tính khả thi của Luật chứng khoán trước yêu cầu bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, luật về chứng khoán của các quốc gia có những cách thứcđiều chỉnh và tên gọi khác nhau Nhưng bao giờ cũng thống nhất ở quan điểmlấy người đầu tư là trọng tâm của thị trường và đặt mục đích bảo vệ quyền lợinhà đầu tư lên hàng đầu Điều đó xuất phát từ nhận thức: không có nhà đầu tư-không có thị trường, muốn duy trì, ổn định, phát triển thị trường, phải bảo vệđược quyền lợi nhà đầu tư Đối với những thị trường non trẻ như Việt Nam, đảmbảo được nguyên lý này có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triểncủa thị trường
Sau hơn 6 năm hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt đượcmột số kết quả nhất định Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gianvừa qua, cùng với xu hướng đầu tư tăng nhanh do kết quả của hội nhập kinh tếthế giới và khu vực đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý cho lĩnh vực này
Ra đời lần đầu tiên với tư cách là văn bản pháp lý cao nhất trong lĩnh vực chứngkhoán, Luật chứng khoán Việt Nam (2006) được kỳ vọng sẽ giải quyết nhữngvướng mắc còn tồn tại trong những quy định cũ, và phù hợp với tình hình pháttriển mới của thị trường Trong đó vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư đượckhẳng định như một nguyên tắc điều chỉnh của luật, được ghi nhận ngay tại điều
4 Với nhiều nhiệm vụ đặt ra như vậy, luật chứng khoán Việt Nam có tác động
gì tới các nhà đầu tư và đưa ra những quy định ảnh hưởng tới quyền lợi của họnhư thế nào đang là một câu hỏi được quan tâm hiện nay Vì vậy, phân tích hiệuứng của Luật chứng khoán đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư sẽ đưa ranhững nhìn nhận khách quan về những điểm tiến bộ cũng như còn hạn chế củaLuật thông qua những phản ánh từ thực tế của thị trường Sự thành công của luậtpháp bao giờ cũng thể hiện trên hai khía cạnh là đảm bảo được chức năng quản
lý của nhà nước và phù hợp với thực tế quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài này được thực hiện nhằm mục đích làm rõ bản chất của hoạt động
Trang 2đầu tư chứng khoán, những cơ chế bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư bằng Luật chứngkhoán và đặc biệt là nghiên cứu các hiệu ứng của Luật chứng khoán trong việcbảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Bằng cách tiếp cận từ góc độ thực tiễn là chủyếu, đề tài được triển khai nghiên cứu với mong muốn đưa ra những phản ánhthực tế mà nhà đầu tư quan tâm sau khi Luật chứng khoán ra đời Kết quảnghiên cứu đề tài sẽ tập trung phân tích những phản ánh đó dưới góc độ khoahọc pháp lý để đưa ra những đánh giá và kiến nghị cho việc hoàn thiện và thựcthi pháp luật chứng khoán.
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với yêu cầu và mục đích như trên, việc thực hiện đề tài được giới hạntrong một số hoạt động sau đây:
- Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư chứng khoán và cơ chếbảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư bằng Luật chứng khoán;
- Đánh giá những hiệu ứng, tác động của Luật chứng khoán đối với vấn
đề bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán;
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm đảm bảo tính khả thi của Luật chứngkhoán trước yêu cầu bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư
Với phạm vi nghiên cứu nêu trên, ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tàiđược triển khai nghiên cứu với cấu trúc gồm 3 chương như sau:
Chương I: Đầu tư chứng khoán và vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư bằng Luật chứng khoán.
Chương II: Những hiệu ứng của Luật chứng khoán đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.
Chương III: Một số kiến nghị nhằm đảm bảo tính khả thi của Luật chứng khoán trước yêu cầu bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.
Trang 3CHƯƠNG I ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA
NHÀ ĐẦU TƯ BẰNG LUẬT CHỨNG KHOÁN
1 Bản chất của đầu tư chứng khoàn và quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
1.1 Bản chất của đầu tư chứng khoán
1.1.1 Khái niệm đầu tư chứng khoán
Trong kinh tế học, đầu tư được hiểu là hoạt động của con người với việc
sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kếtquả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được những kết quả
đó [1,tr.16] Còn trong khoa học pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài
sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt
động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội khác [2, tr.6] Như
vậy, dù tiếp cận ở góc độ nào thì hình ảnh của đầu tư cũng được thể hiện rõ nétnhất qua lăng kính của lợi ích Nói đến đầu tư là phải thấy trong tương lai mộtgiá trị mới lớn hơn những giá trị bỏ ra ban đầu Suy cho cùng, lợi nhuận chính làcái đích chủ yếu mà nhà đầu tư hướng tới khi đưa ra các quyết định đầu tư.Trong quá trình này, các nhà đầu tư sẽ tìm cách tối ưu hóa quyền lợi của mình
và bảo vệ nó theo cách thức riêng của họ Trong số các lĩnh vực đầu tư, đầu tưvào chứng khoán được xem là lĩnh vực nhạy cảm nhất, rủi ro nhất và cũng cónhiều điểm đặc thù nhất, xét cả về phương diện kinh tế lẫn phương diện pháp lý
Trong lịch sử phát triển thăng trầm của thị trường chứng khoán, đầu tưchứng khoán không phải là một khái niệm xa lạ đối với thế giới Hoạt động này
đã manh nha hình thành từ khoảng giữa thế kỷ 15, cùng với sự ra đời của thịtrường chứng khoán Tuy vậy, đối với phần lớn người dân Việt Nam hiện nay,đầu tư chứng khoán vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ, đầy bí ẩn và hấp dẫn
Xét theo nghĩa chung nhất, đầu tư chứng khoán là khái niệm dùng để chỉ
“việc bỏ vốn tiền tệ ra mua bán các chứng khoán để kiếm lời” [3, tr159] Hoạtđộng đầu tư chứng khoán tuy có thể đem lại những khoản lợi nhuận nhất địnhcho các nhà đầu tư nhưng bản thân hoạt động đầu tư chứng khoán không phải là
Trang 4một nghề thương mại Vấn đề này không chỉ gắn với bản chất của việc đầu tưchứng khoán mà còn liên quan đến sự phân biệt giữa hoạt động đầu tư chứngkhoán và hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Vậy, có thể hiểu đầu tư chứng khoán và kinh doanh chứng khoán khácnhau như thế nào?
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau xung quanh hai thuật ngữ này.Nếu tiếp cận từ khái niệm “kinh doanh” theo quy định của Luật doanhnghiệp 2005 thì kết quả là không thể tách bạch rõ ràng giữa khái niệm kinhdoanh và khái niệm đầu tư, và điều đó cũng đồng nghĩa với việc khó tách bạch
rõ ràng giữa khái niệm kinh doanh chứng khoán và đầu tư chứng khoán, bởi lẽ
“kinh doanh là thực hiện một hoặc một số hoặc tất cả các công đoạn của quátrình đầu tư từ sản xuất đến tiêu dùng, kể cả dịch vụ nhằm mục đích sinh lời”
Tuy nhiên, nếu đối chiếu định nghĩa về kinh doanh chứng khoán đã đượcquy định tại Khoản 19, Điều 6 của Luật chứng khoán 2007 với cách hiểu thôngthường về đầu tư chứng khoán như đã phân tích ở đoạn trên (theo đó đầu tưchứng khoán “là việc mua bán chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời”) thì có thểkhẳng định rằng khái niệm đầu tư chứng khoán không bao hàm các nghiệp vụkinh doanh chứng khoán, bởi lẽ, “kinh doanh chứng khoán là việc thực hiệnnghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh chứng khoán,
tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứngkhoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán”
Như vậy, khái niệm kinh doanh chứng khoán có nội hàm rộng hơn kháiniệm đầu tư chứng khoán Thậm chí, nếu căn cứ vào quy định cụ thể từ cáckhoản 20 đến 26 của Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006 thì hoạt động kinhdoanh chứng khoán do các chủ thể chuyên nghiệp như công ty chứng khoán,công ty quản lý quỹ tiến hành, trong khi hoạt động đầu tư chứng khoán vốn dĩ làhoạt động của các nhà đầu tư chứng khoán Thực tế cho thấy, xung quanh vấn
đề này, quy định của một số nước có sự khác nhau Chẳng hạn, theo Khoản 8,Điều 2 Luật chứng khoán Hàn Quốc thì “ kinh doanh chứng khoán là bất kỳ việckinh doanh nào nằm trong các loại hình: Mua và bán chứng khoán, mua và bán
Trang 5chứng khoán theo uỷ thác; hoạt động như một trung gian hoặc đại lý liên quanđến việc mua hoặc bán chứng khoán; hoạt động như một trung gian hoặc đại lýliên quan đến tín thác các giao dịch được thực hiện trên thị trường chứng khoán;bảo lãnh phát hành chứng khoán…” Với quy định này, hoạt động đầu tư chứngkhoán ở Hàn Quốc cũng được xem là một dạng của kinh doanh chứng khoán.Còn theo Điều 4 Luật chứng khoán Thái Lan thì “kinh doanh chứng khoán làcác hoạt động kinh doanh sau đây: môi giới chứng khoán, giao dịch ngoài sởchứng khoán, dịch vụ tư vấn đầu tư, bảo lãnh phát hành chứng khoán…” Vớiquy định này, ở Thái Lan không phải mọi hoạt động đầu tư chứng khoán đều cóbản chất là hoạt động kinh doanh chứng khoán mà chỉ những hoạt động đầu tưhay giao dịch mua bán ngoài sở chứng khoán mới coi là hoạt động kinh doanhchứng khoán Việc xem xét phạm vi và bản chất của hoạt động đầu tư chứngkhoán có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định chủ thể đầu tư (hay nhà đầutư) để từ đó có những biện pháp quản lý và bảo vệ quyền lợi của họ một cáchhợp lý và thỏa đáng.
