Và trong khuôn khổ bài viết này, nhóm chúng tôi cũng xin phép được dùng hai từ với cùng nghĩa: "Tái cấu trúc" cơ cấu là sự thay đổi cả về kết cấu cứng và kết cấu mềm nhằm mang lại một tr
Trang 1Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học Kinh tế
-Môn: Kinh tế Đông Á và Đông Nam Á
Đề tài: Tái cấu trúc kinh tế Đông Á
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Danh mục viết tắt tiếng Việt
STT Chữ viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Việt
Danh mục viết tắt tiếng Anh
STT Chữ viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt
1 AMC Asset Management Company Công ty Quản lỷ tài sản
2 BIS Bank for International Settlements Ngân hàng thanh toán quốc tế
Trang 44 FSC Uỷ ban Dịch vụ Tài chính Hàn Quốc
7 IBRA Indonesian Bank Restructuring Authority Cơ quan tái cấu trúc ngân hàng Indonesia
9 KAMCO Korea Asset Management Corporation Công ty Quản lý Tài sản Hàn Quốc
Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
Hoa
16 TAMC Thailand Asset Management Corporation Công ty Quản lý tài sản Thái Lan
DANH MỤC CÁC BẢNG
2 Bảng 2.2 Số lượng NHTM Việt Nam giai đoạn 1991-2012 30
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU
1 Biểu 2.1 Tỷ lệ tổng tích lũy tài sản so với GDP của Hàn Quốc và một số nước châu Á 1995 – 2008 38
2 Biểu 2.2 Thu ngân sách từ thuế so với GDP năm 2008 của
3 Biểu 2.3 Tốc độ tăng GDP và tỷ lệ đầu tư so với GDP 1990 - 41
Trang 6MỞ ĐẦU
Cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21 các quốc gia Đông Á nổi lên như là những quốc gia có tiềm lực lớn về kinh tế, tài chính và thương mại Trong đó có 4 con rồng Châu Á, các nền kinh tế có tổng GDP đứng thứ 3 và thứ 2 thế giới là Nhật Bản và Trung Quốc, các quốc gia mới nổi như Malaysia, Indonesia, Thái Lan…
Trong khi hầu hết các nền kinh tế quan trọng ở các khu vực khác rơi vào suy thoái thì Trung Quốc và một số nền kinh tế Đông Á khác vẫn giữ được mức tăng trưởng khá cao Xem ra đầu tầu kinh tế Đông Á trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu vừa qua là khó
có thể phủ nhận và hẳn vẫn đang còn là niềm hy vọng của thế giới hậu khủng hoảng.Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, bức tranh kinh tế Đông Á không phải chỉ có một màu sáng, mà còn có cả những mảng tối, nếu chúng ta quan sát kỹ nó từ các góc độ khác Những mảng tối chính là những khó khăn mà các nền kinh tế ở Đông Á đang phải đối mặt Đó là sự phát triển mất cân đối và kém bền vững, những bất ổn đáng quan ngại
về kinh tế vĩ mô ở một số nước Ngoài ra, phần lớn các nền kinh tế Đông Á, vẫn còn trong quá trình công nghiệp hóa và phát triển mạnh theo "chiều rộng", chưa nhiều theo
"chiều sâu" Đặt biệt đó là tình hình chính trị nội bộ tại một số nước ở khu vực còn nhiều bất ổn, xung đột thậm chí gia tăng làm mất ổn định chính trị và xã hội
Khủng hoảng kinh tế thế giới trong những năm qua đã làm cho cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu ngày càng trở nên gay gắt, nợ xấu ngân hàng tăng cao, nhiều doan nghiệp phá sản, tình hình tài chính, vốn, đầu tư của các doanh nghiệp liên tục gặp nhiều khó khăn Điều này đòi hỏi các nước, không phân biệt trình độ phát triển phải tính toán lại chiến lược phát triển, cạnh tranh trong bối cảnh mới Trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập khác trước, các nước Đông Á không thể không cấu trúc lại theo mô hình tăng trưởng khác, không thể đi theo con đường mòn cũ, cách làm cũ, cơ chế quản lý cũ Do vậy, tái cấu trúc nền kinh tế có ý nghĩa cấp thiết trong cả trước mắt, trung hạn và dài hạn.Bài viết này giúp chúng ta hiểu sâu thêm tại sao các nước phải tái cấu trúc kinh tế
và những nội dung cơ bản trong tái cấu trúc kinh tế Đông Á với những nét chính nhất,
Trang 7toàn diện nhất Tái cấu trúc kinh tế Đông Á sẽ được đi sâu tìm hiểu về 3 nội dung chính: tái cơ cấu đầu tư, tái cơ cấu hệ thống tài chính- ngân hàng và tái cơ cấu doanh nghiệp Từ
đó thấy được những tác động của nó đến sự phát triển, phục hồi nền kinh tế các nước trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu khó khăn này, mở ra những triển vọng mới tươi sáng hơn
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ ĐÔNG Á
1.1 Các khái niệm liên quan tái cấu trúc kinh tế
Phân tích về mặt ngữ nghĩa Tiếng Việt thì “cơ cấu “ và “cấu trúc” là khác nhau
"Cấu trúc" là mối quan hệ giữa các thành phần tạo nên một chỉnh thể, tức chỉ liên kết cứng mang tính kết cấu Còn “cơ cấu” là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng của chỉnh thể, tức chỉ liên kết mềm mang tính vận động Như phân tích ở trên thì "cơ cấu" đã bao hàm cả kết cấu cứng và kết cấu mềm, vậy "cơ cấu" mang nghĩa rộng hơn, bao quát hơn so với "cấu trúc".Đồng nghĩa dùng từ “cơ cấu” hợp lý hơn với một môi trường biến động, ví dụ như lĩnh vực kinh tế
Tuy nhiên, sử dụng “cơ cấu” hay “cấu trúc” vẫn chưa được quán triệt rõ ràng Bởi
vì “tái cơ cấu” là cái đích ta muốn hướng tới, tuy nhiên sức lực của ta chỉ ở mức có thể
“tái cấu trúc” kết cấu cứng Do vậy, trong thực tế chúng ta đều sử dụng các từ này như nhau để nói về cùng vấn đề Và trong khuôn khổ bài viết này, nhóm chúng tôi cũng xin phép được dùng hai từ với cùng nghĩa: "Tái cấu trúc" (cơ cấu) là sự thay đổi cả về kết cấu cứng và kết cấu mềm nhằm mang lại một trạng thái tốt hơn cho chỉnh thể
1.1.1 Cấu trúc kinh tế
Cấu trúc kinh tế hiểu một các đầy đủ là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện Kinh tế - Xã hội nhất định, cả
về số lượng lẫn chất lượng phúc hợp với mục tiêu xác định của nền kinh tế
1.1.2 Tái cấu trúc kinh tế
Theo bài đăng trên Tạp chí tài chính số 12-2013 của Ths Dương Ngọc Quang, thuật ngữ "Tái cơ cấu" hiện đang được sử dụng khá phổ biến và cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, một cách chung nhất có thể hiểu: Tái cơ cấu là sự thay đổi chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của một hệ thống hoặc là sự cơ cấu lại hệ thống bao gồm các hoạt động như sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức hoạt động, xác định lại mục tiêu, chiến lược, tầm nhìn, các giá trị cốt lõi và chuẩn mực của tổ chức hay doanh nghiệp
Trang 9Tái cơ cấu có thể ở các cấp độ khác nhau, cấp độ cao là sự thay đổi tầm nhìn, chiến
lược, cơ cấu lại toàn bộ tổ chức có tính hệ thống; cấp thấp là sự chuyển đổi, sắp xếp lại, đổi mới quy trình hoạt động và cũng có thể bao gồm cả hai cấp, vừa thay đổi tầm nhìn chiến lược, vừa thực hiện tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp
Trong lĩnh vực kinh tế, những mối quan hệ bền vững giữa các chủ thể kinh tế bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, hay giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế: ngành kinh tế công nghiệp, ngành kinh tế nông nghiệp, ngành kinh tế dịch vụ, có thể là phương thức tạo ra của cải vật chất (mô hình tăng trưởng kinh tế), mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường, tương quan giữa khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Tất cả các mối quan hệ trên đều do các thể chế kinh tế hay các cơ chế, chính sách kinh tế quy định Do vậy, tái cơ cấu kinh tế có thể hiểu là những thay đổi có tính bước ngoặt về cơ chế, chính sách kinh tế để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra Với quan niệm này, khái niệm tái cơ cấu nền kinh tế có nghĩa gần với khái niệm cải cách kinh tế hay đổi mới kinh tế Khái niệm tái cơ cấu kinh tế được sử dụng để chỉ những thay đổi lớn về cơ chế và chính sách, không chỉ là những điều chỉnh chính sách kinh tế ở quy
mô nhỏ mà chúng ta thường gặp
Tuy nhiên, có quan niệm rằng: tái cơ cấu kinh tế chính là quá trình thực hiện việc chuyển dịch, quá trình thay đổi của cơ cấu kinh tế cũ bằng một cơ cấu kinh tế mới, phù hợp hơn Trên cơ sở lý luận rằng, phát triển kinh tế là quá trình vận động liên tục, không ngừng của các bộ phận kinh tế và điều đó cũng làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi hay là sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế Theo khái niệm này, tái cấu trúc (tái cơ cấu kinh tế) sẽ trùng hợp với quan niệm là tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, đặc biệt là cơ cấu ngành, cơ cấu khu vực kinh tế sở hữu hợp lý
1.2 Nội dung tái cấu trúc kinh tế
Việc tái cấu trúc ( hay cơ cấu lại) nền kinh tế phải được xác định gắn liền với cơ cấu lại các ngành kinh tế - kỹ thuật, các lĩnh vực cho đến các bộ phần của nền kinh tế
Trang 10quốc dân Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực và mỗi bộ phận của nền kinh tế cần có những tổng kết, đánh giá thực trạng vận hành, chỉ ra những giải pháp có tính khả thi và có hiệu lực thực sự, đồng thời triệt tiêu nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế đó trên cơ sở hình thành một cấu trúc ngành/ lĩnh vực/ bộ phận kinh tế theo hướng gắn với mô hình tăng trưởng Qua đây, nhóm xin trình bày 3 lĩnh vực quan trọng cần ưu tiên tái cấu trúc :
1.2.1 Tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công
Một là, tái cơ cầu nguồn vốn cho đầu tư công (vốn từ NSNN, vốn vay, vốn DNNN), cụ thể như (i) tỷ trọng các nguồn vAốn trong tổng vốn dành cho đầu tư công; (ii) tỷ trọng của đầu tư công trên tổng đầu tư của toàn xã hội; (iii) mối quan hệ giữa đầu
tư công và đầu tư khu vực tư nhân v.v
Hai là, tái cơ cấu đầu tư công theo các ngành và lĩnh vực: (i) tập trung phân bổ đầu
tư vào những ngành nào (nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông, năng lượng, sản xuất công nghiệp, y tế, giáo dục v.v ); (ii) trong mỗi ngành, đầu tư công nên chú trọng đến những phân ngành nào (ví dụ, trong ngành giao thông, nên tập trung cho đường sắt, đường bộ hay cảng biển v.v )
1.2.2 Tái cơ cấu hệ thống tài chính – ngân hàng, trọng tâm là ngân hàng
thương mại Qua kinh nghiệm phát triển của hệ thống ngân hàng các nước, có thể thấy khi nào
