1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

[Kinh tế đầu tư] Kích cầu đầu tư - Lý luận và thực tiễn

43 494 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các công cụ pháp lý được sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hút ngày càng nhiều nguồn lực đầu tư để đảm bảo mức tăng trưởng và ổn định kinh tếxã hội trong giai đoạn nhất định có nhiều nguy cơ suy thoái. Tuy vậy, Kích cầu đầu tư vấn đề về cả lý luận và thực tiễn còn nhiều vấn đề cần phân tích, làm rõ.

Trang 1

BÀI TẬP MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các công

cụ pháp lý được sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hútngày càng nhiều nguồn lực đầu tư để đảm bảo mức tăng trưởng và ổn địnhkinh tế-xã hội trong giai đoạn nhất định có nhiều nguy cơ suy thoái Tuyvậy, Kích cầu đầu tư - vấn đề về cả lý luận và thực tiễn còn nhiều vấn đềcần phân tích, làm rõ

Vì vậy, học viên …………xin trình bày vấn đề: Kích cầu đầu tư - Lýthuyết và thực tiễn Sử dụng một số tài liệu có sẵn, học viên vận dụng, sửdụng trình bày theo cách hiểu của bản thân về vấn đề này Qua nhiều vấn

đề lý luận, tiếp đến là tình huống kích cầu đầu tư giúp Việt Nam vượt quagiai đoạn khủng hoảng kinh tế 2008 Để thấy vai trò của kích cầu đầu tưnói riêng hay kích cầu nói chung

Cảm ơn sự theo dõi, hướng dẫn của giảng viên ………….và sự theodõi, góp ý của các bạn trong lớp./

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

PHẦN I LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ 5

I ĐẦU TƯ, CẦU ĐẦU TƯ, CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CẦU ĐẦU TƯ 5

1 Đầu tư 5

2 Cầu đầu tư 5

3 Các nhân tố tác động tới cầu đầu tư 5

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KÍCH CẦU VÀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ 11

1 Kích cầu, vai trò và cơ chế thực hiện kích cầu 11

2 Kích cầu đầu tư 13

PHẦN 2 THỰC TIỄN VỀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ 26

I GIAI ĐOẠN KHUNG HOẢNG KINH TẾ 2007 - NGUỒN GỐC CÁC GÓI KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM 26

1 Khủng hoảng kinh tế thế giới 26

2 Tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới tới Việt Nam 27

II NỘI DUNG KÍCH CẦU CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 28

1 Nội dung kích cầu của một số nước trên thế giới 28

2 Nội dung kích cầu ở Việt Nam 31

KẾT LUẬN 44

Trang 4

PHẦN I.

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ

I ĐẦU TƯ, CẦU ĐẦU TƯ, CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CẦU ĐẦU TƯ

1 Đầu tư

Đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt

động thực hiện một mục tiêu định trước, nhằm thu về các kết quả trongtương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra

2 Cầu đầu tư

Cầu đầu tư là tất cả nhu cầu đầu tư của xã hội như đầu tư mới, mở

rộng, sửa chữa như đầu tư công của Chính phủ, đầu tư sản xuất của doanhnghiệp trong một thời gian nhất định

Cầu đầu tư có thể biểu hiện bằng số dự án mới, dự án mở rộng hoặcsửa chữa có đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước, hoặc dự án vốn nhànước được phê duyệt

Do độ trễ của đầu tư, với cầu đầu tư ở hiện tại, kết quả của nó đượcbiểu hiện ở tương lai theo thời kỳ ngắn hạn (dưới 01 năm), trung hạn (01-

05 năm) và dài hạn Vì vậy, cầu đầu tư có tính thời điểm, tuy nhiên, cũng

có thể tính theo thời kỳ

3 Các nhân tố tác động tới cầu đầu tư

Nhu cầu đầu tư của các cá nhân, các doanh nghiệp và của chính phủ

có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế bởi đầu tư là một bộ phận chínhcấu thành nên tổng cầu Vì vậy, cần xem xét kỹ lưỡng các yếu tố tác độngđến cầu đầu tư dưới đây để thấy được yếu tố nào tác động ít, yếu tố nào tácđộng nhiều và xu hướng tác động của các yếu tố như thế nào để đưa rachính sách kích cầu phù hợp và đem lại hiệu quả mong muốn cho nhà đầutư

3.1 Lợi nhuận kì vọng

- Lợi nhuận kỳ vọng là khoản lợi nhuận mà chủ đầu tư mong muốn, hivọng sẽ thu được trong tương lai khi đưa ra quyết định đầu tư Theo lýthuyết của Keynes, lợi nhuận kì vọng là 1 trong 2 nhân tố cơ bản ảnhhưởng đến quyết đầu tư của doanh nghiệp Nếu lợi nhuận kì vọng lớn, nhàđầu tư sẵn sàng bỏ vốn để kinh doanh Lợi nhuận cao sẽ kích thích nhu cầu

Trang 5

đầu tư, ngược lại nếu lợi nhuận kì vọng thấp và nhỏ hơn tiền lãi thu đượckhi gửi tiền vào các ngân hàng thì các nhà đầu tư sẽ không bỏ tiền vào sảnxuất kinh doanh mà thay vào đó, họ gửi tiền vào ngân hàng.

