1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay nhìn từ góc độ hình thức thể loại

121 748 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 838,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Khát quát những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1986 - 2006 trên những phương diện chủ yếu như: Cốt truyện - kết cấu, Nghệ thuật xây dựng nhân vật, Ngôn ngữ và giọn

Trang 1

KHOA VĂN HỌC -*** -

LƯU THỊ THU HÀ

SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM

TỪ 1986 ĐẾN NAY NHÌN TỪ GÓC ĐỘ HÌNH THỨC THỂ LOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hà Văn Đức

Trang 2

KHOA VĂN HỌC

LƯU THỊ THU HÀ

SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM

TỪ 1986 ĐẾN NAY NHÌN TỪ GÓC ĐỘ HÌNH THỨC THỂ LOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ đề tài 5

2.1 Phạm vi nghiên cứu 5

2.2 Nhiệm vụ của đề tài 6

3 Lịch sử vấn đề 7

3.1 Tình hình nghiên cứu khái quát về văn học 1986 - 2006 7

3.2 Tình hình nghiên cứu truyện ngắn 1986 - 2006 11

4.1 Phương pháp nghiên cứu 14

4.2 Bố cục luận văn 15

PHẦN NỘI DUNG 16

CHƯƠNG 1: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU 16

1.1 Sự vận động của cốt truyện và kết cấu truyện ngắn trước 1986 17

1.1.1 Giai đoạn trước 1932 17

1.1.2 Giai đoạn 1932 - 1945 21

1.1.3 Giai đoạn 1945 - 1985 24

1.2 Những xu hướng tổ chức cốt truyện và kết cấu truyện ngắn 1986 - 2006 26

1.2.1 Kiểu cốt truyện chặt chẽ được kế thừa và phát triển đến đỉnh cao 26

1.2.2 Cốt truyện tâm lý được sử dụng phổ biến 37

2.2.3 Cốt truyện phân rã, vai trò của tình huống được đẩy mạnh 41

CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT 52

2.1 Một số mẫu nhân vật nổi bật 53

Trang 4

2.1.1 Con người cô đơn 53

2.1.2 Con người giả cổ tích, giả huyền thoại, giả lịch sử 63

2.2 Những đóng góp mới về nghệ thuật xây dựng nhân vật 71

2.2.1 Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật 71

2.2.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ nhân vật 77

2.2.2.1 Đối thoại gia tăng mạnh tính khẩu ngữ 77

2.2.2.1 Độc thoại có xu hướng trộn lẫn vào lời người kể chuyện 85

CHƯƠNG 3: ĐỔI MỚI VỀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT 89

3.1 Sự đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật 89

3.2 Những biến đổi về ngôn ngữ trần thuật 93

3.2.1 Ngôn ngữ trần thuật mang tính hiện thực - đời thường 93

3.2.2 Ngôn ngữ giàu tính thông tin, nhịp điệu trần thuật nhanh 95

3.3 Sự vận dụng các hình thức và giọng điệu trần thuật 99

3.3.1 Ảnh hưởng của người trần thuật ngày càng bị thu hẹp 99

3.3.2 Tính chất phức điệu của giọng trần thuật 103

PHẦN KẾT LUẬN 108

DANH MỤC VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO………112

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm tháng chống ngoại xâm, lịch sử Việt Nam hiện đại được phản chiếu trong văn học chủ yếu ở những biểu hiện của tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc, ở những sự kiện, những chiến thắng quan trọng quyết định đến vận mệnh của cả dân tộc cũng như hạnh phúc của mỗi cá nhân Có một mảng sáng tác lớn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 -

1975 ghi lại lịch sử chiến tranh oai hùng và vinh quang của đất nước Bước sang thời bình, sự thay đổi của điều kiện sống khiến cho thị hiếu thẩm mỹ của người đọc cũng có những biến chuyển lớn Cuộc sống thực tại đã nhắc nhủ con người về những phương diện của đời sống sinh hoạt, đời sống văn hóa, văn minh vẫn âm thầm trôi chảy cùng công cuộc chống ngoại xâm, giữ nước của dân tộc Họ không rũ bỏ, nhưng đã bắt đầu xếp chiến tranh vào ký ức Thay cho tâm thế đấu tranh vì quyền lợi của cả cộng đồng, cả dân tộc, họ quan tâm hơn đến cuộc đấu tranh với cái khốn khó của đời sống thường ngày Thay vì dõi theo cục diện thế giới, họ hứng thú hơn với những mối quan hệ cá nhân, với những câu chuyện gần gũi xảy ra xung quanh mình Kết thúc chiến tranh, văn học cũng không còn lý do để chỉ chăm chắm phục vụ những mục đích cách mạng Với bối cảnh lịch sử mới và những đổi thay về nhu cầu của người đọc, văn học, với tư cách là một hình thức phản ánh hiện thực, tất yếu phải đối mới Nhà văn tất yếu không thể viết theo lối cũ

Cơ hội chuyển mình của loại hình nghệ thuật ngôn từ được tiếp sức nhờ công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào năm 1986 Không chỉ ý thức văn học được cởi trói, bản thân nhà văn cũng nỗ lực cởi trói cho chính mình Sự cởi mở nhiều chiều đã mang đến biến chuyển lớn lao về

Trang 6

tư duy Là một bộ phận của nền nghệ thuật phát triển trong bối cảnh cuộc sống thời bình, văn học Việt Nam sau 1986 phản ánh hiện thực theo cách nhìn mới, quan niệm mới Không chỉ mở rộng đề tài theo hướng tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực đời sống sinh hoạt, đời sống văn hóa, quan điểm của các nhà văn về một số vấn đề của lịch sử Việt Nam cũng mang những sắc thái thẩm mỹ mới Cảm hứng sử thi của giai đoạn trước được thay thế bằng cảm hứng đời tư - thế sự Xu hướng ngợi ca được thay thế bằng cái nhìn phê phán hiện thực Thói quen nhìn cuộc sống ở khía cạnh lạc quan, tươi đẹp được thay bằng sự khai thác trực diện những tồn đọng của xã hội, những khát vọng của đời sống cá nhân con người Văn học giai đoạn này vì thế đa giọng điệu, đa sắc màu và gây nhiều tranh cãi hơn

Với đặc thù là một thể loại nhỏ gọn và cơ động, truyện ngắn bắt nhịp rất nhanh với những biến chuyển của đời sống Tuy không phải là thể loại chủ chốt của nền văn học, nhưng với thế mạnh của một loại hình tự sự, truyện ngắn nhanh nhạy len lỏi vào mọi ngóc ngách của xã hội, phản chiếu cuộc sống trong từng mảnh ghép nhỏ Nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc nhận xét:

“Đây có thể coi là một thời kỳ có nhiều truyện ngắn hay trong văn học Việt Nam, tiếp theo „vụ được mùa truyện ngắn‟ những năm 1960 và một vụ mùa khác, trong chiến tranh Tuy nhiên, truyện ngắn lần này có những khác biệt rõ rệt Những năm 1960 từng để lại nhiều truyện ngắn đẹp như thơ, trong veo, trữ tình Truyện ngắn thời chiến tranh thì vạm vỡ, chắc chắn Đặc điểm nổi bật lần này là cầm cái truyện ngắn trong tay có thể cảm thấy cái dung lượng của nó nặng trĩu Có những truyện ngắn, chỉ mươi mười trang thôi, mà sức nặng có vẻ còn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên” [44; 7]

Trang 7

Như vậy, truyện ngắn giai đoạn từ 1986 đến nay đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành diện mạo nền văn học Việt Nam đương đại Chính

vì vậy, chúng tôi hướng tới truyện ngắn khi triển khai luận văn này như một cách tiếp cận với một giai đoạn văn học đặc biệt sôi động từ thể loại được đánh giá là năng động và tích cực nhất

Với tên gọi Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay, nhìn từ góc độ hình thức thể loại, luận văn tập trung nghiên cứu về những

biến chuyển hình thức thể loại, bởi sự vận động của thể loại bộc lộ quan điểm thẩm mỹ, tư duy nghệ thuật của mỗi thời kỳ Mikhail Bakhtin cho rằng:

“Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trường phái, trào lưu chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba” [9; 5]

2 Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ đề tài

2.1 Phạm vi nghiên cứu

Từ mốc khởi đầu mang tính chất tương đối - 1986, luận văn sẽ dừng lại

ở những tác phẩm ra đời trước 2006 Trong vòng 20 năm phát triển, truyện ngắn Việt Nam đã đi được những bước dài với số lượng tác phẩm đồ sộ Hàng trăm tuyển tập truyện ngắn, được tập hợp theo những hệ tiêu chí khác nhau,

đã ra đời Với khuôn khổ hạn chế của luận văn thạc sĩ, chúng tôi không có điều kiện khảo sát mọi tác phẩm, vì vậy đề tài sẽ khoanh vùng vào những tuyển tập tiêu biểu như:

- Văn mới 5 năm đầu thế kỷ, NXB Hội Nhà văn, 2005

- Văn mới 2004 - 2005, NXB Hội Nhà văn, 2005

Trang 8

- Văn mới 2005 - 2006, NXB Hội Nhà văn, 2006

- Những tuyển tập truyện ngắn của các cây bút tiêu biểu cho giai đoạn này như: Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Phan Thị Vàng Anh…

