Tổng đầu tư xã hội = Đầu tư nhà nước + Đầu tư tư nhân Các dự án đầu tư từ nguồn vốn của nhà nước không nhằm mục tiêu thu lợinhuận mà tác dụng trợ giúp , điều tiết, định hướng cho đầu tư
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước đang phát triển, tiềm lực của nền kinh tế còn chưa cao, hơnnữa còn mang nặng tư tưởng của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung nên nănglực tự điều tiết của thị trường còn nhiều hạn chế Với những bất ổn sẵn có của nềnkinh tế như tỷ lệ lạm phát cao, thâm hụt ngân sách, nợ công, … chính phủ luôn cónhững chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa để kích cầu đầu tư nhằm ổn định nềnkinh tế vĩ mô, tạo đà phát triển cho nền kinh tế Có thể thấy rằng, kích cầu đầu tưluôn là một vấn đề mà chính phủ cần quan tâm để sử dụng một cách có hiệu quả,nhất là trong thời kỳ suy thoái Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 – 2008
đã qua, sau một thời gian tung ra các gói kích cầu thì nền kinh tế Việt Nam đã cónhững khởi sắc và dần dần lấy lại được đà tăng trưởng trước đó Tuy nhiên vẫn còn
đó những vấn đề gây bất ổn kinh tế như tỷ lệ nợ công đã gần chạm ngưỡng báođộng, tỷ lệ lạm phát được kiểm soát nhưng vẫn ở mức cao, VNĐ mất giá, … Chính
vì vậy, chúng ta cần nhìn nhận một cách nghiêm túc việc thực hiện kích cầu ở ViệtNam, đánh giá những điều cần phát huy và những mặt hạn chế cần khắc phục để cónhững giải pháp kích cầu hiệu quả, chuẩn bị sẵn sàng cho những đợt khủng hoảngkinh tế có thể xảy ra bất cứ lúc nào Đó cũng chính là lý do nhóm chúng em nghiêncứu đề tài: “Kích cầu đầu tư – Lý thuyết và thực tiễn” Trong đề tài này, chúng em
có tìm hiểu về một số lý luận chung về đầu tư và kích cầu đầu tư, tìm hiểu thựctrạng hai gói kích cầu đầu tư đã được triển khai và từ đó đánh giá để đưa ra nhữnggiải pháp kích cầu đầu tư hiệu quả
Nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Từ QuangPhương đã hướng dẫn cho chúng em thực hiện đề tài này Do hạn chế về mặt thờigian cũng như kiến thức, nên bài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót.Chúng em rất mong nhận được sự góp ý của thầy để bài viết được hoàn thiện hơn
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
MỤC LỤC 2
CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ 6
I Đầu tư và cầu đầu tư 6
1 Đầu tư 6
1.1 Khái niệm đầu tư 6
1.2 Phân loại đầu tư 6
2 Cầu đầu tư 7
2.1 Khái niệm cầu đầu tư 7
2.2 Các nhân tố tác động đến cầu đầu tư 7
2.2.1 Lợi nhuận kỳ vọng 7
2.2.2 Lợi nhuận thực tế 10
2.2.3 Lãi suất tiền vay 11
2.2.4 Tốc độ phát triển của sản lượng quốc gia 12
2.2.5 Chu kỳ kinh doanh 13
2.2.6 Đầu tư nhà nước 14
2.2.7 Môi trường đầu tư 14
2.2.8 Thuế thu nhập doanh nghiệp 15
II Một số vấn đề về kích cầu và kích cầu đầu tư 15
1 Khái niệm về kích cầu và kích cầu đầu tư 15
1.1 Thế nào là kích cầu? 15
1.2 Thế nào là kích cầu đầu tư? 16
2 Nội dung của kích cầu 16
2.1 Xuất phát của kích cầu 16
2.2 Biện pháp kích cầu 19
2.3 Điều kiện áp dụng các biện pháp kích cầu 21
3 Nội dung của kích cầu đầu tư 21
3.1 Phân biệt kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng 21
3.2 Tác động của kích cầu đầu tư 22
3.2.1 Tác động tích cực 22
Trang 33.2.2 Tác động tiêu cực 26
4 Nguồn vốn cho kích thích đầu tư 27
4.1 Nguồn trái phiếu chính phủ 27
4.2 Chính sách cắt giảm thuế 28
4.3 Quỹ dự trữ ngoại hối 29
4.4 In tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách 30
4.5 Tài trợ thông qua vạy nợ nước ngoài 30
4.6 Thông qua việc trì hoãn trả nợ 31
5 Các công cụ để kích cầu đầu tư 31
5.1 Nhóm chính sách tiền tệ 31
5.1.1 Công cụ lãi suất tín dụng 31
5.1.2 Tăng hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại 32
5.1.3 Những hiệu quả của chính sách tiền tệ 32
5.2 Nhóm chính sách tài khóa 33
5.2.1 Tăng chi tiêu chính phủ 33
5.2.2 Các chính sách thuế 34
5.2.3 Hiệu quả của chính sách tiền tệ 34
6 Kinh nghiệm kích cầu đầu tư trên thế giới 34
III Các nhân tố ảnh hưởng đến kích cầu đầu tư 36
1 Độ trễ của chính sách 36
2 Quá trình tổ chức thực hiện chính sách 36
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN KÍCH CẦU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM 38
I Tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam 38
1 Tình hình thế giới 38
2 Tình hình Việt Nam 40
II Gói kích cầu thứ nhất (15/01/2009 - 31/12/2009) 43
1 Nội dung 43
2 Công cụ, biện pháp thực hiện 43
2.1 Chính sách tài khoá 43
2.1.1 Chính sách thuế 43
2.1.2 Chính sách đầu tư công 44
Trang 42.2 Chính sách tiền tệ 45
2.2.1 Hỗ trợ lãi suất 45
2.2.2 Chính sách tỷ giá 47
2.3 Nhóm công cụ biện pháp khác 48
3 Tình hình thực hiện 49
4 Tác động cuả gói kích cầu 49
4.1 Tác động tích cực 49
4.1.1 Tới nền kinh tế chung 49
4.1.2 Doanh nghiệp 53
4.2 Tác động tiêu cực 55
4.2.1 Tới nền kinh tế chung 55
4.2.2 Tác động tới doanh nghiệp 58
III Gói kích cầu thứ hai 59
1 Nội dung của gói kích cầu thứ 2 59
2 Đặc trưng của gói kích cầu thứ 2 60
3 Tác động của gói kích cầu thứ 2 61
3.1 Tác động tích cực 61
3.2 Tác động tiêu cực 62
IV So sánh với các nước đã thành công trong kích cầu, bài học rút ra cho việc hoạch định chinh sách ở Việt Nam 64
1 So sánh: 65
2 Chính sách kích cầu của Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế như sau: 66
3 Bài học rút ra cho việc hoạch định chính sách 71
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP KÍCH CẦU ĐẦU TƯ HIỆU QUẢ 73
I Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn kích cầu đầu tư 73
1 Huy động vốn kịp thời và hiệu quả 73
2 Giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn kích cầu đầu tư 73
2.1 Kích cầu phải kịp thời 73
2.2 Phân bổ nguồn vốn hợp lý 74
II Kết hợp với chính sách tiền tệ, tỷ giá, khuyến khích xuất khẩu, thu hút đầu tư 76
Trang 5III Giám sát và đánh giá kết quả gói kích cầu 77
1 Vai trò giám sát của Quốc Hội 77
2 Đánh giá kết quả thực hiện gói kích cầu 77
IV Một số đề xuất nhằm phát huy hiệu quả chính sách kích cầu 78
V Các giải pháp kích thích đầu tư trong dài hạn 80
1 Giải pháp kích cầu đầu tư trong nước 81
2 Giải pháp kích cầu đầu tư nước ngoài 82
KẾT LUẬN 84
Tài liệu tham khảo 85
Trang 6CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ
I Đầu tư và cầu đầu tư.
1 Đầu tư.
1.1 Khái niệm đầu tư.
Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực trong hiện tại nhằm tạo ra kếtquả lớn hơn cho chủ đầu tư trong tương lai
Nguồn lực phải hi sinh đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động
và trí tuệ
Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng thêm về giá giá trị tài sản, tăngthêm về năng lực sản xuất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làmviệc với năng xuất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội
1.2 Phân loại đầu tư.
Có nhiều cách phân loại đầu tư, dưới đây là các cách phân loại đầu tư thường gặp:
- Theo lĩnh vực hoạt động:
Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
Đầu tư phát triển khoa học – công nghiệp
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
- Theo hoạt động đầu tư:
Đầu tư cơ bản
Đầu tư vận hành
- Theo thời gian:
Đầu tư ngắn hạn
Đầu tư trung hạn
Đầu tư dài hạn
- Theo nội dung:
Đầu tư mới
Trang 7 Đầu tư thay thế
Đầu tư mở rộng
Đầu tư chiều sâu
- Theo mối quan hệ quản lý của chủ đầu tư:
Đầu tư trực tiếp
Đầu tư gián tiếp
- Theo mục đích và tính chất của hoạt động đầu tư:
Đầu tư tài chính
Đầu tư thương mại
Đầu tư phát triển
2 Cầu đầu tư.
2.1 Khái niệm cầu đầu tư
Cầu đầu tư là tất cả nhu cầu của của chính phủ và doanh nghiệp về nhà xưởng,hàng hóa vật tư, máy móc thiết bị, dịch vụ,… và nguồn tài chính để duy trì hay mởrộng sản xuất cả doanh nghiệp trong khoảng thời gian nhất định
2.2 Các nhân tố tác động đến cầu đầu tư.
tư sẵn sàng bỏ vốn để kinh doanh Lợi nhuận cao sẽ kích thích nhu cầu đầu tư
Có hai chỉ tiêu định lượng để xác định lợi nhuận của dự án đó là tỷ suất lợinhuận vốn đầu tư (RR) và hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR)
- Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận thuần thuđược từng năm trên một đơn vị vốn đầu tư
Nếu tính cho từng năm hoạt động thì:
Trang 8RRi = Wi/Iv0
Trong đó:
RRi: tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư vào năm i
Wi: lợi nhuận thuần thu được năm thứ i
Iv0: vốn đầu tư tại thời điểm vốn bắt đầu đi vào hoạt động
Tỷ suất lợi nhuận có tác động cùng chiều với quy mô vốn đầu tư Nếu tỷ suấtlợi nhuận mà lớn hơn lãi suất tiền vay thì chi đầu tư tăng và ngược lại nếu tỷ suất lợinhuận thấp hơn lãi suất tiền vay hì nhà đầu tư sẽ không bỏ tiền vào đầu tư hay mởrộng sản xuất
Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư cho biết nhà đầu tư nên đầu tư vào đâu, đầu tưvào lĩnh vực nào và có nên tăng vốn đầu tư hay không
- Hệ số hoàn vốn nội bộ(IRR) là mức lãi mà dự án có thể đạt được đảm bảocho tổng các khoản thu của dự án cân bằng với các khoản chi ở thời gian mặt bằnghiện tại Để tính IRR có nhiều phương pháp tính nhưng tính IRR theo phương phápnội suy thường được sử dụng vì việc tính toán không phức tạp, độ chính xác hợp lýhơn các phương pháp khác
Công thức:
IRR = r1 + (NPV1*(r2 – r1))/(NPV1-(NPV2))
Trong đó:
IRR: hệ số hoàn vốn nội bộ
r1: tỷ suất chiết khấu thấp hơn tại đó NPV1>0 gần sát 0 nhất
r2: tỷ suất chiết khấu cao hơn tại đó NPV2<0 gần sát 0 nhất
NPV: giá trị hiện tại thực
IRR cần tìm (ứng với NPV = 0) nằm giữa r1 và r2
Theo lý thuyết Keynes, hiệu quả biên của vốn giảm dần và hiệu quả biên củavốn phụ thuộc vào số tiền đầu tư mới bỏ ra có tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp Nếuvốn đầu tư càng tăng thì hiệu quả biên của vốn càng giảm Sự giảm sút này do hainguyên nhân:
Thứ nhất, khi đầu tư tăng lên thì khối lượng hàn hóa cung cấp cho thị
trường tăng lên, do đó giá cả hàng hóa giảm xuống, nên kéo theo sự giảm sút lợi
Trang 9Thứ hai, Cung hàng hóa tăng sẽ làm tăng chi phí tư bản thay thế như tài
nguyên tăng lên, tăng lao động, tăng nguồn vốn đuầ tư do đó dẫn đến giá cả yếu tốnày tăng Trong khi giá cả của sản phẩm có xu hướng giữ nguyên hay giảm xuốngthì chi phí đầu vào tăng làm lợi nhuận giảm sút
Theo Keynes tỷ suất lợi nhuận là đại lượng khó xác định Tuy nhiên, chínhđiều đó lại thúc đẩy các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư Lợi nhuận thu được có thể cao,
có thể thấp, thậm chí có thể âm nên kích thích các nhà đầu tư bỏ vốn với kỳ vọngthu được lợi nhuận cao Bên cạnh đó họ cũng phải đối mặt với những rủi ro có thểxảy ra Đó là tính hai mặt của đầu tư, chấp nhận rủi ro để thu được lợi nhuận kỳvọng
b Một số yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng:
- Cung – cầu hàng hóa:
Việc nghiên cứu cung cầu hàng hóa cho sản phẩm của dự án có vai trò rất lớnảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư
Nghiên cứu cầu hang hóa để đảm bảo sản phẩm bán ra có thể tiêu thụ được Cầuhàng hóa là lượng hàng hóa mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng mua tạicác mức giá khác nhau trong khoảng thời gian xác định Nếu cầu tiêu dùng trên thịtrường tăng thì giá hàng hóa tăng làm cho lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp tăng
và ngược lại
Cung hàng hóa là lượng hàng mà người sản xuất muốn bán và có khả năng bántại những mức giá khác nhau trong khoảng thời gian xác định Khi cung hàng háotrên thị trường tăng thì giá hàng hóa giảm xuống làm cho lợi nhuận của doanhnghiệp giảm xuống, nếu cung hàng hóa trên thị trường thấp dẫn đến giá hàng hóatăng làm cho lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp tăng lên
-Các nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất:
Trang 10Với mỗi dự án, khi nhà đầu tư quyết định bỏ vốn đầu tư thì họ phải xác định cácyếu tố đảm bảo cho quá trình thực hiện đầu tư cũng như vận hành kết quả dự án đầu
tư Việc sử dụng các yếu tố đầu vào nào, số lượng bao nhiêu và chất lượng ra saoảnh hưởng rất nhiều đến số lượng và chất lượng sản phẩm đầu ra và ảnh hưởng đếnlợi nhuận của doanh nghiệp Cụ thể:
Các điều kiện về nguồn nhân lực: bao gồm cả về chất lượng và số lượng lao
động Khi xem xét nguồn nhân lực ta phải chú ý đến khả năng dự báo tốc độtăng dân số, về tiền lương, về trình độ học vấn và văn hóa của họ
Nguồn vốn cho hoạt động đầu tư phát triển: đó chính là khả năng huy động
vốn trên thị trường tài chính và tỷ lệ phân bổ vốn cho hoạt động đầu ư
Về nguồn nguyên nhiên liệu đầu vào: phụ thuộc vào các chính sách bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên, tốc độ đền bù giải phóng mặt bằng, các mối liên hệ giữacác ngành kinh tế
Về trình độ công nghệ: phụ thuộc vào các quy trình về chuyển giao công
nghệ, khả năng nghiên cứu và tiếp thu của đội ngũ khoa học trong nước
Về cơ sở hạ tầng: phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước nên phụ thuộc
vào quy hoạch vùng và nguồn ngân sách
-Thuế:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, vừa là công cụ tái phân phốicủa cải xã hội, vừa là công cụ điều tiết phân bố vốn giữa các ngành, vùng miền.Thuế tác động đến cung cầu trên thị trường Thuế thu nhập cá nhân làm giảm thunhập của người dân làm giảm cầu tiêu dùng, thuế còn tác động đến giá các yếu tốđầu vào làm tăng chi phí sản xuất và ảnh hưởng đến cung hàng hóa Mà cung cầuhàng hóa lại ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp Mặtkhác, thuế thu nhập doanh nghiệp còn trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanhnghiệp Vì vậy, cần xây dựng một chính sách thuế phù hợp
Trang 11thể huy động cho đầu tư bao gồm: Lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấu hao, phát hànhtrái phiếu và bán cổ phiếu Lợi nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồnvốn nội bộ của doanh nghiệp, còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu lànguồn vốn huy động từ bên ngoài Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tếlâm vào tình trạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vàotình trạng phá sản Do đó, việc đi vsy không phải là điều hấp dẫn, trừ khi được vay
ưu đãi Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng khôngphải là biện pháp hấp dẫn Còn bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được cácdoanh nghiệp thực hiện khi hiệu quả của dự án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự
án đem lại trong tương lai sẽ lớn các chi phí đã bỏ ra
Chính vì vậy, theo lý thuyết này các doanh nghiệp thường chọn biện pháp tàitrợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự gia tăng của lợi nhuận sẽ làmcho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn
2.2.3 Lãi suất tiền vay
Vốn là yếu tố quan trọng trong hoạt động đầu tư thì lãi suất ảnh hưởng lớn đếncác chi tiêu tài chính của dự án, các nhà đầu tư thường vay tiền để đầu tư và lãi suất
để phản ánh giá của khoản tiền vay mượn đó Nếu giá vay tiền (giá của vốn) caohơn tỷ suất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm quy mô vốn và ngược lại.Lãi suất danh nghĩa phụ thuộc vào cung - cầu vốn vay trên thị trường, lãi suấtđược điều chỉnh để tạo ra sự điều tiết của ngân hàng nhà nước thông qua chính sáchtiền tệ như lãi suất cơ bản, lãi suất chiếc khấu, tỉ lệ dữ trữ bắt buộc
Lãi suất thực tế không chỉ phụ thuộc vào lãi suất danh nghĩa mà còn phụ thuộcvào tỷ lệ lạm phát
Nếu tỷ lệ lạm phát pi >= 10%:
r = (1+i/1+pi)-1
Nếu tỷ lệ lạm phát pi <= 10%:
r = i-pi
Trong đó: r: lãi suất thực tế
i: là lãi suất danh nghĩa
pi: là tỷ lệ lạm phát
Sự phân biệt giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có ý nghĩa rất quantrọng Đối với người có tiền, nhờ đoán biết được lãi suất thực mà họ quyết định nên
Trang 12gửi tiền vào ngân hàng hay dùng số tiền đó trực tiếp kinh doanh Đối với người cầnvốn, nếu dự đoán được tương lai có lạm phát và trong suốt thời gian đó lãi suất chovay không đổi hoặc có tăng nhưng tốc độ tăng không bằng lạm phát tăng thì họ cóthể yên tâm vay để kinh doanh mà không sợ lỗ vì trượt giá khi trả nợ.
Chủ đầu tư sẽ chỉ quyết định đầu tư khi tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) của dự án lớnhơn lãi suất thực tế Do đó, khi lãi suất tăng sẽ có ít dự án đầu tư hơn: nhu cầu đầu
tư sẽ giảm
2.2.4 Tốc độ phát triển của sản lượng quốc gia
Nhu cầu về sản lượng sản phẩm hay việc thay đổi sản lượng là nhân tố ảnhhưởng đến việc tăng hay giảm quy mô vốn đầu tư
Tốc độ tăng sản lượng và tốc độ vốn đầu tư không giống nhau, được đề cậptrong lý thuyết gia tốc vốn đầu tư Theo lý thuyết gia tốc vốn đầu tư, để sản xuấtmột đơn vị đầu ra cho trước cần phải có một lượng vốn đầu tư nhất định và đượcbiểu diễn theo công thức:
x = K/Y (*)
Trong đó: x: hệ số tốc đầu tư
K: là vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu
Y: là sản lượng tại thời kỳ nghiên cứu
Như vậy, nếu x không đổi thì khi quy mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đếnnhu cầu vốn đầu tư tăng theo và ngược lại Nói cách khác, chi tiêu đầu tư tăng haygiảm phụ thuộc vào quy mô sản phẩm cần sản xuất
Từ công thức (*), suy ra:
* Ưu điểm của lý thuyết gia tốc đầu tư :
- Phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư Nếu x không đổi trong kỳ kếhoạch thì có thể sử dụng công thức để lập kế hoạch khá chính xác
Trang 13- Phản ánh sự tác động của tăng trưởng nền kinh tế đến đầu tư Khi kinh tếtăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn, dẫn đến tiếtkiệm tăng cao và đầu tư nhiều hơn.
