1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bảo vệ quyền lợi trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ luật hôn nhân và gia đình năm 2000

54 568 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời góp phần tích cực và quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn với những nội dung cơ bản như: Quy định về nguyên tắc giao

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 36 (2010 – 2014)

ĐỀ TÀI

“BẢO VỆ QUYỀN LỢI TRẺ EM KHI CHA MẸ

LY HÔN Ở GÓC ĐỘ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA

ĐÌNH NĂM 2000”

Giảng viên hướng dẫn:

ThS THẠCH HUÔN

BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

Cần Thơ, 11 - 2013

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

LỜI NÓI ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Bố cục của đề tài 7

CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TRẺ EM KHI CHA MẸ LY HÔN 9

1.1 Khái quát chung về quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn 9

1.1.1 Một số khái niệm liên quan 9

1.1.2 Sự cần thiết của việc bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn 13

1.1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu pháp luật trong việc bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn 15

1.1.4 Pháp luật quốc tế với vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em 17

1.2 Bảo vệ quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ ly hôn dưới góc độ xã hội và dưới góc độ pháp luật 18

1.2.1 Về góc độ xã hội 18

1.2.2 Về góc độ pháp luật 19

CHƯƠNG 2 : QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRẺ EM KHI CHA MẸ LY HÔN 23

2.1 Quyền nhân thân của trẻ em khi cha mẹ ly hôn 23

2.2 Quyền tài sản của trẻ em khi cha mẹ ly hôn 24

2.2.1 Quyền được thừa kế 24

2.2.2 Quyền được có tài sản riêng 25

2.2.3 Quyền được cấp dưỡng 27

2.3 Quyền được chăm sóc, giáo dục của trẻ em khi cha mẹ ly hôn 29

2.4 Quyền trẻ em trong trường hợp cha mẹ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn mà ly hôn 34

2.4.1 Quy định của pháp luật về vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn 34

2.4.2 Quyền trẻ em trong trường hợp cha mẹ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn mà ly hôn 36

CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN VỀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM KHI CHA MẸ LY HÔN TẠI VIỆT NAM 38

3.1 Thực trạng về việc bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn tai Việt Nam 38

Trang 5

3.2 Những thành tựu và hạn chế khi áp dụng pháp luật bảo vệ quyền trẻ em khi

cha mẹ ly hôn 42

3.2.1 Những thành tựu khi áp dụng pháp luật bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn 42

3.2.2 Một số hạn chế trong việc áp dụng pháp luật bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn 45

3.3 Một số hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn 48

3.3.1 Về vấn đề hoàn thiện pháp luật 48

3.3.2 Về vấn đề tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật 50

KẾT LUẬN 52

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 6

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình hạnh phúc kéo theo sự phát triển xã hội Nhưng trong cuộc sống có nhiều biến cố và khi cuộc sống chung của vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể kéo dài nữa, mục đích của hôn nhân không đạt được thì ly hôn là một Tất yếu Tình trạng ly hôn xảy ra ngày càng phổ biến cùng với những hệ lụy của nó ngày càng được xã hội quan tâm Bởi hậu quả pháp lý và xã hội mà nó để lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến một đối tượng rất cần được bảo vệ quyền lợi đó là những đứa con Những đứa trẻ ngây thơ vốn cần sự yêu thương, chăm sóc của cha mẹ trong một gia đình hạnh phúc Nếu không có sự bảo vệ sẽ rất dễ đánh mất cả tuổi thơ

và tương lai Trong khi đó trẻ em là lực lượng nồng cốt, là tương lai của đất nước nên khi cuộc sống và tương lai của chúng bị ảnh hưởng là mối quan tâm của toàn xã hội

Do đó, pháp luật đóng vai trò không thể thiếu bảo vệ những đứa trẻ vô tội này Đây cũng là nguyên tắc cơ bản, là nội dung xuyên suốt trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời góp phần tích cực và quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn với những nội dung cơ bản như: Quy định về nguyên tắc giao con cho ai nuôi vì quyền lợi mọi mặt của con; Quy định về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng nuôi con, quyền thăm nom con; Quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con khi quyền lợi mọi mặt của con không được đảm bảo Tuy nhiên, bên cạnh những tác dụng lớn lao mà nguyên tắc đem lại, trên thực tế vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do nhiều nguyên nhân khác nhau Vậy, trên thực tế, nguyên tắc đó đã được Toà án áp dụng như thế nào, những gì đã làm được và chưa làm được, những giải pháp thích hợp để nguyên tắc đó được áp dụng hiệu quả trong các vụ ly hôn là một vấn

đề rất cần được quan tâm Hòa vào sự quan tâm đó người viết với sự giúp đỡ của quý

Thầy Cô, các Anh Chị và Bạn Bè người viết đã chọn đề tài: ‘‘Bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn ở góc độ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000’’ làm đề tài nghiên cứu

cho luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Hiểu được các quy định cụ thể và tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 về việc bảo vệ quyền lợi trẻ em khi cha mẹ ly hôn Tìm hiểm thực trạng vấn đề, trên cơ sở nghiên cứu người viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng hiệu quả việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi trẻ em khi cha mẹ ly hôn

Trang 7

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của đề tài người viết nghiên cứu một số nét khái quát chung những vấn đề lý luận, những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em khi cha

mẹ ly hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn này, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích đối chiếu thu thập tài liệu, phương tiện tổng hợp, thống

kê, so sánh để làm rõ vấn đề nghiên cứu

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

+ Chương 1: Lý luận chung về quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn

+ Chương 2: Quy định của pháp luật về quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn

+ Chương 3: Thực trạng và hướng hoàn thiện về việc bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn tại Việt Nam

Trang 8

LỜI CẢM ƠN

Thế là đã sắp hoàn thành chương trình đại học, nhiều kiến thức kinh nghiệm có buồn có vui, bất ngờ và cơ hội Học hỏi được nhiều thứ và nhìn sự việc một cách có biện chứng tuy không hoàn toàn nhưng ít nhiều thấy không bỡ ngỡ nữa Nhưng cũng còn không ít vướng mắc khó khăn lẫn hối tiếc vì lý do chủ quan hay khách quan Nhận thấy còn quá nhiều điều phải học hỏi thêm Khoa Luật trường Đại Học Cần Thơ nơi cho em kiến thức chuyên môn và thực tế, có các Thầy Cô tận tụy, vui tính, nghiêm khắc… Đã tạo nền tảng cho em trong suốt thời gian học tập ở trường

Qua luận này, em xin gởi lời cám ơn đến gia đình những người đã yêu thương chăm sóc và hỗ trợ em Cám ơn các anh chị và các bạn đã sát cánh và chia sẽ buồn vui trong suốt quá trình học Cám ơn tất cả Thầy Cô đã cho em kiến thức cùng những kinh nghiệm thực tiễn đặc biệt là Thầy Cô của khoa Luật Đại Học Cần Thơ

Đặc biệt, em xin gởi lời cám ơn chân thành đến Thầy Thạch Huôn người đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp Bằng tất cả tấm lòng thành em xin chúc quý Thầy Cô luôn dồi dào sức khỏe, nhiều niềm vui và thành

công trong công việc lẫn cuộc sống

Trang 9

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TRẺ EM KHI CHA MẸ LY HÔN

1.1 Khái quát chung về quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

* Ly hôn:

Khi cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không thể tiếp tục thì ly hôn là một kết quả tất yếu, đây là vấn đề được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm Bởi những hậu quả mà nó để lại là hết sức nặng nề, không còn bó hẹp ở phạm vi gia đình mà nhân rộng ra toàn xã hội làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước Từ khi pháp luật ra đời những quy định tương tự như ly hôn đã xuất hiện, bởi vì quan hệ chủ đạo trong xã hội là quan hệ hôn nhân gia đình Khi quan hệ chủ đạo lâm vào tình trạng không thể kéo dài thì ly hôn là điều không thể tránh khỏi và pháp luật đưa ra quy định