- Những truyện ngắn được giải thưởng các cuộc thi uy tín do Báo Văn

Nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức

… và một số tác phẩm riêng lẻ khác

Do hạn chế về tư liệu, chúng tôi chưa có điều kiện khảo sát mảng truyện ngắn Việt Nam ở hải ngoại giai đoạn 1986 - 2006 Đây là mảng truyện

ra đời trong bối cảnh lịch sử xã hội khác hẳn với phạm vi chúng tôi sẽ đề cập

ở trên Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất về đối tượng nghiên cứu, chúng tôi

sẽ bàn đến đến phần truyện này trong một công trình khác

2.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Cung cấp cái nhìn tổng quan về sự vận động và biến đổi của truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở phương diện hình thức thể loại

- Tìm hiểu sự vận động và phát triển của truyện ngắn 1986 - 2006 về hình thức thể loại qua việc tập hợp, hệ thống hóa và phân tích tác phẩm

- Khát quát những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1986 - 2006 trên những phương diện chủ yếu như: Cốt truyện - kết cấu, Nghệ thuật xây dựng nhân vật, Ngôn ngữ và giọng điệu…

Đạt được những mục đích trên, luận văn sẽ có ý nghĩa như một cách nhìn bổ sung vào những đánh giá, nhận định về một giai đoạn văn học đang vận động và gây nhiều tranh cãi Đồng thời, luận văn sẽ là tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến truyện ngắn đương đại Việt Nam

Trang 9

3 Lịch sử vấn đề

Là giai đoạn có nội lực và tiềm năng, văn học Việt Nam 1986 - 2006 thu hút sự quan tâm của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu, nhà văn và độc giả Trong đó, truyện ngắn được đánh giá là một trong những thể loại chủ đạo của đời sống văn học thời kỳ Đổi mới Tuy nhiên, do đây là một giai đoạn văn học chưa ổn định nên chúng ta chưa có nhiều những công trình khái quát, đánh giá một cách toàn diện những đặc điểm của 20 năm phát triển này so với các giai đoạn trước Liên quan tới đề tài, chúng tôi tổng kết một số thành tựu của những người đi trước trên những nét lớn như sau:

3.1 Tình hình nghiên cứu khái quát về văn học 1986 - 2006

* Các công trình nổi bật:

- Chuyên luận 50 năm Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng 8 -

NXB Đại học Quốc gia, 1996 với những bài viết quan trọng:

Tiểu thuyết về chiến tranh - mấy ý nghĩ góp bàn - Lê Thành Nghị

Những biến đổi trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết sau 1975 - Bùi Việt

Thắng

Mấy nhận xét về nhân vật văn xuôi Việt Nam sau 1975 - Nguyễn Thị

Bình

- Chuyên luận Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định -

Vũ Tuấn Anh, NXB Khoa học Xã hội, 2001

- Luận án tiến sĩ Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự - Lê

Thị Tuyết Hạnh, 1997

Trang 10

- Luận án tiến sĩ Những dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi nghệ thuật từ

1980 - 1986 - Nguyễn Thị Huệ, 2000

- Hội thảo Quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa

khu vực và quốc tế - Viện Văn học Việt Nam tổ chức

- Thảo luận về Truyện ngắn hôm nay - Báo Văn Nghệ số 11/1991

- Tiểu luận Văn học quá độ - khái quát văn học Việt Nam thời đổi mới -

tác giả Dana Healy

* Những nhận định chung:

- Sự đổi mới quan niệm và ý thức nghệ thuật của văn học sau 1986 được đánh giá là nhân tố đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng chi phối đến mọi thể loại, trong đó có truyện ngắn Các tác giả Vũ Tuấn Anh, Nguyễn

Thị Bình, Nguyễn Thị Huệ khẳng định, văn học đương đại phát triển theo xu hướng dân chủ hóa, có ý nghĩa bổ sung, hoàn thiện những quan niệm hiện

thực về con người cho văn học giai đoạn trước Trong chuyên luận Văn học

Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định, tác giả Vũ Tuấn Anh viết: “Nếu

như cách nhìn sử thi là thích hợp cho việc thể hiện tầm rộng lớn của những vấn đề lịch sử xã hội và cộng đồng thì cách nhìn tiểu thuyết là cái nhìn tập trung, xoáy sâu vào những vấn đề của con người cá nhân cũng như mối quan

hệ cá nhân - xã hội trên hành trình tìm kiếm và khẳng định giá trị nhân văn” [3; 54] Sự chuyển biến ấy, theo các nhà nghiên cứu, xuất phát từ nguyên nhân khách quan là không khí dân chủ của công cuộc Đổi mới và nguyên nhân chủ quan là cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Cái nhìn của nhà văn trong khi phản ánh hiện thực không còn bị ảnh hưởng bởi ý thức cộng đồng

mà phụ thuộc vào ý thức cá nhân “Tác giả xuất phát từ kinh nghiệm bản thân,

Trang 11

thể nghiệm bản thân chứ không phải thể nghiệm cộng đồng” [63; 6], Nguyên Ngọc viết

Chia sẻ cách nhìn này, tác giả Nguyễn Thị Bình trong bài viết Mấy

nhận xét về nhân vật văn xuôi Việt Nam sau 1975 cũng khẳng định: “Văn

xuôi sau 1975 phát triển trong bối cảnh đất nước chuyển đổi kinh tế, giao lưu văn hóa nhiều chiều Ý thức cá nhân được sự cổ vũ của cơ chế thị trường trỗi dậy mạnh mẽ Nhu cầu thức tỉnh gắn liền với cảm hứng khám phá, nghiền ngẫm hiện thực, nhu cầu công bố tư tưởng riêng trong thái độ nhập cuộc của nhà văn…” [11; 67]

Từ bối cảnh lịch sử đó, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm kế thừa và khác biệt của giai đoạn văn học này so với các giai đoạn trước Trong

tiểu luận Văn học quá độ - khái quát văn học Việt Nam thời đổi mới, tác giả

Dana Healy, giảng viên tiếng Việt tại Trường nghiên cứu phương Đông và châu Phi, Đại học London đánh giá: “Một trong những đặc điểm đáng chú ý nhất của nhiều tác phẩm hiện đại là mức độ phê phán cao đối với cuộc sống thường ngày Sau nhiều năm tụng ca hiện thực, nhiều năm ca ngợi và tự ca ngợi, cũng như hô hào một thứ lạc quan phi lý, các nhà văn bây giờ đã vứt bỏ bức tranh lý tưởng hóa hiện thực và đưa ra một cái nhìn điềm đạm hơn về cuộc sống” [24; 8]

Trong bài viết Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới tại cuộc Hội thảo quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và

quốc tế, nhà lý luận Lê Ngọc Trà nêu ra 3 đặc điểm của văn học sau 1986

Đặc điểm nổi bật, theo ông là tính chất phê phán “Nếu trước đây nhân vật

chính của các tác phẩm hầu hết là người tốt, là nhân vật chính diện, thì bây giờ, ngược lại, trong nhiều tác phẩm các nhân vật chính thường là nhân vật

Trang 12

tiêu cực, giả dối, làm ăn phi pháp, thấp kém về đạo đức Và một khi các nhân vật chính đã như vậy thì dĩ nhiên cảm hứng chủ đạo của tác phẩm cũng thay đổi: nhiệt tình ca ngợi, khẳng định được thay thế bằng sự phê phán, châm

biếm” [73; 21] Đặc điểm thứ hai là tinh thần phân tích xã hội và sự chiêm

nghiệm lại lịch sử “Những năm hòa bình sau 1975 và tiếp theo là phong trào

đổi mới đã tạo ra cơ sở xã hội để các nhà văn nghĩ lại về công việc sáng tác của mình Giờ đây nhu cầu ghi chép, phản ánh hiện thực theo kiểu trước đây không còn đặt ra cấp bách như trong những năm chiến tranh Cuộc sống cũng

đã bộc lộ những mặt phức tạp mà những lời giải thích đơn giản, công thức không còn thuyết phục nữa Mỗi người cầm bút cũng nhận ra rằng sức mạnh của tác phẩm văn học không chỉ nằm ở khối lượng hiện thực được ghi chép, phản ánh mà còn phụ thuộc vào sự nghiền ngẫm của nhà văn, vào chiều sâu của những tư tưởng, tình cảm mà anh ta gửi gắm trong đó Trên bối cảnh ấy

đã xuất hiện hàng loạt tác phẩm không chỉ ghi chép các tính cách, các sự kiện

mà còn soi sáng chúng dưới nhiều góc độ khác nhau” [73; 22] Đặc điểm thứ

ba là sự trở lại với đời thường, với số phận riêng “Sự trở lại này hoàn toàn tất

yếu, bởi vì trước đây, trong giai đoạn 1930 - 1945 nhiều nhà văn đã viết về chủ đề này, hơn nữa nói chung đã là văn học thì nền văn học nào cũng quan tâm đến số phận con người, đến cái riêng Song vấn đề là ở chỗ do hoàn cảnh chiến tranh suốt mấy chục năm qua, văn học cách mạng chủ yếu nói về cái chung, chỉ xem xét cái riêng xuất phát từ quyền lợi chung của giai cấp, của dân tộc, thành ra vấn đề đời thường, số phận riêng của con người bị chìm đi, thậm chí đôi khi còn bị xem như cái gì xa lạ với một nền văn học lành mạnh Điều này giải thích vì sao khi quay lại với chủ đề này, văn học được đánh giá như đã có một hành động đổi mới” [73; 5]

Trang 13

Có thể nói, các nhà nghiên cứu đã có sự thống nhất khá cao về những đặc điểm nội dung của giai đoạn văn học 1986 - 2006

