các vấn đề thi pháp của văn xuôi sau 1986, song các bài viết gần đây đã nhấn mạnh vào một số biến đổi về hình thức biểu đạt của tác phẩm như: Sự suy giảm vai trò cốt tr[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
LƯU THỊ THU HÀ
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT
NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY NHÌN TỪ GÓC ĐỘ HÌNH THỨC THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Hà Nội - 2008
Trang 2MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined
1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined
2 Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ đề tài Error! Bookmark not defined 2.1 Phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2 Nhiệm vụ của đề tài Error! Bookmark not defined
3 Lịch sử vấn đề Error! Bookmark not defined 3.1 Tình hình nghiên cứu khái quát về văn học 1986 - 2006 Error!
Bookmark not defined.
3.2 Tình hình nghiên cứu truyện ngắn 1986 - 2006 Error! Bookmark not
CHƯƠNG 1: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU Error!
Bookmark not defined
1.1 Sự vận động của cốt truyện và kết cấu truyện ngắn trước 1986 Error!
Bookmark not defined.
1.1.1 Giai đoạn trước 1932 Error! Bookmark not defined 1.1.2 Giai đoạn 1932 - 1945 Error! Bookmark not defined
Trang 31.1.3 Giai đoạn 1945 - 1985 Error! Bookmark not defined
1.2 Những xu hướng tổ chức cốt truyện và kết cấu truyện ngắn 1986 - 2006
Error! Bookmark not defined
1.2.1 Kiểu cốt truyện chặt chẽ được kế thừa và phát triển đến đỉnh cao
Error! Bookmark not defined 1.2.2 Cốt truyện tâm lý được sử dụng phổ biến Error! Bookmark not
defined.
2.2.3 Cốt truyện phân rã, vai trò của tình huống được đẩy mạnh Error!
Bookmark not defined.
CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT Error! Bookmark
not defined
2.1 Một số mẫu nhân vật nổi bật Error! Bookmark not defined
2.1.1 Con người cô đơn Error! Bookmark not defined
2.1.2 Con người giả cổ tích, giả huyền thoại, giả lịch sử Error!
Bookmark not defined.
2.2 Những đóng góp mới về nghệ thuật xây dựng nhân vật Error! Bookmark
Trang 4CHƯƠNG 3: ĐỔI MỚI VỀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT Error!
Bookmark not defined
3.1 Sự đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật Error! Bookmark not defined 3.2 Những biến đổi về ngôn ngữ trần thuật Error! Bookmark not defined 3.2.1 Ngôn ngữ trần thuật mang tính hiện thực - đời thường Error!
Bookmark not defined.
3.2.2 Ngôn ngữ giàu tính thông tin, nhịp điệu trần thuật nhanh Error!
Bookmark not defined.
3.3 Sự vận dụng các hình thức và giọng điệu trần thuật Error! Bookmark not
defined.
3.3.1 Ảnh hưởng của người trần thuật ngày càng bị thu hẹp Error!
Bookmark not defined.
