1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kích cầu đầu tư - Lý thuyết và thực tiễn

92 404 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kích cầu đầu tư - Lý thuyết và thực tiễn
Người hướng dẫn PGS.TS Từ Quang Phương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Đầu Tư
Thể loại Bài viết
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vừa qua cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã nhanh chóng lan ra toàn cầu gây ra hậu quả hết sức to lớn đối với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế Việt Nam cũng không nằm ngoài khu vực bị ảnh hưởng nhất là khi chúng ta trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Khủng hoảng có những ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều mặt của đời sống xã hội và các nhà kinh tế học trên thế giới, chính phủ các nước nói chung cũng như chính phủ Việt Nam nói riêng cũng đã làm hết sức mình để đưa nền kinh tế của quốc gia mình thoát khỏi khủng hoảng. Bằng việc xem xét lại các lý thuyết kinh tế đang được áp dụng hiện nay đặc biệt là lý thuyết bàn tay hữu hình với sự can thiệp điều tiết nền kinh tế của nhà nước, các quốc gia đã có những chính sách kinh tế với những gói giải cứu kinh tế nhằm kích cầu đầu tư, tiêu dùng, tạo công ăn việc làm nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Chính sách kích cầu kinh tế bên cạnh những mặt tích cực thì cũng có những hạn chế. Nhận thức được những hạn chế này sẽ giúp chính phủ có được những sự lựa chọn thích hợp trong việc thực thi chính sách. Nhóm sinh viên chuyên ngành kinh tế đầu tư chúng em với mong muốn tìm hiểu, vận dụng những kiến thức chuyên ngành để đi sâu tìm hiểu vấn đề thực tiễn. Điều đó thôi thúc chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài:” Kích cầu đầu tư - Lý thuyết và thực tiễn tiễn”. Trong đề tài thảo luận này chúng em đưa ra một số vấn đề lý luận chung về đầu tư và kích cầu đầu tư, tình hình thực tiễn kích cầu đầu tư ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm kích cầu đầu tư có hiệu quả.Nhóm thảo luận chúng em xin chân thành cám ơn PGS.TS Từ Quang Phương cùng các thầy cô giáo trong bộ môn kinh tế đầu tư đã giúp đỡ chúng em thực hiện bài viết này. Do hạn chế về mặt thời gian cũng như kiến thức nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được những góp ý của thầy cô để bài viết hoàn thiện hơn.

Trang 1

Vừa qua cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã nhanh chóng lan ra toàn cầugây ra hậu quả hết sức to lớn đối với nền kinh tế thế giới Nền kinh tế Việt Namcũng không nằm ngoài khu vực bị ảnh hưởng nhất là khi chúng ta trở thànhthành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) Khủng hoảng cónhững ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều mặt của đời sống xã hội và các nhà kinh tếhọc trên thế giới, chính phủ các nước nói chung cũng như chính phủ Việt Namnói riêng cũng đã làm hết sức mình để đưa nền kinh tế của quốc gia mình thoátkhỏi khủng hoảng Bằng việc xem xét lại các lý thuyết kinh tế đang được ápdụng hiện nay đặc biệt là lý thuyết bàn tay hữu hình với sự can thiệp điều tiếtnền kinh tế của nhà nước, các quốc gia đã có những chính sách kinh tế vớinhững gói giải cứu kinh tế nhằm kích cầu đầu tư, tiêu dùng, tạo công ăn việclàm nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế Chính sách kích cầu kinh tế bên cạnhnhững mặt tích cực thì cũng có những hạn chế Nhận thức được những hạn chếnày sẽ giúp chính phủ có được những sự lựa chọn thích hợp trong việc thực thichính sách Nhóm sinh viên chuyên ngành kinh tế đầu tư chúng em với mongmuốn tìm hiểu, vận dụng những kiến thức chuyên ngành để đi sâu tìm hiểu vấn

đề thực tiễn Điều đó thôi thúc chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài:” Kích cầuđầu tư - Lý thuyết và thực tiễn tiễn” Trong đề tài thảo luận này chúng em đưa

ra một số vấn đề lý luận chung về đầu tư và kích cầu đầu tư, tình hình thực tiễnkích cầu đầu tư ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm kích cầuđầu tư có hiệu quả

Nhóm thảo luận chúng em xin chân thành cám ơn PGS.TS Từ QuangPhương cùng các thầy cô giáo trong bộ môn kinh tế đầu tư đã giúp đỡ chúng emthực hiện bài viết này Do hạn chế về mặt thời gian cũng như kiến thức nên bàiviết không tránh khỏi những thiếu sót Chúng em rất mong nhận được nhữnggóp ý của thầy cô để bài viết hoàn thiện hơn

Trang 2

MỤC LỤC

LƠÌ NÓI ĐẦU……… ……….1

Chương I: Lí luận chung về kích cầu đầu tư………….………4

I Đầu tư và cầu đầu tư……… 4

1 Khái niệm về đầu tư……… ………4

2 Cầu đầu tư……… ………4

2.1 Khái niệm……… ……….4

2.2 Các nhân tố tác động tới cầu đầu tư……… ……….4

2.2.1 Lợi nhuận kì vọng……… 4

2.2.2 Lợi nhuận thực tế………6

2.2.3 Lãi suất tiền vay………….……….7

2.2.4 Tốc độ phát triển của sản lượng quốc gia………….……… 8

2.2.5 Chu kì kinh doanh……… ……… 10

2.2.6 Đầu tư nhà nước……… … ………11

2.2.7 Môi trường đầu tư……… ……….………11

2.2.8 Thuế thu nhập doanh nghiệp……… ………12

II Một số vấn đề về kích cầu và kích cầu đầu tư……… …… 13

1 Thế nào là kích cầu……… ………13

1.1.Khái niệm……… ………13

1.2 Nguồn gốc và cơ sở của chính sách………… ………13

1.3 Mục đích của chính sách kích cầu………15

1.4 Nguyên tắc cơ bản của kích cầu………15

1.5 Điều kiện áp dụng các biện pháp kích cầu…… ….………18

2 Kích cầu đầu tư………18

2.1 Khái niêm………… ……… ………18

2.2 Phân biệt kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng……… ………18

2.3 Ý nghĩa của kích cầu đầu tư……….………19

2.4 Tác động của kích cầu đầu tư……… ………19

2.4.1 Tác động tích cực……… ………19

2.4.2 Tác động tiêu cực……… ………22

2.5 Nguồn vốn cho kích cầu đầu tư……… ………….………24

2.5.1 Vốn trái phiếu chính phủ……… ………24

2.5.2 Vốn ngân sách nhà nước……… ………25

2.5.3 Quỹ dự trữ ngoại hối……….………25

2.5.4 In tiền……….………26

2.5.5 Vay nợ nước ngoài………26

2.5.6 Trì hoãn trả nợ……… ………27

2.6 Các công cụ, biện pháp sử dụng……… ………27

2.6.1 Nhóm chính sách tiền tệ……….………27

2.6.2 Nhóm chính sách tài khóa……….………30

2.6.3 Nhóm chính sách giải pháp khác……… ………30

2.7 Kinh nghiệm kích cầu đầu tư trên thế giới………32

2.8 Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kích cầu đầu tư……… ………34

2.8.1 Độ trễ chính sách……… ………34

Trang 3

2.8.2 Quá trình tổ chức thực hiện chính sách……….………35

Chương II: Thực tiễn kích cầu đầu tư ở Việt Nam I Thực tiễn kích cầu đầu tư trước khủng hoảng kinh tế 2007………… ……37

1 Tình hình kinh tế -xã hội Việt Nam giai đoạn 1986_2007…… ……37

2 Tình hình kích cầu đầu tư của Việt Nam giai đoạn 1986_2007…… …39

II Thực tiễn kích cầu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2007_nay……….……49

1 Khủng hoảng kinh tế thế giới và ảnh hưởng tới Việt Nam……….49

2 Nội dung kích cầu của một số nước trên thế giới và của Việt Nam……52

2.1 Nội dung kích cầu của một số nước trên thế giới………….…………52

2.2 Nội dung kích cầu ở Việt Nam……….………55

2.2.1 Gói kích cầu thứ nhất……….……….55

2.2.1.1 Nội dung cụ thể goi kích cầu………… ………55

2.2.1.2 Công cụ biện pháp thực hiện……… ………56

2.2.1.3 Tình hình thực hiện………61

2.2.1.4 Tác động của gói kích cầu……… ………62

2.2.1.5 Các vấn đề của gói kích cầu………… ………71

2.2.2 Gói kích cầu thứ hai……… ………75

2.2.2.1 Các quan điểm………75

2.2.2.2 Nội dung cụ thể gói kích cầu……….……….………76

2.2.2.3 Tác động của gói kích cầu số 2……… ………77

3 So sánh các gói kích cầu ở Việt Nam và một số nước trên thế giới78 Chương III: Giải pháp thực hiện chính sách kích cầu đầu tư hiệu quả ở Việt Nam I Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn kích cầu đầu tư………80

1 Huy động vốn kịp thời và hiệu quả……… ………80

2 Giải pháp sử dụng hiệu quả vốn kích cầu đầu tư………… ………80

2.1 Kích cầu phải kịp thời……… ………80

2.2 Phân bổ nguồn vốn hợp lí……… ………81

II Kết hợp với chính sách tiền tệ, tỷ giá, khyến khích xuất khẩu, thu hút đầu tư……… ……….……… 82

III Giám sát và đánh giá kết quả gói kích cầu……….……….83

1 Vai trò giám sát của quốc hội……….……… 83

2 Đánh giá kết quả thực hiện gói kích cầu……… 84

IV Một số đề xuất nhằm phát huy hiệu quả chính sách kích cầu đầu tư…… 84

V Các giải pháp kich cầu đầu tư trong dài hạn……….………87

1 Giải pháp kích cầu đầu tư trong nước………87

2 Giải pháp kích cầu đầu tư nước ngoài………88

KẾT LUẬN……….………89

Danh mục tài liệu tham khảo:……… ………90

Trang 4

CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ

I Đầu tư và cầu đầu tư

1 Khái niệm đầu tư :

Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành cáchoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn cácnguồn lưc đã bỏ ra để đạt đươc các kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọi côngcuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn với những hi sinh về nguồn lực màngười đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư

2 Cầu đầu tư

2.1 Khái niệm:

Cầu đầu tư là tất cả nhu cầu của doanh nghiệp về hàng hóa vật tư, máymóc, dịch vụ…và nguồn tài chính để duy trì hay mở rộng sản xuất của doanhnghiệp đó trong một thời gian nhất định

2.2 Các nhân tố tác động tới cầu đầu tư

Nhu cầu đầu tư của các cá nhân, các doanh nghiệp và của chính phủ cóvai trò quan trọng đối với nền kinh tế bởi đầu tư là một bộ phận chính cấu thànhnên tổng cầu Vì vậy cần xem xét kĩ lưỡng các yếu tố tác động đến cầu đầu tưdưới đây để thấy được yếu tố nào tác động ít, yếu tố nào tác động nhiều và xuhướng tác động của các yếu tố như thế nào để đưa ra chính sách kích cầu phùhợp và đem lại hiệu quả mong muốn cho nhà đầu tư

2.2.1 Lợi nhuận kì vọng

2.2.1.1 Lí thuyết của Keynes:

- Lợi nhuận kỳ vọng là khoản lợi nhuận mà chủ đầu tư mong muốn, hivọng sẽ thu được trong tương lai khi đưa ra quyết định đầu tư Theo lí thuyếtcủa Keynes, lợi nhuận kì vọng là 1 trong 2 nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến quyếtđầu tư của doanh nghiệp Nếu lợi nhuận kì vọng lớn, nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn

để kinh doanh Lợi nhuận cao sẽ kích thích nhu cầu đầu tư, ngược lại nếu lợinhuận kì vọng thấp và nhỏ hơn tiền lãi thu được khi gửi tiền vào các ngân hàngthì các nhà đầu tư sẽ không bỏ tiền vào sản xuất kinh doanh mà thay vào đó, họgửi tiền vào ngân hàng

- Mặt khác, theo ông thì hiệu quả biên của vốn đầu tư phụ thuộc vào tỷsuất đầu tư của số tiền đầu tư mới Do đó vốn đầu tư càng tăng thì hiệu quả biêncủa vốn giảm dần Điều này có thể giải thích do các nguyên nhân sau:

Trước hết, khi tăng chi tiêu đầu tư, nhu cầu vốn đầu tư sẽ tăng Cầu về

vốn tăng dẫn đến sự gia tăng của lãi suất cho vay (giá của đồng vốn) Nếu cácyếu tố khác không đổi thì khi đó, lợi nhuận giảm nên tỷ suất lợi nhuận biêngiảm

Thứ hai, xuất phát từ phương diện cung sản phẩm cho thị trường Khi gia

tăng đầu tư và kết quả đầu tư đã đi vào hoạt động, phát huy kết quả trong thựctiễn thì cung sản phẩm sẽ tăng, nghĩa là có nhiều sản phẩm được cung ứng vào

Trang 5

nền kinh tế Cung tăng, giá sản phẩm sẽ giảm, chi phí sản xuất xem như ổn định,lúc đó tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư giảm.