Về đổi mới thi pháp Tuy chưa đi vào nghiên cứu một cách sâu rộng

các vấn đề thi pháp của văn xuôi sau 1986, song các bài viết gần đây đã nhấn mạnh vào một số biến đổi về hình thức biểu đạt của tác phẩm như: Sự suy giảm vai trò cốt truyện; sự đa dạng các hình thức cấu trúc tác phẩm; tính chất

đa thanh trong nghệ thuật trần thuật, những khám phá về hệ thống nhân vật…

Từ đó, các nhà nghiên cứu bước đầu đi đến kết luận về khả năng mở rộng, gia tăng tính đối thoại của tự sự đương đại trước các vấn đề hiện thực và lịch sử Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà cho rằng: “Nền tảng của thi pháp này là việc xem sáng tác văn học không phải như hoạt động tuyên truyền, mà là hoạt động nhận thức và tự nhận thức, ở đó nhà văn không áp đặt cho người đọc tư tưởng có sẵn, được hình tượng hóa mà mang đến cho họ bức tranh sinh động

về cuộc sống thấm nhuần những cảm xúc, suy nghĩ của mình, gợi ra cho họ, cùng thảo luận với họ và để họ tự phán xét” [73; 40]

3.2 Tình hình nghiên cứu truyện ngắn 1986 - 2006

* Các công trình nổi bật

- Chuyên luận: Truyện ngắn Việt Nam: Lịch sử, thi pháp, chân dung -

Phan Cự Đệ, NXB Đại học Quốc gia, 2000

- Chuyên luận: Truyện ngắn - Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể

loại - Bùi Việt Thắng - NXB Đại học Quốc gia, 2000

- Chuyên luận Bình luận truyện ngắn - Bùi Việt Thắng, NXB Văn học,

1999

Trang 14

- Bài viết: Văn xuôi Việt Nam hiện nay, logic quanh co của các thể loại,

những vấn đề đang đặt ra, và triển vọng - Nguyên Ngọc

- Bài viết: Truyện ngắn và cuộc sống hôm nay - Phạm Xuân Nguyên

- Tập bài giảng Văn học Việt Nam sau 1975, Đại học Khoa học Xã hội

có ngồn ngộn tƣ liệu xã hội để mà làm công việc chƣng cất, chắt lọc… Rõ ràng, trong các thể loại, truyện ngắn đã tiến xa hơn cả” [10; 34] Nhà phê bình Bùi Việt Thắng cũng khẳng định: “Nhìn tổng thể, truyện ngắn 1975 - 2000 vƣợt trội so với thơ và kịch vì nhiều lý do - trong đó phải kể đến sự ƣu ái của đời sống là mảnh đất màu mỡ cho các thể của văn xuôi phát triển Nếu có thể

so sánh thì truyện ngắn Việt Nam trong thế kỷ 20 có hai thời hoàng kim của

Trang 15

Đây cũng là nguyên nhân khiến truyện ngắn trở thành đối tượng thu hút nhiều công trình phê bình, nghiên cứu về giai đoạn này Các công trình, bài viết nhìn chung đều đánh giá cao đóng góp của truyện ngắn trong việc phản

ánh hiện thực đời sống xã hội Phạm Xuân Nguyên trong bài Truyện ngắn và

cuộc sống hôm nay đánh giá: “Truyện ngắn hôm nay tiếp xúc, xới lật các

mảng hiện thực ở cả hai chiều quá khứ và hiện tại để mong góp một tiếng nói định vị cho người đọc, một thái độ nhìn nhận, đánh giá những việc, những người của bây giờ, nơi đây [47; 10] Chỉ rõ sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng của thể loại này, nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu viết:

“Cùng với sự gia tăng của những tên tuổi mới và số lượng tác phẩm, truyện ngắn thời kỳ này đã mở ra nhiều tìm tòi cả trong tiếp nhận hiện thực lẫn thi pháp thể loại Đó là chiều sâu triết lý và những cảm nhận về sự cô đơn của thân phận con người, là sự đan cài giữa cái ảo và cái thực, giữa chất thơ và văn xuôi” [73; 182]

Còn trong bài viết Từ một góc nhìn về sự vận động của truyện ngắn

chiến tranh, tác giả Tôn Phương Lan lý giải chi tiết hơn: “Những truyện ngắn

đã khai thác yếu tố tâm linh và tạo ra những chi tiết, cảnh huống ly kỳ, hấp dẫn, đem lại cho các truyện này một vóc dáng hiện thực mới khiến người đọc không chỉ cảm mà còn thấy” [38; 34]

Những đổi mới về nội dung tất yếu dẫn đến sự thay đổi về hình thức thể loại truyện ngắn Nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Về khía cạnh thi pháp, truyện ngắn 1986 - 2000 đã trở nên phong phú về hình thức, phong cách và bút pháp Đã có thể tách bạch ra những dòng phong cách chủ yếu sau: phong cách cổ điển (ứng với lớp nhà văn như Nguyễn Thành Long, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Hồng Nhu…), phong

Trang 16

cách trữ tình (ứng với các nhà văn Nguyễn Bản, Đỗ Chu, Nguyễn Quang Thiều, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Trần Huyền Trang…); phong cách hiện thực (ứng với Y Ban, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Thị Thu Huệ…) Về hình thức, truyện ngắn giai đoạn này khá đa dạng - có thể nói đến một kiểu Truyền

kỳ hiện đại (kiểu Bến trần gian của Lưu Sơn Minh, Hai người đàn bà xóm

trại của Nguyễn Quang Thiều), kiểu truyện giả cổ tích (Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp), truyện ngắn - kịch (kiểu Kịch câm của Phan Thị

Vàng Anh), truyện ngắn rất ngắn (Vùng lặng của Phạm Sông Hồng), truyện ngắn triết luận (Tâm tưởng của Bùi Hiển, Sống mãi với cây xanh của Nguyễn Minh Châu, Thương nhớ đồng quê của Nguyễn Huy Thiệp)…” [65; 45].

Như vậy, là một thể loại phát triển rực rỡ trong giai đoạn văn học 1986

- 2006, truyện ngắn là đối tượng của không ít các công trình nghiên cứu, phê bình đương đại Nhưng với tham vọng khảo sát một cách tương đối hệ thống

sự vận động của thể loại truyện ngắn giai đoạn 1986 - 2006, chúng tôi hy vọng, việc triển khai đề tài này không phải là một công việc thừa thãi

4 Phương pháp nghiên cứu và bố cục luận văn

4.1 Phương pháp nghiên cứu

* Vận dụng kiến thức lý luận về thi pháp truyện ngắn đối với các vấn đề: Cốt truyện - kết cấu, Nghệ thuật xây dựng nhân vật, Ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật…

* Sử dụng các thao tác:

- So sánh giữa các giai đoạn văn học nhằm làm rõ quá trình vận động của thể loại truyện ngắn sau 1986

Trang 17

- So sánh đối chiếu các tác phẩm đồng đại để thấy được nét riêng biệt của từng trào lưu, từng xu hướng truyện ngắn nổi bật

- Phân tích, tổng hợp những nét chung và riêng trong các tác phẩm để thiết lập hệ thống luận điểm

- Thống kê, mô tả các hiện tượng, các biểu hiện của hình thức, sau đó

lý giải sự vận động của hình thức thể loại truyện ngắn sau 1986

4.2 Bố cục luận văn

Luận văn bao gồm Phần mở đầu, Phần nội dung và Phần kết luận Phần nội dung có 3 chương:

Chương 1: Cốt truyện và kết cấu

Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Chương 3: Nghệ thuật trần thuật

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 18

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU

Khái niệm “cốt truyện” được sử dụng chủ yếu cho các thể loại văn học

thuộc phương thức tự sự hoặc kịch Trong cuốn Lý luận văn học, giáo sư Hà

Minh Đức xác định: “Cốt truyện là một hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống, và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ tư tưởng và chủ đề tác phẩm” [17; 45] Nếu cốt truyện là một yếu tố nghiêng về nội dung thì kết cấu là một phương diện của hình thức liên quan tới cách tổ chức, bố trí, sắp xếp sự xuất hiện của các chất liệu hiện thực hay tổ chức các yếu tố bên trong và bên ngoài của tác phẩm

“Bố cục là một phương diện của kết cấu Ngoài bố cục, kết cấu còn bao gồm:

tổ chức hệ thống tính cách, tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm, nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể các thành phần cốt truyện, nghệ thuật trình bày, bố trí các yếu tố ngoài cốt truyện” [17; 132]

Như vậy, trong quan hệ với cốt truyện, khái niệm kết cấu rộng hơn Mọi liên kết bên trong (giữa các sự kiện, chi tiết trong cốt truyện) và bên ngoài (giữa cốt truyện và các thành phần khác của tác phẩm) đều là nhiệm vụ của kết cấu Cốt truyện là một đơn vị, một căn cứ để triển khai các công việc kết cấu từ quy mô nhỏ cho đến quy mô lớn Chính vì thế, trong khi nghiên cứu cấu trúc của một tác phẩm văn học, người ta thường phân tích đồng thời các mối quan hệ qua lại, chi phối lẫn nhau giữa cốt truyện và kết cấu