và ở đâu nhu cầu phát triển của nền kinh tế cũng là động lực phát triển chính của hệ thống ngân hàng Ở bất cứ quốc gia nào, hệ thống ngân hàng đều không tránh khỏi những giai đoạn khó khăn, khủng hoảng, đó là dấu hiệu cho thấy sự phát triển của cả hệ thống
và các thể chế chính sách đi kèm đã không còn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế,
và đã đến lúc nó cần phải trải qua những cải tiến đổi mới
Động cơ của tái cấu trúc ngân hàng theo phân tích của Sameer Goyal (WB-2011) :
Trang 11• Khuôn khổ giám sát và quản lí yếu
• Thiếu niềm tin vào hệ thống ngân hàng
Các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng :
• Cơ cấu lại vốn tự có của các ngân hàng
• Mua lại, hợp nhất, sát nhập
• Giải quyết vấn đề nợ xấu
• Cải thiện lòng tin vào hệ thống ngân hàng
• Cải thiện hành lang pháp lý và xây dựng tiêu chuẩn ngân hàng hiện đại
1.2.3 Tái cơ cấu doanh nghiệp, trọng tâm là doanh nghiệp nhà nước
Nội dung gồm 6 mục tiêu chính: (i) Xác định lại vai trò nhà nước, DNNN; (ii) Phân loại doanh nghiệp nhà nước thành 3 nhóm: nhóm 1, nhà nước sở hữu 100% vốn Nhóm 2, doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước nắm giữu trên 50% vốn điều lệ Nhóm
3, các doanh nghiệp Nhà nước không cần nắm giữ thì cổ phần hóa và Nhà nước rút hết vốn Đối với các DNNN thua lỗ kéo dài, không có khả năng khắc phục sẽ thực hiện bán, chuyển nhượng doanh nghiệp; tái cơ cấu lại nợ để chuyển thành công ty cổ phần, công ty TNHH nhiều thành viên; giải thể, phá sản; (iii) Thực hiện theo nguyên tắc thị trường việc thoái vốn nhà nước đã đầu tư vào ngành không phải kinh doanh chính hoặc không trực tiếp liên quan với ngành kinh doanh chính; vốn nhà nước ở công ty cổ phần mà Nhà nước không cần chi phối; (iv) Tái cơ cấu doanh nghiệp theo ngành, lĩnh vực không phân biệt cấp, cơ quan quản lý nhằm thu gọn đầu mối quản lý, nâng cao hiệu quả khai thác tài sản, tránh dàn trải, lãng phí (v) Tái cơ cấu tập đoàn, tổng công ty nhà nước một cách toàn diện từ mô hình tổ chức, quản lý, nguồn nhân lực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh, chiến lược phát triển, đầu tư đến thị trường và sản phẩm Tổ chức lại một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cho phù hợp với thực trạng và yêu cầu nhiệm vụ; (vi) Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách
1.3 Nguyên nhân dẫn đến yêu cầu tái cấu trúc kinh tế Đông Á
1.3.1 Xu hướng toàn cầu hóa
Trang 12Những nguyên nhân bên ngoài được nhắc tới đầu tiên phải kể tới xu hướng toàn cầu hoá, chính xu hướng này và quá trình thế giới phẳng ra làm tăng các mối liên kết giữa các nền kinh tế, các vùng lãnh thổ với nhau Có thể kể ra đó là các hiệp định hợp tác song phương, đa phương, các tổ chức kinh tế, thương mại và phi kinh tế liên kết các quốc gia, các lãnh thổ với nhau, sự phát triển của CNTT và lớn mạnh của các TNC đã đẩy những nguồn lực trước kia vốn chỉ gói gọn trong một nền kinh tế đã lan ra nhiều nền kinh tế khác nhau, vô hình chung tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng Do vậy, chỉ cần một nền kinh tế lớn có biến cố ắt sẽ gây những ảnh hưởng lan truyền tới những nền kinh tế còn lại Tiêu biểu phải kể tới trước tiên đó là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008
1.3.2 Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008
Khủng hoảng ở Mỹ là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008, trong đó Mỹ lại là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, vậy nên khi nền kinh
tế Mỹ suy thoái, xuất khẩu nhiều nước bị thiệt hại, nhất là các nước xuất khẩu theo hướng Đông Á Một số nền kinh tế như Nhật Bản, Đài Loan, Singapo rơi vào suy thoái Các nền kinh tế khác tăng trưởng chậm lại
Châu Âu vốn có quan hệ mật thiết với Mỹ chịu tác động nghiêm trọng cả về tài chính lẫn kinh tế Nhiều tổ chức tài chính ở đây lâm vào phá sản đến mức khủng hoảng ở một số nước như Iceland, Nga…Khu vực đồng Euro chính thức rơi vào cuộc khủng hoảng kể từ ngày thành lập
Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn
bị rút khỏi khu vực và giá dầu giảm mạnh
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 để lại hậu quả nặng nề với khoảng 35.000 tỷ USD vốn bị thiêu rụi kể từ năm 2007, số công nhân nghỉ việc nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp tại Mỹ cao nhất trong vòng 25 năm qua Theo Tổ chức Lao động quốc tế(ILO), các khu vực đang phát triển, đặc biệt là các nước ở tiểu vùng sa mạc Sahara, (Châu Phi) và Nam Á gánh chịu số lượng người mất việc cao hơn các khu vực khác
Trang 13Khủng hoảng, thất nghiệp đã khiến cho người dân ở hầu hết các nước lo lắng, bi quan trước tương lai, mất lòng tin vào Chính phủ, và thậm chí có nguy cơ bùng phát các vấn đề xã hội.
Khu vực Đông Á tuy được đánh giá như một điểm sáng trong lúc tình hình kinh tế thế giới ảm đạm cũng không thể tránh khỏi việc bị ảnh hưởng trong việc suy giảm nhẹ tốc độ tăng trưởng kinh tế
Sau đó, do những mối quan hệ kinh tế vô cùng mật thiết giữa nền kinh tế Mĩ và khối EU đã tiếp tục dẫn tới cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu
1.3.3 Khủng hoảng nợ công khu vực Châu Âu
Cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu khởi đầu với sự vỡ nợ của chính phủ Hi
Lạp, với nhiều gói cứu trợ của quĩ tiền tệ thế giới IMF, nền kinh tế Hi Lạp vẫn như một con ngựa già cạn kiệt sức lực, tốc độ hồi phục vô cùng chậm chạp, thậm chí có thời kì, người dân Hi Lạp phải sử dụng những tem phiếu để mua hàng, những cảnh tưởng như chỉ nhìn thấy ở thời kì kinh tế bao cấp ở Liên Xô hay Việt Nam Sau đó, cuộc khủng hoảng
nợ công tiếp tục lan rộng, khiến nhiều nền kinh tế Tây Ban Nha, Italia…đều phải cầu cứu những gói cứu trợ khi nợ công tăng lên vùn vụt Khối EU vốn từ lâu được xem là một khu vực phát triển và giàu có bậc nhất thế giới bây giờ vẫn đang từng bước phục hồi cải cách chậm chạp, nền kinh tế Đức đóng vai trò như đầu tàu kéo cả đoàn tàu EU vượt lên, tuy vậy, đó vẫn là điều quá khó khăn, sự khủng hoảng này ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh
tế Đông Á khi nó vừa là thị trường vừa là nơi tạo ra thị trường cho nhiều nền kinh tế Đông Á
1.3.4 Bất ổn chính trị khu vực Trung Đông – Bắc Phi
Đi kèm theo nguyên nhân do các cuộc khủng hoảng về kinh tế là sự bất ổn chính trị khu vực Trung Đông – Bắc Phi đã từ rất lâu Với vị trí địa –chính trị, địa – kinh tế quan trọng trên thế giới, những biến động chính trị và xung đột vũ trang tại Trung Đông – Bắc Phi đã tác động không nhỏ đến kinh tế thế giới, do giá dầu tăng cao, quá trình hồi phục sau khủng hoảng và tăng trưởng sẽ chậm lại Kinh nghiệm cho thấy, trước 5 cuộc
Trang 14khủng hoảng toàn cầu xảy ra vào các năm 1974, 1980, 1990, 2011 và 2008, đều có các
“cú sốc” dầu lửa lớn Thời gian qua, có lúc giá dầu tăng cao, tới 120 USD/thùng Nếu khủng hoảng lan sang các nước xuất khẩu dầu lửa chủ yếu (Saudi Arabia, Algeria, Kuwait, Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất…), quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu sẽ
bị tác động tiêu cực; dòng người tỵ nạn sẽ tràn sang các nước phát triển nhiều hơn, tạo thêm gánh nặng cho các nước phương Tây Các luồng đầu tư, kinh doanh, sản xuất, xuất khẩu vào Trung Đông – Bắc Phi cũng vì thế mà ảnh hưởng
Hơn nữa, thị phần châu Á trong xuất khẩu của các nước Trung Đông đã tăng từ mức 57% năm 1999 lên 78% vào năm 2011 Việc tiêu dùng dầu mỏ ở Châu Á có thể có những diễn biến bất lợi, nhất là thiếu nguồn cung Vì vậy nhiều nước Châu Á đang tích cực tìm giải pháp đảm bảo an ninh dầu mỏ vì sản lượng dầu nội địa bị hạn chế, dầu dự trữ thấp và sự phụ thuộc vào dầu nhập khẩu từ các nước không ổn định về chính trị
Đối phó với vấn đề này, Châu Á đang tích cực tìm cách đa dạng hóa nguồn cung, xây dựng dự trữ chiến lược và đầu tư vào các tài sản có liên quan đến dầu Chính phủ các nước Châu Á cũng phải tìm cách để nâng cạo hiệu quả sử dụng năng lượng và bảo tồn môi trường nhằm hạn chế sự tăng trưởng của tiêu dùng đầu Một trong những yếu tố nữa
có thể giúp Châu Á bớt phụ thuộc vào dầu nhập khẩu đó là chuyển hướng sang các năng lượng tái chế, bao gồm cả việc phát triển ôtô điện Nếu giải pháp này cùng với các giải pháp khác mang lại kết quả thì có thể giảm đáng kể lượng dầu sử dụng cho giao thông và qua đó cũng cải thiện an ninh năng lượng cho khu vực
1.3.5 Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là một vấn đề không thể không nhắc tới trong thế kỉ 21, nó chính
là hậu quả do nền kinh tế công nghiệp thế kỉ 19 – 20 để lại Khí hậu ngày càng bị biến đổi theo hướng tiêu cực và ảnh hưởng rất lớn tới con người Vấn đề khí hậu cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên sẵn có, sự ô nhiễm môi trường do các hoạt động công nghiệp của con người đã dẫn tới một hệ quả vô cùng trầm trọng trước hết là đối với chính con người; các bệnh quái ác ngày càng gia tăng, thiếu nước sạch, thực phẩm nhiễm hoá chất là những từ khoá nóng trên các diễn đàn thế giới Con người chủ thể của một nền kinh tế bị ảnh
Trang 15hưởng không nhỏ như vậy ắt nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng Đã có nhiều chương trình hội nghị, hiệp định thư Kyoto được kí về việc cắt giảm khí thải, tuy vậy, đối với những quốc gia có nền kinh tế khổng lồ thì đó lại là một vấn đề rất lớn, và chính những nền kinh tế lớn đó, họ không đồng ý, vì một nền kinh tế khổng lồ bằng máy móc được tồn tại bằng thứ nguyên nhiên liệu cũ không thể thay đổi một sớm một chiều, hơn hết nó ảnh hưởng tới nền kinh tế cũng như sức mạnh chính trị của quốc gia trên bản đồ thế giới Tuy vậy, việc bảo vệ tiết kiệm tài nguyên và giảm thiểu biến đổi khí hậu trên toàn thế giới đã và đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ, do đó cũng buộc các nền kinh tế phải có sự thay đổi lớn, trong đó có Đông Á.
