Trải qua gần một thế kỷ, kể từ khi kết cấu bê tông cốt thép dự ứng lực BTCT DƯL được phát minh, thế giới đã chứng kiến nhiều thành tựu tuyệt vời trong lĩnh vực xây dựng công trình, đặc b
Trang 1Thi c«ng kÕt cÊu nhÞp cÇu BTCT
Trang 2Phần i công tác đà giáo - ván khuôn - cốt thép -
đổ bê tông dầm cầu bê tông cốt thép
vii. Thi công mặt cầu
Trang 3Khái niệm
1 Tình hình phát triển công nghệ xây dựng cầu bê tông cốt thép trên thế giới và ở Việt nam
Trải qua gần một thế kỷ, kể từ khi kết cấu bê tông cốt thép dự ứng lực (BTCT DƯL) được phát minh, thế giới đã chứng kiến nhiều thành tựu tuyệt vời trong lĩnh vực xây dựng công trình, đặc biệt là các công trình cầu bằng kết cấu BTCT DƯL Từ những kết cấu kiểu dầm giản đơn thi công bằng phương pháp công nghệ truyền thống căng trước trên bệ cố định hoặc căng sau rồi lao lắp vào vị trí, ngày nay với nhiều công nghệ mới tiên tiến như đúc đẩy, đúc hẫng (lắp hẫng), đúc trên đà giáo di động, lắp trên đà giáo di động có thể xây dựng đư
ợc những nhịp cầu lớn, vượt xa giới hạn khẩu độ nhịp của dầm giản đơn truyền thống, đem lại hiệu quả rất lớn
về các mặt kinh tế, kỹ thuật cũng như vẻ đẹp kiến trúc công trình
ở nước ta vào đầu những năm 90, các công nghệ thi công cầu tiên tiến như phương pháp đúc đẩy, đúc hẫng
đã được áp dụng rộng rãi kết hợp với các nhà thầu lớn của nước ngoài và được tạo điều kiện cho các Tổng công ty xây dựng giao thông trong nước nhập công nghệ và tiếp thu, làm chủ công nghệ Tiếp theo những năm sau đó, hàng loạt các công trình cầu BTCT DƯL khẩu độ lớn, thi công bằng công nghệ hiện đại ra đời
2 Tổng quan về các công nghệ thi công cầu BTCT DƯL nhịp liên tục
Do kết hợp khả năng chịu nén của bêtông với khả năng chịu kéo cao của cốt thép đặc biệt là cốt thép cường
độ cao cùng với ưu điểm dễ dàng tạo mặt cắt kết cấu chịu lực hợp lý và giá thành hạ, kết cấu BTCT DƯL đã
được áp dụng chủ yếu trong các công trình cầu trên thế giới
Để đạt mục tiêu về khả năng vượt nhịp lớn, kết cấu BTCT DƯL nhịp liên tục được áp dụng rộng rãi và đã có rất nhiều nghiên cứu có tính đột phá về thiết kế kết cấu gắn với công nghệ thi công, đây là hai mặt không thể tách rời Có thể thấy rằng kết cấu nhịp BTCT DƯL với quá trình phát triển từ dạng dầm bản đặc, rỗng rồi đến dạng mặt cắt chữ I, chữ T, rồi mặt cắt hình hộp hầu như đã hoàn thiện về mặt kết cấu Do vậy trong thời gian qua, các nghiên cứu chuyển sang chủ yếu về mặt vật liệu và đặc biệt là công nghệ thi công
Trang 42.1 Công nghệ đổ bêtông tại chỗ theo phương pháp đúc đẩy - CN1
Đúc đẩy thuộc phương pháp đổ bêtông tại chỗ, hệ thống ván khuôn và bệ đúc thường được lắp đặt, xây dựng cố định tại vị trí sau mố Chu trình đúc được tiến hành theo từng phân đoạn, khi phân đoạn đầu tiên hoàn thành được kéo đẩy về phía trước nhờ hệ thống như: kích thủy lực, mũi dẫn, trụ đẩy và dẫn hướng đến vị trí mới và …
nhờ hệ thống như: kích thủy lực, mũi dẫn, trụ đẩy và dẫn hướng đến vị trí mới và …
bắt đầu tiến hành đúc phân đoạn tiếp theo cứ như vậy cho đến khi đúc hết chiều dài kết cấu nhịp
Mặc dù công nghệ có ưu điểm: thiết bị di chuyển cấu kiện khá đơn giản, tạo đư
ợc tĩnh không dưới cho các công trình giao thông thủy bộ dưới cầu và không chịu ảnh hưởng lớn của lũ nhưng công trình phụ trợ lại phát sinh nhiều như: bệ đúc, mũi dẫn và trụ tạm Chiều cao dầm và số lượng bó cáp DƯL nhiều hơn so với dầm thi công …
trụ tạm Chiều cao dầm và số lượng bó cáp DƯL nhiều hơn so với dầm thi công …
bằng công nghệ khác, mặt khác chiều cao dầm không thay đổi để tạo đáy dầm luôn phẳng nhằm đẩy trượt trên các tấm trượt đồng thời chiều dài kết cấu nhịp bị hạn chế
do năng lực của hệ thống kéo đẩy
Cầu thi công bằng công nghệ này có kết cấu nhịp liên tục với khẩu độ nhịp lớn nhất hợp lý khoảng từ 35 - 60m Với công nghệ này khả năng tái sử dụng hệ thống ván khuôn, bệ đúc và kết cấu phụ trợ cao.
Trong thời gian qua chúng ta đã áp dụng công nghệ này ở một số công trình cầu với khẩu độ nhịp lớn nhất là 40 ữ 42m như: cầu Mẹt - QL.1A - Tỉnh Lạng Sơn, cầu Hiền Lương - QL.1A - Tỉnh Quảng Trị, cầu Quán Hầu - Tỉnh Quảng Bình
Trang 52.2 Công nghệ thi công theo phương pháp đúc hoặc lắp hẫng cân bằng - CN2
Đúc hẫng thực chất thuộc phương pháp đổ bêtông tại chỗ theo phân đoạn từng đợt trong ván khuôn di động treo trên đầu xe đúc Công nghệ này thường áp dụng cho kết cấu có mặt cắt hình hộp với khẩu độ nhịp lớn từ 60 - 200m Đặc điểm của công nghệ là việc đúc các đốt dầm theo nguyên tắc cân bằng, sau đó nối các nhịp giữa có thể bằng các chốt giữa, dầm treo hoặc liên tục hóa Trong quá trình thi công trên mỗi trụ đặt hai xe đúc, mỗi xe di chuyển và đúc một nữa nhịp mỗi bên theo phương dọc cầu Tùy theo năng lực của xe đúc mà mỗi phân đoạn đúc
có thể dài từ 3,5 - 7m hoặc có thể lớn hơn Từng đốt sẽ lặp lại công nghệ từ đốt thứ nhất và chỉ
điều chỉnh ván khuôn theo tiết diện, độ vồng thiết kế.