Đánh giá cao vai trò của cốt truyện, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân

trong cuốn 150 thuật ngữ văn học viết: “Cốt truyện trỏ lớp biến cố của hình

Trang 19

thức tác phẩm Chính hệ thống biến cố đã tạo ra sự vận động của nội dung cuộc sống được miêu tả trong tác phẩm Tính truyện (có cốt truyện) là phẩm chất có giá trị quan trọng của văn học, sân khấu, điện ảnh và các nghệ thuật cùng loại” [22; 57] Trong truyện ngắn, vai trò của cốt truyện càng được đẩy mạnh do đặc trưng phản ánh cuộc sống qua những khoảnh khắc tập trung nhất các xung đột, mâu thuẫn của thể loại này Chính vì vậy, sự vận động và biến đổi của thể loại qua từng thời kỳ phát triển gắn liền với những biến chuyển về mặt cốt truyện Có thể thấy rõ điều này qua việc khảo sát những chặng đường truyện ngắn từ lúc thể loại này manh nha tại Việt Nam cho tới ngày nay

1.1 Sự vận động của cốt truyện và kết cấu truyện ngắn trước 1986

1.1.1 Giai đoạn trước 1932

Ra đời muộn hơn thế giới hàng trăm năm, truyện ngắn Việt Nam hình

thành vào khoảng thế kỷ 15, 16 với những tập truyện như Thiền uyển tập anh,

Tam tổ thực lục (đời Trần); Việt điện u linh, Nam ông mộng lục (1438), Thánh Tông di thảo, Lĩnh Nam chích quái (thế kỷ XV), Truyền kỳ mạn lục (thế kỷ

16)… Nhưng các đặc điểm thể loại trong những tập truyện này chưa biểu hiện một cách tập trung và rõ nét Tình trạng diễn ra phổ biến là sự nhập nhằng giữa tính chất ký, truyện lịch sử, truyện mô phỏng, phóng tác truyền thuyết dân gian trong các tác phẩm Giới nghiên cứu thường dùng khái niệm “truyện ngắn trung đại” như một cách ước lệ để chỉ hiện tượng không thuần nhất về nội dung và nghệ thuật, gồm rất nhiều kiểu tác phẩm khác nhau ra đời trong

một khoảng thời gian gần 10 thế kỷ Trong cuốn Truyện ngắn - Những vấn đề

lý thuyết và thực tiễn thể loại, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng viết: “Trong

khi nghiên cứu sự hình thành và phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam,

Trang 20

Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên), hình thức ban sơ của truyện ngắn là truyền kỳ - đó là một thứ “truyện thần thoại có tác giả, cốt truyện của nó có thể được lưu hành trong dân gian, được các nhà văn sử dụng, nâng cao thành tác phẩm văn học Truyền kỳ là thể loại văn xuôi nghệ thuật sớm sủa của văn học cổ điển Trung Quốc và theo quan niệm về thể loại này, nó là hình thức ban đầu của truyện ngắn” [68;79]

Mới manh nha và chưa có hình mẫu nào ổn định, truyện ngắn trung đại phát triển khá đa dạng, nhiều chiều, nhiều khuynh hướng nhưng có thể được khái quát thành một số đặc điểm nhất định Truyện thường có nội dung và lối

kể dân gian Dựa trên cốt truyện hoặc các nhân vật dân gian, nhà văn đắp thêm phần hư cấu của mình cho tác phẩm có màu sắc hiện đại hoặc nhằm

phản ánh hiện thực nào đó Người con gái Nam Xương là một ví dụ điển hình Tác phẩm có nguồn gốc từ truyện cổ tích dân gian Vợ chàng Trương Nhưng

Nguyễn Dữ đã sáng tạo thêm phần không gian truyện dưới thủy cung nhằm tăng tính diệu kỳ, tạo sức hấp dẫn cho tác phẩm Truyện ngắn thời kỳ này cũng chịu ảnh hưởng lối văn tự sự trong các bộ sử, tạo nên tính chất sử ký văn chương cho tác phẩm Theo đó, tác giả thường vận dụng lối kể chuyện khách quan với lời văn ngắn gọn, giàu chất truyện Một số lượng lớn truyện ngắn thời kỳ này lấy cảm hứng từ dã sử Trung Quốc hoặc Việt Nam và nhuận sắc thêm Mặt khác, do ảnh hưởng của truyện dân gian và truyện lịch sử nên truyện ngắn trung đại thường có cốt truyện hấp dẫn, tình tiết ly kỳ

Ngay trong thời kỳ sơ khai của truyện ngắn, cốt truyện đã đóng vai trò quan trọng đối với các tác phẩm thuộc thể loại này Chính vì thế, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ cho rằng, truyện ngắn trung đại có thể phân loại theo tiêu chí cốt truyện Ông viết: “Xét về nguồn gốc cốt truyện, có thể chia truyện ngắn

Trang 21

trung đại thành 3 nhóm chính: 1 Nhóm tác phẩm lấy cốt truyện từ chính sử… Các bộ sử cung cấp những ghi chép gốc về những nhân vật hay những sự việc

kỳ lạ, cố gắng ghi chép đúng với thực tế vốn có nhưng chưa quan tâm đến kỹ thuật kể chuyện Các nhà văn sẽ lựa chọn những nhân vật và sự kiện nào được coi là thú vị và gia công nghệ thuật, có thể nhận thức và lý giải diễn biến cốt truyện theo chiều hướng khác hẳn cốt truyện gốc… 2, Nhóm tác phẩm vay mượn cốt truyện Trung Quốc 3, Nhóm tác phẩm có cốt truyện hư cấu thuần túy của Việt Nam Loại này chiếm số lượng lớn nhất Nội dung thường kể về các nhân vật của Việt Nam - những nhân vật hữu danh và vô danh trong lịch

sử, các mô típ thường được sáng tạo trên cơ sở phỏng lại những lời kể của người này người khác, tức là motif dân gian, đã được lưu truyền theo con đường truyền miệng” [15; 45]

Chỉ với tập truyện duy nhất Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ là người có

công lớn đối với sự hình thành truyện ngắn trung đại Tác phẩm gồm có 20 truyện, chủ yếu lấy cốt truyện từ những sự tích lưu truyền trong dân gian Truyện được nhà văn viết bằng lối văn tổng hợp nhiều hình thức như tản văn,

biền văn, thơ… Truyền kỳ mạn lục phản ánh khá đầy đủ và sắc sảo bức tranh

xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XVI Tác phẩm đã vượt khỏi dấu ấn của loại ký lịch sử, đã có thêm phần phóng tác và hư cấu của người viết Những

truyện như Người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Cây gạo, Lệ Nương, Người con

gái Nam Xương… chứa đựng những mầm mống phát sinh của chủ nghĩa hiện

thực

Do ảnh hưởng các cốt truyện dân gian và dã sử, nên kết cấu truyện ngắn trung đại chưa thực sự phức tạp Phần lớn, truyện diễn tiến theo trình tự tuyến tính, cái gì xảy ra trước, kể trước Các nhà văn ít dụng công miêu tả

Trang 22

không gian và thời gian nghệ thuật, chủ yếu kể lại tiến trình xảy ra của sự việc Việc khắc họa đời sống tâm lý nhân vật cũng chưa được chú trọng nên những hình thức kết cấu tâm lý dường như không xuất hiện trong truyện ngắn trung đại Đặc điểm này khiến truyện ngắn trung đại trở thành một thể loại dễ đọc, dễ hiểu đối với độc giả buổi đầu tiếp cận Nhưng trong tương quan với các nền truyện ngắn trên thế giới, có thể thấy truyện ngắn Việt Nam phát triển chậm hơn rất nhiều

Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, truyện ngắn Việt Nam đã có sự phát triển tuy chưa mạnh mẽ, rầm rộ, nhưng có thể nói đã tạo được bước ngoặt, đánh dấu sự chuyển biến từ cách kể chuyện trung đại sang cách kể chuyện hiện đại Dù khó xác định mốc thời gian chính xác, nhưng một cách tương

đối, các nhà nghiên cứu cho rằng, Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn

Trọng Quản xứng đáng là truyện ngắn Việt Nam hiện đại đầu tiên viết theo kiểu phương Tây Tác phẩm đã mở đầu cho sự ra đời của một loạt truyện ngắn của các tác giả như Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn… Cốt truyện về một mối tình tay ba oái oăm vốn không quá phức tạp, nhưng xu hướng hiện đại hóa của tác phẩm bắt đầu bộc lộ từ cách kể chuyện ở ngôi thứ nhất của nhân vật xưng tôi Đặc biệt, kết cấu truyện bộc lộ khuynh hướng tổ chức theo quy luật tâm lý hơn là trật tự thời gian tuyến tính với kết thúc là tấn bi kịch của nhân vật chính (hoàn toàn khác với lối kết thúc có hậu ảnh hưởng từ

truyện kể dân gian trong các tác phẩm trước đây) Sự ra đời của Truyện Thầy

Lazaro Phiền cùng với chữ quốc ngữ và sự ảnh hưởng của văn hóa phương

Tây đã tạo tiền đề cho một thời kỳ hoàng kim của truyện ngắn Việt Nam

Trang 23

1.1.2 Giai đoạn 1932 - 1945

Giai đoạn 1932 - 1945 là bước phát triển quan trọng trong tiến trình văn học nói chung và của thể loại truyện ngắn nói riêng Truyện ngắn thời kỳ này khởi sắc, tạo nên mùa gặt bội thu với những tên tuổi như: Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân, Nguyên Hồng, Mạnh Phú Tư, Khái Hưng, Nhất Linh, Thanh Tịnh… Do những đặc trưng riêng về hoàn cảnh lịch sử và phong cách sáng tác, văn học thời kỳ này chia làm hai dòng chính: hiện thực phê phán và lãng mạn trữ tĩnh Nhìn từ phương diện cốt truyện và kết cấu, hai dòng văn học này cũng có những đặc trưng riêng