1.3.6 Hạn chế từ mô hình kinh tế của các nước Đông Á
Các nguyên nhân bên ngoài kể trên từ 1.3.1 đến 1.3.5 có tác động rất lớn đến công cuộc tái cơ cấu các nền kinh tế Đông Á Và tất nhiên nguyên nhân dẫn đến việc các nền kinh tế Đông Á buộc phải tái cấu trúc còn nằm trong chính nội tại của nó, xuất phát từ chính sự hạn chế trong mô hình kinh tế của các nước Đông Á
Những năm gần đây, Đông Á (Đông Bắc Á và Đông Nam Á) thu hút sự quan tâm đặc biệt của thế giới, không chỉ vì đây là địa bàn chiến lược quan trọng có nhiều vấn đề
"nóng", mà còn là vì khu vực này đã đạt được những thành công ngoạn mục về phát triển kinh tế và trở thành một đầu tầu của kinh tế thế giới, đóng góp rất quan trọng vào tăng trưởng toàn cầu
Trong những năm 1960-1990, Đông Á được biết đến nhiều với sự vươn lên thần
kỳ của 4 con "con hổ kinh tế" theo sau Nhật Bản, gồm Hàn Quốc, Đài Loan, HongKong
và Singapore Chậm hơn một chút là một số nền kinh tế thuộc ASEAN, như Malaysia, Thái Lan cũng đã đạt sự tăng trưởng đáng nể trong gần hai thập kỷ kể từ cuối thập niên
1970 cho đến khi xảy ra cuộc khủng hoảng Đông Á vào năm 1997 Nổi bật hơn cả là sự trỗi dậy mạnh mẽ của "con rồng" Trung Quốc bắt đầu từ thập niên 1980 và đã nhanh chóng vươn tới vị trí nền kinh tế thứ hai thế giới Liền 3 thập kỷ, Trung Quốc cũng đã đạt được những thành tựu kinh tế vượt bậc, duy trì tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới
Trang 16cả những nền kinh tế thuộc hàng khiêm tốn hơn trong ASEAN như Indonesia, Philippines, Việt Nam, Campuchia, Lào Ngoại trừ Triều Tiên còn nhiều khó khăn do vẫn duy trì mô hình kinh tế lỗi thời và Đông Timo bé nhỏ bị giằng xé bởi những vấn đề nội
bộ sau khi tách khỏi Indonesia, hầu hết các nền kinh tế Đông Á đều đã hoặc đang vươn lên với tốc độ phi thường Đông Á đã thực sự là một khu vực năng động nhất thế giới, đóng góp cực kỳ quan trọng vào sự tăng trưởng của kinh tế thế giới trong nhiều thập kỷ qua Đặc biệt cần nhấn mạnh, chính nhờ sự năng động và tăng trưởng cao của Đông Á đã giúp cho suy thoái kinh tế thế giới vừa qua bớt trầm trọng và sớm phục hồi hơn
Năm 2009, thời kỳ hậu khủng hoảng, trong khi hầu hết các nền kinh tế quan trọng
ở các khu vực khác rơi vào suy thoái nặng (Mỹ -2,4%, khu vực đồng Euro - 3,9%, Anh - 4,6%, Canada - 2,5%) thì Trung Quốc và một số nền kinh tế Đông Á khác vẫn giữ được mức tăng trưởng khá cao (Trung Quốc 8,5%, Việt Nam 5,2%, Indonesia 4,4%) Bước sang 2010, Mỹ và phần lớn các nền kinh tế châu Âu vẫn còn "trầy trật" để thoát ra khủng hoảng, thậm chí EU vẫn đang phải đối mặt với khả năng suy thoái trở lại do khủng hoảng
nợ Hy Lạp và nguy cơ tương tự tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và một số nước khác Trong khi đó, phần lớn các nền kinh tế Đông Á vẫn tăng trưởng khá Đặc biệt, Trung Quốc, quý I/2010, tăng trưởng trên 9% và tháng 4 là 12% Như vậy, xem ra đầu tầu kinh
tế Đông Á trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu vừa qua là khó có thể phủ nhận và hẳn vẫn đang còn là niềm hy vọng của thế giới hậu khủng hoảng
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, bức tranh kinh tế Đông Á không phải chỉ có một màu sáng, mà còn có cả những mảng tối, nếu chúng ta quan sát kỹ từ các góc độ khác Những mảng tối chính là những khó khăn mà các nền kinh tế ở Đông Á đang phải đối mặt
Thứ nhất, phát triển mất cân đối và kém bền vững Đây không chỉ là yếu điểm
chính của các nền kinh tế đang phát triển mà kể cả một số nền kinh tế thuộc diện phát triển ở Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan Phát triển mất cân đối thể hiện ở cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu thương mại, cơ cấu các loại thị trường, cơ cấu vùng miền, cơ cấu kinh tế vĩ mô, cơ cấu nguồn nhân lực và trong các mối
Trang 17quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển các thiết chế chính trị - xã hội, giữa kinh tế với giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, môi trường Các nền kinh tế ở khu vực đều chưa đạt tới mức độ cân bằng để có thể bảo đảm sự an toàn và phát triển bền vững Tuy nhiên, mức độ mất cân đối và thiếu bền vững biểu hiện rất khác nhau trong từng nước Hầu hết các nền kinh tế đang phát triển đối mặt với "căn bệnh này" ở mức nặng, thậm chí
là đáng báo động
Thứ hai, bất ổn đáng quan ngại về kinh tế vĩ mô ở một số nước Trước hết là thâm
hụt ngân sách cao, dẫn đến tình trạng nợ công tăng mạnh và trở thành gánh nặng (năm
2009, nợ công của Trung Quốc bằng 89% GDP, Thái Lan 43,5% GDP, Nhật 227% GDP, Philippine 58,7% GDP, Việt Nam 44,5%GDP) Tiếp đến là bất ổn về chính sách tiền tệ, lạm phát cao đang gia tăng áp lực ở một số nước như Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia,
sự yếu kém của hệ thống ngân hàng - tín dụng và việc kiểm soát không chặt các luồng vốn Một số chuyên gia đã cảnh báo tình trạng "bong bóng" tài chính và bất động sản tăng đến mức báo động hiện nay ở một số nền kinh tế Đông Á, đặc biệt là ở Trung Quốc
và Việt Nam, có thể đặt khu vực này trước nguy cơ làn sóng suy thoái thứ ba, tiếp theo làn sóng thứ hai đang có dấu hiệu tràn vào châu Âu hiện nay Sau cùng là sự mất cân đối trong cán cân thương mại và sự lệ thuộc quá lớn của các nền kinh tế khu vực vào thị trường bên ngoài về xuất - nhập khẩu và FDI Điều này khiến cho họ dễ bị tổn thương cao khi có những biến động lớn của thị trường quốc tế
Thứ ba, phần lớn các nền kinh tế Đông Á, vẫn còn trong quá trình công nghiệp
hóa và phát triển mạnh theo "chiều rộng", chưa nhiều theo "chiều sâu" Có nghĩa là, sự phát triển còn dựa quá nhiều vào các yếu tố sản xuất như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động nhiều và rẻ Vốn và công nghệ nhập từ bên ngoài là chủ yếu, chứ chưa dựa nhiều vào khoa học-công nghệ, đặc biệt là khoa học - công nghệ do tự mình tạo ra Phương thức phát triển này đã và tiếp tục để lại những hậu quả trầm trọng về tính hiệu quả, sự bền vững và khả năng cạnh tranh lâu dài của nền kinh tế cũng như nhiều hậu quả
về môi trường
Trang 18Thứ tư, tình hình chính trị nội bộ tại một số nước ở khu vực còn nhiều bất ổn,
xung đột thậm chí gia tăng làm mất ổn định chính trị và xã hội, cản trở đáng kể sự phát triển kinh tế của các nước này, cũng như quá trình tăng cường các liên kết kinh tế khu vực Thêm nữa, sự gia tăng căng thẳng và tranh chấp giữa các nước trong khu vực đồng thời với sự tăng cường tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc tại khu vực cũng góp phần làm cho các thách thức tại Đông Nam Á thêm phức tạp và khó xử lý hơn
Ví dụ như ở Trung Quốc, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới vừa qua bề ngoài là tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng thực chất bên trong là tác động đến phương thức phát triển kinh tế Trong một thời gian rất dài, Trung Quốc đã phát triển thiếu hài hòa và không bền vững, chủ yếu là do mất cân bằng trong quan hệ đầu tư và tiêu thụ; sự phát triển giữa các khu vực không đồng đều; kết cấu ngành nghề không hợp lý; tài nguyên môi trường đang cạn kiệt và khả năng tự sáng tạo không cao… trong bối cảnh thế giới không thể tiếp tục mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tiêu thụ của các nước phát triển, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch đang nổi lên, biến đổi khí hậu đang trở thành vấn đề toàn cầu Trung Quốc đang phải đối diện với rất nhiều áp lực như mở rộng nhu cầu nội địa, nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hóa xuất khẩu, phát triển kinh tế xanh Bởi vậy việc đẩy mạnh chuyển đối mô hình phát triển kinh tế đã trở thành lựa chọn chiến lược và cấp bách đối với Trung Quốc Giáo sư Lưu Tôn Nghĩa (Ủy viên Hội nghị Chính trị Hiệp thương toàn quốc – Chính Hiệp) cho rằng sự chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế của Trung Quốc có hai hướng chủ yếu Một là, chuyển từ việc lấy xuất khẩu làm động lực tăng trưởng chính sang lấy nhu cầu trong nước làm động lực chủ đạo Hai là, chuyển đổi từ việc lấy đầu tư hữu hình làm chủ đạo sang lấy tiến bộ kỹ thuật (tức sáng tạo) làm chủ đạo Trung Quốc không thể tiếp tục thời kỳ cạnh tranh giá rẻ nữa mà phải bắt đầu thời kỳ phát triển dịch vụ chất lượng cao Phó Chủ tịch Chính Hiệp Đổng Kiến Hoa cũng nói rằng chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế Trung Quốc trong 5 năm tới không chỉ khiến phát triển kinh tế-xã hội và sức mạnh tổng hợp quốc gia của Trung Quốc được nâng lên một bậc, mà còn tạo thêm động lực mới cho phục hồi và biến đổi kinh tế thế giới Theo ông Đổng Kiến Hoa, tăng trưởng nhu cầu nội địa của Trung Quốc sẽ là
Trang 19động lực chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế thế giới; phát triển kinh tế ít khí thải CO2 của Trung Quốc sẽ thúc đẩy sự phát triển năng lượng sạch và năng lượng mới của thế giới và chuyển đổi mô hình kinh tế của Trung Quốc sẽ thúc đẩy phồn vinh khu vực.