- Theo Keynes, tỷ suất lợi nhuận là đại lượng rất khó xác định Nhưngchính điều đó lại thúc đẩy các nhà đầu tư quyết định bỏ tiền đầu tư Do lợinhuận khó xác định, có thể rất cao nhưng cũng có thể rất thấp, thậm chí cóthể âm nên kích thích các nhà đầu tư bỏ vốn với kì vọng có thể thu đượckhoản lợi nhuận cao đó Tuy nhiên, bên cạnh đó, họ cũng phải đối mặt vớinhững rủi ro có thể xảy ra Đó là tính 2 mặt của hoạt động đầu tư, chấpnhận rủi ro để thu được lợi nhuận kì vọng

cổ phiếu là nguồn vốn huy động từ bên ngoài Vay mượn thì phải trả nợ,trường hợp nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, doanh nghiệp có thểkhông trả được nợ và lâm vào phá sản Do đó việc đi vay không phải là hấpdẫn, trừ khi có ưu đãi Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát hànhtrái phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn, còn bán cổ phiếu để tàitrợ cho đầu tư chỉ được các doanh nghiệp áp dụng khi hiệu quả của dựa ánđầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự án đem lại trong tương lai sẽ lớn hơnchi phí đã bỏ ra

3.3 Lãi suất tiền vay

Vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động đầu tư, do đó với tưcách là chi phí sử dụng vốn (hay giá của vốn) thì lãi suất ảnh hưởng lớnđến các chỉ tiêu tài chính của dự án Các nhà đầu tư thường vay tiền để đầu

tư và lãi suất phản ánh giá của khoản tiền vay mượn đó Nếu giá vay tiền(giá của vốn) cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt giảmquy mô đầu tư và ngược lại

Lãi suất danh nghĩa phụ thuộc trước hết vào cung – cầu vốn vay trên

Trang 6

thị trường Cung vốn chính là tổng tiết kiệm quốc dân, được xác định bằngtổng thu nhập quốc dân trừ đi tiêu dùng Lãi suất được điều chỉnh để tạo ra

sự điều tiết của ngân hàng nhà nước thông qua chính sách tiền tệ như lãisuất cơ bản, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu, tỉ lệ dự trữ bắtbuộc Lãi suất cũng chịu ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách nhà nước, nếutình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài thì chính phủ phải đi vay để bù đắpthâm hụt, hơn nữa thâm hụt ngân sách còn làm cho tiết kiệm quốc gia giảmkhiến cho cung vốn vay giảm đẩy lái suất tăng lên làm cho cầu đầu tư giảmxuống Lãi suất thực tế không chỉ phụ thuộc vào lãi suất danh nghĩa mà cònphụ thuộc vào tỉ lệ lạm phát

Chủ đầu tư sẽ chỉ quyết định đầu tư khi tỷ suất hoàn vốn nội bộ(IRR)của dự án lớn hơn lãi suất thực tế Do đó khi lãi suất tăng sẽ có ít dự án đầu

tư hơn, nhu cầu đầu tư sẽ giảm

Tuy nhiên lãi suất thấp hơn thì sẽ có nhiều dự án có IRR thấp đượctriển khai, tức là các dự án ít hiệu quả, độ rủi ro cao Khi đó nền kinh tế cóthể tăng trưởng nhanh do tổng đầu tư tăng nhưng kết cục có thể dẫn đếnlạm phát cao, chính phủ buộc phải thực thi các biện pháp kiểm soát tiền tệ,các dự án có hiệu quả thấp sẽ bị lỗ nếu tiếp tục vay vốn, nhiều dự án sẽ bịphá sản, nền kinh tế lại rơi vào suy thoái Ngoài ra nếu lãi suất trong nướcthấp hơn lãi suất thế giới thì có thể vốn đầu tư trong nước sẽ chảy ra nướcngoài do đó không làm tăng tổng đầu tư trong nước

Trên thực tế có trường hợp doanh nghiệp vẫn tăng qui mô vốn đầu tưkhi lãi suất cho vay ở mức cao Đó là những trường hợp mà doanh nghiệpnhận thấy được rằng mở rộng qui mô sản xuất sẽ thu được lợi nhuận caohoặc những hoạt động kinh doanh mạo hiểm với mức độ rủi ro cao hoặcnhững doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng ít vốn vay hơn nên tác động củalãi suất đến quyết định đầu tư là không lớn dẫn đến họ vẫn quyết định đầu

tư Và cũng có những trường hợp khi lãi suất cho vay thấp nhưng doanhnghiệp vẫn không tăng qui mô vốn đầu tư vì họ cho rằng mở rộng qui môvốn đầu tư không làm tăng lợi nhuận cũng như việc tăng qui mô cũng làmtăng độ rủi ro lên

Do đó việc lãi suất tăng cao hay giảm xuống luôn luôn gây bất lợi chonền kinh tế cho nên việc điều hành chính sách của nhà nước cũng như ngânhàng sao cho lãi suất giữ ở mức ổn định vừa kích thích đầu tư vừa kiềm chếđược lạm phát, phát triển nền kinh tế

Trang 7

3.4 Tốc độ phát triển của sản lượng quốc gia

- Nhu cầu về sản lượng sản phẩm hay việc thay đổi sản lượng là nhân

tố ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm qui mô vốn đầu tư Ví dụ: Khi GDPtăng nhanh sẽ làm tăng thu nhập của người dân, do đó vừa kích thích tiêudùng lại vừa làm tăng tiết kiệm Khi tiêu dùng tăng thì tổng cầu cũng tăng;tiết kiệm tăng thì cung vốn vay tăng làm giảm lãi suất, kích thích đầu tư

(Do AD = C +I + G + NX - M)

Quá trình này sẽ tạo ra hiệu ứng “số nhân”, tức là: một sự tăng thêmban đầu trong sản lượng sẽ làm đầu tư và sản lượng tiếp tục tăng thêmnhiều lần

- Tốc độ tăng sản lượng và tốc độ tăng vốn đầu tư không giống nhau,

vấn đề này được đề cập trong lý thuyết gia tốc vốn đầu tư Theo lý thuyết

này, để sản xuất ra một đơn vị đầu ra cho trước cần phải có một lượng vốnđầu tư nhất định Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư có thể được

biểu diễn theo công thức: x = K/Y (*)

Trong đó:

K: vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu;

Y: sản lượng tại thời kì nghiên cứu;

x: hệ số gia tốc đầu tư;

Từ công thức thức trên ta suy ra: K = x * Y

Như vậy nếu x không đổi thì khi qui mô sản lượng sản xuất tăng dẫnđến nhu cầu vốn đầu tư tăng theo và ngược lại Theo công thức trên thì sảnlượng phải tăng liên tục mới làm cho đầu tư tăng cùng tốc độ hoặc khôngđổi so với thời kì trước

3.5 Chu kì kinh doanh

- Ở mỗi thời kỳ khác nhau của chu kỳ kinh doanh sẽ phản ánh cácmức chi tiêu đầu tư khác nhau

Trang 8

Khi nền kinh tế đang đi lên thì đầu tư tăng, Theo lý thuyết tính kinh tếcủa quy mô, trong những điều kiện nhất định thì việc gia tăng quy mô sảnlượng sản xuất ra có thể giúp cho chủ đầu tư tiết kiệm chi phí sản xuất, giatăng đầu tư.