Truyện ngắn hiện thực phê phán thể hiện cái nhìn trực diện vào bộ mặt đời sống xã hội, bộc lộ các trạng thái nhân thế, phơi bày những hiện tượng tầm thường, kệch cỡm diễn ra hàng ngày trong đời sống Cốt truyện của dạng truyện ngắn này được xây dựng dựa vào những mâu thuẫn, xung đột đa dạng Chất liệu chính của cốt truyện thời kỳ này là những sự kiện, hành động giàu kịch tính - loại sự kiện gắn liền với hành động bên ngoài của nhân vật Nhà văn luôn tìm cách dồn nén hàng loạt cử chỉ, động tác và lời đối thoại gay gắt của các nhân vật vào quan hệ đối kháng Khi được đặt trong những bối cảnh văn học đặc biệt, chúng thường được đẩy lên thành những hiện tượng mang tính tượng trưng, hay còn gọi là hoàn cảnh điển hình Có thể nói, với dòng văn học hiện thực phê phán, cốt truyện truyện ngắn đã được đẩy lên đến đỉnh cao của sự mẫu mực Sự phát triển của tác phẩm đi qua tiến trình cơ bản gồm thắt nút, cao trào, mở nút Cốt truyện được xây dựng dựa vào hệ thống sự kiện; biến cố giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cốt truyện phát triển

và kết thúc tác phẩm thường rất bất ngờ Với kiểu cốt truyện này, kết cấu

Trang 24

truyện ngắn 1932 - 1945 cũng rất đa dạng, phong phú Có kiểu kết cấu theo trình tự thời gian, kết cấu hồi cố, kết cấu tâm lý, kết cấu truyện lồng trong truyện Trong đó nguyên tắc cơ bản của miêu tả là tạo sự đối lập tương phản

và tăng cấp, giữa các nhân vật, trong mỗi nhân vật, giữa các tình huống và ngay trong một tình huống Nếu như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố khai thác xung đột kẻ giàu - người nghèo thì Nam Cao, Nguyên Hồng phản ánh sự mâu thuẫn giữa nông dân và phú hào, khát vọng của trí thức và những kiềm tỏa của đời sống vật chất

Trong dòng văn học lãng mạn, truyện ngắn trữ tình là một trong những giá trị nổi bật, với những sáng tác đặc sắc của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Thường bộc lộ tâm tưởng của con người trước đời sống, truyện ngắn trữ tình về cơ bản là sự chủ quan hóa, nội tâm hóa cái nhìn thế giới Truyện không nặng về kể lể các sự việc mà chủ yếu thể hiện các trạng thái tâm lý của con người Sự kiện nội tâm là chất liệu cơ bản để xây dựng cốt truyện Do đó, truyện ngắn trữ tình thường không có cốt truyện Kết cấu chủ yếu theo dòng tâm lý, suy tưởng; xung đột nội tâm là điểm tựa cho cấu trúc của truyện Cả truyện thường nhẹ nhàng như một bài thơ, trong đó, mỗi đoạn truyện được thể hiện như một đoạn thơ

Thạch Lam là cây bút nổi bật nhất của dòng truyện trữ tình 1932 - 1945

với những sáng tác như Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Nhà mẹ Lê, Bóng

người xưa Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ nhận xét: “Nếu như ở truyện ngắn

Nguyễn Công Hoan, cốt truyện có phần nào lấn át nhân vật thì Thạch Lam lại

ít sử dụng những cốt truyện sự kiện giàu hành động kịch tính Một số truyện ngắn của Thạch Lam rất khó kể lại, hay nói đúng hơn, Thạch Lam nghiêng về những cốt truyện tâm lý Truyện ngắn Thạch Lam tác động sâu vào lĩnh vực

Trang 25

tâm lý, tình cảm của người đọc Ngòi bút Thạch Lam đi sâu vào thế giới bên trong của tâm hồn con người, đặc biệt là thế giới của những ấn tượng và cảm giác” [15; 34] Những thành tựu truyện ngắn trữ tình 1932 - 1945 sẽ còn được tiếp tục phát triển trong giai đoạn văn học sau

Ngoài cách phân chia cốt truyện theo hai dòng văn học nói trên, sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 còn sản sinh ra những tác phẩm mang khuynh hướng tiểu thuyết hóa Là một thể loại độc lập, truyện ngắn có khả năng ngang hàng với tiểu thuyết ở giá trị nhận thức hiện thực nhưng trong bản thân hình thức tự sự này luôn tiềm ẩn sự bứt phá khỏi khuôn khổ thể loại Mặc dù bình đẳng với tiểu thuyết ở phương thức phản ánh (sử dụng lời kể và lời miêu tả) song truyện ngắn không thể cạnh tranh được với tiểu thuyết ở quy mô tổ chức và sự đa dạng các hình thức nghệ thuật biểu hiện cuộc sống ở chiều sâu Trong khi hướng tới con người và cuộc sống trong những mối quan hệ ngày một đa chiều, phức tạp thì tính chất “một chủ đề, một tiến trình sự kiện, một biểu đạt tình thái duy nhất thống nhất trong một thời gian đối thoại ngắn” [26; 139] của thể loại này tỏ rõ những hạn chế nhất định Dung lượng tác phẩm bắt đầu giãn ra nhưng chất tiểu thuyết chỉ thực sự xuất hiện ở những truyện ngắn mang tư duy tiểu thuyết, biểu hiển rõ ở hệ thống chủ đề, cốt truyện, tính cách và những vấn đề hiện thực đặt ra trong đó… Nhìn từ góc độ cốt truyện và kết cấu, ở những tác phẩm thuộc xu hướng này, tính chất đơn tuyến và sự hữu hạn của thời gian, không gian từng bước bị phá vỡ Cốt truyện vẫn giữ lại sườn sự kiện mang tính dramatic truyền thống song dấu hiệu đa tuyến đã xen vào cùng với nghệ thuật xử lý thời gian không gian phức tạp và hiệu quả hơn Đó là trường hợp của những truyện ngắn như

Chí Phèo, Đời thừa… (Nam Cao)

Trang 26

1.1.3 Giai đoạn 1945 - 1985

Thực tế, giai đoạn văn học 1945 - 1985 có thể được chia thành các khúc đoạn nhỏ hơn, nhưng nhìn từ phương diện cốt truyện và kết cấu, sự thay đổi giữa các khúc đoạn này diễn ra không thực sự mạnh mẽ Phát triển trong bối cảnh đất nước đối đầu với hai cuộc chiến tranh và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa diễn ra chóng vánh, nhiệm vụ phục vụ cách mạng được đặt ra như một yêu cầu tiên quyết đối với văn học Đặc điểm này sẽ trực tiếp chi phối đến nội dung, cốt truyện và nghệ thuật kết cấu tác phẩm của văn xuôi tự

sự, trong đó có truyện ngắn

Những nhà văn đã thành danh với dòng truyện hiện thực phê phán giai đoạn trước như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Bùi Hiển, Kim Lân… tiếp tục sáng tác một cách sung sức Dòng văn học hiện thực, với chức năng cơ bản là phản ánh sự phong phú, sôi động của cuộc kháng chiến và những năm đầu xây dựng hòa bình, các tác giả đã tập trung khai thác những mâu thuẫn xung đột giai cấp, xung đột dân tộc, xung đột cá nhân và tập thể Giai đoạn đầu, truyện ngắn hơi giàu chất ký, cốt truyện còn đơn giản, chi tiết chưa thực sự tinh tế và chọn lọc Càng về sau, với những tác giả như Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Anh Đức… truyện ngày càng có nhiều tình huống và cấu tứ hay Nhà phê bình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Truyện ngắn giai đoạn này (1955 - 1975) tiêu biểu về tính cốt truyện, bởi lẽ cuộc sống đa dạng đã cung cấp cho nhà văn những „cốt‟ hay: Một tình

yêu của những người chưa từng biết mặt nhau (Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu); một sự thử thách tình yêu độc đáo (Chị xã đội trưởng -

Nguyễn Quang Sáng); một cuộc tái sinh nhiệm màu của lao động đối với

phẩm hạnh con người (Mùa lạc - Nguyễn Khải)… Với những cốt truyện đầy

Trang 27

kịch tính, nhà văn đã tạo nên được những truyện ngắn có độ căng của hành

động như Rừng xà nu - Nguyên Ngọc, Quán rượu người câm - Nguyễn

Quang Sáng… Đa số truyện ngắn thời kỳ này đều viết về những khoảnh khắc tiêu biểu của cuộc sống trong chiến tranh” [68;78]

Theo đó, kết cấu truyện theo hai tuyến nhân vật tỏ ra rất phù hợp để phản ánh các mâu thuẫn cơ bản của thời đại: ta và địch; nông dân và địa chủ,

cá nhân và tập thể Các truyện ngắn như Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Con

đường sống (Minh Lộc), Con chim vàng (Nguyễn Quang Sáng), Chị Nhân

(Kim Lân)… là những điển hình cho kiểu kết cấu này

Dòng truyện ngắn trữ tình với cốt truyện “không có chuyện” vẫn trở lại mạnh mẽ từ thập niên 60 với những tên tuổi như Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu, Ngọc Giao, Đỗ Chu, Nguyễn Thành Long, Ma Văn Kháng… Vẫn tiếp tục các đặc trưng của truyện trữ tình giai đoạn trước, lúc này, các tác giả chủ yếu bày tỏ cảm xúc, ấn tượng của mình trước sự đổi mới của đất nước, trước những biến chuyển của cuộc sống mới Những sáng tác nổi bật của kiểu

truyện này gồm có: Hương cỏ mật (Đỗ Chu), Lặng lẽ Sapa (Nguyễn Thành Long), Bông cẩm thạch (Nguyễn Sáng)… Thời điểm này, nhà văn Ma Văn