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư chứng khoán
Một cách khái quát nhất, có thể hình dung hoạt động đầu tư chứng khoánbao hàm các đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của hoạt động đầu tư chứng khoán luôn luôn là các nhà
đầu tư chứng khoán Nhà đầu tư chứng khoán được phân chia thành hai loại, baogồm các nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư không chuyên nghiệp Đối vớicác nhà đầu tư chuyên nghiệp, hoạt động đầu tư chứng khoán tuy được xem làchuyên nghiệp nhưng tính chuyên nghiệp này không bao hàm ý nghĩa là mộtnghề thương mại, với tính cách là một hành vi thương mại để phải làm thủ tụcđăng ký kinh doanh với chính quyền Còn đối với các nhà đầu tư chứng khoánkhông chuyên nghiệp, hoạt động đầu tư chứng khoán chỉ được xem như là một
“trò chơi” đầy may rủi hay một “thú tiêu khiển” có khả năng giúp họ kiếm tiềnmột cách dễ dàng trên thị trường chứng khoán Dù không được tuyên bố chínhthức nhưng hoạt động đầu tư chứng khoán luôn được các nhà đầu tư thực hiệnvới mục tiêu cơ bản là hướng tới việc tìm kiếm lợi nhuận cho chính họ
Trang 6Thứ hai, hoạt động đầu tư chứng khoán luôn gắn liền với đối tượng đặc
biệt là chứng khoán Với tư cách là một loại hàng hóa - động sản đặc biệt, chứngkhoán luôn mang trong mình nó những thuộc tính căn bản như tính thanh khoản,tính sinh lợi, tính rủi ro và tính tư bản giả Trên thực tế, các thuộc tính này củachứng khoán có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư chứng khoán và gắnliền với lợi ích của các nhà đầu tư Vì lẽ đó, việc đưa ra quyết định đầu tư vàoloại chứng khoán nào để đảm bảo an toàn và có khả năng sinh lợi cao, luôn lànỗi băn khoăn, trăn trở của mọi nhà đầu tư khi quyết định tham gia vào sân chơithị trường chứng khoán
Thứ ba, đầu tư chứng khoán là hoạt động luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro và
bất trắc cho quyền lợi của các nhà đầu tư Tính rủi ro tiềm ẩn của hoạt động đầu
tư chứng khoán bắt nguồn từ nguyên nhân sâu sa là sự nhạy cảm đặc biệt và sựbiến thiên khó lường của thị trường chứng khoán, cũng như tính chất rủi ro caocủa các loại chứng khoán được phát hành và lưu thông trên thị trường chứngkhoán Rủi ro trong đầu tư chứng khoán là khả năng bị mất hoặc tổn thất về tàisản mà nhà đầu tư có thể phải gánh chịu khi đầu tư vào chứng khoán Có rấtnhiều loại rủi ro trong đầu tư chứng khoán như: rủi ro thanh toán là khả năngkhông thu hồi được vốn đầu tư bỏ ra, rủi ro thị trường, rủi ro pháp luật, rủi ro vềlãi suất, rủi ro về lạm phát… Đây là đặc tính thể hiện bản chất rủi ro tiềm tàngcủa hoạt động đầu tư chứng khoán và là một trong những căn cứ quan trọng đểđặt ra yêu cầu bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Trên thực tế, hoạt động đầu tư chứng khoán chưa bao giờ được xem là antoàn và chắc chắn Vì những rủi ro luôn luôn tiềm ẩn trong hoạt động này nênđòi hỏi người đầu tư phải có những sách lược cụ thể và sự theo dõi sát sao vớithị trường cũng như với những “địa chỉ” mà mình đã tin tưởng đầu tư vào
Thứ tư, đầu tư chứng khoán được thực hiện theo nguyên tắc trung gian,
theo đó việc mua bán chứng khoán của các nhà đầu tư đòi hỏi phải thực hiệnthông qua tổ chức trung gian là nhà môi giới chứng khoán Nguyên tắc này đặt
ra nhằm đảm bảo cho hoạt động lành mạnh của thị trường, đồng thời cũng bảo
vệ quyền lợi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Nguyên tắc này được áp
Trang 7dụng triệt để trên thị trường giao dịch tập trung và thị trường OTC (thị trườnggiao dịch qua quầy), nhưng hầu như không được thực hiện trên thị trường chứngkhoán trao tay – thị trường chợ đen hay thị trường tự do, thị trường ngầm Điềunày có thể tạo ra những cơ hội cho các hành vi gian lận, lừa đảo trong quá trìnhmua bán chứng khoán, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư Sự tồn tạicủa thị trường ngầm cùng với những giao dịch chứng khoán không có kiểm soátcủa Nhà nước luôn là vấn đề thực tế và rất nan giải đối với các nhà quản lý thịtrường chứng khoán
Ngoài các đặc trưng cơ bản nêu trên, để làm rõ hơn bản chất của đầu tưchứng khoán, thiết nghĩ cũng nên đề cập đến vấn đề: đầu tư chứng khoán là đầu
tư trực tiếp hay gián tiếp? Thực tế cho thấy, đây là vấn đề hiện còn tranh luậnnhưng cho dù tiếp cận từ góc độ nào và theo quan điểm khoa học nào thì cũngcần phải thừa nhận rằng việc xác định đầu tư chứng khoán là trực tiếp hay giántiếp có có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, bởi theo quy định của pháp luật Việt Namhiện hành thì đầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định thống nhất trong luậtđầu tư, còn Luật chứng khoán quy định về đầu tư gián tiếp Hơn nữa, các thủ tụchành chính và điều kiện đầu tư cũng như cách thức bảo vệ quyền lợi của nhà đầu
tư trong hai trường hợp này là rất khác nhau Trong tương lai, nếu Nhà nước tiếptục mở rộng tỷ lệ sở hữu tối đa cho nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứngkhoán và giả thiết là khi tỷ lệ này đủ để nhà đầu tư có thể trực tiếp quản lýdoanh nghiệp thì các quy định của luật đầu tư hay luật chứng khoán sẽ được ápdụng, hoặc áp dụng Luật nào sẽ có lợi hơn cho nhà đầu tư, liệu quyền lợi nhàđầu tư có bị ảnh hưởng không, chắc chắn là vấn đề còn cần phải bàn đến Tuynhiên, đó vẫn là câu chuyện của tương lai Còn trong phạm vi khuôn khổ chậthẹp của khóa luận này - nghiên cứu về những hiệu ứng của luật chứng khoán,chúng tôi không thể và không có điều kiện phân tích sâu hơn, ngoài việc đề cậpđến như một đặc điểm cần lưu ý của đầu tư chứng khoán
1.1.3 Mối quan hệ giữa nhà đầu tư với tổ chức phát hành chứng khoán
Không thể phủ nhận rằng việc xác định bản chất của đầu tư chứng khoánluôn gắn liền với việc làm rõ mối quan hệ giữa nhà đầu tư và tổ chức phát hành
Trang 8chứng khoán Làm rõ bản chất của mối quan hệ giữa nhà đầu tư với tổ chức pháthành chính là làm rõ bản chất của đầu tư chứng khoán, bao gồm việc xác địnhcác chủ thể tham gia vào quan hệ đầu tư và xác định nội dung cơ bản của quan
hệ đầu tư chứng khoán
1.1.3.1 Các chủ thể tham gia quan hệ đầu tư chứng khoán
Quan hệ đầu tư chứng khoán có thể phát sinh giữa các nhà đầu tư vớinhau hoặc giữa các nhà đầu tư với các tổ chức phát hành chứng khoán
Nhà đầu tư là những người có tiền nhàn rỗi, sử dụng tiền đầu tư vào thị
trường chứng khoán bằng cách mua các chứng khoán đã hoặc đang được pháthành trên thị trường chứng khoán nhằm thu lãi và hưởng các quyền lợi khác
phát sinh từ việc sở hữu chứng khoán Nhà đầu tư có hai loại, bao gồm nhà đầu
tư cá nhân và các tổ chức đầu tư.