để điều chỉnh là rất cần thiết Ở mỗi hình thái xã hội trong lịch sử quan điểm và quy định về ly hôn không giống nhau Bởi vì, mỗi giai cấp thống trị đều đưa ra những quy định để bảo vệ tối đa cho giai và chế độ của mình C.Mác nói: Pháp luật là ý chí của gia cấp thống trị được đề lên thành luật Vì vậy, khi các hình thái kinh tế xã hội thay đổi theo hướng ngày càng tiến bộ thì vấn đề ly hôn ngày càng được nhìn nhận một

cách tiến bộ

- Đặc trưng của của quan hệ hôn nhân dưới chế độ phong kiến là tư tưởng trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn ông, chế độ đa thê và những quy định hà khắc, những căn cứ bất bình đẳng về ly hôn Nếu ở một xã hội mà hôn nhân không do sự tự nguyện của hai bên thì ly hôn chỉ là một thứ công cụ bảo vệ hệ tư tưởng và lợi ích của chế độ phong kiến Ở chế độ này, người chồng tự cho mình cái quyền bỏ vợ với những lý do bình thường như: Không có con, ghen tuông, lắm lời Trong khi đó, người vợ không có quyền bỏ chồng khi cảm thấy cuộc hôn nhân không hạnh phúc, dù cuộc sống vật chất lẫn tinh thần có tội tệ đến đâu

- Trong xã hội tư sản, những quy định về quan hệ Hôn nhân và gia đình có những bước tiến bộ mới như: Tự do yêu đương, hôn nhân một vợ một chồng, tự do ly hôn… Tuy nhiên, nhìn vào bản chất, những quy định trên vẫn không thoát khỏi hệ tư tưởng của giai cấp tư sản do bị ràng buộc bởi những quy định ngăn cấm của nhà làm

luật Vì vậy những quy định này chỉ mang tính hình thức Lê Nin nói: “Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, quyền ly hôn cũng như tất cả mọi quyền dân chủ khác, không loại trừ một quyền nào đều không thể thực hiện một cách dễ dàng được, nó lệ thuộc vào nhiều điều kiện, bị giới hạn, bị thu hẹp và có tính chất hình thức” Có thể thấy rõ điều đó qua

quy định về căn cứ ly hôn: Việc ly hôn thường căn cứ vào lỗi của một bên đương sự Lỗi là căn cứ quyết định sự tồn tại của cuộc hôn nhân và ai có quyền xin ly hôn Như vậy, không cần quan tâm đến tình trạng cuộc hôn nhân, cuộc sống của gia đình trong

Trang 10

thời gian dài ra sao, chỉ cần một bên có lỗi, cuộc hôn nhân có căn cứ chấm dứt Ly hôn không được phản ánh đúng bản chất chỉ là hình thức

- Trong xã hội Xã hội chủ nghĩa, quy định của ly hôn đã phản ánh đúng bản chất của vấn đề Nếu như hôn nhân là kết tinh của tình yêu và sự đồng thuận của hai bên nam nữ thì ly hôn là lối thoát khi cả hai không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân nữa Đó

là cơ hội để làm lại cuộc đời, thoát khỏi đau khổ, bất hạnh Bởi vì bản chất của ly hôn:

“chỉ là việc xác định một sự kiện: Cuộc hôn nhân này chỉ là một cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối” và bởi vì: “Tự do ly hôn tuyệt đối có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh”

Đứng trên quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa Mác - Lê Nin Khoản 8 Điều

8 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 : “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hay của cả hai vợ chồng” Điều này có nghĩa quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý đã chấm dứt ngay trong

lúc cả vợ và chồng đều còn sống khi được Tòa án công nhận Đây là biện pháp cuối cùng mà pháp luật cho phép thực hiện trong trường hợp cuộc sống vợ chồng lâm vào tình trạng khủng hoảng không thể khắc phục bằng biện pháp nào khác Đảm bảo quyền

tự do ly hôn là một nội dung quan trọng của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ

đã được ghi nhận tại Điều 64 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và được cụ thể hóa tại Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 Tuy nhiên, tự do ly hôn không phải là tự do một cách tùy tiện mà phải dựa vào những căn cứ luật định Theo khoản 1

Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” Ly hôn là

hành vi có ý chí của vợ chồng trên cơ sở yêu cầu của vợ hoặc chồng hay cả hai vợ chồng; Ngoài ra không chủ thể nào khác có quyền yêu cầu ly hôn Việc giải quyết ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân

sự

Như vậy, trong các thời kỳ khác nhau, khái niệm ly hôn được hiểu khác nhau về bản chất Ở chế độ phong kiến và tư sản ly hôn chỉ được nhìn nhận dưới góc độ tiêu cực: Do lỗi của một bên gây ra, thì ở chế độ Xã hội chủ nghĩa nó được nhìn nhận ở một khía cạnh tích cực: Là lối thoát cho cuộc sống bế tắc của vợ chồng Vì vậy căn cứ

ly hôn và vai trò của cơ quan xét xử ở các thời kỳ khác nhau cũng rất khác nhau Ở thời kỳ phong kiến và tư bản, cơ quan xét xử không quan tâm nhiều đến cuộc sống tình

cảm của vợ chồng có chấm dứt chưa mà chỉ cần xem xét “lỗi” mà các bên đưa ra có

đúng và hợp lý không Vì vậy, việc xét xử hoàn toàn thụ động Còn ở chế độ độ Xã hội chủ nghĩa tòa án với vai trò là người thứ ba nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, đi

Trang 11

vào bản chất của vấn đề để quyết định mở ra một lối thoát hay giữ lại cuộc sống bình yên sau những quyết định nhất thời của vợ chồng

* Trẻ em:

Mỗi trẻ em là con người với những đặc điểm riêng về thể chất và tâm lí Những đặc điểm và khả năng của trẻ em khác nhau theo lứa tuổi và sự trưởng thành Do hạn chế nhận thức từ cuộc sống nên trẻ em rất dễ bị lợi dụng, dụ dỗ và những điều bất lợi khác, rất cần sự bảo vệ, giúp đỡ của người lớn đặc biệt là gia đình

Theo công ước Liên hợp Quốc vì quyền trẻ em đã ghi nhận “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niêm sớm hơn” Theo pháp luật Trung quốc quy định tài Điều 2 Luật bảo vệ người chưa thành niên: “Trẻ em còn được gọi là trẻ chưa thành niên, là công dân dưới

18 tuổi” Tại Điều 4 Luật phúc lợi trẻ em năm 1947 của Nhật bản cũng quy đinh trẻ

em là người dưới 18 tuổi Theo Điều 1 pháp Luật Liên ban Nga số 124 – FZ ngày 21/07/1998 (sửa đổi) thì trẻ em được hiểu là người ở độ tuổi dưới 18 Nhưng theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định khác hơn so với công ước cụ

thể tại Điều 1: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Việc quy định khác của

luật Việt Nam đã thu hẹp đối tượng được định nghĩa trẻ em

* Quyền trẻ em:

Quyền trẻ em là quyền con người được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng và tính chất cuộc sống trẻ em Quyền trẻ em được xây dựng dựa trên nhu cầu, đặc điểm của trẻ em, nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của trẻ em Quyền trẻ

em được cụ thể hóa trong công ước Liên hợp Quốc Thông qua năm 1989, Công ước quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi và bao gồm:

+ Quyền được sống còn: Bao gồm quyền của trẻ em được sống cuộc sống bình

thường và được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất để tồn tại và phát triển thể chất

Đó là mức sống đủ, có nơi ở, ăn uống đủ chất, được chăm sóc sức khoẻ Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi ra đời