Thứ ba, xuất phát từ năng suất lao động Khi gia tăng vốn đầu tư vào sản

xuất thì sự gia tăng về kĩ thuật, công nghệ, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho mỗilao động cũng giảm dần, nghĩa là khi lượng vốn còn ít thì mỗi sự gia tăng của 1đơn vị vốn sẽ làm cho năng suất lao động gia tăng nhiều hơn so với khi lượngvốn nhiều Năng suất lao động biên giảm dần dẫn đến lợi nhuận biên của vốncũng giảm dần

Thứ tư, khi quy mô vốn đầu tư tăng, hiệu quả biên của vốn giảm dần nên

các nhà đầu tư chỉ tiếp tục đầu tư cho tới khi hiệu quả biên của vốn còn lớn hơnmức lãi suất vốn vay trên thị trường vốn Khi hiệu quả biên của vốn thấp hơn lãisuất vốn vay, nghĩa là lợi nhuận tăng thêm thấp hơn chi phí tăng thêm thì cácnhà đầu tư sẽ ngừng việc đưa thêm vốn vào mở rộng sản xuất Điểm cân bằng làđiểm hiệu quả biên của vốn bằng với lãi suất cho vay của ngân hàng

- Theo Keynes, tỉ suất lợi nhuận là đại lượng rất khó xác định Nhưngchính điều đó lại thúc đẩy các nhà đầu tư quyết định bỏ tiền đầu tư Do lợinhuận khó xác định, có thể rất cao nhưng cũng có thể rất thấp, thậm chí có thể

âm nên kích thích các nhà đầu tư bỏ vốn với kì vọng có thể thu được khoản lợinhuận cao đó Tuy nhiên, bên cạnh đó, họ cũng phải đối mặt với những rủi ro cóthể xảy ra Đó là tính 2 mặt của hoạt động đầu tư, chấp nhận rủi ro để thu đượclợi nhuận kì vọng

2.2.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kì vọng

+ Cung – cầu hàng hóa:

Trong các giai đoạn của 1 dự án thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư được xem làkhâu quan trọng nhất Việc xác định cung cầu hàng hóa cho sản phẩm của dự án

có vai trò rất lớn ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư

Nghiên cứu cầu hàng hóa để đảm bảo sản phẩm bán ra có thể tiêu thụđược Cầu hàng hoá trước hết phụ thuộc vào sức mua chung của người dân, đó

là tỷ lệ tiêu dùng (C) chia cho thu nhập khả dụng của từng người dân (Yd) vớitổng số dân cư của địa phương hay của một quốc gia Như vậy cầu hàng hóa phụthuộc vào thu nhập, mức sống, thói quen tiêu dùng và thị hiếu của người dân

Cung hàng hóa là mức độ và khả năng đáp ứng nhu cầu trong 1 thời điểmnhất định Trước hết nó phụ thuộc vào khả năng sản xuất xã hội, tức là khả năngcung ứng và kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất như lao động, vốn, côngnghệ Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào hàng nhập khẩu và khả năng phân phối,lưu thông hàng hóa

+ Mức độ rủi ro:

Một trong những đặc điểm của đầu tư phát triển là thời kì đầu tư và thờigian vận hành kết quả đầu tư kéo dài, nguồn vốn chi cho đầu tư khá lớn, nghĩa làkèm theo với mức độ rủi ro cao Từ đó nó ảnh hưởng lớn đến yếu tố lợi nhuận kìvọng Phạm vi ảnh hưởng của rủi ro là rất rộng, ví dụ như những thay đổi khônglường trước được của giá cả, công nghệ,… Vấn đề là khả năng quản trị rủi rocủa doanh nghiệp như thế nào, mức độ phát triển của các dịch vụ hạn chế rủi ro

Trang 6

(bảo hiểm, tín dung, ) và quan trọng nhất là sự ổn định của môi trường đầu tư cả

về kinh tế, xã hội và chính trị

+ Các nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất:

Với mỗi dự án, khi nhà đầu tư quyết định bỏ vốn đầu tư thì họ phải xácđịnh được các yêu tố đảm bảo cho quá trình thực hiện đầu tư cũng như vận hànhkhai thác kết quả của dự án sau này, đó bao gồm các yếu tố đầu vào của quátrình sản xuất Cụ thể là:

- Các điều kiện về nguồn nhân lực: bao gồm cả về chất lượng và sốlượng Khi xem xét nguồn nhân lực ta cần chú ý về khả năng dự báo tốc độ tăngdân số, về tiền lương, về trình độ học vấn và văn hóa của họ…

- Nguồn vốn cho hoạt động đầu tư phát triển: đó chính là khả năng huyđộng vốn trên thị trường tài chính và tỷ lệ phân bổ vốn cho hoạt động đầu tư

- Về nguồn nguyên nhiên liệu đầu vào: phụ thuộc vào các chính sách bảo

vệ tài nguyên thiên nhiên, tốc độ đền bù giải phóng mặt bằng, các mối liên hệgiữa các ngành kinh tế…

- Về trình độ công nghệ: phụ thuộc vào các quy định về chuyển giaocông nghệ, khả năng nghiên cứu ứng dụng của đội ngũ khoa học trong nước.Nếu là nhập công nghệ từ nước ngoài thì còn phụ thuộc vào trình độ của đội ngũcán bộ khoa học trong nước: họ tiếp thu, triển khai công nghệ đó như thế nào?

- Về cơ sở hạ tầng: phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước, do đóphụ thuộc vào quy hoạch vùng và khả năng ngân sách

+ Thuế:

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, vừa là công cụ táiphân phối của cải xã hội vừa là công cụ điều tiết phân bổ vốn giữa các ngành,vùng, miền Thuế ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp nên các

ưu đãi về thuế thường được sử dụng như 1 biện pháp khuyến khích đầu tư

Vấn đề ở đây là phải xây dựng một chính sách thuế phù hợp Bởi nếu ưuđãi quá mức sẽ gây thất thu ngân sách và giảm đầu tư công cộng Ngược lại, mộtmức thuế cao sẽ giảm tính cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước cũngnhư làm gia tăng tình trạng trốn thuế hay buôn lậu

2.2.2 Lợi nhuận thực tế

Liên quan đến mối quan hệ giữa đầu tư và lơi nhuận thực tế ta có thể xemxét đến “lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ”,theo thuyết này thì qui mô đầu tư tỷ lệthuận với lợi nhuân thưc tế của doanh nghiệp thể hiện qua phương trình:

I = f (lợi nhuận thực tế)

Do đó, dự án nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn Vì lợi nhuậncao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức đầu tư sẽ cao hơn Nguồn vốn cóthể huy động cho đầu tư bao gồm: lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấu hao, đi vaycác loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu và bán cổ phiếu Lợinhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồn vốn nội bộ của doanhnghiệp, còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động

từ bên ngoài Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tìnhtrạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vào phá sản Do

đó việc đi vay không phải là hấp dẫn, trừ khi có ưu đãi Cũng tương tự, việc tăng

Trang 7

vốn đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn, cònbán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được các doanh nghiệp áp dụng khi hiệuquả của dựa án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự án đem lại trong tương lai sẽlớn hơn chi phí đã bỏ ra.

Chính vì vậy, theo lí thuyết quỹ đầu tư nội bộ thì doanh nghiệp thườngchọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự gia tăngcủa lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn

2.2.3 Lãi suất tiền vay

Vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động đầu tư, do đó với tư cách làchi phí sử dụng vốn (hay giá của vốn) thì lãi suất ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêutài chính của dự án Các nhà đầu tư thường vay tiền để đầu tư và lãi suất phảnánh giá của khoản tiền vay mượn đó Nếu giá vay tiền (giá của vốn) cao hơn tỉsuất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm quy mô đầu tư và ngược lại

Cần phân biệt các loại lãi suất: lãi suất cơ bản (do ngân hàng nhà nướcquy định, các tổ chức tài chính không được cho vay với lãi suất lớn hơn 150%

so với lãi suất cơ bản); lãi suất cho vay sản xuất, cho vay tiêu dùng, cho vay đầu

tư tài chính, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất chiết khấu, táichiết khấu Sự chênh lệch giữa các loại lãi suất góp phần điều tiết sự phân bổvốn trong nền kinh tế

Lãi suất danh nghĩa phụ thuộc trước hết vào cung – cầu vốn vay trên thịtrường Cung vốn chính là tổng tiết kiệm quốc dân, được xác định bằng tổng thunhập quốc dân trừ đi tiêu dùng Lãi suất được điều chỉnh để tạo ra sự điều tiếtcủa ngân hàng nhà nước thông qua chính sách tiền tệ như lãi suất cơ bản, nghiệp

vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu, tỉ lệ dự trữ bắt buộc Lãi suất cũng chịuảnh hưởng của thâm hụt ngân sách nhà nước, nếu tình trạng thâm hụt ngân sáchkéo dài thì chính phủ phải đi vay để bù đắp thâm hụt, hơn nữa thâm hụt ngânsách còn làm cho tiết kiệm quốc gia giảm khiến cho cung vốn vay giảm đẩy láisuất tăng lên làm cho cầu đầu tư giảm xuống

Lãi suất thực tế không chỉ phụ thuộc vào lãi suất danh nghĩa mà còn phụthuộc vào tỉ lệ lạm phát thông qua biểu thưc sau:

+Nếu tỷ lệ lạm phát π >=10% :

+Nếu tỷ lệ lạm phát π <=10%:

r =i – π

Trong đó : r là lãi suất thực tế;

i là lãi suất danh nghĩa;

π là tỷ lệ lạm phát;

Chủ đầu tư sẽ chỉ quyết định đầu tư khi tỷ suất hoàn vốn nội bộ(IRR) của

dự án lớn hơn lãi suất thực tế Do đó khi lãi suất tăng sẽ có ít dự án đầu tư hơn,nhu cầu đầu tư sẽ giảm

Trang 8

Đồ thị:

Tuy nhiên lãi suất thấp hơn thì sẽ có nhiều dự án có IRR thấp được triểnkhai, tức là các dự án ít hiệu quả, độ rủi ro cao Khi đó nền kinh tế có thể tăngtrưởng nhanh do tổng đầu tư tăng nhưng kết cục có thể dẫn đến lạm phát cao,chính phủ buộc phải thực thi các biện pháp kiểm soát tiền tệ, các dự án có hiệuquả thấp sẽ bị lỗ nếu tiếp tục vay vốn, nhiều dự án sẽ bị phá sản, nền kinh tế lạirơi vào suy thoái Ngoài ra nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất thế giới thì

có thể vốn đầu tư trong nước sẽ chảy ra nước ngoài do đó không làm tăng tổngđầu tư trong nước

Trên thực tế có trường hợp doanh nghiệp vẫn tăng qui mô vốn đầu tư khilãi suất cho vay ở mức cao Đó là những trường hợp mà doanh nghiệp nhận thấyđược rằng mở rộng qui mô sản xuất sẽ thu được lợi nhuận cao hoặc những hoạtđộng kinh doanh mạo hiểm với mức độ rủi ro cao hoặc những doanh nghiệp vừa

và nhỏ sử dụng ít vốn vay hơn nên tác động của lãi suất đến quyết định đầu tư làkhông lớn dẫn đến họ vẫn quyết định đầu tư Và cũng có những trường hợp khilãi suất cho vay thấp nhưng doanh nghiệp vẫn không tăng qui mô vốn đầu tư vì

họ cho rằng mở rộng qui mô vốn đầu tư không làm tăng lợi nhuận cũng như việctăng qui mô cũng làm tăng độ rủi ro lên

Do đó việc lãi suất tăng cao hay giảm xuống luôn luôn gây bất lợi cho nềnkinh tế cho nên việc điều hành chính sách của nhà nước cũng như ngân hang saocho lãi suất giữ ở mức ổn định vừa kích thích đầu tư vừa kiềm chế được lạmphát, phát triển nền kinh tế

2.2.4 Tốc độ phát triển của sản lượng quốc gia

Đây là một chỉ tiêu vĩ mô ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều yếu tố khác

- Nhu cầu về sản lượng sản phẩm hay việc thay đổi sản lượng là nhân tốảnh hưởng đến việc tăng hay giảm qui mô vốn đầu tư Ví dụ: Khi GDP tăng

D i

I O

Trang 9

nhanh sẽ làm tăng thu nhập của người dân, do đó vừa kích thích tiêu dùng lạivừa làm tăng tiết kiệm Khi tiêu dùng tăng thì tổng cầu cũng tăng; tiết kiệm tăngthì cung vốn vay tăng làm giảm lãi suất, kích thích đầu tư ( Do AD = C +I + G +

- Tốc độ tăng sản lượng và tốc độ tăng vốn đầu tư không giống nhau, vấn

đề này được đề cập trong lí thuyết gia tốc vốn đầu tư Theo lý thuyết này, đểsản xuất ra một đơn vị đầu ra cho trước cần phải có một lượng vốn đầu tư nhấtđịnh Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư có thể được biểu diễn theo công

thức: x = K/Y (*)

Trong đó:

K: vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu;

Y: sản lượng tại thời kì nghiên cứu;

x: hệ số gia tốc đầu tư;

Từ công thức thức trên ta suy ra: K = x * Y

Như vậy nếu x không đổi thì khi qui mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đến

nhu cầu vốn đầu tư tăng theo và ngược lại Theo công thức trên thì sản lượngphải tăng liên tục mới làm cho đầu tư tăng cùng tốc độ hoặc không đổi so vớithời kì trước

Đặc điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư:

+ Phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư Nếu x không đổi trong kì

kế hoạch thì có thể sử dụng công thức để lập kế hoạch khá chính xác

+ Phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư Khi kinh tếtăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn, dẫn đến tiếtkiệm tăng cao và đầu tư tăng nhiều

Tuy nhiên, nó còn có 1 số hạn chế :

Thứ nhất, ở đây giả định quan hệ giữa sản lượng và đầu tư là cố định

Thực tế đại lượng này (x) luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tố khác.

Thứ hai, thực chất lí thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI)chứ không phải sư biến động của tổng đầu tư do sự thay đổi của sản lượng Thậtvậy, từ công thức (*) ở trên có thể viết:

Tại thời điểm (t-1): Kt-1 = x * Yt-1 (2)

Lấy (1) trừ (2) ta có :

Kt – Kt-1 =x*Yt –x*Yt-1 = x*(Yt – Yt-1)

Trong đó (Kt–Kt-1) là đầu tư ròng và bằng (It – D), với D là khấu hao

Do đó, (It – D) = (Kt –Kt-1) = x*(Yt – Yt-1) =x*∆Y

Và đầu tư ròng : ∆I = x.∆Y

Như vậy theo lí thuyết này thì đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản

lượng đầu ra Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng (lớn hơn x lần).

Nếu sản lượng giảm, đầu tư thuần sẽ âm

Trang 10

Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian dài không đổi, đầu tư ròng sẽbằng không Khi ∆Y = 0 thì ∆I = 0

Thứ ba, theo lí thuyết này thì toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều đượcthực hiện ngay trong cùng 1 thời kì Điều này không đúng vì nhiều lí do, chẳnghạn như do việc cung cấp các yếu tố có liên quan đến vốn đầu tư không đáp ứng,

do cầu vượt quá cung…Do đó, lí thuyết gia tốc đầu tư tiếp tục được hoàn thiệnqua thời gian Theo lí thuyết đầu tư sau này thì vốn đầu tư mong muốn được xácđịnh như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa là quy môđầu tư mong muốn được xác định trong thời gian dài hạn

2.2.5 Chu kì kinh doanh

- Thế nào là chu kì kinh doanh? Đó là những dao động của nền kinh tếxung quanh xu thế tăng trưởng dài hạn, bao gồm cả những thời kì tăng trưởngnhanh xen kẽ với những thời kì suy thoái của nền kinh tế Mỗi chu kì kinh doanhbao gồm 4 thời kì: suy thoái, khủng hoảng, phục hồi, hưng thịnh

- Ở mỗi thời kỳ khác nhau của chu kỳ kinh doanh sẽ phản ánh các mức chi tiêuđầu tư khác nhau

Khi nền kinh tế đang đi lên thì đầu tư tăng, vì sao?

Theo lý thuyết tính kinh tế của quy mô, trong những điều kiện nhất địnhthì việc gia tăng quy mô sản lượng sản xuất ra có thể giúp cho chủ đầu tư tiếtkiệm chi phí sản xuất, gia tăng đầu tư

Mặt khác, khi chu kỳ kinh doanh ở vào thời kỳ đi lên, quy mô của nềnkinh tế mở rộng, nhu cầu đầu tư của toàn bộ nền kinh tế cũng như của các doanhnghiệp tư nhân gia tăng Ngược lại, khi chu kì kinh doanh ở vào thời kì đixuống, qui mô nền kinh tế thu hẹp, nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và các doanhnghiệp tư nhân thu hẹp lại

Khi nền kinh tế đi xuống thì tổng đầu tư giảm, nhưng xét từng nhà đầu tư lại chưa chắc đã giảm?

Thật vậy, không phải lúc nào sự tăng hay giảm chi tiêu của các doanhnghiệp cũng thuận chiều với xu hướng lên xuống của chu kì kinh doanh của toàn

bộ nền kinh tế Bởi vì mặc dù nền kinh tế suy thoái nhưng các doanh nghiệp vẫnđầu tư phát triển sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ khi sản phẩm cũ đã mấtchỗ đứng trên thị trường hoặc đã kết thúc một chu kì sống, hoặc cũng có một số

0

t

Hình I.5 Chu kỳ kinh

doanh

Trang 11

doanh nghiệp đầu tư vào các thị trường ngoài nước trong khi nền kinh tế củaquốc gia đang trên đà đi xuống để kéo dài chu kì sống của sản phẩm.

