Với những chính sách và biện pháp đúng đắn, Hàn Quốc đã vượt qua các vấn đề có nguồn gốc sâu xa từ quá khứ bằng cách xây dựng một cơ cấu kinh tế thích hợp cho một nền kinh tế phát triển
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
CHUYÊN ĐỀ
TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ HÀN QUỐC
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ HÀN QUỐC 2
1.1 Các khái niệm chung về tái cấu trúc kinh tế 2
1.1.1 Khái niệm về cấu trúc kinh tế 2
1.1.2 Khái niệm về tái cấu trúc kinh tế 2
1.2 Nội dung tái cấu trúc kinh tế 4
1.2.1 Tái cấu trúc hệ thống tài chính- ngân hàng 4
1.2.2 Tái cấu trúc đầu tư 5
1.2.3 Tái cấu trúc doanh nghiệp 6
1.2.4 Tái cấu trúc các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ 8
1.3 Nguyên nhân của tái cấu trúc kinh tế Hàn Quốc 8
1.3.1 Nguyên nhân khách quan 8
1.3.2 Nguyên nhân chủ quan 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ HÀN QUỐC 17
2.1 Tổng quan nền kinh tế Hàn Quốc 17
2.2 Thực trạng tái cấu trúc kinh tế Hàn Quốc 23
2.2.1 Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 23
2.2.2 Tái cấu trúc đầu tư, trọng tâm là đầu tư công 31
2.2.3 Tái cấu trúc doanh nghiệp 43
2.2.4 Tái cấu trúc các ngành công nghiệp,nông nghiệp,dịch vụ 60
2.3 Đánh giá tình hình tái cấu trúc kinh tế Hàn Quốc. 70
2.3.1 Thành Tựu 70
2.3.2 Hạn chế 75
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀN QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 76
3.1 Định hướng phát triển 76
3.1.1 Tăng trưởng GDP 76
Trang 43.1.2 Phát triển công nghiệp 77
3.1.3 Phát triển "nền kinh tế sáng tạo" 77
3.1.4 Hướng tới nền kinh tế xanh 77
3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 78
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa Tiếng anh Nguyên nghĩa Tiếng Việt
3 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
4 FSC Financial Supervisory
Commission
Ủy ban Giám sát tài chính
5 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
6 GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc gia
8 HCI Heavy-Chemical Industry Công nghiệp nặng và hóa chất
Communications Technology
Công nghệ thông tin và Truyền thông
10 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
11 IT Information Technology Công nghệ thông tin
12 KAMCO Korea Asset Management
Trang 6STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa Tiếng anh Nguyên nghĩa Tiếng Việt
16 KSE Korean Stock Exchange Hiệp hội các công ty niêm yết
trên sàn chứng khoán Hàn Quốc
17 MAFF Ministry of Agriculture,
Forestry and Fisheries
Bộ Nông, Lâm, Ngư nghiệp
18 MBC Munhwa Broadcasting
Corporation
Tông công ty Phát thanh Truyền hình Munhwa
21 NPL(s) Nonperforming loan(s) Nợ xấu
22 OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
23 PPP Purchasing Power Parity Ngang giá sức mua
25 R&D Research and Development Nghiên cứu và Phát triển
26 ROE Return On Equity Lợi nhuận trên vốn
27 TC Trilateral Commission Ủy ban ba bên
29 UNCTAD United Nations Conference on
Trade and Development
Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
30 USD United States Dollar Đô la Mỹ
Trang 7DANH MỤC HÌNH
1 Hình 2.1 Vai trò của KAMCO trong xử lý nợ xấu 28
2 Hình 2.2 Giải pháp tái cấu trúc hệ thống tài chính ngân hàng Hàn
6 Hình 3.1 Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Hàn Quốc
(1990-2015)
71
7 Hình 3.2 Tổng sản phẩm quốc nội Hàn Quốc (1990-2015) 72
8 Hình 3.3 Thu nhập bình quân đầu người Hàn Quốc (1990-2015) 72
9 Hình 3.4 Tỉ lệ thất nghiệp của Hàn Quốc (2006-2016) 74
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Tỉ lệ đầu tư trực tiếp của Mỹ trong tổng số đầu tư vào hàn Quốc
1962-1979
16
2 Bảng 2.1 Tăng trưởng GDP và Tổng thu nhập quốc dân theo đầu người Hàn
Quốc giai đoạn 2005 – 2014
5 Bảng 2.4 Các xu hướng trong cơ cấu việc làm, theo hiện trạng việc làm 32
6 Bảng 2.5 Thay đổi việc làm trong các ngành công nghiệp (1997-2001) 33
7 Bảng 2.6 Các xu hướng trong phân phối thu nhập 34
8 Bảng 2.7 Danh sách các Chaebol được xếp vào danh mục 500 công ty lớn
nhất thế giới năm 1996
46
9 Bảng 2.8 Chính sách Hàn Quốc thực hiện để tái cấu trúc doanh nghiệp 52
10 Bảng 2.9 Các chính sách tái cấu trúc các tập đoàn từ khi khủng hoảng tiền
tệ
53
11 Bảng 2.10 Kết quả chương trình tái cấu trúc (Workout cuối năm 2002) 55
12 Bảng 2.11 So sánh giữa kết quả và kế hoạch chương trình hoán đổi ‘Big
deal’
56
13 Bảng 2.12 Kết quả tái cấu trúc tự nguyện của bảy ngành (4/2002) 57
14 Bảng 2.13 Số lượng trung bình giám đốc và giám đốc thuê ngoài trong các
công ty niêm yết trên KSE
Trang 9MỞ ĐẦU
Hàn Quốc là một trong những nền kinh tế thành công nhất trong những thập kỷ gần đây Tuy không có tài nguyên thiên nhiên phong phú như các nước Đông Nam Á, song Hàn Quốc đã quyết tâm vươn lên bằng chính nội lực để trở thành một trong 20 nền kinh tế chủ chốt (G20), trở thành một nước có nền kinh tế phát triển
Hàn Quốc được xem là một nền kinh tế năng động và có định hướng cải cách cao Sau khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á 1997 – 1998 đến nay, được coi là giai đoạn điều chỉnh và hoàn thiện mô hình phát triển kinh tế Về cơ bản, giai đoạn này được coi là giai đoạn kết nối nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế toàn cầu
Với những chính sách và biện pháp đúng đắn, Hàn Quốc đã vượt qua các vấn đề có nguồn gốc sâu xa từ quá khứ bằng cách xây dựng một cơ cấu kinh tế thích hợp cho một nền kinh tế phát triển hơn Ngày nay, Hàn Quốc đã sánh vai cùng các nước tiên tiến trên thế giới Sản phẩm của xứ sở kim chi có mặt toàn cầu, với mức giá không hề thấp hơn so với các cường quốc công nghệ ở châu Âu, Mỹ hay Nhật Bản Để có được những thành quả này, phải
kể đến sự nỗ lực của chính phủ và nhân dân Hàn Quốc, với một loạt các kế hoạch và chính sách được đưa ra và thực hiện một cách xuất sắc để đưa nền kinh tế Hàn Quốc lên một tầm cao mới Sự phát triển thần kì của xứ sở kim chi đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho các quốc gia khác trong công cuộc đổi mới cơ cấu nền kinh tế
Thông qua việc nghiên cứu, phân tích về nền kinh tế Hàn Quốc, chúng ta có thể hiểu
rõ được những nguyên nhân, chính sách kinh tế đã làm nên sự phát triển ngoạn mục của quốc gia này, chính vì vậy nhóm chọn “Tái cấu trúc kinh tế Hàn Quốc” làm đề tài cho bài thảo luận này
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ HÀN QUỐC
1.1 Các khái niệm chung về tái cấu trúc kinh tế
1.1.1 Khái niệm về cấu trúc kinh tế
Cấu trúc kinh tế được hiểu một cách đầy đủ là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện Kinh tế- Xã hội nhất định, cả về số lượng lẫn chất lượng phù hợp với mục tiêu xác định của nền kinh tế
Có thể phân chia thành các loại như: cơ cấu ngành kinh tế(nông nghiệp, công nghiệp
và dịch vụ); cơ cấu theo thành phần kinh tế( kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài); cơ cấu vùng- lãnh thổ; cơ cấu tái sản xuất xã hội( đầu tư, sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng); cơ cấu các quan hệ sản xuất trong nền kinh tế; cơ cấu
tổ chức- quản lý nền kinh tế quốc dân.Mặc dù, theo hình thức phân chia nào thì cũng hướng đến xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý
1.1.2 Khái niệm về tái cấu trúc kinh tế
Thuật ngữ "Tái cấu trúc" hiện đang được sử dụng khá phổ biến và cũng có nhiều cách hiểu khác nhau:
Thứ nhất, tái cấu trúc kinh tế có thể hiểu là những thay đổi có tính bước ngoặt về cơ chế, chính sách kinh tế để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra Với quan niệm này, khái niệm tái cấu trúc nền kinh tế có nghĩa gần với khái niệm cải cách kinh tế hay đổi mới kinh tế Khái niệm tái cấu trúc kinh tế được sử dụng để chỉ những thay đổi lớn về cơ chế