Kháng quan niệm: “Truyện ngắn phải có cái gì bay bay một tí, không nên mơ màng quá, mà trần trụi quá cũng không ổn” [63; 89] Cái “bay bay một tí”, theo ông là chất thơ trong văn xuôi “Không phải nằm trong vang hưởng của ngôn ngữ… mà toát ra từ khung cảnh, chất liệu, từ không khí của chung của toàn truyện, tức sự hòa hợp của các nhân tố chủ quan, khách quan” [63; 23] Chất truyện suy giảm, chất thơ được đẩy mạnh là đặc trưng nổi bật của truyện ngắn trữ tình giai đoạn 1945 - 1985

Trang 28

Dù ra đời muộn hơn thế giới, nhưng truyện ngắn, với những bước phát triển mạnh mẽ qua từng thời kỳ sẽ là tiền đề quan trọng cho sự phát triển phong phú của cốt truyện truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1986 - 2006

1.2 Những xu hướng tổ chức cốt truyện và kết cấu truyện ngắn 1986 -

2006

1.2.1 Kiểu cốt truyện chặt chẽ được kế thừa và phát triển đến đỉnh cao

Nhiều ý kiến cho rằng, đối với một tác giả truyện ngắn, cốt truyện không quan trọng như đối với một tiểu thuyết gia Nhưng thực tế, cốt truyện

có vai trò thiết yếu đối với bất cứ hình thức nghệ thuật nào bao gồm sự kể Trong văn học, cốt truyện được xác định là yếu tố đầu tiên của nghệ thuật tự

sự Cốt truyện chi phối đến nhiều yếu tố khác, ví dụ việc lựa chọn điểm nhìn, ngôi kể, quy định không gian, thời gian Nếu phân tích hệ thống sự kiện và kết cấu tác phẩm, người ta có thể rút ra công thức của một cốt truyện mẫu

mực gồm các thành phần: trình bày, thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút Ở

một phương diện nào đó, cấu trúc này gần với một vở kịch Nhà nghiên cứu người Mỹ Raymond Carver từng viết: “Truyện ngắn gần với kịch Nói rộng

ra, một chất liệu cần thiết cho truyện ngắn, đó là kịch tính Bởi lẽ, tính chất giảm thiểu đến trơ trụi của truyện ngắn đòi hỏi độ căng của kịch Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà lý luận phương Tây đã ví truyện ngắn nói chung và đặc biệt là truyện cực ngắn với những vở bi kịch cổ điển” [13; 98] Truyện ngắn hiện đại ngày nay không đòi hỏi đầy đủ 5 giai đoạn, nhưng để có một cốt truyện hoàn chỉnh thì cần ít nhất ba điều kiện: người kể, hành động kể và câu chuyện nào đó Cốt truyện gồm một hệ thống sự kiện, hành động mà trong quá trình vận động tạo nghĩa chúng hình thành nên cái khung của sự kể

Trang 29

Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 đã tạo ra được những cốt truyện chặt chẽ, cổ điển với sáng tác của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố… Ở giai đoạn 1986 - 2006, kiểu cốt truyện này tiếp tục được phát triển lên đến đỉnh cao với những sáng tạo mới mẻ Trong khuôn khổ của luận văn, tiêu biểu cho kiểu cốt truyện này, chúng tôi sẽ chỉ đề cập đến 3 trường hợp Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê và Phan Thị Vàng Anh Những tác giả khác của giai đoạn này sẽ được phân tích trong những nội dung khác

Phan Thị Vàng Anh: Trong số các cây bút văn xuôi đương đại, cô con

gái nhà thơ Chế Lan Viên tạo lập được một chất giọng riêng, rất khó bắt chước, dù chị viết giản dị, nhẹ nhàng và rất tự nhiên Truyện của Phan Thị Vàng Anh ngắn, nhỏ xinh như những bài thơ, nhưng thường được kể bằng chi tiết, sự kiện, tình huống và biến cố Với dung lượng nhỏ gọn, nhà văn không chọn kiểu cốt truyện đa tuyến, mà thường phát triển cốt truyện đơn tuyến với những phát hiện sắc sảo về chi tiết và tình huống Có thể nói, trong số các nhà văn Việt Nam sau 1986, Vàng Anh là người phát huy khá thành công kiểu truyện ngắn - kịch từng nổi tiếng với ngòi bút Nguyễn Công Hoan ở giai đoạn trước Trong các tác phẩm của mình, chị luôn tạo được những cốt truyện giàu kịch tích, khiến tác phẩm như những đợt sóng ngầm, lúc dữ dội, lúc dịu êm Thành công lớn nhất của Phan Thị Vàng Anh là qua những câu chuyện dường như rất nhỏ, rất vặt vãnh, chị đề cập đến những vấn đề sâu sắc, triết lý và đầy

suy ngẫm về cuộc đời Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà trong bài Cái mới trong

loại truyện rất ngắn đã có những nhận xét khái quát và tinh tế về truyện ngắn

của Vàng Anh: “Truyện của Vàng Anh thường rất ngắn Ngắn mà vẫn là truyện ngắn, đọc vẫn xúc động, vẫn ngầm chứa kịch tính và do đó rất có sức lôi cuốn bên trong Giọng văn Vàng Anh vừa có cái trẻ trung, vừa có cái già

Trang 30

cái lãng xẹt, vô tâm của người mới chơi đã bắt đầu thấy chán, thấy cái vô nghĩa của trò chơi… Truyện của Vàng Anh là kiểu truyện ngắn hiện đại, trước đây ít có ở Việt Nam” [75;176] Với trường hợp của Vàng Anh, chúng

tôi chọn phân tích truyện ngắn Phục thiện

Phục thiện không phải là truyện ngắn thực sự đặc sắc của Vàng Anh

Nhưng đây là tác phẩm có cốt truyện đơn tuyến khá điển hình, tiêu biểu cho

kiểu truyện nữ sinh của nhà văn Cốt truyện Phục thiện rất đơn giản, được kể

từ ngôi thứ nhất, xoay quanh nhân vật chính Thái Anh Vốn là cô nữ sinh ngổ ngáo, kiêu ngạo, khi còn ở trường X, Thái Anh thường xuyên gây lộn với bạn

bè cùng lớp Đỉnh điểm là khi cô gây sự với Dân - bí thư Đoàn và bị lưu đoàn Sau đó, nhờ sự ưu ái của bè bạn, Thái Anh không bị lưu đoàn nữa Cô quyết định sẽ chuyển sang trường mới và bắt đầu công cuộc phục thiện Với cốt truyện khá nhẹ nhàng, tác phẩm được triển khai trên chuỗi sự kiện chính như sau:

- Nhân vật tôi cãi nhau với bí thư chi đoàn - Dân

- Tôi bị lưu đoàn

- Tôi không bị lưu đoàn nhờ được bầu lại, quyết định phục thiện

- Dân gửi cho tôi một lá thư mực thước, đạo lý

- Tôi chuyển sang trường mới, bắt đầu phục thiện

- Tôi sống yên ổn ở trường mới, dịu dàng và ngoan ngoãn

- Tôi gặp lại bạn ở trường cũ - sợ lộ thói xấu của mình

- Tôi nuối tiếc không được sống thật với con người cũ

- Tôi chơi thân với Thái Hà vì cậu ta cũng ngổ ngáo như tôi

- Thái Hà lưu ban, tôi dần thoát khỏi con người cũ

Trang 31

- Cảm giác nhớ đến trường cũ, lớp cũ

Với kiểu cốt truyện đơn tuyến truyền thống, lấy nhân vật chính làm

điểm quy chiếu để hình thành hệ thống sự kiện, Phục thiện của Phan Thị

Vàng Anh là một mẫu hình khá tiêu biểu cho một lối viết của truyện ngắn đương đại: từ một dung lượng nhỏ, có thể khắc họa rõ nét tính cách nhân vật chính thông qua hệ thống chi tiết có sức biểu hiện rõ nét

Từ chuỗi sự kiện như đã phân tích, có thể thấy, Phục thiện được kết cấu

theo trật tự thời gian tuyến tính Truyện ngắn Vàng Anh vốn không quá phức tạp về mặt kết cấu Ngoài một số truyện được trình bày theo dòng chảy thời

gian (như Phục thiện, Kịch câm, Cha tôi, Bản lĩnh đàn ông…), trong những

cốt truyện đơn tuyến, thỉnh thoảng chị đảo chiều, kể chuyện dựa vào dòng hồi

cố của nhân vật (Khi người ta trẻ, Chuyện hồng…)

Lê Minh Khuê: Là một trong những nhà văn chung thủy với truyện

ngắn, Lê Minh Khuê đã có nhiều thể nghiệm và cách tân với thể loại này Với

những tập truyện như Cao điểm mùa hạ (1978), Đoạn kết (1980), Một chiều

xa thành phố (1986), Bi kịch nhỏ (1993), Trong làn gió heo may (1999), Màu xanh man trá (2005)… chị thể hiện thành công cách nhìn mới về hiện thực và

cuộc sống con người Từ cảm hứng sử thi chuyển sang góc nhìn thế sự, đời

tư, Lê Minh Khuê đã nhận ra con người tồn tại với tư cách cá nhân, cá thể; con người có những số phận, nỗi niềm riêng Viết từ chiến tranh ra đến thời bình, mỗi một chặng đường truyện ngắn của Lê Minh Khuê đều được đánh

dấu bằng những đỉnh cao Cao điểm mùa hạ khẳng định tên tuổi Lê Minh Khuê trên văn đàn; Một chiều xa thành phố - Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987; truyện ngắn Bi kịch nhỏ (tên ban đầu là Thảm kịch nhỏ) - đoạt giải thưởng truyện ngắn hay Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1991;