Cũng tương tự như vậy, công nghệ lắp hẫng cân bằng chỉ có khác biệt là các phân đoạn dầm được đúc sẵn và được lao lắp cân bằng do vậy yêu cầu cao hơn về kỹ thuật thực hiện các mối nối với chất lượng và độ chính xác của hai mặt giáp nhau, sự trùng khớp các lỗ luồn cáp DƯL và chất lượng thi công lớp đệm liên kết (keo epoxy, vữa polymer ) Cũng như các công …
DƯL và chất lượng thi công lớp đệm liên kết (keo epoxy, vữa polymer ) Cũng như các công …
trình thi công theo phương pháp lắp ghép, công nghệ lắp hẫng cân bằng có tiến độ thi công rất nhanh.
Công nghệ thi công theo phương pháp đúc hoặc lắp hẫng cân bằng phù hợp với cầu có khẩu độ nhịp lớn và tĩnh không dưới cầu cao, với công nghệ này chiều cao dầm và số lượng bó cáp đòi hỏi cao hơn, nhiều hơn so với dầm thi công bằng công nghệ khác nhưng tiến độ thi công nhanh, công trường gọn gàng và thiết bị phục vụ thi công không đòi hỏi đặc biệt.
ở nước ta trong thời gian qua, công nghệ thi công đúc hẫng cân bằng được áp dụng khá phổ biến với khẩu độ nhịp lớn nhất là 120m: cầu Lai Vu - QL.5 - Tỉnh Hải Dương, cầu Gianh - QL.1A - Tỉnh Quảng Bình, cầu Bến Lức - QL.1A - Tỉnh Long An
Trang 62.3 Công nghệ đổ bêtông tại chỗ treo trên đà giáo di động - CN3
Công nghệ này thuộc phương pháp đổ bêtông tại chỗ Sau khi thi công xong một nhịp, toàn bộ hệ thống ván khuôn và đà giáo được lao đẩy tới nhịp tiếp theo và bắt đầu công đoạn thi công như nhịp trước, cứ như vậy theo chiều dọc cầu cho đến khi hoàn thành kết cấu nhịp Với công nghệ này trong quá trình thi công ta vẫn tạo được tĩnh không dưới cầu cho giao thông thủy bộ, mặt khác không chịu ảnh hưởng của điều kiện
địa hình, thủy văn và địa chất khu vực xây dựng cầu
Kết cấu nhịp cầu có thể thực hiện theo sơ đồ chịu lực là dầm đơn giản và liên tục nhiều nhịp với chiều cao dầm có thay đổi hoặc không thay đổi Chiều dài nhịp thực hiện thuận lợi và hợp lý trong phạm vi từ 35 - 60m Số lượng nhịp trong một cầu về nguyên tắc là không hạn chế vì chỉ cần lực đẩy dọc nhỏ để đẩy đà giáo ván khuôn và không lũy tiến qua các nhịp
Tuy nhiên các công trình phụ trợ của công nghệ này còn khá cồng kềnh: dàn đẩy, trụ tạm, mũi dẫn và hệ đà giáo ván khuôn cồng kềnh để đảm bảo độ cứng lớn khi thi công đúc bê tông dầm
Trang 72.4 Công nghệ thi công lắp ghép các phân đoạn dầm dưới đà giáo di
động - CN4
Công nghệ này tương tự như CN3 nhưng có một số thay đổi khác biệt khắc phục được các hạn chế của CN3 Nội dung của giải pháp công nghệ này là các phân
đoạn dầm được đúc sẵn, lao lắp toàn bộ nhịp vào vị trí bằng cách treo giữ từng phân
đoạn dưới đà giáo di động sau đó mới căng cáp DƯL liên tục hóa các phân đoạn dầm với nhau Chu trình lặp đi lặp lại cho từng nhịp cho đến khi hoàn thành
Giải pháp công nghệ này có được các ưu điểm như CN3, thêm vào đó có thể
đẩy nhanh tiến độ hơn nữa vì việc đúc các phân đoạn dầm hoàn toàn độc lập với quá trình lao lắp kết cấu nhịp Hệ đà giáo di động chỉ có tác dụng lao giữ các đốt dầm
đúng vị trí nên gọn nhẹ hơn, không quá lớn như hệ đà giáo của CN3 phải phục vụ cho quá trình đúc toàn bộ bê tông kết cấu nhịp.
Trang 8Qua phân tích 4 giải pháp công nghệ chính trong thi công cầu BTCT DƯL nhịp liên tục chủ yếu như trên, có thể tóm tắt các đặc điểm chủ yếu ở bảng 1 dưới đây:
Tóm tắt đặc điểm chủ yếu của 4 giải pháp công nghệ
Ghi chú:
CN1: Công nghệ đổ bêtông tại chỗ theo phương pháp đúc đẩy.
CN2: Công nghệ thi công theo phương pháp đúc hoặc lắp hẫng cân bằng.
CN3: Công nghệ đổ bêtông tại chỗ treo trên đà giáo di động.
CN4: Công nghệ thi công lắp ghép các phân đoạn dầm trên đà giáo di động.
Tổng chiều dài cầu không giới hạn: xét về mặt lý thuyết.
Trong số các công nghệ trên, công nghệ CN1 và CN2 đã được áp dụng phổ biến ở nước ta, riêng công nghệ CN3 và CN4
đang ở những bước đầu nghiên cứu áp dụng ở Việt Nam
Trang 9Đà giáo xây dựng dầm cầu bê tông cốt thép đổ tại chỗ.
Xây dựng cầu dầm bê tông cốt thép toàn khối trên giàn giáo cố định bao gồm các vật liệu sau: Làm giàn giáo, lắp dựng ván khuôn, đặt cốt thép, đổ và đầm bê tông, bảo dưõng bê tông, tháo dỡ ván khuôn và giàn giáo.
Vật liệu làm giàn giáo có thể là gỗ, thép.
Giàn giáo phải đủ cường độ bảo đảm độ cứng và độ ổn định theo yêu cầu, chẳng hạn độ võng các thanh trong giàn giáo không lớn quá 1/400 chiều dài nhịp.