* Nhược điểm của lý thuyết gia tốc đầu tư :
- Thứ nhất, lý thuyết giả định quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng và đầu tư là cố
định Thực tế đại lượng này (x) luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tốkhác
- Thứ hai, thực chất lý thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI)
chứ không phải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sản lượng
Vì, từ công thức (**) có thể viết:
Tại thời điểm t: Kt = x*Yt (I)
Tại thời điểm t-1: K(t-1) = x*Y(t-1) (II)
Lấy (I) trừ đi (II), ta có:
Kt – K(t-1) = x*Yt – x*Y(t-1) = x*(Yt – Y(t-1) )
- Thứ ba, theo lý thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực
hiện ngay trong cùng một thời kỳ Điều này không đúng vì nhiều lý do, chẳng hạn
do việc cung cấp các yếu tố có liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp ứng,
do cầu vượt quá cung Do đó, lý thuyết gia tốc đầu tư tiếp tục hoàn thiện qua thờigian Theo lý thuyết gia tốc đầu tư sau thì vốn đầu tư mong muốn được xác địnhnhư là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa là quy mô đầu tưmong muốn được xác định trong dài hạn
2.2.5 Chu kỳ kinh doanh
Trang 14Chu trình kinh doanh là những dao động của nền kinh tế xung xu thé tăngtrưởng dài hạn, bao gồm cả những thời kỳ tăng trưởng nhanh xen kẽ với những thời
kỳ suy thoái của nền kinh tế
Chu kỳ kinh doanh gồm bốn giai đoạn: khủng hoảng, suy thoái, phục hồi vàhưng thịnh
Chu kỳ kinh doanh tác động gián tiếp tới quyết định đầu tư của doanh nghiệpthông qua lợi nhuận kỳ vọng
Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn hưng thịnh, tăng trưởng cao thì các doanhnghiệp dự kiến nhu cầu thị trường cũng tăng, họ mở rộng đầu tư, tăng quy mô sảnxuất (hay thời kỳ khuếch trương) vì họ tin rằng có thể thu lợi nhuận lớn hơn
Khi nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái, thậm chí khủng hoảng, hầu hếtcacsdoanh nghiệp không muốn chi tiêu đầu tư (hay thời kỳ thu hẹp) vì họ dự kiếncầu thị trường sụt giảm mạnh, ản phẩm thiếu đầu ra, hay nói các khác là lợi nhuận
kỳ vọng thấp, thậm chí còn âm (thô lỗ)
2.2.6 Đầu tư nhà nước
Tổng đầu tư xã hội bao gồm đâu tư của nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp
Tổng đầu tư xã hội = Đầu tư nhà nước + Đầu tư tư nhân
Các dự án đầu tư từ nguồn vốn của nhà nước không nhằm mục tiêu thu lợinhuận mà tác dụng trợ giúp , điều tiết, định hướng cho đầu tư của toàn xã hội.Thông qua ngân sách , chính phủ có thể đầu tư phát triển mạng lưới giao thông, cơ
sở hạ tầng, các khu công nghiệp điều này nhằm cải thiện môi trường đầu tư,khuyến khích các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đầu tư váo các vùng, ngành theoquy hoạch của chính phủ, hướng nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủnghĩa
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước,nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triểncủa doanh nghiệp nhà nước
Đầu tư nhà nước chịu ảnh hưởng của các yếu tố như thâm hụt ngân sách, nợnước ngoài, các quy hoạch kinh tế xã hội, tỷ lệ thất thoát, tốc độ giải ngân vốn, cácthủ tục khi sử dụng vốn nhà nước
2.2.7 Môi trường đầu tư
Trang 15Có thể coi môi trường đầu tư như một chất xúc tác ban đầu quyết định bỏ vốncủa nhà đầu tư, sự cải thiện môi trường đầu tư có ảnh hưởng vô cùng quan trọng vàtác động tích cực đến nền kinh tế, làm tăng nguồn vốn đầu tư và tăng chi tiêu đầu tưtoàn xã hội.
Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đếnhiệu quả đầu tư Có thể kể đến, như:
Môi trường cứng: bao gồm các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng kỳ thuật
phục vụ cho phát triển kinh tế, ví dụ như cở sở hạ tầng giao thông, hệ thốngcấp điện, nước, hệ thống thông tin liên lạc
Môi trường mềm: bao gồm hệ thống thủ tục hành chính, dịch vụ pháp lý liên
quan đến đầu tư
Môi trường đầu tư ổn định cả về kinh tế, xã hội và chính trị sẽ thúc đẩy các nhàđầu tư bỏ vốn đầu tư phát triển Trong đó, việc đưa ra các chính sách nhằm lòng tincho các nhà đầu tư cần được Chính Phủ quan tâm Chính sách và hành vi của ChínhPhủ có ảnh hưởng mạnh thông qua tác động của nó đến chi phí, rủi ro và các ràocản cạnh tranh
2.2.8 Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế đánh vào lợi nhuận của doanhnghiệp, doanh nghiệp sẽ phải chia sẻ với chính phủ một phần lợi nhuận của mình,nhưng với doanh nghiệp đầu tư vẫn hợp lý, vẫn tiếp tục tăng đầu tư khi giá thuế tưbản cao hơn chi phí tư bản và sẽ cắt giảm đầu tư khi giá thuế thấp hơn chi phí tưbản
Thuế thu nhập doanh ngiệp có tác động quyế định đến hoạt động đầu tư Nếuthuế thu nhập doanh nghiệp quá cao sẽ làm cho lợi nhuận sau thuế của doanhnghiệp giảm trong các yếu tố khác không đổi Khi lợi nhuận giảm, nhà đầu tư sẽ cânnhắc quyết định đầu tư của doanh nghiệp
Thuế thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nênChính Phủ cần đưa ra chính sách thuế hợp lý nhằm khuyến khích và nâng cao hiệuquả của chi tiêu đầu tư nhưng vẫn phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
II Một số vấn đề về kích cầu và kích cầu đầu tư.
1 Khái niệm về kích cầu và kích cầu đầu tư
1.1. Thế nào là kích cầu?
Trang 16Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của Chính phủ (hay còn gọi là tiêudùng công cộng) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế
Như vậy, kích cầu là một trong những biện pháp của Chính phủ liên quan đếnchính sách tài khóa để đối phó với tình hình suy thoái Nói cách khác, kích cầu làmột công cụ quan trọng nhất của chính sách kích thích kinh tế bên cạch tác dụng hỗtrợ của chính sách tiền tệ (trong tình hình lạm phát cao, chính sách tiền tệ trở nênquan trọng)
1.2. Thế nào là kích cầu đầu tư?
Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các công cụ pháp lýđược sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hút ngày càng nhiều vốnđầu tư để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và pháp triển kinh tế xã hội trong một giaiđoạn hay một thời kì nhất định
2 Nội dung của kích cầu
2.1. Xuất phát của kích cầu
Chính sách kích cầu xuất phát từ học thuyết kinh tế của nhà kinh tế học nổi tiếngngười Anh John Maynard Keynes (1883-1946) Trong lý thuyết của mình, Keynesrất coi trọng tổng cầu của nền kinh tế Theo ông, nền kinh tế chịu tác động của hainhân tố cơ bản: Tổng cung, tức toàn bộ số hàng hóa bán trong nền kinh tế khôngphải là tổng cung mà chính là tổng cầu Tổng cung giữ vai trò thụ động, nó chịu sựtác động của tổng cầu Tổng cầu phụ thuộc vào các yếu tố: mức chi tiêu cá nhân củamỗi gia đình, mức chi tiêu cho đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu ròngcủa nước ngoài đối với hàng hóa sản xuất trong nước ( xuất khẩu ròng) trên thịtrường và tổng cầu, tức toàn thể số hàng hóa mà người ta muốn mua Nhân tố trựctiếp quyết định mức sản lượng và việc làm
Theo Keynes, trong quá trình vận động của nền kinh tế, tổng cầu thường khôngtheo kịp so với tổng cung Điều đó ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, thu hẹp đầu
tư, gây ra nạn thất nghiệp cũng như khủng hoảng kinh tế Để giải quyết tình trạngnày phải tăng tổng cầu Tổng cầu lớn hơn tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tư Do đó
sẽ gia tăng việc làm và gia tăng thu nhập Cuối cùng sản lượng quốc gia cũng được
Trang 17gia tăng Đồng thời, Keynes cũng đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều tiếtnền kinh tế thông qua chính sách kich cầu của Chính phủ Ông cho rằng để thoátkhỏi khủng hoảng và thất nghiệp cần có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế đểtăng tổng cầu, gia tăng việc làm và thu nhập Sự can thiệp của Nhà nước thông quacác công cụ như chương trình đầu tư Nhà nước; Chính sách tài chính, tín dụng vàlưu thông tiền tệ Mở rộng việc làm bằng cách mở rộng đầu tư thậm chí cả vào cácngành thuộc lĩnh vực quân sự; Khuyến khích tiêu dùng cá nhân Như vậy, có thểnói, chính sách kích cầu bắt nguồn từ tư tưởng kích cầu rút ra từ hai giả thuyết quantrọng của học thuyết Keynes:
-Giả thuyết thuyết thứ nhất: Cuộc suy thoái bắt nguồn từ nền kinh tế có năng
lực sản xuất bị dư thừa Biểu hiện của tình trạng này là các yếu tố đầu vào cho sảnxuất không được sử dụng hết công suất: thất nghiệp trên thị trường lao động, máymóc bị bỏ bê trong khu vực doanh nghiệp, và hàng hóa ế thừa
Mức giá:
Hiện tượng dư cung này khiến cho các nhà sản xuất giảm giá để hy vọng bánđược hang hóa Điều này làm cho giá cả có khuynh hướng giảm trên tất cả các thịtrường Lúc này những người tiêu dùng không còn nhu cầu sử dụng thêm vì họ đã
Trang 18thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của họ nên dù có giảm giá hàng hóa cũng khôngkhuyến khích người mua, và cầu càng ở dưới xa cung thực tế
Mức giá:
Như vậy, qua giả thuyết trên, Keynes cho rằng nền kinh tế bị suy thoái vì tạmthời không có đủ cầu cho cung đang dư thừa, tức là thiếu cầu hiệu lực Vì thế đểthoát khỏi suy thoái thì cần có một lượng cầu đủ lớn
- Giả thuyết thứ hai: Chính phủ có khả năng chủ động chi tiêu toàn bộ,
thậm chí nhiều hơn thu nhập của mình Trong khi đó, các khu vực không phải chínhphủ (hộ gia đình và khu vực kinh tế tư nhân) thường chi tiêu ít hơn tổng thu nhập vì
họ muốn để dành (khuynh hướng tiết kiệm biên lớn hơn 0) Trong điều kiện bìnhthường, khoản tiết kiệm được chuyển sang khu vực doanh nghiệp để đầu tư (tạonên thành phần của tổng cầu), nhưng trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp khôngmuốn đầu tư thêm nữa vì không có khả năng lợi nhuận
