Khái quát về đất đỏ vàng Đất đỏ vàng đất Feralit, là nhóm đất có màu đỏ hoặc lẫn đỏ do sự tích tụ của các oxit Fe, Al; nhóm đất này thường xuất hiện dưới những tán rừng mưa nhiệt đới..
Trang 11
NH M H C HI N: NH M 8
1
2
3 ă o
4
5
6 12
Trang 2
2
I 4
II 4
III Quá trình Laterit hóa 1 Quá trình tích lũy tương đối Fe, Al 5
2 Quá trình tích lũy tuyệt đối Fe, Al hay quá trình hình thành đá ong: a Các loại kết von: 6
b Các loại đá ong: 7
IV o
1) Đất nâu đỏ trên đá bazan 8
2) Đất nâu vàng trên đá bazan 9
3) Đất m n vàng đỏ trên n i 9
4) Đất vàng đỏ trên đá phiến sét 10
V 10
VI
1 Đất nâu đỏ trên đá bazan 11
2 Đất đỏ vàng trên đá phiến sét và granit 12
3 Đất nâu vàng trên ph sa cổ 12
VII
1 Các vấn đề môi trường 13
2.Giải pháp 15
Kết luận 17
Trang 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hội khoa học đất Việt Nam.Đất Việt Nam.Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội,2000
[2] Phạm Quang Khánh ài nguyên đất v ng Đông Nam Bộ - Hiện trạng và tiềm năng.Nhà xuất bản nông nghiệp,1995
[3] Vũ ự Lập.Địa lí Việt Nam.Nhà xuất bản đại học Sư Phạm,1995
Trang 44
Như Docuxaep đã từng nói : “Đất là một vật thể tự nhiên, độc lập, có lịch sử riêng được hình thành tổng hợp của đá mẹ, khí hậu, sinh vật, đại hình và thời gian.”
Từ định nghĩa trên ta thấy đất có nguồn gốc phát sinh phát triển , không phải là một vật thể mà luôn phát triển và biến đổi không ngừng
Chính sự phát triển và biến đổi không ngừng đó đã xuất hiện hình thành các loại đất khác nhau và phân bố khắp nơi trên bề mặt trái đất Cũng như đối với quá trình hình thành đất diễn ra khá mạnh mẽ đã tạo nên những loại đất có đặc điểm tính chất khác nhau Một số loại đất chính như: feralit, ph sa, xám…
Diện tích đất đỏ khoảng 3.014.594 ha
Tập trung nhiều ở ây Nguyên, đông nam bộ (1.018.786ha, chiếm 43% tổng diện tích đông nam bộ) và một số tỉnh v ng n i nước ta
I Khái quát về đất đỏ vàng
Đất đỏ vàng (đất Feralit), là nhóm đất có màu đỏ hoặc lẫn đỏ do sự tích tụ của các oxit Fe, Al; nhóm đất này thường xuất hiện dưới những tán rừng mưa nhiệt đới Tầng tích luỹ chất hữu cơ (tầng A) thường mỏng, hàm lượng chất hữu cơ trong đất thấp, trong thành phần của m n, axít fulvônic thường chiếm ưu thế hường có tích tụ các ôxit của Fe và Al trong tầng B, do vậy tạo nên màu đỏ vàng thường thấy của loại đất này
Hay còn có một cách định nghĩa khác : “loại đất phân bố chủ yếu ở v ng đồi núi, phổ biến màu đỏ vàng, tích luỹ sắt (Fe), nhôm (Al), do đó nó còn được gọi là đất feralit”
Đất đỏ vàng là một trong 30 nhóm đất theo hệ thống phân loại của FAO, nó
được gọi tên là Ferralsols (trong phân loại của Bộ nông nghiệp Mỹ, người ta lấy
tên nhóm đất này là oxisols)
Chiếm 6 diện tích đất bề mặt lục địa của rái Đất, được tìm thấy nhiều nhất ở Brazil, lưu vực sông Congo, Guinea và Madagasca