Mặt khác, khi chu kỳ kinh doanh ở vào thời kỳ đi lên, quy mô của nềnkinh tế mở rộng, nhu cầu đầu tư của toàn bộ nền kinh tế cũng như của cácdoanh nghiệp tư nhân gia tăng Ngược lại, khi chu kì kinh doanh ở vào thời

kì đi xuống, qui mô nền kinh tế thu hẹp, nhu cầu đầu tư của nền kinh tế vàcác doanh nghiệp tư nhân thu hẹp lại

Khi nền kinh tế đi xuống thì tổng đầu tư giảm, nhưng xét từng nhà đầu

tư lại chưa chắc đã giảm Thật vậy, không phải lúc nào sự tăng hay giảmchi tiêu của các doanh nghiệp cũng thuận chiều với xu hướng lên xuốngcủa chu kì kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế Bởi vì mặc dù nền kinh tếsuy thoái nhưng các doanh nghiệp vẫn đầu tư phát triển sản phẩm mới thaythế sản phẩm cũ khi sản phẩm cũ đã mất chỗ đứng trên thị trường hoặc đãkết thúc một chu kì sống, hoặc cũng có một số doanh nghiệp đầu tư vào cácthị trường ngoài nước trong khi nền kinh tế của quốc gia đang trên đà đixuống để kéo dài chu kì sống của sản phẩm

Mặt khác, khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định và đi lên,của cải tăngnên công chúng chỉ muốn giữ một số tiền nhất định đủ cho nhu cầu sửdụng, họ muốn đầu tư vào những tài sản thay thế có lợi tức dự kiến cao nhưđầu tư vao chứng khoán công ty bởi vì khi nền kinh tế ổn định thì thịtrường chứng khoán trở nên ổn định hơn, rủi ro chứng khoán giảm và hấpdẫn các nhà đầu tư hơn

3.6 Đầu tư của Nhà nước

Trong tổng đầu tư xã hội bao gồm đầu tư của nhà nước và đầu tư củadoanh nghiệp

Tổng đầu tư xã hội = Đầu tư nhà nước + Đầu tư tư nhân

Các dự án đầu tư từ nguồn vốn của nhà nước không nhằm mục đíchthu lợi mà tác dụng trợ giúp, điều tiết, định hướng cho đầu tư của toàn xãhội

Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhànước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu

Trang 9

tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.

Đầu tư nhà nước chịu ảnh hưởng của các yếu tố như thâm hụt ngânsách, nợ nước ngoài, các quy hoạch kinh tế xã hội, tỷ lệ thất thoát, thamnhũng, tốc độ giải ngân vốn, các thủ tục khi sử dụng vốn nhà nước

Do vậy, đầu tư nhà nước vừa là đòn bẩy kích thích đầu tư tăng caogóp phần làm cho tổng đầu tư xã hội tăng nếu hoạt động đầu tư nhà nước

có hiệu quả Trong trường hợp đầu tư nhà nước không đúng hướng,khôngphù hợp hoặc sử dụng vốn nhà nước không hiệu quả sẽ gây hiệu ứng ngượclại cho đầu tư tư nhân và khiến cho tổng đầu tư xã hội giảm sút, kéo nềnkinh tế đi xuống

3.7 Môi trường đầu tư

Có thể nói môi trường đầu tư như một chất xúc tác ban đầu cho quyếtđịnh bỏ vốn của nhà đầu tư, sự cải thiện môi trường đầu tư có ảnh hưởng

vô cùng quan trọng và tác động tích cực đến nền kinh tế, làm tăng nguồnvốn đầu tư và tăng chi tiêu đầu tư toàn xã hội Trong một thế giới mở cửa

và hội nhập,việc cải thiện môi trường đầu tư hoặc hướng tới một môitrường kinh doanh lành mạnh, đủ sức cạnh tranh là đích đến để phát triểnkinh tế xã hội của bất kì quốc gia nào Môi trường đầu tư được coi là nhân

tố số một để khơi thông các dòng vốn từ mọi tầng lớp dân cư trong nước vànước ngoài

Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố, tác động trực tiếp hoặc giántiếp đến hiệu quả đầu tư Có thể nói đến hai khái niệm:

- Môi trường cứng: bao gồm các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng kỹthuật phục vụ cho sự phát triển kinh tế, ví dụ như hệ thống thông tin liênlạc, cơ sở hạ tầng giao thông,…

- Môi trường mềm: bao gồm hệ thống thủ tục hành chính, dịch vụpháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư, hệ thống tài chính – ngân hàng…

3.8 Thuế thu nhập doanh nghiệp

Đây là loại thuế đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp

sẽ phải chia sẻ với chính phủ một phần lợi nhuận của mình, nhưng với họđầu tư vẫn hợp lí, vẫn tiếp tục tăng đầu tư khi giá thuê tư bản (lãi suất thực

tế của vay vốn tư bản đầu tư) cao hơn chi phí tư bản và sẽ cắt giảm đầu tưkhi giá thuê thấp hơn chi phí tư bản

Tuy loại thuế đánh vào lợi nhuận theo cách này không làm thay đổiđộng cơ đầu tư nhưng lại cản trở đầu tư vì các doanh nghiệp phải trích khấu

Trang 10

hao dựa trên chi phí lịch sử, tức là phần trích khấu hao được tính trên cơ sởgiá mua tư bản ban đầu Trong thời kì lạm phát, chi phí thay thế lớn hơnchi phí lịch sử nên thuế thu nhập doanh nghiệp có xu hướng đánh giá quácao lợi nhuận, thậm chí vẫn đánh thuế ngay cả khi lợi nhuận của doanhnghiệp bằng không, từ đó làm cho việc chi tiêu vào đầu tư trở nên ít hấpdẫn hơn, cản trở hoạt động đầu tư.