Nhà đầu tư cá nhân được hiểu là công dân Việt Nam hoặc công dân nước
ngoài sử dụng thu nhập của mình để mua chứng khoán cho chính mình sở hữu.Đây là chủ thể có khả năng cung ứng một khối lượng tiền tệ rất lớn cho thịtrường chứng khoán Khi có vốn nhàn rỗi tạm thời, họ mua chứng khoán vớimục đích đầu tư kiếm lời, còn khi có nhu cầu thu hồi vốn hoặc khi nhận thấychứng khoán tăng, giảm giá họ đem bán lại các chứng khoán đó để tránh rủi rohoặc để hưởng chênh lệnh giá Thực tế cho thấy, các nhà đầu tư cá nhân thường
có những quyết định nhanh chóng trong đầu tư chứng khoán và ít khi theo đuổinhững chính sách đầu tư dài hạn Theo quy định của Luật chứng khoán ViệtNam hiện hành, do không có quy định cụ thể nào về điều kiện của nhà đầu tư cánhân nên về nguyên tắc, nhà đầu tư cá nhân chỉ cần thỏa mãn các điều kiện tiếnhành giao dịch dân sự theo quy định của bộ luật dân sự là đủ Việc xác định tưcách chủ thể của nhà đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo quyềnlợi của nhà đầu tư trước pháp luật Ngoài ra phải kể đến một số trường hợp các
cá nhân không được tự do đầu tư trên thị trường chứng khoán, như trường hợpquy định của pháp luật về cổ đông sáng lập, trong vòng 3 năm đầu, không đượcbán cổ phiếu của mình trên thị trường chứng khoán; trường hợp không đượcđồng thời góp vốn vào 2 hoặc nhiều công ty chứng khoán với tỷ lệ nắm giữ trên
Trang 95% cổ phần; trường hợp các cá nhân có liên quan đến tổ chức phát hành, có thểtiếp cận những thông tin nội bộ…
Các tổ chức đầu tư là những pháp nhân Việt Nam hoặc nước ngoài
thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường, với tưcách là những nhà đầu tư chuyên nghiệp Các chủ thể này có vai trò quan trọngtrong điều tiết mức độ hoạt động của thị trường vì chính họ là những nhà đầu tưlớn nhất và hành vi của họ có ảnh hưởng lớn nhất đến giá cả chứng khoán đượcgiao dịch hàng ngày trên thị trường Theo quy định hiện hành, các tổ chức đầu
tư chứng khoán chuyên nghiệp bao gồm công ty bảo hiểm, ngân hàng thươngmại, các công ty chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán…
Các công ty bảo hiểm sử dụng nguồn phí bảo hiểm thu được từ người
tham gia bảo hiểm theo các hợp đồng bảo hiểm để đầu tư vào các tài sản tàichính có khả năng sinh lợi và có tính thanh khoản cao như chứng khoán cổphiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư…Thông thường, các công ty bảo hiểmđầu tư vào chứng khoán khoảng 35% đến 40% tổng số vốn nhàn rỗi từ dự phòngnghiệp vụ bảo hiểm
Các ngân hàng thương mại tham gia đầu tư chứng khoán trên thị trường
chứng khoán ít hay nhiều phụ thuộc vào mô hình ngân hàng đa năng hay ngânhàng chuyên doanh ở mỗi nước Ở Việt Nam, các ngân hàng có mô hình đa năngmột phần, muốn tham gia đầu tư chứng khoán phải thành lập công ty chứngkhoán độc lập để tiến hành các hoạt động đầu tư chứng khoán
Các công ty chứng khoán hoạt động chủ yếu dưới loại hình công ty cổ
phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn Trên thị trường chứng khoán, công tychứng khoán thực hiện rất nhiều nghiệp vụ khác nhau như môi giới, bảo lãnhphát hành, tư vấn đầu tư, trong đó có vai trò là nhà đầu tư trong hoạt động tựdoanh chứng khoán Tuy nhiên, với phạm vi hoạt động rộng như vậy, có nhiềutrường hợp lợi ích của công ty có mâu thuẫn với lợi ích của khách hàng, vì thếviệc đưa ra những điều kiện pháp lý và kiểm soát hoạt động của công ty chứngkhoán có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thị trường nói chung và với cácnhà đầu tư khác nói riêng
Trang 10Các quỹ đầu tư chứng khoán được thành lập nhằm thu hút vốn của nhà
đầu tư cá nhân để đầu tư chứng khoán, hoặc một số dạng tài sản khác Có cùngbản chất với nó là các công ty đầu tư chứng khoán, với cách thức và mục đíchhoạt động tương đối giống nhau, chỉ khác nhau về mô hình quản lý và điềuhành
Các tổ chức khác như các tổ chức tín dụng, các quỹ hưu trí, quỹ trợ cấp…
cũng được xem là những chủ thể có tiềm lực tài chính mạnh, có khả năng thamgia vào thị trường chứng khoán với tư cách là nhà đầu tư
Trên thị trường chứng khoán, mức độ tham gia của các chủ thể đầu tư làkhác nhau và mối quan hệ giữa họ với các thành phần chủ thể khác của thịtrường cũng không giống nhau Vì thế, việc quy định tư cách pháp lý của từngloại chủ thể để kiểm soát khả năng tham gia đầu tư của họ trên thị trường là điềucần thiết
Tổ chức phát hành chứng khoán là những pháp nhân huy động vốn cho
mình bằng cách phát hành chứng khoán cho các nhà đầu tư trên thị trường sơcấp Theo thông lệ, tổ chức phát hành chứng khoán bao gồm Chính phủ, cơ quanchính quyền địa phương, các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp
Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương phát hành chứng
khoán là trái phiếu Nhà nước để huy động vốn nhằm cân đối thu chi hoặc bù đắpcác thâm hụt ngân sách nhà nước hàng năm Các loại trái phiếu Nhà nước hiệnnay đã và đang trở thành nguồn hàng hoá quan trọng và có chất lượng cao đượcgiao dịch trên thị trường chứng khoán
Các doanh nghiệp hiện là chủ thể phát hành quan trọng nhất và chiếm tỷ
lệ lớn nhất trên thị trường chứng khoán Những loại chứng khoán do các doanhnghiệp phát hành thường rất đa dạng, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu và các chứngkhoán khác, nhằm đáp ứng các nhu cầu thường xuyên và đa dạng của doanhnghiệp trong kinh doanh Trong số các doanh nghiệp phát hành chứng khoán thìcông ty cổ phần là loại doanh nghiệp phát hành chứng khoán thường xuyên và
đa dạng nhất Để huy động vốn, công ty cổ phần có nhiều cách thức như: pháthành cổ phiếu mới, chuyển quỹ dự trữ vào vốn, chuyển trái phiếu thành cổ phiếu
Trang 11để tăng vốn điều lệ, vay vốn bằng cách phát hành trái phiếu Trong tiến trình cổphần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay, tuy thực tế quá trình nàyđang gặp phải một số khó khăn và vướng mắc nhưng dự báo triển vọng sẽ cho rađời hàng loạt công ty cổ phần với sự đa dạng về chủng loại cổ phiếu do các công
ty này phát hành trên thị trường chứng khoán Đây sẽ là nguồn cung ứng dồi dàocác hàng hóa cho thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới
1.1.3.2 Bản chất pháp lý của mối quan hệ giữa nhà đầu tư và tổ chức phát hành chứng khoán
Khi đầu tư chứng khoán, thực chất nhà đầu tư đã thiết lập một mối quan
hệ pháp luật với tổ chức phát hành chứng khoán Tùy thuộc vào cách thức pháthành và loại chứng khoán được phát hành, mối quan hệ giữa nhà đầu tư và tổchức phát hành chứng khoán sẽ có bản chất pháp lý khác nhau
Đối với trường hợp phát hành chứng khoán vốn (ví dụ cổ phiếu…), mốiquan hệ giữa nhà đầu tư với tổ chức phát hành (công ty) có bản chất là hợp đồnggóp vốn, theo đó nhà đầu tư cổ phiếu có tư cách là cổ đông và có quyền thamgia quản lý đối với tổ chức phát hành cổ phiếu tương ứng với phần vốn góp của
họ trong tổ chức phát hành
Đối với trường hợp phát hành chứng khoán nợ (ví dụ trái phiếu Nhà nướchoặc trái phiếu doanh nghiệp…), mối quan hệ giữa nhà đầu tư với tổ chức pháthành có bản chất là hợp đồng cho vay, theo đó nhà đầu tư có tư cách là chủ nợđối với tổ chức phát hành và có quyền yêu cầu tổ chức phát hành thanh toán chomình cả gốc và lãi trái phiếu khi đến hạn thanh toán của trái phiếu
Riêng đối với việc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán, mốiquan hệ giữa nhà đầu tư với tổ chức phát hành chứng chỉ quỹ có sự khác biệtnhất định so với trường hợp phát hành hai loại chứng khoán phổ biến và điểnhình là cổ phiếu và trái phiếu Sự khác biệt này được thể hiện ở chỗ, các nhà đầu
tư tuy cũng là người góp vốn vào quỹ đầu tư chứng khoán nhưng bản thân quỹnày không phải là một chủ thể phát hành chứng khoán nên việc phát hành chứngchỉ quỹ đầu tư phải thực hiện thông qua tổ chức được ủy quyền là công ty quản
lý quỹ Như vậy, tuy cũng được xem là chứng khoán vốn nhưng việc phát hành
Trang 12chứng chỉ quỹ đầu tư không tạo ra mối quan hệ sở hữu giữa nhà đầu tư với tổchức phát hành chứng chỉ quỹ (công ty quản lý quỹ) và nhà đầu tư cũng không
có quyền tham gia quản lý trực tiếp đối với tổ chức phát hành Thực chất, đây làquan hệ ủy quyền theo đó tập thể các nhà đầu tư ủy quyền cho công ty quản lýquỹ trực tiếp thành lập, quản lý và điều hành quỹ đầu tư chứng khoán, vì quyềnlợi của các nhà đầu tư
Có thể nói, việc xác định bản chất của mối quan hệ giữa nhà đầu tư với tổchức phát hành chứng khoán có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đặc biệt là trongviệc xây dựng cơ chế bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trước các biến động củathị trường Mối quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn đối với nhà đầu tư cũng nhưđối với các tổ chức phát hành Lịch sử thị trường chứng khoán đã chứng minhrằng, chính các nhà đầu tư mới là người tạo ra thị trường và thị trường có pháttriển hay không phụ thuộc rất lớn vào nhận thức và thái độ của các nhà đầu tư.Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam cũng vậy Dù được ra đời dưới bàntay “bà đỡ” của Nhà nước, nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam đã chứngkiến vai trò của các nhà đầu tư quan trọng như thế nào trong việc tạo ra sự đổithay của thị trường chứng khoán Mới cách đây không lâu, các giao dịch trên thịtrường chứng khoán còn diễn ra hết sức chậm chạp do sự hờ hững của nhà đầu
tư trước chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, hôm naymọi việc dường như đã thay đổi theo chiều hướng hoàn toàn ngược lại Sự thayđổi này không chỉ bắt nguồn từ nhận thức của nhà đầu tư, từ sự tham gia tíchcực của Nhà nước vào quá trình cải cách kinh tế mà còn do xu hướng làm ănngày càng hiệu quả của các doanh nghiệp Tất cả những yếu tố này cùng tácđộng đến chất lượng của chứng khoán và tạo ra sự sôi động chưa từng có của thịtrường chứng khoán Việt Nam trong thời gian gần đây