II đ m đất đỏ v n
Trang 55
Đất được hình thành trên các sản phẩm phong ph của các loại đất mẹ và mẫu
chất khác nhau, chịu ảnh hưởng bởi thời tiết Kết quả nghiên cứu đất đỏ vàng nhiều năm qua cho thấy đặc điểm chung của nhóm đất này là:
- ính chua: pH<5,0
- Độ no bazơ (CEC) thấp: CEC<50
o Khả năng giữ nước và hấp phụ chất dinh dư ng không cao
- Hạt kết tương đối bền
- Chứa rất ít khoáng sơ sinh(trừ thạch anh và các khoáng rất bền khác)
- Nhiều hydroxyt sắt, nhôm, titan và mangan, tỉ số SiO2 /R2O3 và SiO2/Al2O3 thấp trong phần sét của đất, tỉ số này thường nhỏ hơn 2 Đất thường chứa nhôm tự do Các oxyt nhôm, sắt được tích lũy tương đối và tuyệt đối
- Phổ biến là khoáng sét thứ sinh kaolinit, một số hydroxyt sắt, nhôm và titan
- Các đoàn lạp (Các hạt cơ bản trong đất có thể kết dính với nhau qua các quá trình lí học, hoá học, lí - hoá, sinh học, vv Đoàn lạp đơn giản tạo thành từ các hạt đất cơ bản Nếu tạo thành từ các hạt có đường kính nhỏ hơn 0,25 mm thì gọi là vi đoàn lạp Theo hình thái các đoàn lạp có các dạng: có góc cạnh, dạng phiến, dạng tròn, dạng không cân đối Theo kích thước có phân biệt: tảng khối (đường kính lớn hơn 10 mm); cục (đường kính từ 0,25 mm đến 10 mm); bụi
- Thành phần hữu cơ gồm nhiều nhất là axit fulvic (H :5-6% ; C: 47-48% ;
O2 : 43-49% ; N: 1,5-3%)
- Các cation kiềm, kiềm thổ trao đổi và các chất dễ tan bị rửa trôi
- Hàm lượng phân tử limon trong đất thấp so với các cấp hạt khác
- Có tầng tích tụ B feralit
III Cá quá trình tron đất đỏ v n
1 Quá trình tí h lũy tươn đố Fe, Al :
+ Quá trình tích luỹ đất tương đối Fe, Al (còn gọi là quá trình Feralit): Sắt và nhôm được tích luỹ trong đất do sự rửa trôi các chất khác Các chất có trong đất đều bị rửa trôi, nhưng các hợp chất sắt và nhôm (dạng oxyt và hydroxit) khó bị rửa trôi hơn nên theo thời gian tỷ lệ tương đối của chúng chiếm thành phần chủ yếu trong đất Quá trình Feralit diễn ra phức tạp, trước tiên các khoáng vật và đá bị phong hoá tạo các khoáng thứ sinh là các loại keo sét, tiếp đó một phần keo sét bị phá huỷ tạo thành các hợp chất đơn giản hơn như các Oxyt Fe, Al, Si và các loại muối Các chất kiềm, kiềm thổ bị rửa trôi dễ nhất, một phần SiO 2 cũng bị rửa trôi nhưng các hợp chất của Fe, Al bị rửa trôi ít nên dần dần chiếm tỷ lệ chính trong đất ì l đó, nên các nhà khoa học đất dựa vào tỷ lệ SiO 2 /Al 2 O 3 , SiO 2 /Fe 2 O 3
Trang 66
và SiO 2 /R 2 O 3 để đánh giá quá trình Feralit, tỷ lệ càng nhỏ (theo V.M Fritland quá trình Feralit có SiO 2 /R 2 O 3 2) thì quá trình Feralit diễn ra càng mạnh
Quá trình này tạo thành đất Feralít, theo V.M Fritland (1964) có những tính chất quan trọng như sau:
- Hàm lượng khoáng nguyên sinh rất thấp, trừ thạch anh và một số khoáng vật bền khác
