1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế tài đối với người không trực tiếp nuôi con để bảo vệ quyền được cấp dưỡng của con khi cha mẹ ly hôn

25 558 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 39,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hòa giải nhiều lần nhưngvẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, hoặc bỏ nhau mà vẫn cóhành vi ngược đãi, hành hạ, xúc ph

Trang 1

ĐỀ TÀI: Chế tài đối với người không trực tiếp nuôi con

để bảo vệ quyền được cấp dưỡng của con khi cha mẹ

ly hôn theo Luật HN & GĐ 2014.

LỜI NÓI ĐẦUGia đình là tế bào của xã hội Chúng ta không thể xây dựng một xã hội bền vững, tốt đẹptrên một nền tảng có những tế bào bị hỏng Nên muốn cho xã hội tốt thì trước tiên và cốtyếu là phải xác lập được một quan hệ vợ chồng hạnh phúc, vì đó là hạt nhân quan trọngtạo nên tế bào Song không phải lúc nào việc xây dựng đó cũng mang ý nghĩa trọn vẹnnhư ban đầu, nếu như kết hôn là một hiện tượng xã hội bình thường thì ly hôn có thể coi

là hiện tượng bất bình thường nhưng không thể thiếu được khi cuộc sống vợ chồng rơivào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhânkhông đạt được thì ly hôn chính là lối thoát cho cuộc sống không còn tình cảm của hai vợchồng

Cùng với sự phát triển của xã hội, ly hôn xuất hiện ngày càng nhiều và ngày càng được

xã hội quan tâm vì những hậu quả nặng nề, không mong muốn của nó Khi vợ chồng lyhôn, người phải gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất không ai khác mà là con cái Vì hoàncảnh, vì những bất đồng quan điểm sống của cha mẹ mà những người con không thể cùngmột lúc nhận được sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng của cả cha và mẹ Đáng nói hơnnữa, có những trường hợp cha mẹ ly hôn khi con còn quá nhỏ, lẽ ra phải được yêu thươngtrong một gia đình êm ấm lại phải chịu cảnh gia đình tan nát, nếu không có sự bảo vệ sẽrất dễ đánh mất cả tuổi thơ và tương lai.Vì vậy, vấn đề rất được xã hội quan tâm hiện nay

là bảo vệ quyền lợi của những đứa con khi cha, mẹ chúng ly hôn Cụ thể hơn, nếu cha mẹ

có thể đạt được thỏa thuận chung cùng nuôi con, tức là các con vẫn thường xuyên nhậnđược sự hỗ trợ, chăm sóc và tư vấn về những vấn đề quan trọng từ cả cha lẫn mẹ thì sẽgiảm thiểu các tác động tiêu cực từ ly hôn tới con cái Pháp luật đã thể hiện vai trò tíchcực và quan trọng của mình trong việc điều tiết các mối quan hệ xã hội thông qua việcLuật HN&GĐ 2014 ra đời nhằm bảo vệ những đứa trẻ vô tội này Những nội dung cơ bảnđược quy định trong Luật: nguyên tắc giao con cho ai nuôi là vì quyền lợi mọi mặt củacon; quy định mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng nuôi con, quyền trông nom con;

Trang 2

quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con khi quyền lợi mọi mặt của con khôngđược đảm bảo Thiết nghĩ, trong điều kiện kinh tế thị trường ngày nay, khi đạo đức xã hội

ở một bộ phận cộng đồng đang bị xuống dốc, đã ảnh hưởng trực tiếp đến truyền thống tốtđẹp của gia đình Việt Nam Trên thực tế, ở nước ta hiện nay, đã xảy ra không ít trườnghợp vợ hoặc chồng sau ly hôn bỏ mặc không quan tâm, đến cuộc sống của con cái, khôngthực hiện trách nhiệm cấp dưỡng của họ đối với con Nhiều vụ kiện diễn ra xoay quanhmâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ giữa người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng màtrong đó liên quan tới trường hợp vợ chồng sau ly hôn chiếm không hề nhỏ Vì lý do trên,trong khuôn khổ đề tài cho phép với khả năng còn hạn chế, nhóm xin lựa chọn và trìnhbày vấn đề: “Chế tài đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng có nghĩa vụ cấp dưỡngcho con trong trường hợp (vợ chồng) cha mẹ ly hôn” Theo nhóm, cần tìm hiểu xemnhững nguyên tắc nào đã được Toà án áp dụng, những gì đã làm được và chưa làm được

và những giải pháp thích hợp để qua đó đánh giá nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật cấpdưỡng

I Khái quát chung về chế tài đối với người không trực tiếp nuôi con để bảo vệ quyền được cấp dưỡng của con khi cha mẹ ly hôn theo Luật HN & GĐ 2014.