và chính sách, không chỉ là những điều chỉnh chính sách kinh tế ở quy mô nhỏ mà chúng ta thường gặp
Thứ hai, tái cấu trúc kinh tế chính là quá trình thực hiện việc chuyển dịch, quá trình thay đổi của cơ cấu kinh tế cũ bằng một cơ cấu kinh tế mới, phù hợp hơn Trên cơ sở lý luận rằng, phát triển kinh tế là quá trình vận động liên tục, không ngừng của các bộ phận kinh tế và điều
đó cũng làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi hay là sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế Theo khái
Trang 11niệm này, tái cấu trúc (tái cơ cấu kinh tế) sẽ trùng hợp với quan niệm là tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, đặc biệt là cơ cấu ngành, cơ cấu khu vực kinh tế sở hữu hợp lý
Nền kinh tế là sự vận động theo quy luật có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Tái cấu trúc kinh tế là quá trình Chính phủ chủ động thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Chính phủ ban hành các chính sách tài chính, tiền tệ, các chính sách về hành chính, kinh tế và sử dụng các công cụ thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình để tác động tới việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực cần thiết nhằm dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế theo một xu hướng nhất định, đạt được các mục tiêu đặt ra trong từng giai đoạn phát triển
Tuy nhiên, một cách chung nhất có thể hiểu: Tái cấu trúc là sự thay đổi chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của một hệ thống hoặc là sự cơ cấu lại hệ thống bao gồm các hoạt động như sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức hoạt động, xác định lại mục tiêu, chiến lược, tầm nhìn, các giá trị cốt lõi và chuẩn mực của tổ chức hay doanh nghiệp
Tái cấu trúc có thể ở các cấp độ khác nhau, cấp độ cao là sự thay đổi tầm nhìn, chiến lược, cơ cấu lại toàn bộ tổ chức có tính hệ thống; cấp thấp là sự chuyển đổi, sắp xếp lại, đổi mới quy trình hoạt động và cũng có thể bao gồm cả hai cấp, vừa thay đổi tầm nhìn chiến lược, vừa thực hiện tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp
Như vậy, tái cấu trúc kinh tế là quá trình thực hiện việc chuyển dịch, quá trình thay đổi của cơ cấu kinh tế cũ bằng một cơ cấu kinh tế mới, phù hợp hơn.Cụ thể, Tái cấu trúc kinh tế không những là quy trình tổ chức lại cơ cấu kinh tế bằng cách hình thành mới, cắt bỏ đi, tăng hay giảm các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế, mà còn là những thay đổi có tính bước ngoặt về cơ chế, chính sách, tư duy kinh tế để đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội đã đặt ra.Để làm được điều đó, về chính sách, cần cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường kinh
doanh (ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và cải cách thể chế, v.v…) để cơ chế thị trường được vận hành tốt và phát huy đầy đủ hiệu lực trong huy động và phân bố nguồn lực Khởi động của tái cơ cấu kinh tế phải là đổi mới hệ thống đòn bẩy khuyến khích, thúc đẩy nguồn lực phân bố đến những nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn, đồng thời, buộc các doanh nghiệp, các nhà đầu tư phải đổi mới cách thức sử dụng nguồn lực,
Trang 12đổi mới cách thức quản lý, v.v để nâng cao hiệu quả, năng cao năng suất và nâng cao năng lực cạnh tranh Như vậy, thay đổi thể chế, thay đổi tạo lập hệ thống đòn bẩy phù hợp chính là khởi đầu của quá trình tái cơ cấu kinh tế
1.2 Nội dung tái cấu trúc kinh tế
1.2.1 Tái cấu trúc hệ thống tài chính- ngân hàng
Theo IMF, hệ thống tài chính bao gồm khu vực tài chính (bao gồm NHTW và các định chế tài chính) và các thị trường tài chính
Theo định nghĩa của WB (1998), tái cấu trúc ngân hàng bao gồm một loạt các biện pháp được phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là
nguyên nhân gây ra khủng hoảng
Một định nghĩa khác, theo Claudia Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu (Bài học từ tái cấu trúc ngân hàng, IMF - 1997) thì tái cấu trúc ngân hàng là biện pháp hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu suất hoạt động của ngân hàng, bao gồm phục hồi khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, cải thiện năng lực hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng để làm tròn trách nhiệm của một trung gian tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng
Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng không phải là một hoạt động mang tính định kỳ Các quốc gia chỉ tiến hành tái cấu trúc khi có những vấn đề điển hình nổi lên trong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động của các ngân hàng thương mại nói riêng Một số động cơ của việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng theo phân tích của Sameer Goyal (WB - 2011) đã chỉ ra như là:
- Khủng hoảng kinh tế;
- Nợ xấu gia tăng;
- Tỷ lệ an toàn vốn thấp;
- Thực hiện chức năng trung gian không hiệu quả;
- Khuôn khổ giám sát và quản lý yếu;
Trang 13- Thiếu niềm tin vào hệ thống ngân hàng
Từ những định nghĩa trên, về cơ bản có thể khái quát, tái cấu trúc ngân hàng là các biện pháp nhằm khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống ngân hàng (mà những khiếm khuyết này có khả năng gây ra một cuộc khủng hoảng trên toàn hệ thống), nhằm mục đích duy trì ổn định và hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng thanh toán và tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM
Các biện pháp tái cấu hệ thống trúc ngân hàng:
- Cơ cấu lại vốn tự có của các ngân hàng
- Mua lại, hợp nhất và sáp nhập
- Giải quyết vấn đề nợ xấu
- Cải thiện lòng tin vào hệ thống ngân hàng
- Cải thiện hành lang pháp lý và xây dựng tiêu chuẩn ngân hàng hiện đại
1.2.2 Tái cấu trúc đầu tư
Tái cấu trúc đầu tư thực chất là tái cấu trúc việc phân bổ các nguồn lực toàn xã hội cho đầu tư phát triển đất nước Các nguồn lực dành cho đầu tư phát triển trong từng thời kỳ luôn
là một đại lượng nhất định và có giới hạn, thường là thấp xa so với nhu cầu mong muốn
Tái cấu trúc đầu tư phải bao gồm cả việc cấu trúc lại các công trình, dự án đã đầu tư không phù hợp để lại hậu quả xấu (bao gồm cả mất ổn định kinh tế vĩ mô; lạm phát cao…) và ngăn ngừa việc tiếp tục sản sinh ra những danh mục đầu tư “ba không” (không rõ mục đích, đầu tư để làm gì và cho ai; không cân đối được nguồn lực, gây chậm trễ việc đưa dự án, công trình vào sử dụng làm triệt tiêu hiệu quả; không xác định được phân kỳ đầu tư phù hợp, gây lãng phí lớn nguồn lực của dân) Tái cơ cấu đầu tư bao gồm các nội dung:
- Tái cơ cấu nguồn vốn đầu tư;
- Tái cơ cấu ngành, lĩnh vực, địa bàn đầu tư;
- Nâng cao hiệu quả đầu tư
Trang 14Trong cơ cấu đầu tư toàn xã hội, đầu tư của khu vực công có một vị trí khá quan trọng Tái cấu trúc đầu tư công là thành tố quan trọng cần được thực hiện đầu tiên Bởi vì đầu tư là nguồn gốc của tăng trưởng và tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tái cấu trúc đầu tư công là yếu tố gây ra hiệu ứng mạnh và có tác động thúc đẩy tái cấu trúc đầu
tư Đầu tư công là công cụ điều chỉnh định hướng kinh tế và nó sẽ dẫn dắt các nguồn đầu tư nước ngoài và tư nhân trong nước
1.2.3 Tái cấu trúc doanh nghiệp
Tái cấu trúc doanh nghiệp là quá trình khảo sát, đánh giá lại cấu trúc hiện tại và đề xuất giải pháp cho mô hình cấu trúc mới nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho doanh nghiệp
nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra trong những điều kiện, hoàn cảnh luôn thay đổi Mục
tiêu chung của tái cấu trúc là đạt được một “thể trạng tốt hơn” cho doanh nghiệp để hoạt động hiệu quả dựa trên những nền tảng về sứ mệnh, tầm nhìn, định hướng chiến lược sẵn có của
doanh nghiệp