Tại Việt Nam, mô hình tăng trưởng của trong giai đoạn vừa qua chứa đựng nhiều bất ổn và méo mó Đáng chú ý là từnhững sự méo mó trong tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến những dấu hiệu tác động tiêu cực tới mục tiêu tăng trưởng vì con người Phát triển con người ở Việt Nam chưa tương ứng với quá trình tăng trưởng kinh tế Các điểm đáng lưu ý của mô hình tăng trưởng cũ gồm: Thứ nhất, mô hình tăng trưởng của Việt Nam cho thấy nhiều bất ổn về mặt phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam chủ yếu theo chiều rộng, nhưng chưa bảo đảm tính hợp lý và hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố tăng trưởng thể hiện ở hiệu quả đầu tư thấp; tăng trưởng phụ thuộc nhiều hơn vào tăng vốn; ổn định kinh tế vĩ mô chưa vững chắc; năng suất lao động thấp và tăng chậm; sức cạnh tranh quốc gia chậm cải thiện; các mục tiêu của cải cách thể chế chưa được chú ý đúng mức Hai là, tăng trưởng theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế, nhưng dễ bị tổn thương và một sốchính sách tăng trưởng tỏ ra không tương thích với yêu cầu hội nhập Ba là, đã xuất hiện những tác động tiêu cực tới mục tiêu tăng trưởng vì con người Phát triển con người
ở Việt Nam chưa tương ứng với quá trình tăng trưởng kinh tế
Những khó khăn và thách thức kể trên không hề dễ dàng được khắc phục Nó đòi hỏi các nước Đông Á phải chi rất nhiều nguồn lực và trong nhiều thập kỷ để sửa chữa, cải tạo di sản của tiến trình hiện tại Và tái cấu trúc là một yếu tố bắt buộc để có thể giữ vững
vị trí đầu tàu kinh tế của thế giới
1.4 Các nhân tố thúc đẩy tái cấu trúc
Trang 20khi bất ổn vĩ mô và lạm phát cao, người nghèo, người thu nhập cố định bị tổn thất nặng nhất, quản lý nhà nước cũng trở nên khó khăn hơn trước áp lực phải đảm bảo không để thu nhập thực tế giảm.
Ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết để nền kinh tế có được tăng trưởng bền vững hơn, đặc biệt là trong trung và dài hạn, phù hợp với cái chúng ta muốn và phải làm là tái cấu trúc nền kinh tế Về bản chất đó chính là việc hoàn thiện, thay đổi hệ thống động lực để đảm bảo nguồn lực đang có và sẽ có được phân bổ hiệu quả
1.4.2 Phát triển nguồn nhân lực
Phát triền nguồn nhân lực được đo bằng chất lượng giáo dục học nghề và đại học Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ Con người là chủ thể sản xuất
ra mọi sản phẩm vật chất và tinh thần Con người làm ra thể chế, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, là lực lượng sản xuất quan trọng nhất Vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân để phát triển mạnh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược Đây vừa là yêu cầu cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài Đặt yêu cầu gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một nội dung mới, thể hiện tính hướng đích của phát triển nguồn nhân lực Chỉ với nguồn nhân lực có khả năng phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và quản lý mới tạo ra năng suất cao để phát triển nhanh và bền vững
1.4.3 Phát triển kết cấu hạ tầng
Với tính chất đa dạng và thiết thực, kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như mỗi vùng lãnh thổ Có kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại, nền kinh tế mới có điều kiện
để tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng, phát triển kết cấu hạ tầng có tác động tích cực đến phát triển kinh tế- xã hội
Trang 21ở cả các nước phát triển và đang phát triển Trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng có ảnh hưởng quyết định đến trình độ phát triển của đất nước Cesar Calderon và Luis Serven (2004) sau khi nghiên cứu bộ dữ liệu ở 121 nước trong thời kỳ 1960-2000 đã đưa ra hai kết luận quan trọng là: (1) trình độ phát triển kết cấu hạ tầng có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế; và (2) trình độ phát triển kết cấu hạ tầng càng cao thì mức độ bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội càng giảm Từ hai kết luận này, các tác giả đã đưa ra một kết luận chung là trình độ phát triển kết cấu hạ tầng có tác động mạnh đến công tác xoá đói, giảm nghèo Naoyuki Yoshino và Masaki Nakahigashi (2000) đã nghiên cứu về vai trò của kết cấu hạ tầng đối với sự phát triển kinh tế ở các nước Đông Nam Á và đưa
ra kết luận rằng, kết cấu hạ tầng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các nước vì hai lý do: (1) phát triển kết cấu hạ tầng góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả của nền kinh tế; và (2) phát triển kết cấu hạ tầng có tác động rất tích cực đến giảm nghèo Còn tác giả Kingsley Thomas (2004) cho rằng, kết cấu hạ tầng đóng vai trò quan trọng không chỉ vì nó là điều kiện thiết yếu đối với hoạt động sản xuất- kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như đời sống của các hộ gia đình, mà kết cấu hạ tầng còn là lĩnh vực kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của một nước Đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng thường chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư và chiếm từ 40-60% đầu tư công ở hầu hết các nước đang phát triển Tính trung bình, lượng đầu tư này chiếm 4% GDP của các nước đang phát triển, cá biệt có nước chiếm hơn 10%
Tóm lại, kết cấu hạ tầng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia, tạo động lực cho sự phát triển Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội Ngược lại, một hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển là một trở lực lớn đối với sự phát triển Ở nhiều nước đang phát triển hiện nay, kết cấu hạ tầng thiếu và yếu đã gây ứ đọng trong luân chuyển các nguồn lực, khó hấp thụ vốn đầu tư, gây ra những “nút cổ chai kết cấu hạ tầng” ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Chính vì vậy, việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đang là ưu
Trang 22tiên của nhiều quốc gia đang phát triển Điều này sẽ là nhân tố thúc đẩy tái cấu trúc nhanh hơn.