1 Một số khái niệm

1.1 Khái niệm về “Chế tài”

Chế tài được hiểu là một bộ phận quy phạm pháp luật mà nhà nước dự kiến ápdụng đối với chủ thể không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước được nêu ở phần quyđịnh của quy phạm pháp luật Chế tài nêu lên những hậu quả bất lợi đối với chủ thể viphạm pháp luật Để xác định bộ phận chế tài trong quy phạm pháp luật, thông thườngnhững nội dung nào trong quy phạm trả lời cho câu hỏi chủ thể phải chịu hậu quả gì nếukhông thực hiện đúng nội dung của phần quy định sẽ là nội dung của bộ phận chế tàitrong quy phạm đó1

Theo tính chất của sự phản ứng pháp lý đối với vi phạm phần quy định, có thểphân các chế tài thành: chế tài hình phạt, chế tài khôi phục, chế tài phủ định pháp luật

1 Tập bài giảng Lý luận về Pháp luật, trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, khoa Luật Hành chính – Nhà

nước, trang 50,51.

Trang 3

Theo mức độ xác định, chế tài được phân thành chế tài xác định tuyệt đối, chế tàixác định tương đối và chế tài lựa chọn.

Theo tiêu chí các ngành luật, chế tài được phân thành chế tài hình sự, chế tài hànhchính, chế tài dân sự,…2

1.2 Khái niệm “Quyền được cấp dưỡng của con khi cha mẹ ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình 2014”

Để hiểu khái niệm này, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “ly hôn” và khái niệm

“cấp dưỡng”

1.2.1 Khái niệm “ly hôn”:

Sơ lược về căn cứ ly hôn trong pháp luật của chính quyền ngụy quyền Sài gòntrước 1975 (ở Miền Nam):

Luật gia đình 1959 của Ngô Đình Diệm quy định cấm ly hôn, chỉ cho ly thân, trừmột số trường hợp phải có tổng thống xét là tối đặc biệt mới cho ly hôn Để biện hộ choquy định này Trần Lệ Xuân nêu lý do: cấm ly hôn nhằm bảo vệ và củng cố gia đình, dànhthời gian xoa dịu các mối bất hòa, cho đôi bạn có cơ hội đoàn tụ, làm cho thanh niên lựachọn bạn đời thận trọng hơn

Đến năm 1964, sau khi chính quyền bị lật đổ lúc này mới đề nghị xét lại quy địnhtrên Do vậy, Bộ Dân luật 1972 của chính quyền Thiệu đã quy định vợ chồng có thể xin

ly hôn vì ba duyên cớ: vì sự ngoại tình của bên kia; bên kia bị kết án trọng hình vềthượng tội; vợ chồng ngược đãi, không thể ăn ở với nhau.3

Hiện nay, khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Ly hôn là

việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án” Trước đó, theo quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy

định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định

theo yêu cầu của vợ hoặc chồng của cả hai vợ chồng” Căn cứ để Tòa án ra quyết định ly

hôn là theo khoản 1 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình 2000 nếu xét thấy tình trạng trầmtrọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được

2 http://kiemtailieu.com/van-ban-luat/tai-lieu/li-luan-chung-nha-nuoc-va-phap-luat/2.html.

3 http://www.tailieuontap.com/2013/01/khai-niem-hau-qua-cua-viec-ly-hon.html.

