Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn
Trang 1vệ sẽ rất dễ đánh mất cả tuổi thơ và tương lai Vì vậy, vấn đề rất được xã hộiquan tâm khi vợ chồng ly hôn là bảo vệ quyền lợi của những đứa con Và phápluật đã đóng vai trò không thể thiếu để bảo vệ những đứa trẻ vô tội này Đó cũng
là nguyên tắc cơ bản, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong Luật HN&GĐ Việt Nam
Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời đã góp phần tích cực và quan trọng trongviệc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn với những nội dung cơ bản nhưquy định về nguyên tắc giao con cho ai nuôi là vì quyền lợi mọi mặt của con;quy định về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng nuôi con, quyền thăm nomcon; quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con khi quyền lợi mọi mặtcủa con không được đảm bảo …
Tuy nhiên, bên cạnh những tác dụng lớn lao mà nguyên tắc đem lại, trênthực tế vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn còn gặp nhiều khókhăn, vướng mắc do nhiều nguyên nhân khác nhau.Vậy, trên thực tế, nguyên tắc
đó đã được Toà án áp dụng như thế nào, những gì đã làm được và chưa làmđược và những giải pháp thích hợp để nguyên tắc đó được áp dụng hiệu quảtrong các vụ ly hôn là một vấn đề thực tế rất cần được quan tâm
Được nghiên cứu rõ hơn về nguyên tắc này là nung nấu của tôi từ khibước chân vào trường đại học Luật, và với sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo
Trang 2trong tổ bộ môn Luật HN&GĐ, tôi mạnh dạn chọn đề tài : ‘‘Bảo vệ quyền lợi
của con khi cha mẹ ly hôn’’ làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
Để thực hiện khoá luận này, tôi có sử dụng một số phương pháp nghiêncứu như : Phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lênin,phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
Kết cấu khoá luận:
Chương I: Khái quát chung về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn.
Chương II: Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000.
Chương III: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn.
Trong khuôn khổ một đề tài khoa học với thời lượng nghiên cứu và trình
độ chuyên môn còn hạn hẹp, chắc chắn bản khoá luận này sẽ không tránh khỏinhững thiếu sót Tôi hy vọng rằng những ý kiến đóng góp quý giá của thầy côgiáo và các bạn sinh viên sẽ giúp khoá luận này được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Trang 3CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA CON KHI CHA MẸ LY HÔN
1 Ly hôn và hậu quả pháp lý, xã hội của ly hôn đối với con
1.1 Khái niệm ly hôn
Ly hôn là một vấn đề xã hội được quan tâm ở hầu hết các quốc gia trênthế giới Đây là vấn đề không mới nhưng luôn nhức nhối bởi những hậu quảnặng nề mà nó để lại Có thể nói từ khi pháp luật ra đời, những quy định tương
tự như ly hôn đã xuất hiện, bởi vì quan hệ HN&GĐ là quan hệ chủ đạo trong xãhội, mà ly hôn là điều khó tránh khỏi khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ.Tuy nhiên, ở mỗi hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử, những quan điểm, nhữngquy định về vấn đề này lại không giống nhau Bởi vì mỗi giai cấp thống trị đềuđưa ra những quy định để bảo vệ tối đa cho giai cấp mình, cho chế độ của mình
Vì vậy, khi các hình thái kinh tế xã hội thay đổi theo hướng ngày càng tiến bộthì vấn đề ly hôn ngày càng được nhìn nhận một cách tiến bộ hơn
Đặc trưng của quan hệ HN&GĐ dưới chế độ phong kiến là tư tưởng trọngnam khinh nữ, bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn ông, chế độ đa thê vànhững quy định hà khắc, những căn cứ bất bình đẳng về ly hôn… Khi hôn nhânkhông xuất phát từ tình yêu, gia đình không được xây dựng trên nguyện vọngcùng nhau xây đắp thì ly hôn chỉ là một thứ công cụ để bảo vệ cho hệ tư tưởngcủa chế độ phong kiến cũng như lợi ích của giai cấp phong kiến Nó chỉ là công
cụ để người chồng có cơ hội tự cho mình quyền bỏ vợ với những lý do hết sứcbình thường như không có con, ghen tuông, lắm lời… và lấy đi của người vợquyền bỏ chồng khi cuộc hôn nhân đó chỉ còn là xiềng xích trói buộc, là một sựđau khổ dằn vặt về cả thể chất lẫn tinh thần
1() Theo Mac-Anghen, Tuyển tập, Tập 1, Nxb Sự thật, H 1980, tr.262, 263
Trang 4Trong xã hội tư sản, khi xã hội đã tiến lên một bước dài trong lịch sử,những quan hệ về HN&GĐ cũng có sự phát triển đáng kể với những quy địnhnhư tự do yêu đương, hôn nhân một vợ một chồng, tự do ly hôn… Tuy nhiên,nhìn vào bản chất vấn đề, những quy định trên vẫn không thoát khỏi hệ tư tưởngcủa giai cấp tư sản do bị rằng buộc bởi những quy định ngăn cấm của nhà làmluật Vì vậy, những quy định này dù rất tiến bộ nhưng rất khó thực hiện trên
thực tế, và chỉ mang tính hình thức Lê nin đã nói: ‘‘Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, quyền ly hôn cũng như tất cả mọi quyền dân chủ khác, không loại trừ một quyền nào đều không thể thực hiện một cách dễ dàng được, nó lệ thuộc vào
thể thấy rõ điều đó qua quy định về căn cứ ly hôn : Việc ly hôn thường căn cứvào lỗi của một bên đương sự Lỗi là yếu tố quyết định cuộc hôn nhân đó có thểtồn tại được hay không và ai là người có quyền xin ly hôn Như vậy, không cầnquan tâm tới tình trạng cuộc hôn nhân, cuộc sống của một gia đình trong mộtthời gian dài đã diễn ra như thế nào, chỉ cần một bên có lỗi, cuộc hôn nhân đó cócăn cứ chấm dứt Như vậy, ly hôn đã không được phản ánh đúng bản chất củanó
Trong xã hội XHCN, khi pháp luật là ý chí số đông trong xã hội, quy định
về ly hôn đã phản ánh được đúng bản chất của vấn đề Nếu như hôn nhân là sựkết tinh của tình yêu và sự đồng thuận của hai bên nam nữ thì ly hôn là một lốithoát khi cuộc hôn nhân mà họ đã chọn là thực sự sai lầm Vì vậy, nó là cơ hộimới để người ta có thể làm lại cuộc đời, thoát khỏi đau khổ, bất hạnh Bởi vì bản
chất của ly hôn ‘‘chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân này chỉ là
bởi vì: ‘‘Tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ,
Đứng trên quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa Mac - Lê nin, Khoản 8 Điều 8 Luật
1() Lênin: Về một sự biếm hoạ chủ nghĩa Mác v v à v ề Chủ nghĩa kinh tế đế quốc, to n t à v ập, nxb Tiến Bộ, Matxcova, 1981, t.30, tr.166.
2() C.Mac v PH.Anghen:To n t à v à v ập, nxb chính trị quốc gia, H N à v ội, 1995, t.1, tr.234
3() Lê nin: về quyền dân tộc tự quyết, To n t à v ập, NXB tiến bộ, Matxcova, 1980, T.25, tr.335
Trang 5HN&GĐ Việt Nam năm 2000 quy định: ‘‘ Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng’’ Như vậy khi nhận thấy cuộc hôn nhân của mình là sai
lầm, quan hệ vợ chồng luôn căng thẳng, nặng nề thì ai cũng có thể đứng ra yêucầu Toà án chấm dứt quan hệ đó Toà án sẽ là người thứ ba nhìn nhận, xem xéttoàn diện vấn đề và đưa ra quyết định cuối cùng Đảm bảo quyền tự do ly hôn làmột nội dung quan trọng của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ đã đượcghi nhận tại Điều 64 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và được cụ thể hoá tại Điều
2 Luật HN&GĐ năm 2000 Tuy nhiên, tự do ly hôn không phải là tự do mộtcách tuỳ tiện mà phải dựa vào những căn cứ luật định Đó là khi quan hệ vợ
chồng lâm vào “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được’’(Khoản 1 Điều 89 Luật HN&GĐ năm
2000) Và ly hôn chỉ có giá trị pháp lý khi nó được Toà án công nhận
Căn cứ ly hôn đã được đánh giá một cách tổng quát mà sâu sắc, đi đến tậncùng bản chất của mọi nguyên nhân Đó là khi quan hệ hôn nhân ấy thực sự tan
vỡ, mọi cố gắng để duy trì đời sống chung đã trở thành vô ích, sự tồn tại của nóchỉ làm cho tình trạng gia đình càng thêm trầm trọng Điều này rất khác vớinhững căn cứ ly hôn dựa vào yếu tố lỗi – chỉ dựa vào hiện tượng mà không đivào bản chất của vấn đề
Như vậy, trong các thời kỳ khác nhau, khái niệm ly hôn được hiểu rấtkhác nhau về bản chất Ở chế độ phong kiến và tư sản ly hôn chỉ được nhìn nhậndưới góc độ tiêu cực: do lỗi của một bên gây ra, thì ở chế độ XHCN nó đượcnhìn nhận ở một khía cạnh tích cực: là lối thoát cho một cuộc sống bế tắc Vìvậy, căn cứ ly hôn và vai trò của cơ quan xét xử ở các thời kỳ khác nhau cũng
nhiều đến cuộc sống tình cảm của vợ chồng đã thực sự chấm dứt chưa mà chỉcần xem xét “ lỗi’’ mà các bên đưa ra có đúng và hợp lý không Vì vậy, việc xét
xử hoàn toàn thụ động Còn ở chế độ XHCN, Toà án với vai trò là người thứ banhìn nhận vấn đề một cách khách quan, đi vào bản chất của vấn đề để quyết định
Trang 6mở ra một lối thoát hay giữ lại cuộc sống bình yên sau những quyết định nhấtthời của các bên.