Trang 32

Trong làn gió heo may - Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2000; và

gần đây nhất, tuyển tập truyện ngắn Những ngôi sao, trái đất, dòng sông của

chị đoạt giải thưởng văn học quốc tế mang tên văn hào Byeong-ju Lee…

Viết rất đa dạng về đề tài và rất đều tay qua nhiều giai đoạn khác nhau,

Lê Minh Khuê là nhà văn biết xây dựng nhân vật sắc sảo, chọn lọc chi tiết sắc nét, tổ chức câu chuyện chặt chẽ… Những phẩm chất trên thường chỉ có được

ở những truyện ngắn có dung lượng khá dài, có cốt truyện được tổ chức công phu Truyện của Lê Minh Khuê là những tác phẩm có chuyện để kể, thậm chí

là nhiều chuyện đan xen vào nhau Nếu ở giai đoạn 1930 - 1945, Nam Cao từng tạo ra được những truyện ngắn đa thanh, đa tuyến, mang dáng dấp tiểu thuyết thì thời kỳ này, Lê Minh Khuê cũng tạo được những thành công tương

tự với những truyện ngắn nhiều mạch truyện tràn vào nhau Bi kịch nhỏ - một

truyện ngắn nổi tiếng của chị - là tác phẩm tiêu biểu cho sự thành công của

những cốt truyện chặt chẽ, đa tuyến Nếu chỉ kể lại câu chuyện, cốt truyện Bi

kịch nhỏ có thể tóm gọn lại như sau: Ông Tuyên vốn là một thanh niên làng

Sầm đỗ tú tài rồi ra tỉnh làm quan Tại đây, ông cưới một tiểu thư khuê các con nhà dòng dõi rồi đưa về làng sinh sống Cách mạng nổ ra, ông Tuyên tham gia cướp chính quyền, lo sợ ảnh hưởng đến thành phần bản thân, ông bỏ mặc người vợ bụng mang dạ chửa trong cơn đấu tố ở làng để “lặn thật sâu” Người vợ đẻ ra đứa con trai rồi chết Trước khi chết, bà giao con cho một người họ hàng đưa đi biệt xứ Đứa con (Quang) về sau lưu lạc sang Pháp Ông Tuyên thản nhiên lấy vợ mới và sinh ra một đứa con gái tên là Cay Số phận run rủi, Quang và Cay yêu nhau mà không hề biết họ là anh em cùng cha khác mẹ Ông Tuyên phát hiện ra sự thật và nói cho Quang biết Quá đau khổ, Quang đã tự vẫn để giải thoát cho tất cả mọi người…

Trang 33

Nhưng để kiến tạo nên một câu chuyện hấp dẫn, khác hẳn những bi kịch từng xảy ra trong thời kỳ loạn lạc của dân tộc, Lê Minh Khuê đã tổ chức tác phẩm thành 3 mạch truyện, với ngồn ngộn chi tiết và sự kiện Kèm theo cốt truyện 3 mạch là cách kết cấu tác phẩm đầy biến hóa Bắt đầu từ thời gian hiện tại, với mạch truyện thứ nhất là chuyến đi công tác viết báo của nhân vật tôi, nhà văn khéo léo hé lộ những manh mối ban đầu của mạch truyện thứ hai

- Cuộc đời ông Tuyên - với dòng thời gian ngược về quá khứ Từ quá khứ, nhà văn lại trở về hiện tại với câu chuyện đám cưới của người chị họ, hé lộ bi kịch của mạch truyện thứ ba - Quang và Cay Dưới đây là sự mô hình hóa cách kiến trúc truyện ngắn của nhà văn:

Trang 34

Hệ thống sự kiện Mạch truyện

- Một thanh niên giết cha ở huyện V

- Tôi về huyện V điều tra, viết báo

- Nhận được thư bác Tuyên về đám cưới chị Cay Chuyến công tác của tôi

- Nghe đám phóng viên kể chuyện xấu về bác Tuyên

- Ngỡ ngàng vì kẻ giết cha không hề hối hận

Tượng

- Ông cưới tiểu thư con nhà dòng dõi

- Ông tham gia chính quyền khi bà Tuyên mang thai cu Tị

- Bỏ mặc vợ con bị đấu tố ở quê nhà

- Bà Tuyên chết, giao Tị (Quang) và một bức ảnh cho bà Hàn Cuộc đời ông Tuyên

- Bà Hàn và con nuôi lưu lạc sang Pháp

- Ông Tuyên thành quan to

- Ông cưới vợ và sinh ra cô con gái tên Cay

- Quang và Cay yêu nhau

- Cay vốn là tiểu thư con nhà giàu, sống cuộc đời sung sướng

- Cay lấy một tay kỹ sư “đào mỏ”

- Cay bỏ anh chồng kỹ sư

- Yêu Quang – một Việt kiều mang quốc tịch Pháp

- Quang và Cay đến thăm nhân vật tôi

- Quang cho tôi xem bức ảnh của tôi thời nhỏ

- Quang biết sự thật, anh là anh trai của Cay

- Quang lặng lẽ ra đi không từ biệt người yêu

- Quang tự tử

Như đã thể hiện ở mô hình trên, ba mạch truyện của tác phẩm liên hệ chặt chẽ với nhau Mạch truyện thứ hai có quan hệ nhân quả với mạch truyện thứ nhất, là sự lý giải sâu sắc cho tấn bi kịch ở hiện tại Mối tình cay nghiệt của Quang và Cay là sự trả giá cho những hành động vô đạo mà bố họ đã

Trang 35

phạm phải thời tuổi trẻ Nếu không vì danh vọng cá nhân để mặc vợ chết tức tưởi và con trai phải lưu lạc, ông Tuyên đã không phải sững sờ chứng kiến cảnh hai đứa con ruột của mình yêu nhau Kết thúc truyện, với cái chết của Quang, nhà văn có điều kiện khám phá tối đa ý nghĩa của bi kịch và nhìn số phận con người từ nhiều góc độ Chỉ với hai mạch truyện đó, cũng đã đủ tạo thành một truyện ngắn dày dặn Nhưng Lê Minh Khuê vẫn lồng tiếp vào câu chuyện mạch truyện thứ nhất về một gã thanh niên giết cha Mối liên hệ này tạo ra ý nghĩa biểu trưng, đưa lại trường nghĩa rộng hơn cho tác phẩm Nó khiến người đọc nghĩ đến mô hình tội ác và trừng phạt đã khá phổ biến trong văn học phương Tây Do vậy, truyện ngắn không chỉ là một “chốc lát” mà là

sự chiếm lĩnh cuộc sống một cách toàn vẹn, khái quát hiện thực rộng lớn, lý giải hiện thực sâu sắc

Với mục tiêu phản ánh và khám phá những mảng đa dạng và đầy biến động của cuộc sống, gây ấn tượng sâu đậm về sự thăng trầm của số phận con người, Lê Minh Khuê đã có nhiều đổi mới trong việc kiến tạo cốt truyện và kết cấu Đó là sự triển khai cốt truyện chặt chẽ, đan xen nhiều mạch, có xu

hướng tiểu thuyết hóa Ngoài Bi kịch nhỏ, có thể thấy rõ những đặc điểm này qua các tác phẩm khác của chị như: Anh lính Tony D., Đồng đô la vĩ đại…

Nguyễn Huy Thiệp: Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Huy

Thiệp chỉ viết chừng hơn 50 truyện ngắn Tuyển tập những tác phẩm này vừa

được in lại đầy đủ trong cuốn Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng chỉ vừa

đủ dày dặn do Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn ấn hành năm 2006 Chỉ với chừng ấy thôi, Nguyễn Huy Thiệp đã là một trong những tác gia truyện ngắn đương đại xuất sắc của Việt Nam Nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc đánh giá:

“Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trong trào lưu Đổi mới của Việt Nam, là một

Trang 36

hiện tượng tiêu biểu nhất của trào lưu đó Tuy nhiên, trong khi văn học Đổi mới đang hăng hái làm công việc phơi bày, tố cáo những hiện tượng xã hội phức tạp thì Nguyễn Huy Thiệp không lao vào dòng chảy chung đó Anh đi theo một con đường khác: rất sớm, từ nhiều góc độ khác nhau, đa dạng lắm lúc đến khiến ta kinh ngạc, khi trực tiếp, khi qua nhiều khúc xạ phong phú, khi quyết liệt, dữ dằn, thậm chí trắng trợn, khi đằm thắm và đầy chất thơ, anh

cố lần ngược lên cho đến ngọn nguồn của những hiện tượng xã hội ấy, gợi ra những căn nguyên tiềm ẩn lâu dài Anh đưa văn học hiện đại Việt Nam đến một bước chuyển rất quan trọng: một nền văn học có ý thức mạnh mẽ làm chức năng là tấm gương tự soi mình của dân tộc, và của con người” [44; 8] Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp hấp dẫn bởi nhiều yếu tố, trong đó không thể không tính đến cốt truyện Điều này giải thích vì sao, nhiều truyện ngắn của ông được chuyển thể thành phim và kịch bản sân khấu Truyện của Nguyễn Huy Thiệp, ngay cả những truyện ngắn luận đề thì đều có một cái cốt rõ ràng, tóm tắt được, kể được