Trang 4

Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như: người nàochỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thìsống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở nhiều lần

- Vợ chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau như: thường xuyên đánh đập,

có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của

họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hòa giải nhiều lần

- Vợ chồng không chung thủy với nhau: có quan hệ ngoại tình, đã được người vợhoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhỏ, khuyênbảo nhưng vẫn có quan hệ ngoại tình

- Đời sống chung không thể kéo dài: Để có cơ sở nhận định đời sống chung của

vợ chồng không thể kéo dài thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đến mứctrầm trọng như thế nào Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hòa giải nhiều lần nhưngvẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, hoặc bỏ nhau mà vẫn cóhành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau thì có căn cứ để nhận định đời sống chungcủa vợ chồng không thể kéo dài được

- Mục đích của hôn nhân không thể đạt được: là không có tình nghĩa vợ chồng,không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền vợ chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm,

uy tín vợ chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ chồng; khônggiúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.4

1.2.2 Khái niệm “Cấp dưỡng”:

Theo khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “Cấp dưỡng là việc một

người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này”.

4 Mục 8 Nghị Quyết 02/2000/NQ – HĐTP ngày 23/12/2000 của Toà án nhân dân tối cao.

Trang 5

Cấp dưỡng là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong pháp luật hôn nhân giađình để thể hiện mối quan hệ ràng buộc về quyền và nghĩa vụ giữa những người khôngchung sống với nhau nhưng đang có hoặc đã có quan hệ gia đình trong việc đảm bảo cuộcsống cho những người chưa thành niên, những người đã thành niên nhưng trong tìnhtrạng mất hoặc bị suy giảm sút khả năng lao động, không có thu nhập hoặc không có tàisản hoặc tuy có nhưng không đủ để đảm bảo cuộc sống của mình

Ngoài ra, cấp dưỡng còn được hiểu theo nghĩa là hình thức biểu hiện bên ngoàicủa một nghĩa vụ pháp lí, nội dung của nó bao gồm: quyền cấp dưỡng, nghĩa vụ cấpdưỡng, chủ thể của quan hệ cấp dưỡng và khách thể của quan hệ cấp dưỡng Cấp dưỡngcòn có biện pháp chế tài đối với người có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nuôidưỡng

Từ hai khái niệm trên, có thể hiểu “Quyền được cấp dưỡng của con khi cha mẹ ly

hôn theo Luật hôn nhân và gia đình 2014” là quyền được yêu cầu hỗ trợ vật chất bao gồm

tiền hoặc tài sản khác từ người không sống chung nhưng có quan hệ huyết thống hoặcnuôi dưỡng để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của người có quyền trong trường hợp người

có quyền là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng laođộng và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quyđịnh của luật

2 Sự cần thiết để bảo vệ quyền được cấp dưỡng của con

Suy cho cùng, việc xây dựng chế định quyền được cấp dưỡng của con dựa trên cácquyền cơ bản của con người: sinh ra và sống Mỗi người đều có quyền sống và xã hộiphải tạo điều kiện thuận lợi cho con người thực hiện quyền sống của mình Một trongnhững điều kiện vật chất sơ cấp của sự sống là có cái gì đó để ăn, để mặc, để ở,…đó lànhững nhu cầu thiết yếu của một người Lại nói rằng trong quan hệ cha mẹ - con thìkhông lệ thuộc vào tính chất quan hệ giữa cha và mẹ Bởi vậy, sau khi ly hôn, ngườikhông trực tiếp nuôi con vẫn phải luôn có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảonhững nhu cầu thiết yếu của con được đáp ứng một cách trọn vẹn Nhưng trên thực tếhiện nay, có một số người làm cha làm mẹ sau khi ly hôn đã trốn tránh nghĩa vụ cấp

Trang 6

dưỡng Đứng trước yêu cầu chính đáng và bức bách của con mình như đang bị đói và cần

có gì đó để ăn, đang bệnh và cần ít tiền để chi phí thuốc men, thì người có nghĩa vụ cấpdưỡng lại tỏ ra thờ ơ, không có một động thái gì cho thấy thiện chí đáp ứng lại hoặc cótrường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng hứa suông, không đáp ứng cụ thể các yêu cầucủa người được nuôi dưỡng Đứng trên quan niệm dành những gì tốt nhất cho trẻ em vàtôn vinh những giá trị đạo đức truyền thống, cần có những chế tài trừng trị những ngườitrốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng của mình Thông qua việc bảo vệ quyền được cấp dưỡngcủa con, không chỉ nói lên được tính nhân đạo mà còn có thể giáo dục tinh thần “tươngthân tương ái” trong xã hội Vì cấp dưỡng chính là sợi xích gắn kết các thành viên tronggia đình và làm thức tỉnh ở họ ý thức trách nhiệm đối với nhau, từ đó tạo ra một cộngđồng có trách nhiệm