Việc tái cấu trúc doanh nghiệp luôn phải được xem xét một cách thường xuyên, nếu không, tình trạng mất cân bằng của hệ thống có thế xảy ra bất cứ lúc nào Tuy nhiên, vấn đề tái cấu trúc doanh nghiệp thường được đặt ra bới các lý do sau:
- Tái cấu trúc xuất phát từ các áp lực bên ngoài đế thích nghi theo môi trường kinh doanh
đã có những biến đổi về cơ bản Ví dụ: Chính sách cổ phần hóa – chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập AFTA, WTO
- Tái cấu trúc xuất phát từ các áp lực bên trong để phù hợp theo quy mô tăng trưởng, phát triển của doanh nghiệp Ví dụ: yêu cầu phân công chuyên môn hóa sâu hơn hoặc
để kịp thời ngăn chặn đà suy thoái của doanh nghiệp đang tiến đến bờ vực phá sản (chữa bệnh)
- Tái cấu trúc xuất phát từ cả hai luồng áp lực bên trong và bên ngoài - tức, để vừa chữa bệnh, vừa phòng bệnh
Tái cấu trúc doanh nghiệp bao gồm các hoạt động chính sau:
- Điều chỉnh cơ cấu các hoạt động: điều chỉnh cơ cấu các mục tiêu chiến lược, ngành nghề kinh doanh, chủng loại sản phẩm hàng hóa, địa bàn hoạt động
Trang 15- Điều chỉnh cơ cấu tồ chức bộ máy: tái bổ từ phân công chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ phận, các cấp quản lý, các chức danh
- Điều chỉnh cơ cấu thể chế: điều chỉnh các cơ chế, chính sách thông qua sự rà soát, thay đồi hợp lý hóa từ các quy trình công việc đến các quy chế, quy định
- Điều chỉnh cơ cấu các nguồn lực: điều chỉnh cơ cấu đầu tư tạo lập các nguồn lực và tái phân bổ sử dụng các nguồn lực
Những nội dung thường phải giải quyết khi tái cấu trúc doanh nghiệp:
- Tái cấu trúc doanh nghiệp cơ bản: Khảo sát, đánh giá mô hình cấu trúc hiện tại (hợp
lý, bất hợp lý); Thiết lập mô hình cấu trúc công ty mới; Xác định trách nhiệm quyền hạn của từng phòng ban, mô tả công việc cho từng cá nhân; Xây dựng hệ thống quản
lý tổng thế (nội quy, quy định, quy chế, thủ tục, biểu mẫu), Tập huấn triển khai; Vận hành và duy trì vận hành hệ thống quản lý mới,
- Tái cấu trúc doanh nghiệp chuyên sâu: Bao gồm công việc của tái cấu trúc doanh nghiệp cơ bản, cộng thêm: Tái thiết lập chính sách quản trị hành chính, nhân sự chuyên sâu; Tái thiết lập chính sách quản trị chiến lược tiếp thị, kinh doanh; Tái thiết lập chính sách quản trị cung ứng; Tái thiết lập quản trị sản xuất, kỹ thuật; Tái thiết lập chính sách quản trị kế toán, tài chính; Tái thiết lập các chính sách quản trị khác
Tái cấu trúc doanh nghiệp có thể chia thành 2 hình thức cơ bản
- Tái cấu trúc gắn liền với thay đổi cơ cấu chủ sở hữu: Thường bao gồm mua, bán, hợp nhất doanh nghiệp… Trong một số trường hợp, nó có thể đi liền với những thay đổi mang tính căn bản của doanh nghiệp như lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, định hướng chiến lược và định hướng phát triển thị trường
- Tái cấu trúc không gắn liền với thay đổi cơ cấu chủ sở hữu: cải tổ nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng cao hoạt động của một số bộ phận cho phù hợp với chiến lược phát triển của công ty
Trang 161.2.4 Tái cấu trúc các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Về tái cơ cấu ngành nông nghiệp, giải pháp chủ yếu bao gồm: thay đổi cơ cấu sản phẩm; thay đổi về lực lượng lao động; thay đổi về qui mô nông trại; thay đổi kết cấu hạ tầng nông nghiệp
Về tái cơ cấu ngành công nghiệp, phương hướng chủ yếu mà các nước hướng tới là việc thực hiện những cải tiến về công nghệ và đề ra một chính sách công nghiệp đa dạng nhằm mở rộng cơ sở công nghiệp, nâng cao năng suất, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp mới, cơ cấu lại các khu vực đang giảm sút, tập trung vào khuyến khích xuất khẩu
Về tái cơ cấu trong ngành dịch vụ, tập trung khai thác các dịch vụ dựa trên tri thức Bởi đây là một thành tố tối quan trọng của lợi thế cạnh tranh, sự gia tăng năng suất đóng vai trò quan trọng trong dây chuyền giá trị Các công nghệ thông tin và liên lạc đã làm tăng khả năng có thể trao đổi của các hoạt động dịch vụ dựa trên tri thức
1.3 Nguyên nhân của tái cấu trúc kinh tế Hàn Quốc
1.3.1 Nguyên nhân khách quan
- Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997
Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á bắt đầu xuất hiện từ việc tăng trưởng của Thái Lan giảm mạnh từ 1996 Đến tháng 7/1997, đồng Baht mất giá 20%, từ 25 Baht/USD còn 39Baht/USD Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar
Mỹ Cuộc khủng hoảng này có hiệu ứng lan tỏa nhanh chóng và ảnh hưởng sang các nước trong khu vực cũng như thế giới, trong đó có Hàn Quốc
Cuộc khủng hoảng đã chứng minh những hạn chế của việc phân bổ nguồn lực tùy ý và cho thấy sự cần thiết phải có những cải cách toàn diện Những chính sách trước đây vốn tạo điều kiện rất thuận lợi cho giai đoạn tăng trưởng cao và đã trở thành những tắc nghẽn đối với
Trang 17việc phát triển thành công trong môi trường kinh tế mới Ngoài ra, cũng dễ nhận thấy sự tồn tại của nhiều yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng lớn đến những khó khăn của Hàn Quốc trong khủng hoảng Nhật Bản, thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Hàn Quốc gặp khó khăn khiến giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc giảm mạnh năm 1996 Từ năm 1996, một số dấu hiệu cho thấy những khó khăn này mới thực sự xuất hiện và bộc lộ rõ nét với sự sụp đổ của tập đoàn thép HANBO do các khoản nợ quá lớn của tập đoàn này trong tháng 1 năm 1997 Sự sụp đổ của Cheabol lớn thứ 14 này còn kéo theo sự thất bại của 2 tập đoàn nữa và cho thấy, thời đại của chính sách “Càng to càng khó sụp” đã đến hồi kết thúc Cũng vì thế mà lãi suất trái phiếu của các doanh nghiệp lớn tăng mạnh và thị trường trái phiếu của chính phủ cũng gặp điều tương tự Có thể nói rằng lúc đó thị trường đang báo hiệu sự gia tăng rủi ro ngày càng lớn và thấy rõ của nền kinh tế Hàn Quốc
Với các lỗ hổng của hệ thống tài chính như vậy, Hàn Quốc bắt đầu bị đe dọa bởi các cuộc tấn công đầu cơ chống lại đồng nội tệ Các cuộc tấn công càng trở nên nghiêm trọng hơn khi thị trường chứng khoán Châu Á bị sụp đổ, điểm tín nhiệm của Hàn Quốc bị đánh giá thấp
đi Chỉ trong cuối năm 1997, đồng Won giảm 47% giá trị từ mức 1000 KRW/USD giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD Khiến cho hoạt động kinh tế đặc biệt là đầu tư ảnh hưởng nặng nề Trong cuộc khủng khoảng, doanh số bán hàng giảm 20% trong khi đầu tư giảm gần 100%
- Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008
Khởi đầu từ Mỹ đang ngày càng lan rộng và đe dọa nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh
tế toàn cầu làm thổi phồng giá bất động sản trung bình ở Mỹ lên cao hơn thực tế từ 50% đến 70% Tâm bão tài chính nằm ở các nền kinh tế đầu tầu Sự chao đảo của các thị trường tài chính và hao hụt tài sản lớn xảy ra khiến cho sức mua ở các thị trường chủ lực không còn sôi động, kéo theo suy giảm nhập khẩu và tất cả các nền kinh tế hướng ngoại Châu Á – khu vực
mà điểm đến xuất khẩu hàng đầu của họ là thị trường các nước công nghiệp phát triển không tránh khỏi tổn thương, trong đó có Hàn Quốc Với độ mở kinh tế khá cao, trong khi bạn hàng thương mại chủ yếu là Mỹ và EU, kinh tế Hàn Quốc đã chịu tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 cùng với nhiều nền kinh tế mới nổi khác Dù được
Trang 18hưởng lợi từ giá dầu lửa xuống thấp, kinh tế Hàn Quốc chịu những bất lợi khá lớn, chủ yếu qua 2 kênh thương mại quốc tế và đầu tư tài chính
Tổn thất doanh thu xuất khẩu của Hàn Quốc là vấn đề hết sức nóng bỏng Mỹ là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Hàn Quốc, là điểm đến của 13% tổng giá trị xuất khẩu năm