+ Quyền được phát triển: Gồm những điều kiện để trẻ em có thể phát triển đầy

đủ nhất về cả tinh thần và đạo đức, bao gồm việc học tập, vui chơi, tham gia các hoạt động văn hoá, tiếp nhận thông tin, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo Trẻ

em cần có sự yêu thương và cảm thông của cha mẹ để có thể phát triển hài hoà

+ Quyền được bảo vệ: Bao gồm những quy định như trẻ em phải được bảo vệ

chống tất cả các hình thức bóc lột lao động, bóc lột và xâm hại tình dục, lạm dụng ma tuý, sao nhãng và bị bỏ rơi, bị bắt cóc và buôn bán Trẻ em còn được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào thư tín và sự riêng tư Quyền được bảo vệ bao gồm cả không bị tra tấn, đánh đập và lạm dụng trong trường hợp trẻ em làm trái pháp luật hay bị giam giữ

Trang 12

+ Quyền được tham gia: Tạo mọi điều kiện cho trẻ em được tự do bày tỏ quan

điểm và ý kiến về những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của mình Trẻ em còn có quyền kết bạn, giao lưu và hội họp hoà bình, được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn thông tin và chọn lựa thông tin phù hợp

- Công ước vì quyền trẻ em của Liên hợp Quốc 1989: Khẳng định trẻ em là chủ thể của các quyền, không đơn giản chỉ là đối tượng được quan tâm hoặc dành cho các dịch vụ phúc lợi, chúng được hướng các quyền của mình thông qua hoạt động của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân Quyền trẻ em trong công ước của Liên hợp Quốc năm

1989 đã bao quát được tất cả các khía cạnh của quyền trẻ em bao gồm: Quyền sống còn, quyền đượ bảo vệ, quyền đượ phát triển, quyền được tham gia một số biện pháp bảo vệ giành dành cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

- Trong pháp luật Việt Nam: Hiến Pháp 1992 ghi nhận quyền trẻ em là quyền được chăm sóc, bảo vệ,1 nhấn mạnh quyền được giáo dục giáo dục là quốc sách hàng đầu,2 luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cũng đã nói rõ quyền cơ bản

và bổn phận của trẻ em.3 Bộ Luật trong lĩnh vực dân sự gồm: Quyền, nghĩa, vụ và những bảo đảm pháp lý Luật quốc tịch Việt Nam, Bộ Luật dân sự 2005 có những quy định riêng nhằm xác định địa vị pháp lý của trẻ em với tư cách là một cá nhân nên có quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và thiên liên nhất của trẻ em Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân là phải đáp ứng nhu cầu căn bản nhất của trẻ em để trẻ em có thể phát triển một cách toàn diện

* Đối tượng được bảo vệ quyền lợi khi cha mẹ ly hôn:

Đề tài này người viết hướng tới đối tượng được quy định là trẻ em theo Luật Việt Nam là dưới 16 tuổi Ở độ tuổi này thì nhận thức cũng như khả năng tự tạo cuộc sống cho mình chưa hoàn thiện việc quy định này rất phù hợp với tình trạng thực tế

Do luật không nói rõ là trẻ em có bao gồm thai nhi hay không nên người viết mở rộng thêm đối tượng này Tức là nếu xác định đứa bé đã thành thai thì khi cha mẹ ly hôn việc bảo vệ quyền lợi thai nhi sẽ được áp dụng như một trẻ em Đối tượng kế tiếp là con trên 16 tuổi theo luật định nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Điều này rất hợp lý thể hiện tính nhân đạo và công bằng về mặt pháp lý góp phần giảm bớt những hoàn cành thương tâm và gánh nặng xã hội Một đối tượng nữa cũng được đề cập đến là con nuôi

theo Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con và người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hôi Giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi có các quyền, nghĩa vụ

Trang 13

của cha mẹ và con theo quy định của Luật này” Theo quy định của pháp luật trẻ em

được nhận làm con nuôi phải là người từ 15 tuổi trở xuống Người trên 15 tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự… Trong đó, trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em đó Để bảo vệ quyền lợi trẻ em, pháp luật đã quy định, người nhận con nuôi phải có đủ các điểu kiện sau:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

hạ cha, mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình; Dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp, mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; Có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

Trong trường hợp vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi thì vợ chồng đều phải có đủ điều kiện quy định nêu trên

Các đối tượng trên là những đối tượng trong đề tài người viết muốn đề cặp tới trong việc bảo vệ quyền lợi khi cha mẹ ly hôn

1.1.2 Sự cần thiết của việc bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn

Gia đình tập hợp các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng Khi ly hôn quan hệ hôn nhân chấm dứt nhưng quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng vẫn còn Trên phương diện pháp lý, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đã không còn nhưng quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đối với con cái vẫn không thay đổi Trên phương diện đạo đức, cha mẹ là người sinh thành ra con cái phải có trách nhiệm chăm sóc và giáo dục con chưa thành niên, con cái không thể tự lo cho mình, không phụ thuộc vào hoàn cảnh của cha mẹ Khi ly hôn, vợ chồng đã tìm thấy lối thoát cho bản thân nhưng lại không tránh khỏi gây ra đau khổ, thiệt thòi cho con cái Khi đã quyết định ly hôn thì vợ và chồng đã muốn tìm cho mình một cuộc sống riêng không can dự vì đến đối phương nữa Đó là hậu quả pháp lý mà trẻ em phải chịu,

để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em, pháp luật quy định con chỉ được sống với một người

và đó là người có khả năng đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho trẻ Còn người còn lại phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách gián tiếp thông qua hình thức cấp dưỡng

Sự thiệt thòi còn thể hiện về mặt tinh thần, khi gia đình có nhiều con và cha hoặc mẹ

Trang 14

không đủ sức nuôi tất cả các con thì một người sẽ lựa chọn đứa con nào phù hợp với điều kiện mình, để chăm sóc chúng tốt nhất, dẫn đến cảnh chia rẽ anh em, làm mất đi tình cảm anh chị em vốn đã gắng bó gần gũi, trẻ em sẽ mất đi tiếng cười sự chia sẽ từ người thân

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con vẫn không hề thay đổi nhưng cách thức thể hiện sẽ thay đổi vì con chỉ sống với một người, đặc biệt là đối với người không trực tiếp nuôi con Đứa con chỉ được sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp bởi một người và người kia thể hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách gián tiếp Đối với người không trực tiếp nuôi con, trẻ chỉ nhận được chăm sóc, nuôi dưỡng qua việc thăm nom, cấp dưỡng Đây là một sự cố gắng bù đắp, chứ không thể lấp đầy sự thiếu thốn về tình cảm lẫn vật chất Chính những hậu quả pháp lý đó đã gây ra những hậu quả về mặt xã hội rất nặng nề, ảnh hưởng tới cuộc sống và sự pháp triển của các

em Và trong những lần bất hòa của cha mẹ đôi khi dẫn đến những hậu quả nặng nề

cho những đứa con vô tội Ví dụ như vụ án: “Người vợ vì giận chồng mà ôm 2 con cùng nhảy xuống sông tự vẫn, xảy ra ở xã Hòa Bình huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình ngày 03/05/2009 dẫn đến cái chết thương tâm của 2 bé trai một đứa 9 tuổi và một đứa