Mặt khác, khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định và đi lên,của cải tăng nêncông chúng chỉ muốn giữ một số tiền nhất định đủ cho nhu cầu sử dụng,họmuốn đầu tư vào những tài sản thay thế có lợi tức dự kiến cao như đầu tư vaochứng khoán công ty bởi vì khi nền kinh tế ổn định thì thị trường chứng khoántrở nên ổn định hơn, rủi ro chứng khoán giảm và hấp dẫn các nhà đầu tư hơn

2.2.6 Đầu tư của Nhà nước

Trong tổng đầu tư xã hội bao gồm đầu tư của nhà nước và đầu tư củadoanh nghiệp

Tổng đầu tư xã hội = Đầu tư nhà nước + Đầu tư tư nhân

Các dự án đầu tư từ nguồn vốn của nhà nước không nhằm mục đích thulợi mà tác dụng trợ giúp, điều tiết, định hướng cho đầu tư của toàn xã hội

Thông qua ngân sách, chính phủ có thể đầu tư phát triển mạng lưới

giao thông, viễn thông, cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp…điều này nhằm cảithiện môi trường đầu tư, khuyến khích các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đầu

tư vào các vùng, ngành theo quy hoạch của chính phủ, hướng nền kinh tế pháttriển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước,nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư pháttriển của doanh nghiệp nhà nước

Ở nước ta hiện nay các doanh nghiệp nhà nước vấn giữ vai trò chủ đạotrong nền kinh tế, nguồn vốn của họ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốnđầu tư toàn xã hội, tổng vốn vay từ các ngân hàng thương mại và từ nước ngoài

Vì vậy mỗi động thái trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp này đều cótác động ít nhiều đến các hành vi của các chủ đầu tư khác trong nền kinh tế Nóicách khác, đầu tư nhà nước dẫn đường cho đầu tư của tư nhân, của các doanhnghiệp đi sau

Đầu tư nhà nước chịu ảnh hưởng của các yếu tố như thâm hụt ngân sách,

nợ nước ngoài, các quy hoạch kinh tế xã hội, tỷ lệ thất thoát, tham nhũng, tốc độgiải ngân vốn, các thủ tục khi sử dụng vốn nhà nước

Do vậy, đầu tư nhà nước vừa là đòn bẩy kích thích đầu tư tăng cao gópphần làm cho tổng đầu tư xã hội tăng nếu hoạt động đầu tư nhà nước có hiệuquả Trong trường hợp đầu tư nhà nước không đúng hướng,không phù hợp hoặc

sử dụng vốn nhà nước không hiệu quả sẽ gây hiệu ứng ngược lại cho đầu tư tưnhân và khiến cho tổng đầu tư xã hội giảm sút, kéo nền kinh tế đi xuống

2.2.7 Môi trường đầu tư

Môi trường đầu tư là tổng hợp các yếu tố và điều kiện khách quan,chủquan, bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp hay các nhà đầu tư có mối liên

hệ tương tác lẫn nhau,có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sảnxuất kinh doanh của nhà đầu tư

Có thể nói môi trường đầu tư như một chất xúc tác ban đầu cho quyếtđịnh bỏ vốn của nhà đầu tư, sự cải thiện môi trường đầu tư có ảnh hưởng vôcùng quan trọng và tác động tích cực đến nền kinh tế, làm tăng nguồn vốn đầu

Trang 12

tư và tăng chi tiêu đầu tư toàn xã hội Trong một thế giới mở cửa và hộinhập,việc cải thiện môi trường đầu tư hoặc hướng tới một môi trường kinhdoanh lành mạnh, đủ sức cạnh tranh là đích đến để phát triển kinh tế xã hội củabất kì quốc gia nào Môi trường đầu tư được coi là nhân tố số một để khơi thôngcác dòng vốn từ mọi tầng lớp dân cư trong nước và nước ngoài Môi trườngthuận lợi thì các doanh nghiệp, doanh nhân mới toàn tâm, toàn ý tập trung trítuệ, vốn và kĩ thuật để phát triển sản xuất kinh doanh nhằm thúc đẩy phát triểnkinh tế xã hội.

Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố, tác động trực tiếp hoặc gián tiếpđến hiệu quả đầu tư Có thể nói đến hai khái niệm:

- Môi trường cứng: bao gồm các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng kĩthuật phục vụ cho sự phát triển kinh tế, ví dụ như hệ thống thông tin liên lạc, cơ

sở hạ tầng giao thông,…

- Môi trường mềm: bao gồm hệ thống thủ tục hành chính, dịch vụ pháp

lý liên quan đến hoạt động đầu tư, hệ thống tài chính – ngân hàng…

Cơ sở hạ tầng ở đây mang tính tiên phong, định hướng, xúc tác cho cáchoạt động đầu tư, nó mở đường cho các hoạt động kinh tế xã hội phát triển Vìvậy cần chú ý đến công tác đầu tư chuẩn bị hệ thống cơ sở hạ tầng để thu hút cácnhà đầu tư, tạo cho họ sự tin cậy để bỏ vốn đầu tư

Một môi trường đầu tư ổn định cả về kinh tế, xã hội và chính trị sẽ thúcđẩy các nhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư phát triển Trong đó, việc đưa ra các chínhsách nhằm tăng lòng tin cho các nhà đầu tư cần được chính phủ quan tâm Chínhsách và hành vi của chính phủ có ảnh hưởng mạnh thông qua tác động của nóđến chi phí, rủi ro và các rào cản cạnh tranh

2.2.8 Thuế thu nhập doanh nghiệp

Đây là loại thuế đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽphải chia sẻ với chính phủ một phần lợi nhuận của mình, nhưng với họ đầu tưvẫn hợp lí, vẫn tiếp tục tăng đầu tư khi giá thuê tư bản ( lãi suất thực tế của vayvốn tư bản đầu tư) cao hơn chi phí tư bản và sẽ cắt giảm đầu tư khi giá thuê thấphơn chi phí tư bản

Tuy loại thuế đánh vào lợi nhuận theo cách này không làm thay đổi động

cơ đầu tư nhưng lại cản trở đầu tư vì các doanh nghiệp phải trích khấu hao dựatrên chi phí lịch sử, tức là phần trích khấu hao được tính trên cơ sở giá mua tưbản ban đầu Trong thời kì lạm phát, chi phí thay thế lớn hơn chi phí lịch sử nênthuế thu nhập doanh nghiệp có xu hướng đánh giá quá cao lợi nhuận, thậm chívẫn đánh thuế ngay cả khi lợi nhuận của doanh nghiệp bằng không, từ đó làmcho việc chi tiêu vào đầu tư trở nên ít hấp dẫn hơn, cản trở hoạt động đầu tư

Bên cạnh đó thì việc miễn thuế đầu tư lại là một quy định trong luật thuếnhằm mục tiêu khuyến khích đầu tư Phần miễn thuế đầu tư sẽ làm giảm mứcthuế mà doanh nghiệp phải nộp khi chi tiêu cho đầu tư, họ sẽ dành khoản tiền đó

để mua hàng đầu tư mới, nói cách khác sẽ làm giảm chi phí đầu tư thực tế của

mỗi đơn vị tư bản Như vậy, miễn thuế đầu tư làm giảm chi phí đầu tư và tăng chi tiêu đầu tư.

Trang 13

Thuế thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanhnghiệp nên chính phủ cần đưa ra chính sách thuế hợp lý nhằm khuyến khích vànâng cao hiệu quả của chi tiêu đầu tư nhưng vẫn phải đảm bảo nguồn thu chongân sách nhà nước.

II.Một số vấn đề về kích cầu và kích cầu đầu tư

1 Thế nào là kích cầu ?

1.1 Khái niệm:

Chính sách kích cầu là một loạt các biện pháp kinh tế nhằm duy trì và giatăng tổng cầu của một nước thông qua sự can thiệp của Nhà nước

1.2 Tại sao phải kích cầu? (nguồn gốc và cơ sơ của chính sách)

Chính sách kích cầu xuất phát từ học thuyết kinh tế của nhà kinh tế họcnổi tiếng người Anh John Maynard Keynes (1883-1946) Trong lý thuyết củamình, Keynes rất coi trọng tổng cầu của nền kinh tế Theo ông, nền kinh tế chịutác động của hai nhân tố cơ bản: Tổng cung, tức toàn bộ số hàng hóa bán trongnền kinh tế không phải là tổng cung mà chính là tổng cầu Tổng cung giữ vai tròthụ động, nó chịu sự tác động của tổng cầu Tổng cẩu phụ thuộc vào cac yếu tố:mức chi tiêu cá nhân của mỗi gia đình, mức chi tiêu cho đầu tư, mức chi tiêu củachính phủ và chi tiêu ròng của nước ngoài đối với hàng hóa sản xuất trong nước( xuất khẩu ròng) trên thị trường và tổng cầu, tức toàn thể số hàng hóa mà người

ta muốn mua Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lượng và việc làm

Theo Keynes, trong quá trình vận động của nền kinh tế, tổng cầu thườngkhông theo kịp so với tổng cung Điều đó ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, thuhẹp đầu tư, gây ra nạn thất nghiệp cũng như khủng hoảng kinh tế Để giải quyếttình trạng này phải tăng tổng cầu Tổng cầu lớn hơn tổng cung sẽ làm gia tăngđầu tư Do đó sẽ gia tăng việc làm và gia tăng thu nhập Cuối cùng sản lượngquốc gia cũng được gia tăng.Đồng thời, Keynes cũng đề cao vai trò của Nhànước trong việc điều tiết nền kinh tế thông qua chính sách kich cầu của Chínhphủ Ông cho rằng để thoát khỏi khủng hoảng và thất nghiệp cần có sự can thiệpcủa Nhà nước vào kinh tế để tăng tổng cầu, gia tăng việc làm và thu nhập Sựcan thiệp của Nhà nước thông qua các công cụ như chương trình đầu tư Nhànước; Chính sách tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ; Mở rộng việc làmbằng cách mở rộng đầu tư thậm chí cả vào các ngành thuộc lĩnh vực quân sự;Khuyến khích tiêu dùng cá nhân Như vậy, có thể nói, chính sách kích cầu bắtnguồn từ tư tưởng kích cầu rút ra từ hai giả thuyết quan trọng của học thuyếtKeynes:

- Giả thuyết thuyết thứ nhất:

Cuộc suy thoái bắt nguồn từ nền kinh tế có năng lực sản xuất bị dư thừa.Biểu hiện của tình trạng này là các yếu tố đầu vào cho sản xuất không được sửdụng hết công suất: thất nghiệp trên thị trường lao động, máy móc bị bỏ bê trongkhu vực doanh nghiệp, và hàng hóa ế thừa

Trang 14

Hiện tượng dư cung này khiến cho các nhà sản xuất giảm giá để hy vọngbán được hang hóa Điều này làm cho giá cả có khuynh hướng giảm trên tất cảcác thị trường Lúc này những người tiêu dùng không còn nhu cầu sử dụng thêm

vì họ đã thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của họ nên dù có giảm giá hàng hóa cũngkhông khuyến khích người mua, và cầu càng ở dưới xa cung thực tế

- Giả thuyết thứ hai:

Chính phủ có khả năng chủ động chi tiêu toàn bộ, thậm chí nhiều hơn thunhập của mình Trong khi đó, các khu vực không phải chính phủ (hộ gia đình vàkhu vực kinh tế tư nhân) thường chi tiêu ít hơn tổng thu nhập vì họ muốn đểdành (khuynh hướng tiết kiệm biên lớn hơn 0) Trong điều kiện bình thường,khoản tiết kiệm được chuyển sang khu vực doanh nghiệp để đầu tư (tạo nênthành phần của tổng cầu), nhưng trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp khôngmuốn đầu tư thêm nữa vì không có khả năng lợi nhận

Như vậy, qua giả thuyết thứ nhất, Keynes cho rằng nền kinh tế bị suythoái vì tạm thời không có đủ cầu cho cung đang dư thừa, tức là thiếu cầu hiệu

Sản lượng

Mức giá

AD AS

Mức giá

Sản lượng AD

AS

Y*

Y*

Trang 15

lực Vì thế để thoát khỏi suy thoái thì cần có một lượng cầu đủ lớn Xuất phát từgiả thuyết thứ hai, Keynes cho rằng chỉ có chính phủ mới dám chi tiêu mạnh taykhi nền kinh tế đang suy thoái.

Trên cơ sở hai giả thuyết này, Keynes đề xuất tư tưởng kích cầu theonguyên lý sau: Dịch chuyển sức mua từ khu vực dân cư và tư nhân vào tay chínhphủ để tăng cầu hiệu lực, đưa nền kinh tế ra khỏi cái bẫy đình đốn do thiếu sứcmua.

Ra đời trong giai đoạn của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933,học thuyết kinh tế của Keynes đã chiếm một vị trí quan trọng trong kinh tế họchiện đại và có ảnh hưởng sâu rộng trong chính sách kinh tề ở nhiều quốc gia trênthế giới cho đến hiện nay

1.3 Mục đích chính sách kích cầu

Mục tiêu của gói kích cầu là tạo thêm cầu để đối ứng với năng lực sảnxuất hiện tại của nền kinh tế khi suy thoái, tránh để dư thừa năng lực sản xuất ởmức quá cao gây lãng phí nguồn lực cũng như gây ra những vấn đề về xã hội dothất nghiệp tăng cao gây ra Nếu không nhanh chóng ngăn chặn, thất nghiệp sẽtiến đến ngưỡng nguy hiểm đẩy suy giảm kinh tế vào vòng xoáy luẩn quẩn: thấtnghiệp sẽ dẫn đến cắt giảm thu nhập (thực tế và kỳ vọng) làm giảm tiêu dùng,

càng làm khó khăn về đầu ra của doanh nghiệp phải tiếp tục cắt giảm sản xuất

và lao động, đẩy thất nghiệp tăng lên ở vòng tiếp theo và cứ tiếp tục như vậy Dovậy mục đích lớn nhất của gói kích cầu là duy trì việc làm.