Xuất phát từ giả thuyết thứ hai, Keynes đề xuất tư tưởng kích cầu theonguyên lý sau: Dịch chuyển sức mua từ dân cư và tư nhân vào tay chính phủ để tăngcầu hiệu lực, đưa nên kinh tế ra khỏi cái bẫy đình đồn do thiếu sức mua
Trang 19Mức giá:
Ra đời ttrong giai đoạn của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933,học thuyết kinh tế của Keynes đã chiếm một vị trí quan trọng trong kinh tế học hiệnđại và có ảnh hưởng sâu rộng trong chính sách kinh tế ở nhiều quốc gia trên thế giớicho đến hiện nay
2.2. Biện pháp kích cầu
Biện pháp kích cầu cụ thể có thể làm giảm thuế hoặc tăng chi tiêu hoặc cả hai.Kích cầu thường chỉ được dùng khi nền kinh tế lâm vào trì trệ hay suy thoái, đangcần vực dậy Kích cầu đặc biệt hay được sử dụng khi nền kinh tế rơi vào trạng tháibẫy thanh khoản
Theo nhà kinh tế Lawrence Summers (thư ký hội đồng kinh tế Quốc gia trongchính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ thứ 44 Barack Obama), để biện pháp kích cầu
có hiệu quả thì việc thực hiện nó phải đảm bảo: đúng lúc, trúng đích và vừa đủ
Đúng lúc tức là phải thực hiện kích cầu ngay khi các doanh nghiệp chưa thu
hẹp sản xuất và các hộ gia đình chưa thu hẹp tiêu dùng Nếu thực hiện sớm quá,kích cầu có thể làm cho nền kinh tế trở nên nóng và tăng áp lực lạm phát Nhưngnếu thực hiện chậm quá, thì hiệu quả của kích cầu sẽ giảm Việc thực hiện kích cầuđúng lúc càng phải được chú ý nếu các quá trình chính trị và hành chính để cho một
Trang 20gói kích cầu được phê duyệt và triển khai là phức tạp Thường thì Chính phủ phải
để trình quốc hội kế hoạch kích cầu và phải được cơ quan lập pháp tối cao nàythông qua Và, không phải lúc nào công việc này cũng suôn sẻ.Tuy nhiên, tháchthức lớn nhất đối với việc thực hiện kích cầu đúng lúc chính là sự thiếu chính xáctrong xác định thời điểm chuyên pha của chu kỳ kinh tế Có trường hợp kinh tế đãchuyển hẳn sang pha suy thoái một thời gian rồi mà công tác thu thập và phân tích
số liệu thống kê không đủ khả năng phán đoán ra
Trúng đích tức là hướng tới những chủ thể kinh tế nào tiêu dùng nhanh hơn
khoản tài chính được hưởng nhờ kích cầu và do đó sớm gây ra tác động lan tỏa tớitổng cầu hơn, đồng thời hướng tới những chủ thể kinh tế nào bị tác động bất lợihơn cả bởi suy thoái kinh tế Thường thì đó là những chủ thể kinh tế có thu nhậpthấp hơn Người có thu nhập cao thường ít giảm tiêu dùng hơn so với người có thunhập thấp trong thời kỳ kinh tế quốc dân khó khăn Việc hỗ trợ các gia đình có thunhập thấp để họ không phải giảm tiêu dùng hay thậm chí còn tăng tiêu dùng sẽ tạo
ra hiệu ứng lan tỏa, kích thích doanh nghiệp mở rộng sản xuất và thuê mướn thêmlao động
Để kích cầu trúng đich, các nhà hoạch định chính sách thường dựa vào các môhình kinh tế lượng để mô phỏng hiệu quả của gói kích cầu qua các kịch bản khácnhau tương ướng với các mục tiêu khác nhau, từ đó tìm ra mục tiêu hợp lý nhất
Vừa đủ tức là gói kích cầu sẽ hết hiệu lực khi nền kinh tế đã trở nên tốt hơn.
Nếu gói kích cầu quá bé thì kích thích sẽ bị hụt hơi và tổng cầu có thể không bị kíchthích nữa, khiến cho gói kích cầu trở thành lãng phí Ngược lại gói kích cầu lớn quátạo ra tác động kéo dài khiến cho nền kinh tế đã hồi phục mà vẫn trong trạng tháitiếp tục được kích thích thì sẽ dẫn tới kinh tế mở rộng quá mức, lạm phát tăng lên.Điều này càng được chú ý nếu ngân sách nhà nước và dự trữ ngoại hối nhà nướckhông dư dật
Khi cân nhắc xem xét các biện pháp kích cầu cụ thể của gói kích cầu, thì
cả ba nguyên tắc trên đều phải được tuân thủ và xem xét một cách đồng thờiNếu một biện pháp kích cầu cụ thể mà vi phạm một trong ba nguyên tắc trên thì
về cơ bản biện pháp kích cầu đó chưa phải là một biện pháp kích cầu tốt Để
Trang 21tăng hiệu quả của gói kích cầu, cần có các chính sách bổ trợ khác (không vi phạm các cam kết thương mại quốc tế của quốc gia) như không để tỉ giá bị định giá cao (overvalued) và tăng tính linh hoạt của tỉ giá nhằm sử dụng công cụ này như vẫn tự động điều chỉnh thâm hụt thươngmại ở mức hợp lý và bền vững kinh tế vĩ mô.
2.3. Điều kiện áp dụng các biện pháp kích cầu
Khủng hoảng- phục hồi- hưng thịnh- suy thoái là các pha trong chu kì của một nền kinh tế, đây là yếu tố khách quan mà không một chính phủ hay một tổ chức nào có thể thay đổi được Suy thoái kinh tế có thể liên quan đến sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, lợi nhuận Suy thoái có thể gắn liền với hạ giá cả (giảm phát) hoặc ngược lại giá cả tăng nhanh (lạm phát) Một sự suy thoái lâu dài và trầm trọng được gọi là khủng hoảng kinh tế Khi lý thuyết bàn tay vô hình của Adamsmith sụp đổ với đỉnh điểm là cuộc đại khủng hoảng 1929-1933 phải nhường lại cho kinh tế học vĩ mô “Keynes” với trọng tâm chính là nêu bật vai trò tăng trưởng tiền lương (để tăng tổng cầu) và vai trò của nhà nước trong việc quản lý nền kinh
tế Từ khi kinh tế học keynes ra đời với các biện pháp can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế để điều chỉnh những méo mó của thị trường thì nền kinh tế thị trường ở các nước có sự chuyển biến rõ nét Khi nền kinh tế có dấu hiệu bắt đầu suy thoái kéo dài, để tránh tình trạng trở nên tồi tệ hơn, chính phủ các nước đã
áp dụng nhiều chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô để kích cầu nhằm đưa nền kinh tế tăng trưởng trở lại Trong đó kích cầu đầu tư là biện pháp hữu hiệu của cácchính phủ
3 Nội dung của kích cầu đầu tư
3.1. Phân biệt kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng
Kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng là hai khái niệm thường được nhắc tớicùng nhau tuy nhiên về bản chất thì hai khái niệm này có sự khác biệt Trước hết là
về đối tượng tác động của hai loại hình kích cầu này là khác nhau Đối tượng củakích cầu tiêu dùng là về phía cầu trong nền kinh tế, thông qua các chính sách củachính phủ để kích thích tiêu dùng trong nước như chính sách thuế thu nhập cá nhân,
Trang 22chính sách hỗ trợ người tiêu dùng Mục đích của kích cầu tiêu dùng là kích thíchtiêu dùng trong nước thông qua đó tạo thêm thị trường cho các doanh nghiệp mởrộng sản xuất giúp nền kinh tế lấy lại đà tăng trưởng trong tình hình nền kinh tế gặpkhó khăn như thời kì hậu khủng hoảng Còn xét về kích cầu đầu tư thì đây là cácchính sách trực tiếp tác động tới hoạt động đầu tư của nền kinh tế nhằm khuyếnkhích hoạt động đầu tư sản xuất của doanh nghiệp thông qua chính sách lãi suất haychính sách thuế thu nhập doanh nghiệp.
Khác với kích cầu tiêu dùng, kích cầu đầu tư có tác động tích cực cảtrong ngắn hạn và trong dài hạn vì đầu tư không chỉ là cấu phần của tổng cầu màcòn là yếu tố cấu thành trữ lượng vốn của tổng cung Trong ngắn hạn, khi đầu tưtăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm và nhu cầu hàng hóa sản xuất trực tiếp chongành được đầu tư và tiếp đến là các ngành liên quan và cuối cùng tạo tác động lantỏa tăng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ sản xuất của toàn bộ nền kinh tế Về dàihạn, đầu tư làm tăng nguồn vốn, làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế và
do vậy tổng cung tăng sẽ tạo động lưc bền vững cho tăng trưởng dài hạn Tuy nhiênhai chính sách kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng lại có quan hệ bổ trợ lẫn nhau,
bổ xung cho nhau nhằm phát huy tốt hơn hiệu quả của cả hai chính sách, tất cả đềuhướng tới mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế
3.2. Tác động của kích cầu đầu tư
Khi chúng ta thi hành bất kì một chính sách nào tác động vào nền kinh tế thì các chính sách đó bao giờ cũng có tính hai mặt, có thể là tích cực đối với yếu
tố này nhưng lại là tiêu cực với yếu tố kia, và đôi khi bản thân các yếu tố cũng
có tác động qua lại lẫn nhau Bên cạnh việc có thể đạt được các mục đích như mong muốn thì còn tồn tại những tiêu cực không mong muốn Đối với chính sách kích cầu đầu tư thường được sử dụng khi nền kinh tế lâm vào khó khăn như khủng hoảng kinh tế cũng không nằm ngoài qui luật đó Khi chính phủ thực hiện các chính sách kích cầu đầu tư sẽ tác động cả mặt tích cực và tiêu cực tới nền kinh tế Mục tiêu cuối cùng của kích cầu đầu tư là tăng trưởng kinh tế nhưng phảiđảm bảo cả về mặt văn hóa, xã hội
3.2.1 Tác động tích cực
Trang 233.2.1.1. Tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
- Tác động đến tổng cầu: Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu
tư Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh
tế Trong những năm gần đây đầu tư của Việt Nam thường chiếm khoảng 35% GDP.Đối với tổng cầu tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn tác động của đầu tưthể hiện rõ trong ngắn hạn Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu
tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng (nếu các yếu tố khác không đổi) Ta có công thức sau :
- Tác động đến cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là
cung trong nước và cung từ nước ngoài Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yêu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…thể hiệnqua phương trình sau:
Trang 24Như vậy kích cầu đầu tư làm tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế, nếu các yếu tố khác không đổi Mặt khác tác động của vốn đầu tư còn được thể hiện thông qua việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đổi mới công nghệ…Do đó đầu tư lại gián tiếp làm tăng tổngcung của nền kinh tế.