1.2 Hậu quả pháp lý và xã hội của việc ly hôn đối với con và sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn
Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệhuyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng Khi vợ chồng ly hôn, quan hệ hôn nhânchấm dứt, tuy nhiên quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ
và con vẫn không hề thay đổi Vì vậy, trên phương diện pháp lý, các quyền vànghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau sẽ chấm dứt nhưng các quyền và nghĩa vụcủa cha mẹ đối với con thì vẫn không thay đổi Trên phương diện đạo đức, cha
mẹ là người sinh thành ra các con, cha mẹ có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡngcác con khi chúng chưa thể tự lo cho bản thân mình mà không phụ thuộc vàohoàn cảnh gia đình Khi ly hôn, vợ chồng cảm thấy thoả mãn vì đã tìm thấy lốithoát cho bản thân nhưng lại không thể tránh khỏi việc gây ra đau khổ, thiệt thòicho con cái – những đứa trẻ vô tội trong sự tan vỡ của gia đình Nguyên nhâncủa ly hôn là tình cảm của vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sốngchung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên mọingười khi đi đến quyết định ly hôn đã muốn có một cuộc sống riêng cho mình
Vì vậy, sau khi ly hôn họ không còn sống chung là một điều đương nhiên Cha
mẹ không còn sống chung, vì vậy, pháp luật quy định con chỉ được sống với mộtngười Đó là hậu quả pháp lý mà trẻ phải chịu, dù không ai muốn nhưng khôngcòn cách nào khác Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em, pháp luật quy địnhcon chỉ được sống với một người và đó là người có khả năng bảo đảm quyền lợi
về mọi mặt cho chúng, còn người kia sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình một cáchgián tiếp Sự thiệt thòi, mất mát không chỉ dừng lại ở việc chúng không đượcsống cùng cả cha và mẹ mà ngay cả sự gần gũi, gắn bó giữa các anh, chị, emtrong gia đình cũng bị chia rẽ Bởi vì, khi một người không đủ khả năng chămsóc cho tất cả các con thì họ buộc phải lựa chọn đứa con nào ở với mình thìquyền lợi của chúng sẽ được đảm bảo hơn Quyết định khó khăn đó cũng là đểbảo đảm cuộc sống vật chất cho con, nhưng lại làm mất đi một cuộc sống vui vẻ
Trang 7với tình cảm yêu thương, quấn quýt nhau giữa các anh, chị, em trong một giađình.
Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con vẫn không hề thayđổi nhưng do con chỉ được sống với một người nên cách thức thực hiện cácquyền và nghĩa vụ của cha mẹ có một số thay đổi, đặc biệt là đối với ngườikhông trực tiếp nuôi con Đứa con chỉ được sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếpbởi một người và người kia thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách giántiếp Đối với người không trực tiếp nuôi con, trẻ chỉ nhận được sự chăm sóc,nuôi dưỡng qua việc thăm nom, cấp dưỡng Đây chỉ là một sự cố gắng bù đắpchứ không thể lấp đầy khoảng trống về tình cảm trong lòng những đứa trẻ cònngây thơ Chính những hậu quả pháp lý đó đã gây ra những hậu quả về mặt xãhội rất nặng nề, ảnh hưởng tới cuộc sống và sự phát triển của các em
Cha mẹ bất hoà luôn ảnh hưởng tới sự phát triển của con về mặt tâm lý.Những cảnh cãi vã nhau, những câu chì chiết, những câu chửi hay những lầnđánh nhau trước mặt con lúc nào cũng có hại và sẽ rất khó xoá nhoà trong những
ký ức tuổi thơ của con Trẻ rơi vào tình trạng luôn lo lắng, bất an, có cảm giác bị
bỏ rơi Cũng có trường hợp trẻ tự kết tội mình có phần nào trách nhiệm trong sựchia ly của bố mẹ Sự buồn bã, sự suy nhược, sự cách ly, sự mất ngủ, những cơn
ác mộng và những nỗi sợ hãi, ám ảnh ban đêm… đều có khả năng chế ngự trongđời sống tinh thần của đứa trẻ Kết quả học tập cũng có phần sụt giảm Đôi khiđứa trẻ chuyển sự thô bạo trong gia đình sang những quan hệ xã hội Trongnhững trường hợp khác, chúng chọn thái độ của một người lớn trưởng thànhsớm, chúng già dặn và không còn sự hồn nhiên như bạn bè cùng lứa
Trẻ sống trong các gia đình ly hôn thường rất mặc cảm trong cuộc sống,ngại tiếp xúc, kín kẽ khi nói về bản thân và gia đình không trọn vẹn của mình.Nhìn xa hơn ở những trường hợp cha mẹ ly hôn mà cả hai đều chạy theo cuộcsống riêng tư của mình, những đứa trẻ bỗng dưng bị bỏ rơi, lạc lõng giữa cuộcđời Và một thực tế là những trẻ đó rất dễ vướng vào những cạm bẫy của cuộcđời và rơi vào con đường phạm pháp
Trang 8Do những thiệt thòi không dễ bù đắp, những nguy cơ mà các em dễ mắcvào, những hậu quả xã hội mà các em phải chịu, bảo vệ trẻ em có cha mẹ ly hôn
là một việc làm rất cần thiết và cấp thiết
Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người
kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nếu không được sự quan tâm của
xã hội, sự bảo vệ của pháp luật thì những mầm non của hôm nay không thể trởthành những công dân có ích cho xã hội mai sau được Những trẻ có cha mẹ lyhôn phải chịu nhiều thiệt thòi so với các bạn bè đồng lứa, hơn nữa, chúng vẫncòn chưa thể tự lo được cho mình, vì vậy, rất cần có sự quan tâm đặc biệt đếnđối tượng này Mặt khác, chúng đang trong quá trình phát triển về nhân cách vànhận thức, rất cần được dạy đỗ, chỉ bảo, định hướng của những người đi trước.Đây cũng là lứa tuổi dễ bị lợi dụng, dễ sa vào cạm bẫy nên sự quan tâm, sự địnhhướng của người lớn lại càng cần thiết
1.3 Ý nghĩa của việc điều chỉnh bằng pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn
Cha mẹ là người sinh thành ra các con, cho con sự sống, vì vậy cha mẹcũng là người có trách nhiệm nuôi dưỡng con Dù cuộc sống khó khăn hay đầy
đủ, cha mẹ có hạnh phúc hay không thể sống chung với nhau thì cũng khôngđược từ chối trách nhiệm của mình Trong gia đình, việc cùng nhau chăm sóc,dạy dỗ con là một niềm hạnh phúc của vợ chồng Sự vất vả, bận rộn luôn đượcđộng viên bởi ý nghĩ là để đem lại sự đầy đủ, niềm vui cho con Tuy nhiên, khimục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng kết tội cho nhau về sự tan vỡcủa gia đình thì những kết quả của tình yêu đã chết đó cũng rất dễ rơi vào tìnhtrạng bị bỏ rơi hoặc chỉ nhận được một nửa sự yêu thương Vì vậy, để bảo vệquyền lợi cho trẻ pháp luật đã quy định nuôi con không chỉ là quyền mà còn lànghĩa vụ của cha mẹ Nuôi con là một nghĩa vụ luật định nhằm nâng cao ý thứctrách nhiệm của người làm cha, mẹ, đặc biệt là khi họ đã ly hôn Đó cũng là cơ
sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho con khi người làm cha mẹ không thực hiệnđúng nghĩa vụ của mình
Trang 9 Sự cụ thể hoá của nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của trẻ em trong trường hợp đặc biệt
Bảo vệ trẻ em luôn là một điều được xã hội quan tâm, nhất là trong giaiđoạn hiện nay Cả xã hội đã luôn cố gắng tạo điều kiện cho trẻ em được pháttriển một cách toàn diện Nhà nước đã đưa ra rất nhiều chủ trương, chính sách
và nâng lên thành luật Rất nhiều quyền lợi của trẻ được pháp luật bảo vệ nhưquyền được cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, được học hành, được vui chơi vàphát triển toàn diện… Trẻ em có cha mẹ ly hôn là một đối tượng đặc biệt bởi vì
so với những trẻ khác thì chúng phải chịu nhiều thiệt thòi và bất hạnh Do vậy,pháp luật đã có những quy định để bảo đảm quyền lợi cho chúng Và những quyđịnh của Luật HN&GĐ về trách nhiệm của cha mẹ khi ly hôn và những quyềnlợi của trẻ chính là một sự cụ thể hoá của nguyên tắc bảo vệ trẻ em trong trườnghợp đặc biệt
Lịch sử đất nước ta từ xưa đến nay, tình mẫu tử, tình phụ tử luôn chiếmmột vị trí thiêng liêng trong trái tim người Việt Dù cuộc sống vất vả, lam lũ, dùđất nước chiến tranh liên miên nhưng giữa những khó khăn ấy vẫn sáng loà tìnhcảm gia đình, tình yêu thương, sự hy sinh của cha mẹ cho con cái Nó đã kết tinhthành một giá trị tinh thần quý báu, đó là truyền thống dân tộc Ngày nay khiđất nước đang có những bước chuyển lớn trong lịch sử, truyền thống đó vẫnđược tiếp nối Khi xã hội càng phát triển, sự quan tâm của xã hội đến trẻ emngày càng được chú trọng Chúng ta đang cùng nhau nỗ lực để xây dựng mộtnhà nước pháp quyền Sự ghi nhận nghĩa vụ nuôi con của cha mẹ trong phápluật là một trong những biểu hiện của sự tiếp nối truyền thống đạo đức dân tộc,đặc biệt là trong Luật HN&GĐ
xã hội chủ nghĩa
Qua phân tích về bản chất của ly hôn dưới chế độ XHCN, chúng ta đã
thấy được sự tiến bộ của pháp luật XHCN Việc quy định căn cứ ly hôn không
Trang 10liệt kê ra các trường hợp cụ thể tức là khi đã nhìn nhận toàn diện vấn đề và cảmthấy cuộc hôn nhân đó là không thể cứu vãn thì Toà mới cho phép ly hôn Quyđịnh đó đã hạn chế được rất nhiều trường hợp gia đình tan vỡ khi vợ chồng dù
có xung đột nhưng chưa đến mức trầm trọng và còn cứu vãn được Vì vậy, số trẻ
em phải chịu cảnh gia đình tan vỡ do những sai lầm nhất thời của cha mẹ cũng
vì thế mà giảm đi Còn khi đã đủ căn cứ để ly hôn, việc duy trì một cuộc hônnhân đã chết chỉ làm cho tình trạng gia đình càng trầm trọng thêm, và tất nhiên