Cấu tạo giàn giáo phải đơn giản dễ tháo lắp và sử dụng được nhiều lần Mối nối phải thật khít để giảm biến dạng không đàn hồi, khe nối không
hở quá ± 10mm Sai số khoảng cách giữa tim giàn không quá ± 30mm Giàn giáo được chọn tuỳ chiều dài nhịp, chiều cao cầu, vật liệu và thiết
bị thi công có sẵn Giàn giáo có nhiều dạng chẳng hạn giàn giáo cố
định, giàn giáo di động.
Trang 10Để làm giàn giáo cố định, nhiều nước đã sử dụng các loại linh kiện thép ống, nối với nhau bởi những đai "cút" và "rắc co" khác nhau ở nhiều công ty lớn, còn sử dụng những mảng giàn giáo đã chế tạo sẵn theo mẫu mã nhất định, bảo đảm linh hoạt trong lắp ráp các loại hình giàn giáo không gian một cách nhẹ nhàng và thuận lợi, liên kết với nhau bởi những chi tiết gia công tinh bằng kim loại, chịu được những lực trượt tương
đối lớn
Trang 11Giàn giáo di động là giàn giáo có thể chạy được để chế tạo từ nhịp này đến nhịp khác Giàn giáo di dộng thích hợp để xây dựng cầu bê tông cốt thép đúc tại chỗ bắc qua sông sâu, lòng sông không thể đóng cọc để làm giàn giáo cố định hoặc không kinh tế Đặt ván khuôn lắp cốt thép, đúc dầm và bảo dưỡng bê tông đều thực hiện trên giàn giáo treo Khi bê tông đạt cường độ tháo ván khuôn, lắp cốt thép, đúc dầm và bảo dưỡng bê tông đều thực hiện trên giàn giáo treo Khi bê tông đạt cường độ tháo ván khuôn và kéo giàn giáo sang nhịp khác và các công việc sẽ được lặp lại như trên.
Giàn giáo di động có thể làm bằng dầm hoặc giàn thép định hình Khi di động cần một số thiết bị phụ trợ
Trang 12ván khuôn dầm
3.4 Bệ căng, ván khuôn, đà giáo
3.4.1 Khái quát
A) Các yêu cầu chung
Ván khuôn (bao gồm cả hệ đà giáo đỡ nó) và bệ căng cốt thép DƯL kéo trước phải được thiết kế và thi công sao cho đảm bảo được cường độ và độ cứng yêu cầu, đảm bảo độ chính xác về hình dạng, kích thước và
vị trí của kết cấu BTCT
Ván khuôn và bệ căng phải có khả năng sử dụng lại được nhiều lần mà không bị hư hỏng theo đúng yêu cầu của bản đồ án thiết kế chung
Ván khuôn phải có cấu tạo hợp lý, dễ dàng lắp dựng, tháo dỡ hoặc điều chỉnh khi cần thiết
Việc thiết kế và thi công ván khuôn, bệ căng cũng như việc khai thác chúng phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người và các thiết bị liên quan
B) Tải trọng
Ván khuôn và bệ căng phải được thiết kế theo các loại tải trọng sau đây:
- Tải trọng thẳng đứng bao gồm: trọng lượng của ván khuôn, đà giao, của bê tông và cốt thép, của người và thiết bị có liên quan (đối với thiết bị cần xét lực xung kích)
- Tải trọng nằm ngang bao gồm : các tải trọng do rung động gây ra, do các lực lúc lắp dựng ván khuôn, do
áp lực gió
- áp lực ngang của hỗn hợp bê tông tươi chưa hoá cứng
- Các tải trọng đặc biệt mà có thể dự đoán xảy ra trong thi công
Tải trọng thẳng đứng được tính với tỷ trọng bê tông cốt thép là 2,5T/m3, hoạt tải được coi là rải đều với trị
số không nhỏ hơn 250Kg/m2, và được lấy tuỳ tình hình cụ thể
Trang 13Tải trọng nằm ngang tác dụng lên ván khuôn thành bên do bê tông tươi lấy như sau:
- Khi tốc độ bê tông đổ không quá 2m/giờ
R - Tốc độ đổ bê tông theo chiều cao (m/giờ)
T - Nhiệt độ của bê tông trong khuôn (oC)
H - Chiều cao của bê tông tươi bên trên điểm đang xét (m)
Khi dùng biện pháp rung động bên ngoài ván khuôn dùng bê tông có độ sệt lớn, dùng phụ gia làm chậm hoá cứng hoặc các phụ gia khác, giá trị của p phải tăng lên thích đáng
C/ Vật liệu
Vật liệu dùng làm ván khuôn, đà giáo, bệ căng phải được chọn sao cho đảm bảo về cường độ, độ cứng, độ vững, không gây ảnh hưởng xấy đến bê tông tươi do hút nước và cũng không làm hỏng bề mặt ngoài của kết cấu BTCT
Khi chọn vật liệu ván khuôn đà giáo và bệ căng phải xét đầy đủ các vấn đề như loại kết cấu, số lần sẽ sử dụng lại, vị trí sử dụng Nên dùng thép làm ván khuôn kết cấu BTDƯL
Trang 143.4.2 Thiết kế
A/ Thiết kế ván khuôn
Ván khuôn phải được thiết kế với hình dạng và vị trí chính xác Ván khuôn phải dễ lắp dựng và tháo dỡ Các mối nối phải song song hoặc phải vuông góc với trục dầm và trám kín đủ chống rò rỉ vữa Ván khuôn phải có vạt cạnh ở chỗ có góc cạnh.
B/ Thiết kế đà giáo
Vật liệu và kiểu đà giáo được lựa chọn sao cho phù hợp các điều kiện của kết cấu BTCT và điều kiện thi công
Phải chọn cấu tạo sao cho mọi tải trọng đều được truyền xuống đến móng.
Đà giáo phải được cố định phần trên của nó vào các kết cấu hiện có hoặc nhờ các giằng ngang và giằng kéo Cần đảm bảo cho ván khuôn nghiêng không bị áp lực bê tông làm cho biến dạng.
Đà giáo phải được thiết kế sao cho dễ dàng tháo dỡ an toàn, tránh xung kích ảnh hưởng xấu đến kết cấu B TCT
Các mối nối của các đà giáo và ở các liên kết của cột chống thẳng đứng với các dầm cầu phải đảm bảo không bị trượt, lật
và vững chắc Các dầm của đà giáo có chiều cao quá 300mm phải có các liên kết ngang để chống quay hoặc lật đổ.