3.3.2 Tính chất phức điệu của giọng trần thuật Error! Bookmark not
Trang 5quyết định đến vận mệnh của cả dân tộc cũng như hạnh phúc của mỗi cá nhân Có một mảng sáng tác lớn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 -
1975 ghi lại lịch sử chiến tranh oai hùng và vinh quang của đất nước Bước sang thời bình, sự thay đổi của điều kiện sống khiến cho thị hiếu thẩm mỹ của người đọc cũng có những biến chuyển lớn Cuộc sống thực tại đã nhắc nhủ con người về những phương diện của đời sống sinh hoạt, đời sống văn hóa, văn minh vẫn âm thầm trôi chảy cùng công cuộc chống ngoại xâm, giữ nước của dân tộc Họ không rũ bỏ, nhưng đã bắt đầu xếp chiến tranh vào ký ức Thay cho tâm thế đấu tranh vì quyền lợi của cả cộng đồng, cả dân tộc, họ quan tâm hơn đến cuộc đấu tranh với cái khốn khó của đời sống thường ngày Thay vì dõi theo cục diện thế giới, họ hứng thú hơn với những mối quan hệ cá nhân, với những câu chuyện gần gũi xảy ra xung quanh mình Kết thúc chiến tranh, văn học cũng không còn lý do để chỉ chăm chắm phục vụ những mục đích cách mạng Với bối cảnh lịch sử mới và những đổi thay về nhu cầu của người đọc, văn học, với tư cách là một hình thức phản ánh hiện thực, tất yếu phải đối mới Nhà văn tất yếu không thể viết theo lối cũ
Cơ hội chuyển mình của loại hình nghệ thuật ngôn từ được tiếp sức nhờ công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào năm 1986 Không chỉ ý thức văn học được cởi trói, bản thân nhà văn cũng nỗ lực cởi trói cho chính mình Sự cởi mở nhiều chiều đã mang đến biến chuyển lớn lao về
tư duy Là một bộ phận của nền nghệ thuật phát triển trong bối cảnh cuộc sống thời bình, văn học Việt Nam sau 1986 phản ánh hiện thực theo cách nhìn mới, quan niệm mới Không chỉ mở rộng đề tài theo hướng tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực đời sống sinh hoạt, đời sống văn hóa, quan điểm của các nhà văn về một số vấn đề của lịch sử Việt Nam cũng mang những sắc thái thẩm mỹ mới Cảm hứng sử thi của giai đoạn trước được thay thế bằng cảm
Trang 6hứng đời tư - thế sự Xu hướng ngợi ca được thay thế bằng cái nhìn phê phán hiện thực Thói quen nhìn cuộc sống ở khía cạnh lạc quan, tươi đẹp được thay bằng sự khai thác trực diện những tồn đọng của xã hội, những khát vọng của đời sống cá nhân con người Văn học giai đoạn này vì thế đa giọng điệu, đa sắc màu và gây nhiều tranh cãi hơn
Với đặc thù là một thể loại nhỏ gọn và cơ động, truyện ngắn bắt nhịp rất nhanh với những biến chuyển của đời sống Tuy không phải là thể loại chủ chốt của nền văn học, nhưng với thế mạnh của một loại hình tự sự, truyện ngắn nhanh nhạy len lỏi vào mọi ngóc ngách của xã hội, phản chiếu cuộc sống trong từng mảnh ghép nhỏ Nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc nhận xét:
“Đây có thể coi là một thời kỳ có nhiều truyện ngắn hay trong văn học Việt Nam, tiếp theo „vụ được mùa truyện ngắn‟ những năm 1960 và một vụ mùa khác, trong chiến tranh Tuy nhiên, truyện ngắn lần này có những khác biệt rõ rệt Những năm 1960 từng để lại nhiều truyện ngắn đẹp như thơ, trong veo, trữ tình Truyện ngắn thời chiến tranh thì vạm vỡ, chắc chắn Đặc điểm nổi bật lần này là cầm cái truyện ngắn trong tay có thể cảm thấy cái dung lượng của nó nặng trĩu Có những truyện ngắn, chỉ mươi mười trang thôi, mà sức nặng có vẻ còn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên” [44; 7]