sẽ ảnh hưởng xấu đến con cái thì việc ly hôn của cha mẹ ở một khía cạnh nào đócũng tốt hơn cho những đứa con Quy định về giao con cho ai nuôi cũng thể hiệntính nhân đạo của pháp luật Việc giao con cho ai nuôi là vì lợi ích của con chứkhông phải dựa vào lỗi của cha mẹ - căn cứ dẫn đến ly hôn trong pháp luật tưbản chủ nghĩa Trong mọi trường hợp thì quyền lợi của con luôn được đặt lênhàng đầu, đã thể hiện được bản chất nhân đạo của pháp luật XHCN
2 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn trong pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, quan hệ HN&GĐ chưa được ghinhận riêng biệt ở một văn bản pháp luật nào của Việt Nam Các quy định về bảo
vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn còn rất ít ỏi và sơ lược Điểm đáng chú ýnhất là quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của cha mẹ khi ly hôn ở các bộdân luật trong thời kỳ Pháp thuộc Ở thời kỳ phong kiến, có thể nói, vấn đề bảo
vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn chưa được quan tâm và đề cập vào luậtpháp
Một trong những văn bản đầu tiên về pháp luật HN&GĐ của nhà nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà là Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một
số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950 quyđịnh về vấn đề ly hôn Nếu như pháp luật phong kiến hạn chế quyền ly hôn củangười vợ hoặc quy định căn cứ ly hôn riêng cho người vợ và người chồng thìSắc lệnh số 159-SL lần đầu tiên ghi nhận quyền bình đẳng của người vợ quaviệc quy định năm duyên cớ ly hôn chung cho cả vợ và chồng (Điều 2) Về vấn
đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn, Sắc lệnh đã có những quy định
Trang 11rất tiến bộ, dù còn đơn lẻ: ‘‘Toà sẽ căn cứ vào quyền lợi của con vị thành niên
để ấn định việc trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng Hai vợ chồng đã ly hôn phải cùng nhau chịu phí tổn về việc nuôi dạy con, mỗi bên tuỳ theo khả năng của mình’’ (Điều 6) Với những quy định hết sức tiến bộ, Sắc lệnh đã thể hiện
được tinh thần bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em, góp phần xoá bỏhôn nhân phong kiến, và là cơ sở để xây dựng Luật HN&GĐ năm 1959 và cácLuật HN&GĐ tiếp theo Tuy nhiên, hạn chế của Sắc lệnh là sự quy định chưađầy đủ, ví dụ chưa có quy định nào bảo vệ những người con đã thành niênnhưng không có khả năng tự đảm bảo cuộc sống
Cuối những năm 50, ở miền Bắc, cuộc cải cách ruộng đất đã căn bản hoànthành, đất nước ta đang chuẩn bị những điều kiện vật chất và con người để tiếnlên XHCN nhưng những tàn dư của chế độ HN&GĐ phong kiến vẫn còn tác
động rất lớn đến cuộc sống của gia đình và xã hội ‘‘Việc ban hành một đạo luật mới về HN&GĐ trở thành một đòi hỏi cấp bách của toàn thể xã hội Đó là một tất yếu khách quan thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
công cụ pháp lý nhằm xoá bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến,chống những ảnh hưởng của hôn nhân tư sản, xây dựng chế độ HN&GĐ mớiXHCN Luật dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản: hôn nhân tự do tiến bộ; một vợmột chồng; nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong giađình; bảo vệ quyền lợi của con cái Luật đã dành hẳn một chương để quy định về
vấn đề ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn Luật quy định: ‘‘Vợ chồng đã ly hôn vẫn có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với con chung’’ (Điều 31); ‘‘Khi ly hôn, việc cho ai nuôi nấng, giáo dục con cái chưa thành niên, phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con cái Về nguyên tắc, con còn bú phải do mẹ phụ trách Người không có quyền giữ con vẫn có quyền thăm nom, săn sóc con Vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi nấng và giáo dục con, mỗi người tuỳ theo khả năng của mình Vì lợi ích của con cái, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ hoặc góp phần vào phí tổn nuôi nấng giáo dục con cái’’
1() Tờ trình của Chính phủ trước Quốc hội ng y 23/12/1959 v à v ề dự luật HN&GĐ – Công báo số 1 năm 1960
Trang 12(Điều 32) Như vậy, bảo vệ quyền lợi của con cái nói chung đã trở thành mộtđiều bắt buộc, là căn cứ cần xem xét khi giải quyết các mối quan hệ khác tronggia đình So với Sắc lệnh số 159-SL, những quy định trong Luật HN&GĐ năm
1959 đã thể hiện một bước tiến bộ rõ rệt Tuy nhiên, nó vẫn còn một số hạn chếnhư một số quy định vẫn chưa cụ thể, vì vậy, việc vận dụng vào thực tế vẫn gặpnhiều bất cập Ví dụ quy định con còn bú có vẻ mơ hồ, nên khi giải quyết Toà ánrất khó làm vừa lòng cả hai bên đương sự Luật chưa quy định triệt để vấn đềbảo vệ quyền lợi của các con, cụ thể là quyền của người con đã thành niênnhưng không có khả năng lao động vẫn chưa được pháp luật ghi nhận và bảo vệ
Trong khi đó miền Nam vẫn chịu sự thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai,
hệ thống các văn bản pháp luật HN&GĐ được ban hành bởi Ngụy quyền SàiGòn đã thể hiện một quan niệm hết sức lạc hậu và cực đoan Điều 55 Luật gia
đình ngày 2/1/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm quy định: “Cấm chỉ vợ chồng ruồng bỏ nhau và sự ly hôn’’, trừ trường hợp đặc biệt do tổng thống quyết định.
Vì thế, cũng không tồn tại những quy định về bảo vệ quyền của con khi cha mẹ
ly hôn
Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Luật gia đình ngày 2/1/1959 đãđược thay thế bởi Sắc luật số15/64 ngày 23/7/1964 và sau đó là Bộ Dân luật SàiGòn năm 1972, vấn đề ly hôn đã được đặt ra Những văn bản này đã xuất hiệnnhững quy định về bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn Pháp luật đã
xem xét đến quyền lợi của những đứa con, nhất là khi con còn nhỏ: ‘‘… nếu không có lý do gì cản trở, những đứa trẻ còn thơ ấu cần sự chăm sóc của người
mẹ sẽ được giao cho người này’’ (Điều 198 Bộ Dân luật Sài Gòn) Tuy nhiên
do ảnh hưởng của quan niệm về ly hôn của chủ nghĩa tư bản, việc giải quyết lyhôn dựa trên cơ sở lỗi của hai vợ chồng nên những quy định về quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng cũng đi theo hướng đó Người không có lỗi trong việc làm giađình tan vỡ sẽ đương nhiên có quyền nuôi con dưới 16 tuổi, còn người có lỗi thì
có nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thăm nom con (Điều 89 và 90 Sắc luật số15/64) Mặc dù đã có quy định cụ thể, rõ ràng về người trực tiếp nuôi con saukhi vợ chồng ly hôn nhưng quy định này vẫn còn nhiều hạn chế Con cái được
Trang 13giao cho ai nuôi không dựa trên nguyên tắc vì quyền lợi của con mà dựa vàonhững sai lầm của bố mẹ, cho dù sai lầm đó có thể là nhất thời, không liên quanđến khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con cái Vì vậy trong nhiều trường hợp,quyền lợi chính đáng của con không được bảo vệ mặc dù có khả năng thực hiệnđược điều đó.
Bước sang những năm 80, khi đất nước đã thống nhất và dần ổn định, tìnhhình kinh tế xã hội đã có những biến chuyển, Hiến pháp năm 1980 ra đời quyđịnh nhiều nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của trẻ em… việc ban hành LuậtHN&GĐ mới áp dụng trên phạm vi cả nước là một nhu cầu cấp bách Và sự rađời của Luật HN&GĐ năm 1986 đã tạo nên một bước phát triển lớn của phápluật HN&GĐ Việt Nam nói chung và bảo vệ quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ lyhôn nói riêng Lần đầu tiên, bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em được ghi nhận
là một nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ (Điều 3)
Đến những năm 90, đất nước ta đã gặt hái được những thành công củacông cuộc đổi mới Hiến pháp năm 1992 và BLDS năm 1995 là những văn bảnpháp luật lớn ra đời bổ sung rất nhiều quy định quan trọng liên quan đến lĩnhvực HN&GĐ Để cụ thể hoá các quy định trong Hiến pháp năm 1992 và BLDSnăm 1995 về HN&GĐ, củng cố gia đình theo truyền thống tốt đẹp của dân tộc,tránh ảnh hưởng của lối sống thực dụng của kinh tế thị trường đối với quan hệHN&GĐ, ngày 9/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật HN&GĐ năm 2000 LuậtHN&GĐ năm 2000 tiếp tục ghi nhận bảo vệ quyền lợi của trẻ em là một trong
những nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ : “Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội…’’, ‘‘Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em…’’ (Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2000) Các
quy định về bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn được quy định một cách
cụ thể và khá đầy đủ như quy định về vấn đề đối tượng con được bảo vệ, giaocon cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, quyền thămnom con, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, hỏi ý kiến của con khi con đủchín tuổi trở lên… Và những quy định này đã được hướng dẫn chi tiết trong cácvăn bản dưới luật
Trang 14Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, pháp luật HN&GĐ Việt Nam đã cómột quá trình phát triển theo hướng ngày càng tiến bộ và hợp lý Trong đó, cácquy định về bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn ngày càng phù hợp vớinhững đòi hỏi phức tạp của xã hội, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo chonhững đứa trẻ có một cuộc sống bình thường, ổn định sau khi cha mẹ chúng lyhôn.