Bên cạnh đó thì việc miễn thuế đầu tư lại là một quy định trong luậtthuế nhằm mục tiêu khuyến khích đầu tư Phần miễn thuế đầu tư sẽ làmgiảm mức thuế mà doanh nghiệp phải nộp khi chi tiêu cho đầu tư, họ sẽdành khoản tiền đó để mua hàng đầu tư mới, nói cách khác sẽ làm giảm chiphí đầu tư thực tế của mỗi đơn vị tư bản Như vậy, miễn thuế đầu tư làmgiảm chi phí đầu tư và tăng chi tiêu đầu tư

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KÍCH CẦU VÀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ

1 Kích cầu, vai trò và cơ chế thực hiện kích cầu

1.1 Khái niệm, sự cần thiết và cơ chế của kích cầu

Kích cầu là một loạt các biện pháp kinh tế nhằm duy trì và gia tăngtổng cầu của một nước thông qua sự can thiệp của Nhà nước

1.2 Vai trò và cơ chế thực hiện kích cầu

Chính sách kích cầu xuất phát từ học thuyết kinh tế của nhà kinh tếhọc nổi tiếng người Anh John Maynard Keynes (1883-1946) Trong lýthuyết của mình, Keynes rất coi trọng tổng cầu của nền kinh tế Theo ông,nền kinh tế chịu tác động của hai nhân tố cơ bản: Tổng cung, tức toàn bộ sốhàng hóa bán trong nền kinh tế không phải là tổng cung mà chính là tổngcầu Tổng cung giữ vai trò thụ động, nó chịu sự tác động của tổng cầu.Tổng cẩu phụ thuộc vào cac yếu tố: mức chi tiêu cá nhân của mỗi gia đình,mức chi tiêu cho đầu tư, mức chi tiêu của chính phủ và chi tiêu ròng củanước ngoài đối với hàng hóa sản xuất trong nước (xuất khẩu ròng) trên thịtrường và tổng cầu, tức toàn thể số hàng hóa mà người ta muốn mua Nhân

tố trực tiếp quyết định mức sản lượng và việc làm

Hai giả thuyết:

A: Nền kinh tế bị suy thoái vì tạm thời không có đủ cầu cho cungđang dư thừa, tức là thiếu cầu hiệu lực ;

B: Chính phủ có khả năng chủ động chi tiêu toàn bộ, thậm chí nhiềuhơn thu nhập của mình

Keynes đề xuất kích cầu theo nguyên lý : Dịch chuyển sức mua từ khu

Trang 11

vực dân cư và tư nhân vào tay chính phủ để tăng cầu hiệu lực, đưa nền kinh

tế ra khỏi cái bẫy đình đốn do thiếu sức mua

1.2 Mục đích chính sách kích cầu

Mục tiêu của gói kích cầu là tạo thêm cầu để đối ứng với năng lực sảnxuất hiện tại của nền kinh tế khi suy thoái, tránh để dư thừa năng lực sảnxuất ở mức quá cao gây lãng phí nguồn lực cũng như gây ra những vấn đề

về xã hội do thất nghiệp tăng cao gây ra Nếu không nhanh chóng ngănchặn, thất nghiệp sẽ tiến đến ngưỡng nguy hiểm đẩy suy giảm kinh tế vàovòng xoáy luẩn quẩn: thất nghiệp sẽ dẫn đến cắt giảm thu nhập (thực tế và

kỳ vọng) làm giảm tiêu dùng, càng làm khó khăn về đầu ra của doanh

nghiệp phải tiếp tục cắt giảm sản xuất và lao động, đẩy thất nghiệp tăng lên

ở vòng tiếp theo và cứ tiếp tục như vậy Do vậy mục đích lớn nhất của góikích cầu là duy trì việc làm.

1.3 Các nguyên tắc cơ bản để thực hiện kích cầu

Nếu một gói kích cầu được thiết kế không tốt, thì mặc dù có tên gọi làgói kích cầu, nhưng trên thực tế những gói kích cầu này dù có thể rất tốnkém nhưng lại không “kích thích” được nền kinh tế Điều này đặc biệt đúngnếu gói kích cầu không tuân theo các nguyên tắc nhất định của kinh tế học,

mà lại được thiết kế để đáp ứng các yêu cầu về chính trị hoặc theo cácnhóm lợi ích Theo Lawrence Summers (giáo sư kinh tế, cố vấn kinh tế chotổng thống Obama) cho rằng để một gói kích cầu có hiệu quả thì phải đảmbảo ít nhất 3 điều kiện: Kịp thời, đúng đối tượng và ngắn hạn (nhất thời)

1.3.1 Kích cầu phải kịp thời

Kích cầu phải kịp thời có nghĩa là khi chính phủ thực hiện gói kíchcầu thì những biện pháp kích cầu này phải có hiệu ứng kích thích ngay, làmtăng chi tiêu ngay trong nền kinh tế