Như vậy, truyện ngắn giai đoạn từ 1986 đến nay đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành diện mạo nền văn học Việt Nam đương đại Chính
vì vậy, chúng tôi hướng tới truyện ngắn khi triển khai luận văn này như một cách tiếp cận với một giai đoạn văn học đặc biệt sôi động từ thể loại được đánh giá là năng động và tích cực nhất
Với tên gọi Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay,
nhìn từ góc độ hình thức thể loại, luận văn tập trung nghiên cứu về những
Trang 7biến chuyển hình thức thể loại, bởi sự vận động của thể loại bộc lộ quan điểm thẩm mỹ, tư duy nghệ thuật của mỗi thời kỳ Mikhail Bakhtin cho rằng:
“Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trường phái, trào lưu chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba” [9; 5]
2 Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ đề tài
2.1 Phạm vi nghiên cứu
Từ mốc khởi đầu mang tính chất tương đối - 1986, luận văn sẽ dừng lại
ở những tác phẩm ra đời trước 2006 Trong vòng 20 năm phát triển, truyện ngắn Việt Nam đã đi được những bước dài với số lượng tác phẩm đồ sộ Hàng trăm tuyển tập truyện ngắn, được tập hợp theo những hệ tiêu chí khác nhau,
đã ra đời Với khuôn khổ hạn chế của luận văn thạc sĩ, chúng tôi không có điều kiện khảo sát mọi tác phẩm, vì vậy đề tài sẽ khoanh vùng vào những tuyển tập tiêu biểu như:
- Văn mới 5 năm đầu thế kỷ, NXB Hội Nhà văn, 2005
- Văn mới 2004 - 2005, NXB Hội Nhà văn, 2005
- Văn mới 2005 - 2006, NXB Hội Nhà văn, 2006
- Những tuyển tập truyện ngắn của các cây bút tiêu biểu cho giai đoạn này như: Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Phan Thị Vàng Anh…
- Những truyện ngắn được giải thưởng các cuộc thi uy tín do Báo Văn
Nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức
… và một số tác phẩm riêng lẻ khác
Trang 8Do hạn chế về tư liệu, chúng tôi chưa có điều kiện khảo sát mảng truyện ngắn Việt Nam ở hải ngoại giai đoạn 1986 - 2006 Đây là mảng truyện
ra đời trong bối cảnh lịch sử xã hội khác hẳn với phạm vi chúng tôi sẽ đề cập
ở trên Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất về đối tượng nghiên cứu, chúng tôi
sẽ bàn đến đến phần truyện này trong một công trình khác
2.2 Nhiệm vụ của đề tài
- Cung cấp cái nhìn tổng quan về sự vận động và biến đổi của truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở phương diện hình thức thể loại
- Tìm hiểu sự vận động và phát triển của truyện ngắn 1986 - 2006 về hình thức thể loại qua việc tập hợp, hệ thống hóa và phân tích tác phẩm
- Khát quát những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1986 - 2006 trên những phương diện chủ yếu như: Cốt truyện - kết cấu, Nghệ thuật xây dựng nhân vật, Ngôn ngữ và giọng điệu…
Đạt được những mục đích trên, luận văn sẽ có ý nghĩa như một cách nhìn bổ sung vào những đánh giá, nhận định về một giai đoạn văn học đang vận động và gây nhiều tranh cãi Đồng thời, luận văn sẽ là tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến truyện ngắn đương đại Việt Nam
3 Lịch sử vấn đề
Là giai đoạn có nội lực và tiềm năng, văn học Việt Nam 1986 - 2006 thu hút sự quan tâm của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu, nhà văn và độc giả Trong đó, truyện ngắn được đánh giá là một trong những thể loại chủ đạo của đời sống văn học thời kỳ Đổi mới Tuy nhiên, do đây là một giai đoạn văn học chưa ổn định nên chúng ta chưa có nhiều những công trình khái quát, đánh giá một cách toàn diện những đặc điểm của 20 năm phát triển này so với