- Giàu hydroxit Fe, Al, Mn, i ỷ lệ SiO2/R2O3 và SiO2/Al2O3 của cấp hạt sét trong đất thấp, thường là SiO2/Al2O3 nhỏ hơn hoặc bằng 2 rong nhiều trường hợp chứa Al di động, Kaolinít chiếm ưu thế trong cấp hạt sét và có số lượng nhiều hydroxit Fe, Al và Ti
- Phần khoáng sét có dung tích hấp thu thấp
- Hạt kết tương đối bền
- rong thành phần m n axít funvíc trội hơn axít humic, chỉ số H/F < 1
Ả ở ủ ộ o ộ ì Fe
- Ảnh hưởng của độ cao tuyệt đối so với mực nước biển tới quá trình Feralit:
Do khí hậu biến đổi theo độ cao, nên càng lên cao quá trình Feralít điển hình cho đất nhiệt đới ẩm càng yếu đi và quá trình hình thành đất càng giống v ng cận nhiệt đới và ôn đới
- Ảnh hưởng của đá mẹ và địa hình tới quá trình Feralit: Quá trình Feralit là quá trình rửa trôi các chất bazơ và một phần silic dẫn tới sự tích lũy Fe, Al Những yếu
tố thuận lợi cho quá trình rửa trôi như địa hình dốc, dễ thoát nước sẽ đẩy mạnh quá trình Feralit uy nhiên ở v ng đồi n i cũng có nơi địa hình trũng, các chất bazơ được tích tụ ở đó sẽ cản trở sự tích lũy tương đối Fe, Al
Mặt khác, khi xét đến quá trình Feralit phải xét đến mối quan hệ tương đối về mặt số lượng các chất bazơ, silic với Fe, Al Do đó, số lượng ban đầu các chất này
có trong đá nhất định có một ảnh hưởng lớn a thường gặp các trường hợp sau đây :
+ Đá rất giàu Ca (đá vôi):
- Địa hình dốc, dễ thoát nước, đá mẹ cứng thì quá trình Feralit mạnh
- Địa hình dốc, dễ thoát nước nhưng thực vật mọc tốt, đá mẹ vụn bở dễ giải phóng Ca, nên đất ít chua hoặc trung tính, quá trình Feralit yếu
- Địa hình trũng, khó thoát nước, đất có màu đen, tích lũy Ca, quá trình Feralít
yếu hoặc không xẩy ra
+ Đá rất giàu silíc, rất nghèo Ca, Mg (đá cát kết, đá macma, siêu axít và axít):
- Địa hình dốc, thoát nước dễ, quá trình Feralít mạnh
- Địa hình trũng, khó thoát nước, quá trình Feralít yếu
+ Đá mẹ tương đối nghèo silíc, tương đối giàu Ca, Mg, Fe, Al (Bazơ, Spilít):
Trang 77
- Địa hình dốc, thoát nước dễ, đá bọt, vụn bở, thì quá trình Feralít yếu
- Địa hình trũng, khó thoát nước, quá trình Feralít yếu hoặc không xảy ra + Đá mẹ tương đối nghèo silíc, rất nghèo Al, tương đối giàu Mg, Fe (đá macma siêu bazơ như sécpentinít):
- Địa hình dốc thoát nước dễ, đất tích lũy Fe
- Địa hình trũng, khó thoát nước, đất đen tích lũy nhiều Mg, cation kiềm, quá trình Feralit yếu hoặc không xẩy ra
2 Quá trình tí h lũy tuyệt đố Fe, Al hay quá trình hình th nh đá on
Đây là quá trình hình thành kết von và đá ong trong đất Ngoài sắt nhôm có sẵn trong đất còn có sắt, nhôm di chuyển từ nơi khác đến tích luỹ lại theo 2 đường chính là nước nguồn và nước ngầm rong nước nguồn (chảy từ dưới sâu trong lòng Trái Ðất nên thường nóng) và nước ngầm có chứa nhiều Fe2+, khi lớp đất mặt