2007, do tiêu dùng ở Mỹ đình đốn, cho dù đồng won mất giá cũng không đủ để bù đắp thất thiệt trong xuất khẩu sang thị trường quan trọng này Trong khi với đối tác thương mại lớn thứ 4 là Nhật Bản (chiếm 10% tổng xuất khẩu), Hàn Quốc luôn ở thế thâm hụt thương mại, con số này đã lên đến 81tỷ USD năm 2007 Nguyên nhân chính là vì Hàn Quốc phụ thuộc rất nhiều vào nhập nguyên phụ liệu, phụ tùng dành cho các sản phẩm xuất khẩu với cơ cấu tương
tự như Nhật Bản Tình trạng mất giá đồng won càng làm cho thâm hụt thương mại song phương nghiêm trọng hơn Quan hệ thương mại Trung – Hàn nghiêng về phía thuận lợi cho Hàn Quốc với số thặng dư mậu dịch lên đến 15 tỷ USD năm 2007 Tuy nhiên, về giá thành sản phẩm xuất khẩu của Hàn Quốc không cạnh tranh được với Trung Quốc Điều này đẩy nền công nghiệp Hàn Quốc vào tình thế tiến thoái lưỡng nan liên quan đến công nghệ : Trung Quốc đuổi sát cạnh tranh trong khi Hàn Quốc không thể vượt qua Nhật Bản Với tổng giá trị xuất nhập khẩu tương đương 70% GDP, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã theo đó làm hao tổn tiềm lực kinh tế của Đại Hàn và làm hỏng kế hoạch đầy tham vọng tăng trưởng 7%/năm trong vòng 10 năm tới nhằm đưa Hàn Quốc trở thành nền kinh tế lớn với thu nhập quốc dân 40.000 đôla /người so với năm 2007 là 17.000 đôla/người
Dự trữ ngoại tệ giảm 27 tỷ USD trong tháng 10/2008, giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán giảm hơn 30%, đến 8/10 chỉ số Kospi giảm tới 66,9% rơi dưới ngưỡng tâm lý 1000 điểm Giá đồng Won so với đôla Mỹ diễn biến bất lợi lên đến 1.395W/USD, nội tệ giảm sút nghiêm trọng đến 33% so với hồi tháng 6/2008 khiến cho giá thành các sản phẩm Mỹ nhập khẩu vào Hàn Quốc trở nên đắt đỏ Tăng trưởng kinh tế của nước này giảm xuống 4,6% trong năm 2008 và xuống chưa đầy 4% năm 2009 do hứng chịu tác động của các cơn chấn động tài chính toàn cầu
Sự sụt giảm tài sản trên thị trường chứng khoán Mỹ khiến cho nhiều thể chế tài chính Hàn Quốc thua thiệt theo Theo Uỷ ban giám sát tài chính, các tổ chức tài chính Hàn
Trang 19Quốc đã đầu tư 2,72 tỷ USD vào Merill Lynch, Korean Investment Corporation (KIC) sở hữu
2 tỷ USD giá trị cổ phiếu ưu đãi của Merill Lynch vào tháng 1/2008, đến cuối tháng 7 giá trị
cổ phiếu này sụt xuống chỉ còn 88,5 triệu USD Cũng theo Uỷ ban giám sát tài chính, các tổ chức tài chính Hàn Quốc đã đầu tư tổng cộng 720 triệu USD vào Leman Brother Điều tồi tệ nhất xảy ra đối với các đế chế tài chính cũng là điều tệ hại đối với các thể chế tài chính Hàn Quốc
Hệ lụy xã hội gián tiếp từ khủng hoảng tài chính là vấn đề thất nghiệp gia tăng trong quý III/2008 Hiện nay có hơn 1,35 triệu lao động trong độ tuổi từ 20 đến 30 thất nghiệp và đang ráo riết tìm việc làm Hoạt động kinh doanh giảm sút khiến cho mức tuyển mới của 600 doanh nghiệp giảm trung bình từ 29 xuống còn 26 nhân viên/doanh nghiệp Trong khi các doanh nghiệp nhà nước đều hoãn tuyển dụng nhân viên đồng thời giảm tuyển dụng nhân viên mới trung bình từ 25 xuống còn 20 người/doanh nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp của Hàn Quốc hiện nay khoảng 3% - 4%, con số này không cao so với các nước Âu, Mỹ nhưng điều đáng lưu ý
là tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi từ 15 đến 29 lên đến 7% - 8% Sức ép xã hội của vấn đề thất nghiệp trong điều kiện kinh tế trong nước bất lợi cho tăng trưởng thực sự là bài toán nan giản về điều hành vĩ mô nhằm đưa Hàn Quốc thoát khỏi khủng hoảng
- Cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu
Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt nguồn từ năm 2010 tại Hy Lạp lan mạnh sang các quốc gia Châu Âu và ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của thế giới Các nước trong khu vực đồng tiền chung Châu Âu cùng với Mĩ và Nhật Bản là những nước có nguồn đầu tư FDI lớn nhất vào Hàn Quốc Do đó cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra đã ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế của Hàn Quốc Tỷ lệ ngoại tệ trên tiền gửi của Hàn Quốc là 328%, và tỷ lệ vốn ngoại
là 9%, phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài nên dễ đối mặt với rủi ro chi phí lãi vay tăng Chỉ số quản lý sức mua của nước này trong tháng 10/2011 ở dưới ngưỡng 50% tháng thứ ba liên tiếp là thời gian giảm mạnh nhất kể từ khủng hoảng tài chính 2008 - 2009 Xuất khẩu của Hàn Quốc sang châu Âu giảm 20% năm 2011 so với cùng kỳ năm 2010, trong khi sang Mỹ
cũng giảm 7%
Trang 20- Bất ổn chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi
Hàn Quốc là quốc gia nhập khẩu dầu lửa lớn thứ 8 của thế giới, chiếm 6% tổng lượng dầu lửa tiêu thụ của thế giới Khoảng 85% nền kinh tế Hàn Quốc dựa vào dầu thô Dubai của Trung Đông Do vậy, bất ổn chính trị leo thang trong khu vực này để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đến quá trình khôi phục kinh tế của Hàn Quốc, giá dầu tăng sẽ làm tăng giá cả tiêu dùng ở Hàn Quốc
Ngoài ra còn có rất nhiều doanh nghiệp xây dựng của Hàn Quốc hiện đang đầu tư vào Trung Đông và Libya nên các cuộc biểu tình ở đây sẽ ảnh hưởng đến ngành công nghiệp xây dựng trong nước Bất ổn ở Trung Đông đồng nghĩa thị trường xuất khẩu của Hàn Quốc sẽ bị thu hẹp lại, đặc biệt là với các công ty xây dựng Hàn Quốc Theo thống kê, ngành xây dựng của Hàn Quốc phụ thuộc đến 78% vào Trung Đông, trong đó kim ngạch xuất khẩu các công trình xây dựng và thiết bị phụ thuộc tới 65% vào khu vực này Chỉ riêng ở Libya, các doanh nghiệp Hàn Quốc đã và đang thực hiện những dự án xây dụng trị giá 25 nghìn tỷ won (tương đương 22 tỷ USD) Nếu các dự án này bị hủy bỏ hoặc gián đoạn thì nhiều công ty Hàn Quốc
có thể sẽ bị phá sản
- Ô nhiễm môi trường
Sau 30 năm tập trung cho phát triển kinh tế, môi trường của Hàn Quốc đã xấu đi nghiêm trọng cuối những năm 1980 và 1990 Ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, rác thải và mưa axít đã trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái
a) Môi trường không khí bị ô nhiễm
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ồ ạt đã làm cho lượng khói, bụi trong không khí lên nhanh chóng Lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính của Hàn Quốc đã tăng nhanh trong những năm qua Năm 1990 lượng khí CO2 thải ra của Hàn Quốc là 310 triệu tấn, đến năm
2004 đã tăng lên 590 triệu tấn, tương đương với 1,8% lượng khí thải CO2 toàn cầu Các ngành công nghiệp nặng và chế biến tiêu thụ 30% năng lượng của Hàn Quốc, nhiều hơn so với tỉ lệ 20% của Nhật Bản, 14% của Mỹ Theo dự tính của các nhà khoa học Hàn Quốc lượng khí thải CO2 dự đoán sẽ tăng lên 790 triệu tấn vào năm 2030
Trang 21Ô nhiễm không khí ở các thành phố của Hàn Quốc gần như tồi tệ nhất trong các nước OECD khi mà lượng khí CO2 thải ra đã tăng 98% trong thời kỳ 1990 - 2003 (OECD 2006), lượng khí thải trên đầu người tăng 77% và Hàn Quốc đứng thứ 9 trên thế giới về khối lượng khí thải CO2 Trong lần đánh giá đầu tiên của OECD vào năm 1997, mức độ thải khí CO2 của Hàn Quốc chỉ nhỉnh hơn mức trung bình của các nước OECD lúc đó là 0,64 tấn cho 1.000 USD giá trị GDP hàng năm, nhưng giờ đây sự chênh lệch về mức khí thải đã tăng lên nhiều khi mà con số của Hàn Quốc là 0,51 tấn so với 0,45 tấn của các nước OECD
Hàn Quốc đang là nước chịu ảnh hưởng nhiều bởi sự biến đổi khí hậu Nhiệt độ của 6 thành phố lớn của Hàn Quốc đã tăng lên 1,5 oC trong 100 năm qua, trong khi mức trung bình của thế giới là 0,74oC Trong vòng 40 năm mực nước biển ở đảo Jeju đã tăng 22 cm trong khi mức trung bình của thế giới là 1,8mm Lượng mưa trong thời kỳ 1996-2005 được đo ở 15 điểm đã tăng 10% so với thời kỳ 1971-2000 Thiệt hại do mưa lũ gây ra đã tăng 3,2% trong vòng 10 năm Ước tính thiệt hại lên tới 17,7 nghìn tỷ won (tương đương với 18 tỷ USD trong
10 năm qua (Park Hojeong, 2009) Chính vì thế mà gần đây Hàn Quốc đã đưa ra chiến lược tăng trưởng xanh, có nghĩa là tăng trưởng kinh tế đi liền với việc giảm khí thải các-bon b) Ô nhiễm nước