Móng của đà giáo phải được thiết kế tránh bị lún quá mức và tránh hiện tượng nghiêng lệch.
Phải có biện pháp hữu hiệu để bù lại độ lún và biến dạng của đà giáo trong hoặc sau khi đổ bê tông Độ võng của đà giáo phải được tính toán trước khi thi công và được điều chỉnh, tính toán lại trong quá trình thi công, đặc biệt là đối với các kết cấu thi công phân đoạn.
C/ Thiết kế bệ căng
Bệ căng cố định hoặc bệ căng di động hoặc bệ căng tháo lắp được cần phải được thiết kế sao cho đảm bảo sử dụng thuận tiện, an toàn được nhiều lần, đảm bảo độ bền, độ cứng và độ ổn định mà không ảnh hưởng xấu đến chất lượng kết cấu BTDƯL kéo trước cũng như tính đồng đều trong sản xuất hàng loạt các kết cấu đó.
Bệ căng cố định hoặc bệ căng di động làm bằng thép hoặc bê tông đúc tại chỗ nên được ưu tiên.
Cấu tạo bệ căng phải đảm bảo thuận tiện cho việc đặt cốt thép thường và cốt thép DƯL đúng vị trí đảm bảo thuận tiện và
đủ không gian cho việc lắp dựng và tháo dỡ ván khuôn, cung cấp bê tông, thi công bê tông và cẩu nhấc kết cấu đã chế tạo xong để đưa đi nơi khác.
Vị trí của bệ căng phải ở nơi cao ráo, đảm bảo thoát nước tốt để khu vực quanh bệ căng luôn luôn khô ráo, bệ căng phải
đảm bảo tuyệt đối không lún.
Trang 153.4.3 Thi công
A/ Thi công ván khuôn
Các bộ phận ván khuôn phải được liên kết vững chắc với nhau bằng bu lông hoặc thanh thép Các đầu bu lông và đầu thanh thép đó không được lộ ra trên bề mặt của bê tông sau khi tháo ván khuôn, tốt nhất nên đặt các thanh thép nói trên trong các ống bằng nhựa Sau khi tháo khuôn thì rút bu lông hoặc thanh thép ra và trám kín ống nhựa.
Phần chôn vào bê tông của các thanh thép hoặc bê tông dùng làm giằng, nếu ăn sâu vào bê tông ít hơn 2,5cm thì phải tháo bỏ bằng cách đục bê tông ra Các lỗ do đục đẽo phải được lấp đầy bằng vữa Lỗ phải có chiều sâu ít nhất 2,5cm để tránh vữa bị bong ra.
Phải bôi trơn bề mặt trong ván khuôn bằng hợp chất đã được lựa chọn cẩn thận sao cho dễ dàng tháo khuôn, tạo được bề mặt bê tông nhẵn đẹp có màu sắc như mong muốn và không ăn mòn bê tông.
B/ Thi công đà giáo
Đà giáo phải được thi công đúng như đồ án, đảm bảo đủ cường độ và ổn định Trước khi dựng đà giáo trên mặt đất, phải chuẩn bị và tăng cường nền đất một cách thích đáng để đủ chịu lực và tránh hiện tượng lún không đều Khi lắp dựng đà giáo phải chú ý luôn luôn đến độ nghiêng, chiều cao, sự thẳng hàng của các bộ phận và các yếu tố khác để đảm bảo đà giáo vững chắc ổn định suốt thời gian thi công.
Đà giáo phải được tạo độ vồng đúng theo đồ án Độ vồng này phải được hiệu chỉnh sau mỗi giai đoạn thi công đúc hay lắp kết cấu BTCT dự ứng lực tuỳ theo thực tế thi công.
Đối với các thiết bị đà giáo - ván khuôn di động phải tổ chức giám sát về phương hướng, cao độ và các yếu tố khác để
đảm bảo việc lắp dựng thiết bị an toàn chính xác và việc hoạt động của nó là đúng như đồ án quy định.
Trang 16- Loại thép: thép Cacbon có cường độ cao.
- Sai số cho phép về đường kính: + 0,05mm ; - 0,04mm
- Độ ô van của sợi thép không được vượt quá sai số cho phép của đường kính.
- Cường độ chịu kéo khi đứt ft ≥ 170kg/mm2
- Giới hạn đàn hồi chảy ứng với độ dãn dài 0,2%: f02 ≥ 0,8ft.
- Độ dẻo uốn với r = 10mm, số lần uốn đến khi gãy phải ≥ 4 lần.
- Độ dãn dài khi kéo đứt (mẫu dài 100mm) ≥ 4%
- Mặt ngoài sợi thép phải sạch, không sây sát, dập, nứt gẫy, không có vẩy gỉ.
Vận chuyển bảo quản thép cường độ cao làm cốt thép DƯL
Thép sợi cường độ cao làm cốt thép DƯL phải có bao gói cẩn thận để tránh bị gỉ và sây sát, không được để dính dầu mỡ, muối, acid, phân hoá học và các chất ăn mòn khác Kho chứa thép phải khô ráo, phải kê cách đất 20cm, cuộn thép không đư
ợc xếp đứng mà phải xếp nằm ngang, cao không quá 1,5m Khi xếp dỡ không được quăng ném từ độ cao xuống Các loại thép, kích thước, từng lô hàng nhận về khác nhau phải xếp riêng biệt nhau, có đánh dấu riêng để dễ nhận biết.
Việc sử dụng các hệ thống thép DƯL khác như thép thanh bó sợi cáp xoắn, thép dẹt phải tuân theo chỉ dẫn của thiết kế
và các tiêu chuẩn, quy trình hiện hành.
Trang 174.2 Cốt thép thường và các chi tiết bằng thép chôn sẵn.
Cốt thép thường và các chi tiết bằng thép chôn sẵn trong bê tông phải theo đúng đồ án thiết kế và các quy
định của các tiêu chuẩn quy trình quy phạm hiện hành nêu trong Điều 1.1.3
Trang 184.3 Gia công cốt thép thường và cốt thép dự ứng lực
4.3.1 Yêu cầu chung
Vật liệu được cung cấp đến công trường phải theo đúng
chủng loại đã quy định trong đồ án thiết kế Tiến độ cung cấp phải phù hợp với tiến độ thi công chung và được ghi rõ trong
kế hoạch thi công cũng như trong hợp đồng giao thầu cung cấp vật liệu.
Cấm sử dụng trong một công trình các loại cốt thép tròn trơn
có cùng đường kính lại có mác khác nhau (có giới hạn đàn hồi khác nhau).