bị khô hạn, nước ngầm di chuyển từ dưới lên phía trên Fe2+ sẽ bị oxy hoá thành
Fe3+ tích luỹ trong đất ở dạng Fe2O3 hoặc Fe2O3.nH2O Ở mức độ nhẹ tạo thành những đốm loang lổ đỏ vàng hoặc các ổ kết von đỏ vàng mềm, trong phân loại theo FAO-UNESCO được gọi là đất có đặc tính plinthic Ở mức độ điển hình, Fe2O3 và
Fe2O3.nH2O tạo thành kết von sắt và đá ong, trong phân loại theo FAO - UNESCO gọi là đất có đặc tính Ferric Dựa vào hình dạng và nguyên nhân tạo kết von mà chia ra: Kết von tròn, kết von hình ống, kết von củ gừng, kết von gạc nai và kết von giả Kết von tròn có nhân ở giữa và oxyt sắt tạo thành những vòng cầu đồng tâm xung quanh nhân thường do kết tủa từ dung dịch thật Kết von sắt có màu nâu đen, đen, nếu kết von đen mềm là kết von MnO2 Kết von hình ống thường rỗng ở giữa Kết von giả là các mảnh đá hay các khoáng vật được oxyt sắt bao bọc xung quanh
a- Cá loạ kết von
Theo hình dạng và nguyên nhân thường thấy các dạng sau: kết von tròn, kết von hình ống, kết von các dạng khác, kết von giả
Kết von tròn thường có một nhân ở giữa Sắt làm thành những vòng tròn
đồng tâm bao quanh nhân Kết von tròn hình thành do sắt kết tủa từ dung dịch đất,
ít liên quan đến nước ngầm như đá ong Về mặt thành phần thì trong các đất chua , kết von chủ yếu cấu tạo bằng Fe rong các đất ít chua như ph sa, đất đá vôi
ch ng được cấu tạo bởi Fe và Mn nên hơi mềm và có màu đen, nâu đen
Kết von ống có hình ống rỗng giữa hay gặp ở đất cát biển, đất ph sa cũ chua
như v ng Gia Lộc (Hải Dương) Kết von ống được hình thành do đất ngưng tụ quanh các thân cành cây nhỏ chôn v i dưới đất Nhiều khi còn gặp cả di tích cành cây mục nát ở bên trong kết von ống
Kết von giả chỉ các mảnh đá mẹ được sắt bao bọc chung quanh Loại này gặp
rất nhiều trong các đất Feralit ở v ng trung du
Trang 88
Ngoài 3 dạng trên, kết von còn có thể có nhiều hình dạng khác
b Cá loạ đá on :
Xét về hình dạng có thể chia ra 3 loại đá ong: đá ong tổ ong, đá ong hạt đậu và đá ong phiến
hành phần đá ong chủ yếu là các loại oxit và hydroxit Fe rong m a mưa,
do nhiệt độ cao, trong môi trường chua các chất Fe bị hoà tan trong nước dưới dạng ôxít Fe hóa trị 2 rồi trôi xuống tích lũy lại ở nước ngầm Về m a khô, nước ngầm theo mao quản dẫn lên gầnmặt đất bị ôxy hóa biến thành ôxít Fe hóa trị 3 kết tủa lại Các vệt ôxít Fe này làm cho đất có màu loang lổ đỏ vàng, điển hình ở đất xám bạc màu Các vệt này ngày một lớn lên và nhiều thêm, nối liền với nhau làm thành một màng lưới dày đặc bao bọc ở giữa nhiều ổ Kaolinit hoặc các chất khác
Khi đang ở trong đất đá ong còn mềm, khi trơ ra ngoài mặt đất các vệt ôxít
Fe bị ôxy hóa thêm, bị khử nước rồi tiếp tục cứng rắn lại Các ổ kaolinit bị ăn mòn
đi để lại những lỗ như tổ ong, nên có tên gọi là đá ong