1.2 Các quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
1.2.1.Khái niệm và đặc điểm của quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Quyền lợi, theo từ điển Tiếng Việt là “quyền được hưởng những lợi ích từchính trị, kinh tế, xã hội…” trong đó quyền được hiểu là sự cho phép của Nhà
Trang 13nước hoặc xã hội được công nhận, được thực hiện hoặc duy trì một việc gì đó.Với khái niệm này, có thể hiểu quyền lợi là một phạm trù gắn với Nhà nước và
xã hội, được phát sinh và gắn liền với một chủ thể nhất định, gọi là chủ thể củaquyền lợi
Xuất phát từ định nghĩa trên đây về quyền lợi, khái niệm “quyền lợi của
nhà đầu tư” có thể được hiểu theo nghĩa là quyền lợi của một nhóm chủ thể đặc
biệt trong xã hội có tên gọi là nhà đầu tư, phát sinh trong quá trình đầu tư vào chứng khoán, được Nhà nước công nhận và bảo đảm thực hiện bằng công cụ pháp luật Ở chừng mực nhất định, những nội dung cụ thể trong khái niệm
quyền lợi của nhà đầu tư tuy có thể được quy định tương đối khác nhau trongpháp luật ở mỗi quốc gia nhưng suy cho cùng, các quy định này đều nhằmhướng tới sự thừa nhận những nội dung cơ bản sau đây:
- Quyền được tiếp cận và biết đầy đủ, trung thực các thông tin về chứngkhoán được phát hành và tổ chức phát hành chứng khoán;
- Quyền được hỗ trợ về dịch vụ đầu tư, phương hướng đầu tư và tự mình
ra quyết định đầu tư vào chứng khoán;
- Quyền được hưởng các lợi ích hợp pháp phát sinh từ việc đầu tư vàochứng khoán;
- Quyền được bảo vệ các lợi ích hợp pháp phát sinh trong quá trình đầu tưchứng khoán;
- Quyền được chuyển nhượng, định đoạt chứng khoán theo nhu cầu củamình với tư cách là chủ sở hữu chứng khoán…
Xét về khía cạnh lý luận, quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứngkhoán có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán luôn luôn
gắn liền với chủ thể đặc biệt là nhà đầu tư chứng khoán Chủ thể này tham giavào thị trường chứng khoán với tư cách là nhà đầu tư, bằng cách bỏ vốn ra chongười khác sử dụng để được nhận về mình quyền sở hữu chứng khoán Tuy cóđược quyền sở hữu chứng khoán và gắn với quyền sở hữu đó là những lợi íchnhất định (bao gồm lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần) nhưng trên thực tế, các
Trang 14nhà đầu tư luôn ở vào vị thế bất lợi hơn so với các chủ thể khác cùng tham giathị trường chứng khoán, chẳng hạn như các tổ chức phát hành hay tổ chức trunggian trên thị trường chứng khoán Do vị thế này, việc bảo vệ quyền lợi của cácnhà đầu tư trên thị trường chứng khoán đã được đặt ra và được pháp luật cácnước ghi nhận như là một nguyên tắc căn bản trong tổ chức và hoạt động của thịtrường chứng khoán.
Thứ hai, quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán chủ yếu
phát sinh trong quá trình đầu tư vào chứng khoán và gắn liền, phụ thuộc vào cácchứng khoán do nhà đầu tư sở hữu Đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt vớicác quyền lợi khác của nhà đầu tư, nhưng không phát sinh trong quá trình đầu tưvào chứng khoán Thực tế cho thấy, hầu hết các quyền, lợi ích hợp pháp mà nhàđầu tư có được từ việc đầu tư vào chứng khoán, đều phụ thuộc rất lớn vào cácloại chứng khoán mà họ đang sở hữu, trong đó có những quyền lợi giống nhauđối với mọi chứng khoán, đồng thời cũng có những quyền lợi khác nhau gắn vớitừng loại chứng khoán đặc thù, ví dụ cổ phiếu, trái phiếu hay chứng chỉ quỹ đầutư…
Thứ ba, các quyền lợi của nhà đầu tư chứng khoán tuy đã được pháp luật
công nhận và cam kết bảo đảm thực hiện nhưng trên thực tế chúng luôn rấtmỏng manh và rất dễ bị xâm phạm bởi các chủ thể khác Do nguy cơ bị vi phạm
và bị tổn hại là rất lớn nên pháp luật các nước thường có những quy định riêngmang tính đặc thù để bảo đảm thực hiện và bảo vệ sự an toàn cho các quyền lợinày của nhà đầu tư khi tham gia thị trường chứng khoán, chẳng hạn quy định vềviệc cấp giấy phép phát hành chứng khoán, quy định về nghĩa vụ công bố thôngtin; quy định về nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch trong các giao dịchtrên thị trường chứng khoán
1.2.2 Các quyền lợi cơ bản của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Như đã phân tích ở trên, khi tham gia vào thị trường chứng khoán, nhàđầu tư có khả năng có được nhiều quyền lợi khác nhau theo quy định của phápluật Các quyền lợi này được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện bằngnhiều phương thức khác nhau, thông qua công cụ chủ yếu là pháp luật
Trang 15Trên thị trường chứng khoán, các quyền lợi của nhà đầu tư là rất đa dạng,theo đó mỗi nhóm quyền lợi của nhà đầu tư thường phát sinh và được thực hiệntrong mối tương quan với quyền lợi của các chủ thể khác tham gia vào thịtrường chứng khoán Vì vậy, việc chỉ ra những nhóm quyền lợi cơ bản của nhàđầu tư, đặt trong mối tương quan với quyền lợi của các chủ thể khác để từ đó có
cơ chế bảo vệ hợp lý là điều cần thiết
Một cách khái quát, có thể hình dung các quyền lợi của nhà đầu tư trên thịtrường chứng khoán bao gồm các nhóm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nhóm quyền lợi của nhà đầu tư phát sinh trong mối quan hệ
giữa các nhà đầu tư với tổ chức phát hành chứng khoán
Đây là một trong số các nhóm quyền lợi rất cơ bản của nhà đầu tư, gắnvới giai đoạn họ bắt đầu tham gia vào sân chơi thị trường chứng khoán bằnghành vi mua chứng khoán từ các tổ chức phát hành chứng khoán (có thể muatrực tiếp từ tổ chức phát hành hoặc đặt mua thông qua các tổ chức trung gianmôi giới trên thị trường chứng khoán) Trong khuôn khổ mối quan hệ pháp lýgiữa nhà đầu tư và chủ thể phát hành, dù chứng khoán được phân phối đến taynhà đầu tư bằng cơ chế nào thì một số quyền lợi của nhà đầu tư chỉ có thể phátsinh kể từ thời điểm họ quyết định tham gia đầu tư vào chứng khoán (ví dụ,quyền được biết các thông tin về tổ chức phát hành và thông tin về đợt phát hànhchứng khoán), đồng thời, một số quyền lợi khác lại chỉ có thể phát sinh kể từthời điểm nhà đầu tư đã thiết lập được quyền sở hữu chứng khoán cho mình (ví
dụ, quyền sở hữu chứng khoán, quyền tham gia quản lý đối với công ty là tổchức phát hành cổ phiếu, quyền được chia lãi cổ phần theo kết quả kinh doanhhoặc nhận lãi cố định phát sinh từ trái phiếu) Trong số các quyền lợi này, quyền
sở hữu chứng khoán được xem là quan trọng nhất và từ đó phái sinh ra cácquyền lợi khác cho nhà đầu tư, tùy thuộc vào loại chứng khoán mà họ sở hữu.Thực tiễn cho thấy, các quyền lợi này tuy luôn gắn với chủ thể là các nhà đầu tưchứng khoán nhưng chúng chỉ có thể trở thành hiện thực và có ý nghĩa khi tổchức phát hành tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm và bảo vệ cácquyền lợi của nhà đầu tư Chẳng hạn, để bảo vệ quyền lợi của công chúng đầu tư
Trang 16khi chọn mua chứng khoán từ tổ chức phát hành, những công ty phát hànhchứng khoán phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định về quy mô vốn, tình hìnhtài chính, khả năng hoạt động và tiến hành các thủ tục công bố thông tin theoquy định của pháp luật Hoặc, sau khi nhà đầu tư đã mua được chứng khoán từ
tổ chức phát hành, chính tổ chức phát hành phải tuân thủ các quy định về việctiến hành đại hội cổ đông nhằm đảm bảo cho các nhà đầu tư thực hiện đượcquyền tham gia quản lý công ty theo tỷ lệ vốn góp của họ Mặt khác, tổ chứcphát hành cũng có nghĩa vụ tiếp tục công bố thông tin và minh bạch hóa thôngtin về tình hình hoạt động của mình để giúp các nhà đầu tư có thể kiểm soát khảnăng tăng, giảm giá của các chứng khoán họ đang sở hữu, từ đó có thể đưa racác quyết định hợp lý trong quá trình đầu tư chứng khoán
Thứ hai, nhóm quyền lợi của nhà đầu tư phát sinh trong mối quan hệ giữa
các nhà đầu tư với tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán (ví dụ, công
ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán…)
Không giống như bản chất mối quan hệ giữa nhà đầu tư với tổ chức pháthành (vốn dĩ thường là quan hệ góp vốn hoặc quan hệ cho vay), các tổ chứctrung gian trên thị trường chứng khoán thường chỉ đóng vai trò là những ngườicung cấp dịch vụ về chứng khoán nhằm hỗ trợ cho các nhà đầu tư trong quátrình đầu tư chứng khoán Các dịch vụ này thông thường bao gồm: dịch vụ môigiới chứng khoán, dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán, dịch vụ quản lý danh mụcđầu tư hay dịch vụ quản lý quỹ đầu tư, dịch vụ lưu ký chứng khoán Trên thực
tế, các dịch vụ này đều hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu và quyền lợi hợp phápcủa các nhà đầu tư trong thị trường chứng khoán Chẳng hạn, để giúp nhà đầu tư
có được kiến thức, sự hiểu biết cần thiết và khả năng đưa ra quyết định đầu tưđúng đắn, họ cần tới việc sử dụng dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán từ cáccông ty chứng khoán Để mua được chứng khoán theo ý mình với chi phí rẻ nhất
và nhanh nhất, nhà đầu tư cần tới dịch vụ môi giới chứng khoán của công tychứng khoán Hoặc, nếu cần quản lý các hạng mục đầu tư một cách hiệu quả vàchuyên nghiệp, nhà đầu tư phải sử dụng đến dịch vụ quản lý danh mục đầu tưhoặc dịch vụ quản lý quỹ đầu tư do công ty quản lý quỹ cung ứng
Trang 17Như vậy, mặc dù việc mô tả và sự hình dung về nhóm quyền lợi này củanhà đầu tư là không thật sự rõ ràng nhưng có thể nói, để đảm bảo quyền lợi hợppháp và chính đáng của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thì khôngthể không nhắc đến vai trò hỗ trợ đắc lực của các tổ chức trung gian trên thịtrường, bằng phương thức cung cấp các dịch vụ thị trường đa dạng.