Chất lượng nước là một vấn đề lớn ở Hàn Quốc Mặc dù lượng mưa ở Hàn Quốc nhiều gấp 1,3 lần so với mức trung bình của thế giới, nhưng mưa thường tập trung vào mùa hè Hàn Quốc có 7 con đập được sử dụng với nhiều mục đích và 4 con đập ở các cửa sông để kiểm soát nước Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng đã làm tăng lượng nước thải công nghiệp cũng như nước thải sinh hoạt Nhiều dòng sông, vùng biển bị ô nhiễm, nguồn nước ngầm nhiều nơi cũng bị nhiễm kim loại nặng Việc sử dụng quá mức phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước Lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trên 1 héc ta (ha) canh tác đã tăng 30% trong vòng 10 năm, từ 69 kg 1980
đã tăng lên 91 kg năm 1990
c) Chất thải rắn
Trang 22Việc tìm chỗ để đổ chất thải rắn bao gồm cả rác thải xây dựng và rác sinh hoạt hàng ngày vẫn là vấn đề nan giải ở Hàn Quốc Diện tích lãnh thổ hẹp, dân cư đông đúc, đã làm cho Hàn Quốc được xếp vào hàng các nước có mức độ thải rác cao nhất thế giới Nhiều đô thị lớn, đặc biệt là Xơ-un đã lâm vào tình trạng khủng hoảng rác
Ngoài rác thải thông thường Hàn Quốc cũng luôn phải đau đầu về bãi chôn chất thải hạt nhân Hàn Quốc là một trong những nước phụ thuộc nhiều vào nguồn điện hạt nhân Tính đến năm 1986, Hàn Quốc đã có 11 nhà máy điện hạt nhân hoạt động, chưa kể 5 nhà máy khác đang trong quá trình xây dựng Theo kế hoạch của chính phủ lúc đó thì đến năm 2031 sẽ có tất cả 55 nhà máy điện hạt nhân
d) Bảo tồn môi trường tự nhiên
Hàn Quốc đã có 788.000 ha (tương đương với 1,8% diện tích cả nước) trong vùng bảo tồn tự nhiên Có 20 khu vực bảo tồn cấp quốc gia, 23 khu ở cấp tỉnh và 33 khu cấp huyện Chính phủ đặt mục tiêu tăng vùng bảo tồn lên bằng 3% diện tích cả nước vào năm 2017 Bên cạnh đó 188.000 ha vùng sinh thái biển cũng được bảo tồn Một số vườn quốc gia nổi tiếng như vườn quốc gia Bukhansan (8.000 ha) ở phía bắc Xơ-un Vườn này hàng năm thu hút khoảng hơn 10 triệu lượt khách du lịch Vườn quốc gia Jirisan và Seoraksan cũng tương đối lớn Hàn Quốc có 5 khu vực được công nhận là Di sản thế giới Đó là Bulguksa, Changdeokgung, Haeinsa, Hwaseong và Seokguram Grotto
Tuy nhiên do không chú ý tới vấn đề bảo tồn trong thời kỳ kinh tế phát triển nhanh mà nhiều loài động, thực vật quí của Hàn Quốc đã bị tuyệt chủng Theo báo cáo năm 2006 của
Bộ Môi trường thì Hàn Quốc hiện có 221 loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng trong đó có những loài quí hiếm như gấu đen Manchuria, Hươu Musk, và cáo đỏ Những loài như hổ Siberi, chó sói xám, hươu Sika và báo Amua được xem như đã bị tuyệt chủng ở Hàn Quốc
Có thể thấy rằng môi trường của Hàn Quốc đã trở nên tồi tệ sau 30 năm chú trọng phát triển kinh tế Hậu quả do ô nhiễm môi trường gây ra đã khiến cho chính phủ Hàn Quốc phải xem xét lại chính sách phát triển vào cuối những năm 1990
Trang 231.3.2 Nguyên nhân chủ quan
- Hậu quả hoạt động yếu kém của Cheabol( 1970-1980)
Để vực dậy nền kinh tế dựa vào nông nghiệp, những năm 1960 và 1970, Chính phủ Hàn Quốc đã hỗ trợ để biến một số công ty lớn do gia đình quản lý thành các tập đoàn kinh tế lớn Các tập đoàn này phát triển công nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu, trở thành động cơ đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc, tiêu biểu là Samsung, Hyundai, Daewoo Nhờ những lợi thế sẵn có và các chính sách ưu đãi của chính phủ, các chaebol này đã phát triển rất nhanh, chiếm lĩnh thị trường trong nước, áp đặt sự thống trị lên nền kinh tế, thậm chí có thể kiểm soát được cả khu vực tài chính
Sự thống trị của các Chaebol hùng mạnh đã phải trả giá bằng sự sụp đổ của các công
ty vừa và nhỏ khác, chỉ có các doanh nghiệp xây dựng được mối quan hệ với các cheabol này thông qua việc cung cấp các linh kiện sản xuất với giá thấp mới có thể tồn tại Ngoài ra, một phần lớn thu nhập từ đó rơi vào tay một nhóm nhỏ sở hữu các Cheabol này gây bất bình trong
xã hội “Chaebol đã gây áp lực lên các đối thủ nhỏ hơn, tích tụ sự giàu có khổng lồ vào tay các gia đình sở hữu chúng trong khi những người dân bình thường thì tụt hậu phía sau”, tờ Wall Street Journal nhận xét
Những mối quan hệ phức tạp giữa Chaebol với chính phủ đã góp phần đưa đến tình trạng tham nhũng, thậm chí là vi phạm các luật lệ quốc gia, góp phần không nhỏ khiến nền kinh tế Hàn Quốc sụp đổ dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997-1998, Hàn Quốc phải nhờ đến gói cứu trợ trị giá khoảng 58 tỉ USD của Quỹ Tiền tệ Quốc tế Sau cuộc khủng hoảng đó, Hàn Quốc đã tiến hành một cuộc tái cấu trúc nền kinh tế triệt để Tổng thống Kim Dae Jung lúc đó đã đề ra 5 luật lệ mà các tập đoàn phải thực thi: tập trung vào các ngành nghề cốt lõi; cải thiện cấu trúc tài chính; xóa bỏ việc bảo lãnh cho các khoản nợ chéo; nâng cao tính minh bạch quản trị; buộc lãnh đạo phải chịu trách nhiệm
- Bất ổn trong chính sách kinh tế vĩ mô
Yếu kém trong khu vực tài chính là sự can thiệp theo lối mòn của Chính phủ trong quản lý nội bộ của các định chế tài chính, không có khái niệm về phá sản do được Chính phủ bảo
Trang 24lãnh quá lớn, quản trị công ty của các ngân hàng kém, dự phòng rủi ro cho các khoản vay bằng các khoản vay ngắn hạn sau khi tự do hóa tài chính Vì vậy, tỷ lệ nợ xấu của các định chế tài chính đã tăng lên mạnh mẽ và nhiều công ty rơi vào tình trạng phá sản từ đầu năm
1997
Hàn Quốc nghèo tài nguyên thiên nhiên, cố gắng xuất khẩu để bù lại nhập khẩu Phong cách điều hành của chính quyền cứng nhắc và phụ thuộc vào Mỹ
Bảng 1.1: Tỉ lệ đầu tư trực tiếp của Mỹ trong tổng số đầu tư vào hàn Quốc 1962-1979
(đơn vị: Nghìn USD)
Nguồn: Economic planning board, white paper on foreign investment in Korea 1981
Trang 25CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ HÀN QUỐC
2.1 Tổng quan nền kinh tế Hàn Quốc
Về vị trí địa lí, Hàn Quốc là một quốc gia nằm ở Đông Bắc châu Á, nằm ở nửa phía Nam của bán đảo Triều Tiên, trải dài 1100 cây số từ bắc xuống nam Phía bắc giáp với Bắc Triều Tiên Phía Đông Hàn Quốc giáp với biển Nhật Bản, phía Tây là Hoàng Hải Hàn Quốc có khí hậu ôn đới và địa hình chủ yếu là đồi núi, bên cạnh đó quốc đảo này còn có tới
3200 hòn đảo nhỏ Lãnh thổ Hàn Quốc trải rộng trên 100.032 cây số vuông với địa hình đồi núi chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích Dân số khoảng hơn 50 triệu người vào năm 2015
Hàn Quốc có một nền kinh tế thị trường trong đó nhà nước đóng vai trò quan trọng.Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế phát triển, đứng thứ ba ở châu Á và đứng thứ 12 trên thế giới theo GDP năm 2014 – 2015 (theo IMF) Sau Chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một trong những nước giàu nhất Cuối thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc
độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhảy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỉ lục 10.000 USD vào năm 1995, đến năm 2014 con số này lên đến 28.100 USD
Nếu cách đây 30 năm tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với các nước nghèo ở châu Phi và châu Á thì hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc xếp thứ 10 trên thế giới Năm 2005, GDP danh nghĩa của Hàn Quốc ước đạt khoảng 789 tỉ USD, GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) ước đạt khoảng 1.097 tỉ USD Thu nhập bình quân đầu người tính theo GDP danh nghĩa và theo sức mua tương đương lần lượt là 16.270 USD và 22.620 USD (xếp thứ 33 và 34 thế giới) Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2010 tăng 6,2% cao hơn so với dự kiến sơ bộ đưa ra trước đó là 6,1%