Mối quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là mối quan hệ biện chứng nhân quả, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Đây là cơ
sở lý luận để giải thích chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng ở nhiều nước trongthời kỳ nền kinh tế tăng trưởng chậm
3.2.1.2. Đầu tư tác động đến khoa học và công nghệ
Đầu tư là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và pháttriển khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia Công nghệ gồm cácyếu tố đó là: phần cứng (máy móc thiết bị), phần mềm, các yếu tố con người Muốn
có công nghệ cần phải đầu tư vào các yếu tố cấu thành
Trong mỗi thời kỳ, các nước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển côngnghệ Trong giai đoạn đầu, các nước đang phát triển do có nhiều lao động vànguyên liệu, thường đầu tư các loại công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyênliệu, sau đó giảm dần hàm lượng lao động, nguyên liệu trong sản xuất sản phẩm vàtăng dần hàm lượng vốn thiết bị và tri thức thông qua đầu tư công nghệ hiện đại hơn
và đầu tư đúng mức để phát triển nhân lực Đến giai đoạn phát triển, xu hướng đầu
tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối Tuynhiên, quá trình chuyển từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ ba cũng là chuyển
từ đầu tư ít sang đầu tư lớn, thay đổi cơ cấu đầu tư Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽkhông đảm bảo thành công của quá trình chuyển đổi và sự phát triển của khoa họccông nghệ
3.2.1.3. Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tư gópphần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật và phát triển kinh tế xã hộicủa quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc
Trang 25dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coitrọng yếu tố ngoại lực.
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy nếu có chính sách đầu tư hợp lý sẽ tạo
đà cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tỷ trọng phân bổ vốn cho cácngành khác nhau sẽ mang lại những kết quả và hiệu quả khác nhau Vốn đầu tưcũng như tỷ trọng vốn đầu tư cho các ngành và các vùng kinh tế có ảnh hưởng trựctiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và cũng đồngthời ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế Không những thế,giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế cũng như dịch chuyển cơ cấu kinh tế có mối quan
hệ khăng khít với nhau Việc đầu tư vốn nhằm mục đích mang lại hiệu quả kinh tếcao, tăng trưởng nhanh trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế cũng sẽ dẫn đến hình thành
cơ cấu đầu tư hợp lý Ngược lại, tăng trưởng kinh tế cao kết hợp với việc chuyểndịch cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ tạo nguồn vốn đầu tư dồi dào, định hướng đầu tư vàocác ngành hiệu quả hơn
3.2.1.4. Đầu tư tác động đến tiến bộ xã hội và môi trường
Đầu tư là nhân tố tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời làmột nhân tố gián tiếp góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ Đầu tư hợp lý, trọngtâm trọng điểm sẽ nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống vật chất,tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội như y tếm giáo dục Hoạt động đầu tư cũngtrực tiếp cung cấp tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần làm giảm tỷ lệ thấtnghiệp
Đầu tư là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, đồng thời, đầu tưcũng tác động tới mối trường Thông qua các mục tiêu, kế hoạch đạt ra trong côngtác huy động vốn và nguồn lực vào các nguồn kinh tế, các ngành, thông qua hoạtđộng sử dụng vốn, đầu tư đã khắc phục và giảm bớt sự ô nhiễm, cân bằng lại môitrường sinh thái
3.2.1.5. Đầu tư tác động đến tăng trưởng kinh tế
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăngtrưởng Đầu tư với tăng trưởng có mối liên hệ nhân quả, tác động qua lại với nhau
Trang 26Kích cầu đầu tư làm tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là nhữngnhấn rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất lao độngtổng hợp Tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphóa- hiện đại hóa…do đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởngkinh tế thể hiện ở công thức hệ số ICOR
ICOR= Vốn đầu tư tăng thêm
3.2.2.1. Thâm hụt ngân sách và gia tăng gánh nặng nợ
Trong kích cầu nói chung hay kích cầu đầu tư nói riêng chính sách tài khóa
mở rộng được áp dụng thông qua biện pháp cụ thể là giảm thuế và tăng chi tiêungân sách nhà nước Việc kích cầu đầu tư đòi hỏi phải chấp nhận một mức thâm hụtngân sách Để bù đắp thâm hụt trong thời gian đó Hai nguồn chính để bù đắp chothâm hụt ngân sách là bằng nguồn vay nợ trong nước hoặc nước ngoài Khi các dự
án vay đầu tư được lập ra có chất lượng thấp hoặc triển khai kém, giải ngân khôngđúng mục đích vay, sẽ làm thất thoát, lãng phí các nguồn vốn vay, gia tăng gánhnặng nợ nần và các hiện tượng “đầu cơ nóng” với những hệ quả đắt đỏ đi kèm cho
cả Chính phủ, doanh nghiệp, ngân hàng và xã hội nói chung Trong dài hạn, bội chingân sách sẽ tạo áp lực tăng lãi suất và sẽ dẫn tới thoái lui đầu tư làm giảm hiệu quảcủa chính sách kích cầu đầu tư
3.2.2.2. Gây ra lạm phát cao
Nguyên nhân chính là do thâm hụt ngân sách quá lớn, thu không đủ chi cộngvới áp lực trả nợ công Khi sự thâm hụt trầm trọng và kéo dài thì chính phủ phải áp
Trang 27dụng biện pháp in tiền.Việc phát hành tiền sẽ ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ làm tăngmức cung ứng tiền ,đẩy tổng cầu lên cao và làm tăng thêm tỷ lệ lạm phát Tuynhiên,đối với các nước đang phát triển ,việc phát hành trái phiếu chính phủ gặpnhiều khó khăn vì nguồn vốn trên thị trường còn hạn chế Biện pháp in tiền đượccoi là có hiệu quả nhất Vì thế mà khi thâm hụt ngân sách càng nhiều và càng kéodài thì tiền tệ sẽ tăng theo và tỷ lệ gây lạm phát càng lớn Còn đối với những quốcgia có nền kinh tế phát triển thì việc phát hành trái phiếu có lợi hơn Nhưng việcphát hành này kéo dài sẽ làm cầu về vốn sẽ tăng và lãi xuất tăng cao hơn Lúc này
để giảm lãi xuất trên thị trưòng Ngân hàng Trung ương lại phải mua vào các tráiphiếu đó Như thế mức cung tiền lại tăng lên và dễ gây lạm phát Để bù đáp choviệc thâm hụt ngân sách nhà nước như vậy, nguy cơ lạm phát cao sẽ xảy ra sau khikích cầu Chính sách tiền tệ và tín dụng nới lỏng nhằm phục vụ chính sách kíchthích kinh tế, hỗ trợ kích cầu đã đẩy nhanh tốc độ gia tăng của các phương tiệnthanh toán, tốc độ đưa tiền ra lưu thông tiếp tục được đẩy mạnh Tuy nhiên, việctăng nhanh và quá mạnh tín dụng cũng là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ lạm phát Hơnnữa, việc đổ một lượng tiền đầu tư lớn ra nền kinh tế, nếu như được sử dụng kémhiệu quả sẽ không hấp dẫn được lượng tiền nền kinh và lạm phát tiền tệ sẽ xảy ra
3.2.2.3. Tác động đến môi trường
Môi trường vừa là đầu vào, vừa là đầu ra của hoạt động đầu tư phát triển Nếu
ta kích cầu đầu tư mà không có sự kiểm soát sẽ gây ô nhiễm môi trường là hậu quảcủa hoạt động đầu tư Phát triển kinh tế cũng đồng thời lấy đi tài nguyên thiên nhiênhữu hạn Nếu không có biện phát cân đối, tiết kiệm thì hậu quả mất cân bằng sinhthái, các hiểm họa về môi trường xảy ra Hoạt động đầu tư trên cơ sở sẵn có, khôngthể tái tạo đang ngày càng cạn kiệt, nếu không có biện pháp tiết kiệm, sử dụng hợp
lý dẫn đến mất cân bằng sinh thái, không kịp tái tạo Hoạt động đầu tư mà thải chấtđộc hại ra môi trường chạy theo lợi nhuận, cùng với sự kiểm soát chưa chặt chẽtrong việc xử lý chất thải đã khiến môi trường tự nhiên ngày càng ô nhiễm nặng nề
4 Nguồn vốn cho kích thích đầu tư
4.1. Nguồn trái phiếu chính phủ
Trang 28Nguồn vốn này được huy động bằng cách Chính phủ sẽ phát hành Trái phiếu
ra thị trường trong nước để thu hút một lượng tiền từ nền kinh tế Vấn đề mấu chốttrong đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ lần này là lãi suất Khi NHNN đang điềuchỉnh lãi suất theo xu hướng thấp dần nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp vay vốnthì việc đưa ra một mức quá cao cho lãi suất trái phiếu sẽ đi ngược lại mục tiêu này.Nhưng nếu lãi suất quá thấp sẽ làm giảm tính hấp dẫn của Trái phiếu khiến việc huyđộng vốn gặp khó khăn Một vấn đề khác Chính phủ cũng cần quan tâm khi pháthành trái phiếu để vay vốn từ nền kinh tế đó chính là khả năng và nguồn trả nợtrong tương lai Nguồn vốn này sẽ được sử dụng vào chi tiêu công Đây là lĩnh vựclâu nay vẫn được xem là hoạt động chưa thực sự hiệu quả Do vậy Chính phủ cầnlựa chọn dự án đầu tư sao cho có hiệu quả, tránh lãng phí Có như vậy mới bớt đượcgánh nặng thâm hụt cho ngân sách quốc gia
Thêm vào đó, tình hình kinh tế thế giới cũng như trong nước hiện nay có rấtnhiều biến động gây tâm lý hoang mang lo sợ cho các nhà đầu tư Đặc biệt là sauhàng loạt vụ đổ vỡ của các ngân hàng lớn trên thế giới thì hiện nay yếu tố an toànđược các NHTM đặt lên hàng đầu Chính vì vậy, Trái phiếu Chính phủ sẽ là kênhđầu tư hấp dẫn, các đợt phát hành trái phiếu sẽ đảm bảo được tiến độ đề ra và lượngtiền cần thiết
4.2. Chính sách cắt giảm thuế
Việc cắt, giảm, hoãn, nộp chậm thuế cho các đối tượng sản xuất kinh doanh làmột biện pháp tài khoá khá tích cực nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Theo kế hoạchNhà nước sẽ tiến hành các chính sách như giảm thuế, miễn thuế và lùi thời hạn nộpthuế Đối với VAT thì sẽ hoàn trước kiểm sau, đối với thuế nhập khẩu thì giãn thờiagian nộp thuế, ân hạn thuế cho các doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp nhỏ vàvừa, doanh nghiệp trẻ sẽ có bậc ưu tiên cao hơn, mức giảm sâu hơn Với biện phápnày, Nhà nước đã chủ động cắt giảm một khoản thu khá lớn của Ngân sách để thựchiện mục tiêu của gói kích thích Các doanh nghiệp được ưu đãi về thuế sẽ bớt đimột phần chi phí, điều này sẽ khiến lợi nhuận của họ cao hơn, tăng lượng vốn táiđầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, giảm giá thành sản phẩm và tăng sứccạnh tranh Đi kèm với việc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn
Trang 29ưu đãi thì đây là một đòn bẩy hữu hiệu nhằm kích thích khu vực sản xuất kinhdoanh thoát khỏi tình trạng đình đốn.