Trang 15CHƯƠNG II NGUYÊN TẮC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON KHI CHA MẸ LY HÔN
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000
1 Các con được bảo vệ khi cha mẹ ly hôn
Khi ly hôn, vợ chồng thoát khỏi cuộc sống không hạnh phúc, căng thẳngkéo dài nhưng thiệt thòi nhất lại thuộc về những đứa con – niềm hạnh phúc mộtthời của cha mẹ Dù sau đó cha, mẹ có cố gắng bù đắp nhưng những đứa convẫn thấy đau xót và thiếu hụt về tình cảm, luôn mong muốn một niềm hạnh phúcgiản dị là sống trong một mái ấm gia đình có cả cha, mẹ và các anh, chị, em.Những đứa con không phải là tác nhân gây ra sự nạn nứt, tan vỡ của một mái
ấm, không có quyền quyết định sự mất hay còn của một gia đình nhưng là ngườiphải gánh chịu những hậu quả nặng nề nhất, những thiệt thòi không thể bù đắpđược Sống trong gia đình chỉ có cha hoặc mẹ, những đứa con rơi vào cảnh thiếutình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ của cả cha và mẹ Ly hôn làmcho các thành viên trong gia đình xa cách và dù thế nào cũng để lại một nổibuồn lặng suốt quảng đời còn lại của mỗi người Nhưng đáng thương hơn cả lànhững đứa con Chúng còn thơ dại chưa từng biết sự phức tạp của cuộc sống,chưa thể hiểu được tại sao gia đình tan nát lại phải hứng chịu những mất mát đó
Vì vậy, khi rơi vào cảnh cha mẹ ly hôn nhiều đứa trẻ đã trở nên thay đổi tínhnết, chúng già dặn hơn so với tuổi, hoặc trở thành những đứa trẻ trầm lặng, lầm
lỳ vì mặc cảm với bạn bè, hoặc trở nên thù ghét cha mẹ, thù ghét cuộc đời và rất
dễ hư hỏng Sự phát triển và trưởng thành của những đứa trẻ luôn cần có sự vỗ
về yêu thương, chăm sóc dịu dàng của người mẹ, sự dìu dắt, dạy dỗ của ngườicha Nếu thiếu đi một người, sự phát triển về tính cách, lối sống, suy nghĩ củađứa trẻ sẽ không đầy đủ và toàn diện Và dù cuộc sống vật chất có đầy đủ thìcũng khó mà bù đắp được cho tuổi thơ của các em, khó xóa đi được những mặc
Trang 16cảm của các em trước xã hội Cũng từ những vấn đề đó đã nảy sinh nhiều vấn đềđáng quan tâm trong xã hội Một phần lớn những đứa trẻ hư hỏng là những em
có gia đình không hạnh phúc, cha mẹ ly hôn, con cái không được quan tâm vàphạm pháp khi chúng còn vị thành niên Vì vậy, sự can thiệp của xã hội, củapháp luật để cha mẹ chúng thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình saukhi ly hôn là rất cần thiết Khoản 1 Điều 92 Luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy
định : ‘‘Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình’’.
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì đối tượng con mà cha mẹ cónghĩa vụ nuôi dưỡng và được pháp luật bảo vệ quyền lợi khi cha mẹ ly hôn cóthể chia làm hai nhóm:
1.1 Các con chưa thành niên
Theo quy định của pháp luật dân sự, người chưa thành niên là người chưa
dưỡng, giáo dục của cha mẹ vì chúng còn ngây thơ, chưa thể tự lo cho bản thânmình được Bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội Trẻ có cha mẹ ly hôn
có quyền được hưởng những quyền mà mọi trẻ em được hưởng như học tập, vuichơi, sự quan tâm, chăm sóc… Chúng chưa đủ sức khoẻ và trình độ tham giavào các quan hệ lao động phức tạp để tự nuôi sống bản thân Hơn nữa pháp luậtcũng quy định chúng chưa có đủ quyền và nghĩa vụ của một công dân độc lập.Rất nhiều trường hợp chúng cần có người đại diện để thực hiện các giao dịchdân sự hoặc tham gia vào các quan hệ pháp luật khác Vì vậy, chúng chưa thể tựsống một cuộc sống độc lập và rất cần sự nuôi dưỡng, dìu dắt của cha mẹ, ngườithân Còn những người đã thành niên mà có khả năng tự nuôi mình thì khôngphải là đối tượng pháp luật hướng đến để bảo vệ khi cha mẹ họ ly hôn Vì cảtrên phương diện thực tế và pháp lý thì họ đều đã có đầy đủ khả năng để trởthành một con người độc lập trong xã hội Cha mẹ cũng không có nghĩa vụ phảinuôi dưỡng họ nữa Đây là sửa đổi rất hợp lý của Luật HN&GĐ năm 2000 Luật
Trang 17HN&GĐ năm 1986 không chỉ ra mốc thời gian cụ thể mà trong khoảng thời
gian đó, nghĩa vụ nuôi dưỡng con của cha mẹ là bắt buộc: ‘‘Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng giáo dục con’’ (Điều 19) Nuôi con là trách nhiệm của
cha mẹ nhưng đó không phải là nghĩa vụ suốt đời Bởi vì khi con đã thành niên,trừ những trường hợp ngoại lệ, họ hoàn toàn có khả năng nuôi sống bản thânmình, trong khi đó luật vẫn quy định những người làm cha, mẹ phải nuôi, dưỡngcấp dưỡng, thăm nom là không phù hợp Vì con cũng không thể dựa dẫm vàocha mẹ mãi được, hơn nữa điều luật đó cũng không đạt được tính khả thi
1.2 Các con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không
có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
Đây là những người về độ tuổi đã thoả mãn quy định của pháp luật là mộtcông dân độc lập nhưng họ lại bị khiếm khuyết về thể chất hoặc nhận thức nênkhông có khả năng lao động Nếu không có tài sản để tự nuôi mình thì họ cũngkhông biết bám víu vào ai để tồn tại được Nếu họ là một người bình thường thìcha mẹ có thể coi như đã hết trách nhiệm với họ Nhưng họ không thể tự chămsóc mình nên pháp luật vẫn quy định việc cha mẹ chăm sóc nuôi dưỡng controng trường hợp này là nghĩa vụ bắt buộc Quy định này thể hiện tính nhân vănsâu sắc, tính nhân đạo của pháp luật Bởi vì, nếu chỉ dựa vào đạo đức, tráchnhiệm của cha mẹ, quyền lợi của những người con này không phải lúc nào cũngđược đảm bảo Việc nó trở thành một nghĩa vụ luật định đã nâng cao tráchnhiệm của những người làm cha, mẹ Pháp lệnh người tàn tật năm 1998 quy
định : người tàn tật là người ‘‘… bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn’’.
Nhưng không phải mọi người con đã thành niên bị tàn tật cha mẹ đều có nghĩa
vụ nuôi dưỡng mà chỉ những người không có khả năng lao động và không có tàisản để tự nuôi mình Còn những người đã đủ mười tám tuổi, bị tàn tật nhưng vẫnlao động được thì họ có trách nhiệm với bản thân mình chứ không được dựadẫm hết vào cha mẹ
Trang 18Người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của BLDS là người do
bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình và có quyết định của Toà án tuyên bố người đó mất năng lực
hành vi dân sự Vì vậy, pháp luật cũng quy định ‘‘Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện’’ (Khoản 2 Điều 22 BLDS năm 2005) Thường thì người tàn tật có thể nhận
thức được nhưng họ lại không có sức khoẻ để lao động, vì vậy họ cần ngườinuôi dưỡng, chăm sóc ; người mất năng lực hành vi dân sự có thể có sức khoẻnhưng họ lại không ý thức được việc mình làm vì vậy họ phải có người trôngnom, chăm sóc và đại diện trước pháp luật Vì vậy, luật HN&GĐ năm 2000 nêu
ra các đối tượng này là rất cụ thể và đầy đủ
Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con là nội dung cơ bản của LuậtHN&GĐ trong các thời kỳ Tuy nhiên, quy định của pháp luật trong từng giaiđoạn có sự khác nhau và càng về sau càng tiến bộ, hợp lý hơn Nếu như Luật
HN&GĐ năm 1959 mới chỉ dừng lại ở quy định một cách chung chung ‘‘Cha
mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái’’ (Điều 17) thì đến Luật HN&GĐ năm 1986 quy định này đã nhấn mạnh thêm trường hợp ‘‘cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động’’(Điều
20) Mặc dù đã tiến bộ hơn khi đã có sự quan tâm đến những người con không
có khả năng lao động nhưng quy định đó vẫn chưa đầy đủ và rõ ràng Có nhữngtrường hợp mặc dù con không có khả năng lao động nhưng họ lại có tài sản để
tự nuôi mình thì việc đóng góp để nuôi con là cũng không thật sự cần thiết Hơnnữa pháp luật cũng chưa chỉ ra không có khả năng lao động là những trường hợpnào Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời đã khắc phục được những hạn chế này với
việc chỉ ra một cách cụ thể và rõ ràng : ‘‘cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, và không có tài sản để tự nuôi mình’’ (Khoản 1, Điều 36 Luật HN&GĐ năm 2000) Quy định
đã cụ thể hoá trường hợp ‘‘không có khả năng lao động’’ ở Luật HN&GĐ năm
1986 Nó vừa thể hiện tính nhân văn sâu sắc khi nêu ra các trường hợp đặc biệt
Trang 19cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng vừa phù hợp với thực tế khi coi việc nuôi con đãthành niên và có khả năng tự nuôi mình chỉ là quyền mà không phải là nghĩa vụcủa cha mẹ
Khi thực hiện nghĩa vụ của mình, cha mẹ không được có sự phân biệt đối
xử giữa những người con bình thường và những người con tàn tật, mất năng lựchành vi dân sự Người trực tiếp nuôi con không được giành sự quan tâm, yêuthương của mình cho một người con và bỏ bê người con khác mà phải dựa vàonhu cầu chăm sóc, nhu cầu tình cảm của mỗi đứa con để chúng không cảm thấy
bị thiệt thòi Còn người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con ở mức độnào là căn cứ vào nhu cầu chữa bệnh, học tập của con, không được viện lý docấp dưỡng cho các con là bằng nhau mà gây thiệt thòi cho người có nhu cầu lớnhơn