Thứ ba, nhóm quyền lợi của nhà đầu tư phát sinh trong mối quan hệ giữa
các nhà đầu tư với các tổ chức quản lý và cung ứng các dịch vụ hỗ trợ thịtrường Theo thông lệ quốc tế, các tổ chức quản lý thị trường và cung cấp cácdịch vụ hỗ trợ thị trường thường được biết đến với tên gọi là Sở GDCK hoặcTrung tâm GDCK, Trung tâm lưu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ chứngkhoán Xét từ cả góc độ lý luận và thực tiễn, những quyền lợi cơ bản của nhàđầu tư cũng được hình thành và bảo đảm rất hiệu quả bằng cơ chế hoạt động củacác tổ chức quản lý, giám sát thị trường Chẳng hạn, nhờ có việc tổ chức cácphiên giao dịch tại sàn mà các nhà đầu tư mới có được cơ hội tìm kiếm cácchứng khoán tốt đã niêm yết để quyết định đầu tư Hoặc, nhờ có cơ chế quản lý
và giám sát thị trường của Sở giao dịch chứng khoán hay Trung tâm giao dịchchứng khoán mà các nhà đầu tư mới có cơ hội biết được các thông tin đầy đủ,chính xác về tổ chức phát hành chứng khoán và các loại chứng khoán đã pháthành để có thể tự mình lựa chọn phương hướng đầu tư hợp lý Mặt khác, việcgiải quyết các tranh chấp trên thị trường chứng khoán giữa nhà đầu tư với cácchủ thể khác bằng cơ chế hòa giải qua trung gian là các tổ chức quản lý, giámsát thị trường đôi khi rất hiệu quả và đỡ tốn chi phí Nói cách khác, trên thực tếcác nhà đầu tư đã và đang tiếp tục được hưởng lợi khá nhiều từ cơ chế hoạt độngchuyên nghiệp của các tổ chức quản lý giám sát thị trường chứng khoán vànhững quyền lợi này là không thể thiếu trong quá trình đầu tư chứng khoán
Thứ tư, nhóm quyền lợi của nhà đầu tư phát sinh trong mối quan hệ giữa
các nhà đầu tư với nhau trên thị trường chứng khoán Nhóm quyền lợi này baogồm, quyền được bảo vệ trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặccác hành vi bị cấm khác như tung tin đồn nhảm, thao túng thị trường, mua bánnội gián… Ngoài ra, nhóm lợi ích này còn liên quan đến việc đảm bảo quyền
Trang 18được đối xử công bằng và bình đẳng giữa các nhà đầu tư với nhau, quyền đượccạnh tranh công bằng và bình đẳng trong việc tiếp cận và khai thác các cơ hộiđầu tư trên thị trường chứng khoán
Ngoài các nhóm lợi ích cơ bản nêu trên, thiết nghĩ cũng cần nhắc đến vaitrò không thể thiếu của Nhà nước trong việc tạo lập và vận hành cơ chế bảo vệquyền lợi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán bằng các biện pháp chủ yếunhư: công nhận bằng pháp luật đối với các quyền lợi của nhà đầu tư trên thịtrường chứng khoán; thiết lập cơ chế thực thi và bảo vệ hữu hiệu các quyền lợi
đó thông qua phương thức quản lý nhà nước đối với thị trường và cung cấpnhững cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp và có hiệu quả
2 Vấn đề bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư bằng luật chứng khoán
2.1 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư là gì?
Theo từ điển Tiếng Việt, bảo vệ được hiểu là “chống lại mọi sự xâm phạm
để giữ cho nguyên vẹn” Như vậy, một cách khái quát, có thể quan niệm rằngbảo vệ quyền lợi nhà đầu tư là việc Nhà nước công nhận những quyền lợi củanhà đầu tư, giúp nó được thực thi trên thực tế và chống lại mọi hành vi xâmphạm đến các quyền lợi đó Trong ý nghĩa của từ bảo vệ có hàm nghĩa bảo đảm.Cũng theo từ điển Tiếng Việt, “bảo đảm là làm cho chắc chắn được thực hiện,duy trì” Như vậy, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư đồng nghĩa với sự bảo đảmnhưng cao hơn một mức, thể hiện ở chỗ Nhà nước thực hiện sự bảo đảm nàymột cách chủ động, nghĩa là Nhà nước không chỉ công nhận và duy trì nhữngquyền lợi đó mà còn tác động bằng các quy định pháp luật để cho nó được pháttriển và được thực thi một cách có hiệu quả trên thực tế
Tại sao phải bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư?
Trước hết, việc bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư bắt nguồn từ chức
năng và vai trò xã hội của Nhà nước Các nhà đầu tư trên thị trường chứngkhoán, dù là cá nhân hay tổ chức đều cần được nhận sự trợ giúp hiệu quả từ phíaNhà nước, bằng các công cụ và phương tiện chỉ Nhà nước mới có và mới làm
Trang 19được, đó là pháp luật Nói cách khác, khả năng được pháp luật bảo vệ trên thịtrường chứng khoán là một trong những quyền lợi cơ bản của nhà đầu tư, đócũng là nguồn gốc, căn cứ cho những quy định cụ thể về vấn đề bảo vệ quyềnlợi nhà đầu tư trong lĩnh vực này.
Thứ hai, việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư chính là nhằm tạo ra một
thị trường chứng khoán lành mạnh, vận hành trôi chảy, ổn định và hiệu quả.Chính điều đó góp phần đảm bảo sự an toàn cho nền kinh tế và ổn định xã hội.Như đã đề cập ở trên, do mối quan hệ mật thiết giữa quyền lợi nhà đầu tư và thịtrường chứng khoán mà vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư luôn được đặt ranhư là một yếu tố quan trọng của việc vận hành thị trường chứng khoán Điềunày cũng cho thấy tính nhạy cảm cao và tính ảnh hưởng dây chuyền của thịtrường chứng khoán luôn gắn liền với yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt quyền lợi củanhà đầu tư Thực tế cho thấy rằng sự tăng trưởng hay suy thoái của thị trườngchứng khoán trong từng thời điểm, từng giai đoạn nhất định, chủ yếu phụ thuộcvào việc thỏa mãn nhu cầu của nhà đầu tư và những biến thiên của thị trườngnày thường bị chi phối bởi ý chí của các nhà đầu tư, thông qua các quyết địnhđầu tư của họ
Thứ ba, việc đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư là phương thức hiệu quả
nhất để khuyến khích hoạt động đầu tư và thu hút các nhà đầu tư tham gia thịtrường chứng khoán Không thể phủ nhận một thực tế là các nhà đầu tư chỉtham gia thị trường chứng khoán khi các quyền lợi cơ bản của họ được bảo đảmtối đa Việc bảo đảm quyền lợi cho các nhà đầu tư một mặt là cách thức quản lýthị trường, mặt khác lại là biện pháp khuyến khích đầu tư có nhanh chóng và cóhiệu quả Mặt khác, chính việc bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư trên nguyêntắc không phân biệt đối xử, sẽ là cơ hội tốt để đảm bảo sự công bằng, bình đẳngcho các nhà đầu tư, không phân biệt thành phần kinh tế, địa vị xã hội và quốctịch Hiện tại ở Việt Nam, quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài hầu như đượcbảo đảm giống như nhà đầu tư trong nước, ngoại trừ các quy định về tỉ lệ nắmgiữ tối đa cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, với việc gia nhậpWTO và sự tham gia vào các hiệp định về đầu tư khu vực, trong tương lai gần
Trang 20khoảng cách và sự phân biệt này sẽ được xoá nhoà.