Trang 9các giai đoạn trước Liên quan tới đề tài, chúng tôi tổng kết một số thành tựu của những người đi trước trên những nét lớn như sau:
3.1 Tình hình nghiên cứu khái quát về văn học 1986 - 2006
* Các công trình nổi bật:
- Chuyên luận 50 năm Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng 8 -
NXB Đại học Quốc gia, 1996 với những bài viết quan trọng:
Tiểu thuyết về chiến tranh - mấy ý nghĩ góp bàn - Lê Thành Nghị Những biến đổi trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết sau 1975 - Bùi Việt
Thắng
Mấy nhận xét về nhân vật văn xuôi Việt Nam sau 1975 - Nguyễn Thị
Bình
- Chuyên luận Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định -
Vũ Tuấn Anh, NXB Khoa học Xã hội, 2001
- Luận án tiến sĩ Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự - Lê
Thị Tuyết Hạnh, 1997
- Luận án tiến sĩ Những dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi nghệ thuật từ
1980 - 1986 - Nguyễn Thị Huệ, 2000
- Hội thảo Quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa
khu vực và quốc tế - Viện Văn học Việt Nam tổ chức
- Thảo luận về Truyện ngắn hôm nay - Báo Văn Nghệ số 11/1991
- Tiểu luận Văn học quá độ - khái quát văn học Việt Nam thời đổi mới -
tác giả Dana Healy
* Những nhận định chung:
Trang 10- Sự đổi mới quan niệm và ý thức nghệ thuật của văn học sau 1986
được đánh giá là nhân tố đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng chi phối đến mọi thể loại, trong đó có truyện ngắn Các tác giả Vũ Tuấn Anh, Nguyễn
Thị Bình, Nguyễn Thị Huệ khẳng định, văn học đương đại phát triển theo xu hướng dân chủ hóa, có ý nghĩa bổ sung, hoàn thiện những quan niệm hiện
thực về con người cho văn học giai đoạn trước Trong chuyên luận Văn học
Việt Nam hiện đại - Nhận thức và thẩm định, tác giả Vũ Tuấn Anh viết: “Nếu
như cách nhìn sử thi là thích hợp cho việc thể hiện tầm rộng lớn của những vấn đề lịch sử xã hội và cộng đồng thì cách nhìn tiểu thuyết là cái nhìn tập trung, xoáy sâu vào những vấn đề của con người cá nhân cũng như mối quan
hệ cá nhân - xã hội trên hành trình tìm kiếm và khẳng định giá trị nhân văn” [3; 54] Sự chuyển biến ấy, theo các nhà nghiên cứu, xuất phát từ nguyên nhân khách quan là không khí dân chủ của công cuộc Đổi mới và nguyên nhân chủ quan là cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Cái nhìn của nhà văn trong khi phản ánh hiện thực không còn bị ảnh hưởng bởi ý thức cộng đồng
mà phụ thuộc vào ý thức cá nhân “Tác giả xuất phát từ kinh nghiệm bản thân, thể nghiệm bản thân chứ không phải thể nghiệm cộng đồng” [63; 6], Nguyên Ngọc viết
Chia sẻ cách nhìn này, tác giả Nguyễn Thị Bình trong bài viết Mấy
nhận xét về nhân vật văn xuôi Việt Nam sau 1975 cũng khẳng định: “Văn
xuôi sau 1975 phát triển trong bối cảnh đất nước chuyển đổi kinh tế, giao lưu văn hóa nhiều chiều Ý thức cá nhân được sự cổ vũ của cơ chế thị trường trỗi dậy mạnh mẽ Nhu cầu thức tỉnh gắn liền với cảm hứng khám phá, nghiền ngẫm hiện thực, nhu cầu công bố tư tưởng riêng trong thái độ nhập cuộc của nhà văn…” [11; 67]
Trang 11Từ bối cảnh lịch sử đó, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những đặc điểm kế thừa và khác biệt của giai đoạn văn học này so với các giai đoạn trước Trong
tiểu luận Văn học quá độ - khái quát văn học Việt Nam thời đổi mới, tác giả