1.4 Các nguyên tắc cơ bản để thực hiện kích cầu

Nếu một gói kích cầu được thiết kế không tốt, thì mặc dù có tên gọi là góikích cầu, nhưng trên thực tế những gói kích cầu này dù có thể rất tốn kém nhưnglại không “kích thích” được nền kinh tế Điều này đặc biệt đúng nếu gói kíchcầu không tuân theo các nguyên tắc nhất định của kinh tế học, mà lại được thiết

kế để đáp ứng các yêu cầu về chính trị hoặc theo các nhóm lợi ích TheoLawrence Summers (giáo sư kinh tế, cố vấn kinh tế cho tổng thống Obama) chorằng để một gói kích cầu có hiệu quả thì phải đảm bảo ít nhất 3 điều kiện: Kịpthời, đúng đối tượng và ngắn hạn (nhất thời)

Sản lượng

Mức giá

AD AS

Y*

Trang 16

1.4.1 Nguyên tắc số 1: Kích cầu phải kịp thời

Kích cầu phải kịp thời có nghĩa là khi chính phủ thực hiện gói kích cầu thìnhững biện pháp kích cầu này phải có hiệu ứng kích thích ngay, làm tăng chitiêu ngay trong nền kinh tế

Kich cầu phải kịp thời ở đây không phải chỉ là việc kích cầu phải đượcchính phủ thực hiện một cách nhanh chóng khi xuất hiện nguy cơ suy thoái, màkịp thời còn có nghĩa la một khi được chinh phủ thực hiện thì những biện phápnay sẽ có hiệu ứng kích thích ngay, tức là làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh

tế Nếu để tự nền kinh tế phục hồi thì việc phục hồi sớm muộn cũng sẽ diễn ra,mặc dù việc phục hồi có thể kéo dài, cho nên mục tiêu của kích cầu là đẩy nhanhviệc phục hồi của nền kinh tế

Do đó,việc kích cầu chỉ có thể được thực hiện một cách có ý nghĩa trongmột khoảng thời gian nhất định Các chính sách mất quá nhiều thời gian để thựchiện sẽ không có tác dụng, vì khi đó nền kinh tế tự nó đã có thể phục hồi, vàviệc gói kich cầu lúc đó lại có thể có tác dụng xấu do có khả năng làm hun nóngnền kinh tế dẫn đến lạm phát và những mất cân đối vĩ mô lớn Các chương trìnhđầu tư, dự án đầu tư có tốc độ giải ngân chậm không phải là những công cụ kíchcầu tốt Điều này la bởi vì khi tổng cầu sụt giảm, thi các biện pháp này lại không

có tác động gì tới tổng cầu trong lúc cần phải tăng tổng cầu lên nhiều nhất (đểtránh các tác động tích cực của suy thoai như việc cac doanh nghiệp sa thải côngnhân)

1.4.2 Nguyên tắc số 2: Kích cầu phải đúng đối tượng

Mức độ “đúng đối tượng” của gói kích cầu của Chính phủ phụ thuộc vào:+ Mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thu nhập nhờ có gói kích cầuthông qua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòng

+ Mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở trong mỗi vòngcủa tác động lan tỏa

Gói kích cầu có thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào xuhướng chi tiêu và đầu tư của các đối tượng thuộc diện nằm trong goi kich cầu

Để kích thích được cầu đối với hàng hóa va dịch vụ, thi gói kích cầu phải đượcnhắm tới nhóm đối tượng sao cho gói kích cầu được sử dụng ngay (chi tiêungay), và qua đó làm tăng tổng cầu trong nền kinh tế Những biện pháp kich cầuđúng đối tượng là những biện pháp nhắm tới các đối tượng sẽ chi tiêu hầu nhưtoàn bộ lượng kích cầu dành cho họ Muc tiêu của gói kích cầu là làm tăng cầu,nên chìa khóa để thực hiện điều này là cấp tiền cho những người (có thể là các

cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và chính quyền) – sẽ sử dụng những đồngtiền nay, và qua đó đưa thêm tiền vào nền kinh tế Tiền kích cầu phải được sửdụng để khuyến khích các nhóm đối tượng này tiến hành các khoản chi tiêu mới,hoặc hạn chế việc các nhóm này cắt giảm chi tiêu Ở thế giới cũng như ở ViệtNam, những người có thu nhập thấp thường có mức tiêu dùng cao trên 1 đồngthu nhập có thêm được và thường tiêu dùng hàng nội địa Do vậy, nếu kích cầuđúng nhóm đối tượng này thì đạt đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu quả vàcôngbằng, khác với sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng mà trong kinh tếthường gặp

Trang 17

Kích cầu đúng đối tượng là việc kích cầu hướng tới những chủ thể kinh tếnào tiêu dùng nhanh hơn khoản tài chính được hưởng nhờ kích cầu và do đó sẽsớm gây ra tác động lan tỏa tới tổng cầu hơn, đồng thời gướng tới những chủ thểkinh tế nào bị tác động bất lợi hơn cả bởi suy thoái kinh tế, thường đó là nhữngchủ thể kinh tế có thu nhập thấp hơn Việc hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp

để họ không phải giảm tiêu dùng thậm chí còn tăng tiêu dùng tạo ra hiệu ứng lantỏa, kích thích doanh nghiệp mở rộng sản xuất và thuê mướn thêm lao động

Tóm lại, mức độ “đúng đối tượng” (well-targeted) của gói kích cầu củaChính phủ phụ thuộc vào: (i) mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thunhập nhờ có gói kích cầu thông qua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòngnhư mô tả ở trên; và (ii) mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ởtrong mỗi vòng của tác động lan tỏa

1.4.3 Nguyên tắc số 3: Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn

Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tếđược cải thiện Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa:

+ Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu+ Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới tình hình ngânsách trong dài hạn.

(i) Tính ngắn hạn làm tăng hiệu quả của gói kích cầu:

Những chính sách mà vẫn còn hiệu lực sau khi nền kinh tế phục hồi, ví dụnhư chinh sách cắt giảm thuế cố định (permanent tax cuts) là những biện phápkích cầu kém hiệu quả bởi vì những biện pháp kích thích này sẽ trở thành nhữngkhoản chi phí của chính phủ hoặc khoản thất thu khi mà thời gian cần kích thích

đã kết thúc Hơn thế nữa, các biện pháp như tín dụng đầu tư, hoặc ưu đãi khấuhao tài sản sẽ là những biện pháp kích cầu hiệu quả hơn khi được thực hiện lànhững gói tạm thời, ngắn hạn Nếu là những biện pháp dài hạn sẽ không kíchthích được cầu Điều này là do các biện pháp nếu chỉ được thực hiện trong ngắnhạn sẽ khuyến khích được các doanh nghiệp tiến hành, đẩy nhanh tốc độ đầu tư

để tận dụng những ưu đãi này (ví dụ như ưu đãi về thuế) Những biện pháp dàihạn, ví dụ như giảm thuế quá lâu sẽ không phải là một biện pháp kích cầu tốt,bởi vì các doanh nghiệp sẽ không cảm thấy cần thiết phải đẩy nhanh tốc độ đầu

tư trong giai đoạn nền kinh tế cần được kích thích nhất

(ii) Ngắn hạn để đảm bảo không làm ảnh hưởng tới ngân sách trong dài hạn.

Thông thường khi thực hiện các biện pháp kích thích nền kinh tế bằngviệc mở rộng chi tiêu (tạm thời) của chính phủ sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách.Do

đó, các gói kích cầu chỉ được phép mang tính tạm thời, và trong ngắn hạn có thểlàm tăng thâm hụt ngân sách, nhưng trong dài hạn phải không được phép làmthâm hụt ngân sách trầm trọng hơn Việc đảm bảo rằng trong dài hạn tình hìnhkinh tế không kèm đi cũng là yếu tố quan trọng để gói kích cầu ngắn hạn đạthiệu quả hơn

Khi cân nhắc xem xét các biện pháp kích cầu cụ thể của gói kích cầu, thì

cả ba nguyên tắc trên đều phải được tuân thủ và xem xét một cách đồng thời.Nếu một biện pháp kích cầu cụ thể mà vi phạm một trong ba nguyên tắc trên thì

về cơ bản biện pháp kích cầu đó chưa phải là một biện pháp kích cầu tốt Để

Trang 18

tăng hiệu quả của gói kích cầu, cần có các chính sách bổ trợ khác (không viphạm các cam kết thương mại quốc tế của quốc gia) như không để tỉ giá bị địnhgiá cao (overvalued) và tăng tính linh hoạt của tỉ giá nhằm sử dụng công cụ nàynhư vẫn tự động điều chỉnh thâm hụt thươngmại ở mức hợp lý và bền vững.

1.5 Điều kiện áp dụng các biện pháp kích cầu

Khủng hoảng- phục hồi- hưng thịnh- suy thoái là các pha trong chu kì củamột nền kinh tế,đây là yếu tố khách quan mà không một chính phủ hay một tổchức nào có thể thay đổi được Suy thoái kinh tế có thể liên quan đến sự suygiảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việclàm,đầu tư,lợi nhuận.Suy thoái có thể gắn liền với hạ giá cả (giảm phát) hoặcngược lại giá cả tăng nhanh(lạm phát) Một sự suy thoái lâu dài và trầm trọngđược gọi là khủng hoảng kinh tế Khi lý thuyết bàn tay vô hình của Adamsmithsụp đổ với đỉnh điểm là cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 phải nhường lại chokinh tế học vĩ mô “Keynes” với trọng tâm chính là nêu bật vai trò tăng trưởngtiền lương(để tăng tổng cầu) và vai trò của nhà nước trong việc quản lý nền kinh

tế Từ khi kinh tế học keynes ra đời với các biện pháp can thiệp của chính phủvào nền kinh tế để điều chỉnh những méo mó của thị trường thì nền kinh tế thịtrường ở các nước có sự chuyể biến rõ nét Khi nền kinh tế có dấu hiệu bắt đầusuy thoái kéo dài, để tránh tình trạng trở nên tồi tệ hơn, chính phủ các nước đã

áp dụng nhiều chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô để kích cầu nhằm đưa nềnkinh tế tăng trưởng trở lại Trong đó kích cầu đầu tư là biện pháp hữu hiệu củacác chính phủ

2 Kích cầu đầu tư

2.1 Khái niệm:

Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các công cụpháp lý được sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hút ngày càngnhiều vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hộitrong một giai đoạn hay thời kì nhất định

2.2 Phân biệt kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng

Kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng là hai khái niệm thường được nhắctới cùng nhau tuy nhiên về bản chất thì hai khái niệm này có sự khác biệt

Trước hết là về đối tượng tác động của hai loại hình kích cầu này là khácnhau Đối tượng của kích cầu tiêu dùng là về phía cầu trong nền kinh tế, thôngqua các chính sách của chính phủ để kích thích tiêu dùng trong nước như chínhsách thuế thu nhập cá nhân, chính sách hỗ trợ người tiêu dùng Mục đích củakích cầu tiêu dùng là kích thích tiêu dùng trong nước thông qua đó tạo thêm thịtrường cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất giúp nền kinh tế lấy lại đà tăngtrưởng trong tình hình nền kinh tế gặp khó khăn như thời kì hậu khủng hoảng.Còn xét về kích cầu đầu tư thì đây là các chính sách trực tiếp tác động tới hoạtđộng đầu tư của nền kinh tế nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư sản xuất củadoanh nghiệp thông qua chính sách lãi suất hay chính sách thuế thu nhập doanhnghiệp

Trang 19

Khác với kích cầu tiêu dùng, kích cầu đầu tư có tác động tích cực cả trongngắn hạn và trong dài hạn vì đầu tư không chỉ là cấu phần của tổng cầu mà còn

là yếu tố cấu thành trữ lượng vốn của tổng cung Trong ngắn hạn,khi đầu tư tăng

sẽ tạo thêm công ăn việc làm và nhu cầu hàng hóa sản xuất trực tiếp cho ngànhđược đầu tư và tiếp đến là các ngành liên quan và cuối cùng tạo tác động lan tỏatăng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ sản xuất của toàn bộ nền kinh tế Về dài hạn,đầu tư làm tăng nguồn vốn, làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế và dovậy tổng cung tăng sẽ tạo động lưc bền vững cho tăng trưởng dài hạn

Tuy nhiên hai chính sách kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng lại cóquan hệ bổ trợ lẫn nhau, bổ xung cho nhau nhằm phát huy tốt hơn hiệu quả của

cả hai chính sách,tất cả đều hướng tới mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế

2.3 Ý nghĩa của kích cầu đầu tư

Kích cầu đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, nhất

là một nước đang phát triển như Việt Nam Ở các nước đang phát triển hiện naytồn tại "cái vòng luẩn quẩn" với đặc điểm là : thu nhập thấp – tích lũy thấp –trình độ công nghệ lạc hậu – năng suất thấp, và cần các biện pháp kích cầu đầu

tư để phá vỡ nó, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

Có những biện pháp kích cầu đầu tư cụ thể và thích hợp sẽ làm tănglượng vốn đầu tư toàn xã hội, tăng nhu cầu đầu tư xây dựng và cải thiện mứcsống của người dân Đầu tư tăng sẽ làm tăng tổng cung, kích cầu tiêu dùng Đầu

tư vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh

tế Vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởngkinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu theo ngành, vùng lãnh thổ và theo thànhphần kinh tế Đầu tư nước ngoài còn thu hút khoa học công nghệ hiện đại củacác nước trên thé giới, làm thay đổi bộ mặt của toàn bộ nền kinh tế, cải thiện cácvấn đề xã hội Như vậy kích cầu đầu tư có tác dụng rất quan trọng ở mỗi quốcgia, và mang tính tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội dài hạn

2.4 Tác động của kích cầu đầu tư

Khi chúng ta thi hành bất kì một chính sách nào tác động vào nền kinh tếthì các chính sách đó bao giờ cũng có tính hai mặt, có thể là tích cực đối với yếu

tố này nhưng lại là tiêu cực với yếu tố kia, và đôi khi bản thân các yếu tố cũng

có tác động qua lại lẫn nhau Bên cạnh việc có thể đạt được các mục đích nhưmong muốn thì còn tồn tại những tiêu cực không mong muốn Đối với chínhsách kích cầu đầu tư thường được sử dụng khi nền kinh tế lâm vào khó khăn nhưkhủng hoảng kinh tế cũng không nằm ngoài qui luật đó Khi chính phủ thực hiệncác chính sách kích cầu đầu tư sẽ tác động cả mặt tích cực và tiêu cực tới nềnkinh tế Bài toán đặt ra ở đây là làm cách nào để đạt được tối đa hiệu quả củachính sách và giảm đến mức tối thiểu các tác động tiêu cực Và thông quanghiên cứu những tác động của kích cầu đầu tư để có thể rút ra những bài họccho hoạt động kích cầu Vì vậy cần cân nhắc thận trọng khi đưa ra các quyếtđịnh can thiệp Mục tiêu cuối cùng của kích cầu đầu tư là tăng trưởng kinh tếnhưng phải đảm bảo cả về mặt văn hóa, xã hội

2.4.1 Tác động tích cực

Trang 20

2.4.1.1 Tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế

- Tác động đến tổng cầu: Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu

tư Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh

tế Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24 đến 28%trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đối với tổng cầu tácđộng của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu

tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu Khi tổng cung chưa kịp thayđổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng (nếu các yếu tố khác khôngđổi).Ta có công thức sau:

AD=C+I+G+X-M

Trong đó: C: Tiêu dùng

I: Đầu tưG: Tiêu dùng của Chính PhủX: Xuất khẩu

M: Nhập khẩu

- Tác động đến cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính làcung trong nước và cung từ nước ngoài Bộ phận chủ yếu, cung trong nước làmột hàm của các yêu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…thểhiện qua phương trình sau:

Q= F(K, L, T, R…)

Trong đó: K: Vốn đầu tư

L: Lao động T: Công nghệR: Tài nguyênNhư vậy kích cầu đầu tư làm tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trựctiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế, nếu các yếu tố khác không đổi Mặtkhác tác động của vốn đầu tư còn được thể hiện thông qua việc nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực đổi mới công nghệ…Do đó đầu tư lại gián tiếp làm tăngtổng cung của nền kinh tế

Mối quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là mối quan hệbiện chứng nhân quả, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Đây là cơ

sở lý luận để giải thích chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng ở nhiều nướctrong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng chậm