2.2 Khái quát về cơ chế bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư bằng Luật chứng khoán
Những phân tích ở trên cho thấy, việc chỉ ra và phân loại quyền lợi củanhà đầu tư trong hoạt động đầu tư chứng khoán là rất cần thiết Sự phân loại nàysuy cho cùng chỉ mang tính tương đối, bởi lẽ trong quá trình phát triển của thịtrường chứng khoán, các quyền lợi của nhà đầu tư ngày càng trở nên phong phú,
đa dạng, cùng với sự đa dạng của các hình thức vi phạm, ảnh hưởng trực tiếpđến quyền lợi của nhà đầu tư
Xét từ góc độ lý luận, vấn đề bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư có thểđược giải quyết bằng nhiều phương thức, dựa trên những cách tiếp cận khácnhau Để giúp cho việc hình dung một cách dễ dàng về cơ chế bảo vệ quyền lợicủa nhà đầu tư, chúng tôi chủ trương giải quyết vấn đề này theo phương pháptiếp cận từ bản thân các mối quan hệ - môi trường hình thành và nảy sinh vấn đềquyền lợi và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Theo cách tiếp cận này, nếu coicác quy định về bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư là một chế định riêng biệt của phápluật về chứng khoán thì chế định này sẽ bao gồm ba nội dung chính sau đây:
- Nhà nước xác lập cơ chế bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư chứng khoán
bằng cách ban hành các quy định mang tính công nhận quyền, lợi ích hợp pháp
phát sinh trong quá trình đầu tư chứng khoán Việc công nhận bằng pháp luậtđối với những quyền, lợi ích của chủ thể này sẽ tạo cơ sở pháp lý để các nhà đầu
tư có thể tự thực hiện các quyền của họ và khi cần thiết, có thể tự mình bảo vệcác quyền lợi đó trước sự xâm hại bởi những hành vi vi phạm pháp luật của cácchủ thể khác trên thị trường chứng khoán Phương thức bảo vệ này xuất phát từ
từ lí thuyết chung về quyền lợi, theo đó, trong một quan hệ phát luật quyền lợicủa chủ thể này chỉ được thực hiện được thông qua việc thi hành các nghĩa vụtương ứng của chủ thể kia trong quan hệ pháp luật đó Ví dụ, quyền của nhà đầu
tư được mua chứng khoán với chất lượng tốt nhất từ tổ chức phát hành chỉ cóthể được thực hiện được khi tổ chức phát hành tuânt thủ các nghĩa vụ do luậtđịnh như nghĩa vụ về công bố thông tin, nghĩa vụ chào bán chứng khoán ra công
Trang 21chúng, nghĩa vụ phân phối chứng khoán một cách công bằng, công khai và minhbạch cho các nhà đầu tư theo quy định chung của pháp luật…Nói cách khác, nhànước công nhận quyền lợi của các nhà đầu tư bằng cách quy định các nghĩa vụ
cụ thể cho các chủ thể khác có quan hệ trực tiếp với nhà đầu tư trên thị trườngchứng khoán
Bằng các quy định công nhận quyền, Nhà nước có đã thừa nhận các nhómquyền lợi cơ bản của nhà đầu tư phát sinh từ các mối quan hệ cơ bản như: (i)Nhóm quyền lợi của nhà đầu tư phát sinh từ mối quan hệ giữa nhà đầu tư và chủthể phát hành; (ii) Nhóm quyền lợi của nhà đầu tư phát sinh từ mối quan hệ giữanhà đầu tư và chủ thể trung gian; (iii) Nhóm quyền lợi của nhà đầu tư phát sinh
từ mối quan hệ giữa các nhà đầu tư với nhau; (iv) Nhóm quyền lợi của nhà đầu
tư phát sinh từ mối quan hệ giữa nhà đầu tư và chủ thể khác trên thị trườngchứng khoán
- Nhà nước thực hiện cơ chế bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư bằng cách ban hành các quy định về đảm bảo thực hiện quyền của các nhà đầu tư, thông
qua hoạt động quản lý nhà nước đối với các chủ thể và đối với thị trường Đây làcác quy định tạo ra căn cứ pháp lý cho hoạt động quản lý, giám sát thị trường;thể hiện sự chủ động từ phía Nhà nước trong vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu
tư Các quy định này bao gồm các vấn đề về hoạt động giám sát, kiểm tra, thanhtra của Nhà nước, từ đó đưa ra những giải pháp để duy trì, ổn định thị trường,bảo vệ nhà đầu tư Việc bảo vệ không chỉ trực tiếp hướng tới từng quyền lợi củanhà đầu tư khi xảy ra sự cố hoặc những hành vi có nghi vấn gây tổn hại cho nhàđầu tư mà còn là biện pháp thanh lọc, tạo ra sự an toàn và lành mạnh cho thịtrường Nói một cách khác, các quy định về bảo đảm thực hiện quyền của cácnhà đầu tư có tác dụng bảo vệ lần thứ hai, tức là duy trì và đảm bảo cho khảnăng thực hiện trên thực tế của các quy định về công nhận quyền, từ đó, bảo vệcho quyền lợi nhà đầu tư Những quy định này cùng với hệ thống các quy định
về công nhận quyền, tạo ra một cấu trúc bảo vệ hợp lý và toàn diện, từ việc đưa
ra các hành lang pháp lý đến việc kiểm soát và bảo vệ hành lang đó
- Nhà nước thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư thông qua
Trang 22việc quy định phương thức xử lý các vi phạm và giải quyết các tranh chấp phát
sinh trên thị trường chứng khoán Bằng cách này, Nhà nước không chỉ thiết lập
được trật tự kỷ cương trong quản lý thị trường chứng khoán và trừng phạtnghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm quyền lợi của nhà đầu tư trên thịtrường chứng khoán, mà còn góp phần đảm bảo cho nhà đầu tư bảo vệ được cácquyền lợi hợp pháp, chính đáng của mình trước hành vi xâm hại của các chủ thểkhác
Tóm lại, việc giới thiệu khái quát các cơ chế trên đây trong việc bảo vệquyền lợi nhà đầu tư là rất cần thiết Sự giới thiệu khái quát này sẽ tạo tiền đềcho việc phân tích, đánh giá tác động, hiệu ứng của Luật chứng khoán trước yêucầu bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Trang 23CHƯƠNG II NHỮNG HIỆU ỨNG CỦA LUẬT CHỨNG KHOÁN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NHÀ ĐẦU TƯ
Với lịch sử hình thành và phát triển không dài, thị trường chứng khoánViệt Nam trong thời gian gần đây đã chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc, vớitổng giá trị vốn hoá của thị trường chiếm 30% GDP năm 2006, tăng 20 lần sovới năm 2005 và vượt xa con số dự báo chiếm 10% đến 15% GDP vào năm
2010 [23, tr.12] Trong bối cảnh TTCK phát triển mạnh mẽ và thậm chí là “quánóng” như vậy, vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư lại càng được quan tâm hơnbao giờ hết Trong chương này, chúng tôi chủ trương phân tích, đánh giá cáchiệu ứng, tác động của Luật chứng khoán trước yêu cầu bảo vệ quyền lợi củanhà đầu tư Các hiệu ứng này được phân tích và bình luận thông qua những vấn
đề chủ yếu như: các thay đổi của Luật so với các quy định cũ; khảo sát thựctrạng áp dụng và tính phù hợp của nó; chỉ ra các quy định còn trống, còn khiếmkhuyết hoặc còn bất cập mà nhà đầu tư quan tâm, được minh hoạ qua một số vụviệc thực tế diễn ra gần đây trên thị trường chứng khoán Việt Nam
1 Hiệu ứng của các quy định công nhận quyền lợi của nhà đâu tư trên thị trường chứng khoán
1.1 Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trong mối quan hệ với chủ thể phát hành
Trong pháp luật hiện hành về chứng khoán và thị trường chứng khoán,các quy định về chủ thể phát hành chiếm giữ một vai trò quan trọng, bởi nó đặtnền tảng, cơ sở pháp lý cho việc tạo ra hàng hóa chứng khoán có chất lượng chothị trường, đồng thời đảm bảo cho thị trường tăng trưởng ổn định thông qua việcbảo đảm quyền lợi cho các nhà đầu tư chứng khoán
Ở mức độ khái quát, có thể hình dung sự tác động của các quy định Luậtchứng khoán đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư liên quan đến tổ chứcphát hành, được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, đối với các quy định về điều kiện phát hành chứng khoán Đây
là nhóm quy định đầu tiên hướng tới mục tiêu kiểm soát khả năng tham gia thị
Trang 24trường chứng khoán của tổ chức phát hành Nhóm quy định này có nhiệm vụ đặt
ra các điều kiện cụ thể đối với các tổ chức muốn phát hành chứng khoán ra côngchúng, nhằm đảm bảo chất lượng của chứng khoán được phát hành cũng nhưđảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư chứng khoán Tuy nhiên, sự bảo đảm này làkhông mấy chắc chắn, bởi lẽ không ai có thể bảo đảm rằng tổ chức phát hànhluôn kinh doanh tốt và có tình hình tài chính lành mạnh trong suốt quá trình kinhdoanh, kể từ khi phát hành chứng khoán ra công chúng
Thứ hai, đối với các quy định về trình tự, thủ tục phát hành chứng khoán
ra công chúng Đây là cơ sở pháp lý tạo ra sự công bằng và bình đẳng cho cácnhà đầu tư, tránh trường hợp chủ thể phát hành thực hiện những cách thức có thểtạo nên sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư, từ đó gây thiệt hại cho quyềnlợi của các nhà đầu tư Trong một số trường hợp, đợt phát hành sẽ bị đỉnh chỉhoặc huỷ bỏ khi quá trình phát hành không tuân theo thủ tục luật định Đây cũng
là một phương cách cần thiết và hiệu quả để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trên thịtrường chứng khoán
Thứ ba, đối với quy định về công bố thông tin Đây là cơ sở pháp lý tạo ra
khả năng cho người đầu tư tiếp cận được với nguồn thông tin chính thống mộtcách bình đẳng và minh bạch Đối với hoạt động đầu tư chứng khoán, việc banhành các quy định về công bố thông tin được coi như một cách thức hữu hiệu đểbảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư Bên cạnh đó, cần phải nói thêm rằng thông tin
là một yếu tố có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động đầu tư chứngkhoán, vì vậy thời điểm nắm bắt thông tin và nguồn thông tin chính xác có ảnhhưởng mang tính quyết định đến sự thành bại của kế hoạch đầu tư Điều này chophép khẳng định rằng việc quy định nghĩa vụ công bố thông tin và minh bạchhóa thông tin trên thị trường chứng khoán là giải pháp hiệu quả để bảo đảmquyền lợi cho các nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán
Thứ tư, đối với quy định về một số hành vi khác của chủ thể phát hành.