Tuy pháp luật không quy định rõ nhưng chúng ta vẫn phải ngầm hiểu rằngđối tượng con mà luật quy định trong những trường hợp này phải là con chungcủa hai vợ chồng Nếu là con riêng của vợ hoặc chồng thì pháp luật không đặt racho bố dượng hoặc mẹ kế những nghĩa vụ như nuôi con, cấp dưỡng cho con,thăm nom con mặc dù khi chưa ly hôn đứa con sống cùng trong gia đình vàviệc trông nom, chăm sóc, giáo dục con là nghĩa vụ luật định của họ
Một đối tượng rất cần chú ý mà pháp luật cần quan tâm bảo vệ, đó là
những người con nuôi Pháp luật Việt Nam quy định : ‘‘Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con
đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú’’ (Khoản 5 Điều 2 Luật
HN&GĐ năm 2000) Tuy nhiên, dù thế nào thì những người con này cũngkhông có quan hệ huyết thống với cả cha và mẹ nuôi nên khi tình cảm giữa cha
mẹ nuôi đã hết, mái ấm gia đình không còn thì quyền lợi của các em cũng rấtmong manh Trên cơ sở không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, phápluật đã mặc nhiên thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của các em Vì vậy, sau khi lyhôn cha mẹ nuôi vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình cho đến khi các em đãthành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống bản thân
Trang 202 Vấn đề giao con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình cho ai nuôi dưỡng, giáo dục trực tiếp
Giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục là một vấn đề hết sức quan trọng,
có ý nghĩa quyết định đối với cuộc sống, với tương lai của các con Bởi vì,người trực tiếp nuôi con là người cùng sống với con trong một mái nhà, là người
có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển về nhân cách, trí tuệ, thể chất của ngườicon Một quyết định sai lầm khi giao con cho người kia nuôi có thể dẫn đếnnhững hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục được Vì vậy, dù việc giaocon cho ai nuôi dưỡng, giáo dục trực tiếp là sự thoả thuận của cha mẹ hay quyếtđịnh của Toà án thì đều phải được xem xét một cách toàn diện và cẩn thận, dựatrên quyền lợi của con
2.1 Nguyên tắc giao con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để
tự nuôi mình cho bên nào nuôi dưỡng, giáo dục là vì quyền lợi mọi mặt của con
Khi gia đình tan vỡ, đó là lỗi của người làm cha, làm mẹ Ly hôn là sựgiải thoát cho vợ chồng khỏi cuộc sống căng thẳng, không tình yêu và cũng làmột sự giải thoát về mặt pháp lý, tạo điều kiện cho họ xây dựng cuộc sống mới.Nhưng mặt trái của vấn đề là hậu quả nặng nề của nó lại rơi vào những đứa con– những đứa trẻ không hề có lỗi trong sự tan vỡ của gia đình Bởi vậy, cha mẹcần bù đắp cho con, tạo điều kiện cho con có cuộc sống tốt đẹp nhất có thể Vìvậy, khi xác định người trực tiếp nuôi con là phải dựa vào quyền lợi của nhữngđứa trẻ vô tội này mà không dựa trên những toan tính hay quyền lợi của cha mẹ
chúng Khoản 2 Điều 92 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định : ‘‘Vợ, chồng thoả thuận người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con ; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con’’ Đây là một quy định thể
hiện rõ tính ưu việt của pháp luật XHCN So sánh với những văn bản pháp luật
Trang 21dưới thời Mỹ Ngụy ở miền Nam Việt Nam chúng ta sẽ thấy rõ điều đó Vớiquan điểm giải quyết ly hôn trên cơ sở lỗi của hai vợ chồng, những quy định củaluật về vấn đề giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cũng đi theo hướng này.Người không có lỗi trong việc làm tan vỡ gia đình sẽ đương nhiên có quyềnnuôi con và quyền thăm nom, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con thuộc về người kia(Điều 89, Điều 90 Sắc luật số15/64) Như vậy, việc giao con cho ai trực tiếpnuôi dạy không phải xuất phát từ lợi ích của đứa trẻ mà dựa vào ai là người cólỗi dẫn đến ly hôn Điều này là hết sức sai lầm vì chúng ta không thể đồng nhấtgiữa việc không có lỗi trong việc dẫn đến ly hôn với khả năng chăm sóc, giáodục con tốt Quy định này không hẳn là vì quyền lợi của con mà như một sựtrừng phạt đối với người có lỗi trong quan hệ vợ chồng Trở lại với LuậtHN&GĐ năm 2000, chúng ta thấy bản chất của vấn đề đã được giải quyết : giaocon cho ai nuôi dưỡng được xem xét trên cơ sở ai sẽ đảm bảo được cho trẻ nhiềuquyền lợi hơn Việc xác định quyền lợi về mọi mặt của con phải căn cứ vàohoàn cảnh của người trực tiếp nuôi con Quyền lợi về mọi mặt của con khôngchỉ là đáp ứng những nhu cầu tối thiểu mà còn bao gồm những điều kiện cầnthiết cho sự phát triển về thể chất và trí tuệ của con Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụngmột số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ rõ quyền lợi mọi mặt của con
là ‘‘các điều kiện cho sự phát triển thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần ’’.
Cũng có trường hợp cả cha và mẹ không ai có đủ tư cách hoặc điều kiện
để được trực tiếp nuôi con thì có thể giao con cho một người khác nuôi dưỡng.Người đó có thể là ông bà, cô, gì, chú, bác của đứa trẻ Người đó cũng có thể
là anh chị đã thành niên, có điều kiện bảo đảm cuộc sống ổn định của đứa trẻ.Miễn sao quyền lợi của những đứa con được bảo vệ toàn diện nhất Tất nhiên lànghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái cũng không vì thế mà mất đi
Xuất phát từ lợi ích của con, pháp luật quy định : ‘‘Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con’’ (Điều 92 Luật HN&GĐ năm 2000) Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP quy định cụ thể : ‘‘ nếu con từ đủ chín
Trang 22tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai’’ Như vậy, pháp luật đã giành cho
những đứa con từ đủ chín tuổi quyền lựa chọn sẽ ở với cha hay với mẹ Ở độtuổi này, đứa con đã có thể nhận thức được cha hay mẹ là người quan tâm, chămsóc mình nhiều hơn, ở với ai thì tốt hơn cho chúng Quy định này là rất phù hợp
vì con là nhân vật chính trong mối quan hệ này và chúng là người có thể cảmnhận được tốt nhất tình cảm của cha mẹ qua sự chăm sóc, quan tâm hàng ngàycủa họ Chúng biết mình ở với ai thì hợp về tính cách và lối sống Trong một vụ
án ly hôn, việc xem xét ý kiến, nguyện vọng của con và coi đó là một trongnhững cơ sở để Toà án quyết định giao con cho ai nuôi là cần thiết xét cả góc độ
lý luận và thực tiễn Bởi vì, khi cha mẹ ly hôn, con mất đi một điểm tựa quantrọng nhất, đó chính là mái ấm gia đình Việc hỏi ý kiến của con giúp nói lêntâm tư, nguyện vọng của mình Điều này là hoàn toàn chính đáng và nó cũngphù hợp với tinh thần của Điều 12 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em mà
Việt Nam là quốc gia thành viên : ‘‘Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả mọi vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của trẻ em được coi trọng một cách thích ứng với tuổi và độ trưởng thành của các em’’ Dù không có quyền quyết định, nhưng việc được
bày tỏ ý chí của mình đã thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với ý kiến, vớinhận thức của các em, sự cố gắng đem đến cho các em một cuộc sống tốt đẹphơn Tuy nhiên, dù sao thì chúng cũng chỉ là những đứa trẻ Ngoại trừ nhữngtrường hợp rõ ràng mọi người ai cũng thấy được đứa trẻ ở với ai là tốt nhất chochúng thì phần lớn sự lựa chọn đó là rất khó khăn Khi được hỏi trẻ muốn ở với
ai, đa số các em tỏ ra dè dặt, thậm chí sợ hãi, không nói gì mà oà lên khóc hoặctrả lời : ‘‘ở với ai cũng được’’, ‘‘ở với cả hai người’’, ‘‘không ở với ai hết’’ Các sự lựa chọn của chúng hầu như đều thiên về cảm tính Vì vậy, sự lựa chọn
của con cũng chỉ là một yếu tố để Toà án ‘‘xem xét’’ So với Luật HN&GĐ năm
1959 và 1986 thì đây là một quy định hoàn toàn mới, rất tiến bộ và hợp lý Cùngvới những bổ sung khác về quyền được bày tỏ ý chí của những người từ đủ chín
Trang 23tuổi trong lĩnh vực HN&GĐ và dân sự, quy định trên đã tạo nên sự thống nhất
và hợp lý của pháp luật
Khoản 2 Điều 92 Luật HN&GĐ năm 2000 còn quy định một trường hợp
đặc biệt : ‘‘Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác’’ Quy định này là sự cụ thể hoá quy định có vẻ trừu tượng của Luật HN&GĐ năm 1986 : ‘‘ con còn bú giao cho người mẹ trực tiếp nuôi giữ ’’(Điều 45) Và có thể nói, độ tuổi mà Luật
HN&GĐ năm 2000 quy định là cao hơn Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP đã cụthể con dưới ba tuổi là con dưới ba mươi sáu tháng tuổi Dưới ba tuổi, hầu nhưmọi hoạt động của trẻ đều cần sự trông chừng của người lớn Mọi vật xungquanh chúng đều mới lạ và khiến chúng thích thú cũng như sợ hãi Nếu không
có người dành thời gian trông nom thì nguy hiểm đối với trẻ có thể nói là
thường trực Hơn nữa ở độ tuổi ‘‘còn bú’’ này, đứa trẻ nào cũng cần nguồn dinh
dưỡng quý giá từ người mẹ Vì vậy, người gần gũi và chăm bẵm cho trẻ thường