9 tháng tuổi Do chồng ngoại tình với người yêu cũ bỏ bê hành hạ vợ con nên trong phút nóng giận người vợ không làm chủ hành động của mình nên quyết định tự vẫn cùng 2 con nhưng người vợ lại không chết, hậu quả là cái chết của 2 đứa con vô tội, cuối năm 2009 Tòa án tỉnh Thái bình đã xử lý vụ việc, người đàn bà kia lãnh án tội và nhỏ những giọt nước mắt xót thương 2 đứa con vô tội nhưng liệu sự hối hộn hận đó có

phát từ cuộc sống không hạnh phúc của vợ chồng, mức độ khác nhau những hậu quả

mà những đứa con phải gánh chịu thật quá bất công và nguy hiểm cho nhận thức và sự phát triển của chúng Trẻ rơi vào tình trạng bất an, lo lắng, có cảm giác bị bỏ rơi, có những trường hợp rơi vào trầm cảm hoặc thay đổi trở thành một con người khác và hành động một cách cảm tính Điều này rất nguy hiểm, không những ảnh hưởng đến học tập mà còn có thể ảnh hưởng đến lối sống và hành vi của trẻ đối với xã hội… Những trẻ em sống trong gia đình ly hôn thường rất mặc cảm với cuộc sống xung quanh thường so sánh với bạn bè hay bị tâm lý bất ổn Nhìn xa hơn ở những trường hợp cha mẹ ly hôn mà cả hai đều chạy theo cuộc sống riêng của mình, những đứa con

sẽ rơi vào tình trạng bơ vơ, bị bỏ rơi thiếu thốn về vất chất lẫn tinh thần, sẽ rất dễ vướng vào những cạm bẫy, cám dỗ và rơi vào con đường phạm pháp

Bên cạnh đó, theo các báo cáo hàng năm "Tình trạng trẻ em trên thế giới", trẻ

em thường phải mang những gánh nặng và chịu sự đối xử không bình đẳng khi gia

4

Xa lộ pháp luật, Người đàn bà “ác quỷ” vì giận chồng, “ném” con thơ xuống sông,

http://xahoi.com.vn/an-ninh-hinh-su/toa-tuyen-an/nguoi-dan-ba-ac-quy-vi-gian-chong-nem-2-con-tho-xuong-song-146031.htm, [ngày truy cập 11 – 9 – 2013]

Trang 15

đình tan vỡ dẫn đến hang loạt vấn đề xã hội phát sinh mà hứng chịu nặng nề nhất là bản thân của những đứa trẻ Hầu hết ở các quốc gia trên thế giới đều đã có những văn bản pháp luật nhằm bảo vệ quyền trẻ em thì hàng ngày hàng giờ những quyền ấy vẫn tiếp tục bị xâm phạm

Do những thiệt thòi vượt qua sức chịu đựng của một đứa trẻ, những nguy cơ có thể vướng vào, những hậu quả xã hội mà các em phải chịu, bảo vệ trẻ em khi cha mẹ

ly hôn là việc làm rất cần thiết và cấp thiết đòi hỏi cả ý thức lẫn tình thương Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục xây dựng và bảo

vệ tổ quốc Nếu không được sự quan tâm của xã hội, sự bảo vệ của pháp luật thì khó

mà vung đắp một xã hội tốt đẹp mai sau

1.1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu pháp luật trong việc bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn

1.1.3.1 Là cơ sở pháp lý để nâng cao tinh thần trách nhiệm của cha mẹ

Theo quy đinh của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004

và các văn bản pháp luật quan trọng khác thì:

- Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch; Được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và nuôi dạy để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức; Được Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; Được bài tỏ ý kiến, nguyện vọng của mình về những vấn đề có liên quan; Được học tập và được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để phát triển năng khiếu và có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi…

- Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện, để các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

- Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em, đều bị nghiêm trị

- Trẻ em không nơi nương tựa, được Nhà nước và xã hội tổ chức chăm sóc, nuôi dạy

Đấy là nội dung mà các văn bản pháp lý về quyền trẻ em đã khẳng định Có thể thấy trẻ em là đối tượng rất được nhà nước quan tâm Đứng ở góc độ hôn nhân gia đình, nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục con cái là trách nhiệm của cha mẹ dù cuộc sống có khó khăn hay đầy đủ, cha mẹ hanh phúc hay không thể sống chung với nhau cũng không được từ chối trách nhiệm này Bởi cha mẹ là người sinh thành ra các con, cho con sự sống Sự vất vả, bận rộn luôn được động viên bởi suy nghĩ là để đem lại sự đầy đủ, niềm vui cho con, tạo cho con cuộc sống tốt về vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, khi hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt

Trang 16

được và dẫn đến ly hôn, gia đình tan vỡ vợ chồng có hướng đi riêng và phân chia quyền lợi cũng như kết thúc quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý, những đứa con rất dễ rơi vào tình trạng bị bỏ rơi hoặc chỉ nhận được một nửa sự yêu thương Để bảo vệ quyền lợi cho trẻ pháp luật đã quy định nuôi con không chỉ là quyền mà còn là nghĩa

vụ của cha mẹ Nuôi con là một nghĩa vụ luật định nhằm nâng cao trách nhiệm của người làm cha, mẹ, đặc biệt là khi họ đã ly hôn Đó cũng là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho con khi người làm cha mẹ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình

1.1.3.2 Sự tiếp nối truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc

Lịch sử đất nước ta từ xưa đến nay, tình cảm gia đình, tình mẫu tử, tình phụ tử luôn chiếm vị trí thiên liêng trong tâm hồn người mỗi người Người ta ca giá trị truyền thống cao đẹp này và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tháng 7 âm lịch hàng năm được gọi là tháng Vu lan báo hiếu cha mẹ, góp phần khắn khích thêm tình cảm gia đình Mùng 1 tết cha mùng 2 tết mẹ đây là dịp để những người con thể hiện sâu sắc hơn lòng yêu kính đối với ông bà và mùng 3 tết thầy là câu nói dân gian mà cha ông ta

để lại nhằm nhắc nhở thế hệ sau tưởng nhớ đến cội nguồn nhớ đến tổ tiên dù ở nơi đâu cũng về báo hiếu, chung vui với gia đình vào những ngày đặc biệt Dù cuộc sống vất

vả, lam lũ, dù đất nước chiến tranh liên miên nhưng giữa những khó khăn vẫn sáng loà tình cảm gia đình, tình yêu thương, sự hy sinh của cha mẹ cho con cái Nó đã kết tinh thành một giá trị tinh thần quý báu, đó là truyền thống dân tộc Ngày nay khi đất nước đang có những bước phát triển mới, truyền thống đó vẫn được tiếp nối và phát huy Khi xã hội càng phát triển, sự quan tâm của xã hội đến trẻ em ngày càng được chú trọng Chúng ta đang cùng nhau nỗ lực để xây dựng một nhà nước pháp quyền Sự ghi nhận nghĩa vụ nuôi con của cha mẹ trong pháp luật là một trong những biểu hiện của

sự tiếp nối truyền thống đạo đức dân tộc, đặc biệt là trong Luật Hôn nhân và gia đình Thể hiện tính nhân văn sâu sắc về một đất nước vững mạnh từ bên trong

1.1.3.3 Thể hiện tính chất công bằng, dân chủ, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa

Qua phân tích về bản chất của ly hôn dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã

thấy được sự tiến bộ của pháp luật Xã hội chủ nghĩa Việc quy định căn cứ ly hôn

không liệt kê ra các trường hợp cụ thể tức là khi đã nhìn nhận toàn diện vấn đề và cảm thấy cuộc hôn nhân đó là không thể cứu văn th́ì Toà mới cho phép ly hôn Quy định đó

đã hạn chế được rất nhiều trường hợp gia đình tan vì khi vợ chồng dù có xung đột nhưng chưa đến mức trầm trọng và còn cứu văn được Do vậy, số trẻ em phải chịu cảnh gia đình tan vỡ do những sai lầm nhất thời của cha mẹ cũng vì thế mà giảm đi Còn khi đã đủ căn cứ để ly hôn, thì việc duy trì một cuộc hôn nhân không hạnh phúc chỉ làm cho tình trạng gia đình càng trầm trọng thêm, và tất nhiên sẽ ảnh hưởng xấu đến những đứa con vốn là niềm hạnh phúc của gia đình thì việc ly hôn của cha mẹ ở