Trước khi gia công hệ khung cốt thép, từng cốt thép phải đư
ợc chải gỉ và làm sạch mọi chất bẩn, dầu mỡ, sơn.Các cốt thép không được có các vết nứt, vết dập gãy, cong veo.
Trang 194.3.2 Gia công cốt thép thường
Thanh cốt thép được gia công uốn dưỡng trên mặt bằng phù hợp với hình dáng và kích thước quy định trong đồ án Chỉ được phép gia công uốn nguội, trừ trường hợp đặc biệt được quy định trong đồ án và được chủ đầu tư phê duyệt mới được uốn nóng.
Đường kính uốn được đo ở phía trong của thanh cốt thép theo đúng quy định trên đồ án thiết kế Nếu trên đồ án không quy định thì đường kính uốn tối thiểu phải lấy theo quy định của quy trình thiết kế cầu hiện hành.
Cốt thép được cắt bằng phương pháp cơ học Khi uốn cốt thép phải uốn quanh một lõi với tốc độ chậm sao cho đảm bảo bán kính uốn cong đều và theo đúng bản vẽ.
- Đối với cốt thép tròn trơn đường kính của lõi dùng để uốn cốt thép phải lấy
ít nhất bằng 5 lần đường kính cốt thép đó, trừ trường hợp các khung các đốt đai (mà đường kính lớn hơn hay bằng 16mm thì lấy đường kính lõi để uốn ít nhất bằng 3 lần đường kính cốt thép đó).
- Đối với các cốt thép có gờ (có độ bám dính cao với bê tông) đường kính của lõi (tính bằng mm) để uốn cốt thép phải không nhỏ hơn các trị số trong Bảng 4
Trang 20đúng vị trí Dây thép buộc là loại thép mềm Các đầu mẩu vụn của dây thép buộc phải
- Cấm đặt các miếng kê đệm bằng thép tiếp xúc với bề mặt ván khuôn.
- Các miếng kê đệm bằng bê tông hoặc vữa phải có các tính chất tương tự như của bê tông kết cấu (nhất là tính chất bề mặt).
- Các miếng đệm bằng chất dẻo chỉ được phép dùng khi có tiêu chuẩn chất lượng và kỹ thuật được cơ quan ban hành tiêu chuẩn cấp Nhà nước hay cấp Ngành phê duyệt.
Nếu lưới cốt thép được cung cấp theo dạng cuộn tròn thì phải dỡ thành dạng tấm phẳng
- Các cốt thép thanh nào mà theo bản vẽ được bó lại với nhau thì các mối buộc ghép chúng phải cách nhau không quá 1,8m.
Trang 214.3.4 Nối cốt thép thường
Cốt thép có thể nối bằng mối nối buộc chồng, bằng mối nối hàn tay bằng ống nối Số lượng mối nối cốt thép phải cố giảm đến mức ít nhất.
Mối nối hàn chỉ được áp dụng cho các cốt thép nào mà trong lý lịch cung cấp
đã xác định là chịu được hàn và bản vẽ đã ghi rõ Cấm hàn bằng đèn xì.
Các mối nối chồng cốt thép chỉ được dùng nếu có ghi trên bản vẽ hoặc được phép bằng văn bản của cơ quan thiết kế.
Các thanh cốt thép có đường kính khác nhau chỉ được nối với nhau nếu cấp có thẩm quyền cho phép.
Trừ khi có các quy định khác đã được nêu trong bản vẽ, vị trí và phương pháp nối các thanh cốt thép phải được lấy theo tiêu chuẩn thiết kế cầu hiện hành.
Trang 224.3.6 Bảo vệ tạm thời cho cốt thép dự ứng lực
Việc bảo vệ tạm thời các cốt thép DƯL và phụ kiện cho chúng do nhà thầu cung cấp cốt thép đảm nhận sao cho không bị gỉ cho đến khi thực hiện các biện pháp bảo vệ vĩnh cửu.
Các mấu neo và phụ kiện phải được giao hàng trong bao gói sao cho
đảm bảo chống được gỉ và an toàn.
4.3.7 Đặt các ống chứa cốt thép dự ứng lực
Việc vận chuyển và lắp đặt các ống cũng như các cốt thép phải đảm bảo
an toàn tránh mọi hư hỏng hoặc nhiễm bẩn.
Các ống được giữ đúng vị trí bằng các chi tiết định vị sao cho trước và trong khi đổ bê tông không xảy ra bất cứ xê dịch hay biến dạng nào quá mức cho phép Cấm hàn chấm vào ống để định vị.
ở mối nối hoặc ở chỗ phân cách các phần được đổ bê tông lần lượt, các ống của phần đã được đổ bê tông cần phải nhô vào ván khuôn của phần
sẽ đổ bê tông tiếp sau hoặc nhô quá vị trí mối nối một đoạn dài sao cho
đủ đảm bảo cách nước cho ống của phần sắp sửa sẽ được đổ bê tông Mối nối của ống bao phải được làm kín nước để ngăn vữa xi măng xâm nhập vào trong ống lúc đổ bê tông.
Trang 234.3.8 Lắp đặt neo và bộ nối neo
Các mấu neo và các bộ nối neo phải được lắp đặt theo hình dạng và kích thước vị trí chính xác như quy định trong đồ án.
Chúng phải liên kết định vị chắc vào ván khuôn sao cho trước và trong khi đổ bê tông không xảy ra hiện tượng xê dịch và biến dạng quá mức cho phép.
Bề mặt chịu lực của neo phải vuông góc với đường trục cốt thép DƯL tư
ơng ứng Tâm của mấu neo phải trùng với đường trục đó.
Khi cốt thép DƯL được nối bằng bộ nối thì phải có đủ khoảng trống trong ống bao trong phạm vi xê dịch của bộ nối để không cản trở sự xê dịch của nộ nối khi kéo căng cốt thép DƯL.
Sau khi đặt các bộ phận của neo và cốt thép DƯL, phải kiểm tra lại nếu thấy sai sót phải sửa ngay Nếu thấy bộ phận nào hỏng phải thay thế ngay.
Trang 244.3.9 Gia cố cốt thép dự ứng lực
Cốt thép DƯL phải được chế tạo theo hình dáng và kích thước chính xác như quy định trong đồ án mà không làm giảm chất lượng của vật liệu.
Cấm dùng các cốt thép nào đã bị uốn quá mức, bị ảnh hưởng của nhiệt
độ thay đổi đột ngột hoặc của nhiệt độ cao.