1.4.4 Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường với trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính Ưu điểm của kinh tế thị trường là phân bổ nguồn lực một cách hợp lý theo tín hiệu thị trường và do đó làm tăng hiệu quả chung của nền kinh tế Kinh tế thị trường chỉ có thể được hoàn thiện khi các yếu tố, các loại thị trường được hình thành đồng bộ trong một môi trường cạnh tranh bình đẳng Cạnh tranh là đặc tính vốn có của kinh tế thị trường Thông qua cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, nâng cao năng suất - yếu tố xét đến cùng quyết định thắng lợi của một phương thức sản xuất, một chế độ xã hội Kinh tế thị trường luôn được vận hành thông qua các thể chế và thủ tục hành chính Vì vậy, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phải gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp Mặt khác, kinh tế thị trường mà chúng ta xây dựng là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó phát triển kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển các lĩnh vực văn hoá xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển Vì vậy, Nhà nước phải có chính sách cơ cấu hợp lý, sử dụng hiệu quả các công cụ điều tiết nhằm khắc phục những mặt trái của cơ chế thị trường
Trong các yếu tố thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế thì thể chế là quan trọng nhất Bởi vì, thể chế phù hợp không chỉ thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế mà cả phát triển hạ tầng, phát triển
và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, và ổn định kinh tế vĩ mô
Trang 23CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ ĐÔNG Á 2.1 Tái cấu trúc hệ thống NHTM
2.1.1 Đặc điểm chung của quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM ở Đông Á
Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng được xác định là cơ cấu lại quản trị, điều hành và cấu trúc lại tình hình tài chính của các ngân hàng Đây được coi là nhiệm vụ rất cấp bách không chỉ nhằm bảo vệ và lành mạnh hoá các hệ thống tài chính mà còn để củng cố uy tín và niềm tin với người dân vào hệ thống ngân hàng nói riêng và sự điều hành của Nhà nước nói chung Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng sẽ diễn ra theo 2 hướng: cải tổ những ngân hàng còn yếu kém và sáp nhập, hợp nhất các NHTM, các TCTC nhỏ để có các NHTM và TCTC với quy mô lớn, hoạt động lành mạnh, bảo đảm tính thanh khoản và an toàn hệ thống
Vấn đề đầu tiên của hệ thống ngân hàng là chất lượng tài sản kém, thể hiện ở tỷ lệ
dư nợ phi sản xuất cao và tỷ lệ nợ xấu tăng cao Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính châu Á những năm 1997-1998, phần lớn các nước Đông Á đã lập các Công ty Quản lỷ tài sản (AMC) trực thuộc Nhà nước nhằm thanh lý nợ xấu đồng thời với thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung Cụ thể: Indonesia thiết lập
Cơ quan tái cấu trúc ngân hàng (IBRA), với Malaysia là Tổ chức xử lý nợ quốc gia (DANAHARTA), Hàn Quốc lập Công ty Quản lý Tài sản (KAMCO) Riêng Thái Lan ban đầu chỉ thành lập Cơ quan tái cấu trúc tài chính (FRA) để xử lý các vấn đề của các công ty tài chính và đến năm 2001, Thái Lan mới thành lập Công ty Quản lý Tài sản (TAMC)
Đặc điểm chung của các công ty xử lý nợ nói trên là được Chính phủ tài trợ vốn và
tổ chức tập trung hơn việc sử dụng một mô hình chỉ dựa vào ngân hàng Điều này có lẽ là
do tính chất đặc thù có hệ thống về các vấn đề ngân hàng và quy mô nợ xấu Chính phủ các nước nói trên áp dụng hình thức mua sỉ tất cả các khoản cho vay có vấn đề và cơ cấu lại các khoản nợ xấu của ngân hàng
Trang 24Mô hình AMCs mang tính khả thi cao do nhiều ngân hàng không đủ nguồn lực để
tự tái cấu trúc các khoản nợ xấu của mình thông qua các đơn vị trực thuộc hay các công
ty con của ngân hàng Hơn nữa, cơ sở pháp lý so với các chuẩn mực thế giới ở các nước này vẫn còn lạc hậu cũng góp phần tạo ra sự cần thiết phải có AMCs
Các công ty xử lý nợ tập trung cũng có các quyền hạn đặc biệt để cắt giảm các thủ tục pháp lý
Các khoản nợ tại các quốc gia trong khu vực Đông Á thường có chung một đặc tính
là được đảm bảo bằng bất động sản Vì vậy, các điều luật về tịch biên tài sản không mang tính hiện thực cao (trong giai đoạn cuộc khủng hoảng tài chính khu vực xảy ra) đã cản trở ngân hàng tịch thu tài sản đảm bảo khi các khoản nợ không được trả đúng hạn Thực tế quá trình giải quyết khủng hoảng nợ xấu diễn ra tại Indonesia cho thấy IBRA đã được quyền tịch biên tài sản của các chủ thể đi vay không hợp tác mà không cần đến các giấy
tờ cần thiết từ phía toà án
Các AMC trong khu vực châu Á thường xuyên công bố tình hình hoạt động và kết quả hoạt động kinh doanh thông qua các bản báo cáo tháng, quý, trong đó nêu rõ các quy trình và phương pháp xử lý nợ xấu
Chính phủ các nước trong khu vực châu Á cũng đã thành lập các cơ quan chuyên trách theo dõi và đánh giá hiệu quả hoạt động của các AMC thông qua các tiêu chí như: Mức độ phục hồi của nợ xấu, số lượng và chất lượng các khoản vay được tái cấu trúc…Hầu hết hoạt động của các AMC đều tạo ra các khoản lỗ, vì vậy việc chia sẻ thiệt hại phát sinh từ các hoạt động của AMC là điều rất đáng được quan tâm Các AMC trong khu vực Đông Á đều được tài trợ từ các nguồn vốn của Chính phủ hoặc dưới các hình thức phát hành công cụ nợ của chính các AMC này
Ngoài ra, những khó khắn về tính thanh khoản hay huy động vốn cũng là vấn đề nhức nhối và được đặt lên hàng đầu tại ngân hàng các nước Đông Á Để giải quyết tình trạng này, trong chính sách tái cấu trúc hệ thông ngân hàng, các nước luôn đặt lên hàng đầu việc giải quyết sự thanh khoản trầm trọng cũng như thiếu vốn của các ngân hàng
Trang 252.1.2 Thực trạng quá trình tái cấu trúc NHTM tại một số nước Đông Á
2.1.2.1 Nhật Bản
Nhật Bản từng trải qua 4 giai đoạn khủng hoảng tài chính, gồm: Giai đoạn 1 1993), giai đoạn 2 (1995), giai đoạn 3 (1997-1998) và giai đoạn 4 (2001 – 2002) Trong mỗi giai đoạn này, có rất nhiều vấn đề tài chính khó khăn được đặt ra và cần giải quyết cấp bách: đó là vấn đề nợ xấu, tăng nguồn vốn cho doanh nghiệp… Một giải pháp được các các nước thường sử dụng là gắn giải quyết nợ xấu với tái cấu trúc ngân hàng và tái cấu trúc kinh tế Biện pháp này được đánh giá là mang tính cơ bản, vì ngoài vấn đề xử lý
(1992-nợ xấu nó còn giúp ngăn chặn (1992-nợ xấu gia tăng Đối với Nhật Bản, họ tập trung nhiều hơn vào việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng
Trong giai đoạn 1, khủng hoảng tài chính đã làm cho nợ khó đòi tăng lên giữa các ngân hàng Nhật Bản, khiến cho giá cả tăng nhanh và nền kinh tế rơi vào tình trạng đình trệ Tại thời điểm đó, Thủ tướng Nhật Bản Miyazawa đã đề xuất phương án bơm vốn công để bình ổn hệ thống tài chính trong nước song giải pháp này đã không được thực hiện Tuy nhiên, sau đó Chính phủ đã triển khai gói kích cầu kinh tế Bên cạnh đó, thông qua sáng kiến của một số ngân hàng lớn, Công ty mua tín dụng hợp tác xã (CCPC) đã được thành lập (tháng 1/1993) để mua các khoản nợ vay từ ngân hàng có thể thế chấp để thanh lý bất động sản cầm cố
Trong giai đoạn thứ 2, cụ thể tháng 12/1994, hai hợp tác xã tín dụng gồm Hợp tác
xã Tokyo – Kyowa và Anzen bất ngờ bị phá sản Đây là trường hợp phá sản đầu tiên của ngân hàng trong ngành Tài chính của Nhật Bản kể từ Thế chiến thứ II Bên cạnh đó, một
số ngân hàng nhỏ và các định chế tài chính thế chấp cũng rơi vào tình trạng bi đát tương
tự Ngay sau đó, Chính phủ Nhật Bản đã thành lập “Ngân hàng tiếp quản” (ngân hàng Tokyo Kyodo) và ngân hàng này đã hợp tác với các ngân hàng lớn và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tiếp quản các định chế tài chính phá sản Tháng 9/1996, Ngân hàng Tokyo Kyodo được tái cơ cấu thành “Ngân hàng Giải quyết và Thu nợ” (JRCC) để mở rộng lĩnh vực hoạt động Tháng 12/1996, Chính phủ Nhật Bản phê duyệt bơm gói vốn
Trang 26chính thế chấp Tuy nhiên, việc làm này đã khiến cho công luận chỉ trích gay gắt Chính phủ và giới ngân hàng.