Trang 17

một khía cạnh nào đó cũng tốt hơn cho những đứa con Quy định về giao con cho ai nuôi cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việc giao con cho ai nuôi là vì lợi ích của con chứ không phải dựa vào lỗi của cha mẹ - căn cứ dẫn đến ly hôn trong pháp luật tư bản chủ nghĩa Trong mọi trường hợp th́ì quyền lợi của con luôn được đặt lên hàng đầu, đã thể hiện được bản chất nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa

1.1.4 Pháp luật quốc tế với vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em

Bảo vệ quyền lợi của trẻ không còn là trách nhiệm của mỗi gia đình mỗi quốc gia mà là của toàn thế giới, ngay từ xa xưa vấn đề này đã được quan tâm và tùy theo hình thái xã hội và tình hình cụ thể quyền lợi trẻ được thể hiện khác nhau

Ngày 10/2/1948 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua và tuyên bố NQ số 217A về Quyền con người Tại điều 25, Liên hợp quốc đã thông báo rằng: “Trẻ em có quyền được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt, tất cả trẻ em trong hay ngoài giá thú đều được hưởng sự bảo trợ xã hội như nhau” Đứng trước tình hình trẻ em bị ngượi đãi bị lạm dụng nghiêm trọng, lang thang cơ nhở đặc biệt là sau hai vụ thảm sát của phát xít Đức gây ra ở làng Liđisơ – Tiệp Khắc ngày 10/6/1942 và làng Ôrađua – Pháp ngày 10/6/1944, mấy trăm em thiếu nhi của hai làng bị giết hại, đã gây ra sự chấn động dư luận Tháng 2/1949 Hội phụ nữ châu Á họp ở Bắc Kinh đã có sáng kiến đề nghị Hội Phụ nữ dân chủ thế giới chọn một ngày thiếu nhi quốc tế để kêu gọi toàn thế giới đấu tranh chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình, bảo vệ nhi đồng và là ngày đoàn kết thiếu nhi quốc tế Trong một phiên họp đã quyết định chọn ngày 1/6 hàng năm là ngày

“Quốc tế bảo vệ thiếu nhi” và nhắc nhở mọi người tưởng nhớ vụ thảm sát man rợ ở

Liđisơ và Ôrađua Kể từ 1950 trở đi ngày 1/6 đã được tổ chức ở khắp thế giới Tháng 4/1952 Hội nghị bảo vệ thiếu nhi thế giới có 64 nước tham gia họp ở Viên – Áo đã nhất trí lấy ngày 1/6 chính thức là ngày Quốc tế bảo vệ thiếu nhi Điều đó khẳng định trẻ em là Đối tượng được nhân loại toàn thế giới luôn quan tâm Vì vậy ngày

20/11/1989 Liên hợp quốc đã thông qua và phê chuẩn “Công ước về quyền trẻ em” bao

gồm 54 điều khoản có hiệu lực từ ngày 20/11/1990 Trong lời mở đầu, công ước đã khẳng định: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông… trẻ em cần được chuẩn bị đầy đủ để sống cuộc sống cá nhân trong xã hội và cần được nuôi dưỡng theo tinh thần các lý tưởng được nêu ra trong hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt trong tinh thần hòa bình, phẩm giá, khoan dung, tự do, bình đẳng và đoàn kết”…

Có thể nói Công ước về quyền trẻ em là một công ước đầy sự tiến bộ xã hội, với tinh thần nhân đạo sâu sắc Công ước đã chỉ ra tất cả những quyền lợi mà trẻ em ở bất kỳ nơi nào trên thế giới đều được hưởng thụ để trưởng thành đúng nghĩa một con

người Có thể điểm qua những quyền trẻ em rất cơ bản của công ước như: “Không

Trang 18

phân biệt đối xử” – Điều 2, công ước quan tâm đến “lợi ích tốt nhất của trẻ em” – Điều 3, quyền “sống còn và phát triển” – Điều 6; “đoàn tụ gia đình” – Điều 10; Công ước còn quan tâm đến “mức sống” của trẻ em – Điều 27; “Bảo vệ trẻ em không gia đình” – Điều 20; “Lao động trẻ em” – Điều 22; “Lạm dụng ma túy” – Điều 23; “Chống buôn bán và bắt cóc” – Điều 35… Qua trên, có thể thấy tinh thần cao đẹp, tiến bộ,

cũng như sự cần thiết của công ước, nhằm bảo vệ và chăm sóc trẻ em Công ước nhắc nhở cho ta cái nhìn thực tế, tất cả chúng ta hãy vì một tương lai tốt đẹp của trẻ em, của bản thân mình, cũng chính vì một tương lai tốt đẹp của đất nước, của dân tộc, của nhân loại mà hành động cho đúng đắn, hãy yêu thương và dành những điều tốt đẹp cho sự

phát triển toàn diện của trẻ

1.2 Bảo vệ quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ ly hôn dưới góc độ xã hội và dưới góc

độ pháp luật

1.2.1 Về góc độ xã hội

Cùng với sự tiến bộ của xã hội thì ngày nay ly hôn đã được thừa nhận là kết quả tất yếu của cuộc hôn nhân tan vỡ Người ta nhìn nhận nó một cách thực tế và tích cực hơn Dưới góc độ pháp lý, ly hôn được ghi nhận là một chế định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, nó là cơ sở cho Tòa án và các bên đương sự giải quyết vấn đề ly hôn một cách thấu tình đạt lý, góp phần giúp con người thoát ra khỏi sự ràng buộc

không cần thiết khi tình cảm vợ chồng không còn

Sự bùng nổ bất hòa trong gia đình là một đề tài của sự lo âu đối với đứa trẻ: Không biết người ta còn lo cho mình nữa không? Ai sẽ là người đảm trách việc này? Đứa trẻ tự cảm thấy bị đẩy đưa trong một không khí bất an nơi mà người ta coi chúng như là đối tượng để tranh giành tình cảm và quyền lợi tài chính để có được một số quyền hạn thăm viếng hay trợ cấp để nuôi chúng, hay chỉ là sự chiến thắng với lòng ít

kỉ thù hận lẫn nhau của vợ chồng ly hôn

Và một điều chắc chắn những đứa trẻ có hoàn cảnh bố mẹ ly hôn không có được những điều kiện đầy đủ Số liệu thống kê của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao cho thấy 71% trẻ vị thành niên phạm pháp là do không được quan tâm chăm sóc đến nơi đến chốn Một nghiên cứu mới đây của Bộ Công an cũng chỉ ra nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành niên xuất phát từ gia đình: 8% trẻ phạm tội có bố mẹ ly hôn; 28% phàn nàn bố mẹ không quan tâm đáp ứng nhu cầu cơ bản của các em.5 Có thể thấy, nếu không quan tâm đúng cách trẻ em có cha mẹ ly hôn thì số lượng tội phạm xã hội trẻ

em tăng lên gây khó khăn cho phát triển đất nước, vì khi không được quan tâm, chăm

5

ThS Đặng Thanh Nga (Viện Tâm lý học), Trẻ em vị thanh niên phạm tội do ảnh hưởng của gia đình,

http://www.tin247.com/tre_vi_thanh_nien_pham_toi_do_anh_huong_cua_gia_dinh-7-64459.html, [ngày truy cập 31/10/2013]

Trang 19

sóc, giáo dục cuộc sống túng thiếu thì những đứa trẻ sẽ dễ sa ngã làm những chuyện phi pháp Trở thành gánh nặng xã hội