3 Cơ sở pháp lý:

Thật vậy, gia đình là tế bào của xã hội, muốn xã hội tốt đẹp trước hết gia đình cần phảihạnh phúc Nhưng, trong thời đại hiện nay, vấn đề tranh chấp, bất đồng quan điểm giữa

vợ chồng ngày càng nhiều dẫn đến các vụ ly hôn có số lượng ngày càng tăng Khi xảy ra

ly hôn, quan hệ hôn nhân chấm dứt, quan hệ nhân thân giữa vợ chồng có thể chấm dứt trừtrường hợp do một bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng với lý do chính đángthì bên còn lại có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình được quy định tại Điều

115 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; nhưng đối với quan hệ tài sản, có một nghĩa vụ cấpdưỡng cho con của cha, mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng con không thể chấm dứt được.Bởi lẽ, khi cha mẹ ly hôn, người gánh chịu nhiều mất mát, tổn thương hằn sâu nhất không

ai khác ngoài người con của họ Chế định cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn sẽ đảm bảohơn cho con được hưởng sự quan tâm, chăm sóc cả về vật chất và tinh thần của ngườikhông trực tiếp nuôi dưỡng mình Tuy nhiên, trên thực tế ở nước ta hiện nay đã xảy rakhông ít trường hợp vợ hoặc chồng không trực tiếp nuôi dưỡng con mà bỏ mặc, khôngquan tâm, thờ ở không thực hiện trách nhiệm cấp dưỡng của họ đối với con Do đó, việcquy định chế tài để đảm bảo quyền và lợi ích của người con trong quan hệ cấp dưỡng làrất quan trọng, có ý nghĩa cho sự tồn tại và phát triển người con cũng như mối quan hệ ổnđịnh của xã hội

Trang 7

3.1 Chế tài dân sự

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi dưỡng,nhà nước ta đã xây dựng một hành lang pháp lý cần thiết để đảm bảo cho nghĩa vụ cấpdưỡng được thực hiện Chế định cấp dưỡng trong hệ thống pháp luật hiện hành đã tạo ramột cơ chế pháp lí cần thiết hướng hành vi ứng xử cho mỗi người có nghĩa vụ liên quanđến gia đình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo đúng quy định và là cơ sở pháp lý để giảiquyết khi có yêu cầu về cấp dưỡng Theo Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình

2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” Bởi

lẽ, khi không sống chung với con thì đối với người con tình cảm của cha mẹ dành chomình không còn trọn vẹn nữa, do đó, chế định cấp dưỡng cho con cũng góp phần vàoviệc cha, mẹ không trực tiếp nuôi con bù đấp một phần vật chất lẫn tinh thần cho con củamình Trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng không tự nguyện thực hiện nghĩa

vụ cấp dưỡng thì sẽ bị Toà án buộc thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 119 LuậtHôn nhân và gia đình 2014:

“1 Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3 Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó”.

Trang 8

Có thể thấy rằng, ngoài Tòa án ra quyết định buộc thực hiện nghĩa vụ ra thì còn cócác chủ thể khác cũng có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người không trực tiếpnuôi dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nhằm hạn chế những thiếu sót mà Tòa ánkhông thể bao quát hết được mà thông qua những chủ thể này để giám sát người khôngtrực tiếp nuôi dưỡng phải thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình Nghĩa vụ cấpdưỡng của người không trực tiếp nuôi con là không thể trốn tránh Khi không sốngchung, thì nghĩa vụ bù đắp tổn thất cho con mình là một điều đương nhiên phải thực hiện– đó không chỉ là nghĩa vụ mà nó còn là tình cảm thiêng liêng của cha, mẹ dành chongười con của mình; do đó, nếu không thực hiện thì sẽ bị Tòa án yêu cầu buộc phải thựchiện nghĩa vụ cấp dưỡng Tuy nhiên, trong thực tế xã hội nước ta, “cái tình mạnh hơn cáilý” nên hầu như không ai đi kiện cha, mẹ mình để yêu cầu cha, mẹ phải thực hiện nghĩa

vụ cấp dưỡng vì điều đó không phải là nét văn hóa người Việt Nam nên đó cũng chính là

lý do khiến việc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con sau khi ly hôn của ngườikhông trực tiếp nuôi dưỡng xảy ra rất nhiều Nên ngoài việc được quy định tại Luật Hônnhân và gia đình 2014 thì theo Nghị định số 70/2001/NĐ - CP ngày 03/10/2001 ở Điều