Hàn Quốc phục hồi nhanh chóng sau cơn bão kinh tế cuối năm 1997 Cuộc khủng hoảng này có sức ảnh hưởng lớn tới các thị trường của khu vực châu Á, đe dọa các thành tựu kinh tế vượt bậc của Hàn Quốc Tuy nhiên, nhờ thực hiện nghiêm túc thỏa thuận của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ trong công cuộc cải tổ và đàm phán
Trang 26thành công về tái cơ trúc các khoản nợ nước ngoài với các ngân hàng tín dụng, Hàn Quốc hồi phục nhanh chóng và hiện lớn mạnh về kinh tế hơn bao giờ hết Ngay từ khi khủng hoảng xảy
ra, Hàn Quốc nhanh chóng hội nhập nền kinh tế toàn cầu với mục tiêu là vượt qua các vấn đề
có nguồn gốc sâu xa từ quá khứ bằng cách xây dựng một cơ cấ kinh tế thích hợp cho một nền kinh tế phát triển hơn
Hàn Quốc – vốn từng được biết đến là một trong những nước nông nghiệp nghèo nàn, lac hậu Trong vòng chưa đầy bốn thập kỷ, Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu lớn trong quá trình phát triển kinh tế Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn Quốc như là "Kỳ tích sông Hàn", đến nay kỳ tích này vẫn tiếp tục
“Kỳ tích sông Hàn” là cụm từ đề cập tới thời kỳ tăng trưởng kinh tế do xuất khẩu mang lại Là thời kì của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhanh chóng với những thành tựu công nghiệp to lớn Sự tăng lên nhanh chóng về mức sống, quá trình đô thị hóa nhanh, bùng nổ xây dựng cao ốc, tiến trình dân chủ hóa và toàn cầu hóa nhanh đã chuyển Hàn Quốc từ đống tro tàn của cuộc chiến tranh Triều Tiên thành một quốc gia phát triển và thịnh vượng với GDP cán mốc 1.304 tỷ USD cũng như nhiều tập đoàn lớn nổi tiếng như Samsung, LG…
Cụm từ này dùng để đề cập sự phát triển của thủ đô Seoul, thành phố có Sông Hàn chảy qua Cụm từ "kỳ tích" được sử dụng để mô tả sự tăng trưởng của Hàn Quốc hậu chiến tranh thành quốc gia có GDP danh nghĩa lớn thứ 13 thế giới và một hình mẫu cho nhiều nước đang phát triển Hạ tầng của Seoul đã bị cuộc chiến tranh Triều Tiên phá hủy và hàng triệu người phải sống trong nghèo khó vào thời điểm đó Chưa tới 4 thập kỷ sau, thành phố "vô vọng" này đã hoàn toàn chuyển thành một thành phố toàn cầu, một trung tâm kinh doanh và thương mại lớn ở châu Á có hạ tầng công nghệ thuộc hàng tiên tiến nhất trên thế giới
Chiến lược phát triển kinh tế định hướng đối ngoại của Hàn Quốc sử dụng xuất khẩu làm động lực tăng trưởng chiến lược này góp phần to lớn trong quá trình thay đổi nền kinh tế Hàn Quốc Dựa trên chiến lược này, nhiều chương trình phát triển được thực hiện thành công Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu bao gồm các loại nguyên vật liệu công nghiệp như dầu thô và
Trang 27khoáng sản, sản phẩm tiêu dùng nói chung, thực phẩm và hàng hóa, thí dụ máy móc, thiết bị điện tử và thiết bị vận tải Kết quả đạt được là:
Bảng 2.1: Tăng trưởng GDP và Tổng thu nhập quốc dân theo đầu người Hàn Quốc giai đoạn 2005 – 2014
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)
Từ năm 2000 đến 2002, Hàn Quốc đứng thứ 13 trên thế giới về kim ngạch thương mại
và luôn nỗ lực cải thiện vị trí này.Trong giai đoạn 2010 đến 2011, Hàn Quốc đã vươn lên vị trí thứ 9 và kim ngạch thương mại lần đầu tiên đạt ngưỡng 1.000 tỷ USD vào ngày 05/12/2011
Trang 28Hàn Quốc cũng là quốc gia có nguồn dự trữ ngoại tệ lớn thứ 6 trên thế giới Giống những quốc gia khác, nền kinh tế Hàn Quốc cũng chịu ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu Dù đồng Won mất gần một phần ba giá trị vào năm 2008, nhưng Giám đốc Văn phòng Khu vực Châu Á–Thái Bình Dương của IMF vẫn dự đoán rằng, Hàn Quốc sẽ phục hồi nhanh chóng do “các nhân tố kinh tế cơ bản được cải thiện” Tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc được duy trì bởi các ngành công nghiệp chủ chốt vốn đã được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu Hàn Quốc là quốc gia đóng tàu lớn nhất thế giới; hơn nữa, Hàn Quốc còn đứng đầu
về chất bán dẫn và màn hình hiển thị Ngoài ra, Hàn Quốc đứng thứ hai trên thế giới về điện thoại di động và thứ năm về thép và các ngành công nghiệp
Nhìn lại thì định hướng chính sách công nghiệp của Hàn Quốc thay đổi đáng kể trong mỗi thập kỷ hoặc hơn, giúp đưa nền kinh tế hướng tới một tương lai tươi sáng và thịnh vượng hơn Kể từ những năm 1960, Hàn Quốc bắt đầu thúc đẩy xuất khẩu bằng cách ban hành những đạo luật và qui định có liên quan, xây dựng kế hoạch phát triển định hướng xuất khẩu Trong thập niên 1970, công nghiệp hóa chất nặng là trọng tâm của chính sách công nghiệp quốc gia Trong những năm 1980, diễn ra quá trình tái cấu trúc nền công nghiệp Việc tái cấu trúc này nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Mở cửa và tự do hóa thị trường là điểm nổi bật trong thập kỷ 1990 Khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á xảy ra năm 1997, Hàn Quốc quyết định thực hiện những cải tổ táo bạo nhằm phục hồi nhanh chóng Các doanh nghiệp Hàn Quốc đi đầu trong việc tăng cường tính minh bạch và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, trong khi các chính sách khuyến khích kinh doanh bắt đầu được thực thi Trong cả năm 2014, nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng 3,3% so với năm trước.Và tới nay Hàn Quốc trở thành một nước có nền kinh tế đứng thứ 12 trên thế giới vào năm 2014-2015
Bối cảnh Hàn Quốc trước khi tái cấu trúc kinh tế
Khi xảy ra cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á, Hàn Quốc là quốc gia phải chịu ảnh hưởng nặng nề
Trang 29Đầu năm 1996, tập đoàn Woosing phá sản Ngày 23/1/1997, tập đoàn thép Hanbo phá sản, để lại món nợ 5,9 tỉ USD cho 61 ngân hàng và công ty tài chính Ngày 19/3/1997, tập đoàn thép Sammi - Chaebol đứng thứ 26 của Hàn Quốc phá sản, kéo theo 27 công ty thành viên phá sản, để lại món nợ 2,2 tỉ USD Từ 1/1997 đến 2/1998 có 8 Chaebel phá sản, trong đó
có công ty ô tô KIA, đứng thứ 3 trong Khủng hoảng tài chính –tiền tệ Đông Á 1997-1999 10 công nghiệp ô tô Năm 1998, Hyundai Motor mua lại Kia Motors Quỹ đầu tư mạo hiểm trị giá 5 tỉ USD của Samsung cũng giải thế do tác động quá mạnh của cuộc khủng hoảng, tiếp đó Daewoo Motors phải bán lại cho General Motors
Từ 13/7/1997, hàng loạt ngân hàng được các công ty đánh giá cho xuống hạng “không tin cậy” Ngày 30/9, tỉ giá hối đoái đạt 914,8 Won/ USD, tăng 8% so với mức 833,2% ngày 31/12/1996 Ngày 28 và 29/10/1997, tỉ giá hối đoái đạt mức giao động cho phép, không ai bán ngoại tệ cho ngân hàng Ngày 19/11/1997, giới hạn giao động tỉ giá được mở rộng tới 10%
Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra Khi thị trường châu Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở quy mô lớn Ngày 28 tháng 11 năm 1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống B2 Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4% Ngày 24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải
áp dụng các chính sách khắc khổ Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 Won/USD từ mức 1000 Won/USD Từ tháng 6 đến 12/1997, Chính phủ đã phải bán ra 14 tỉ USD để kìm giữ tỉ giá, song đã phải từ bỏ nỗ lực này khi dự trữ ngoại tệ giảm từ 34,1 tỉ USD xuống còn 20,4 tỉ USD Ngày 14/12/1997, đồng Won được thả nổi Ngày 23/12, tỉ giá tăng vọt tới 2000 Won/ USD, bằng 237% so với 31/12/1996 Việc đồng Won cuối cùng phải thả nổi chính là do việc giảm sút nguồn vốn vay ngoại tệ từ nước ngoài và sự rút vốn đầu tư nước ngoài ở Hàn Quốc ra khỏi quốc gia này trong năm 1997
Trang 30Ngày 29/12/1997, 10 trong số 14 ngân hàng thương mại có vấn đề bị đóng cửa Hai ngân hàng thương mại lớn bị Chính phủ quản lý Cuối tháng 4/1998, kế hoạch lành mạnh hóa bốn Ngân hàng thương mại bị bác bỏ, nhiều ngân hàng thương mại bị đóng cửa Ngày 29/6/1997, Chính phủ yêu cầu đóng cửa 5 ngân hàng thương mại nhỏ và 2 ngân hàng khác được sát nhập Ngày 24/8/1998, 2 ngân hàng lớn nhất Hàn Quốc là ngân hàng thương mại Hàn Quốc và ngân hàng Hanil tuyên bố sẽ sát nhập Ngày 25/9/1998, Chính phủ công bố một đợt tái cấu trúc các ngân hàng Tổng cộng Chính phủ tài trợ 64 nghìn tỉ Won cho các ngân hàng Trong năm 1997, có 14.000 doanh nghiệp phá sản và trong năm 1998, có tới 53.000 doanh nghiệp phá sản