Khi cắt các đoạn đầu của cốt thép sau khi kéo căng và neo xong, nên dùng phương pháp cắt cơ học Tuyệt đối nghiêm cấm cắt bằng que hàn.
Riêng đoạn ren của cốt thép thanh DƯL sẽ dùng làm mối nối thì không
được cắt bằng tia lửa mà phải cắt bằng cơ khí.
Bề mặt cốt thép DƯL phải được làm sạch trước khi dùng, tránh để các chất gỉ, dầu mỡ, bẩn và các chất có hại khác có thể gây ăn mòn hoặc làm giảm độ dính bám cốt thép với bê tông cũng như làm giảm ma sát dầu cốt thép với các chêm chèn nút neo
Trang 255.1.2. Khi dùng mẫu thử có kích thước phi tiêu chuẩn để thí nghiệm cường độ giới hạn chịu nén phải tiến hành tính đổi với hệ số tính đổi được quy định trong các tiêu chuẩn hiện hành.
5.1.3. Mác bê tông là cường độ giới hạn chịu nén được xác định khi thí nghiệm nén trên mẫu thử có kích thư
ớc tiêu chuẩn trong môi trường nhiệt độ 20oC (± 2oC), độ ẩm tương đối không thấp hơn 90% và bảo dưỡng 28 ngày, có tần suất đảm bảo không thấp hơn 90%
5.1.4. Chất lượng của các loại vật liệu sử dụng trộn bê tông đều phải qua kiểm nghiệm, phương pháp thí nghiệm phải phù hợp với những quy định có liên quan
B/ Chọn thành phần bê tông
5.1.5. Thành phần bê tông phải được tuyển chọn qua tính toán, tỷ lệ theo khối lượng và phải thông qua thiết
kế phối trộn thử Phối trộn thử phải sử dụng vật liệu thực tế dùng khi thi công Vật liệu phối trộn bê tông phải thoả mãn điều kiện kỹ thuật như độ nhuyễn, tới độ ninh kết v.v Bê tông trộn xong phải phù hợp yêu cầu chất lượng như cường độ, độ bền
5.1.6 Tỷ lệ pha trộn hỗn hợp bê tông cần phải thí nghiệm chặt chẽ, phải phù hợp với những quy định có liên quan
5.1.7. Bê tông sau khi xác định tỷ lệ phối trộn qua thiết kế và phối trộn thử phải viết báo cáo thí nghiệm tỷ lệ cấp phối trình cơ quan hữu quan xét duyệt
C/ Trộn bê tông
5.1.8. Khi trộn bê tông các loại cân đong phải đảm bảo chuẩn xác Độ ẩm cát và cốt liệu phải được tiến hành
đo kiểm tra thường xuyên để điều chỉnh lượng dùng của cốt liệu và nước
5.1.9. Bê tông phải trộn bằng máy, thời gian trộn lấy theo quy định
Trang 265.1.13. Khi bê tông được vận chuyển đến địa điểm đổ bê tông mà bị phân tầng, tách nước nghiêm trọng hoặc
độ sụt không phù hợp yêu cầu, thì phải tiến hành trộn lại Khi trộn lại không được tuỳ tiện thêm nước, khi thật
sự cần thiết có thể đồng thời thêm cả nước lẫn xi măng Nếu trộn lần thứ 2 vẫn chưa phù hợp yêu cầu, thì không được sử dụng
Trang 27- Độ cao rơi tự do thông thường không vượt quá 2m.
- Khi độ cao này vượt quá 2m, phải thông qua các thiết bị rót như ống vòi voi, ống dẫn thường, ống dẫn chấn
Khi đổ bê tông cấu kiện căng trước phải tránh máy đầm va chạm vào đường ống và các cấu kiện chôn sẵn của thép DƯL Phải thường xuyên chú ý kiểm tra ván khuôn, đường ống, thép bản, đầu neo và cấu kiện chôn sẵn, bệ đỡ v.v để đảm bảo vị trí và kích thước theo yêu cầu thiết kế
5.1.17. Khi dùng đầm máy phải tuân thủ quy định sau:
- Khi dùng đầm dùi, khoảng cách di động không nên vượt quá 1,5 lần bán kính tác dụng của đầm Phải giữ khoảng cách với ván khuôn hông từ 5 ữ 10 cm, cắm vào bê tông tầng dưới 5 ữ 10cm, mỗi khi đầm xong một chỗ phải vừa đầm vừa rút từ từ đầm dùi lên, phải tránh để đầm dùi va chạm vào ván khuôn, cốt thép và các linh kiện chôn sẵn khác
Trang 28- Khi dùng đầm bàn, phải di chuyển sao cho mặt đầm đè lên phần bê tông đã đầm chặt khoảng 10cm.
- Khi dùng đầm cạnh (đầm rung) phải căn cứ, hình dáng của kết cấu và tính năng của dầm v.v và phải xác
định qua thí nghiệm để bố trí cự ly của đầm
- Phải dầm đủ lèn chặt bê tông ở từng vị trí đầm Biểu hiện của lèn chặt là bê tông ngừng lún, không sủi bọt khí, bề mặt bằng phẳng và nổi vữa
5.1.18. Việc đổ bê tông phải tiến hành liên tục Nếu phải gián đoạn thì thời gian ngắt quãng phải ít hơn thời gian sơ ninh, hoặc ít hơn thời gian được phép đầm rung lại đối với lớp bê tông đã được đổ trước đó
Thời gian gián đoạn cho phép phải thông qua thí nghiệm để xác định, thông thường trong quá trình đổ bê tông thời gian gián đoạn không quá 45 phút
Nếu vượt quá thời gian gián đoạn cho phép phải có biện pháp đảm bảo chất lượng hoặc xử lý theo kiểu vết thi công,
5.1.19. Vết thi công phải tiến hành xử lý theo yêu cầu sau đây:
- Phần tẩy bỏ vữa, cát, xi măng và tầng xốp yếu trên mặt bê tông cần xử lý Tầng bê tông cần xử lý phải có cùng cường độ ở thời điểm xử lý
- Phải dùng nước sạch rửa mặt bê tông xử lý trước khi đổ bê tông lớp tiếp theo Đối với vết thi công thẳng
đứng phải quét 1 lớp vữa xi măng, còn đối với vết thi công nằm ngang phải rải 1 lớp vữa cát xi măng tỉ lệ 1/2 dày từ 1 đến 2cm
- Sau khi xử lý vết thi công phải chờ bê tông của lớp xử lý đạt cường độ nhất định mới có thể tiếp tục đổ bê tông
5.1.20. Sau khi hoàn thành việc đổ bê tông và bê tông đang trong giai đoạn sơ ninh nếu bề mặt lộ ra ngoài phải kịp thời sửa sang, miết phẳng Chờ sau khi lắng vữa lại miết lần thứ hai và làm bóng mặt hoặc tạo mặt nhám
5.1.21. Trong thời gian đổ bê tông phải thường xuyên kiểm ta tình trạng vững chắc của giá đỡ, ván khuôn, cốt thép và linh kiện chôn sẵn v.v Nếu phát hiện lỏng lẻo, biến dạng, xê dịch vị trí phải xử lý kịp thời
5.1.22. Khi đổ bê tông phải lập biên bản thi công bê tông
Trang 295.2 Công tác bê tông với các công nghệ thi công
A/ Dầm giản đơn BTDƯL với phương pháp căng sau
5.2.1 Ván khuôn đà giáo phải kiên cố, không hố lõm, cự ly giữa các trụ đỡ phải thích hợp thông thường 1,5m để
đảm bảo độ võng ván khuôn đáy không lớn hơn 2mm.