1.3.2 Kích cầu phải đúng đối tượng

Kích cầu đúng đối tượng là việc kích cầu hướng tới những chủ thểkinh tế nào tiêu dùng nhanh hơn khoản tài chính được hưởng nhờ kích cầu

và do đó sẽ sớm gây ra tác động lan tỏa tới tổng cầu hơn, đồng thời gướngtới những chủ thể kinh tế nào bị tác động bất lợi hơn cả bởi suy thoái kinh

tế, thường đó là những chủ thể kinh tế có thu nhập thấp hơn Việc hỗ trợcác gia đình có thu nhập thấp để họ không phải giảm tiêu dùng thậm chícòn tăng tiêu dùng tạo ra hiệu ứng lan tỏa, kích thích doanh nghiệp mởrộng sản xuất và thuê mướn thêm lao động

Tóm lại, mức độ “đúng đối tượng” (well-targeted) của gói kích cầu

Trang 12

của Chính phủ phụ thuộc vào: (i) mức độ chi tiêu của các đối tượng nhậnđược thu nhập nhờ có gói kích cầu thông qua tác động lan tỏa diễn ra trongnhiều vòng như mô tả ở trên; và (ii) mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập củacác chi tiêu đó ở trong mỗi vòng của tác động lan tỏa

1.3.3 Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn

Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tếđược cải thiện Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa:

+ Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kíchcầu

+ Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới tình hìnhngân sách trong dài hạn.

2 Kích cầu đầu tư

2.1 Khái niệm

2.1.1 Khái niệm

Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các công

cụ pháp lý được sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hútngày càng nhiều nguồn lực đầu tư để đảm bảo mức tăng trưởng và ổn địnhkinh tế-xã hội trong giai đoạn nhất định có nhiều nguy cơ suy thoái

2.1.2 Phân biệt kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng

Kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng là hai khái niệm thường được nhắc tớicùng nhau tuy nhiên về bản chất thì hai khái niệm này có sự khác biệt.

trong của chính nước

Hoạt động đầu tư mới, mở rộng,sửa chữa của doanh nghiệp

Mục

đích

Kích thích quy mô tiêu dùng,

thị trường tạo động lực cho các

doanh nghiệp duy trì, tăng sản

lượng

Trực tiếp tác động tới hoạt độngđầu tư của nền kinh tế nhằmkhuyến khích hoạt động đầu tưsản xuất của doanh nghiệp

Tuy nhiên hai chính sách kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng lại cóquan hệ bổ trợ lẫn nhau, bổ xung cho nhau nhằm phát huy tốt hơn hiệu quả

Trang 13

của cả hai chính sách,tất cả đều hướng tới mục tiêu thúc đẩy phát triển kinhtế.

2.1.2 Phân biệt kích cầu đầu tư và khuyến khích đầu tư

Khuyến khích đầu tư là công cụ, chính sách nhằm thu hút đầu tư hoặc

định hướng đầu tư theo những mục tiêu nhất định

Kích cầu đầu tư được thực hiện trong thời gian nhất định, khẩn cấp đểchống suy thoái, giảm sản lượng, giữ tăng trưởng, chống thất nghiệp; dựatrên các gói tài chính; tác động vào một số lĩnh vực nhất định

2.3 Ý nghĩa của kích cầu đầu tư

Kích cầu đầu tư có tác dụng rất quan trọng ở mỗi quốc gia và mangtính tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội dài hạn:

• Tăng lượng vốn đầu tư toàn xã hội; tăng nhu cầu đầu tư phát triển;cải thiện mức sống của người dân

• Góp phần tăng trưởng kinh tế chuyển dịch cơ cấu theo ngành, vùnglãnh thổ và theo thành phần kinh tế

• Thu hút khoa học công nghệ hiện đại, làm thay đổi bộ mặt của toàn

bộ nền kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội

2.4 Tác động của kích cầu đầu tư

Đối với chính sách kích cầu đầu tư thường được sử dụng khi nền kinh

tế lâm vào khó khăn như khủng hoảng kinh tế cũng không nằm ngoài quiluật đó Khi chính phủ thực hiện các chính sách kích cầu đầu tư sẽ tác động

cả mặt tích cực và tiêu cực tới nền kinh tế

2.4.1 Tác động tích cực

2.4.1.1 Tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế

- Tác động đến tổng cầu: Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu

tư Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nềnkinh tế Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọnglớn trong tổng cầu Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư (I) làmcho tổng cầu (AD) tăng (nếu các yếu tố khác không đổi).Ta có công thứcsau:

AD=C+I+G+X-M

Trong đó:C: Tiêu dùng; I: Đầu tư; G: Tiêu dùng của Chính Phủ; X:Xuất khẩu; M: Nhập khẩu

Trang 14

- Tác động đến cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính

là cung trong nước và cung từ nước ngoài Bộ phận chủ yếu, cung trongnước là một hàm của các yêu tố sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, côngnghệ…thể hiện qua phương trình sau:

Q= F(K, L, T, R…)

Trong đó:K: Vốn đầu tư; L: Lao động; T: Công nghệ; R: Tài nguyênNhư vậy kích cầu đầu tư làm tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhântrực tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế, nếu các yếu tố khác khôngđổi Mặt khác tác động của vốn đầu tư còn được thể hiện thông qua việcnâng cao chất lượng nguồn nhân lực đổi mới công nghệ…Do đó đầu tư lạigián tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế

Mối quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là mối quan

hệ biện chứng nhân quả, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.Đây là cơ sở lý luận để giải thích chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng ởnhiều nước trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng chậm

2.4.1.2 Tác động đến tăng trưởng kinh tế

- Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động tới chấtlượng tăng trưởng Kích cầu đầu tư làm tăng qui mô vốn đầu tư và sử dụnghợp lý những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư,tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheon hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao sức cạnh tranh củanền kinh tế…do đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế

- Mô hình số nhân đầu tư:

Nếu đầu tư tăng 1 lượng ∆I thì thu nhập quốc dân sẽ tăng lên 1 lượng

∆Y tương ứng Trong đó:

∆Y = 1/(1- MPC)*∆IVới 1/(1- MPC) là số nhân dầu tư, MPC là tiêu dùng cận biên

Theo mô hình này sự gia tăng một khoản đầu tư sẽ có tác động lan tỏađến toàn bộ nền kinh tế và mở rộng tác động của nó Khi đầu tư tăng thêm