Ngân sách Chính phủ của Việt Nam đang thâm hụt lớn, thêm vào đó nguồn thutrong tương lai sẽ giảm đáng kể do sự thu hẹp của nguồn thu từ hoạt động xuấtkhẩu Do đó, việc áp dụng chính sách cắt giảm thuế cùng với tăng chi tiêu Chínhphủ để kích cầu sẽ tăng thêm gánh nặng thâm hụt cho ngân sách Tuy nhiên với mụctiêu hiện nay là ngăn chặn đà suy giảm kinh tế thì Chính phủ không nên quá lo lắng
về thâm hụt ngân sách bởi chính sách cắt giảm thuế đồng thời tăng chi tiêu côngvừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động vừa tạo ra nền tảng hạ tầng tốt hơncho nền kinh tế, từ đó thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài Để tăng thu cho ngânsách, Chính phủ có thể tăng thu tại khu vực thuế tài nguyên như xăng dầu…
4.3. Quỹ dự trữ ngoại hối
Nguồn vốn lấy ra từ quỹ dự trữ ngoại hối có ưu điểm là có thể chủ động huyđộng được lượng tiền lớn trong khoảng thời gian ngắn Tuy nhiên việc sử dụngnguồn vốn này có nhiều vấn đề cần xem xét
Quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước được tạo ra nhằm các mục tiêu là:
Thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá
Duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối đề phòng khủng hoảng tàichính;
Tạo ra một khoản tài sản dự trữ của Nhà nước nhằm duy trì lòng tin về khảnăng đảm bảo thanh toán các nghĩa vụ nợ nước ngoài của nền kinh tế, can thiệp
để ổn định tỷ giá, đảm bảo ổn định về kinh tế vĩ mô
Dự trữ cho trường hợp khẩn cấp và thảm hoạ mang tính quốc gia
Để đáp ứng cho những mục tiêu này, quỹ dự trữ ngoại hối phải đảm bảo duytrì được một lượng ngoại tệ tối thiểu cần thiết theo thông lệ quốc tế là 12 tuần nhậpkhẩu Tuy dự trữ nước ta đã đáp ứng được yêu cầu này nhưng quy mô còn nhỏ.Trong khi đó, cùng với mức tăng trưởng GDP, nhu cầu thanh toán xuất nhập khẩucũng tăng theo Do chủ trương tự do hoá về vốn, lượng vốn ra vào nước ta sẽ ngày
Trang 30càng nhiều nên phải chủ động để đón nhận những nguồn vốn lớn di chuyển trong thịtrường Quy mô dự trữ quốc gia sẽ phải tương xứng với nhu cầu phát triển của nềnkinh tế để kịp thời can thiệp Khi sử dụng Chính phủ nên cân nhắc đến các nguồnngoại tệ có thể bổ sung cho quỹ trong tương lai Trong thời gian tới đây, do suythoái kinh tế toàn cầu, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bị thu hẹp hơntrước nên nguồn ngoại tệ bổ sung cho quỹ dự trữ sẽ khó khăn Do vậy, mỗi mộtquyết định sử dụng nguồn từ quỹ này nên được xem xét kỹ lưỡng nhằm đảm bảoviệc thực hiện các mục tiêu nêu trên.
4.4. In tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách
Có hai trường hợp xảy ra:
Một là Chính phủ có thể trực tiếp thông qua Ngân hàng Nhà nước in tiền để tài
trợ cho chi tiêu Biện pháp tài trợ này ngay lập tức sẽ dẫn đến tăng trưởng cơ sở tiền
tệ và cung tiền tệ
Hai là Chính phủ ban đầu có thể vay tiền của công chúng và hệ thống ngân hàng
thương mại thông qua phát hành trái phiếu Nhưng nếu sau đó Ngân hàng Nhà nướccan thiệp mua lại các khoản nợ này của chính phủ thông qua nghiệp vụ thị trường
mở, hoặc nhằm đáp ứng sức ép thanh khoản gia tăng của hệ thống ngân hàngthương mại, thì một lượng tiền tương tự như khi in tiền trực tiếp cũng sẽ được bơmvào nền kinh tế
Trong cả hai trường hợp, cơ sở tiền tệ và cung tiền sẽ tăng, gây ra lanh phát vàbất ổn kinh tế vĩ mô trong tương lai Việc tài trợ cho chi tiêu qua gói kích cầu thôngqua Ngân hàng Nhà nước còn có thể làm trầm trọng hơn những rủi ro kinh tế khiNgân hàng Nhà nước theo đuổi chế độ tỷ giá gắn chặt với đồng USD như hiện nay.Như đã nói ở trên, kích thích đầu tư và tiêu dùng thường kéo theo sự gia tăng mạnhcủa nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng Vì vậy, việc tàitrợ cho gói giải pháp kích cầu thông qua Ngân hàng Nhà nước, một mặt làm tăngcung nội tệ, mặt khác làm tăng cầu ngoại tệ do nhu cầu nhập khẩu tăng.Khi đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ buộc phải can thiệp vào thị trường ngoại hối bằngcách bán ra ngoại tệ nhằm duy trì tỷ giá, gây sức ép về tính thanh khoản đối với hệthống ngân hàng thương mại, phá giá đồng nội tệ, và cuối cùng là lạm phát
Trang 314.5. Tài trợ thông qua vạy nợ nước ngoài
Tác động của việc tài trợ cho gói kích cầu thông qua biện pháp vay nợ nướcngoài, nếu có, sẽ phụ thuộc nhiều vào chủ trương theo đuổi chế độ tỷ giá của Ngânhàng Nhà nước trong thời gian tới Nếu Ngân hàng Nhà nước theo đuổi chính sách
ổn định tỷ giá quanh mức công bố như hiện nay, điều này có nghĩa Ngân hàng Nhànước sẽ phải can thiệp mua vào lượng dư cung ngoại tệ do Chính phủ đã bơm vàonền kinh tế sau khi vay nước ngoài Cơ sở tiền tệ và cung tiền cuối cùng sẽ tăng vàgây ra lạm phát
Tuy nhiên, nếu Ngân hàng Nhà nước chủ động thả lỏng mức kiểm soát tỷ giáthì hậu quả của việc làm này sẽ là sự lên giá của đồng nội tệ và tác động xấu đếnkhả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới của hàng xuất khẩu Việt Nam
4.6. Thông qua việc trì hoãn trả nợ
Đây là một trong những biện pháp quan trọng và thường xuyên được thực hiện
ở các nền kinh tế chuyển đổi Việc tích lũy thêm nợ làm trì hoãn những tác độngxấu có thể có của các biện pháp tài trợ gói kích cầu Tuy nhiên, nó sẽ tác động đến
kỳ vọng của khu vực tư nhân về sự phát triển trong tương lai của nền kinh tế Các
cá nhân và tổ chức kinh tế sẽ dự đoán về sự gia tăng của thuế và lạm phát, và làmxấu đi tình hình tài chính
5 Các công cụ để kích cầu đầu tư
Để thực hiện kích cầu đầu tư có hiệu quả, trong tay chính phủ có hai công cụquan trọng là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa Ngoài ra còn có một sốchính sách khác hỗ trợ cho hai chính sách khác hỗ trợ cho hai chính sách trên, thúcđẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế
5.1. Nhóm chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngânhàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt: như kiềm chế lạm phát, duytrì ổn định tỉ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế.Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thểtrực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở, qui định mức dự trữ
Trang 32bắt buộc, hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối Có nhiều loại công cụ chính sáchtiền tệ Tuy nhiên ta chỉ xét 2 công cụ chủ yếu của chính phủ tác động mạnh đếnkích cầu đầu tư
5.1.1 Công cụ lãi suất tín dụng
Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sựthay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưuthông, mà nó có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất Cơ chế điều hành lãi suấtđược hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của ngânhàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từngthời kỳ nhất định Về mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư, mức lãi suất càng thấp thìmức đầu tư càng cao và ngược lại Điều nàu có thể giải thích là đầu tư, nguồn vốn
có thể là được tài trợ bằng vốn tự có hay là đi vay mượn Bất luận dự án đầu tư đầu
tư được tài trợ bằng phương thức nào, mức lãi suất cũng là một phần chi phí cơ hộicủa dự án đó Tiền trả lãi cho khoan vay là để đầu tư cho sản xuất là chi phí trựctiếp Những nguồn vốn tự có của một doanh nghiệp có thể dùng để cho vay mộtmức lãi suất nào đó Tiền lãi mà doanh nghiệp bị mất khi sử dụng nguồn vốn tự có
để tài trợ cho dự án riêng của mình, thay vì dùng để cho vay được gọi là chi phí cơhội Mức lãi suất càng thấp thì chi phí cơ hội của dự án càng thấp, càng có nhiều sự
án đầu tư mang lại lợi nhuận và vì vậy mức đầu tư sẽ gia tăng
5.1.2 Tăng hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các NHTM phải chấphành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế Khác với loại vay thông thường ngân hàngkhông xác định kì hạn nợ cho từng món vay mà chỉ khống chế theo mức tín dụng.Khi chính phủ tăng hạn mức tín dụng sẽ kích thích các chủ doanh nghiệp vay vốn
để đầu tư phát triển Trong điều kiện kinh tế suy thoái hoặc khủng hoảng, các doanhnghiệp gặp phải khó khăn rất lớn nhưng đó cũng là cơ hội để doanh nghiệp khẳngđịnh mình, gia tăng thị phần, xây dựng thương hiệu
Như vậy các ưu đãi về lãi suất hoặc các khoản vay tín dụng là các cơ hội chocác doanh nghiệp sống lại trong khủng hoảng và cùng góp phần giúp nền kinh tếtăng trưởng trở lại sau suy thoái
Trang 335.1.3 Những hiệu quả của chính sách tiền tệ
Bên cạnh những mặt tích cực thì chính phủ cần phải chú ý đến hiệu quả củachính sách tiền tệ khi áp dụng để kích cầu đầu tư Trong nhiều trường hợp đầu tưkhông tăng mặc dù lãi suất đã giảm đi rất nhiều