là mẹ Người mẹ cũng là người khéo léo kiên nhẫn và chu đáo hơn trong việcnuôi con, đặc biệt là khi con còn nhỏ Vì vậy, nếu không có lý do gì khác thìviệc để cho người mẹ quyền trực tiếp nuôi con dưới 3 tuổi là vì lợi ích mọi mặtcủa đứa trẻ Tuy nhiên, không phải lúc nào người mẹ cũng chăm sóc con tốt hơnngười cha hoặc những người trong gia đình người cha Vì vậy, việc giao con cho
mẹ nuôi chỉ trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác Thông tư liên
tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn : ‘‘Trong trường hợp các bên có thoả thuận thì có thể giao con ‘‘dưới ba tuổi’’ cho người bố hoặc người khác nuôi giữ ’’ Như vậy, pháp luật tôn trọng quyền quyết định của
cha mẹ Các bên có quyền thoả thuận ai sẽ là người trực tiếp nuôi con vì họ lànhững người nắm rõ nhất ai nuôi con thì tốt hơn Quy định ưu tiên sự thoả thuậncủa cha mẹ trong trường hợp này cũng giống như trong những trường hợp contrên ba tuổi Điểm khác nhau của hai trường hợp là nếu như trường hợp con trên
ba tuổi mà cha mẹ không có sự thoả thuận về người trực tiếp nuôi con thì Toà án
sẽ xem xét về điều kiện của cả người cha lẫn người mẹ, và ai có điều kiện tốthơn có thể đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con thì Tòa án sẽ giao con cho
Trang 24người đó Còn trong trường hợp con dưới ba tuổi thì nếu cha mẹ mà không cóthoả thuận thì Toà án không cần xem xét điều kiện của hai bên bởi vì luật đã quyđịnh một nguyên tắc : giao cho người mẹ Trường hợp này nhà làm luật đã dựavào những điều kiện thực tế, khi con dưới ba tuổi thì ở với mẹ là tốt hơn cho con
vì những lý do như chúng ta đã phân tích ở trên Luật pháp đã mặc nhiên thừanhận người mẹ là người có thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con tốt hơn tronggiai đoạn này Tuy nhiên, cũng không phải là không có những ngoại lệ Vì vậy
nhà làm luật đã nhấn mạnh cụm từ : ‘‘Về nguyên tắc’’ để khi Toà án xem xét mà
có trường hợp ngoại lệ thì Toà án cũng phải xem xét cẩn thận vấn đề bằng thực
tế Nếu thực sự người mẹ không thể thực hiện được trách nhiệm trực tiếp nuôicon tốt bằng người cha mà hai bên cũng không có thoả thuận trước thì Toà áncũng có thể không giao con cho người mẹ nuôi Như vậy, các nhà làm luật đã cốgắng lường trước mọi trường hợp và quy định một cách linh hoạt để khi xét xử,Toà án có thể áp dụng pháp luật một cách đúng đắn và sát với thực tế nhất Qua
đó quy định về bảo vệ quyền lợi của trẻ em không bị rơi vào hình thức
2.2 Trường hợp có sự thoả thuận của cha mẹ
Quan hệ HN&GĐ cũng là một loại quan hệ dân sự Vì vậy, rất nhiềutrường hợp pháp luật cho phép các bên có quyền thoả thuận và tôn trọng sự thoảthuận đó Việc giao con cho ai nuôi khi cha mẹ ly hôn cũng thuộc những trườnghợp trên Cha mẹ là người sinh ra và yêu quý con cái của mình nhất Nhưngcũng chính họ đã đem lại nỗi buồn cho con khi họ ly hôn, đánh mất niềm hạnhphúc tưởng chừng như giản dị của người con - đó là một mái ấm gia đình có cảcha và mẹ Khi đi đến quyết định ly hôn họ cũng đã cân nhắc rất nhiều, dùthương con nhưng không còn cách nào khác Trường hợp thuận tình ly hôn, khiyêu cầu Toà án giải quyết, mọi vấn đề về tài sản và con cái đã được họ thoảthuận một cách hợp lý Vì vậy, khi giải quyết những việc thuận tình ly hôn, Toà
án tôn trọng sự thoả thuận của hai bên về vấn đề con cái và tài sản Cũng cónhững trường hợp không phải thuận tình ly hôn, nó trở thành vụ án ly hôn bởi vìnhững thoả thuận về tài sản không đạt được Tuy nhiên nếu như vấn đề nuôi con
đã được các bên thoả thuận thì Toà án vẫn phải tôn trọng sự thoả thuận đó và chỉ
Trang 25giải quyết những vấn đề về tài sản Tuy nhiên, trên thực tế, không phải sự thoảthuận nào cũng là hợp lý và vì quyền lợi của con Có những trường hợp ngườikhông đủ điều kiện đảm bảo cuộc sống cho con lại nhận nuôi con, còn người cóđầy đủ khả năng lại trốn tránh trách nhiệm nuôi con Tất nhiên, nếu như hai bên
đã đi đến được thoả thuận về mức cấp dưỡng phù hợp thì đã giải quyết đượcphần nào vấn đề Nhưng cũng có những sự thoả thuận về mức cấp dưỡng làkhông hợp lý, sống với người trực tiếp nuôi con, đứa con sẽ không có cơ hội đểhọc hành và phát triển trí tuệ Nhưng do một bên là người vô trách nhiệm vớicon, một bên do căm ghét người kia nên cũng không cần đòi hỏi gì, chỉ cần đượcnuôi con là đủ Như vậy, thoả thuận đã đạt được nhưng thực tế thì nếu đứa consống với người nhận nuôi con sẽ không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt chochúng Tình cảm riêng tư của cha mẹ đã làm mất đi những quyền lợi chính đángcủa người con Toà án nên can thiệp vào sự thoả thuận này vì dù sao đây cũng làmột sự thoả thuận không hợp lý
2.3 Trường hợp không có sự thoả thuận của cha mẹ
Trên thực tế, khi ly hôn, hầu như cha mẹ nào cũng thương con và muốntrực tiếp nuôi con để bù đắp những thiệt thòi, mất mát, những nỗi bất hạnh dochính họ gây ra cho con Đó là xu hướng tích cực thể hiện tinh thần trách nhiệmcủa các bậc cha mẹ Nhưng theo quy định của pháp luật, đứa con chỉ có thể sốngvới một người Cũng vì thế mà nhiều vụ ly hôn cha mẹ không thoả thuận được
về người trực tiếp nuôi con Theo quy định của pháp luật, khi các bên khôngthoả thuận được thì Toà án sẽ là người đưa ra quyết định, căn cứ vào quyền lợimọi mặt của con Khi yêu cầu Toà án giải quyết, bên nào cũng cố gắng đưa ranhững lý do, nêu ra các điều kiện tốt nhất để giành được quyền nuôi con Vì vậy,Toà án phải hết sức cẩn thận để xem xét tất cả các điều kiện Khi xem xét giaocon cho ai trực tiếp nuôi dưỡng thì phải căn cứ vào rất nhiều yếu tố như đạo đức,lối sống, điều kiện kinh tế, công tác, thời gian, môi trường sống của cả cha và
mẹ, ai là người đã trực tiếp chăm sóc con trước khi ly hôn Người trực tiếp nuôicon có ảnh hưởng rất lớn đến con vì vậy, những vấn đề trên cần được Toà ánxem xét một cách cẩn thận và chính xác
Trang 26Trên thực tế, yếu tố đạo đức, lối sống của người trực tiếp nuôi con đượcđặt lên hàng đầu Bởi vì nếu người trực tiếp nuôi con có lối sống không tốt,không quan tâm đến cuộc sống và nhu cầu hàng ngày của con thì dù họ có điềukiện kinh tế tốt đến đâu, quyền lợi của người con vẫn không được đảm bảo.Không ai có thể yên tâm giao những đứa trẻ cho người cha hoặc người mẹ suốtngày rượu chè, cờ bạc, đánh đập, chửi rủa con cái, coi con cái là gánh nặng Hơn nữa, khi phải sống với người cha hoặc mẹ có đạo đức không tốt thì khôngnhững ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con mà vấn đề vật chất cũngkhó mà đảm bảo Khi quyết định, Toà án nên xem xét trước khi ly hôn thì ai làngười thường xuyên ở bên cạnh con và chăm sóc con, gắn bó với con nhiều hơn
để tránh thiệt thòi cho con
Khả năng kinh tế của người trực tiếp nuôi con cũng là một vấn đề hết sứcquan trọng Bởi vì người trực tiếp nuôi con là người có trách nhiệm đảm bảocuộc sống mọi mặt cho con, họ nuôi con theo khả năng của mình, nguồn thunhập mà họ có được thường là nguồn chủ yếu và ổn định để nuôi con Tuy nhiênkhả năng kinh tế không phải là yếu tố quyết định, bởi vì chúng ta không thể chỉxem xét một cách nhất thời mà không có sự đề phòng cho tương lai Ví dụ mộtngười cha làm nghề buôn bán và một người mẹ là giáo viên Mặc dù thu nhậpcủa người cha cao hơn người mẹ nhưng xét về tính ổn định thì nguồn thu nhậpcủa người mẹ là ổn định hơn Vì vậy cần xem xét một cách cẩn thận khi tìm hiểutừng vấn đề để đảm bảo cho đứa trẻ một cuộc sống tốt nhất có thể
Ngoài ra, môi trường sống mới cũng là một yếu tố rất đáng xem xét Bởi
vì, môi trường sống là yếu tố có tác động trực tiếp đến nhân cách cũng như tínhcách của đứa trẻ Sau khi ly hôn, vợ chồng đều có quyền có cuộc sống mới củamình Và vấn đề mẹ kế, cha dượng, con chung, con riêng luôn là một vấn đềnhạy cảm Khi phải sống trong môi trường như thế, những đứa trẻ thường phảichịu những thiệt thòi và cảm thấy mặc cảm với bạn bè đồng lứa Khi giải quyết,Toà án cần tìm hiểu kỹ những lý do dẫn đến ly hôn, tìm hiểu lối sống của cảngười cha và mẹ trước khi ly hôn để quyết định giao con cho ai trực tiếp nuôi đểđảm bảo một cuộc sống bình thường và ổn định cho trẻ
Trang 27Như vậy dựa vào quyền lợi mọi mặt của con là nguyên tắc cơ bản để Toà
án xác định người nào sẽ được quyền trực tiếp nuôi con Đây là quy định thểhiện rõ nét của nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn trongLuật HN&GĐ năm 2000
3 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con sau khi ly hôn
Sau khi ly hôn, cuộc sống chung của vợ chồng chấm dứt, mối quan hệpháp lý và tình cảm của vợ chồng cũng mất đi Tuy nhiên, những nghĩa vụ vàquyền của cha mẹ đối với con vẫn không hề thay đổi, chỉ có điều do hoàn cảnhthay đổi nên việc thực hiện những nghĩa vụ và quyền ấy có những điểm khác sovới trước đây Bên cạnh đó vì nuôi dưỡng con là quyền và nghĩa vụ của cả cha