Dana Healy, giảng viên tiếng Việt tại Trường nghiên cứu phương Đông và châu Phi, Đại học London đánh giá: “Một trong những đặc điểm đáng chú ý nhất của nhiều tác phẩm hiện đại là mức độ phê phán cao đối với cuộc sống thường ngày Sau nhiều năm tụng ca hiện thực, nhiều năm ca ngợi và tự ca ngợi, cũng như hô hào một thứ lạc quan phi lý, các nhà văn bây giờ đã vứt bỏ bức tranh lý tưởng hóa hiện thực và đưa ra một cái nhìn điềm đạm hơn về cuộc sống” [24; 8]
Trong bài viết Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới tại cuộc Hội thảo quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và
quốc tế, nhà lý luận Lê Ngọc Trà nêu ra 3 đặc điểm của văn học sau 1986
Đặc điểm nổi bật, theo ông là tính chất phê phán “Nếu trước đây nhân vật
chính của các tác phẩm hầu hết là người tốt, là nhân vật chính diện, thì bây giờ, ngược lại, trong nhiều tác phẩm các nhân vật chính thường là nhân vật tiêu cực, giả dối, làm ăn phi pháp, thấp kém về đạo đức Và một khi các nhân vật chính đã như vậy thì dĩ nhiên cảm hứng chủ đạo của tác phẩm cũng thay đổi: nhiệt tình ca ngợi, khẳng định được thay thế bằng sự phê phán, châm
biếm” [73; 21] Đặc điểm thứ hai là tinh thần phân tích xã hội và sự chiêm
nghiệm lại lịch sử “Những năm hòa bình sau 1975 và tiếp theo là phong trào
đổi mới đã tạo ra cơ sở xã hội để các nhà văn nghĩ lại về công việc sáng tác của mình Giờ đây nhu cầu ghi chép, phản ánh hiện thực theo kiểu trước đây không còn đặt ra cấp bách như trong những năm chiến tranh Cuộc sống cũng
đã bộc lộ những mặt phức tạp mà những lời giải thích đơn giản, công thức không còn thuyết phục nữa Mỗi người cầm bút cũng nhận ra rằng sức mạnh
Trang 12của tác phẩm văn học không chỉ nằm ở khối lượng hiện thực được ghi chép, phản ánh mà còn phụ thuộc vào sự nghiền ngẫm của nhà văn, vào chiều sâu của những tư tưởng, tình cảm mà anh ta gửi gắm trong đó Trên bối cảnh ấy
đã xuất hiện hàng loạt tác phẩm không chỉ ghi chép các tính cách, các sự kiện
mà còn soi sáng chúng dưới nhiều góc độ khác nhau” [73; 22] Đặc điểm thứ
ba là sự trở lại với đời thường, với số phận riêng “Sự trở lại này hoàn toàn tất
yếu, bởi vì trước đây, trong giai đoạn 1930 - 1945 nhiều nhà văn đã viết về chủ đề này, hơn nữa nói chung đã là văn học thì nền văn học nào cũng quan tâm đến số phận con người, đến cái riêng Song vấn đề là ở chỗ do hoàn cảnh chiến tranh suốt mấy chục năm qua, văn học cách mạng chủ yếu nói về cái chung, chỉ xem xét cái riêng xuất phát từ quyền lợi chung của giai cấp, của dân tộc, thành ra vấn đề đời thường, số phận riêng của con người bị chìm đi, thậm chí đôi khi còn bị xem như cái gì xa lạ với một nền văn học lành mạnh Điều này giải thích vì sao khi quay lại với chủ đề này, văn học được đánh giá như đã có một hành động đổi mới” [73; 5]
Có thể nói, các nhà nghiên cứu đã có sự thống nhất khá cao về những đặc điểm nội dung của giai đoạn văn học 1986 - 2006
Về đổi mới thi pháp Tuy chưa đi vào nghiên cứu một cách sâu rộng
các vấn đề thi pháp của văn xuôi sau 1986, song các bài viết gần đây đã nhấn mạnh vào một số biến đổi về hình thức biểu đạt của tác phẩm như: Sự suy giảm vai trò cốt truyện; sự đa dạng các hình thức cấu trúc tác phẩm; tính chất
đa thanh trong nghệ thuật trần thuật, những khám phá về hệ thống nhân vật…
Từ đó, các nhà nghiên cứu bước đầu đi đến kết luận về khả năng mở rộng, gia tăng tính đối thoại của tự sự đương đại trước các vấn đề hiện thực và lịch sử Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà cho rằng: “Nền tảng của thi pháp này là việc