5.2.2 Việc đổ bê tông thân dầm phải phân thành từng lớp và rải đều một lần cho toàn dầm
5.2.3 Khi đổ bê tông đoạn dầm hình hộp, phải cố gắng đổ một lần hoàn thành Khi thân dầm tương đối cao cũng có
thể chia làm 2 lần hoặc 3 lần để đổ Khi chia nhiều lần đổ thì đổ bản đáy và chân bản bụng trước, sau đó đổ đến bản bụng, cuối cùng bản đỉnh và bản cánh.
B/ Dầm BTDƯL được đổ trên giá đỡ.
5.2.4 Khi đổ trên giá đỡ phải căn cứ vào tính đàn hồi của bê tông, biến dạng của giá đỡ để bố trí độ vồng thi công 5.2.5 Thông thường, khối lượng bê tông toàn dầm cần được đổ xong trước khi mẻ bê tông đầu tiên đã bắt đầu đông
kết Khi khẩu độ tương đối lớn, khối lượng bê tông tương đối nhiều, không thể hoàn thành xong trước khi mẻ bê tông
được đổ ban đầu đã bắt đầu đông kết thì phải bố trí vết thi công hoặc chia đoạn để đổ theo thứ tự thích hợp.
5.3 Bảo dưỡng bê tông
5.3.1 Bê tông sau khi đổ xong, ngay sau khi se vữa phải nhanh chóng phủ đậy và tưới nước bảo dưỡng
Trong suốt thời gian bảo dưỡng cần giữ cho ván khuôn luôn ẩm ướt.
5.3.2 Nước để bảo dưỡng bê tông phải cùng loại với nước để đổ bê tông.
5.3.3 Thời gian bảo dưỡng bê tông thông thường 7 ngày, có thể căn cứ vào tình hình độ ẩm, nhiệt độ không khí,
tính năng loại xi măng và chất lượng phụ gia sử dụng mà quyết định kéo dài hoặc rút ngắn
5.3.4 Khi dùng hơi nước gia nhiệt để bảo dưỡng bê tông phải tuân theo với các quy định sau:
- Chỉ bảo dưỡng bằng hơi nước đối với bê tông dùng xi măng silicát hoặc xi măng phổ thông.
rồi mới được gia nhiệt.
nhiệt độ được xác định qua thí nghiệm Lấy cường độ yêu cầu làm chuẩn để căn cứ xác định thời gian đó.
Trang 30- Bảo đảm cường độ theo yêu cầu ≥ 80% mác bê tông của dầm và không thấp hơn mác M250.
5.4.2. Thành phần vữa: Thành phần vữa gồm XM, nước và chất phụ gia hoá dẻo (không sử dụng phụ gia đông cứng nhanh).
5.4.3. Thí nghiệm vữa tại phòng thí nghiệm
- Mẫu 7x7x7cm (nhiệt độ 20oC) R7 ngày ≥ 150daN/cm 2 , R28 ngày≥ 250daN/cm2 Rku ≥ 40kg/cm2
- Thí nghiêm độ linh động, độ chảy: dùng phễu hình nón tiêu chuẩn - độ linh động yêu cầu 13-15 giây.
- Kiểm tra độ lắng: đổ vữa vào ống nghiệm sau 3 giờ lượng nước ở trên mặt không vượt quá 2% lượng vữa và sau 24 giờ lư ợng nước này bị vữa hút hết (khi thí nghiệm phải đậy kín ống nghiệm để nước không bị bốc hơi).
- Thí nghiệm co ngót: sau 24 giờ thể tích co ngót < 2%
- Thí nghiệm thời gian đông kết bắt đầu 3 giờ kết thúc 24 giờ.
5.4.4. Thí nghiệm vữa tại hiện trường
Trước khi bơm vữa 24 giờ phải làm một số thí nghiệm ở hiện trường để kiểm tra độ chảy và độ lắng, kết quả thí nghiệm độ chảy không vượt quá ở phòng thí nghiệm ± 3 giây, nhưng phải nhằm giữa 13-25 giây, độ lắng vẫn không quá 2% Nếu kết quả không đạt phải thay đổi lượng nước ± (1 ữ 2) lít cho 100kg xi măng.
5.4.5. Thí nghiệm kiểm tra
Thí nghiệm kiểm tra độ chảy và độ lắng ở đầu vào (trong thùng chứa) và đầu ra
5.4.6. Sản xuất vữa
- Cần đảm bảo cân đong đúng, sai số của xi măng, nước hoá dẻo không quá 1% Phải có sàng để lọc xi măng trước khi vào máy trộn và lọc vữa trước khi ra (ô sàng lọc 2mm).
- Vữa phải khuấy trộn liên tục trong máy trộn Không được trộn bằng tay Thời gian khuấy trộn ít nhất là 4 phút
- Vữa trộn xong phải bơm vào lỗ ngay, không để quá 20 phút
- Khi trộn vữa vào mùa hè cần có biện pháp hạ thấp nhiệt độ.