Sự phá sản của hơn 70.000 doanh nghiệp và ngân hàng trong năm 1997 và 1998 đã làm cho số người thất nghiệp tăng từ 426.000 năm 1996 lên 1.461.000 năm 1998 Thất nghiệp, mất thu nhập với quy mô lớn làm nảy sinh hàng loạt vấn đề xã hội Nhằm khắc phục hậu quả của thất nghiệp, Chính phủ đã mở rộng hệ thống bảo hiểm cho các doanh nghiệp có
từ 5 lao động trở lên, so với trước khủng hoảng chỉ dành cho doanh nghiệp có 30 lao động trở lên Thời gian tối thiểu được hưởng bảo hiểm được tăng từ 1 thành 2 tháng, và tiền lương tối thiểu được bảo hiểm trả tăng từ mức 50% lương trước khi thất nghiệp lên mức 70% Một chương trình cho vay với lãi suất thấp đối với người thất nghiệp được triển khai từ tháng 4/1998 để giúp họ đảm bảo cuộc sống, việc hoạc hành của con cái, chuyển đổi nghề nghiệp
và thuê nhà Chính phủ cũng triển khai các chương trình đào tạo nghề để giúp người thất nghiệp chuyển đổi nghề và người không có học được việc làm Trong vòng 2 năm 1998-
1999, tổng cộng Chính phủ đã chi 10.000 tỉ Won để triển khai các biện pháp chống thất nghiệp
Trang 31Bảng 2.2: Tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp khi khủng hoảng tiền tệ châu Á
1997
Nguồn: Aseansec
Sự thất nghiệp gia tăng và đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả sự dụng lao động để tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao hơn đã dẫn tới sự biến đổi có tính đột phá trong hệ thống tuyển dụng và trả lương của Hàn Quốc trong đó lương được trả theo thời gian làm với công
ty, thời gian được đào tạo và tuổi của người lao động.Từ năm 1997, các doanh nghiệp bắt đầu chuyển dang hệ thống trả lương theo hiệu quả đóng góp của người lao động Tháng 1/1999, 15% số doanh nghiệp có trên 100 lao động đã áo dụng hệ thống trả lương mới này, và đến cuối năm 1999 hơn 50% doanh nghiệp đã áp dụng Chính phủ có nhiều ưu đãi về thuế cho
các doanh nghiệp này
2.2 Thực trạng tái cấu trúc kinh tế Hàn Quốc
2.2.1 Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
a Nguyên nhân
Cuộc khủng hoảng tài chính – ngân hàng Hàn Quốc có nguyên nhân chủ yếu bắt
nguồn từ việc đầu tư tràn lan và vay nợ quá mức của các tập đoàn kinh tế cũng như quy định
an toàn hoạt động ngân hàng lỏng lẻo, quản trị rủi ro yếu kém và thiếu sự minh bạch trong công tác tài chính của hệ thống các tổ chức tín dụng và bùng phát từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997
Khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á lan rộng, Hàn Quốc đã phải vay tổng cộng 57 tỷ USD từ Quỹ tiền tệ thế giới IMF để cứu nguy hệ thống ngân hàng và giúp nền kinh tế khỏi
Trang 32đổ vỡ Đây là hậu quả của một thời gian dài chính phủ dễ dãi trong việc cấp tín dụng cho các tập đoàn lớn khiến hoạt động đầu tư trở nên dàn trải, nợ xấu các ngân hàng tăng cao
Năm 1960, với mục tiêu thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh dựa vào xuất khẩu, chính phủ Hàn Quốc đã có chính sách khuyến khích hình thành các tập đoàn lớn làm đầu tàu cho nền kinh tế Khác với Việt Nam, các tập đoàn này đều là của tư nhân được quản trị theo kiểu gia đình và được gọi là các chaebol
Mối quan hệ dễ dãi quá mức giữa các Chaebol và chính phủ Hàn Quốc khi đó đã giúp các tập đoàn này dễ dàng vay vốn từ ngân hàng Bên cạnh đó việc cho phép các chaebol đầu
tư không hạn chế vào các tổ chức không phải ngân hàng trong những năm 1990 đã khiến các tập đoàn này mở rộng đầu tư quá mức và nợ nần chồng chất
Tính đến năm 1998, số nợ của các tập đoàn này đã tương đương 175% GDP của Hàn Quốc, dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai Đáng chú ý là vào thời điểm đó, do chính sách quản chặt dòng vốn đầu tư của nước ngoài, các khoản thâm hụt tài khoản vãng lai hầu hết được tài trợ bằng chính nguồn vốn vay ngắn hạn từ các định chế tài chính trong nước Những định chế này lại đi vay các ngân hàng nước ngoài tại Hàn Quốc để có vốn cho vay Việc này
đã dẫn tới một lượng khổng lồ nợ vay ngắn hạn không ổn định từ nước ngoài
Năm 1997, khi khủng hoảng nổ ra khiến hoạt động xuất khẩu giảm sút còn chính sách tiền tệ bị thắt chặt, nhiều Chaebol quy mô trung bình phá sản và các khoản nợ xấu tại các định chế tài chính trong nước tăng vọt Lo ngại mất vốn, các ngân hàng nước ngoài ồ ạt gõ cửa các ngân hàng, công ty tài chính Hàn Quốc đòi nợ
Tuy nhiên các định chế tài chính trong nước không thể hoàn trả bởi họ đã đem nguồn vốn vay ngoại tệ ngắn hạn cho các Chaebol vay đầu tư dài hạn Và khi lượng dự trữ ngoại hối của nhà nước không đủ để cấp vốn ứng cứu thị trường, cuối năm 1997 chính phủ Hàn Quốc buộc phải cầu viện IMF
Có thể thấy 3 nguyên nhân chính dẫn tới khủng hoảng tài chính tại Hàn Quốc đó là:
Trang 33Một là, sự quản lý của các cổ đông với các chaebol rất yếu kém do không có sự tách
bạch rõ ràng giữa quan hệ sở hữu và quản lý (các Chaebol thực chất là công ty gia đình và cổ phần do các công ty liên kết nắm giữ)
Hai là, mặc dù các ngân hàng đã được cổ phần hóa nhưng chính phủ vẫn có thể can
thiệp vào quyết định cho vay của họ Và mối quan hệ dễ dãi quá mức giữa chính phủ và giới doanh nghiệp khiến các Chaebol dễ dàng vay vốn ngân hàng
Ba là, việc các tập đoàn được phép đầu tư không hạn chế vào các quỹ đầu tư, công ty
tài chính khiến họ càng dễ dàng vay vốn từ các kênh này Một mặt họ tăng cường phát hành trái phiếu và giấy tờ có giá trên thị trường vốn, mặt khác không ngừng vay từ các ngân hàng
Và chính các ngân hàng cũng đứng ra mua trái phiếu, giấy tờ có giá của Chaebol
b Mục tiêu
Để ngăn chặn khủng hoảng, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện một kế hoạch kinh tế tổng thể: tập trung ổn định kinh tế vĩ mô và tái cấu trúc hệ thông ngân hàng, doanh nghiệp và thị trường lao động trong đó tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, trọng tâm là ngân hàng thương mại là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của Hàn Quốc ở giai đoạn này
c Chính sách và biện pháp thực hiện
* Chính sách
Chính phủ Hàn Quốc tập trung vào nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng cũng như ban hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế Nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan an toàn hoạt động ngân hàng cũng được điều chỉnh, sửa đổi để đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định và an toàn trong tương lai
Bên cạnh đó, tăng cường sự tham gia của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi vào tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thông qua một nền tảng pháp lý minh bạch Theo đó, Luật Bảo vệ người gửi tiền được ban hành năm 1995 là tiền đề cho việc thành lập Công ty Bảo hiểm tiền gửi (KDIC), quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi tại Hàn Quốc Luật Bảo vệ người gửi tiền quy định rõ mục tiêu hoạt động của KDIC là
Trang 34bảo vệ tiền gửi của người gửi tiền và duy trì ổn định tài chính tại Hàn Quốc, với các chức năng chính gồm:
Quản lý quỹ Bảo hiểm tiền gửi;
Giám sát rủi ro;
hệ thống tài chính ngân hàng KDIC đã cung cấp hỗ trợ tài chính cho 517 tổ chức tài chính bị mất khả năng thanh toán với số tiền lên tới 110,9 nghìn tỷ Won
Trong quy trình xử lý, KDIC đã giảm thiểu rủi ro đạo đức bằng cách áp dụng nguyên tắc chi phí tối thiểu, nguyên tắc chia sẻ thiệt hại KDIC cũng đã thực hiện điều tra và truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân, tổ chức gây ra đổ vỡ tại các tổ chức tài chính Nhờ đó, công tác quản trị doanh nghiệp tại các tổ chức tài chính đã được cải thiện rõ rệt, hệ thống tài chính ngân hàng khôi phục và hoạt động ổn định, hiệu quả hơn