Da tổ ong rất rắn chắc thường gặp ở v ng đồi thấp tiếp giáp với đồng bằng thuộc các tỉnh Vĩnh Ph c, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Tây Sự xuất hiện kết von
và đá ong là dấu hiệu của sự thoái hoá đất.Đồi càng trơ trụi thì đá ong càng nhiều
do nước ngầm bốc hơi mạnh Ở v ng n i, đất dốc hơn ít thấy có đá ong V ng cao nguyên tuy địa hình cao nhưng nơi tương đối bằng cũng có thể hình thành đá ong
Đá ong hạt đậu gồm nhiều hạt kết von Fe, Mn, Al hình tròn nhỏ như hạt đậu
gắn chặt với nhau Đá ong hạt đậu thường được hình thành ở các v ng n i đá vôi hoặc đá khác có mạch nước ngầm chứa vôi Sắt từ các đồi n i xung quanh trôi xuống nơi thấp gặp môi trường trung tính hay kiềm sẽ kết tủa lại thành các hạt kết von tròn rồi lâu ngày gắn kết lại tạo thành đá ong hạt đậu
Đá ong dạng phiến gồm nhiều lớp sắt chồng chất lên nhau hường ít gặp vì
chưa được ch ý nghiên cứu
óm lại, v ng n i thấp, v ng đồi và cao nguyên thường hình thành kết von
và đá ong trong điều kiện khí hậu có m a mưa và m a khô rõ rệt Kết von ch m hình thành nhiều nhất ở v ng chân đồi hành phần chính của kết von là ôxít sắt, silic, nhôm
Đất bị kết von và đá ong có tầng đất mặt mỏng do bị xói mòn và rửa trôi mạnh, nghèo dinh dư ng, lân bị cố định, khô hạn, vi sinh vật hoạt động kém, cây trồng sinh trưởng phát triển kém Ảnh hưởng của kết von và đá ong tới cây trồng còn
t y thuộc vào độ sâu và độ dày của tầng kết von
Biện pháp chủ yếu để ngăn chặn không cho đá ong tích tụ ở tầng mặt là tìm biện pháp khống chế sự bốc hơi của nước ngầm bằng cách che phủ đất trong mùa khô rong thực tế nơi còn rừng che phủ ít có hiện tượng hình thành đá ong hơn là ở v ng đồi trọc
Trang 99
IV Cá loạ đất đỏ v n
Ðất Feralit hình thành trên nhiều loại đá mẹ khác nhau nên có tính chất biến động
rất mạnh và phụ thuộc khá chặt chẽ vào đá mẹ
1 â b z -Fd (Rhodic Ferralsols-FRr):
Diện tích: 2,68 triệu ha chiếm 8,5% diện tích đất Việt Nam Phân bố: Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Quảng Trị, Nghệ An, Thanh Hóa, Cao Bằng, Sơn La
Đất nâu đỏ trên đá bazan là đất có quá trình feralit mạnh và quá trình tích lũy m n bề mặt với lớp vỏ phong hóa dày Về hình thái phẫu diện đất có hai dạng cơ bản là :
- Đất nâu đỏ trên đá bazan có tầng đất dày : đồng nhất suốt dọc phẫu diện đất cấu tượng viên hạt , tơi xốp Tầng đất mặt khá nhiều m n và có màu nâu đậm ,
càng xuống sâu mức độ tơi xốp càng cao , với màu nâu đỏ đồng nhất
- Đất nâu đỏ trên đá bazan trong tầng đất có nhiều kết von: kết von xuất hiện ngay trên tầng đất mặt 10-15% , với các hạt kết von có đường kính 0,2-0,7 cm Tỷ lệ kết von có chiều hướng tăng nhanh theo chiều sâu phẫu diện , chỉ sau tầng đất mặt 20-30 cm tỷ lệ kết von đã đạt tới trị số 40-50%, ở các tầng sâu dưới 70cm tỷ lệ kết von có thể đạt tới
