng quyết định phần lớn khí hậu và kiểu gió trên Trái Đất Sự sống trong lòng đại dương có lịch sử tiến hóa diễn ra khoảng 3 tỷ năm trước khi
có sự di chuyển của động, thực vật lên trên đất liền Lượng sự sống và khoảng cách tính từ bờ biển (yếu tố vô sinh) ảnh hưởng tới sự phân bố chính của quần xã sinh vật biển Các sinh vật như tảo, rong, rêu sinh sống trong khu vực giáp giới thủy triều (nơi đất liền gặp biển) sẽ cố định chúng vào đá
vì thế chúng không bị rửa trôi bởi thủy triều Đại dương cũng là nơi sinh sống của nhiều loài và có thể phân chia thành vài đới (vùng, tầng) như vùng biển khơi, vùng đáy, vùng chiếu sáng, vùng thiếu sáng v.v.[6]
Về mặt địa chất, đại dương là nơi mà lớp vỏ đại dương được nước che phủ Lớp vỏ đại dương dày trung bình khoảng 4,5 km, bao gồm một lớp trầm tích mỏng che phủ trên lớp bazan núi lửa mỏng đã đông cứng Lớp bazan này che phủ lớp peridotit thuộc mặt ngoài của lớp phủ Trái Đất tại những nơi không có châu lục nào Xét theo quan điểm này thì ngày nay có 3
“đại dương”: Đại dương thế giới, biển Caspi và biển Đen, trong đó 2 “đại dương” sau được hình thành do va chạm của mảng Cimmeria với Laurasia
Địa Trung Hải có thể coi là một “đại dương” gần như riêng biệt, nối thông với Đại dương thế giới qua eo biển Gibraltar và trên thực tế đã vài lần trong vài triệu năm trước chuyển động của châu Phi đã đóng kín eo biển này hoàn toàn Biển Đen thông với Địa Trung Hải qua Bosporus, nhưng là do tác động của một kênh tự nhiên cắt qua lớp đá lục địa vào khoảng 7.000 năm trước, chứ không phải một mảng của đáy biển như eo biển Gibraltar
b TÍNH CHẤT VẬT LÝ :
Trang 9Diện tích của Đại dương thế giới là khoảng 361 triệu kilômét vuông (139 triệu dặm vuông), dung tích của nó khoảng 1,3 tỷ kilômét khối (310 triệu dặm khối), và độ sâu trung bình khoảng 3.790 mét (12.430 ft).Gần một nửa nước của đại dương thế giới nằm sâu dưới 3.000 m (9.800 ft) Sự mở rộng khổng lồ của đại dương sâu (những gì dưới độ sâu 200m) che phủ khoảng 66% bề mặt Trái Đất Nó không bao gồm các biển không nối với Đại dương thế giới, chẳng hạn như biển Caspi.
Tổng khối lượng của thủy quyển khoảng 1,4 × 1021 kilôgam, chiếm khoảng 0,023% khối lượng Trái Đất Dưới 2% là nước ngọt; phần còn lại là
nước mặn, chủ yếu trong các đại dương
c MÀU SẮC:
Một sai lầm phổ biến cho rằng nước biển có màu xanh lam chủ yếu là
do bầu trời có màu xanh lam Trên thực tế, nước có màu xanh lam rất nhạt chỉ khi được nhìn thấy với một thể tích lớn Trong khi sự phản chiếu bầu trời
có đóng góp vào biểu hiện màu xanh lam của bề mặt đại dương, nhưng nó không phải là nguyên nhân chính Nguyên nhân chủ yếu là sự hấp thụ của các hạt nhân các phân tử nước đối với các photon màu đỏ từ ánh sáng chiếu tới, ví dụ đã biết duy nhất về màu sắc trong tự nhiên tạo ra từ động lực học dao động chứ không phải động lực học điện tử
Nhiều thủy thủ và các nhà hàng hải chuyên nghiệp thông báo rằng đại dương thường bức xạ ánh sáng nhìn thấy hay phát quang, có thể trải dài hàng dặm vào ban đêm Năm 2005, các nhà khoa học đã thông báo điều này lần đầu tiên, chứng cứ bằng hình ảnh cũng đã thu được đối với sự phát sáng này Nó có thể là do phát quang sinh học
d THÁM HIỂM:
Bản đồ các đặc trưng chính dưới đáy biển (1995,
NOAA)
Đi lại trên bề mặt đại dương bằng tàu thuyền đã diễn ra từ thời tiền sử, nhưng chỉ ngày nay thì việc
đi lại ngầm dưới mặt nước biển một cách rộng khắp mới có thể trở thành hiện thực
Điểm sâu nhất trong đại dương nằm ở phía nam rãnh Mariana trong Thái Bình Dương, gần quần đảo Bắc Mariana Nó có độ sâu tối đa là 10.923
m (35.838 ft) Nó được khảo sát chi tiết lần đầu tiên năm 1951 bởi tàu
Trang 10"Challenger II" của hải quân Anh và điểm sâu nhất này được đặt tên theo tên tàu này là "Challenger Deep" Năm 1960, tàu thăm dò biển sâu Trieste đã xuống thành công tới đáy của rãnh, được điều khiển bởi một thủy thủ đoàn gồm 2 người.