1 lượng thì thu nhập quốc dân sẽ tăng lên với số nhân đầu tư là mI =1/ MPC), MPC càng lớn thì chính sách kích cầu đầu tư càng có hiệu quả.2.4.1.3 Tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

(1 Đối với cơ cấu ngành kinh tế:

Việc đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn là bao nhiêu, đồng vốn được

Trang 15

sử dụng như thế nào đều tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự phát triểncủa ngành nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung

- Đối với cơ cấu lãnh thổ kinh tế:

Có thể dễ dàng nhận thấy bất cứ vùng nào nhận được một sự đầu tưthích hợp đều có điều kiện để phát huy mạnh mẽ những thế mạnh củamình

- Đối với cơ cấu thành phần kinh tế:

Đối với mỗi quốc gia, việc tổ chức các thành phần kinh tế chủ yếu phụthuộc vào chiến lược phát triển của chính phủ Các chính sách kinh tế sẽquyết định thành phần nào là chủ đạo; thành phần nào được ưu tiên pháttriển; vai trò; nhiệm vụ của các thành phần trong nền kinh tế…Ở đây đầu tư

đóng vai trò nhân tố thực hiện

2.4.1.5 Góp phần giảm bớt áp lực thất nghiệp và đảm bảo ổn định xã hội

Để kích cầu đầu tư trong nước thì chính phủ đã thực hiện các chínhsách tăng chi tiêu công,đẩy nhanh giải ngân vốn cho các công trình xâydựng cơ bản Ví dụ như xây dựng đường giao thông vận tải, các công trìnhxây dựng nhà ở xã hội, các chính sách này đã gián tiếp thông qua các công

ty có liên quan tạo thêm việc làm cho người lao động, bên cạnh việc cácdoanh nghiệp sau khi nhận được các gói kích thích kinh tế đã cơ bản vượtqua các khó khăn bước đầu phục hồi và phát triển Như vậy nhìn chung cácbiện pháp kích cầu nói chung và các biện pháp kích cầu đầu tư nói riêng đã

có tác động tốt tới tình hình việc làm và giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp của nềnkinh tế Bởi lẽ thất nghiệp là một trong các yếu tố kìm hãm tốc độ tăngtrưởng kinh tế

2.4.2 Mặt trái của kích cầu

Bên cạnh những tác động tích cực của kích cầu nói trên thì việc lạmdụng và sử dụng không hiệu quả các gói kích cầu có thể gây ra một số hiệuứng tiêu cực Mặt trái của kích cầu được biểu hiện ở các phương diện sau:

Trang 16

2.4.2.1 Nguy cơ sa vào bẫy thanh khoản

Bẫy thanh khoản là hiện tượng trong đó chính sách tiền tệ được nới

lỏng bằng biện pháp giảm lãi suất để rồi lãi suất xuống thấp quá một mứcnhất định khiến cho mọi người quyết định giữ tài sản của mình dưới dạngtiền mặt và chính sách tiền tệ trở nên bất lực Về bản chất, “bẫy thanhkhoản” hay “bẫy tiền mặt” xảy ra khi đường LM trong mô hình IS-LM trởnên thoải và song song với trục hoành Khi đó việc điều tiết chu kỳ kinh tếchỉ còn trông cậy vào chính sách tài chính Đây là một trong những lý luậncủa kinh tế học Keynes Khi nền kinh tế vào pha suy thoái, ngân hàng trungương sẽ nới lỏng chính sách tiền tệ bằng việc giảm lãi suất để kích thíchtiêu dùng và kích thích đầu tư tư nhân dẫn tới tăng tổng cầu, thoát khỏi suythoái Tuy nhiên, nếu việc giảm lãi suất là liên tục và xuống thấp quá mứcthì, theo thuyết ưa chuộng tính thanh khoản, mọi người sẽ giữ tiền mặt chứkhông gửi vào ngân hàng hay mua chứng khoán Hậu quả là đầu tư tư nhânkhó có thể được thúc đẩy vì ngân hàng không huy động được tiền gửi thìcũng không thể cho xí nghiệp vay và chứng khoán không bán được thì xínghiệp cũng không huy động được vốn Chính sách tiền tệ trở nên bất lựctrong việc thúc đẩy đầu tư tư nhân và do đó là bất lực trong kích thích tổngcầu Trong khi đó, chính sách tài chính thường không phát huy được hiệulực đầy đủ do hiện tượng thoái lui đầu tư thì lúc này lại phát huy đầy đủhiệu lực do hiện tượng thoái lui đầu tư không còn (vì lãi suất thấp) Tuynhiên khi đó sẽ dẫn tới tình trạng trì trệ trong đầu tư tư nhân, kéo theo toàn

bộ nền kinh tế trì trệ

2.4.2.2 Thâm hụt ngân sách và gia tăng gánh nặng nợ

Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sáchnhà nước cho việc thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ Thực chất của nó

là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của chínhphủ.Thâm hụt ngân sách nhà nước là tình trạng các khoản chi của ngânsách Nhà nước vượt qua các khoản thu không mang tính hoàn trả (thu trongcân đối ngân sách)

Phương trình cân bằng ngân sách: B= T- G

Như đã biết trong kích cầu nói chung hay kích cầu đầu tư nói riêngchính sách tài khóa mở rộng được áp dụng thông qua biện pháp cụ thể làgiảm thuế và tăng chi tiêu ngân sách nhà nước, biện pháp thứ hai được chorằng có hiệu suất kích thích tổng cầu cao hơn Một khi gói kích cầu quálớn hệ quả tất yếu là sẽ càng khoét sâu thêm vào thâm hụt ngân sách nếunhư không có chính sách kịp thời, thậm chí nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới

Trang 17

A IRR

là điều có thể thấy trước Hơn nữa, việc đổ một lượng tiền đầu tư lớn ra nềnkinh tế, nếu như được sử dụng kém hiệu quả sẽ không hấp thụ được lượngtiền trong nền kinh tế và lạm phát tiền tệ sẽ xảy ra Điều này đặt ra yêu cầutrong việc sử dụng chính sách kích cầu phải đảm bảo tính ngắn hạn, cácgiải pháp chính sách tiền tệ cần được giảm thiểu đúng lúc đồng thời việc sửdụng vốn đúng mục đích và cho hoạt động của nền kinh tế có hiệu quả sẽgóp phần làm giảm nguy cơ lạm phát cao, tạo ra sự ổn định vĩ mô

2.6 Các công cụ sử dụng để kích cầu

2.6.1 Nhóm chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là công cụ quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủhay NHTW để đạt được những mục đích đặc biệt như kiềm chế lạm phát,duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăngtrưởng kinh tế

2.6.1.1 Công cụ lãi suất tín dụng

Các nhà kinh doanh thường vay vốn để đầu tư, lãi suất phản ánh giákhoản vay mượn Vì vậy, nếu giá của tiền vay (lãi suất) lớn hơn tỷ suất lợinhuận bình quân thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm qui mô đầu tư và ngược lại Mối quan hệ giữa tỷ lệ lãi suất và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư cóthể được minh họa như sau:

Trang 18

Lãi suất biến động từ mức i1 đến i4, với từng mức lãi suất các dự ánđược chọn là khác nhau, khi lãi suất là i4 sẽ chỉ có dự án A có lãi Căn cứvào sự thay đổi của lãi suất và so sánh với IRR của dự án mà nhà đầu tư sẽlựa chọn quyết định đầu tư và quy mô đầu tư

Sự tăng giảm tỷ lệ lãi suất thực tế là một trong những nhân tố ảnhhưởng đến sự tăng giảm qui mô đầu tư Vì vậy vó thể dùng các chính sáchtác động đến lãi suất trên thị trường vốn để từ đó kích cầu đầu tư

Do đó Chính phủ có thể điều chỉnh lãi suất tiền vay để tác động vàođầu tư, cụ thể là tăng cung tiền tác động làm giảm lãi suất để tăng cầu đầu

Cụ thể: I (Cầu đầu tư): lượng vốn đầu tư nền kinh tế cần; r : lãi suất;

Khi tăng cung tiền từ MS1 đến MS2 trong khi cầu tiền không đổi thì lãisuất sẽ giảm từ r0 xuống r1, do đầu tư tỷ lệ nghịch với lãi suất nên đầu tưtăng tương ứng từ Io đến I1

Điều tiết mức lãi suất ngân hàng là phạm vi trách nhiệm của chínhsách tiền tệ Với công cụ lãi suất, ngân hàng trung ương có thể điều tiếthoạt động đầu tư bằng các phương pháp sau:

LD

r

I Y

Trang 19

2.6.1.2 Tăng hạn mức tín dụng cho các NHTM

Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các NHTMphải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế Khác với loại vay thongthường ngân hang không xác định kì hạn nợ cho từng món vay mà chỉkhống chế theo hạn mức tín dụng, có nghĩa là vào một thời điểm nào đónếu dư nợ vay của khách hàng lên đến mức tối đa cho phép,khi đó ngânhàng sẽ không phát tiền vay cho khách hàng Khi chính phủ tăng hạn mứctín dụng sẽ kích thích các chủ doanh nghiệp vay vốn để đầu tư phát triển.Trong điều kiện nền kinh tế suy thoái hoặc khủng hoảng, các doanh nghiệpgặp phải khó khăn rất lớn nhưng đó cũng là cơ hội để doanh nghiệp khẳngđịnh mình, gia tăng thị phần, xây dựng thương hiệu, thu hút được lao động

có tay nghề…

Như vậy với các ưu đãi về lãi suất hoặc các khoản vay tín dụng là các

cơ hội cho các doanh nghiệp sống và sống khỏe trong khủng hoảng và cũnggóp phần giúp nền kinh tế tăng trưởng trở lại sau suy thoái

2.6.2 Nhóm chính sách tài khóa

2.6.2.1 Tăng chi tiêu chính phủ

Nhà nước với nguồn vốn lớn từ thuế và các khoản vay trong và ngoàinước khi phát hành trái phiếu chính phủ chính là nhà đầu tư và tiêu dunglớn trong nền kinh tế Khi kinh kinh tế gặp khó khăn, chính phủ có thể tăngchi tiêu ngân sách để tác động vào tổng cầu, kích thích việc mua bán hànghóa, giúp các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh tốt, đứng vững trongsuy thoái đồng thời đào thải những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, môhình hoạt động lạc hậu Mặt khác, chính phủ cũng có thể kích cầu đầu tưthông qua các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng đầu tư cho côngnghệ,mang lại lợi ích lợi lớn cho xã hội cũng như doanh nghiệp Ngoài ranhững khu vực kinh tế khó khăn,đời sống nhân dân khó khăn, khu vựcnhân dân không sẵn sang đầu tư thì chính phủ cần có chính sách khuyếnkhích, hỗ trợ đầu tư, xây dựng các cơ sở vật chất cần thiết,tạo động lực chocác nhà đầu tư để thúc đẩy khu vực tăng trưởng, phát triển

2.6.2.2 Các chính sách thuế

Thuế là một nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận kì vọng, cũng như lợinhuận thực tế của doanh nghiệp Do đó công cụ hữu hiệu là miễn hoặcgiảm thuế,đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản thu từ khuvực sản xuất Công cụ này không chỉ có ý nghĩa tích cực trong kích thíchkhu vực sản xuất mà đồng thời góp phần giảm giá thành, kích thích ngườidân tiêu dung Việc giảm thuế và các khoản thu từ nhà nước sẽ kích thích

Trang 20

các thành phần kinh tế bình đẳng hơn, tạo nên sự cân bằng giữa kinh tế nhànước và kinh tế tư nhân Ngoài ra xu hướng giảm thuế khi nền kinh tế tăngtrưởng chậm lại còn là xu hướng chung của thế giới, cũng như tạo ra môitrường kinh doanh hấp dẫn hơn thu hút đầu tư nước ngoài.