Trang 315.4.7. Công nghệ bơm vữa
Tiến hành kiểm tra đầu ống vào, ống ra (lỗ thông hơi 10mm; lỗ thoát vữa 15mm) Việc bơm vữa cần tiến hành sau khi căng kéo cốt thép và không được chậm quá 4 ngày
- Trước khi bơm cần phun nước vào rãnh rửa sạch ống và cốt thép Phải tiến hành rửa liên tục cho đến khi nư
ớc bắt đầu trong, sau đó dùng hơi ép thổi khô nước
- Máy bơm vữa có áp lực không quá 10kg/cm2 ở các lỗ bơm vữa phải có van vào và van ra Sau khi vữa đầy trong lỗ phải giữ máy một thời gian nhất định (tối thiểu 5 phút với áp suất 6kg/cm2) mới mở van (chú ý tháo van xong phải rửa ngay)
- Để tránh vữa lỗ trên chảy xuống lỗ dưới làm tắc ống, khi bơm vữa cần bơm các lỗ phía dưới xong mới bơm các lỗ trên
- Việc bơm vữa phải thực hiện đều và liên tục, vì vậy cần có thiết bị dự trữ
- Trong khi bơm, nếu bơm bị vón cục hoặc do một lý do khác làm tắc ống thì phải bơm nước từ phía ngược chiều để rửa sạch, sau đó phải thử lại và bơm lại Chú ý nếu thời tiết quá nóng thì vữa sẽ ninh kết nhanh nên phải chú ý tránh nắng Nếu quá nóng phải chuyển sang bơm vào ban đêm hoặc sáng sớm
5.5 Đổ bê tông bịt đầu dầm
5.5.1. Sau khi bơm vữa xong cần tiến hành đổ bê tông bịt đầu dầm để bịt kín neo
- Bê tông bịt đầu dầm phải liên kết tốt với BT dầm Phải đánh nhám mặt tiếp xúc sau khi bơm vữa 24 giờ
- Tuyệt đối không hàn cốt thép bịt đầu dầm vào neo các yêu cầu
- Khi bịt đầu dầm phải đảm bảo kích thước đầu dầm và cự ly từ đầu dầm đến tim gối như t/kế quy định
5.5.2. Bê tông bịt đầu dầm phải đảm bảo mác ≥ 400
- Sau khi đổ bê tông bịt đầu dầm xong, cần phải tiến hành bảo dưỡng trong 7 ngày theo đúng yêu cầu kỹ thuật như bảo dưỡng bê tông dầm
- Ván khuôn bịt đầu dầm được phép tháo dỡ khi cường độ bê tông ≥ 200kg/cm3
5.5.3. Kỹ thuật viên và giám sát viên cần kiểm tra chặt chẽ quá trình đổ BT đầu dầm đảm bảo kỹ thuật
Trang 32Hạ đà giáo, tháo dỡ ván khuôn
Khi bê tông đã đạt đến một cường độ nhất định, có thể tháo ván khuôn Đối với các loại ván khuôn thành, có thể tháo sớm, khi cường độ đạt trên 25daN/cm2 Sau khi tháo ván khuôn phải kiểm tra kỹ mặt ngoài và làm biên bản nghiệm thu, đánh giá chất lượng bê tông.
Khi cường độ bê tông đạt trên 70% cường độ có thể hạ giàn giáo
Ngựa gỗ và nêm dùng cho kết cấu nhịp có chiều dài nhỏ Hộp cát và kích dùng với nhịp lớn Chiều cao hạ giàn giáo tính theo công thức:
h = y + ∆ +C
Trong đó
y- Độ võng của nhịp do trọng lượng bản thân dầm bê tông gây ra.
∆ - Biến dạng đàn hồi.
C- Khoảng hở cần thiết giữa giàn giáo và dầm bê tông, thường từ 10-30mm
Chiều cao mỗi lần hạ là h/n ( n là số lần hạ)
Giàn giáo được hạ từ giữa nhịp vào 2 gối như hình
Đối với cầu dầm kiên tục cũng hạ tương tự nhưng phải cân xứng trong toàn bộ dầm cũng như trong từng nhịp
Đối với cầu nút thừa, càn hạ hai bên nút thừa trước.
Bê tông phải đạt 100% cường độ mới cho phép hoạt tải qua cầu
Trang 33Thi công mặt cầuThi công mặt cầu có thể hiểu là lắp đặt các bộ phận mặt cầu sau khi đã hoàn thành mọi công việc về lắp ráp kết cấu nhịp bao gồm các công việc như trét kín các khe hở, bố trí và đổ kín các kết cấu khe co dãn, ống thoát nước, các rãnh nước, hàng rào lan can, phụ kiện gắn trên phần xe chạy của bản mặt tim cầu và kể cả việc đặt ống bọc dây thông tin Khi lắp đặt các cấu kiện trên mặt cầu, cần đảm bảo liên kết kín lớp áo đường với các kết cấu khe co giãn, lan can tay vịn và các khối xây vỉa đư ờng người đi bộ.
7.1 Lớp phủ
Việc bố trí cấu tạo một lớp bê-tông phủ bằng lên mặt cầu có chức năng vừa làm áo đường vừa cách nước, được phép đổ luôn tại chỗ cùng với các khe nối dọc giữa các phiến dầm của kết cấu nhịp.
7.2 Bản dẫn
Việc lắp đặt các bản dẫn chuyển tiếp từ nền đường vào đầu cầu đường đi bộ phải thực hiện theo một trình tự và thời gian ấn
định trong thiết kế, có tính đến cấu tạo của bản, đặc trưng của đất đắp sau mố và lớp nền đặt bản dẫn này.
7.3 Đường ray
Khi lắp đặt các đường ray trên mặt cầu dùng cho tầu chạy điện, cần đặt theo yêu cầu của tiêu chuẩn riêng chuyên ngành.
7.4 Thông tin, chiếu sáng, thoát nước
Lắp đặt hệ thống thông tin và hệ thống chiếu sáng trên cầu, phải thực hiện theo qui định của các cơ quan chuyên ngành, có xét đến các yêu cầu phù hợp với tiêu chuẩn xây dựng.
7.5 Chống thấm
Việc chống thấm cho công trình cần thực hiện theo đúng chỉ dẫn thiết kế và phù hợp các qui định của qui trình hiện hành Việc chống thấm cho các phiến dầm cầu đường sắt phải thực hiện sẵn trước trong nhà máy chế tạo.
Việc thi công lớp chống thấm trên công trình cần được thực hiện trong điều kiện thời tiết khô ráo trong ngày.
Mép nối ghép các cuộn vải chống thấm hoặc các cuộn lưới thép đan rải mặt cần được xếp chồng đè lên nhau, có xét đến hư ớng thuận dòng chảy của nước mặt.
Lớp phủ bê-tông nhựa cần được thi công theo tiêu chuẩn kỹ thuật mặt đường bê-tông nhựa đã ban hành