2.4.1.2 Tác động đến tăng trưởng kinh tế

- Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động tới chất lượngtăng trưởng Kích cầu đầu tư làm tăng qui mô vốn đầu tư và sử dụng hợp lýnhững nhân tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, tăng năngsuất nhân tố tổng hợp, tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theon hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế…do đó,nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế

- Mô hình số nhân đầu tư :

Nếu đầu tư tăng 1 lượng ∆I thì thu nhập quốc dân sẽ tăng lên 1 lượng ∆Ytương ứng Trong đó:

∆Y = 1/(1- MPC)*∆I

Trang 21

Với 1/(1- MPC) là số nhân dầu tư, MPC là tiêu dùng cận biên

+ Xét 1 cách đơn giản với số nhân tĩnh

Y = C+S ; S = I  Y = C + IC= aY + b => ∆Y = a∆Y + ∆I

∆Y = 1/(1-a) ∆I với a = MPC+ Với số nhân động:

Yt = Ct + It với S = I

Ct = aYt + bNếu như ta tăng một lượng đầu tư ở năm thứ nhất 1 lượng là ∆I thì sẽ dầnđến một ảnh hưởng dây chuyền đến tất cả các yếu tố và các năm sau đó

=> ∆Y = 1/ (1-a) ∆I

Như vậy theo mô hình này sự gia tăng một khoản đầu tư sẽ có tác độnglan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế và mở rộng tác động của nó Khi đầu tư tăngthêm 1 lượng thì thu nhập quốc dân sẽ tăng lên với số nhân đầu tư là mI =1/ (1-MPC), MPC càng lớn thì chính sách kích cầu đầu tư càng có hiệu quả

Mô hình cho thấy được tầm quan trọng của kích cầu đầu tư đối với sựtăng trưởng và phát triển kinh tế

2.4.1.3 Tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Đối với cơ cấu ngành kinh tế:

Việc đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn là bao nhiêu, đồng vốn được sửdụng như thế nào đều tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự phát triển của ngànhnói riêng và của cả nền kinh tế nói chung Cụ thể, đầu tư sẽ góp phần tăng cườngvật chất kĩ thuật, nâng cao hàm lượng công nghệ qua đó nâng cao năng suất laođộng của ngành Nhờ đó sẽ tạo ra sản lượng cao hơn với giá thành thấp hơn Mặtkhác, đầu tư là tiền đề tập trung các nguồn lực khác của nền kinh tế (lao động,tàinguyên,vốn dư thừa…) cho mục tiêu phát triển ngành Chính đầu tư chứ khôngphải các quyết định hành chính là nhân tố trực tiếp nhất có thể huy động tất cảcác yếu tố đầu vào cần thiết cho sự phát triển của ngành Không những thế việcđầu tư còn tạo ra điều kiện vật chất cho sự ra đời của những ngành mới Sự thayđổi tỉ trọng giữa các ngành và sự ra đời của những ngành mới chính là chuyểndịch cơ cấu kinh tế ngành

- Đối với cơ cấu lãnh thổ kinh tế:

Có thể dễ dàng nhận thấy bất cứ vùng nào nhận được một sự đầu tư thíchhợp đều có điều kiện để phát huy mạnh mẽ những thế mạnh của mình Nhữngvùng tập trung nhiều khu công nghiệp lớn đều là những vùng rất phát triển củamột quốc gia Những vùng có điều kiện được đầu tư sẽ là đầu tàu kéo các vùngkhác cùng phát triển Những vùng kém phát triển có thể nhờ vào đầu tư để thoátkhỏi đói nghèo và giảm dần khoảng cách với các vùng khác Nếu xét cơ cấulãnh thổ theo góc độ thành thị và nông thôn thì đầu tư là yếu tố bảo đảm cho

Trang 22

chất lượng của đô thị hoá Việc mở rộng các khu đô thị dựa trên các quyết địnhcủa chính phủ sẽ chỉ là hình thức nếu không đi kèm với các khoản đầu tư hợp lý.

Đô thị hoá không thể gọi là thành công thậm chí còn cản trở sự phát triển nếu cơ

sớ hạ tầng không đáp ứng được các nhu cầu của người dân Các dịch vụ y tế,giáo dục… cũng cần được đầu tư cho phù hợp với sự phát triển của một đô thị

- Đối với cơ cấu thành phần kinh tế:

Đối với mỗi quốc gia, việc tổ chức các thành phần kinh tế chủ yếu phụthuộc vào chiến lược phát triển của chính phủ Các chính sách kinh tế sẽ quyếtđịnh thành phần nào là chủ đạo; thành phần nào được ưu tiên phát triển; vai trò;nhiệm vụ của các thành phần trong nền kinh tế…Ở đây đầu tư đóng vai trò nhân

tố thực hiện

Việc kích cầu đầu tư cũng đi đối với việc thay đổi các biện pháp chínhsách, phương hướng phát triển của cả xã hội Tùy và điều kiện và trình độ pháttriển của mỗi quốc gia khác nhau mà có những chiến lược phát triển các ngànhnghề trọng điểm khác nhau Động lực chính của sự chuyển dịch này đó là nhữngngành nghề quan trọng, mang lại thu nhập cao cho nên kinh tế quốc dân cầnphải được chú trọng phát triển

2.4.1.4 Tác động đến khoa học công nghệ.

Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới quyết định đổi mới và pháttriển khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia.Trong mỗi thời kỳ,các nước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển công nghệ Trong giai đoạnđầu, các nước phát triển do có nhiều lao đông và nguyên liệu, thường đầu tư cácloại công nghệ sử dụng nhiều lao đông và nguyên liệu, sau đó giảm dần hàmlượng lao động và nguyên liệu trong sản xuất sản phẩm và tăng dần hàm lượngvốn thiết bị và tri thức thông qua việc đầu tư công nghệ hiện đại hơn và đầu tưđúng mức để phát triển nguồn nhân lực Đến giai đoạn phát triển, xu hướng đầu

tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối.Tuynhiên, quá trình chuyển từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ ba cũng là quátrình chuyển từ đầu tư ít sang đầu tư lớn, thay đổi cơ cấu đầu tư Không có vốnđầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi và sựphát triển của khoa học và công nghệ

Công nghệ mà doanh nghiệp có được là do nhập khẩu từ bên ngoài hoặc

tự nghiên cứu và ứng dụng Dù nhập khẩu hay tự nghiên cứu cũng đòi hỏi lượngvốn đầu tư lớn Mỗi doanh nghiệp, mỗi nước khác nhau cần phải có bước đi phùhợp để lựa chon công nghệ thích hợp Trên cơ sở đó, đầu tư có hiệu quả để pháthuy lợi thế so sánh của từng đơn vị cũng như toàn nền kinh tế quốc dân

Tạo ra sự phát triển của khoa học công nghệ là góp phần quan trọng vàotăng trưởng trong dài hạn của nền kinh tế, vì tiến bộ khoa học là động lực mạnh

mẽ nhất phá vỡ giới hạn của tăng trưởng

2.4.1.5 Góp phần giảm bớt áp lực thất nghiệp và đảm bảo ổn định xã hội.

Để kích cầu đầu tư trong nước thì chính phủ đã thực hiện các chính sáchtăng chi tiêu công,đẩy nhanh giải ngân vốn cho các công trình xây dựng cơ bản

Ví dụ như xây dựng đường giao thông vận tải, các công trình xây dựng nhà ở xãhội,các chính sách này đã gián tiếp thông qua các công ty có liên quan tạo thêm

Trang 23

việc làm cho người lao động, bên cạnh việc các doanh nghiệp sau khi nhận đượccác gói kích thích kinh tế đã cơ bản vượt qua các khó khăn bước đầu phục hồi vàphát triển Như vậy nhìn chung các biện pháp kích cầu nói chung và các biệnpháp kích cầu đầu tư nói riêng đã có tác động tốt tới tình hình việc làm và giảmbớt tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế Bởi lẽ thất nghiệp là một trong các yếu tốkìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế.

2.4.2 Mặt trái của kích cầu

Bên cạnh những tác động tích cực của kích cầu nói trên thì việc lạmdụng và sử dụng không hiệu quả các gói kích cầu có thể gây ra một số hiệu ứngtiêu cực Mặt trái của kích cầu được biểu hiện ở các phương diện sau:

2.4.2.1 Nguy cơ sa vào bẫy thanh khoản

Bẫy thanh khoản là hiện tượng trong đó chính sách tiền tệ được nới lỏng

bằng biện pháp giảm lãi suất để rồi lãi suất xuống thấp quá một mức nhất địnhkhiến cho mọi người quyết định giữ tài sản của mình dưới dạng tiền mặt vàchính sách tiền tệ trở nên bất lực Về bản chất, “bẫy thanh khoản” hay “bẫy tiềnmặt” xảy ra khi đường LM trong mô hình IS-LM trở nên thoải và song song vớitrục hoành Khi đó việc điều tiết chu kỳ kinh tế chỉ còn trông cậy vào chínhsách tài chính Đây là một trong những lý luận của kinh tế học Keynes Khi nềnkinh tế vào pha suy thoái, ngân hàng trung ương sẽ nới lỏng chính sách tiền tệbằng việc giảm lãi suất để kích thích tiêu dùng và kích thích đầu tư tư nhân dẫntới tăng tổng cầu, thoát khỏi suy thoái Tuy nhiên, nếu việc giảm lãi suất là liêntục và xuống thấp quá mức thì, theo thuyết ưa chuộng tính thanh khoản, mọingười sẽ giữ tiền mặt chứ không gửi vào ngân hàng hay mua chứng khoán Hậuquả là đầu tư tư nhân khó có thể được thúc đẩy vì ngân hàng không huy độngđược tiền gửi thì cũng không thể cho xí nghiệp vay và chứng khoán không bánđược thì xí nghiệp cũng không huy động được vốn Chính sách tiền tệ trở nênbất lực trong việc thúc đẩy đầu tư tư nhân và do đó là bất lực trong kích thíchtổng cầu Trong khi đó, chính sách tài chính thường không phát huy được hiệulực đầy đủ do hiện tượng thoái lui đầu tư thì lúc này lại phát huy đầy đủ hiệu lực

do hiện tượng thoái lui đầu tư không còn (vì lãi suất thấp) Tuy nhiên khi đó sẽdẫn tới tình trạng trì trệ trong đầu tư tư nhân, kéo theo toàn bộ nền kinh tế trì trệ

Kinh tế học Keynes cho rằng khi nền kinh tế rơi vào tình trạng này thì chỉ

có cách sử dụng tích cực chính sách tài khóa (giảm thuế, tăng chi tiêu côngcộng), tăng xuất khẩu ròng, khuyến khích tư nhân đầu tư để đổi mới công nghệ.Cũng có các biện pháp khác đó là nới lỏng tiền tệ thông qua cơ sở tiền tệ Việctiếp tục thực hiện chính sách mở rộng chi tiêu Chính phủ trong điều kiện tồn tại

“bẫy thanh khoản” sẽ làm giảm quyền lực của rào cản kiểm soát tín dụng và làmcho dư nợ tín dụng và nợ quá hạn tăng lên nhanh chóng Trong trường hợp này,Paul Krugman cho rằng tác động của chính sách tiền tệ là ở chỗ cam kết củaNHTW trong việc duy trì một chính sách tiền tệ nới lỏng dài hạn có kiểm soát.Việc duy trì dài hạn một chính sách tiền tệ nới lỏng, tuy nhiên, có thể chứa đựngnguy cơ lạm phát và thâm hụt tài khoản vãng lai nếu như sự nới lỏng này khôngtạo nên động lực điều chỉnh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng nhưnăng lực quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng

Trang 24

2.4.2.2 Thâm hụt ngân sách và gia tăng gánh nặng nợ.

Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sáchnhà nước cho việc thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ Thực chất của nó làviệc cung cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của chính phủ.Thâmhụt ngân sách nhà nước là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nướcvượt qua các khoản thu không mang tính hoàn trả ( thu trong cân đối ngân sách)

Phương trình cân bằng ngân sách: B= T- G

Như đã biết trong kích cầu nói chung hay kích cầu đầu tư nói riêng chínhsách tài khóa mở rộng được áp dụng thông qua biện pháp cụ thể là giảm thuế vàtăng chi tiêu ngân sách nhà nước, biện pháp thứ hai được cho rằng có hiệu suấtkích thích tổng cầu cao hơn Một khi gói kích cầu quá lớn hệ quả tất yếu là sẽcàng khoét sâu thêm vào thâm hụt ngân sách nếu như không có chính sách kịpthời, thậm chí nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới lòng tin của các nhà đầu tư

Việc kích cầu đầu tư đòi hỏi phải chấp nhận một mức thâm hụt ngân sách,tuy nhiên sẽ phải có nguồn bù đắp trong thời gian sau đó Hai nguồn chính bùđắp cho thâm hụt ngân sách là vay trong nước và ngoài nước, nếu như các khoảnchi ngân sách để kích thích sản xuất có hiệu quả sẽ tạo ra nguồn thu để trả cáckhoản nợ nhưng nếu chúng không được sử dụng hiệu quả sẽ tạo ra sự lãng phílớn và làm gia tăng gánh nặng nợ quốc gia cũng như gánh nặng nợ chính phủ.Trong dài hạn, bội chi ngân sách sẽ tạo áp lực tăng lãi suất và sẽ dẫn tới thoái luiđầu tư làm giảm hiệu quả của chính sách kích cầu đầu tư

2.4.2.3 Áp lực lạm phát cao

Trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp, sử dụng chi ngân sách nhànước lớn sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách, mà việc bù đắp thâm hụt ngân sách lớnnhư vậy thực tế vẫn làm cho cung tiền tăng, nguy cơ lạm phát cao sau kích cầu.Chính sách tiền tệ và tín dụng nới lỏng nhằm phục vụ chính sách kích thích kinh

tế, hỗ trợ kích cầu đã đẩy nhanh tốc độ gia tăng của các phương tiện thanh toán,tốc độ đưa tiền ra lưu thông tiếp tục được đẩy mạnh Tuy nhiên, việc tăng quánhanh và quá mạnh tín dụng cũng là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ lạm phát Kinhnghiệm cho thấy nếu tăng trưởng tín dụng đột biến, thì chỉ sau 2-3 tháng sẽ tácđộng tới tăng giá cả và lạm phát là điều có thể thấy trước Hơn nữa, việc đổ mộtlượng tiền đầu tư lớn ra nền kinh tế, nếu như được sử dụng kém hiệu quả sẽkhông hấp thụ được lượng tiền trong nền kinh tế và lạm phát tiền tệ sẽ xảy ra.Điều này đặt ra yêu cầu trong việc sử dụng chính sách kích cầu phải đảm bảotính ngắn hạn, các giải pháp chính sách tiền tệ cần được giảm thiểu đúng lúcđồng thời việc sử dụng vốn đúng mục đích và cho hoạt động của nền kinh tế cóhiệu quả sẽ góp phần làm giảm nguy cơ lạm phát cao, tạo ra sự ổn định vĩ mô

2.5 Nguồn vốn cho kích cầu đầu tư

Vốn là nhân tố vô cùng quan trọng cho việc kích cầu nói chung và kíchcầu đầu tư nói riêng bởi nếu không có vốn đầu tư thì không thể tiến hànhcáchoạt động đầu tư và nền kinh tế cũng không thể tăng trưởng được Vì thế chínhphủ mỗi nước trước khi tung ra các gói kích cầu cần nghiên cứu, xem xét chi tiết