2.6.3 Nhóm chính sách giải pháp khác

Đây là những chính sách mang tính chất đòn bẩy để tiến hành chínhsách tài khóa và chính sách tiền tệ một cách thuận lợi và hiệu quả, kíchthích đầu tư trong và ngoài nước:

2.6.3.1 Biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài

Vốn đầu tư nước ngoài này càng đóng vai trò quan trọng trong sự pháttriển kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia nói chung và của hoạt động đầu

tư nói riêng Để có thể kích cầu đầu tư hiệu quả thì vốn là điều kiện cầnkhông thể thiếu,vì thế tăng cường thu hút ĐTNN sẽ góp phần thúc đẩy hoạtđộng đầu tư của mỗi quốc gia

2.6.3.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nướcVốn NSNN là nguồn vốn đóng góp đáng kể vào hoạt động đầu tư, tuynhiên hiệu quả sử dụng nguồn vốn này vào hoạt động đầu tư còn nhiều bấtcập và lãng phí dẫn đến hạn chế hiệu quả và thành quả của đầu tư, nó cònlàm mất khả năng phát triền nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinhtế.Vì vậy những biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN là cầnthiết trong hoat động đầu tư

2.6.3.3 Biện pháp phát triển thị trường tài chính tạo nhiều kênh huy độngvốn

Thị trường tài chính là bộ phận quan trọng bậc nhất, chi phối toàn bộhoạt động của nền kinh tế hàng hóa Thị trường tài chính phát triển gópphần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Sứcsản xuất của xã hội ngày càng tăng và qui mô sản xuất ngày càng mở rộng,nhu cầu tiền vốn ngày càng tăng trong khi nguồn vốn nội lực của doanhnghiệp hay vay qua các Ngân hàng truyền thống không đáp ứng được vềmặt thời gian cũng như số lượng Vì vậy phát triển thị trường tài chính sẽtạo ra nhiều kênh huy động vốn đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tưphát triển kinh tế

2.6.3.4 Ổn định môi trường đầu tư cả về kinh tế xã hội và chính trị

Mọi hoạt động đầu tư suy ra cho cùng là để thu lợi nhuận, vì thế môitrường đầu tư hấp dẫn phải là một môi trường có hiệu quả đầu tư cao, mức

Trang 21

độ rủi ro thấp Điều này lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: chínhsách, cơ chế ưu đãi đầu tư của địa bàn được đầu tư, điều kiện phát triển vềkết cấu hạ tầng, mức độ hoàn thiện về thể chế hành chính – pháp lý, khảnăng ổn định về mặt chính trị - xã hội, độ mở cửa nền kinh tế, sự phát triểncủa hệ thống thị trường… Các nhân tố trên có mối quan hệ tác động qua lạilẫn nhau, vì vậy để nâng cao chất lượng và hiệu quả của môi trường đầu tưnhât thiết phải quan tâm xử lý đồng bộ các yếu tố ảnh hưởng trên.

2.7 Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kích cầu đầu tư

Hiệu quả của các chính sách kích cầu đầu tư phụ thuộc vào rất nhiềunhân tố, trong đó có những nhân tố khách quan cũng có những nhân tố chủquan

2.7.1 Độ trễ của chính sách

Độ trễ của chính sách kích cầu đầu tư: chính sách kích cầu đầu tư haybất cứ chính sách nào đều có độ trễ nhất định, trước hết là độ trễ về thờigian bởi quá trình ra quyết định, quá trình thực hiện chính sách phải trảiqua nhiều giai đoạn với nhiều thủ tục Do đó khoảng cách thời gian từ khi

ra quyết định đến khi thực hiện tạo ra tính trễ của chính sách Thứ hai, dobản chất và đặc điểm của hoạt động đầu tư : thời kỳ đầu tư kéo dài, thờigian vận hành kết quả đầu tư kéo dài do đó không phải bất cứ sự gia tăngđầu tư nào cũng đem lại kết quả ngay trong ngắn hạn nhất là đối với các dự

án thực hiện trong nhiều năm Đây là đặc điểm riêng có của hoạt động đầu

tư có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư

2.7.2 Quá trình tổ chức thực hiện chính sách

Theo các nhà kinh tế, để biện pháp kích cầu có hiệu quả thì việc thực

hiện nó phải đảm bảo: đúng lúc, trúng đích và vừa đủ Hiệu quả chính sách phụ thuộc nhiều vào việc áp dụng các nguyên tắc này.

Đúng lúc tức là phải thực hiện kích cầu ngay khi các doanh nghiệpchưa thu hẹp sản xuất và các hộ gia đình chưa thu hẹp tiêu dùng

Trúng đích tức là hướng tới những chủ thể kinh tế nào tiêu dùngnhanh hơn khoản tài chính được hưởng nhờ kích cầu và do đó sớm gây ratác động lan tỏa tới tổng cầu hơn; đồng thời hướng tới những chủ thể kinh

tế nào bị tác động bất lợi hơn cả bởi suy thoái kinh tế

Vừa đủ tức là gói kích cầu sẽ hết hiệu lực khi nền kinh tế đã trở nên

tốt hơn Nếu gói kích cầu quá bé thì kích thích sẽ bị hụt hơi và tổng cầu cóthể không bị kích thích nữa, khiến cho gói kích cầu trở thành lãng phí

Ngày đăng: 30/03/2017, 00:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Gói kích thích kinh tế của các nước trên thế giới - [Kinh tế đầu tư] Kích cầu đầu tư - Lý luận và thực tiễn
Bảng 1 Gói kích thích kinh tế của các nước trên thế giới (Trang 28)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w