và mẹ nhưng sau khi ly hôn con chỉ được sống với một người nên người khôngtrực tiếp nuôi con có một số quyền và nghĩa vụ rất đặc thù Các quy định củapháp luật trong vấn đề này đã cố gắng bù đắp cho người con những thiệt thòi vềtinh thần và vật chất khi phải sống trong cảnh cha mẹ ly hôn, là cơ sở pháp lý đểquyền lợi của con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng tàn tật, mất nănglực hành vi dân sự được đảm bảo
3.1 Nghĩa vụ và quyền của người (cha, mẹ) trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con
Sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con là người cùngsống với con trong một ngôi nhà, vì vậy họ không bị hạn chế quyền của cha mẹđối với con Họ là người có thể theo dõi con hàng ngày, thực hiện các quyền vànghĩa vụ của mình một cách thường xuyên, liên tục Hơn nữa, họ là người đãđược xác định là người có thể nuôi dưỡng, giáo dục con tốt hơn người kia, nênnhững nghĩa vụ và quyền mà hai vợ chồng đã từng thực hiện trước đây vẫn đượcgiao cho họ Đó là những nghĩa vụ và quyền như trực tiếp chăm sóc, dạy dỗ con,đại diện cho con trước pháp luật, quản lý tài sản của con …
3.1.1 Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con
Điều 12 Luật BVCS&GDTE quy định : ‘‘Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức’’ Khoản 1 Điều 36 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định : ‘‘ Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền
Trang 28cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên
bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không
có tài sản để tự nuôi mình’’ Khi vợ chồng ly hôn, họ không thể cùng nhau thực
hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng con như lo cho con từng bữa ăn, giấc ngủ được
mà quyền và nghĩa vụ này được thực hiện bởi người trực tiếp nuôi con Ngườikhông trực tiếp nuôi con không thể thực hiện việc này mà họ chỉ có thể thựchiện gián tiếp qua việc thăm nom và cấp dưỡng nuôi con Như vậy, dù khôngcùng chung sống nhưng nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục con vẫn được đặt ra cho cảhai người Tuy nhiên, việc chăm lo cho cuộc sống hằng ngày của con thuộcnghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con
3.1.2 Nghĩa vụ và quyền giáo dục con
Khoản 1 Điều 37 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định : ‘‘Cha mẹ có nghĩa
vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập ’’ Điều này cũng phù hợp với quy định của Luật BVCS&GDTE : ‘‘ Trẻ em có quyền được học tập’’ (Khoản 1 Điều 16) và ‘‘Gia đình, nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập ; học hết chương trình phổ cập ; tạo điều kiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn’’ (Khoản 1 Điều 28 Luật
BVCS&GDTE) Giáo dục trẻ em không chỉ là nghĩa vụ của cha mẹ chúng mà nó
là sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội : ‘‘Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước,
xã hội và công dân’’ (Điều 5 Luật BVCS&GDTE) Bên cạnh đó, ‘‘cha mẹ hướng dẫn chọn nghề, tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của con’’(Khoản 2 Điều 37 Luật HN&GĐ năm 2000) Tuy nhiên, khi cha
mẹ ly hôn có rất nhiều nguyên nhân có thể ảnh hưởng đến việc học tập của cáccon Trước hết, đó là sự thay đổi về tâm lý, tính cách, tinh thần học tập và rènluyện Không ít các em rơi vào tình trạng mặc cảm, xấu hổ với bạn bè, thầy cônên không muốn đến lớp và thường xuyên trốn học Việc thay đổi trường lớpcũng có thể xẩy ra và để làm quen được với môi trường mới cũng có thể làmviệc học tập bị gián đoạn Trẻ rất khó hoà nhập vì sợ các bạn biết về hoàn cảnhgia đình mình Việc học tập bị gián đoạn, sa sút sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát
Trang 29triển của các em sau này.Vì vậy, khi giao con cho ai nuôi dưỡng phải cân nhắc
kỹ tới việc học tập của trẻ Và vai trò của người trực tiếp nuôi con trong việcđộng viên, quản lý con trong học tập, rèn luyện là rất quan trọng
3.1.3 Quyền đại diện cho con
Điều 39 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định : ‘‘ Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành
vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật’’ Đại diện là việc một người nhân danh người khác xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện Theo quyđịnh của pháp luật dân sự thì cha mẹ là người đại diện đương nhiên cho conchưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, trừ một
số trường hợp Khi cha mẹ ly hôn mà có con thuộc đối tượng cần phải chăm sócnuôi dưỡng thì người trực tiếp nuôi con cũng đồng thời là người đại diện theopháp luật của con nếu họ đủ điều kiện Để đảm bảo quyền lợi của con, pháp luậtquy định những trường hợp mà cha mẹ không được đại diện cho con
Trường hợp thứ nhất được quy định tại Điều 41 Luật HN&GĐ năm
2000 : ‘‘Khi cha mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con ; phá tán tài sản của con ; có lối sống đồi trụy, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, đạo đức
xã hội thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42 của luật này quyết định không cho cha mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm’’ Tất nhiên, nếu những hành vi này xẩy ra trước khi ly hôn thì người có
những hành vi đó khó mà được quyền trực tiếp nuôi con, vì vậy họ cũng khôngthể là người đại diện theo pháp luật cho con Nhưng xét trường hợp sau khi lyhôn người trực tiếp nuôi con có những hành vi trên thì theo như điều luật quyđịnh, người đó cũng có thể sẽ mất đi quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con,quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con Và lúc này vấn
Trang 30đề thay đổi người trực tiếp nuôi con có thể được đặt ra nếu như một hoặc cả haibên cha mẹ có yêu cầu.
Trường hợp thứ hai, khi cha mẹ bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân
sự thì nghĩa vụ và quyền đại diện cho con trước pháp luật cũng không được đặt
ra vì lúc này chính bản thân cha mẹ cũng cần phải đặt dưới sự giám hộ củangười khác Khi người trực tiếp nuôi con rơi vào tình trạng như trên nếu ngườikhông trực tiếp nuôi con có yêu cầu và có đủ điều kiện để nuôi con thì có thểthay đổi người trực tiếp nuôi con Khi đó, người trước đây không trực tiếp nuôicon nay trở thành người trực tiếp nuôi con đồng thời đại diện cho con trướcpháp luật Trường hợp cha mẹ ly hôn mà người trực tiếp nuôi con lại không thểđại diện cho con nhưng cũng không có sự thay đổi người nuôi con thì tuỳ trườnghợp người đại diện cho con sẽ là người không trực tiếp nuôi con hoặc nhữngngười trong gia đình người trực tiếp nuôi con Khoản 1 Điều 141 BLDS năm
2005 quy định : ‘‘cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên’’ Vì vậy, nếu không có lý do gì cản trở thì người không trực tiếp nuôi con
sẽ là người đại diện theo pháp luật cho con Còn nếu người không trực tiếp nuôicon thực sự không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu thì ngườiđại diện cho con sẽ là người giám hộ cho con theo quy định tại Điều 61 vàKhoản 2 Điều 141 BLDS năm 2005 Tuy nhiên, nếu trường hợp này xẩy ra thìphần lớn là những người cùng sống trong gia đình với người con sẽ đứng ra đạidiện trước pháp luật cho con vì họ vẫn là người hàng ngày chăm sóc, nuôidưỡng người con đó
3.1.4 Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra trong những trường hợp pháp luật quy định
Theo Điều 40 Luật HN&GĐ năm 2000 thì : ‘‘ Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân
sự gây ra theo quy định tại điều 611 Bộ luật dân sự’’
Theo quy định tại Điều 611 BLDS năm 1995, chúng ta có thể hiểu vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ như sau:
Trang 31Trong trường hợp con chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì cha
mẹ sẽ chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, nếu tài sản riêng của cha
mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên có tài sản riêng thì lấy tàisản đó để bồi thường phần còn thiếu Nếu chúng gây thiệt hại trong thời giantrường học, bệnh viện quản lý, thì những cơ quan, tổ chức này phải liên đới vớicha mẹ để bồi thường thiệt hại Nếu các tổ chức này không có lỗi trong việc đóthì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ thuộc về cha mẹ
Trong trường hợp con chưa thành niên đã đủ 15 đến dưới 18 tuổi gây thiệthại thì phải tự bồi thường ; nếu tài sản không đủ để bồi thường thì cha mẹ sẽphải bồi thường phần còn thếu bằng tài sản của mình
Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây thiệthại, nếu cha mẹ là giám hộ cho con thì được dùng tài sản của con để bồi thườngthệt hại ; nếu con không có tài sản hoặc không đủ tài sản thì cha mẹ phải bồithường bằng tài sản của mình ; tuy nhiên, nếu cha mẹ chứng minh được mìnhkhông có lỗi trong việc giám hộ thì sẽ không phải lấy tài sản của mình để bồithường
So với BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 đã có một số thay đổi Cụ thể,Điều 621 BLDS năm 2005 quy định :
‘‘1 Người dưới mười lăm tuổi trong thời gian học tập tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xẩy ra.