Bẫy thanh khoản:Khi nền kinh tế vào pha suy thoái, ngân hàng trung ương sẽ
nới lỏng chính sách tiền tệ bằng việc giảm lãi suất để kích thích tiêu dùng và kíchcầu đầu tư tư nhân dẫn tới tăng tổng cầu, thoát khỏi suy thoái Tuy nhiên, việc giảmliên tục và xuống thấp quá mức, dẫn đến mọi người sẽ giữ tiền mặt chứ không gửivào ngân hàng hay mua chứng khoán Hậu quả là đầu tư tư nhân khó có thể thúcđẩy vì ngân hàng không huy động được tiền gửi thì cũng không thể cho xí nghiệpvay và chứng khoán không bán được thì xí nghiệp cũng không huy động được vốn.Chính sách tiền tệ trở nên bất lực trong việc thúc đẩy đầu tư tư nhân và do đó là bấtlực trong kích cầu đầu tư
Khi đầu tư không thay đổi lãi suất:Chính sách tiền tệ làm thay đổi lãi suất,
qua đó thay đổi đầu tư của xí nghiệp và điều chỉnh tổng cầu Đây là giả thiết rằngđầu tư của xí nghiệp có phản ứng trước các thay đổi của lãi suất Tuy nhiên, trongmột số trường hợp dù lãi suất có giảm thì đầu tư cũng không tăng so niềm tin củacác nhà đầu tư vào nền kinh tế lúc này là rất thấp, ví dụ như khi tình hình chính trịcủa nước đó không ổn định Nếu đầu tư không phản ứng trước thay đổi của lãi suất,thì chính sách tiền tệ bị vô hiệu hóa
5.2. Nhóm chính sách tài khóa
Các nguồn vốn hỗ trợ từ kênh chính sách tài khóa có tác dụng bù đắp sự giámsát nguồn thu so suy thoái của các chủ thể trong nền kinh tế, hạn chế tốc độ sụtgiảm nhu cầu tiêu dùng của cả tư nhân và doanh nghiệp, bằng cách đó cho phép cácchủ thể tồn tại qua các giai đoạn khó khăn và khôi phục năng lực tiêu dùng khi nềnkinh tế qua khỏi giai đoạn suy giảm
5.2.1 Tăng chi tiêu chính phủ
Nhà nước với nguồn vốn lớn từ thuế và các khoản vay trong và ngoài nước khiphát hành trái phiếu chính phủ chính là nhà đầu tư và tiêu dùng lớn trong nền kinh
Trang 34tế Khi kinh tế gặp khó khăn, chính phủ có thể tăng chi tiêu ngân sách để tác độngvào tổng cầu, kích thích việc mua bán hàng hóa, giúp các doanh nghiệp có khả năngcạnh tranh tốt, đứng vững trong suy đồng thời đào thải những doanh nghiệp làm ănkém hiệu quả, mô hình hoạt động lạc hậu Chính phủ cũng có thể kích cầu đầu tưthông qua các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng đầu tư cho công nghệ, mang lại lợiích lớn cho xã hội cũng như trong doanh nghiệp Ngoài ra những khu vực khó khăn,đời sống nhân gặp nhiều khó khăn, khu vực nhân dân không sẵn sàng đầu tư thìchính phủ cần có chính sách khuyến kích, hỗ trợ đầu tư, tạo động lực cho các nhàđầu tư để thúc đẩy khu vực tăng trưởng và phát triển.
5.2.2 Các chính sách thuế
Thuế là một nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận kì vọng, cũng như lợi nhuận thực
tế của doanh nghiệp Do đó công cụ hữu hiệu là miễn và giảm thuế, đặc biệt là thuếthu nhập doanh nghiệp và các khoản thu từ khu vực sản xuất Công cụ không chỉ có
ý nghĩa tích cực trong kích thích khu vực sản xuất mà đồng thời góp phần giảm giáthành, kích thích người dân tiêu dùng Việc giảm thuế và các khoản thu từ nhà nước
sẽ kích thích các thành phần kinh tế bình đẳng hơn, tao nên sự cân bằng giữa kinh tếnhà nước và kinh tế tư nhân Ngoài ra xu hướng giảm thuế khi nền kinh tế chậm lạicòn là xu hướng chung của thế giới, cũng như tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫnhơn thu hút đầu tư nước ngoài
5.2.3 Hiệu quả của chính sách tiền tệ
Độ trễ trong chính sách tài khóa
Ở nhiều nước, chính phủ muốn tiến hành đầu tư thường phải thông qua quốchội phê duyệt Vì thế, không phải cứ muốn thực hiện chính sách tài khóa nới lỏngthông qua tăng chi tiêu chính phủ là luôn có thể làm được Giả sử được quốc hộithông qua thì cũng đã làm mất thời gian chờ đợt quốc hội xem xét thảo luận Sau
đó, để triển khai còn phải tiến hành các hoạt động như lập kế hoạch dự án, khảo sátthiết kế để triển khai đầu tư Những việc này cũng mất không ít thời gian Chính vìvậy, có một độ trễ để chính sách tài chính nới lỏng bắt đầu phát huy tác dụng
6 Kinh nghiệm kích cầu đầu tư trên thế giới
Trang 356.1. Biện pháp kích cầu tiêu dùng đối với người dân
Một cách làm tăng cầu là làm tăng tiêu dùng của hộ gia đình Điều này có thểthực hiện một cách hiệu quả nhất bằng cách định hướng các gói kích cầu tới những
hộ gia đình có xu hướng tiêu dùng hơn là xu hướng tiết kiệm tiền được trợ cấp.Nhóm biện pháp mà các nước kích cầu sử dụng chủ yếu dưới dạng trợ cấp cho dântrực tiếp hoặc miễn giảm thuế cho dân Tuy nhiên các sáng kiến của các nước nàylại khá đa dạng, bao gồm các biện pháp cụ thể như cấp tiền trợ cấp trực tiếp hoặcphát phiếu tiêu dùng cho người dân(Nhật), hoàn thuế cho người dân, gia đình có thunhập thấp, trợ cấp cho các gia đình có trẻ em (Mỹ, Hàn Quốc ), trợ cấp cho ngườinghèo, người thất nghiệp (Mỹ, Đài Loan ), cũng như hỗ trợ đối với đối tượng khókhăn trong hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế (hỗ trợ mua nhà gặp khó khăn ở Mỹ,Australia, Đài Loan, hỗ trợ cho ngư dân, người già ở Hàn Quốc
6.2. Biện pháp kích cầu chi đầu tư của Chính phủ
Các hạng mục đầu tư của chính phủ để kích cầu thường là các gói đầu tư vào cơ
sở hạ tầng, công trình công cộng, giao thông, đường xá, y tế, giáo dục (Mỹ,Australia, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc), hỗ trợ chính quyền địa phương quaviệc giảm thuế (Mỹ) hoặc cho phép chính quyền địa phương đi vay( Ấn Độ)
6.3. Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc
Trung Quốc mở rộng thị trường trong nước là một chiến lược đúng đắn Cácnhà đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc không phải vì sản xuất những mặt hàng xuấtkhẩu rẻ mà là sản xuất những mặt hàng mà thị trường Trung Quốc đang cần.Phương châm mở rộng kích cầu nội địa của Trung Quốc giúp cho phát triển kinh tế
thế giới trở nên cân bằng hơn Trung Quốc đã sử dụng gói kích cầu để ứng phó với
khủng hoảng kinh tế thế giới theo hướng tạo tiền đề để cải tổ toàn diện nền kinh tế;đổi mới cơ cấu và công nghệ, tăng năng suất lao động; đầu tư phát triển cơ sở hạtầng, y tế, giáo dục Đảm bảo tăng trưởng trong tương lai, kích cầu tác động trựctiếp vào những lĩnh vực cần thiết Gói kích cầu này không trực tiếp hỗ trợ doanhnghiệp, cũng không trực tiếp nâng cao sức cầu nội địa, mà là nhằm chi tiêu cho các
dự án hạ tầng lớn, do đó lợi ích sẽ chuyển vào các doanh nghiệp nhanh hơn TrungQuốc lựa chọn đầu tư vào cơ sở hạ tầng làm thế mạnh kích cầu vì quốc gia đông
Trang 36dân chủ yếu dựa vào nguồn cầu nội địa để vượt qua khủng hoảng chứ không chọndựa vào nguồn cầu nước ngoài để kích thích tăng trưởng, ưu điểm khác nữa của góikích cầu Trung Quốc, đó là không ưu tiên quá nhiều cho các doanh nghiệp nhà nước(vì các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả đầu tư thấp, hệ số sử dụng vốn – ICORquá cao) mà khuyến khích và đặt trọng tâm lớn hơn cho các doanh nghiệp vừa vànhỏ, các doanh nghiệp tư nhân, đầu tư mạnh vào nông thôn để tạo việc làm Đặcbiệt là cắt giảm thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa - bộ phận có vai trò rất quantrọng trong nền kinh tế Trung Quốc bởi trong số 4,3 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừathì có tới 95% hoạt động xuất khẩu, đóng góp gần 60% GDP, 50% nguồn thu từthuế, 68% giá trị xuất khẩu và tạo ra 75% việc làm mới mỗi năm, tăng cường đầu tưvào nông thôn cùng với những giải pháp cụ thể giúp đỡ người nghèo xây dựng hạtầng nông thôn, cải thiện đời sống người dân vùng nông thôn thông qua các khoảntrợ cấp về quyền sở hữu nhà ở, tạo thêm nhiều việc làm mới cho lao động nôngthôn, nâng cao mức thu nhập của người lao động nông nghiệp Trung Quốc rất chútrọng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để đảm bảo các khoản đầu tư củachính phủ được sử dụng đúng mục đích¸ đạt hiệu quả được coi là một bài học kinhnghiệm quan trọng khác nữa của Trung Quốc Trung Quốc đã lập 24 tổ kiểm tragồm các thành phần ủy ban cải cách, đại diện các bộ, ngành Tổ kiểm tra đã đếntừng địa phương, từng công trình đầu tư cụ thể, kiểm tra tiến độ, giảm tối thiểu xảy
ra lãng phí, tham nhũng Chính phủ Trung Quốc thừa nhận rằng kích cầu tiêu dùngkhông thể là động lực mãi của nền kinh tế Vì vậy, Trung Quốc bên cạnh việc tiếptục các chính sách kích cầu, đồng thời thực thi các cuộc cải tổ cơ cấu để hỗ trợ tăngtrưởng và phát triển bền vững trong dài hạn
III Các nhân tố ảnh hưởng đến kích cầu đầu tư.