Trong giai đoạn thứ 3, hàng loạt các định chế tài chính, trong đó có cả ngân hàng và các công ty chứng khoán lớn đã bị phá sản đồng loạt chỉ trong một thời gian ngắn Ngay sau đó, gần như thị trường tài chính – tiền tệ Nhật Bản rơi vào tình trạng tê liệt Trong bối cảnh đó, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra hàng loạt các giải pháp, bao gồm: Bơm vốn công giúp tăng vốn cho một số ngân hàng lớn với khoảng 18,1 tỷ USD, xây dựng các khung pháp lý tài chính mới, áp dụng cơ chế “ngân hàng cầu nối” cho các ngân hàng gặp khó khăn, giảm mức lãi suất mục tiêu xuống con số 0…
Trong giai đoạn khủng hoảng thứ 4, Nhật Bản đã quyết định tiến hành nhiều vụ hợp nhất và sáp nhập ngân hàng, nhằm hoàn thành sớm và đầy đủ việc giải quyết nợ khó đòi
ở các ngân hàng lớn, đồng thời giới hạn và thay đổi cơ chế hỗ trợ của ngân hàng Theo
đó, đối với các ngân hàng lớn, bắt buộc xóa bợ khó đòi khỏi Bảng cân đối kế toán trong 2 đến 3 năm, đưa ra mục tiêu định lượng áp dụng với các ngân hàng lớn như tỷ suất nợ khó đòi/tổng tài sản phải giảm dưới một nửa mức hiện tại tính đến năm tài chính 2004, thành lập Tập đoàn Tái thiết Công nghiệp (IRCJ) nhằm hỗ trợ các DN trong quá trình tái cơ cấu Đặc biệt, sau khi IRCJ chính thức đi vào hoạt động, hàng loạt DN đã được đưa vào danh sách tái thiết như: 4 tập đoàn bất động sản lớn nhất nước, 4 công ty vận tải, các công ty sản xuất công nghệ cao… Động thái này của Chính phủ Nhật Bản đã tạo nên một làn sóng sáp nhập và mua bán công ty trong giai đoạn 2004 – 2006 và sau đó đã góp phần
vô cùng quan trọng trong việc tái cấu trúc nền công nghiệp cũng như nền kinh tế Nhật Bản
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế thế giới và kinh
tế Nhật Bản không thuộc ngoại lệ Trước tình hình tài chính ngày càng khó khăn, ảm đạm thì những chính sách trong tái cấu trúc ngân hàng lại càng trở nên quan trọng và nhiều sức ảnh hưởng Đồng Yên cao không chỉ làm giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu,
mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến giảm sản xuất trong nước của Nhật Bản Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do (LDP) Shinzo Abe, người đã trở thành Thủ tướng Nhật Bản vào
Trang 27cuối tháng 12/2012, chủ trương tăng cường chi tiêu công và nới lỏng mạnh hơn chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và có tỷ lệ lạm phát 2%/năm Nhật Bản liên tục tung ra các gói kích thích lớn và chủ trương giảm giá đồng Yên Lần đầu tiên trong vòng
4 năm qua, đồng USD vượt đỉnh 100 yên trong phiên giao dịch ngày 9/5 Sau đó, đồng USD tiếp tục vọt lên 102 yên, rồi vượt mốc 103 yên, tăng khoảng 30% kể từ giữa tháng 11/2012 Lĩnh vực xuất khẩu cũng chứng kiến những thay đổi khả quan nhờ tỷ giá đồng yên cạnh tranh Các hãng sản xuất ôtô và hàng điện tử là những đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất do hàng xuất khẩu có giá rẻ hơn tại các thị trường nước ngoài, đẩy lợi nhuận ở nước ngoài tăng cao Sự mất giá của đồng yên báo hiệu cho một chuyển biến kinh tế mang tính đột phá của Nhật Bản Nhật Bản đã đưa ra hành động tài chính và tiền tệ táo bạo nhằm chấm dứt tình trạng giảm phát kéo dài, cùng với đó là sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ và Ngân hàng Nhật Bản (BOJ)
Những chính sách trong tái cấu trúc ngân hàng thời kì này đã giúp nền kinh tế Nhật Bản trong quý đầu tiên tăng trưởng nhiều hơn so với ước tính ban đầu của chính phủ Tổng sản phẩm trong nước hàng năm tăng ở ngưỡng 4,1%, so với tính toán ban đầu là 3,5%, Văn phòng Nội các tại Tokyo cho biết hôm 10/6 GDP danh nghĩa, GDP không điều chỉnh trước những thay đổi về giá cả, tăng 0,6% so với 3 tháng trước đó
2.1.2.2 Hàn Quốc
• Thực trạng trước tái cấu trúc
Năm 1960, với mục tiêu thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh dựa vào xuất khẩu, chính phủ Hàn Quốc đã có chính sách khuyến khích hình thành các tập đoàn lớn làm đầu tàu cho nền kinh tế Khác với Việt Nam, các tập đoàn này đều là của tư nhân được quản trị theo kiểu gia đình và được gọi là các chaebol
Mối quan hệ dễ dãi quá mức giữa các chaebol và chính phủ Hàn Quốc khi đó đã giúp các tập đoàn này dễ dàng vay vốn từ ngân hàng Bên cạnh đó việc cho phép các chaebol đầu tư không hạn chế vào các tổ chức không phải ngân hàng trong những năm
1990 đã khiến các tập đoàn này mở rộng đầu tư quá mức và nợ nần chồng chất
Trang 28Cuối năm 1997, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á lan rộng, Hàn Quốc đã phải vay tổng cộng 57 tỷ USD từ Quỹ tiền tệ thế giới IMF để cứu nguy hệ thống ngân hàng và giúp nền kinh tế khỏi đổ vỡ Đây là hậu quả của một thời gian dài chính phủ dễ dãi trong việc cấp tín dụng cho các tập đoàn lớn khiến hoạt động đầu tư trở nên dàn trải, nợ xấu các ngân hàng tăng cao
Tính đến năm 1998, số nợ của các tập đoàn này đã tương đương 175% GDP của Hàn Quốc, dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai Đáng chú ý là vào thời điểm đó, do chính sách quản chặt dòng vốn đầu tư của nước ngoài, các khoản thâm hụt tài khoản vãng lai hầu hết được tài trợ bằng chính nguồn vốn vay ngắn hạn từ các định chế tài chính trong nước Những định chế này lại đi vay các ngân hàng nước ngoài tại Hàn Quốc để có vốn cho vay Việc này đã dẫn tới một lượng khổng lồ nợ vay ngắn hạn không ổn định từ nước ngoài
Năm 1997, khi khủng hoảng nổ ra khiến hoạt động xuất khẩu giảm sút còn chính sách tiền tệ bị thắt chặt, nhiều chaebol quy mô trung bình phá sản và các khoản nợ xấu tại các định chế tài chính trong nước tăng vọt Lo ngại mất vốn, các ngân hàng nước ngoài ồ
ạt gõ cửa các ngân hàng, công ty tài chính Hàn Quốc đòi nợ
Tuy nhiên các định chế tài chính trong nước không thể hoàn trả bởi họ đã đem nguồn vốn vay ngoại tệ ngắn hạn cho các chaebol vay đầu tư dài hạn Và khi lượng dự trữ ngoại hối của nhà nước không đủ để cấp vốn ứng cứu thị trường, cuối năm 1997 chính phủ Hàn Quốc buộc phải cầu viện IMF
Trang 29- Hai là, mặc dù các ngân hàng đã được cổ phần hóa nhưng chính phủ vẫn có thể can thiệp vào quyết định cho vay của họ Và mối quan hệ dễ dãi quá mức giữa chính phủ và giới doanh nghiệp khiến các chaebol dễ dàng vay vốn ngân hàng
- Ba là, việc các tập đoàn được phép đầu tư không hạn chế vào các quỹ đầu tư, công ty tài chính khiến họ càng dễ dàng vay vốn từ các kênh này Một mặt họ tăng cường phát hành trái phiếu và giấy tờ có giá trên thị trường vốn, mặt khác không ngừng vay từ các ngân hàng Và chính các ngân hàng cũng đứng ra mua trái phiếu, giấy tờ có giá của chaebol
Năm 1997 Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng tiền tệ trầm trọng do sự thiếu hụt nghiêm trọng đô la thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Khủng hoảng tiền tệ, thực chất là khủng hoảng ngân hàng, đã dẫn đến sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng, chất lượng các khoản vay giảm sút nhanh chóng buộc chính phủ Hàn Quốc phải nhanh chóng tiến hành tái cơ cấu hệ thống ngân hàng
• Nội dung tái cấu trúc hệ thống tài chính
Ngay sau khi cuộc khủng hoảng bắt đầu, các cơ quan tài chính Hàn Quốc đã triển khai một hệ thống hành động khắc phục nhanh (PCA) Trong đó, tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu là chỉ số quan trọng nhất cho sự cần thiết của PCA PCA là hệ thống cho phép cơ quan giám sát tài chính để tự động ra lệnh cho một tổ chức tài chính đặc biệt bất cứ khi nào các điều kiện quản lý giảm xuống dưới một mức cài sẵn Hệ thống này giúp duy trì tài chính tính hợp lý và sự ổn định và giảm thiểu các chi phí xã hội phát sinh từ khủng hoảng tài chính , phá sản
Chính phủ Hàn Quốc đã tung ra 3 biện pháp chính để giải quyết tình hình: Một mặt ngân hàng trung ương Hàn Quốc bơm mạnh vốn vào hệ thống tài chính (tương đương 14% GDP) Đồng thời chính phủ tung tiền mua lại nợ xấu (tương đương 7% GDP) và áp dụng chính sách bảo vệ người gửi tiền (tương đương 5% GDP)
Các ngân hàng thiếu hụt vốn được cấp thêm vốn trong khi các định chế tài chính phi
Trang 30bảo lãnh Chính phủ Hàn Quốc cũng chủ động mời các nhà đầu tư nước ngoài tái cấp vốn các ngân hàng và nâng cao khả năng quản trị.
• Thực tế thực hiện
Sau lần đánh giá vào tháng sáu năm 1998, cơ quan có thẩm quyền đã quyết định đóng cửa 5 ngân hàng với tỉ lệ an toàn vốn tổi thiểu theo Basel giảm xuống thấp hơn 8% tại thời điểm cuối năm 1997 Các ngân hàng này sẽ được 5 ngân hàng lành mạnh hơn mua lại thông qua hoạt động mua và tiếp nhận (P&A), cho phép mua lại các tài sản một cách có chọn lọc và tiếp nhận các tài sản nợ P&A được ưa thích hơn việc thanh lý hay sáp nhập và mua lại vì những tác dụng phụ lên người gửi tiền, người vay tiền và chính phủ, chưa kể người mua lại, sẽ nhỏ hơn và quá trình này sẽ được thực hiện trong khoảng thời gian ngắn hơn
Bảy ngân hàng khác có tỉ lệ an toàn vốn theo basel nhỏ hơn 8% nhưng có khả năng thực hiện sự thay đổi, khi kế hoạch thay đổi này đã được thông qua một cách có điều kiện, được yêu cầu nộp bản kế hoạch cải tiến quản lý cho Uỷ ban giám sát tài chính (FSC) Bản kế hoạch phải đề cập đến các bước để lành mạnh hoá hoạt động kinh doanh thông qua việc tăng vốn, thay đổi trong đội ngũ quản lý và tinh giảm biên chế Đội giám sát của FSC sẽ rà soát lại những kế hoạch này, sửa đổi và bổ sung trước khi ra quyết định.Trong khi đó, các ngân hàng lành mạnh được khuyến khích mạnh mẽ trong việc củng cố hoạt động và phát triển dịch vụ ngân hàng toàn cầu để trở thành những ngân hàng đi đầu trong lĩnh vực ngân hàng Vụ sáp nhập lớn nhất và quan trọng nhất đã diễn ra vào tháng 11 năm 2011, khi ngân hàng Kookmin và Ngân hàng thương mại và nhà ở sáp nhập thành ngân hàng thương mại lớn nhất hàn quốc Việc sáp nhập của 2 ngân hàng này
đã tạo nên một làn sóng về áp lực cạnh tranh và thúc đẩy hoạt động tái cơ cấu và sáp nhập hơn nữa trong lĩnh vực ngân hàng, vì Kookmin là ngân hàng có thế mạnh trong hoạt động ngân hàng bán lẻ, còn ngân hàng thương mại và nhà ở có thế mạnh trong thị trường cho vay thế chấp
Trang 31Khi khủng hoảng bắt đầu, việc tái cấp vốn cho khu vực tài chính là cần thiết để làm giảm khủng hoảng tín dụng và duy trì chức năng của các ngân hàng như là những trung gian tài chính Nhận thức sâu sắc điều này, Chính phủ đã bơm một lượng lớn vốn công vào các tổ chức tài chính, tổng cộng 167.6 tỉ won từ tháng 11 năm 1997 đến tháng 7 năm
2005 Trong đó, 86.8 tỉ won được bơm vào hệ thống ngân hàng Các tổ chức tài chính có vấn đề đã nhận được tiền để thanh toán những khoản tiền gửi có bảo hiểm và mục đích tái cấp vốn chủ yếu bởi hiệp hội bảo hiểm tiền gửi Hàn quốc và để mua lại những khoản
nợ xấu (NPLs) bởi hiệp hội quản lý tài sản Hàn quốc Hàn Quốc thành lập một công ty xử
lý nợ (KAMCO) trực thuộc chính phủ để mua lại nợ theo giá thị trường Chi phí mà chính phủ bỏ ra để mua lại số nợ này chỉ là 33 tỷ USD với tỷ lệ chiết khấu bình quân 64%
Chính phủ, cùng với Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi (KDIC), đã tư nhân hoá 4 ngân hàng quốc gia (Korea First, Cheju, Seoul và Chohung) từ năm 1999 bằng cách bán cổ phần
Bảng 2.1.Thay đổi về số lượng ngân hàng
(Tháng 1 năm 1998 và Tháng 9 năm 2005)
Số ngân hàng vào cuối năm
1997 (A)
Đóng của và sáp nhập (B) Số
ngân hàng mới thành lập (C)
Số ngân hàng hoạt động (A-B+C)
1412(8)(4)2
55(3)(2)-
97(5)(2)2
-1914(8)(6)5
Nguồn: Ths Vũ Thị Kim Oanh, 2012, Tái cơ cấu ngân hàng – Kinh nghiệm từ Hàn Quốc, Thời báo ngân hàng.