>70% Tuy vậy các hạt kết von này không dính kết lại với nhau thành khối rắn chắc như một số loại kết von khác ,
mà trộn lẫn với các hạt đất mịn , vì thế rễ cây vẫn có khả năng xuyên qua tầng kết von và hút các chất dinh dư ng ở
đó
- ính chất: thành phần cơ giới nặng, kết cấu hạt và viên, độ xốp cao, dung trọng bé, tầng dày, độ dốc nhỏ, phản ứng đất chua và rất chua, độ no bazo thấp<50 , cation kiềm trao đổi thấp, m n trung bình và khá, lân tổng
số cao nhưng lân dễ tiêu nghèo, kali tổng số và trao đổi trung bình và nghèo
- Đất này trồng được nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, hồ tiêu, chè, mía, cam…
- Khi sử dụng vào nông lâm nghiệp cần thực hiện biện pháp chống xói mòn, che phủ giữ ẩm cho đất trong m a khô, làm đất tối thiểu để báo vệ kết cấu đất Bón thêm N, P, K đặc biệt là phân lân
- Cấu tạo phẫu diện:
0-25 cm: màu nâu đỏ; sét; tơi; xốp; kết cấu hạt và viên, nhiều rễ cây; chuyển lớp từ từ theo màu sắc nhưng rõ về độ chặt
25-60 cm: màu nâu ; ẩm; sét; xốp; chặt hơn tầng trên; kết cấu viên; chuyển lớp từ từ về màu sắc
60-120 cm: màu nâu đỏ; ẩm; xét; kết cấu viên; chặt hơn tầng trên
Trang 1010
2 â bazan-Fx (Xanthic Ferralsols-FRx):
Phân bố ở rìa đồng bằng, tại đây có những dải đất hẹp-đất phù
sa cổ Địa hình cao hơn hẳn đồng bằng (khoảng 25-30m) và dạng đồi lượn sóng
Tập trung ở các tỉnh Tây Nguyên, Phủ Quỳ, Vĩnh Linh, vv Đất nâu vàng có phản ứng chua (pHKCl = 4,01 - 4,34)
- Đất giảm m n và đạm tổng số (tương ứng là 5.738% và 0,218%)
- Lân tổng số trung bình (0,09 - 0,21%)
- Kali tổng số nghèo (0,02 - 0,04%)
- Các chất dễ tiêu đều nghèo (P2O5 = 5- 7mg/ 100g đất); K2O = 4- 9 mg / 100g đất)
- Hàm lượng các cation kiềm trao đổi trong đất thấp (Ca++ + Mg++ = 0, 6 - 1,4
me/ 100g đất)
Đất hình thành trên tàn tích đá mẹ bazan , có quá trình feralit mạnh mẽ , cùng với quá trình tích lũy m n bề mặt , quá trình hình thành kết von khá phổ biến Vì thế tất cả các đất nâu vàng trên đá bazan ở v ng Đông Nam Bộ trong tầng đất đều hiện diện của kết von với tỷ lệ cao Hình thái đất có dạng điển hình ABC
- Tầng A có độ dày khoảng 20 cm, màu nâu sẫm, nhiều hữu cơ, nhiều kết von hạt đậu (40-50% trọng lượng ) Thành phần cơ giới nặng , tơi xốp , cấu tượng viên hạt
- Tầng B thực chất là một tầng kết von tương đối dày dặc , tỷ lệ kết von có xu hướng tăng dần theo chiều sâu phẫu diện (40-80%) , có màu nâu vàng rất điển hình
- hích hợp với nhiều loại cây trồng cạn như ngô, các loại đậu, khoai lang, sắn, cây ăn quả, cây công nghiệp
- Ch ý chống xói mòn và bón thêm phân N, P, K cho từng loại cây cụ thể
- Cấu tạo phẫu diện
0-15 cm: màu nâu vàng sậm; thịt pha sét;kết cấu viên; chặt; xốp; nhiều rễ cây;chuyển lớp rõ về màu sắc