Trang 35Một trong những việc làm đầu tiên của Chính phủ Hàn Quốc là tiến hành áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để đánh giá tình hình tài chính, các khoản nợ xấu và tiến hành phân loại ngân hàng thành 3 nhóm làm cơ sở cho quá trình hợp nhất và sáp nhập, bao gồm:
Nhóm các ngân hàng dẫn đầu (nhóm các ngân hàng lớn);
Nhóm các ngân hàng trung bình (chủ yếu tập trung vào các hoạt động bán lẻ);
Nhóm các ngân hàng nhỏ phục vụ cho các vùng địa phương đặc biệt
Mục tiêu chính của việc phân loại này là nhằm tạo ra các ngân hàng lớn sau khi hợp nhất và sáp nhập có đủ năng lực về tài chính để có thể cạnh tranh hiệu quả đối với các ngân hàng nước ngoài cũng như nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng này; Thu hẹp phạm vi hoạt động của các ngân hàng có quy mô vừa, tập trung vào phát triển các hoạt động kinh doanh chính; Các ngân hàng nhỏ nhưng hoạt động an toàn và hiệu quả, chỉ để phục vụ cho các vùng địa phương đặc biệt
Hai là, giải quyết nợ xấu ngân hàng
Sau khi tiến hành đánh giá và phân loại nợ xấu, để có thể giải quyết được các khoản nợ xấu của các ngân hàng, Chính phủ Hàn Quốc đã thành lập các Công ty quản lý nợ xấu Hàn Quốc (viết tắt là KAMCO) để mua lại các khoản nợ xấu từ các tổ chức tín dụng có kế hoạch sáp nhập và hợp nhất Trong năm 1997, Chính phủ Hàn Quốc đã cấp 64 nghìn Won, tương đương 15% GDP, để thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, trong đó 31,5 nghìn tỷ Won (chiếm 49,2%) được dành cho mua các khoản nợ xấu của hệ thống ngân hàng Tính đến cuối tháng 3/1999, KAMCO đã bỏ ra 20 nghìn Won để mua các khoản nợ xấu trị giá 44 nghìn tỷ Won của các ngân hàng
Trang 36Hình 2.1: Vai trò của KAMCO trong xử lý nợ xấu
Giá trị mua bán thực
Giá trị sổ sách
Giá trị mua bán thực
Giá trị sổ sách
Trang 37NPLs: giá trị nợ xấu KAMCO mua (lũy kế)
Nguồn: KAMCO
Ba là, hợp nhất, sáp nhập và mở rộng hình thức sở hữu
Sau khi đánh giá thực hiện mức vốn thực có của các NHTM (sau khi tiến hành bù đắp các khoản thiệt hại về nợ xấu và dự phòng), Chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành các bước đi mạnh mẽ để khuyến khích trên cơ sở tự nguyện hoặc buộc các NHTM sáp nhập lại với nhau, hoặc tăng vốn để đảm bảo mức vốn tối thiểu an toàn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng, thậm chí rút giấy phép cũng như buộc phải tuyên bố phá sản
Tháng 7/1998, Chính phủ Hàn Quốc đã buộc 5 ngân hàng đóng cửa do có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu dưới 8% và yêu cầu các ngân hàng này phải hợp nhất và sáp nhập lại với nhau
để đảm bảo đạt được mức an toàn vốn tối thiểu; buộc 7 ngân hàng yếu kém khác phải đưa ra
lộ trình thực hiện tái cấu trúc dưới sự giám sát của NHTW và Ủy ban giám sát tài chính (FSC) như tăng vốn, thay đổi ban điều hành ngân hàng và giảm bớt quy mô và phạm vi hoạt động
Bên cạnh đó, Chính phủ Hàn Quốc cũng khuyến khích các NHTM sáp nhập và hợp nhất lại với nhau để trở thành các ngân hàng hàng đầu có khả năng cạnh tranh hiệu quả với các ngân hàng nước ngoài Cụ thể, vào cuối tháng 11/2001, hai ngân hàng lớn của Hàn Quốc
là Kookmin Bank và Housing & Commercial Bank đã tự nguyện sáp nhập với nhau trở thành ngân hàng lớn nhất Hàn Quốc Đến cuối năm 2005, quá trình tái cấu trúc đã đưa tổng số ngân hàng ở Hàn Quốc từ 33 ngân hàng vào năm 1997 xuống còn 19 ngân hàng
Trang 38Hình 2.2: Giải pháp tái cấu trúc hệ thống tài chính ngân hàng Hàn Quốc
Nguồn: CIEM
d Kết quả
Các biện pháp này đã giúp cải thiện nhanh chóng tình hình tài chính cũng như quản trị của các ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng đã giảm mạnh từ mức đỉnh 13,6% vào năm 1999 xuống chỉ còn 2,4% trong năm 2002 Tỷ lệ an toàn vốn tăng mạnh từ mức đáy 7% năm 1997 lên 10,5% năm 2002
Trang 39Xây dựng các KDIC có vị thế độc lập tương đối và chủ động trong xử lý đổ vỡ ngân hàng và khủng hoảng tài chính hiệu quả Khôi phục ổn định hệ thống tài chính ngân hàng và
ổn định kinh tế vĩ mô tại Hàn Quốc
Hầu hết các khoản nợ xấu bị cho là phải xóa nợ cũng dần được thu hồi Mức xếp hạng tín nhiệm các ngân hàng hồi phục và đến đầu năm 2001 chính phủ Hàn Quốc không còn phải bảo đảm tiền gửi cho người dân Sau 5 năm thua lỗ, các ngân hàng bắt đầu có lời từ năm
2001 và tăng trưởng nhanh từ 2002 và phát triển ổn định cho đến nay
2.2.2 Tái cấu trúc đầu tư, trọng tâm là đầu tư công
a Nguyên nhân
Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Hàn Quốc đã kéo theo những rối loạn xã hội gay gắt Đó
là sự phá vỡ những giá trị truyền thống, chiều hướng nghèo tương đối lan rộng, tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng, thu nhập giảm sút … Thất nghiệp, mất thu nhập với quy mô lớn làm nảy sinh hàng loạt vấn đề xã hội Khủng hoảng tài chính đã làm gián đoạn 30 năm tăng trưởng nhanh chóng, vốn đã tạo ra những tiến bộ vượt bậc trong việc giảm đói nghèo và cải thiện các chỉ số xã hội Tác động xã hội của cuộc khủng hoảng thật nhanh chóng và phức tạp không ngờ.Hàn Quốc có sự gia tăng đói nghèo mạnh nhất Ngay trước khủng hoảng trong quý I – 1997 là 7,5% thì đến quý III – 1998 tăng lên 23% Tỷ trọng tiền và lương tháng trong thu nhập quốc dân khả dụng đã giảm từ 55% năm 1997 xuống 51% năm 1998
Có thể nói, cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào cuối năm 1997 đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế Hàn Quốc nói chung và thị trường lao động Hàn Quốc nói riêng Nó làm cho nền kinh tế suy giảm nghiêm trọng và khiến hàng loạt các công ty và tổ chức tài chính phải ngừng hoạt động hoặc phá sản Các ngân hàng và tổ chức tín dụng phải tăng cường các biện pháp an toàn tín dụng và vì vậy không thể tiếp tục cho vay, ngay cả đối với các công ty làm ăn tốt Điều này khiến một số lượng lớn các công ty vừa và nhỏ rơi vào tình trạng khó khăn không thể tiếp tục duy trì hoạt động Bên cạnh đó, các tập đoàn lớn (Chaebol) cũng rơi vào tình trạng tương tự phải thanh toán bớt các khoản nợ để đảm bảo mức nợ an toàn và cũng không được vay mới, buộc họ phải áp dụng các biện pháp đối phó như sa thải nhân công, cắt
Trang 40giảm tiền công và điều chỉnh cơ cấu việc làm, các phong trào lao động (biểu tình, bãi công) tăng cao
Đối tượng lao động chịu tác động của cuộc khủng hoảng nhiều hơn cả là những lao động phổ thông (chưa qua đào tạo) Theo các con số thống kê của Tổng cục Thống kê Hàn Quốc, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng từ 2,5% năm 1997 lên 8,6% vào tháng 2/1999 Số người thất nghiệp tăng từ 0,5 triệu trước khủng hoảng lên 1,5 triệu vào năm 1998 và 1,8 triệu vào tháng 2/1999 Dân số phi hoạt động kinh tế tăng 5,5% (từ 13,13 triệu lên 13,85 triệu) trong khi dân
số hoạt động kinh tế giảm 0,9% (từ 21,60 triệu xuống 21,39 triệu) trong giai đoạn 1997 -
1998 Thời gian thất nghiệp bình quân cũng trở nên dài hơn Tỷ trọng thất nghiệp 6 tháng hay dài hơn đã tăng từ 7,8% trong quý I/1998 lên 31,2% trong quí I/1999
Bảng 2.4: Các xu hướng trong cơ cấu việc làm, theo hiện trạng việc làm
(Đơn vị: Nghìn người)
Lao động gia đình 2.046 1.918 2.028 1.899
Lao động hưởng lương 13.163 12.522 12.191 13.226
Lao động thường xuyên (toàn thời gian
+ tạm thời)
10.808 10.233 10.455 11.334
Lao động toàn thời gian 6.319 6.050 6.457 7.151
Lao động tạm thời 4.488 4.183 3.998 4.182
Lao động theo ngày 2.356 2.289 1.735 1.892
Nguồn: Tổng cục Thống kê Hàn Quốc, hiện trạng việc làm năm 2000
Việc làm suy giảm dẫn tới sự suy giảm về tỷ trọng tiền công và tiền lương trong thu nhập quốc gia (từ 55% năm 1997 xuống 50,8% năm 1998) trong khi tỷ trọng lợi nhuận tăng