20 cũng đã quy định về việc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng:

“1 Trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình mà không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thì theo yêu cầu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình 2000, Toà

án ra quyết định buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó Thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì thời điểm đó được tính từ ngày ghi trong bản án, quyết định của Toà án.

2 Trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Toà án không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình, thì người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó Thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được tính từ ngày ghi trong bản án, quyết định của Toà án.

Trang 9

3 Theo quyết định của Toà án, cơ quan, tổ chức trả tiền lương, tiền công lao động, các thu nhập thường xuyên khác cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng có trách nhiệm thực hiện việc khấu trừ khoản cấp dưỡng để chuyển trả cho người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó theo đúng mức và phương thức cấp dưỡng do người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó và người có nghĩa vụ cấp dưỡng thoả thuận hoặc theo mức và phương thức cấp dưỡng do Toà án quyết định”.

Nghị định số 70 hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã quy định cụ thể

về việc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của người không tự nguyện thực hiện nghĩa

vụ, cùng với các biện pháp cưỡng chế là buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

3.2 Chế tài hành chính

Nhà nước ta ban hành các quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định:

giấy tờ để đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi; hành hạ, ngược đãi, xúc phạm danh

dự, nhân phẩm ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và các thành viên khác trong gia đình; lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi; không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ giám hộ hoặc có các hành vi khác vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Điều 12 Nghị quyết số 87/2001/NĐ-CP ngày 21-11-2001 của Chính phủ về xử phạt hànhchính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình quy định:

chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn, anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật.

2 Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cha mẹ, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật”

Tuy nhiên, hiện nay, khi Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Nghị định 126 quy định chitiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã có hiệu lực thì

Trang 10

Nghị đinh số 70 cũng như các Nghị định khác hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và giađình 2000 cũng hết hiệu lực Như vậy, liệu những chế tài này có còn được áp dụng trongthực tiễn xét xử khi chưa có quy định nào hiện nay quy định về việc buộc thực hiện nghĩa

vụ cấp dưỡng này?

3.3 Chế tài hình sự

Cùng với những chế tài dân sự và hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình,Điều 152 Bộ luật hình sự năm 1999 còn quy định chế tài hình sự cho hành vi từ chối hoặctrốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng:

“Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố

ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lí hành chính thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

Theo Thông tư số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC về “Các tộixâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” tại tiểu mục 8.2 mục 8 thì có khả năng thực tế để

thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là “trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng có tiền, tài

sản hoặc thu nhập có khả năng bảo đảm cuộc sống của gia đình với mức sống trung bình

ở địa phương” Hành vi trốn tránh hoặc từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng thường được biểu

hiện bằng việc không chịu đóng góp tiền, tài sản để cấp dưỡng mặc dù có khả năng thực

tế để thực hiện nghĩa vụ đó Trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng không điềukiện cấp dưỡng là do hoàn cảnh khách quan thì không cấu thành tội phạm này Bên cạnh

đó, chúng ta cũng phải lưu ý rằng chỉ có thể truy cứu hình sự về trách nhiệm này khi có

đủ các dấu hiệu sau:

+ Người vi phạm là người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật HN &

GĐ (ở đây, khi ly hôn thì người không trực tiếp nuôi con là cha hoặc mẹ phải có nghĩa vụcấp dưỡng theo quy định của pháp luật);

+ Người vi phạm từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng Đây không phải làchủ thể đặc biệt, nhưng từng trường hợp cụ thể cho thấy, người phạm tội bao giờ cũng cóquan hệ nhất định với người bị hại Và là tội ít nghiêm trọng nên chỉ những người từ đủ