Trang 25

đến các nguồn vốn có thể cung ứng để đảm bảo cho họat động kích cầu đầu tưhiệu quả nhất Dưới đây là một số nguồn vốn chủ yếu cho kích cầu đầu tư:

để thanh toán và ngoài ra còn có rủi ro về tỷ giá Tuy nhiên, việc tài trợ này gặpphải những khó khăn nhất định :

-Nếu lãi suất không hấp dẫn thì khó có thể huy động được vốn trong dân dokhông cạnh tranh được với lãi suất của các định chế tài chính khác

-Chính phủ có thể phát hành trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức, cánhân và Lạm phát kỳ vọng có thể tăng

-Việc tài trợ cho gói kích cầu này thông qua vay nợ sẽ đẩy lãi suất lên cao vàgây sức ép xấu đến khu vực tư nhân và tăng trưởng kinh tế Huy động với lãi suấtcao còn làm tăng các khoản trả lãi thêm hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm trongtương lai, và làm trầm trọng thêm vấn đề thâm hụt ngân sách

* Vay nợ từ hệ thống các ngân hàng thương mại

Việc vay nợ này tuy có thể vay được lượng vốn lớn nhưng cũng gặp những hạnchế không nhỏ :

-Gây sức ép đối với dự trữ của các ngân hàng này và các ngân hàng sẽ đòihỏi trợ giúp về khả năng thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước Nếu những đòi hỏinày được đáp ứng, cơ sở tiền tệ sẽ tăng và lạm phát sẽ quay trở lại

-Nếu Ngân hàng Nhà nước không đáp ứng những đòi hỏi về tính thanh khoảnnày, các ngân hàng thương mại buộc phải giảm các nguồn tín dụng cho khu vựcdoanh nghiệp tư nhân và lao vào một cuộc cạnh tranh lãi suất huy động, đây chính

là hiện tượng chi tiêu chính phủ lấn át đầu tư của khu vực tư nhân

Do vậy, việc thực hiện gói kích cầu có thể không đạt được mục tiêu nhưmong đợi khi biện pháp tài trợ thông qua vay nợ trong nước được lựa chọn Việcvay nợ sẽ đẩy lãi suất lên cao và gây khó khăn thêm cho các doanh nghiệp tưnhân và không thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế

2.5.2 Quỹ dự phòng NSNN

Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tưcho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốttrên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển cácdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong những điều kiện cụ thể, nguồnkinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển củacác doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyểnsang cơ cấu mới hợp lý hơn Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồntài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò địnhhướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh

2.5.3 Quỹ dự trữ ngoại hối

Trang 26

Ngoại tệ sẽ được bán ra công chúng cho tới khi dự trữ giảm xuống ngưỡng

an toàn Việc tài trợ này cực kỳ rủi ro nếu công chúng tin rằng dự trữ ngoại hốiđang cạn dần và có thể dẫn đến sự tháo chạy của tư bản nước ngoài và đầu cơngoại tệ Cuối cùng sẽ là sự phá giá đồng nội tệ và sức ép lạm phát

Việc kích thích đầu tư và tiêu dùng thường kéo theo sự gia tăng mạnh củanhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng… thì phải đảm bảomức dự trữ ngoại hối đảm bảo an toàn của hệ thống tỷ giá (đặc biệt về mặt tâmlý)

Rõ ràng, việc sử dụng dự trữ ngoại hối tài trợ toàn bộ cho gói kích cầu vài

tỷ USD là điều vừa không khả thi vừa không sáng suốt Nếu sử dụng một phần thìcần phải thận trọng và minh bạch để không gây những bất ổn tâm lý không đángcó

2.5.4 In tiền: Có hai trường hợp xảy ra :

- Một là Chính phủ có thể trực tiếp thông qua Ngân hàng Trung ương in tiền

để tài trợ cho chi tiêu Biện pháp tài trợ này ngay lập tức sẽ dẫn đến tăng trưởng

cơ sở tiền tệ và cung tiền

- Hai là Chính phủ ban đầu có thể vay tiền của công chúng và hệ thống ngânhàng thương mại thông qua phát hành trái phiếu Nhưng nếu sau đó Ngân hàngTrung ương can thiệp mua lại các khoản nợ này của chính phủ thông qua nghiệp

vụ thị trường mở, hoặc nhằm đáp ứng sức ép thanh khoản gia tăng của hệ thốngngân hàng thương mại, thì một lượng tiền tương tự như khi in tiền trực tiếp cũng

sẽ được bơm vào nền kinh tế

Trong cả hai trường hợp, cơ sở tiền tệ và cung tiền sẽ tăng, gây ra lạm phát

và bất ổn kinh tế vĩ mô trong tương lai

Việc tài trợ cho chi tiêu qua gói kích cầu thông qua Ngân hàng Trung ươngcòn có thể làm trầm trọng hơn những rủi ro kinh tế khi Ngân hàng Trung ươngtheo đuổi chế độ tỷ giá gắn chặt với đồng USD (như Việt Nam hiện nay)

Như đã nói ở trên, kích thích đầu tư và tiêu dùng thường kéo theo sự giatăng mạnh của nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng Vìvậy, việc tài trợ cho gói giải pháp kích cầu thông qua Ngân hàng Trung ương, mộtmặt làm tăng cung nội tệ, mặt khác làm tăng cầu ngoại tệ do nhu cầu nhập khẩutăng

Khi đó, Ngân hàng Trung ương sẽ buộc phải can thiệp vào thị trường ngoạihối bằng cách bán ra ngoại tệ nhằm duy trì tỷ giá, gây sức ép về tính thanh khoảnđối với hệ thống ngân hàng thương mại, thâm thủng dự trữ ngoại hối, phá giáđồng nội tệ, và cuối cùng là lạm phát

2.5.5 Vay nước ngoài

Khả năng vay nợ thêm nước ngoài trong bối cảnh khủng khoảng kinh tếtoàn cầu là rất khó khăn cùng với đó là việc giảm cấp vốn ODA từ các nhà tài trợ

Tác động của việc tài trợ cho gói kích cầu thông qua biện pháp vay nợ nướcngoài, nếu có, sẽ phụ thuộc nhiều vào chủ trương theo đuổi chế độ tỷ giá củaNgân hàng trung ương

Nếu Ngân hàng Nhà nước theo đuổi chính sách ổn định tỷ giá quanh mứccông bố, điều này có nghĩa Ngân hàng trung ương sẽ phải can thiệp mua vào

Trang 27

lượng dư cung ngoại tệ do Chính phủ đã bơm vào nền kinh tế sau khi vay nướcngoài Cơ sở tiền tệ và cung tiền cuối cùng sẽ tăng và gây ra lạm phát.

Tuy nhiên, nếu Ngân hàng trung ương chủ động thả lỏng mức kiểm soát tỷgiá thì hậu quả của việc làm này sẽ là sự lên giá của đồng nội tệ và tác động xấuđến khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới của hàng xuất khẩu

Mặc dù vậy, đây vẫn là nguồn mà các chính phủ vẫn thường phải sử dụngkhi cần nhằm có nguồn vốn cho kích cầu

Chính phủ có thể kết hợp các nguồn tài trợ nói trên để tài trợ cho gói kíchcầu

2.6 Các công cụ, biện pháp sử dụng

Để thực hiện kích cầu đầu tư có hiệu quả,trong tay chính phủ có hai công

cụ quan trọng là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa Mỗi chính sách đều cónhững ưu, nhược điểm khác nhau và tùy từng tình hình của từng nước mà chínhphủ có thể sử dụng một hoặc cả hai chính sách để kích cầu đầu tư đạt hiệu quảnhất Ngoài ra còn có một số những chính sách khác hỗ trợ cho hai chính sáchtrên,thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế Dưới đây là chi tiết của các chínhsách đó:

2.6.1 Nhóm chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là công cụ quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hayNHTW để đạt được những mục đích đặc biệt như kiềm chế lạm phát, duy trì ổnđịnh tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế Chínhsách tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp haygián tiếp hông qua các nghiệp vụ thị trường mở,qui định mức dự trữ bắt buộchoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối Các công cụ của chính sách tiền tệ gồm:tái cấp vốn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, hạn mức tín dụng vàlãi suất tín dụng Tuy nhiên, hai công cụ chủ yếu của chính phủ tác động mạnhđến kích cầu đầu tư là công cụ lãi suất tín dụng và tăng hạn mức tín dụng chocác NHTM

2.6.1.1 Công cụ lãi suất tín dụng

Các nhà kinh doanh thường vay vốn để đầu tư, lãi suất phản ánh giákhoản vay mượn Vì vậy, nếu giá của tiền vay ( lãi suất) lớn hơn tỷ suất lợinhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm qui mô đầu tư và ngược lại

Mối quan hệ giữa tỷ lệ lãi suất và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư có thểđược minh họa như sau:

Trang 28

Quy mô vốn

Sự tăng giảm tỷ lệ lãi suất thực tế là một trong những nhân tố ảnh hưởngđến sự tăng giảm qui mô đầu tư Vì vậy vó thể dùng các chính sách tác động đếnlãi suất trên thị trường vốn để từ đó kích cầu đầu tư

Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi

vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiềntrong lưu thông, mà chỉ có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất Nó là mộtcông cụ rất hiệu quả Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủtrương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiếtlãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định Về mốiquan hệ giữa lãi suất và đầu tư, mức lãi suất càng thấp thì mức đầu tư càng cao

và ngược lại Điều này có thể giải thích là khi đầu tư, nguồn vốn có thể được tàitrợ bằng vốn tự có hay đi vay mượn Bất luận dự án đầu tư được tài trợ bằngphương thức nào, mức lãi suất cũng là một phần chi phí cơ hội của dự án đó.Tiền trả lãi cho khoản tiền vay để đầu tư cho sản xuất là chi phí trực tiếp Nhưngnguồn vốn tự có của một doanh nghiệp có thể dùng để cho vay với một mức lãisuất nào đó Tiền lãi mà doanh nghiệp bị mất khi sử dụng nguồn vốn tự có để tàitrợ cho dự án riêng của chính mình, thay vì dùng để cho vay được gọi là chi phí

cơ hội Mức lãi suất càng thấp thì chi phí cơ hội của dự án càng thấp, càng cónhiều dự án đầu tư mang lại lợi nhuận và vì vậy mức đầu tư sẽ gia tăng

Do đó Chính phủ có thể điều chỉnh lãi suất tiền vay để tác động vào đầu

tư, cụ thể là tăng cung tiền tác động làm giảm lãi suất để tăng cầu đầu tư

Cụ thể: I ( Cầu đầu tư ): lượng vốn đầu tư nền kinh tế cần;

r : lãi suất;

Trang 29

Khi tăng cung tiền từ MS1 đến MS2 trong khi cầu tiền không đổi thì lãisuất sẽ giảm từ r0 xuống r1, do đầu tư tỷ lệ nghịch với lãi suất nên đầu tư tăngtương ứng từ Io đến I1.

Điều tiết mức lãi suất ngân hàng là phạm vi trách nhiệm của chính sáchtiền tệ Với công cụ lãi suất, ngân hàng trung ương có thể điều tiết hoạt độngđầu tư bằng các phương pháp sau:

- Ngân hàng có thể quy định lãi suất cơ bản, từ đó ảnh hưởng tới lãi suấtthị trường, chủ động điều chỉnh lãi suất để điều chỉnh tổng phương tiện thanhtoán trong nền kinh tế Các ngân hàng thương mại có thể điều chỉnh mức lãisuất thấp để kích thích vay đầu tư

- Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách lãi suất tái chiết khấu, lãisuất tái cấp vốn: Thông qua đó, ngân hàng trung ương có thể tác động gián tiếpvào lãi suất thị trường Một lãi suất chiết khấu thấp sẽ làm lượng vay của ngânhàng tăng, tức lượng tiền cung ứng của ngân hàng cho nền kinh tế tăng và cuốicùng sẽ giảm lãi suất trên thị trường từ đó kích thích đầu tư

- Ngân hàng trung ương thực hiện nghiệp vụ thị trường mở: để điều hòacung cầu về tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ có để tác động vào mứccung tiền, cung ứng tín dụng, việc làm này cũng sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổicủa lãi suất, tác động tới đầu tư

- Ngân hàng trung ương giảm mức dự trữ bắt buộc khi đó cũng ảnh hưởnggián tiếp đến lãi suất trên thị trường (giảm), khuyến kích đầu tư

2.6.1.2 Tăng hạn mức tín dụng cho các NHTM

Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các NHTM phảichấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế Khác với loại vay thong thườngngân hang không xác định kì hạn nợ cho từng món vay mà chỉ khống chế theohạn mức tín dụng, có nghĩa là vào một thời điểm nào đó nếu dư nợ vay củakhách hàng lên đến mức tối đa cho phép,khi đó ngân hàng sẽ không phát tiềnvay cho khách hàng Khi chính phủ tăng hạn mức tín dụng sẽ kích thích các chủdoanh nghiệp vay vốn để đầu tư phát triển Trong điều kiện nền kinh tế suy thoáihoặc khủng hoảng, các doanh nghiệp gặp phải khó khăn rất lớn nhưng đó cũng

LDr

I Y

1

)

(r I

Trang 30

là cơ hội để doanh nghiệp khẳng định mình, gia tăng thị phần, xây dựng thươnghiệu, thu hút được lao động có tay nghề…

Như vậy với các ưu đãi về lãi suất hoặc các khoản vay tín dụng là các cơhội cho các doanh nghiệp sống và sống khỏe trong khủng hoảng và cũng gópphần giúp nền kinh tế tăng trưởng trở lại sau suy thoái

2.6.2 Nhóm chính sách tài khóa

Các nguồn vốn hỗ trợ từ kênh chính sách tài khoán có tác dụng bù đắp sựgiám sát nguồn thu do suy thoái kinh tế của các chủ thể trong nền kinh tế, hạnchế tốc độ sụt giảm nhu cầu tiêu dung của cả tư nhân và doanh nghiệp, bằngcách đó cho phép các chủ thể này tồn tại qua các giai đoạn khó khăn và khôiphục năng lực tiêu dung khi nền kinh tế qua khỏi giai đoạn suy giảm

2.6.2.1 Tăng chi tiêu chính phủ

Nhà nước với nguồn vốn lớn từ thuế và các khoản vay trong và ngoàinước khi phát hành trái phiếu chính phủ chính là nhà đầu tư và tiêu dung lớntrong nền kinh tế Khi kinh kinh tế gặp khó khăn, chính phủ có thể tăng chi tiêungân sách để tác động vào tổng cầu, kích thích việc mua bán hàng hóa, giúp cácdoanh nghiệp có khả năng cạnh tranh tốt, đứng vững trong suy thoái đồng thờiđào thải những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, mô hình hoạt động lạc hậu.Mặt khác, chính phủ cũng có thể kích cầu đầu tư thông qua các công trình xâydựng cơ sở hạ tầng đầu tư cho công nghệ,mang lại lợi ích lợi lớn cho xã hộicũng như doanh nghiệp Ngoài ra những khu vực kinh tế khó khăn,đời sốngnhân dân khó khăn, khu vực nhân dân không sẵn sang đầu tư thì chính phủ cần

có chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư, xây dựng các cơ sở vật chất cầnthiết,tạo động lực cho các nhà đầu tư để thúc đẩy khu vực tăng trưởng, pháttriển