Hệ thống sự kiện, tình huống làm nên cốt truyện truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thường rất phong phú, ngồn ngộn Trong mỗi một sự kiện, nhà văn lại để chi tiết chồng lên chi tiết Thứ văn đầy rẫy chi tiết, sự kiện của ông khiến người đọc không bao giờ thấy tẻ nhạt Tính mẫu mực trong các cốt truyện của Nguyễn Huy Thiệp biểu hiển rõ nét ở những yếu tố sau: Cốt truyện được xây dựng dựa vào hệ thống sự kiện; biến cố giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cốt truyện phát triển và kết thúc tác phẩm thường rất bất ngờ Trong đó, sự kiện là những việc có tác động và ảnh hưởng đáng kể đến số phận và tính cách nhân vật còn biến cố là những sự kiện lớn, có thể tạo thành những bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời nhân vật Dù thế nào đi nữa, sự

Trang 37

phần vẫn do các biến cố của sự việc đem lại Truyện ngắn sẽ bằng phẳng và đơn điệu nếu tác giả của nó chỉ chăm chú tái hiện sự việc hoặc không tạo cho

sự việc tính chất có biến cố Truyện của Nguyễn Huy Thiệp không chỉ giàu sự kiện, mà các sự kiện của ông không đều đều, không ngang hàng như nhau, ông thường tập trung vào vài ba sự kiện lớn, nhấn nhá vào đó, đẩy lên thành biến cố, tạo tính kịch và cao trào cho cốt truyện và sức hấp dẫn cho tác phẩm

Tướng về hưu - một truyện ngắn tiên phong của văn học thời kỳ Đổi mới - là

một minh chứng rõ nét cho lối kể chuyện này

Tướng về hưu là câu chuyện về ông Thuấn - một vị thiếu tướng về hưu

Tuy làm chỉ huy trong thời chiến nhưng ở thời bình, ông không điều khiển được cuộc sống của chính mình Trở thành con rối trong tay cô con dâu thực dụng, chán nản vì người con trai hèn nhát, đau đớn trước cái chết của vợ và cảm thấy lạc lõng trong cuộc sống đời thường, vị tướng về hưu quyết định trở lại đơn vị Không lâu sau, con cái ông nhận được tin báo, ông hy sinh trong khi làm nhiệm vụ Với diễn biến dường như quá đơn giản, nhiều người còn

cho rằng, Tướng về hưu không có cốt truyện Nhưng qua phân tích hệ thống

sự kiện và biến cố, chúng tôi nhận thấy, đây là một tác phẩm được tổ chức một cách mạch lạc, các chi tiết đều liên hệ chặt chẽ với nhau, chi tiết trước làm tiền đề cho sự xuất hiện của chi tiết sau, nói như văn hào Nga Chekhov thì: “Nếu ở cảnh trước, anh miêu tả một khẩu súng, thì ở cảnh sau, khẩu súng

đó phải phát nổ” [13; 67]

Cốt truyện Tướng về hưu được xây dựng dựa trên hệ thống sự kiện sau:

- Bố Thuấn lấy vợ hai, không sống nổi với dì ghẻ, Thuấn đi bộ đội

- Thuấn về làng lấy vợ

Trang 38

- Không hòa hợp được với con cháu trong nhà

- Lạc lõng khi được mời làm chủ hôn cho cháu - con trai ông Bổng

- Bàng hoàng khi nhìn thấy con dâu nấu hài nhi chết cho chó ăn

- Vợ ông Thuấn mất

- Cô đơn trong đám tang của vợ

- Đồng đội cũ về viếng vợ ông Thuấn

- Bất lực khi chứng kiến con dâu thân mật với gã hàng xóm

- Ông Thuấn về thăm đơn vị

- Ông Thuấn chết một cách bí hiểm

Với một truyện có dung lượng không dài, Nguyễn Huy Thiệp đã phủ lên trang viết chuỗi sự kiện khá dày đặc Chuỗi sự kiện này chính là đường ray để trượt trên đó là cách kể chuyện lạnh lùng đầy mê hoặc của nhà văn Chúng tôi coi những sự kiện được in đậm chính là các biến cố giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cốt truyện phát triển Như vậy, trên chuỗi sự kiện, Nguyễn Huy Thiệp đã khéo léo tạo nên điểm nhấn: Năm 70 tuổi, ông Thuấn về hưu với hàm Thiếu tướng - mở đầu bi kịch của ông tướng về hưu; Bàng hoàng khi nhìn thấy con dâu nấu hài nhi chết cho chó ăn - bi kịch phát triển; Vợ ông Thuấn mất - đỉnh điểm của bi kịch về sự lạc lõng giữa cuộc đời; Ông Thuấn chết một cách bí hiểm - bi kịch được giải quyết một cách đường đột

Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thường có kết thúc đầy bất ngờ

Tướng về hưu cũng không phải là ngoại lệ Kết cục dành cho ông Thuấn đủ

không rành mạch để tạo nên dư ba cần thiết cho một truyện ngắn Nhìn từ các

Trang 39

phẩm này Truyện vừa được kết cấu theo nhiều chiều thời gian, quá khứ đan xen với hiện tại, vừa được tổ chức dựa trên các mạch truyện riêng biệt Bên cạnh mạch truyện chính về ông Thuấn, tác giả còn xây dựng những dòng truyện riêng về cuộc sống vợ chồng con trai ông Thuấn, về những người giúp việc trong gia đình ông

Có thể thấy, cùng một kiểu cốt truyện có chuyện, giàu sự kiện, chi tiết nhưng nếu ở giai đoạn 1932 - 1945 thường phổ biến lối kết cấu theo trình tự thời gian thì ở giai đoạn này, người ta đã thấy sự phong phú của các hình thức kết cấu cũng như cách tổ chức cốt truyện Như vậy, với cách phát triển những cốt truyện chặt chẽ, truyện ngắn Việt Nam 1986 - 2006 đã có những tác phẩm thực sự mẫu mực, mở rộng dung lượng hạn hẹp của thể loại này Ngoài Phan Thị Vàng Anh, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, đóng góp cho sự phát triển của kiểu cốt truyện và kết cấu này, còn có những cây bút như Hồ Anh Thái, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Ma Văn Kháng… Đó là một trong những nguyên nhân khiến cho truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1986 - 2006 trở thành một trong những thể loại chủ đạo của văn học Việt Nam 20 năm qua

1.2.2 Cốt truyện tâm lý được sử dụng phổ biến

Nếu như ở những truyện ngắn có cốt truyện truyền thống, hệ thống sự

kiện là cốt lõi của tác phẩm thì ở những truyện ngắn có cốt truyện tâm lý, truyện thường có cốt truyện lỏng, chất truyện mờ nhạt, phân tích nội tâm trở thành phương tiện nghệ thuật chủ yếu trong cách thức xây dựng cốt truyện Thay vì các sự kiện được tạo thành bởi một chuỗi liên kết là dòng

chảy bất định của tâm trạng Các nhà văn không đi sâu vào những sự kiện của đời sống hằng ngày mà quan tâm tới sự kiện trong tâm hồn nhân vật Đó là những cảm xúc, suy nghĩ, trăn trở, niềm hy vọng, sự tuyệt vọng, nỗi đau Với

Trang 40

kiểu cốt truyện này, các tác giả hướng tới miêu tả, phân tích diễn biến tâm lý nhân vật với tham vọng khám phá bí ẩn trong tâm hồn con người ở chiều sâu

vô thức, tâm linh

Cốt truyện tâm lý được sử dụng khá phổ biến trong truyện ngắn Việt Nam 1986 - 2006, từ thế hệ của Ma Văn Kháng, Lê Minh Khuê đến Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ đến các tác giả trẻ đầu thế kỷ 20 Trong dòng chảy hối hả của cuộc sống, truyện của họ có khi chỉ là một chút cảm xúc ghi vội, một mẩu tâm trạng được tãi ra trên trang giấy Có những lúc, truyện của họ như không đầu không cuối, nhưng lại rất phù hợp với sự khao khát một vài phút đối diện với thế giới nội tâm của con người hiện đại ngày nay

Có thể chỉ là ngẫu nhiên, nhưng dường như kiểu truyện tâm lý khá phù hợp với các tác giả nữ Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Lý Lan đều ít nhiều thành công với loại truyện này Truyện của Y Ban thường ít hành động, xung đột lớn nhưng lại rất phong phú những nỗi niềm và tâm sự thầm kín Chị cứ như một người đàn bà ưa buôn chuyện, ngồi trước trang giấy

là thủ thỉ kể hết những suy nghĩ, trăn trở của mình về cuộc sống Với cốt truyện tâm lý, giọng kể của người trần thuật như một thứ ma lực, lấn lướt cả

chi tiết, sự kiện để hấp dẫn người đọc Trong Người đàn bà có ma lực, Y Ban

kể về những cuộc tình đã qua của một người phụ nữ đầy khắc khoải về những

xúc cảm yêu và được yêu Ước mơ của cô bán hàng rong lại là tâm trạng của

người phụ nữ nghèo với những khó khăn chồng chất trong cuộc sống - một

câu chuyện mang nhiều chất tự truyện về cuộc đời nhà văn Sau chớp là giông

bão, Hai mươi bảy bước là lên thiên đàng, Người đàn bà và những giấc mơ là

những day dứt của người phụ nữ muốn ngoại tình nhưng luôn dằn vặt đấu

tranh giữa bản năng và bổn phận Bức thư gửi mẹ Âu Cơ lại là câu chuyện

Ngày đăng: 31/03/2015, 15:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w