Trang 11

16 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm này (ở đây là nghĩa vụ của cha, mẹ đối vớicon của mình);

+ Việc cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng mà gây hậu quả nghiêmtrọng (tức là làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng,sức khoẻ như: ốm đau, bệnh tật, v.v…) hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này màcòn vi phạm Lỗi chủ quan phải là lỗi cố ý trực tiếp Nếu hành vi không cấp dưỡng đượcthực hiện do vô ý thì không cấu thành tội phạm này Cũng theo Thông tư này về tình tiết

“đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” đối với nhiều tội trong đó có

tội “từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” (Điều 152 BLHS), Bộ luật hình sự có quy định tình tiết "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" trong cấu

thành tội phạm, do đó, cần chú ý:

Bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" nếu trước đó

người nào đã bị xử phạt hành chính hành vi trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi làchưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính màlại thực hiện chính hành vi đó hoặc thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trongđiều luật tương ứng đó Việc hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính là hếtthời hạn do pháp luật xử phạt vi phạm hành chính quy định Theo quy định tại Điều 10Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạmhành chính, nếu quá một năm, kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngàyhết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm, thì được coi như chưa bị xửphạt vi phạm hành chính

Vậy, chỉ khi có đủ 3 dấu hiệu trên thì mới có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối vớiviệc cha, mẹ không trực tiếp nuôi con cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡngcho con của mình sau khi ly hôn

Ngoài ra, trong thực tế, chúng ta cũng có khả năng nhầm lẫn giữa việc áp dụng Điều 152

và Điều 304 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Thực ra, nếu cóviệc không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn của bất kì một bên chahoặc mẹ không trực tiếp nuôi con thì chúng ta đều có thể áp dụng 1 trong 2 chế tài ấy tùyvào từng căn cứ, cơ sở cho phù hợp Đối với Điều 152 thì chúng ta căn cứ vào các cơ sở

Trang 12

như nhóm đã phân tích phía trên, còn đối với Điều 304 thì ngay từ tiêu đề tên điều luật ta

đã thấy rõ nội hàm về “Tội không chấp hành án” như sau: “Người nào cố ý không chấp

hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu một người theo

quyết định của một bản án đã có hiệu lực pháp luật, phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng,

đã bị cơ quan thi hành án yêu cầu cấp dưỡng nhưng người đó vẫn cố tình không chấphành, mặc dù đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết thì người đó bị truy cứu tráchnhiệm hình sự theo tội không chấp hành án

Tóm lại, các chế tài mà pháp luật định ra bao gồm tất cả chế tài về dân sự, hành chính hayhình sự đều nhằm mục đích cuối cùng là bảo vệ người được cấp dưỡng, cụ thể ở đây làbảo vệ người con khi cha, mẹ của chúng ly hôn mà chúng chỉ sống với một bên cha hoặc

mẹ thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng để đảm bảo tất cả cáclợi ích của người con

4 Ý nghĩa của việc qui định các chế tài

Khi có các chế tài về cấp dưỡng thì đó là căn cứ pháp lý quan trọng để Tòa án cóthể ra quyết định xử lý các trường hợp “trốn tránh” hoặc “từ chối” nghĩa vụ cấp dưỡng.Khi bản án quyết định của Tòa án về việc cấp dưỡng có hiệu lực, người có nghĩa vụ cấpdưỡng có tể tự nguyện thi hành trong một khoảng thời gian nhất định, nếu không tựnguyện thực hiện thì sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quyết định của Tòa án

Qui định nhiều loại chế tài về cấp dưỡng từ chế tài dân sự, hành chính, hình sự là

để áp dụng pháp luật trong nhiều trường hợp khác nhau Đối với trường hợp không tựnguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì chỉ bị áp dụng chế tài dân sự, hành chính để răn

đe Tuy nhiên từ việc không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng dẫn đến việc là những thiệt hại

về tính mạng, sức khỏe, tinh thần và những thiệt hại khác cho người được cấp dưỡng vàcho xã hội Đối với những trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng thì cần phải áp dụng chếtài hình sự đối với những người không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng dẫn đến hậu quảnghiêm trọng Cho nên cần qui dịnh nhiều loại chế tài về cấp dưỡng

Ngày đăng: 13/07/2015, 21:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w