Một xã hội phát triển được nhìn ở nhiều góc độ, một khi số tệ nạn xã hội mà chủ thể chính là những đứa trẻ cứ gia tăng thì không bao giờ phát huy hết tìm năng Ảnh hưởng đến sự pháp triển về sau Trong khi những người trưởng thành, người làm cha,

mẹ khoát cho mình lớp vỏ thành đạt, trong một xã hội văn minh nên nhìn nhận thực tế bổn phận và nghĩa vụ của mình đối với những đứa đứa con của mình một khi hôn nhân không tiếp tục nữa Việc bảo vệ và cho trẻ sự phát triển toàn diện là hết sức cần thiết là nhiệu vụ của toàn xã hội

1.2.2 Về góc độ pháp luật

Ngay từ khi mới thành lập và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng ta

đã đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc “nam nữ bình quyền” như là cơ sở của sự giải

phóng phụ nữ, trao quyền bình đẳng cho phụ nữ, đồng thời cũng khẳng định quyền bình đẳng giữa trẻ em gái và trẻ em trai, chống mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên giới tính và lứa tuổi Những tư tưởng tiến bộ về quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử - một trong những nguyên tắc nền tảng của chuẩn mực quốc tế và Liên hợp quốc về quyền con người - đã tiếp tục được khẳng định trong những văn kiện tiếp theo của Đảng và được thể chế hóa thành luật và chính sách của Nhà nước ta Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã ghi nhận sự bảo

đảm quyền trẻ em, đó là: “Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” (Điều 14), và

“Nền sơ học cưỡng bách và không học phí Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình Học trò nghèo được Chính phủ giúp Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình nhà nước” (Điều 15) Quan

điểm nhất quán về chăm lo và bảo đảm quyền trẻ em được thể hiện xuyên suốt trong các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

Chủ trương của Đảng về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung cũng như về quyền trẻ em nói riêng là một trong những ưu tiên trọng yếu của chiến lược phát triển con người xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử và cách mạng Việt Nam Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với việc khẳng định con người là trung tâm của sự phát triển và chăm lo đến quyền và lợi ích chính đáng của tất cả mọi người là mục tiêu của phát triển Đại hội XI của Đảng (năm 2011) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tái khẳng định những giá trị nền tảng này và phát triển, bổ sung những nội

dung mới trong mục tiêu “Về phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện chính sách xã hội” đó là: Con người là trung tâm của chiến lược phát triển; Tôn trọng và bảo

vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước

Trang 20

và quyền làm chủ của nhân dân; Thực hiện chính sách xã hội đúng đắn, công bằng, bảo đảm bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, khuyết tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi; Thực hiện bình đẳng giới, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em nhằm bảo đảm cho thế hệ trẻ Việt Nam phát triển toàn diện, giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa của thế giới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 55-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Những quan điểm được thể hiện trong các văn kiện của Đảng là cơ sở quan trọng để hình thành các chính sách và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, cũng như các cấp chính quyền trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch hành động vì trẻ em, tôn trọng, bảo đảm và thực thi các quyền trẻ em

Sau khi tham gia ký kết các điều ước quốc tế về quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng, đặc biệt là Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc năm

1989 và hai Nghị định thư bổ sung năm 2000, Nhà nước Việt Nam đã tích cực nội luật hóa các quy định của hệ thống pháp luật quốc tế về quyền trẻ em vào trong hệ thống pháp luật quốc gia, đồng thời đẩy mạnh triển khai, thực thi chính sách bảo đảm quyền trẻ em Hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước Việt Nam liên quan đến việc thực thi quyền trẻ em, về cơ bản, phù hợp với các điều khoản của Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc

Xuất phát từ 4 nguyên tắc của Công ước về quyền trẻ em, có thể khái quát hệ thống pháp luật của Việt Nam về quyền trẻ em dựa trên 4 nhóm quyền:

- Nhóm quyền được sống (quyền sống, được chăm sóc sức khỏe và y tế ở mức cao nhất có thể )

- Nhóm quyền được phát triển (quyền được hưởng thụ mọi hình thức giáo dục,

có mức sống đầy đủ và điều kiện cho sự phát triển thể chất, tinh thần, trí tuệ, đạo đức, môi trường văn hóa, xã hội của trẻ em )

- Nhóm quyền được bảo vệ (quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử, lạm dụng hay sự thờ ơ, chống lại mọi sự xâm hại, quyền được bảo vệ của trẻ không có gia đình, không quốc tịch, tị nạn )

- Nhóm quyền được tham gia (quyền được tôn trọng ý kiến, được bày tỏ quan điểm, tự do tiếp cận thông tin, lập hội, hội họp hòa bình )

Việc phân chia 4 nhóm quyền nói trên chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi trên thực

tế, các nhóm quyền có liên hệ chặt chẽ, thống nhất, không thể tách rời và đôi khi chuyển hóa lẫn nhau Để thực thi các quyền của trẻ em, Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách, có thể khái quát dưới hai hình thức chính là nhóm chính sách chung

Trang 21

và nhóm chính sách về các vấn đề, lĩnh vực cụ thể Chẳng hạn, trong nhóm chính sách

chung gồm có:Thứ nhất, mọi trẻ em đều có quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục với sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội Thứ hai, bình đẳng

và không phân biệt đối xử đối với mọi trẻ em Thứ ba, Nhà nước quan tâm đặc biệt tới

nhóm trẻ em thuộc đối tượng chính sách, trẻ em khuyết tật, trẻ em nạn nhân chất độc

da cam, trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, trẻ em thuộc hộ nghèo và cận nghèo, trẻ em

là người dân tộc thiểu số Thứ tư, chính sách bình đẳng dân tộc và đại đoàn kết dân

tộc tạo cho mọi trẻ em đều có quyền bình đẳng về cơ hội trong việc tiếp cận chăm sóc,

bảo vệ, giáo dục và phát triển Thứ năm, thực hiện chính sách nhân đạo, khoan dung và

giáo dục, xử lý chuyển hướng đối với trẻ em làm trái pháp luật

Các chính sách cụ thể bao gồm: Một là, trẻ em dưới 6 tuổi được khám, chữa

bệnh miễn phí Trẻ em thuộc hộ nghèo, cận nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được

khám, chữa bệnh theo chế độ miễn, giảm phí Hai là, giáo dục tiểu học phổ cập, bắt

buộc và miễn phí Trẻ em được học tiểu học hoàn toàn miễn phí tại các trường công

lập Ba là, giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ em dưới 1 tuổi; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ xuống 15% vào năm 2015 Bốn là, phòng, chống tai nạn thương tích đối với trẻ

em; phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em; Phòng, chống lạm dụng và bóc lột sức lao

động trẻ em Năm là, trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em

mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được Nhà nước, xã hội chăm

sóc, nuôi dưỡng và giáo dục Sáu là, trẻ em thuộc đối tượng chính sách được miễn

giảm học phí ở bậc giáo dục trung học cơ sở

Các chương trình quốc gia, như Chương trình hành động quốc gia Vì trẻ em (1991 - 2000) và Chương trình hành động quốc gia Vì trẻ em giai đoạn 2001 - 2010 đã được triển khai chính là sự cụ thể hóa các chính sách đó Chương trình hành động quốc gia Vì trẻ em giai đoạn 2001 - 2010 nêu lên 15 nhóm mục tiêu và đưa ra 8 hệ thống giải pháp nhằm đạt mục tiêu tổng quát là tạo mọi điều kiện tốt nhất nhằm đáp ứng đầy đủ các nhu cầu và quyền lợi cơ bản của trẻ em, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy

cơ xâm hại trẻ em, xây dựng môi trường an toàn và lành mạnh để trẻ em Việt Nam có

cơ hội được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và phát triển toàn diện về mọi mặt, có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.6