2.6.2.2 Các chính sách thuế

Thuế là một nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận kì vọng, cũng như lợi nhuậnthực tế của doanh nghiệp Do đó công cụ hữu hiệu là miễn hoặc giảm thuế,đặcbiệt là thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản thu từ khu vực sản xuất Công

cụ này không chỉ có ý nghĩa tích cực trong kích thích khu vực sản xuất mà đồngthời góp phần giảm giá thành, kích thích người dân tiêu dung Việc giảm thuế vàcác khoản thu từ nhà nước sẽ kích thích các thành phần kinh tế bình đẳng hơn,tạo nên sự cân bằng giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân Ngoài ra xuhướng giảm thuế khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại còn là xu hướng chungcủa thế giới, cũng như tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn hơn thu hút đầu tưnước ngoài

2.6.3 Nhóm chính sách giải pháp khác

Đây là những chính sách mang tính chất đòn bẩy để tiến hành chính sáchtài khóa và chính sách tiền tệ một cách thuận lợi và hiệu quả, kích thích đầu tưtrong và ngoài nước:

2.6.3.1 Biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài

Vốn đầu tư nước ngoài này càng đóng vai trò quan trọng trong sự pháttriển kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia nói chung và của hoạt động đầu tưnói riêng Để có thể kích cầu đầu tư hiệu quả thì vốn là điều kiện cần không thể

Trang 31

thiếu,vì thế tăng cường thu hút ĐTNN sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tưcủa mỗi quốc gia Để thu hút được ĐTNN cần chú ý một số giải pháp sau:

+Phải cải thiện môi trường pháp lý về đầu tư, một môi trường pháp lýthong thoáng chặt chẽ có tác dung lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài hơn làmột môi trường pháp lý rắc rối, chồng chéo, bất hợp lý

+Tuy nhiên có môi trường đầu tư tốt mà ít được thế giới biết đến thì cũngkém thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Vì vậy xúc tiến đầu tư nhằm giới thiệuquảng cáo cơ hội đầu tư nhằm cung cấp thong tin cần thiết để hấp dẫn các nhàĐTNN

+Xây dưng và cải tạo cơ sở hạ tầng là điều kiện tiên quyết để thu hutĐTNN bởi một công nghệ kĩ thuật hiện đại chỉ được phát huy trong một cơ sở

hạ tầng thích hợp

+Phải có chương trình đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

2.6.3.2 Biện pháp nâng cao sử dụng vốn ngân sách nhà nước

Vốn NSNN là nguồn vốn đóng góp đáng kể vào hoạt động đầu tư, tuynhiên hiệu quả sử dụng nguồn vốn này vào hoạt động đầu tư còn nhiều bất cập

và lãng phí dẫn đến hạn chế hiệu quả và thành quả của đầu tư, nó còn làm mấtkhả năng phát triền nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế.Vì vậy nhữngbiện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN là cần thiết trong hoat độngđầu tư:

+Thực hiện tốt công tác quản lý và điều hành NSNN một cách hợp lý,đầu

tư có trọng tâm trọng điểm,tránh đầu tư vào các dự án không hiệu quả và dàntrải

+Thường xuyên kiểm tra giám sát quá trình sử dụng vốn NSNN để kịpthời phát hiện những sai phạm,tránh được những tổn thất vốn NSNN khôngđáng có

+Cần có những cơ chế thẩm định đánh giá chính xác mức độ khả thi củacác dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN nhằm đem lại hiệu quả nhanh và tác độngtích cực đến các dự án tư nhân

2.6.3.3 Biện pháp phát triển thị trường tài chính tạo nhiều kênh huy động vốn

Thị trường tài chính là bộ phận quan trọng bậc nhất, chi phối toàn bộ hoạtđộng của nền kinh tế hàng hóa Thị trường tài chính phát triển góp phần thúcđẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Sức sản xuất của xãhội ngày càng tăng và qui mô sản xuất ngày càng mở rộng, nhu cầu tiền vốnngày càng tăng trong khi nguồn vốn nội lực của doanh nghiệp hay vay qua cácNgân hàng truyền thống không đáp ứng được về mặt thời gian cũng như sốlượng Vì vậy phát triển thị trường tài chính sẽ tạo ra nhiều kênh huy động vốnđáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư phát triển kinh tế

Trong bối cảnh hiện nay, muốn phát triển thị trường tài chính cần phảithực hiện một số chính sách sau:

+Phải xác định được một cơ chế lãi suất linh hoạt và chịu sự điều tiết củathị trường

+Phải có các công cụ tài chính phong phú, đa dạng để mở rộng phạm vigiao dịch cũng như qui mô thị trường tài chính

Trang 32

+Xây dựng và đa dạng hóa các tổ chức tài chính ngân hàng, các công tytài chính để đẩy nhanh quá trình luân chuyển vốn và nâng cao hiệu quả sử dụngvốn.

+Phải xây dựng được hệ thống pháp luật toàn diện đảm bảo ổn định kinh

tế xã hội

2.6.3.4 Ổn định môi trường đầu tư cả về kinh tế xã hội và chính trị

Mọi hoạt động đầu tư suy ra cho cùng là để thu lợi nhuận, vì thế môitrường đầu tư hấp dẫn phải là một môi trường có hiệu quả đầu tư cao, mức độrủi ro thấp Điều này lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: chính sách, cơchế ưu đãi đầu tư của địa bàn được đầu tư, điều kiện phát triển về kết cấu hạtầng, mức độ hoàn thiện về thể chế hành chính – pháp lý, khả năng ổn định vềmặt chính trị - xã hội, độ mở cửa nền kinh tế, sự phát triển của hệ thống thịtrường… Các nhân tố trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, vì vậy đểnâng cao chất lượng và hiệu quả của môi trường đầu tư nhât thiết phải quan tâm

xử lý đồng bộ các yếu tố ảnh hưởng trên

Một môi trường đầu tư ổn định cả về kinh tế, xã hội và chính trị sẽ thúcđẩy các nhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư phát triển Trong đó, việc đưa ra các chínhsách nhằm tăng lòng tin cho các nhà đầu tư cần được chính phủ quan tâm Chínhsách và hành vi của chính phủ có ảnh hưởng mạnh thông qua tác động của nóđến chi phí, rủi ro và các rào cản cạnh tranh

Môi trường đầu tư tốt không chỉ thể hiện qua chất lượng của yếu tố, màcòn phải thể hiện qua sự quản lý tốt Nó không chỉ tốt cho cả doanh nghiệp màtốt cho cả toàn xã hội Có biện pháp cải thiện môi trường đầu tư, phù hợp vớitừng nơi, từng thời kỳ sẽ thu hút được nhiều đầu tư, và nó sẽ là một biện phápkích cầu đầu tư hữu hiệu

Cải thiện môi trường đầu tư theo hướng điều chỉnh các yếu tố:

+ Môi trường vĩ mô: ổn định môi trường đầu tư cả về kinh tế, xã hội vàchính trị Các chính sách nhằm hỗ trợ các nhà đầu tư, các doanh nghiệp để họyên tâm bỏ vốn đầu tư

+ Chính sách pháp luật: Sự ổn định về chính trị cũng như những đảm bảo

về mặt pháp lý liên quan đến quyền sở hữu và tài sản có ý nghĩa quan trọng ảnhhưởng rất lớn đến ý định và hành vi của nhà đầu tư Mức độ tin tưởng của doanhnghiệp vào tương lai kể cả độ tin cậy trong chính sách của nhà nước sẽ quyếtđịnh việc doanh nghiệp có đầu tư hay không và sẽ tiếp tục đầu tư như thế nào

+ Những quy định ưu đãi đầu tư, quy đinh ưu đãi giữa các ngành cáccấp để giải quyết nhanh các thủ tục hành chính đối với các dự án đầu tư,chính sách ưu đãi đầu tư cho các dự án đổi mới công nghệ, đa dạng hóa cáchình thức đầu tư phát triển có ảnh hưởng lớn đến việc các doanh nghiệp cóđầu tư phát triển hay không

2.7 Kinh nghiệm kích cầu đầu tư trên thế giới

Có thể nói rằng không có một công thức cụ thể cho một gói kích cầu áp

dụng với tất cả các nước trên thế giới, mà các nước tùy theo hoàn cảnh của mìnhthực hiện các gói kích cầu khác nhau Đối với một số nước như Mỹ và EU, thìgói kích cầu được hiểu là gói kích thích kinh tế sử dụng các biện pháp tài khóa

Trang 33

(bao gồm tăng chi tiêu của chính phủ và cắt giảm thuế) - Điều này là do thôngthường khi nền kinh tế gặp khó khăn, thì các nước này thường hay sử dụng công

cụ kinh tế là chính sách tiền tệ (điều chỉnh lãi suất cho vay, thực hiện nghiệp vụthị trường mở), và chỉ cân nhắc sử dụng chính sách tài khóa khi chính sách tiền

tệ dường như không còn tác dụng, hoặc không thể thực hiện được (ví dụ như khilãi suất đã giảm xuống rất thấp) Nhưng với một số nước khác, thì gói kích cầu lạiđược thực hiện đồng thời cùng với chính sách tiền tệ như một số chính sáchkhác Hiện nay, nước ta vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong việc thực hiện các góikích cầu, nên việc khảo sát kinh nghiệm kích cầu của các nước trên thế giới tronghoàn cảnh suy thoái, theo quan điểm của chúng tôi, sẽ giúp chúng ta rút ra đượcnhững bài học quí báu Dưới đây chúng ta sẽ nghiên cứu các gói kích cầu của cảcác nước phát triển cũng như các nước đang phát triển

Một điểm phải lưu ý là tại các nước thực hiện gói kích cầu, tùy theo hoàncảnh, mà gói kích cầu có thể chỉ bao gồm các biện pháp tài khóa, hoặc có thểbao gồm cả các biện pháp tài khóa cũng như các biện pháp tiền tệ Chính sáchkích cầu khi nền kinh tế có nguy cơ đi xuống và chìm vào suy thoái tại cácnước, đặc biệt là các nước phát triển không phải là điều mới lạ.Trong phần khảosát này chúng tôi tập trung vào các nước có nền kinh tế lớn như: Mỹ, EU, NhậtBản, Hàn Quốc và Úc; đồng thời cũng khảo sát các nước đang phát triển và đặcbiệt là các nước đang phát triển trong khu vực châu Á có nền kinh tế có nhiều néttương đồng với Việt Nam hiện cũng đang thực hiện các chính sách kích cầu đểgiúp nền kinh tế của các nước này thoát khỏi khủng hoảng Trung Quốc, Ấn độ,Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore Một điều có thể nhận thấy là các nướcnày tiến hành các gói kích cầu khá bài bản và có nhiều điểm tương đồng Mụctiêu chính của các gói kích cầu đều là tăng tổng cầu trong nền kinh tế và tạo ranhiều công ăn việc làm Ta có thể chia các gói kích cầu của các nước này thành ba(03) nhóm biện pháp như sau:

(i) Nhóm biện pháp kích thích tiêu dùng đối với người dân:

Một cách làm tăng cầu là làm tăng tiêu dùng của hộ gia đình Điều này cóthể được thực hiện một cách hiệu quả nhất bằng cách định hướng gói kích cầu tớinhững hộ gia đình có xu hướng tiêu dùng hơn là xu hướng tiết kiệm số tiền đượctrợ cấp Nhóm biện pháp mà các nước kích cầu sử dụng chủ yếu dưới dạng trợcấp cho dân trực tiếp hoặc miễn giảm/hoàn thuế cho dân Tuy nhiên các sángkiến của các nước này lại khá đa dạng, bao gồm các biện pháp cụ thể như cấp tiềntrực tiếp hoặc phát phiếu tiêu dùng cho người dân (Nhật), hoàn thuế cho ngườidân, gia đình có thu nhập thấp, trợ cấp cho các gia đình có trẻ em (Mỹ, HànQuốc), trợ cấp cho người nghèo, người thất nghiệp (Mỹ, Đài Loan), cũng như

hỗ trợ đối với các đối tượng khó khăn trong hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế (hỗtrợ người mua nhà gặp khó khăn ở Mỹ, Australia, Đài Loan; hỗ trợ cho ngưdân, người già ở Hàn Quốc, hỗ trợ cho nông dân ở Trung Quốc, Thái Lan; trợcấp tiêu dùng các sản phẩm tiết kiệm năng lượng và ít ô nhiễm ở Đài Loan)

(ii) Nhóm biện pháp kích thích chi đầu tư đối với doanh nghiệp

Một cách để làm tăng cầu là khuyến khích các doanh nghiệp tiến hành đầu

tư, hoặc thuê thêm nhân công Để làm điều này một cách có hiệu quả, chính sách

Trang 34

kích cầu thường tập trung vào các biện pháp khuyến khích các dự án đầu tư mớihoặc thuê thêm nhân công, chứ không trợ cấp cho các hạng mục đầu tư đã thựchiện27 Thông thường các biện pháp kích thích tăng đầu tư đối với khu vực doanhnghiệp được thực hiện thông qua việc giảm thuế dưới nhiều hình thức cho cácdoanh nghiệp - không trợ cấp hoặc cấp vốn trực tiếp.Ví dụ như cho phép khấuhao nhanh các khoản đầu tư (Mỹ), cho nợ thuế, ưu đãi khuyến khích doanhnghiệp sử dụng lao động và sử dụng thêm lao động mới (Mỹ, Nhật), tăng hoànthuế XK đối với một số mặt hàng sử dụng nhiều lao động (Trung Quốc), bỏ thuếđánh vào lãi trên vốn (capital gain) đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Mỹ),giảm thuế tạm thời cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Australia), giảm thuế đốivới các dự án đầu tư mới (Đài Loan) khuyến khích ngân hàng cho vay đối vớikhối doanh nghiệp nhỏ và vừa (Trung Quốc) Hình thức hỗ trợ tín dụng cũngđược thực hiện tại một số nước cũng như hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệpnhỏ và vừa (Nhật) cho vay với lãi suất ưu đãi

Tuy nhiên, tiến hành kích cầu đối với nền kinh tế trong ngắn hạn thông quacác biện pháp khuyến khích doanh nghiệp thường rất khó khăn Điều này là do cácdoanh nghiệp sẽ chỉ tiến hành mua sắm, đầu tư, thuê tuyển thêm nhân công mớinếu như họ thấy có lợi, thấy có cầu đối với hàng hóa mà họ sản xuất ra, chứkhông chỉ dựa trên các khuyến khích về thuế, hay ưu đãi về lãi suất

(iii) Nhóm biện pháp kích thích bằng chi đầu tư của chính phủ

Các hạng mục đầu tư của chính phủ để kích cầu thường là các gói đầu tưvào cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, giao thông, đường xá, y tế, giáo dục(Mỹ, Australia, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc), hỗ trợ chính quyền địaphương qua việc giảm thuế (Mỹ) hoặc cho phép chính quyền địa phương đi vay(Ấn độ)

Ngoài ba nhóm ở trên, tại một số nước còn kết hợp một số chính sách cụthể như tại điều kiện thuận lợi hơn để thu hút đầu tư nước ngoài (Ấn độ), trợcấp xuất khẩu sang thị trường mới (Đài Loan)

2.8 Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kích cầu đầu tư

Hiệu quả của các chính sách kích cầu đầu tư phụ thuộc vào rất nhiềunhân tố, trong đó có những nhân tố khách quan cũng có những nhân tố chủquan Tuy nhiên có những nhân tố rất khó điều tiết tùy từng điều kiện và tìnhhình phát triển của mỗi nước Do vậy những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quảkích cầu đầu tư có thể kiểm soát được sẽ được trình bày cụ thể hơn dưới đây:

2.8.1 Độ trễ của chính sách

Độ trễ của chính sách kích cầu đầu tư: chính sách kích cầu đầu tư hay bất

cứ chính sách nào đều có độ trễ nhất định, trước hết là độ trễ về thời gian bởiquá trình ra quyết định, quá trình thực hiện chính sách phải trải qua nhiều giaiđoạn với nhiều thủ tục Do đó khoảng cách thời gian từ khi ra quyết định đến khithực hiện tạo ra tính trễ của chính sách Thứ hai, do bản chất và đặc điểm củahoạt động đầu tư : thời kỳ đầu tư kéo dài, thời gian vận hành kết quả đầu tư kéodài do đó không phải bất cứ sự gia tăng đầu tư nào cũng đem lại kết quả ngaytrong ngắn hạn nhất là đối với các dự án thực hiện trong nhiều năm Đây là đặc

Trang 35

điểm riêng có của hoạt động đầu tư có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạtđộng đầu tư.