2 Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại xẩy ra
3 Trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này, nếu trường học, bệnh viện, tổ chức khác chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường’’
Như vậy, khi con dưới 15 tuổi và con mất năng lực hành vi dân sự gâythiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện… quản lý thì cha mẹ sẽ khôngphải liên đới bồi thường nếu các tổ chức đó có lỗi trong việc quản lý Nếu các tổ
Trang 32chức đó có lỗi thì họ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại Cha mẹ chỉ phải bồithường khi các cơ quan, tổ chức đó chứng minh được mình không có lỗi trongviệc quản lý Đây là sửa đổi của BLDS năm 2005 so với BLDS năm 1995 liênquan đến phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ do con gây ra Sửađổi này nhằm nâng cao trách nhiệm quản lý của các cơ quan như trưòng học,bệnh viện …
Khi ly hôn dù cha mẹ không thể cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng connhưng về bản chất nghĩa vụ và quyền của cha mẹ với con vẫn không hề thay đổi
Vì vậy, khi con gây ra thiệt hại thì cả cha và mẹ đều có trách nhiệm bồi thườngtheo quy định Tuy nhiên trên thực tế nếu như thiệt hại mà con gây ra là nhỏ màchỉ một mình người trực tiếp nuôi con có thể tự bồi thường được thì người đóthường đứng ra thực hiện mà không cần tới sự hỗ trợ của người kia Mặt khác dongười trực tiếp nuôi con thường là người đại diện theo pháp luật của con, ngườichỉ bảo, theo dõi con nên khi có thiệt hại do con gây ra thì trách nhiệm bồithường thiệt hại thường do người đó đảm nhận Nhưng không ít trường hợp thiệthại do con gây ra lớn hơn khả năng của người trực tiếp nuôi con thì vấn đề bồithường thiệt hại vẫn do hai người thực hiện và người không trực tiếp nuôi conkhông thể viện lý do không quản lý con mà trốn tránh nghĩa vụ này
3.1.5 Quyền quản lý tài sản riêng của con
Điều 44 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định : ‘‘con có quyền có tài sản riêng’’ Tài sản riêng của con là để phục vụ cuộc sống hiện tại và tương lai của
con, vì vậy, người trực tiếp nuôi con thường là người có trách nhiệm quản lý tàisản đó Tuy nhiên, nếu con đã đủ 15 tuổi trở lên thì có quyền tự mình hoặc nhờngười khác quản lý tài sản riêng của mình Cha mẹ không có nghĩa vụ phải quản
lý tài sản riêng cho con trong trường hợp này Nếu người con có yêu cầu cha mẹquản lý thì khi đó nó trở thành một quyền mà không phải là một nghĩa vụ củacha mẹ Vì vậy, trong trường hợp con đủ 15 tuổi trở lên có tài sản riêng màkhông yêu cầu cha mẹ, cụ thể là người trực tiếp nuôi con quản lý thì người đócũng không có quyền ép buộc con để mình quản lý số tài sản đó Nếu người con
đó dưới 15 tuổi hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì việc quản lý tài sản của
Trang 33con sẽ là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ - người trực tiếp nuôi con Ở độ tuổidưới 15 hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì con không thể quyết định đượcvấn đề quản lý tài sản riêng của mình một cách chính xác và đúng đắn Vì vậy,
là người sinh thành, nuôi dưỡng con, cha mẹ là người thích hợp nhất để làmnhiệm vụ này Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt thì quyền này khôngthuộc về cha mẹ Đó là trường hợp con được tặng cho hoặc thừa kế theo di chúccủa người khác mà người đó lại chỉ định một người khác cha mẹ quản lý số tàisản đó Cha mẹ phải tôn trọng ý nguyện của người để lại tài sản cho con mình
Theo BLDS thì trong quá trình quản lý tài sản của con, nếu con dưới 15tuổi thì cha mẹ có quyền định đoạt tài sản của con nhưng phải vì lợi ích của con
và nếu con đã đủ 9 tuổi trở lên thì cha mẹ phải xem xét nguyện vọng của con.Trường hợp con đã đủ 15 tuổi trở lên nếu tài sản do cha mẹ quản lý thì con vẫn
có quyền định đoạt tài sản ấy, chỉ có những tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tàisản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ Quy định này không nhằmhạn chế quyền của con mà thực ra là vì quyền lợi của con Vì ở lứa tuổi này,người con chưa thực sự chín chắn và những quyết định quan trọng chúng khôngthể tự mình quyết định một cách chính xác mà rất cần sự hướng dẫn, chỉ bảo củacha mẹ – những người từng trải và hiểu con mình hơn ai hết
Như vậy, sau khi ly hôn, nghĩa vụ và quyền của cha mẹ vẫn không hề thayđổi, đặc biệt là đối với người trực tiếp nuôi con Người trực tiếp nuôi con thựchiện những quyền và nghĩa vụ của mình giống như họ đã thực hiện nghĩa vụ nàytrước khi ly hôn Trên thực tế, vai trò của người trực tiếp nuôi con là rất quantrọng Sự chăm sóc, giáo dục của họ đối với con có ảnh hưởng rất lớn đến sựphát triển thể chất, tinh thần và trí tuệ của con Cùng một lúc họ phải thực hiệnvai trò của cha mẹ trong gia đình vì vậy sự hỗ trợ của người không trực tiếp nuôicon vừa là trách nhiệm, vừa là một điều không thể thiếu để bảo đảm ổn định chocon
Trang 343.2 Nghĩa vụ và quyền của người (cha, mẹ) không trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con
Sau khi ly hôn, theo quy định của pháp luật, người con không thể đồngthời sống cùng với cả cha và mẹ, bởi vì khi đó, nghĩa vụ chung sống và cùngnhau xây dựng gia đình của vợ chồng không còn tồn tại Vì vậy, dù không muốnnhưng một trong hai người phải chấp nhận phải sống xa những đứa con yêuthương của mình Vì vậy, họ không được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ngườicon chung đó Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi cho con và cũng để ngườikhông trực tiếp nuôi con được thực hiện hiện trách nhiệm của mình và bù đắpphần nào nỗi day dứt khi phải sống xa con, pháp luật đã quy định cho họ nhữngquyền và nghĩa vụ rất đặc thù Đó là những quyền và nghĩa vụ sau :
3.2.1 Quyền thăm nom, chăm sóc con
Điều 94 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định : ‘‘Sau khi ly hôn người không
có quyền trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con ; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này’’ Thăm nom con là một quyền cơ bản đối với
người không trực tiếp nuôi con Pháp luật quy định quyền này là rất hợp lý và có
ý nghĩa với cả người con lẫn người không được trực tiếp nuôi con Đối vớingười con, khi không cùng được sống với cha hay với mẹ là một thiệt thòikhông gì bù đắp nổi Bởi vì chúng chỉ mới là những đứa trẻ rất ngây thơ và cóquyền được sống trong một gia đình hạnh phúc có cả cha và mẹ Nhưng dùkhông muốn, đứa trẻ chỉ được sống với một người Ở lứa tuổi đang cần sự dỗdành, chăm chút của mẹ, sự dạy dỗ, dìu dắt của cha lại phải sống với một ngườichắc chắn trong tâm hồn trẻ sẽ có sự thiếu hụt và lệch lạc Và không ít trẻ đã lâm
và tình trạng rụt rè, thiếu tự tin, không hoà nhập được với các bạn bè cùng lứa
Vì vậy, pháp luật quy định cho người không được trực tiếp nuôi con có quyềnthăm nom con đã bù đắp được phần nào sự thiếu hụt, trống trải đó Khi thămnom con, mối quan hệ giữa cha mẹ và con sẽ được củng cố và xoá đi những suynghĩ, những mặc cảm nặng nề về cuộc ly hôn giữa bố và mẹ trong tâm hồn nonnớt của trẻ Quy định này của pháp luật đã tạo điều kiện cho con cái được hưởngtình yêu thương, chăm sóc của cả cha và mẹ, tạo cơ hội cho con cái được thường
Trang 35xuyên gặp gỡ, tiếp xúc với người cha hoặc người mẹ không sống bên cạnhmình Đối với người không trực tiếp nuôi con thì quyền thăm nom con đã phầnnào làm vơi đi nỗi buồn và nhớ con, làm giảm bớt đi cảm giác day dứt khi vìmình mà con cái phải sống trong cảnh thiếu thốn tình cảm Khi được thăm nomcon, trong những thời gian gặp nhau ít ỏi đó, họ có thể biết được tình hình cuộcsống và học tập của con mình, có thể tâm sự và giúp con giải quyết những vấn
đề nhạy cảm mà người trực tiếp nuôi con mình không làm được… Đây cũng làmột cơ sở pháp lý để họ thực hiện quyền của mình Tuy nhiên, dù thế nào thìquyền thăm nom chỉ được duy trì và tôn trọng nếu như xuất phát từ lợi ích củacon cái
Quyền thăm nom con là một quyền nhân thân của người không trực tiếpnuôi con vì vậy không ai được cản trở họ Người trực tiếp nuôi con và nhữngngười khác có nghĩa vụ tôn trọng quyền này Để đảm bảo cho quyền thăm nomcủa người không trực tiếp nuôi con được thực hiện một cách thuận lợi, và cũng
là để bảo vệ quyền lợi của con, Điều 15 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP quy định :
‘‘Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng đối với hành
vi thường xuyên cản trở người không trực tiếp nuôi con thăm nom con sau khi ly hôn, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom theo quyết định của Toà án’’ Tuy nhiên pháp luật cũng quy định rõ : ‘‘Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó’’ (Điều
94 Luật HN&GĐ năm 2000) Như vậy, trong vấn đề thăm nom con, pháp luật đãquy định rất chặt chẽ để vừa đảm bảo quyền lợi chính đáng của người khôngtrực tiếp nuôi con, đồng thời đảm bảo được ý nghĩa chính của quyền này Đó làquyền thăm nom con chỉ có thể được đảm bảo và tôn trọng nếu như nó xuất phát
từ lợi ích của con cái Còn nếu quyền này bị người không trực tiếp nuôi con lợidụng, làm ảnh hưởng xấu đến con thì pháp luật sẽ hạn chế quyền này của họ Đó
là một biện pháp rất cần thiết để bảo vệ quyền của con khi cha mẹ ly hôn Trongnhiều trường hợp người không trực tiếp nuôi con lợi dụng quyền thăm nom để
Trang 36phá hoại, gây ảnh hưởng xấu đến người trực tiếp nuôi con, dù không ảnh hưởngnhiều đến việc chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi con nhưng suycho đến cùng họ không phải là những người cha, người mẹ tốt Và việc để họtiếp tục gặp con cái rất dễ tiêm nhiễm vào người con những suy nghĩ lệch lạc,gây cản trở cho sự nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi con Vìvậy, trường hợp này, pháp luật cũng nên hạn chế quyền thăm nom con củangười không trực tiếp nuôi con mới đảm bảo được cuộc sống ổn định cho ngườicon.
Trước đây, Luật HN&GĐ năm 1986 quy định : ‘‘ Người không nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con ’’( Điều 45) Như vậy, thăm
nom con không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của những người không trựctiếp nuôi con Đây là điểm khác biệt giữa Luật HN&GĐ năm 1986 và LuậtHN&GĐ năm 2000 vì Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ quy định thăm nom con làquyền của người không trực tiếp nuôi con Sở dĩ có quy định khác như vậy có lẽ
là nhà làm luật đã dựa vào thực tế Người cha, người mẹ nếu như có trách nhiệmđối với con, họ sẽ thực hiện quyền này một cách tự nguyện, coi đó là quyền lợicủa mình và cũng là tốt cho con cái Còn nếu như cha mẹ vô trách nhiệm thìcũng không thể ép buộc họ thực hiện quyền này được Bởi nếu quy định đó lànghĩa vụ, họ có thể thăm nom con nhưng vì không xuất phát từ tinh thần tráchnhiệm, nên việc thăm nom con chỉ là hình thức, trở thành một công việc màkhông đạt được mục đích của việc thăm nom con là vì lợi ích của con, bù đắpnhững thiệt thòi về tình cảm cho con Và nếu như pháp luật quy định đây là mộtnghĩa vụ thì phải quy định chế tài xử phạt Nhưng do ban đầu, việc thăm nomcon đã không được thực hiện một cách tự nguyện thì nếu có biện pháp xử phạt
họ thì đó cũng là cưỡng ép Biện pháp xử phạt đó có thể đạt được mục đíchtrừng phạt nhưng không đạt được mục đích cao hơn là thay đổi cách cư xử, hànhđộng của người vi phạm để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con Trong trườnghợp này pháp luật can thiệp cũng khó làm thay đổi bản chất, suy nghĩ của mộtcon người được