Đây là những quy định liên quan đến tổ chức, quản trị và điều hành công ty đạichúng và ít nhiều có tác động đến quyền lợi của các nhà đầu tư trên thị trườngchứng khoán, chẳng hạn như các quy định về quản trị công ty, quy định về việc
Trang 25công ty mua lại cổ phiếu của chính mình… Các quy định này nhằm tạo ra sựcông khai minh bạch trong hoạt động của công ty, đảm bảo an toàn cho hoạtđộng của công ty để trên cơ sở đó bảo đảm cho các quyền lợi chính đáng củanhà đầu tư khi tham gia thị trường chứng khoán.
Trước khi Luật chứng khoán ra đời, Nghị định 144/2003/NĐ-CP được coi
là văn bản pháp luật quy định thống nhất và toàn diện nhất về chứng khoán vàthị trường chứng khoán ở Việt Nam Trong văn bản này, các quy định về tổchức phát hành có liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư cũng đãđược dự liệu khá đầy đủ và rõ ràng Khi Luật chứng khoán năm 2006 được banhành, mặc dù cũng có một số thay đổi và bổ sung nhưng các quy định tương ứngcủa đạo luật này hầu như vẫn điều chỉnh theo tinh thần của điều luật cũ Cụ thể,các vấn đề này được quy định trong Luật chứng khoán ở điều 12 (điều kiện chàobán chứng khoán ra công chúng); điều 16 (báo cáo tài chính); điều 21 (phânphối chứng khoán); điều 22 (đình chỉ chào bán chứng khoán ra công chúng);điều 23 (huỷ bỏ chào bán chứng khoán ra công chúng); điều 102 (công bố thôngtin của tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng); điều 103(công bố thông tin của tổ chức niêm yết)…Trong các điều luật này, có một sốthay đổi khá quan trọng liên quan đến quy định về điều kiện chào bán chứngkhoán ra công chúng, quy định về công ty đại chúng
Về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng, khoản 1 điều 12 Luậtchứng khoán quy định điều kiện về quy mô vốn của công ty cổ phần là 10 tỷ, sovới điều kiện cũ trong khoản 1 điều 6 Nghị định 144/2004/NĐ-CP là 5 tỷ Sựthay đổi này sẽ là hạn chế hơn cho các công ty cổ phần muốn chào bán chứngkhoán nhưng mặt khác quy định này cũng làm tăng sự bảo đảm an toàn cho nhàđầu tư khi tham gia đầu tư chứng khoán
Về công ty đại chúng, đây là khái niệm hoàn toàn mới và lần đầu tiênđược quy định trong Luật chứng khoán năm 2006 Theo văn bản này, công tyđại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba hình thức: Công ty đã thực hiệnchào bán cổ phiếu ra công chúng; công ty có cổ phiếu được niêm yết tạiSGDCK hoặc TTGDCK; công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư
Trang 26sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đãgóp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên [4, điều 25] Cùng với quy định này làcác quy định về chào mua công khai theo điều 32 Luật chứng khoán và các quyđịnh này tỏ ra có ý nghĩa tích cực trong việc bảo vệ các cổ đông thiểu số trongcác giao dịch thâu tóm doanh nghiệp Ngoài ra, việc quy định mở rộng nghĩa vụcông bố thông tin cũng có nghĩa là tăng thêm quyền lợi cho nhà đầu tư.
Thực tế thị trường phi tập trung ở Việt Nam không mang đúng nghĩa củamột thị trường OTC (over the counter) - thị trường thương lượng của các công
ty môi giới chứng khoán thực hiện các giao dịch qua hệ thống điện thoại và hệthống vi tính đã được nối mạng giữa các thành viên trong cả nước hoặc trongmột khu vực Các giao dịch diễn ra hiện nay ngoài TTGDCK thường là các giaodịch trực tiếp giữa các nhà đầu tư, thường được gọi là thị trường trao tay - “chợđen” Các giao dịch trên thị trường này không được quản lý, tự phát từ cách thứcđến giá cả, nên nhà đầu tư có thể gặp phải rất nhiều rủi ro Các rủi ro đó cũng cóthể do các công ty cổ phần gây nên Theo Diễn đàn doanh nghiệp, bài viết về
“báo động đỏ” OTC (ngày 26/3/2007) cho biết:
Giám đốc Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, ông Trần ĐắcSinh cho rằng, đã đến lúc phải “báo động đỏ” với thị trường OTC ở Việt Nam.Theo ông Sinh, hiện chưa có bất cứ sự kiểm soát nào đối với việc phát hành cổphiếu của các doanh nghiệp chưa niêm yết Thậm chí, một số công ty đã tự ýchia nhỏ mệnh giá để thu hút nhà đầu tư Các công ty cổ phần đăng ký đại chúng
là rất ít Bản thân các ngân hàng và các công ty chứng khoán cũng chưa đăng ký,trong khi, công ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại cổ phần chính làcác công ty đại chúng Khi các doanh nghiệp này huy động vốn bằng cách pháthành thêm cổ phần, do không được lưu ký qua công ty chứng khoán nên giá cả
do doanh nghiệp tự quyết định… Theo đó, việc đăng ký công ty đại chúng làviệc làm rất cấp bách và cần thiết Sau khi đăng ký công ty đại chúng, thì tất cảcông ty cổ phần đại chúng đều phải lưu ký và mua bán chứng khoán theo Nghịđịnh 14/NĐ-CP/2007 về hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán Nghị định nàyquy định, tất cả việc mua – bán cổ phiếu phải được thông qua các công ty chứng
Trang 27khoán có lưu ký [28]
Như vậy, quy định về công ty đại chúng sẽ góp phần quản lý một sốlượng lớn công ty cổ phần chưa niêm yết, là nguồn cung cấp hàng hoá phổ biếncho thị trường OTC, để từ đó hạn chế và “hạ nhiệt” thị trường này, bảo vệ quyềnlợi cho nhà đầu tư
Có thể nhận thấy rằng một số thay đổi trong quy định về tổ chức pháthành của Luật chứng khoán có ý nghĩa tích cực đối với vấn đề bảo vệ quyền lợinhà đầu tư Việc pháp luật mở rộng phạm vi quyền lợi cho các nhà đầu tư là hợp
lý nhưng công nhận thôi chưa đủ, Nhà nước còn cần có những biện pháp hiệuquả và kịp thời để những quyền đó được thực hiện và tôn trọng Trong thực tếvẫn xảy ra việc những quy định này bị vi phạm, sẽ được làm rõ hơn trong phầncác quy định về thanh tra, giám sát và các quy định về xử lý vi phạm pháp luậttrên thị trường chứng khoán
1.2 Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trong mối quan hệ với chủ thể trung gian trên thị trường chứng khoán
Với nguyên tắc trung gian, hoạt động đầu tư chứng khoán được thực hiệnvới sự tham gia hỗ trợ của một chủ thể rất đặc trưng là các chủ thể trung giantrên thị trường chứng khoán Các chủ thể này có vai trò vô cùng quan trọng trênthị trường chứng khoán, đặc biệt là thị trường thứ cấp, nơi các giao dịch đượcthực hiện với khối lượng và tần suất rất cao Các trung gian trên thị trườngchứng khoán có thể đóng vai trò là người môi giới, người tư vấn, người kinhdoanh hoặc người bảo lãnh phát hành chứng khoán.Khi thực hiện những nghiệp
vụ kinh doanh của mình, trung gian chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ vớinhà đầu tư, vì thế, rất nhiều quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động củachủ thể này có ý nghĩa, tác dụng bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư Một cách kháiquát, có thể hình dung hiệu ứng của các quy định này đối với việc bảo vệ quyềnlợi của nhà đầu tư được thể hiện trên những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, hiệu ứng của các quy định về điều kiện thành lập và hoạt động
của chủ thể trung gian trên thị trường chứng khoán Các quy định hiện hành củaLuật chứng khoán cho thấy rằng việc hành nghề trung gian trong hoạt động kinh
Trang 28doanh chứng khoán phải đáp ứng nhiều điều kiện và trình tự thủ tục chặt chẽhơn hẳn các trung gian khác theo quy định của Luật Thương Mại Để được cấpgiấy phép kinh doanh chứng khoán, chủ thể trung gian phải tuân thủ điều kiện
về vốn pháp định, về cơ sở vật chất, kỹ thuật, quy định về chứng chỉ hànhnghề… Lí do của các quy định này là hoạt động kinh doanh chứng khoán có độrủi ro quá lớn, đòi hỏi chủ thể kinh doanh chứng khoán phải có một tiềm lực tàichính dồi dào, cơ sở vật chất đầy đủ và trình độ nghiệp vụ cần thiết để tiến hànhcác hoạt động trung gian mà không gây ra cản trở, nhiễu loạn cho thị trường vàkhông gây ảnh hưởng bất lợi đến quyền lợi của nhà đầu tư Theo quy định tạiĐiều 62 Luật chứng khoán năm 2006, Luật chứng khoán thắt chặt thêm điềukiện về cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập so với quy định trước đây Cụthể, nếu là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trườnghợp đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinhdoanh; nếu là pháp nhân phải đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tàichính để tham gia góp vốn Quy định này nhằm bảo đảm cho hoạt động củacông ty chứng khoán không bị tác động bởi những chủ thể có nhiều khả nănggây ra những vi phạm trên thị trường và tổn hại cho quyền lợi của nhà đầu tư.Bên cạnh đó, điều kiện về vốn pháp định không được quy định cụ thể trong luật