Trang 32+ Tăng cường quy tắc thận trọng: Các cơ quan chức năng đã tăng cường quy tắc
thận trọng của ngân hàng để nâng cao sự lành mạnh và tính ổn định, đưa hoạt động của các ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế
Thứ nhất là, tiêu chí để tài sản của ngân hàng được coi là dưới chuẩn đã thay đổi từ
nợ quá hạn 6 tháng thành nợ quá hạn 3 tháng (tháng 9 năm 1998).Tiêu chuẩn cảnh báo cũng thay đổi từ những khoản nợ quá hạn 3 tháng thành nợ quá hạn 1 tháng.Và các tiêu chuẩn phân loại tài sản dựa trên khả năng thanh toán tương lai của người vay cũng được giới thiệu (tháng 12 năm 1999)
Thứ hai là, để giảm thiểu rủi ro do cho vay nhiều đối với một cá nhân, trần tín dụng với một cá nhân hay pháp nhân, cũng như là tổ chức kinh tế lớn và trần với các khoản tín dụng lớn đã giảm xuống (tháng 4 năm 1999) Cụ thể, trần tín dụng với cá nhân hay pháp nhân và trần tín dụng với các tổ chức kinh tế đã giảm từ 45% vốn tự có của ngân hàng xuống mức 20% và 25%, và khái niệm về các khoản tín dụng lớn với các cá nhân hay pháp nhân, các khoản tín dụn g tối đabằng 5 lần mức vốn tự có của ngân hàng, đã được thu hẹp từ 15% xuống 10% vốn tự có của ngân hàng
+ Tăng cường sự minh bạch trong quản lý các tổ chức tài chính: Việc công bố
thông tin không đầy đủ và ra các quyết định thiếu minh bạch được cho là một trong những nguyên nhân dẫn đến mức độ tin cậy thấp của hệ thống tài chính Hàn Quốc Tháng
tư năm 1998, ủy ban Quản lý Hoạt động Tài chính (FSC) đã đưa ra quy định về việc công
bố thông tin, bao gồm việc công bố thông tin bắt buộc về giá trị các khoản nợ xấu, về hệ thống quản lý rủi ro và tín dụng và về các kết quả kiểm toán Hàng quý, các ngân hàng phải công bố thông tin về bảng cân đối tài sản, và các thông tin công bố ko chính xác, ko trung thực sẽ chịu các hình phạt nặng hơn
+ Việc ra đời của các tập đoàn tài chính: Các quy định pháp lý về tập đoàn tài
chính đã được đưa ra để tăng cường khả năng cạnh tranh của các tổ chức tài chính thông qua việc mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động (tháng 11, năm 2000) Tập đoàn tài chính Woori (tháng 3 năm 2001), tập đoàn tài chính Shinhan (tháng 9 năm 2001) và tập đoàn tài chính Dongwon (tháng 3 năm 2003) đã lần lượt được thành lập
Trang 33+ Tăng cường hê thống tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính cho quá trình tái cơ cấu: Chính phủ đã sửa đổi các quy định tài chính có liên quan, bao gồm luật bảo vệ
người gửi tiền, luật cải thiện cơ cấu ngân hàng, luật ngân hàng, để thức đẩy quá trình tái
cơ cấu tài chính vào cuối năm 1997
• Thành tựu đạt được
Quá trình tái cơ cấu và cải cách ngân hàng đã đạt được những thành công nhất định Chất lượng tài sản tại các ngân hàng được cải thiện, tỉ lệ nợ xấu giảm 11,6% từ 13,6% vào cuối năm 1999 xuống 2% vào cuối năm 2004 Tỉ lệ an toàn vốn theo Basel tăng từ 7% vào cuối năm 1997 lên 11,3% và cuối năm 1994 Đặc biệt, lợi nhuận của các ngân hàng đã được cải thiện đáng kể, từ mức lợi nhuận âm ở những năm sau khủng hoảng đã tăng lên dương từ năm 2001.Bên cạnh đó, thị phần của các ngân hàng trên thị trường cũng tăng mạnh so với các tổ chức tài chính phi ngân hàng, thị phần của các ngân hàng nước ngoài cũng tăng đáng kể Hầu hết các khoản nợ xấu bị cho là phải xóa nợ cũng dần được thu hồi Mức xếp hạng tín nhiệm các ngân hàng hồi phục và đến đầu năm 2001 chính phủ Hàn Quốc không còn phải bảo đảm tiền gửi cho người dân Sau 5 năm thua lỗ, các ngân hàng bắt đầu có lời từ năm 2001 và tăng trưởng nhanh từ 2002 và phát triển ổn định cho đến nay
Nhìn tổng thể, quá trình tái cơ cấu ngân hàng ở Hàn Quốc sau cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á đã đem lại nhiều kết quả Việc tái cơ cấu ngân hàng dưới sự lãnh đạo của Chính phủ được thực hiện nhằm tạo ra các cải cách theo hướng thị trường, nhằm đảm bảo hoạt động ổn định và ngày càng phát triển của các ngân hàng Hàn Quốc sao cho Hàn Quốc sẽ không còn lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính nữa
2.1.2.3 Việt Nam
Ngân hàng là một ngành kinh tế trọng yếu của nước ta, 6/5/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam, cùng với đó hệ thống NHTM Việt Namkhông ngừng được củng cố và phát triển lớn mạnh đa dạng về tính chất hoạt động các loại hình sở hữu (2 nhóm: NHTMNN với 50% vốn nhà nước và
Trang 34NHTMCP) đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời cũng tạo ra thách thức rất lớn về nguồn lực cũng như quản lý rủi ro, đồng thời xuất hiện sự cạnh tranh không lành mạnh kèm theo các yếu kém của hệ thống NH: thanh khoản khó khăn, nợ xấu tăng, chất lượng quản lý hạn chế, nhiều NHTM hoạt động vì lợi ích mà chạy đua lãi suất gây ảnh hưởng tới hệ thống NH và thị trường tiền tệ…Các Ngân hàng còn chưa nhận thức được tàm quan trọng cũng như cơ hội và thách thức trong công cuộc tái cơ cấu nhằm nâng có năng lực cạnh tranh để phát triển Vấn đề nợ xấu được quan tâm
xử lý: giảm lãi suất, tăng cường trích lập quỹ dự phòng rủi ro theo quy định, đến cuối
2012 các NHTM đã xử lý được 65.740 tỷ đòng nợ xấu bằng quỹ dự phòng, còn 61.012 tỷ đồng chưa sử dụng và 237.500 tỷ đồng nợ xấu được cơ cấu lại Vốn tự có của NHTM Việt Nam tăng nhanh từ 2008-2012 nhờ nguồn vốn từ ngân sách, sáp nhập các NHTM cổ phần, lợi nhuận tăng khiến quỹ bổ sung vốn điều lệ và lợi nhuận tăng lên 31/13/2012 tất
cả các NHTM Việt Nam đều đạt được mức vốn điều lệ là 3000 tỷ đồng, vốn tự có và hệ
số an toàn tối thiểu của NHTM có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên vẫn còn khiêm tốn, cuối 2012 Agribank Ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất cũng chỉ ở 29.605 tỷ đồng (1.421 triệu USD) trong khi OCBC bank của Singapore là 18.018 triệu USD) Năng lực quản trị điều hành đã được nâng lên, nhiều Ngân hàng đã sử dụng mô hình quản trị hiện đại xác định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn các bộ phận Bên cạnh đó không ngừng nghiên cứu phát triển để cung cấp những sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày một cao của nền kinh tế không chỉ thực hiện chức năng chủ yếu là cho vay và huy động vốn mà còn cung cấp các dịch vụ tín dụng với mức phí phù hợp đã tạo lòng tin cho khách hàng trong
và ngoài nước Vấn đề nhân lực được quan tâm, nên khâu tuyển dụng được chú trọng và đặt ra các chỉ tiêu cụ thể cho việc chiêu dụ nhân tài Tỷ trọng nhân sự đại học trở nên chiếm tỷ lệ cao như ở ACB là 93%, Techcombank là 93.33% Cơ sở hạ tầng CNTT tương đối hiện đại đảm bảo an ninh mạng, giảm thời gian giao dịch hay cung cấp dịch vụ Cấu trúc sở hữu hệ thống ngày càng đa dạng phù hợp với trình độ phát tiển kinh tế trong nước
và và xu thế hội nhập mở cửa thị trường tài chính Hầu hết các mô hình tổ chức hoạt động của các NHTM được phân định sắp xếp thành các bộ phận kinh doanh, hỗ trợ và kiểm soát, thực hiện mục tiêu chuyển đổi từ mô hình truyền thống sang hiện đại đa năng
Trang 35Bảng 2.2 Số lượng NHTM Việt Nam giai đoạn 1991-2012
(*) NHTM có vốn nhà nước chiếm trên 50% được gọi là NHTMNN
Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam
Tái cấu trúc hệ thống được đặt ra từ sớm ngay từ cuối những năm 1990 và lại tiếp tục được đặt ra vào cuối thập niên 1990 khi hệ thống NHTM trong nước bộc lộ rõ những yếu kém và rủi ro mang tính hệ thống 2000-2007, chủ trương của NHNN là tập trung tái
cơ cấu toàn diện NHTMCP Tuy nhiên, từ khi Việt Namcam kết thực hiên WTO và hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ bộc lộ nhiều yếu kém về khả năng chống đỡ với những tác động từ bên ngoài,…Từ 2008 đến nay tái cấu trúc không ngừng được thực hiện
để phát triển bền vững và đóng góp nhiều hơn vào công cuộc phát triển đất nước
• Thành tựu