Như vậy, độ trễ của quá trình ra quyết định chính sách và độ trễ trongthực hiện đầu tư có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của chính sách kích cầu.Chính sách sẽ có hiệu quả khi chúng ta có thể giảm tối đa độ trễ chính sách vàtrong thực hiện đầu tư của các dự án, có nghĩa là chính sách phải được quyếtđịnh và thực hiện nhanh chóng giảm bớt các thủ tục hành chính và có sự phốihợp giữa cơ quan ra quyết định với các đối tượng thụ hưởng chính sách Đồngthời khi các doanh nghiệp, các dự án được hưởng lợi ích từ chính sách phải làmsao nhanh chóng tạo ra kết quả đầu tư đáp ứng mục tiêu đề ra của chính sáchkích cầu đầu tư

2.8.2 Quá trình tổ chức thực hiện chính sách

Theo các nhà kinh tế, để biện pháp kích cầu có hiệu quả thì việc thực hiện

nó phải đảm bảo: đúng lúc, trúng đích và vừa đủ Hiệu quả chính sách phụ thuộc nhiều vào việc áp dụng các nguyên tắc này.

Đúng lúc tức là phải thực hiện kích cầu ngay khi các doanh nghiệp chưa

thu hẹp tsản xuất và các hộ gia đình chưa thu hẹp tiêu dùng Nếu thực hiện sớmquá, kích cầu có thể làm cho nền kinh tế trở nên nóng và tăng áp lực lạm phát.Nhưng nếu thực hiện chậm quá, thì hiệu quả của kích cầu sẽ giảm Việc thựchiện kích cầu đúng lúc càng phải được chú ý nếu các quá trình chính trị và hànhchính để cho một gói kích cầu được phê duyệt và triển khai là phức tạp.Thườngthì chính phủ phải đệ trình quốc hội kế hoạch kích cầu và phải được cơ quan lậppháp tối cao này thông qua Và, không phải lúc nào công việc này cũng suôn sẻ.Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với việc thực hiện kích cầu đúng lúc chính là

sự thiếu chính xác trong xác định thời điểm chuyển pha của chu kỳ kinh tế Cótrường hợp kinh tế đã chuyển hẳn sang pha suy thoái một thời gian rồi mà công

tác thu thập và phân tích số liệu thống kê không đủ khả năng phán đoán ra

Trúng đích tức là hướng tới những chủ thể kinh tế nào tiêu dùng nhanh

hơn khoản tài chính được hưởng nhờ kích cầu và do đó sớm gây ra tác động lantỏa tới tổng cầu hơn; đồng thời hướng tới những chủ thể kinh tế nào bị tác độngbất lợi hơn cả bởi suy thoái kinh tế Thường thì đó là những chủ thể kinh tế cóthu nhập thấp hơn Người có thu nhập cao thường ít giảm tiêu dùng hơn so vớingười có thu nhập thấp trong thời kỳ kinh tế quốc dân khó khăn Việc hỗ trợ cácgia đình có thu nhập thấp để họ không phải giảm tiêu dùng hay thậm chí còntăng tiêu dùng sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa, kích thích doanh nghiệp mở rộng sảnxuất và thuê mướn thêm lao động

Để kích cầu trúng đích, các nhà hoạch định chính sách thường dựa vàocác mô hình kinh tế lượng để mô phỏng hiệu quả của gói kích cầu qua các kịchbản khác nhau tương ướng với các mục tiêu khác nhau, từ đó tìm ra mục tiêuhợp lý nhất

Vừa đủ tức là gói kích cầu sẽ hết hiệu lực khi nền kinh tế đã trở nên tốt

hơn Nếu gói kích cầu quá bé thì kích thích sẽ bị hụt hơi và tổng cầu có thểkhông bị kích thích nữa, khiến cho gói kích cầu trở thành lãng phí Ngược lạigói kích cầu lớn qua tạo ra tác động kéo dài khiến cho nền kinh tế đã hồi phục

Trang 36

mà vẫn trong trạng thái tiếp tục được kích thích thì sẽ dẫn tới kinh tế mở rộngquá mức, lạm phát tăng lên Điều này càng được chú ý nếu ngân sách nhà nước

và dự trữ ngoại hối nhà nước không dư dật

Như vậy quá trình tổ chức thực hiện chính sách kích cầu đầu tư trải quacác khâu từ hình thành chính sách đến khi ra quyết định; khâu xác định quy mônguồn tài chính cho kích cầu, lựa chọn đối tượng đầu tư, kiểm tra và giám sátviệc thực hiện kích cầu có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của chính sách Việcthực hiện chính sách nếu không đảm bảo được yếu tố đúng lúc, trúng đích, vừa

đủ hơn nữa là giám sát việc sử dụng nguồn vốn đúng mục đích sẽ là phản tácdụng đối với cả nền kinh tế khi những tác động tiêu cực của chính sách nảy sinh

Tiếp theo là hiệu quả sử dụng vốn đối với các dự án của cả đầu tư công và

đầu tư tư nhân có ảnh hưởng tới hiệu quả của chính sách kích cầu đầu tư Nếu

dự án sử dụng vốn có hiệu quả, nó sẽ tạo ra được hiệu quả sản xuất, tiết kiệmvốn sử dụng cho các dự án tiếp theo, tránh được tình trạng lãng phí vốn, sử dụngsai mục đích và hạn chế được sự gia tăng lạm phát do đổ một lượng vốn lớn ranền kinh tế

Ngoài ra chính sách sẽ có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào hiệu ứng tâm lý đối với những đối tượng chính sách: nhà đầu tư, người tiêu dùng có

niềm tin vào hiệu quả của chính sách hay không vì kỳ vọng của họ vào hiệu quảđầu tư sẽ quyết định hành vi đầu tư Hay chính sự tác động vào tâm lý của doanhnghiệp có tốt hay không sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách kích cầu đầutư

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN KÍCH CẦU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM

I KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM TỪ SAU ĐỔI MỚI 1986 ĐẾN TRƯỚC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 2007

1 TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NÀY.

Sau đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, nền Việt Nam đã ra khỏikhủng hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ sở vậtchất và tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới công nghiệp hóa – hiện đại hóađất nước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm

2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Nổi bật của Việt Nam là từ một nước trì trệ, tăng trưởng thấp, tích luỹ phầnlớn nhờ vào vay mượn bên ngoài, đến nay đã trở thành một nước có tốc độ tăngtrưởng cao trong khu vực Việt Nam đã tạo được khả năng tích luỹ để đầu tư chophát triển và cải thiện đời sống của người dân Cơ bản, Việt Nam đã đổi mớiđược cơ chế quản lý, nhờ đổi mới mà Việt Nam từng bước xây dựng được vaitrò của mình trong hội nhập khu vực và quốc tế Đất nước ra khỏi khủng hoảngkinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ pháttriển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1986 – 1990: GDP tăng 4,4%/năm Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ

chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mớiđời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất

1991 – 1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trình trệ, suy thoái,

đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện GDP bình quânnăm tăng 8,2% Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩymạnh CNH – HĐH đất nước

1996 – 2000: là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh

CNH, HĐH đất nước Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khuvực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước

Tăng trưởng kinh tế và Lạm phát

Trang 38

những thử thách Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăngtrưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm.

2000 – 2005: nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP

bình quân mỗi năm đạt 7,5% Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDPtheo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệuđồng, tương đương với 640 USD Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhậpkhẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạolớn trên thế giới

2006-2010: tăng trưởng kinh tế đạt 7,01%/năm, trong đó bình quân giai

đoạn 2006-2007 đạt 8,34%; bình quân giai đoạn 2008-2010 đạt 6,14% do ảnhhưởng của lạm phát tăng cao và suy thoái kinh tế thế giới

Về thu nhập bình quân đầu người, tăng mạnh từ 200 USD năm 1990 lênkhoảng 830 USD năm 2007

Về cơ cấu ngành, đóng góp vào GDP, Công nghiệp và xây dựng và Dịch vụtăng nhanh và liên tục; trong khi đó thì Nông nghiệp tăng rất chậm Vì vậy, tỷtrọng của Công nghiệp và Dịch vụ tăng dần, đến mức gần tương đương nhau, tỷtrọng nông nghiệp giảm dần Có thể hiểu điều này là khu vực Công nghiệp vàkhu vực Dịch vụ được đầu tư nhiều hơn, trong khi Nông nghiệp thì ngược lại,ngoài ra còn có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các bộ phận lao động

Trang 39

Kinh tế Nhà nước được sắp xếp,

đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu

quả, tập trung hơn vào những ngành

then chốt và những lĩnh vực trọng

yếu của nền kinh tế Kinh tế dân

doanh phát triển khá nhanh, hoạt

động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực

Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy

động ngày càng tốt hơn các nguồn

lực và tiềm năng trong nhân dân

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có

tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở

thành một bộ phận cấu thành quan

trọng của nền kinh tế quốc dân; là

cầu nối quan trọng với thế giới về

chuyển giao công nghệ, giao thông

quốc tế

Xuất khẩu, nhập khẩu tăng rất

nhanh cả về quy mô và tốc độ

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng

hoá trước thời kỳ đổi mới chỉ đạt

khoảng 1 tỷ USD/năm, đến nay

tổng kim ngạch xuất 111,4 tỷ USD

năm 2007 Với định hướng phát

triển kinh tế nhấn mạnh vào xuất

khẩu, mở rộng hợp tác, ngoài Liên

xô và Đông Âu sụp đổ, thị trường

của sản phẩm Việt Nam đã mở

rộng ra các thị trường khác như

Nhật, Mỹ, EU, … chúng ta ngày

càng hội nhầp vào kinh tế quốc tế

Tuy nhiên, khi khủng hoảng kinh tế

2007 nổ ra, các thị trường Mỹ,

EU… ngưng trệ, lại gây ảnh hưởng

tới sản xuất kinh doanh của các

doanh nghiệp Việt Nam

Tổng sản phẩm trong nước theo thành phần kinh tế

(1995-2009)

0 100000 200000 300000 400000 500000 600000 700000 800000 900000

KV ngoài Nhà nước: Tập thể, Tư nhân, Cá thể

KV có vốn đầu tư nước ngoài

Tổng mức lưu chuyển hàng hóa

Xuất Nhập Khẩu

0.0 10000.0 20000.0 30000.0 40000.0 50000.0 60000.0 70000.0

Trang 40

2 TÌNH HÌNH KÍCH CẦU ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 2007:

2.1 VỀ VỐN ĐẦU TƯ TOÀN XÃ HỘI:

Phần này nhóm làm đề tài xin trình bày về nguồn vốn đầu tư toàn xã hội,qua việc sử dụng các số liệu về vốn đầu tư trên website của Tổng cục Thống kê

Từ đó, sẽ có cái nhìn tổng quan về hoạt động đầu tư ở Việt Nam (mà không đisâu vào chi tiết) để có thể hiểu rõ vấn để kích thích đầu tư

2.1.1 VỀ TỔNG VỐN ĐẦU TƯ:

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội có xu hướng tăng liên tục từ mức 72.447 tỷđồng năm 1995 lên 532.093 tỷ đồng năm 2007 Tỷ trọng tổng vốn đầu tư trênGDP ở mức thấp nhất 31.7% năm 1995, cao nhất là 46.5% năm 2007 Đây là tỷ

lệ thuộc loại cao đứng thứ 11 trên thế giới, thứ 3 ở châu Á và thứ 2 trong khuvực Đông Nam Á Điều đáng phấn khởi hơn là tỷ trọng vốn trong nước nay đãcao hơn, chủ yếu do Luật Doanh nghiệp đã tạo điều kiện để khai thác tốt hơnnguồn lực của các thành phần kinh tế (Báo Thanh niên, 11-2004) Đây là độnglực tạo ra sự phát triển kinh tế, với mức tăng thấp nhất là 4.8% năm 1999 và caonhất là 9.5% năm 1995

Có thể thấy, năm 1995 có tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP thấp nhất 31.7%nhưng lại có mức tăng trưởng cao nhất 9.5%, như vậy, vốn đầu tư được sử dụng

có hiệu quả nhất, và tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm sẽ bằng

31.7%:9.5%=3.34 Nhưng có thời kỳ ICOR tăng cao do tổng vốn đầu tư ở mưc

cao nhưng tốc độ tăng trưởng lại ở

mức thấp, chẳng hạn năm 1999 tỷ

lệ vốn đầu tư trên GDP 32.8% và

tăng trưởng là 4.8%, ICOR1999=

32.8:4.8 = 6.8

Mức ICOR cao có thể được

giải thích do nhiều nguyên nhân

như hiệu quả sử dụng vốn chưa

cao, do mục tiêu đầu tư chưa

đúng, đầu tư vào cơ sở hạ tầng

nên không tạo ra sản phẩm trực

tiếp, đầu tư theo chiều rộng mà

chưa thể đi vào chiều sâu, thất

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội (1995-2009)

nước (GDP) theo giá so sánh 1994 (1995-2009)

Ngày đăng: 03/04/2013, 10:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Lãi suất tiền vay là biến nội sinh của hàm cầu đầu tư - Kích cầu đầu tư  - Lý thuyết và thực tiễn
Hình 1 Lãi suất tiền vay là biến nội sinh của hàm cầu đầu tư (Trang 8)
Hình I.5. Chu kỳ kinh doanh t - Kích cầu đầu tư  - Lý thuyết và thực tiễn
nh I.5. Chu kỳ kinh doanh t (Trang 10)
Bảng 5: Kết quả phát hành trái phiếu chính phủ tháng 1-7/2009 - Kích cầu đầu tư  - Lý thuyết và thực tiễn
Bảng 5 Kết quả phát hành trái phiếu chính phủ tháng 1-7/2009 (Trang 70)
Hình : Lạm phát các tháng 9/08-7/09 - Kích cầu đầu tư  - Lý thuyết và thực tiễn
nh Lạm phát các tháng 9/08-7/09 (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w