mà được giao cho Chính phủ quy định bằng Nghị định để có thể thay đổi kịpthời và phù hợp với yêu cầu thực tế Hiện nay, theo điều 18 Nghị định 14/2007/NĐ-CP của Chính phủ, mức vốn pháp định của tất cả các nghiệp vụ đều tănghơn so với quy định trước đây Điều này sẽ làm tăng thêm sự bảo đảm choquyền lợi của nhà đầu tư [12, điều 18] Trong nhóm quy định này còn cần phải
kể đến một số quy định liên quan đến cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập củacông ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ Theo quy định hiện hành, các cổđông sáng lập hay thành viên sáng lập “không được chuyển nhượng cổ phầnhoặc phần vốn góp của mình trong thời hạn ba năm, kể từ ngày được cấp giấyphép thành lập và hoạt động, trừ trường hợp chuyển nhượng cho cổ đông sánglập, thành viên sáng lập khác trong công ty” Nếu so với quy định tại Khoản 5Điều 84 Luật doanh nghiệp 2005 về vấn đề này thì quy định của Luật chứng
Trang 29khoán tỏ ra chặt chẽ hơn Chắc chắn trong mọi trường hợp sự chuyển nhượngnày chỉ diễn ra giữa các cổ đông và thành viên sáng lập Quy định này nhằmmục đích bảo đảm hoạt động của công ty chứng khoán được ổn định trongnhững khoảng thời gian mới thành lập, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi củanhà đầu tư
Xung quanh các điều kiện để trở thành trung gian chứng khoán, thiết nghĩcũng cần phải đề cập đến một vấn đề đang được bàn cãi và quan tâm nhiều trongthời gian vừa qua, đó là các trung gian cá nhân Theo quy định hiện hành củaLuật chứng khoán thì môi giới chứng khoán là hoạt động của công ty chứngkhoán [4, điều 6] Điều này đồng nghĩa với việc Luật chứng khoán không chophép cá nhân được hành nghề môi giới chứng khoán với tư cách của chính mình.Tuy nhiên, trên thực tế các hành vi môi giới của cá nhân vẫn diễn ra phổ biến,đặc biệt là trên thị trường OTC mà không hề được kiểm soát và quản lý Các nhàđầu tư nhỏ với trình độ hiểu biết thị trường còn kém, không quan tâm lắm đếnchuyện những người môi giới cho mình có được phép tiến hành các hoạt động
đó hay không, vì thế họ vẫn liều lĩnh thực hiện các giao dịch chứng khoán màkhông nghi ngờ gì về rủi ro của nó Mỗi ngày, sự phát triển của thị trường chứngkhoán cũng kéo theo việc hình thành một đội ngũ các nhà môi giới cá nhân bấthợp pháp và được giới đầu tư gọi với cái tên “cò” cổ phiếu Nếu theo cách thứchoạt động của họ như hiện nay thì bên cạnh vai trò môi giới – mua bán chứngkhoán cho khách hàng, họ còn đóng vai là những người trung gian dắt mối, tìmnguồn hàng, và thậm chí là cả người tư vấn đầu tư, người được “thuê” để đầu tưchứng khoán hộ cho các nhà đầu tư Thực tế cho thấy hoạt động của những “cò”kiểu này không hiếm, thậm chí ngày càng hoạt động một cách chuyên nghiệphơn, có liên hệ với nhau chặt chẽ hơn để trao đổi thông tin Theo nguồn tin từVnexpress, đội ngũ “cò” này luôn túc trực ở các công ty chứng khoán để tìmmối mua bán, như ở sàn SSI của công ty chứng khoán Sài Gòn, trung bìnhkhông dưới 20 “cò” mỗi ngày luôn có mặt để tìm khách [29] Với hoạt độngtrung gian kiểu thời vụ như vậy, trong khi Nhà nước không cho phép mà cũngkhông xử lý triệt để thì nhà đầu tư là người chịu rủi ro nhiều nhất Nhưng họ
Trang 30cũng không có nhiều lựa chọn vì trên thị trường hiện nay các công ty chứngkhoán hầu hết đều lâm vào tình trạng quá tải dẫn đến tình trạng thanh lọc nhàđầu tư, phân biệt đối xử, thậm chí vi phạm những nguyên tắc cơ bản của thịtrường (sẽ được phân tích kỹ trong phần thực trạng các hoạt động nghiệp vụ củachủ thể trung gian), thì làm sao có thể cung cấp đủ dịch vụ cho số lượng nhà đầu
tư không nhỏ trên thị trường OTC – nơi vẫn được coi là phần chìm của tảngbăng thị trường chứng khoán
Thứ hai, hiệu ứng của các quy định về hoạt động nghiệp vụ trung gian.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, chủ thể trung gian trên thị trường chứngkhoán có thể thực hiện các hoạt động chính như tự doanh chứng khoán, môi giớichứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản
lý danh mục đầu tư chứng khoán và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Tuy nhiên,trong nhiều trường hợp việc thực hiện nhiều nghiệp vụ sẽ phát sinh mâu thuẫngiữa lợi ích của chủ thể trung gian và chủ thể đầu tư Ví dụ điển hình là trườnghợp chủ thể trung gian vừa tiến hành hoạt động tự doanh, vừa thực hiện nghiệp
vụ môi giới chứng khoán Để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, pháp luật hiện hànhkhông chỉ quy định rõ các nghiệp vụ của từng loại chủ thể trung gian là công tychứng khoán, công ty quản lý quỹ mà còn quy định cụ thể về cách thức, trình tựthực hiện các nghiệp vụ đó để nhà đầu tư có thể tự mình giám sát hoạt động củacác chủ thể trung gian Theo quy định của Luật chứng khoán năm 2006, có sựtách bạch khá rõ ràng giữa hoạt động của công ty chứng khoán và công ty quản
lý quỹ, theo đó công ty chứng khoán chỉ được thực hiện bốn nghiệp vụ kinhdoanh, gồm tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán, môi giớichứng khoán; còn hai nghiệp vụ quản lý quỹ và quản lý danh mục đầu tư sẽ docông ty quản lý quỹ thực hiện Với quy định này, pháp luật đã thể hiện vai tròtích cực trong việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, tránh khỏi các xung đột lợiích với công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Thực tế hiện nay cho thấy, công ty chứng khoán là chủ thể trung gianđược nhắc đến nhiều nhất tại Việt Nam, không chỉ bởi khả năng tăng trưởng vàphát triển nhanh chóng của nó mà còn bởi mối quan hệ với nhà đầu tư đang có
Trang 31rất nhiều vấn đề Theo kiến nghị, phản hồi của nhà đầu tư trên các báo và cáctrang web điện tử thời gian vừa qua, các công ty chứng khoán đã thực hiện nhiềuhành vi gây thiệt hại đáng kể cho quyền lợi của nhà đầu tư nhưng chưa được các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý Trên báo Đầu tư chứng khoán,trong nhiều số liền xuất hiện các bài báo về vấn đề “VIP” trên sàn đầu tư, phảnánh sự phân biệt đối xử của công ty chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư cótiềm lực kinh tế khác nhau trên thị trường Trong bài viết “Hạng thương gia” củatác giả Anh Ngọc trên báo Đầu tư chứng khoán số 20 ra ngày 8/3/2007 có viết:
“Lãnh đạo một CTCK lớn thừa nhận, một lệnh do khách VIP đặt có thể có giátrị lớn hơn tất cả các lệnh của đám đông nhà đầu tư cá nhân chen lấn xô đẩyhàng ngày cộng lại Phí giao dịch lớn thu được từ khách VIP khiến CTCKkhông có lý do gì mà không o bế, chiều chuộng tầng lớp này” Sự o bế, chiềuchuộng này được CTCK thực hiện như thế nào, trong bài “Đằng sau cái bóngcủa VIP” của tác giả Bùi Sưởng và Kim Lam thực hiện phỏng vấn một nhà đầu
tư cho biết: ngay tại CTCK, lợi ích của VIP được thể hiện rõ nét, không chỉ ngồiphòng riêng, máy riêng mà được tư vấn đầu tư, nhận lệnh trực tiếp với nhân viêncông ty chứng khoán trong khi các nhà đầu tư nhỏ lẻ chấp chới không biết
“đường vào” Trong bài “Khi thượng đế khóc ròng”, tác giả Thuỳ Vinh chobiết: “Nhà đầu tư nhỏ không thể tìm được một nhà môi giới theo đúng nghĩa,thậm chí không thể tìm được một “nhà nhập lệnh” chân chính theo đúng nghĩa.Nhiều công ty chứng khoán còn duy trì tình trạng ưu tiên đặt lệnh cho các “đạigia” trước, mặc dù họ đặt lệnh sau nhiều nhà đầu tư khác Chính điều này tạo ra
sự đối xử thiếu công bằng giữa nhà đầu tư vốn ít và vốn nhiều” [27, tr.11] Đâymới chỉ là một vài ví dụ nhỏ cho những phản ánh của cả những người trong giới
và ngoài giới đầu tư về vấn đề gây rất nhiều bức xúc đang diễn ra trên thị trườngchứng khoán hiện nay Và, một câu hỏi lớn được đưa ra là với sự phân biệt đối
xử này, môi trường đầu tư chứng khoán có còn công bằng không, có minh bạchhay không và có thực sự an toàn cho các nhà đầu tư hay không Thực chất, dành
ưu tiên với những khách hàng quan trọng không phải hành vi sai, nhưng công tychứng khoán chỉ được phép thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và bằng những