Phần lớn đáy các đại dương vẫn chưa được thám hiểm và lập bản đồ Hình ảnh toàn cầu của nhiều đặc trưng ngầm lớn hơn 10 km (6 dặm) được tạo ra năm 1995 dựa trên các méo mó hấp dẫn của bề mặt biển cận kề
e CÁC KHU VỰC TẦNG:
Các bộ phận chính của đại dương
Đại dương được chia ra thành nhiều khu vực hay tầng, phụ thuộc vào các điều kiện vật lý
và sinh học của các khu vực này Vùng biển khơi bao gồm mọi khu vực chứa nước của biển cả (không bao gồm phần đáy biển) và nó có thể phân chia tiếp thành các khu vực con theo độ sâu và độ chiếu ở độ sâu 4.000 – 6.000 m Cuối cùng là vùng đáy tăm tối tương ứng với vùng sáng
Vùng chiếu sáng che phủ đại dương từ bề mặt tới độ sâu 200 m Đây là khu vực trong đó sự quang hợp diễn ra phổ biến nhất và vì thế chứa sự đa dạng sinh học lớn nhất trong lòng đại dương Do thực vật chỉ có thể sinh tồn với quá trình quang hợp nên bất kỳ sự sống nào tìm thấy dưới độ sâu này hoặc phải dựa trên các vật chất trôi nổi chìm xuống từ phía trên (xem tuyết biển) hoặc tìm các nguồn chủ lực khác; điều này thường xuất hiện dưới dạng
miệng phun thủy nhiệt trong khu vực gọi là vùng thiếu sáng (tất cả các độ sâu nằm dưới mức 200 m) Phần biển khơi của vùng chiếu sáng được gọi là
vùng biển khơi mặt (epipelagic) Phần biển khơi của vùng thiếu sáng có thể chia tiếp thành các vùng nối tiếp nhau theo chiều thẳng đứng Vùng biển khơi trung (mesopelagic) là tầng trên cùng, với ranh giới thấp nhất tại lớp dị nhiệt là 12°C, trong đó tại khu vực nhiệt đới nói chung nó nằm ở độ sâu giữa
700 với 1.000 m Dưới tầng này là vùng biển khơi sâu (bathypelagic) nằm giữa 10°C và 4°C, hay độ sâu giữa khoảng 700-1.000 m với 2.000-4.000 m
Trang 11Nằm dọc theo phần trên của vùng bình nguyên sâu thẳm là vùng biển khơi sâu thẳm (abyssalpelagic) với ranh giới dưới của nó nằm ở độ sâu khoảng 6.000 m Vùng cuối cùng nằm tại các rãnh đại dương và được gọi chung là
vùng biển khơi tăm tối (hadalpelagic) Nó nằm giữa độ sâu từ 6.000 m tới 10.000 m và là vùng sâu nhất của đại dương
Cùng với các vùng biển khơi thiếu sáng còn có các vùng đáy thiếu sáng, chúng tương ứng với ba vùng biển khơi sâu nhất Vùng đáy sâu che phủ sườn dốc lục địa và kéo dài xuống độ sâu khoảng 4.000 m Vùng đáy sâu thẳm che phủ các bình nguyên sâu thẳm biển khơi tăm tối, tìm thấy ở các rãnh đại dương Vùng biển khơi cũng có thể chia ra thành hai vùng con, là
vùng ven bờ (neritic) và vùng đại dương Vùng neritic bao gồm khối nước nằm ngay trên các thềm lục địa, trong khi vùng đại dương bao gồm toàn bộ vùng nước biển cả còn lại
Ngược lại, vùng duyên hải bao phủ khu vực nằm giữa các mức thủy triều cao và thấp nhất, nó là khu vực chuyển tiếp giữa các điều kiện đại dương và đất liền Nó cũng có thể gọi là vùng liên thủy triều do nó là khu vực trong đó mức thủy triều có ảnh hưởng mạnh tới các điều kiện của khu vực
f ĐÁY ĐẠI DƯƠNG
Đừng rơi khỏi thềm lục địa! Thềm chấm dứt đột ngột cách bờ biển ở một khoảng xa nào đó Và rồi đất tụt xuống dốc lục địa ở đáy Đại Dương sâu vào khoảng 3600m bên dưới bạn có thể nhận chìm 2 đỉnh Nevis?s vào đáy Đại Dương mà vẫn cách mặt đất 1000m Đáy đại dương không tối hoàn toàn Rất ít loài cá nào có thể sống được ở đó Loài cá câu đèn là một loại cá sống được ở đó Nó mang đèn lồng của chính nó để nhử con mồi vào cái miệng khổng lồ ánh sáng do vi khuẩn tạo ra sáng rực trong bóng đêm Biển Địa Trung Hải đang khép lại nhưng rất chậm Mỗi năm Bắc Phi di động 1 cm hoặc 2 cm gần hơn với ý Hy lạp và Pháp
Biển mặn nhất là ở Trung Đông nơi mặt trời nóng như đổ lửa làm bốc hơi nước và làm cho biển ngày càng mặn hơn Biển Đỏ mặn đến nỗi bạn không bị chìm ngỉm - muối đẩy bạn nổi lên!
Sóng là do gió thổi trên biển gây ra Sóng có thể di chuyển hàng ngàn cây số chứng tỏ trên đường đi không có mô đất liền nào chặn chúng lại Có những đợt sóng bắt nguồn từ ấn Độ Dương có thể băng qua 19.000 km thông luôn con đường tới Alaska