Thực hiện tái cấu trúc đã góp phần đổi mới về nhận thức và quyết tâm chính trị để quyết liệt thực hiện đồng bộ các giải pháp tổng thể.Môi trường pháp lý về hoạt động NH từng bước được thực hiện và hoàn chỉnh hơn An toàn hệ thống đã cải cách rõ rệt.Các NHTM từng bước tái cấu trúc tài chính theo hướng lành mạnh thông qua tăng vốn điều lệ
để cải thiện các chỉ tiêu tài chính và an toàn hoạt động.Vấn đề nợ xấu của hệ thống được nhận diện rõ nét và bước đầu có chuyển biến tích cực trong triển khai xử lý Năng lực cạnh tranh và cung ứng dịch vụ Ngân hàng của hệ thống NHTM ngày càng được cải thiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế Các NHTM Việt Nam đã tạo được sự đổi mới cơ bản trong quản trị điều hành, hướng tới mục tiêu hiệu quả, đảm bảo các chỉ số hoạt động theo chuẩn mực quốc tế NHNN đã thực hiện phân loại các NHTM thành các nhóm để định mức rủi ro Cụ thể, hệ thống NHTM Việt Nam được phân thành 3 nhóm:
Trang 36các Ngân hàng có tình hình tài chính mạnh có năng lực và quy mô, Ngân hàng có tài chính mạnh nhưng quy mô nhỏ, Ngân hàng có tình hình tài chính khó khăn cần phải cấu trúc lại Nhiều Ngân hàng đã sáp nhập, hợp nhất, mua lại nhằm tăng vốn đầu tư như: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) chính thức đi vào hoạt động sau khi hợp nhất từ 3 ngân hàng: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB), Ngân hàng Ðệ Nhất (Ficombank) và Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank) chính thức sáp nhập vào Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB) Nhiều ngân hàng đã chọn cách liên kết một phần để nâng cao tiêu chuẩn chất lượng ngân hàng Cho tới tháng 11/2012, NHNN đã giải quyết 252.000 tỷ đồng nợ được cơ cấu lại, tương ứng 8% dư nợ tín dụng Cùng với những nỗ lực của NHNN thì các ngân hàng cũng đã hy sinh ngắn hạn trong việc giảm lợi nhuận để tăng dự phòng rủi ro và xử lý nợ xấu, đến nay các ngân hàng đã
xử lý được 39.000 tỷ nợ xấu; vấn đề thanh khoản của toàn hệ thống ngân hàng đã được củng cố và ổn định Ðiều này được thể hiện dựa trên các dấu hiệu sau đây: Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng khá ổn định và giảm mạnh từ mức trên 20% xuống còn 10% - 12% tùy thuộc vào kỳ hạn, đặc biệt các giao dịch qua đêm đã tạm thời lắng dịu; Không
có dấu hiệu sụt giảm tiền gửi trong khi các kênh đầu tư khác như bất động sản, chứng khoán đang yên ắng; thị trường không xuất hiện các cuộc đua lãi suất huy động tiền gửi công khai
• Hạn chế
Quy mô vốn tự có của các NHTM Việt Nam còn nhỏ bé so với các NH khác trong khu vực và thế giới Nợ xấu còn cao chưa xử lý dứt điểm cơ cấu tổ chức và hoạt động chuyển biến còn chậm Năng lực quản lý điều hành còn hạn chế Công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu của NHTM hiện đại.Vấn đề phí dành cho tái cơ cấu là bao nhiêu và lấy
từ nguồn nào cũng chưa được làm rõ Tình trạng sở hữu chồng chéo của các NH chưa được xử lý, vẫn còn tình trạng các phòng ban nghiệp vụ từ trụ sở chính và chi nhánh được phân nhiệm theo nghiệp vụ và phân khúc theo địa giới hành chính, chưa chú trọng phân nhiệt theo nhóm khách hàng và loại hình dịch vụ như thông lệ quốc tế; mạng lưới
Trang 37chi nhánh phân bố chưa hợp lý Mặc dù các NHTM Việt Nam đã ý thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nhưng do hạn chế về vốn, kinh nghiệm nên việc triển khai còn chưa đạt hiệu quả cao, mức độ hiện đại còn thua kém so với các chi nhánh NHNN và ngân hàng 100% vốn nước ngoài Đội ngũ nhân lực trong các NHTM Việt Nam đang tồn tại một số hạn chế: thiếu hụt nghiêm trọng kiến thức về ngân hàng như một ngành kinh doanh, thiếu tự tin trong giao tiếp…vai trò thực tế của Hội đồng quản trị và Ban điều hành chưa được phân biệt rõ ràng; chưa coi trọng vấn đề quản trị rủi ro; quản trị công ty tại các NHTM chưa được quan tâm đúng mức và chưa được coi là mô hình thực sự cần thiết cho phát triển kinh doanh; rất nhiều NHTM thiếu vắng các thành viên độc lập là những người có uy tín, có kinh nghiệm trong các ủy ban thuộc Hội đồng quản trị Bản thân các NHTM đã không trích lập đầy đủ, trung thực dự phòng rủi ro tín dụng nên việc xử lý nợ xấu làm lành mạnh, an toàn hệ thống mà NHNN chưa thể xử lý dứt điểm suốt thời gian qua Ngoài ra,
nợ xấu được xử lý chủ yếu bằng dự phòng rủi ro tín dụng cho thấy hoạt động xử lý nợ của các NHTM Việt Nam vẫn chưa thực sự có hiệu quả vì việc thường xuyên sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu khiến lợi nhuận của ngân hàng bị ảnh hưởng, từ đó kéo theo những hệ quả xấu trong hoạt động kinh doanh và giảm lợi thế cạnh tranh trên thị trường
2.2 Tái cấu trúc đầu tư công ở Đông Á
2.2.1 Đặc điểm chung quá trình tái cấu trúc đầu tư công ở Đông Á
Hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại nhiều thành công cũng như thử thách đối với nền kinh tế Đông Á nói chung Tuy nhiên, với bối cảnh kinh tế khó khăn trên toàn thế giới, việc đầu tư và sử dụng khoản vốn này có hiệu quả là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, trong đó đầu tư công với vai trò đầu tàu trong tổng đầu tư toàn xã hội, là “kinh tế mồi” để phát triển một số ngành và vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời, thực hiện chính sách an sinh xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư công thấp, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, quá trình thực hiện và giám sát đầu tư công chưa được chú trọng, gây
Trang 38ra sự lãng phí, tham nhũng cũng như đầu tư dàn trải không đúng mục tiêu đòi hỏi phải thực hiện tái cơ cấu lại khoản đầu tư công.
Cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi về thuật ngữ đầu tư công, dưới góc độ kinh tế, đầu tư công là việc đầu tư để tạo ra năng lực sản xuất và cung ứng hàng hóa công cộng cũng như đáp ứng chi tiêu Chính phủ Theo quan niệm này, hàng hóa công cộng phải do Chính phủ cung cấp và cung cấp hàng hóa công không vì mục tiêu lợi nhuận, nhưng trong điều kiện xã hội hóa như hiện nay nhiều doanh nghiệp tư nhân cũng tham gia vào cung cấp hàng hóa công cộng như đường xá, vận tải công cộng, giáo dục khiến cho hoạt động đầu tư này vẫn vì mục tiêu lợi nhuận nên không được coi là đầu tư công
Để tái cấu trúc đầu tư công cần giảm bớt sự tham lam trong việc đầu tư khu vực nhà nước, đồng thời tạo cơ chế để cho khu vực tư nhân có thể phát triển Phải áp dụng cơ chế thị trường buộc các doanh nghiệp nhà nước khi làm các dự án phải tính toán trên cơ sở mục tiêu lợi nhuận và đầy đủ hiệu quả kinh tế
Vấn đề đầu tiên của đầu tư công là việc đầu tư dàn trải, kém hiệu quả, chi tiêu chính phủ không hợp lý Cuối năm 1997, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á lan rộng, các nước châu Á đã phải thắt chặt quản lý nợ công Như năm 1997 hệ thống tài chính Hàn Quốc đứng bên bờ vực đổ vỡ do các tập đoàn đầu tư dàn trải gây thua lỗ, nợ xấu các ngân hàng tăng cao Vậy nhưng chỉ sau 5 năm kinh tế Hàn Quốc đã “lột xác” nhờ tái cấu trúc nền kinh tế hợp lý, trong đó một trong những trọng điểm là tái cấu trúc đầu tư công
Vào thời kỳ đầu, nợ công và tăng đầu tư công kéo theo tăng trưởng nhanh Vấn đề
nợ công, hiệu quả đầu tư công chưa được đặt ra cấp thiết Tuy nhiên, khi nền kinh tế đã trải qua một thời kỳ đủ dài về tăng trưởng dựa trên tăng số lượng đầu tư, thì sự phát triển kinh tế tiếp theo sẽ ngày càng phụ thuộc vào các cơ hội thu hút công nghệ mới và tìm kiếm thị trường mới Rất nhiều dự án mới nổi lên, với công nghệ khác nhau, có thể thay thế cho nhau, hoặc cạnh tranh nhau để giành vốn đầu tư từ một nguồn lực giới hạn Một trong các giải pháp cho vấn đề là cắt giảm các dự án quá lớn, thiếu hiệu quả xã hội; và chấm dứt tình trạng tranh giành nguồn vốn công hữu hạn Hay cũng vậy, đầu tư công không thể dàn trải