Ở khía cạnh Luật hôn nhân gia đình, quyền lợi trẻ em được đề cập nhiều nhất là vấn đề ly hôn Một khi cuộc hôn nhân chấm dứt thì trẻ em sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ chính việc xuất phát từ góc độ xã hội sẽ là tiền đề cho góc độ pháp lý Nếu như quyết định ly hôn của hai vợ chồng được pháp luật thừa nhận là một quyền tự do thì trách nhiệm chăm sóc, nuôi dạy con cái không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ Luật định

6

Hoàng Văn Nghĩa, Một số thành tựu về bào đảm quyền trẻ em ở nước ta trong thời kỳ đổi mới ở nước ta,

trong-thoi-ky-doi-moi-o-nuoc-ta/language/vi-VN/Default.aspx, [ngày truy cập 28 – 09 – 2013]

Trang 22

http://www.molisa.gov.vn/news/detail/tabid/75/newsid/53772/seo/Mot-so-thanh-tuu-ve-bao-dam-quyen-tre-em-Không chỉ dừng lại ở đó, việc ghi nhận của pháp luật đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi chính đáng của trẻ em khi vợ chồng ly hôn còn là sự tiếp nối truyền thống đạo đức của dân tộc Nhà nước đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật nhằm là hành lang pháp lý hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của trẻ em phù hợp với với Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em Trong khuôn khổ của đề tài người viết tìm được một số văn bản pháp luật như:

- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị quyết số 51/2001/NQ-QHX ngày 25-12-2001 (các điều 35, 36, 40, 59, 63, 64, 65 và 67)

- Bộ luật dân sự năm 2005 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ hợp thứ 7 thông qua ngày 14-06-2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2006 thay thế cho Bộ luật dân sự 1995

- Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ hợp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 và có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2005 thay thế cho Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991

- Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10 ngày 09 tháng 06 năm 2000 thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1986

- Luật quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QH12 đã được Quốc hội nước cộng hòa

xã hội chủ Nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ hợp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm

2008 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2009 thay thế Luật quốc tịch

1998

Có thể thấy không chỉ ở góc độ xã hội mà góc độ pháp luật Nhà nước rất quan tâm đến bảo vệ quyền trẻ em khi cha mẹ ly hôn Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đã khẳng định rằng: Bảo vệ quyền lợi trở em khi cha mẹ ly hôn là vấn đề lớn của xã hội không chỉ là ý thức chủ quan mà còn lại nhiệu vụ bắt buộc không thể chối

bỏ

Trang 23

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TRẺ EM KHI CHA MẸ LY HÔN 2.1 Quyền nhân thân của trẻ em khi cha mẹ ly hôn

Quyền nhân thân của con người qua các giai đoạn cùng với sự phát triển của đất nước, có những biến đổi theo chiều hướng tiến bộ và bước đánh dấu sự phát triển vượt bật trong lịch sử phát lý quyền con người làm nền tảng quan trọng về sau được thể hiện trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2-9-1945 Khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn một câu nói về quyền nhân thân theo Bản tuyên ngôn nhân quyền của nước Mỹ Đó là “Mọi người sinh ra đều bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể chối cãi Trong các quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Như vậy, có thể hiểu quyền nhân thân thực chất không phải là do ai ban phát cho chúng ta cả, mà vì chúng

ta là con người – nên hiển nhiên chúng ta phải được hưởng những quyền đó Nếu chưa được hưởng thì phải đấu tranh để giành lấy, để được hưởng các quyền nhân thân Cụ thể về quyền nhân thân được quy định trong Điều 24 Bộ luật dân sự năm 2005 là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ

trường hợp pháp luật có quy định khác Đó là: Quyền đối với hộ tên (Điều 27), quyền xác định dân tộc (Điều 28), quyền được khai sinh (Điều 29), quyền được khai tử (Điều 30), quyền của cá nhận đối với hình ảnh (Điều 31), quyền được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 32), quyền đối với quốc tịch (Điều 45), quyền được bảo đảm

an toàn về chỗ ở ( Điều 46), quyền tự do đi lại, cư trú ( Điều 48)… Không ai được

quyền lạm dụng quyền nhân thân của mình để xâm phạm lợi ít của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Theo Điều 25 Bộ luật dân sự 2005

“Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền 1 Tự mình cải chính; 2 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cãi chính công khai; 3 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại” đấy là những quy định nhằm bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân

Tất cả những quy định chung về quyền nhân thân đều áp dụng không hạn chế đối với trẻ em Ngoài ra, các em còn được bảo vệ bằng các văn bản pháp luật khác như: Luật quốc tịch năm 2008, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004…

Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn về nguyên tắc chung khi bản án quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu luật pháp luật, quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt Người

vợ, chồng đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng sẽ chấm dứt hoàn toàn, không phụ thuộc vào ý chí của vợ chồng nữa mà chính Tòa án sẽ quyết định Điều này có nghĩa quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn, gắng bó tương ứng giữa vợ

Trang 24

chồng trong thời kỳ hôn nhân (nghĩa vụ yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ, nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng, quyền đại diện cho nhau…) sẽ đương nhiên chấm dứt khi Tòa án công nhận vợ chồng đã ly hôn Một số quyền nhân thân với tư cách là một công dân của vợ, chồng sẽ không bị ảnh hưởng, không thay đổi khi ly hôn (quyền về họ, tên, tôn giáo, dân tôc, quốc tịch, nghề nghiệp…) Đối với quyền nhân thân của con cái khi cha mẹ ly hôn thì không thay đổi Theo Khoản 1 Điều

92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” điều này có nghĩa khi một đứa trẻ cho cha mẹ đã ly

hôn thì vẫn được hưởng quyền nhân thân như những đứa trẻ trong những gia đình khác Đối tượng là con nuôi cũng được hưởng quyền nhân thân như con ruột Do thai nhi chưa là một cá nhân cụ thể nên quyền nhân thân không được đề cập tới mà sẽ được

bảo vệ theo Khoản 2 Điều 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 “Trong trường hợp vợ có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không được quyền yêu cầu xin ly hôn” Quy định này vừa để bảo vệ sự an toàn tính mạng cũng như sự phát triển

của thai nhi vừa bảo vệ người mẹ

2.2 Quyền tài sản của trẻ em khi cha mẹ ly hôn

2.2.1 Quyền được thừa kế

Theo quy định của pháp luật thì quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ nên khi ly hôn con vẫn là người

có quyền thừa kế nếu một trong hay người hoặc cả hai người chết Theo Điểm a Khoản 1 Điều 676 thì: Con là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ Trường hợp cha mẹ chết không để lại di chúc thì con sẽ là người được hưởng thừa kế theo pháp luật Trong trường hợp, cha mẹ để lại di chúc hoàn toàn cho người khác thì con chưa thành niên và con đã thành niên mà không có khả năng lao động và túng thiếu thì được bảo đảm một phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, trong trường hợp di sản được chia theo pháp luật Theo tinh thần đó thì con có cha mẹ ly hôn cũng được hưởng thừa kế như con có cha mẹ không

ly hôn, phần thừa kế đó sẽ được tính trên khối tài sản của cha hoặc mẹ (người chết) không phân biệt là người có trực tiếp nuôi con hay không, quyền và nghĩa vụ của con đối với cha mẹ không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ

Trường hợp là con nuôi thì thì theo Điều 678 Bộ Luật dân sự 2000 “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy

7

Điều 676:

1 Những người thừa kế theo pháp luật quy đinh sao đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Trang 25

thừa kế thứ nhất và cũng được bảo đảm quyền lợi như con ruột khi cha mẹ ly hôn, nhưng con nuôi không thể thế vị cha, mẹ nuôi để nhận phần di sản mà cha, mẹ nuôi được hưởng nếu họ còn sống Điều 681 Bộ luật dân sự con nuôi bảo tồn quyền thừa kế đối với di sản của những người thân thuộc do huyết thống: Con nuôi là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thứ nhất của cha mẹ ruột, là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thứ hai của anh, chị, em ruột, là người thừa kế thế vị của cha mẹ ruột trong

di sản của ông bà nội (ngoại)… Mặc dù là con nuôi của gia đình khác nhưng con nuôi vẫn có quyền thừa kế từ cha mẹ ruột (nếu có) và tài sản đó sẽ là tài sản riêng của con nuôi