1 Độ trễ của chính sách
Độ trễ của quá trình ra quyết định chính sách và độ trễ trong thực hiện đầu tư
có ảnh hưởng không nhỏ tới chính sách kích cầu đầu tư Chính sách sẽ có hiệu quảkhi có thể giảm tối đa độ trễ chính sách và trong thực hiện dự án, có nghĩa là chínhsách phải được quyết định và thực hiện nhanh chóng giảm bớt các thủ tục hànhchính và có sự phối hợp giữa cơ quan ra quyết định với các đối tượng thụ hưởngchính sách Đồng thời khi các doanh nghiệp, các dự án được hưởng lợi ích từ chính
Trang 37sách phải làm sao nhanh chóng tạo ra kết quả đầu tư đáp ứng mục tiêu đề ra củachính sách kích cầu.
2 Quá trình tổ chức thực hiện chính sách.
Để kích cầu đầu tư có hiệu quả thì việc thực hiện phải đảm bảo: đúng lúc,trúng đích và vừa đủ Như vậy, quá trình thực hiện chính sách kích cầu trải qua cáckhâu từ hình thành chính sách đến khi ra quyết định, khâu xác định quy mô nguồntài chính, lựa chọn đối tượng đầu tư, kiểm tra và giám sát việc thực hiện kích cầucso ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của chính sách Việc thực hiện chính sách nếukhông đảm bảo được được yêu tố đúng lúc, trúng đích, vừa đủ sẽ làm nảy sinhnhiều vấn đề tiêu cực đến nền kinh tế
3 Hiệu quả sự dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn đối với các dự án đầu tư công và đầu tư tư nhân cóảnh hưởng tới hiệu quả của chính sách kích cầu đầu tư Nếu dự án sử dụng vốn cóhiệu quả, nó sẽ tạo ra được hiệu quả sản xuất, tiết kiệm vốn sử dụng cho các dự ántiếp theo, tránh được tình trạng lãng phí vốn, sử dụng sai mục đích và hạn chế được
sự gia tăng lạm phát do đó một lượng vốn lớn ra nền kinh tế
Ngoài ra chính sách hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào hiệu ứng tâm lýđối với những đối tối tượng chính sách; nhà đầu tư, người tiêu dùng có niềm tin vàohiệu quả chính sách hay không vì kỳ vọng của họ vào hiệu quả đầu tư sẽ quyết địnhhành vi đầu tư Hay chính sự tác động vào tâm lý của doanh nghiệp có tốt haykhông sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách kích cầu đầu tư
Trang 38CHƯƠNG II: THỰC TIỄN KÍCH CẦU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM
I Tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam
1 Tình hình thế giới
Khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra vào năm 2008 này bắt nguồn từ khủnghoảng cho vay tín dụng nhà đất dưới chuẩn tại Mỹ vào tháng 7 năm 2007 và lên tớiđỉnh cao trong năm 2008 khi một loạt định chế tài chính lớn của Mỹ bị phá sản hoặcđứng trước bờ vực phá sản Sau đó, cuộc khủng hoảng đã nhanh chóng lan tới Châu
Âu, Nhật Bản, Trung Quốc và các quốc gia khác trên thế giới, đẩy nền kinh tế thếgiới rơi vào cuộc suy thoái trầm trọng nhất trong vòng 10 năm trở lại đây Cuộckhủng hoảng đã làm thị trường chứng khoán toàn cầu chao đảo, tỷ giá biến động; sựsuy giảm tổng cầu và tiêu dùng dẫn tới giảm sản lượng sản xuất công nghiệp, giảmthương mại quốc tế và dòng vốn đầu tư quốc tế Khủng hoảng cũng đã đẩy mức thấtnghiệp lên cao tại các quốc gia phát triển, cùng với đó là thu nhập bình quân đầungười giảm mạnh
Khủng hoảng kinh tế đã ảnh hướng tới cả các quốc gia phát triển cũng như đangphát triển Giá trị sản xuất công nghiệp toàn cầu sụt giảm 8% trong tháng 12 năm
2008 so với cùng kỳ năm trước, trong đó, các quốc gia phát triển có mức giảm tớigần 12% Tốc độ tăng GDP toàn cầu bắt đầu đi xuống từ quý 3 năm 2007 và giảmmạnh nhất trong quý 4 năm 2008 và quý 1 năm 2009 Cụ thể, kinh tế thế giới tăngtrưởng ổn định ở mức xấp xỉ 5% trong năm 2007, giảm mạnh chỉ còn 3,6% vàogiữa năm 2008 và chỉ đạt -2,8% vào quý I năm 2009 Các nền kinh tế phát triển lànhững nước chịu tác động nặng nề nhất của khủng hoảng kinh tế khi GDP của cácquốc gia này đã giảm tới -4,8% trong quý I 2009 so với cùng kỳ năm trước Tại thờiđiểm cuối năm 2008, đầu năm 2009, hầu hết dự báo của các chuyên gia kinh tế đềucho rằng tình hình kinh tế thế giới sẽ tiếp tục diễn biến xấu trong năm 2009 Đầunăm 2009, WB đã dự báo kinh tế toàn cầu sẽ giảm 3,1%, trong đó các quốc giađang phát triển sẽ tăng trưởng 1,2% trong năm 2009, từ mức 5,8% trong năm 2008.Tháng 1 năm 2009, IMF cũng hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm
2009 từ 2,2% vào tháng 10 năm 2008 xuống chỉ còn 0,5% năm 2009 Trong đó, cácbạn hàng lớn của Việt Nam, ngoại trừ Trung Quốc như Mỹ, EU, Nhật sẽ đều phảichịu mức tăng trưởng âm trong năm 2008 Cuối năm 2008, trong World EconomicOutlook, IMF đã hạ mức dự đoán tăng trưởng trung bình của nhóm ASEAN 5 (baogồm Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore and Thái Lan) xuống còn 4,2
Trang 39trong năm 2009, giảm 0,7 % so với dự đoán trước đó do những tác động xấu củakhủng hoảng kinh tế ở các nước phương Tây
Biểu đồ 2.1: Xuất khẩu toàn thế giới 2007-2010
(Đơn vị: triệu USD, %)
Giá trị xuất khẩu được coi là một trong những thước đo hay được sử dụng đểđánh giá sự phát triển ổn định của nền kinh tế Tương tự như GDP, tốc độ tăng giátrị xuất khẩu của thế giới bắt đầu sụt giảm từ cuối năm 2007 và giảm mạnh nhấttrong quý IV năm 2008, xuống chỉ còn -18%, từ mức gần 10% trước giai đoạnkhủng hoảng Trong khi đó, xuất khẩu lần đầu tiên sau nhiều năm đã giảm về mặtgiá trị tuyệt đối vào quý III năm 2008 sau một thời gian dài liên tục tăng Cuối năm
2008, giá trị xuất khẩu toàn cầu đã giảm 15.000 tỷ USD, tương đương với 15,5% sovới cùng kỳ năm trước, thể hiện kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn trầm trọngnhất của cuộc đại suy thoái
Suy giảm kinh tế thế giới đã làm số lượng việc làm giảm sút Trong giai đoạnkhủng hoảng, các công ty phá sản hoặc thu hẹp sản xuất sẽ dẫn tới dư thừa laođộng Điều này đồng nghĩa với số lượng việc làm giảm và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng
Từ năm 2007, tốc độ tăng trưởng việc làm đã bắt đầu giảm ở cả Mỹ và Nhật Bản.Đặc biệt là ở Mỹ, đến năm 2008, số lượng việc làm đã giảm tới 3,5%, nâng tỷ lệthất nghiệp lên con số 5,8% vào cuối năm 2008 Tỷ lệ thất nghiệp tính đến cuối năm
2008 trên toàn thế giới là 30%
Trang 40( Nguồn : IMF )Trong bối cảnh suy giảm kinh tế như trên, các quốc gia trên thế giới đãnhanh chóng đưa ra các biện pháp nhằm ngăn chặn đà suy thoái và khôi phục nềnkinh tế Trong năm 2008 và 2009, Mỹ đã đưa ra 2 gói kích thích kinh tế, lần 1 vàonăm 2008, trị giá 152 tỷ USD nhằm mục đích kích cầu, đối tượng chính nhận đượctrợ cấp là các cá nhân trong nền kinh tế Gói kích thích kinh tế lần thứ 2 hướng tớiđối tượng là các doanh nghiệp, trị giá 825 tỷ USD, nhằm mục đích giải quyết tìnhtrạng thất nghiệp cao tại Mỹ Vào tháng 8 năm 2008, Nhật Bản cũng có kế hoạchđưa ra gói kích thích kinh tế lần 1 để đối phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu Góikích thích này trị giá khoảng 18-27 tỷ USD, chủ yếu nhằm hỗ trợ người dân vượtqua tác động của giá cả hàng hóa tăng cao Gói kích thích kinh tế lần 2 cũng đãđược chính phủ Nhật Bản thông qua đề giải quyết vấn đề tín dụng và kích cầu.Chính phủ Trung Quốc cũng đã thông qua kế hoạch chi tiêu để kích thích nền kinh
tế trị giá 586 tỷ USD trong vòng 2 năm (mỗi năm tương đương khoảng 7% GDP)
EU tuy chậm hơn, nhưng cũng đã nhất trí đưa ra gói kích cầu trị giá 200 tỷ EURO(tương đương 1.5% trị giá GDP của khối EU) nhằm chống lại những tác động tiêucực của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.4 Các nước trong khu vực ASEAN cũngnhanh chóng đưa ra những biện pháp đối phó với khủng hoảng của riêng mình Ví
dụ như Thái Lan đã thông qua gói kích thích kinh tế trị giá 1,3 tỷ USD vào tháng3/2008 và gói thứ hai trị giá gần 3 tỷ USD vào tháng 12/2009
2 Tình hình Việt Nam
Khủng hoảng và suy thoái kinh tế Thế Giới ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tếViệt nam Suy thoái kinh tế toàn Cầu đẩy thêm những khó khăn cho nền kinh tế VNvốn đã trong tình trạng mất cân đối vĩ mô khá nghiêm trọng, thể hiện qua thâm hụtngân sách cao, thâm hụt vãng lai cao, và tình trạng đô la hóa cao Nền kinh tế saumột thời gian mở rộng đã bắt đầu thu hẹp.Chúng Ta phải đối mặt với những khókhăn về vấn đề thanh khoản của hệ thống tín dụng, lãi suất ngân hàng tăng cao,