Quy định về quyền được thừa kế của con thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ ly hôn, luôn cố gắng bù đắp những thiệt thòi cho con

có cha mẹ ly hôn

2.2.2 Quyền được có tài sản riêng

Nhìn nhận theo góc độ pháp luật thì con cũng là một cá nhân và cũng có quyền

có tài sản riêng, nhìn nhận việc có tài sản riêng của con chung quy cũng là hệ quả của việc thừa nhận năng lực pháp luật của cá nhân trong lĩnh vực tài sản: Ngay từ khi sinh

ra, cá nhân có thể có quyền sở hữu đối với tài sản Giải pháp này thể hiện một bước tiến quan trọng của pháp luật gia đình Việt Nam, bởi trong một thời kỳ dài, người con

dù đã thành niên cũng không có tài sản riêng khi cha mẹ còn sống Trên nguyên tắc, quyền sở hữu mang tính độc quyền: Người không phải là chủ sở hữu không có quyền đối với tài sản của người khác, trừ trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao một hoặc nhiều quyền liên quan đến tài sản Đối với tài sản của con thì:

- Đối với trẻ em chưa thành niên: Trẻ chưa thành niên chưa đủ sức khỏe và trình

độ tham gia vào các quan hệ lao động phức tạp để tự nuôi sống bản thân Hơn nữa pháp luật cũng quy định chúng chưa có đủ quyền và nghĩa vụ của một công dân độc lập Rất nhiều trường hợp chúng cần có người đại diện để thực hiện các giao dịch dân

sự hoặc tham gia vào các quan hệ pháp luật khác Vì vậy, chúng chưa thể sống một cuộc sống độc lập và rất cần sự nuôi dưỡng và dìu dắt của cha mẹ, người thân Dù

2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau

3 Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai pử hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

Điều 677:

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà chắt hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống

Trang 26

chưa thành niên nhưng con cái vẫn có thể có tài sản riêng theo Điều 44 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000: "Con có quyền có tài sản riêng Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác" Khi con

chưa thành niên có tài sản riêng, tài sản này có thể được tặng cho thừa kế… từ người khác hoặc do chính cha, mẹ hoặc cả hai cha mẹ tặng cho con khi ly hôn Tài sản riêng của con là để phục vụ cuộc sống hiện tại và tương lai của con Vợ chồng ly hôn thì tài sản riêng của con sẽ được giám hộ bởi người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ giám sát việc giám hộ Khoản 1 Điều 45 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2000 quy đinh: “Con từ đủ mười lăm tuổi trở lên có thể tự mình quản tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý” và cũng ở độ tuổi này con có tài sản

riêng có quyền tự mình xác lập cái giao dịch có tính chất tài sản mà không cần sự đồng

ý của cha mẹ, trừ những giao dịch mà pháp luật cho phép người thành niên xác lập ( Điều 20 Bộ Luật dân sự năm 2005) Trong mọi trường hợp, khi sử dụng, định đoạt các tài sản của mình, con phải quan tâm đến những hệ quả có thể có của các giao dịch mà mình xác lập đối với cuộc sống của gia đình Tài sản riêng của con từ đủ 15 tuổi trở lên mà sống chúng với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo cho gia đình và nếu tài sản đó có phát sinh hoa lợi thì phải đóng góp vào nhu cầu cần thiết của gia đình (Khoản 2 Điều

44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) như vậy, ngoài những quyền lợi được có tài sản riêng con cũng có trách nhiệm đóng góp ở mức hợp lý vào cuộc sống gia đình mà

cụ thể là đóng góp vào cuộc sống với người đang trực tiếp nuôi con Khoản 1 Điều 46

Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chính tuổi trở lên” Những giao dịch liên

quan đến tài sản của con chưa thành niên đôi lúc cần người đại diện và thông thường thì người đó là người trực tiếp nuôi (cha hoặc mẹ)

- Trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động mà có tài sản riêng: Người giám hộ ở đây có thể là cha hoặc mẹ, nghĩa vụ của người giám hộ là quản lý tài sản của người được giám hộ, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ Trường hợp con đã thành niên mà bị tàn tật tức là

con "bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn" Điều này không đồng nghĩa con đã thành niên mà

tàn tật bị hạn chế về nhận thức Vì vậy, trường hợp này con có tài sản riêng hoàn toàn

có thể độc lập quyết định việc quản lý tài sản của mình Việc quản lý tài sản của cha,

mẹ đối với con đã thành niên bị tàn tật được đặt ra khi con có yêu cầu, hoặc nhằm bảo

vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của con Nếu con không yêu cầu thì người đại diện

Trang 27

không được quản lý tài sản riêng của con, nhưng sẽ được giám sát các giao dịch do con xác lập liên quan đến tài sản đó Và bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chỉ có quyền xác lập các giao dịch nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, tất cả các giao dịch khác có tính chất tài sản đều có sự đồng ý của người đại diện (Điều 23 Khoản 2 Bộ luật dân sự) tuyệt đối không được lạm dụng quyền giám hộ để chiếm đoạt hay tư lợi từ tài sản riêng của con

- Đối với con nuôi: Cũng quy định giống như đối với con ruột và khi con nuôi

có tài sản riêng thì theo quy định tại Khoản 2 Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 “Con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại, nếu con nuôi có công sức đóng góp vào tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích một phần từ khối tài sản chung đó theo thỏa thuận giữa con nuôi và cha mẹ nuôi, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết” cha mẹ ly hôn nếu con nuôi có tài sản riêng sẽ được

nhận lại khi khối tài sản đó đang được giám hộ, con nuôi chưa thành niên thì khối tài sản đó sẽ được giám hộ bởi người trực tiếp nuôi con (thông thường là vậy), con thành niêm mà bị mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì khối tài sản

đó sẽ được quản lý bởi người giám hộ (thông thường là cha hoặc mẹ nuôi) nhưng cũng

vì quyền lợi của con trường hợp quy định giống như đối với con ruột

Việc quy định này cũng nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng của con những đứa trẻ vốn dĩ đã thiệt thòi khi không được ở chung với cha mẹ ruột nay lại chứng kiến cảnh gia đình ly tán, và tránh sự vụ lợi đối với tài sản riêng của con nuôi

2.2.3 Quyền được cấp dưỡng

Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 20008 lần đầu tiên quan hệ cấp dưỡng được điều chỉnh tương đối toàn diện và các quy phạm điều chỉnh quan hệ cấp dưỡng được quy định thành một chương độc lập Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm

1959 và năm 1986 chỉ điều chỉnh quan hệ cấp dưỡng giữa các bên đã từng là vợ chồng sau khi ly hôn mà một bên lâm vào tình trạng túng thiếu Việc cấp dưỡng của cha mẹ

đối với con được quy định dưới hình thức “đóng góp phí tổn nuôi dưỡng” chứ không

gọi đích danh là cấp dưỡng Tiến đến trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chế định cấp dưỡng được quy định tương đối hoàn thiện Khoản 11 Điều 8 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 “cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu cần thiết yếu của người không sống chung với mình

mà có quan hệ hôn nhân, quyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn túng thiếu theo quy định của luật này” đó không chỉ thể hiện tình cảm, đạo lý mà còn là trách nhiệm của gia đình,

nhà nước và toàn xã hội Khi cha mẹ ly hôn thì nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ thuộc về người

8

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và 1986 không có chương riêng quy định về vấn đề này

Ngày đăng: 05/10/2015, 10:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w