Còn có thể định nghĩa đơn giản hơn: Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó khoahọc, kĩ thuật và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố hàngđầu quyết định việc sản
Trang 1Chuyên đề : VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI KINH TẾ THẾ GIỚI
1.1 Bản chất của sự phát triển kinh tế
1.1.1 Thế nào là phát triển kinh tế……… …….………… 2
1.1.2Phát triển kinh tế bền vững …… 2 1.1.3 nền kinh tế tri thức……… …….3
1.2 lý luận chung về khoa học-công nghệ
1.2.1 khoa học……… …… 4 1.2.2 công nghệ……….….…4 1.2.3mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ……… …….…4
1.3Phát triển và đổi mới khoa học-công nghệ
1.3.1 Quá trình phát triển của khoa học-công nghệ thế giới ……… …5 1.3.2 Đổi mới công nghệ……… 6
Chương 2 : ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI
KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC
2.1Vai trò của khoa học- công nghệ đối với kinh tế thế giới:
2.1.1Khoa học công nghệ đã mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất và năng suất lao động thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế ………7 2.1.2Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ……… 8 2.1.3 Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại – Yếu tố tiền đề chủ yếu của kinh tế tri thức………8 2.1.4 Khoa học và công nghệ thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế
tế……… 9
2.1.5 Tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị
Trang 22.2 Các cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại và đặc điểm:
2.3 Thành tựu của khoa học-công nghệ đối với kinh tế thế giới và của Việt Nam :
2.3.1) Thành tựu của khoa học-công nghệ đối với kinh tế thế giới…………10 2.3.2) Thành tựu của khoa học-công nghệ đối với kinh tế Việt Nam …… 12
Chương 3 : XU THẾ CỦA THẾ GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN KHOA
HỌC-CÔNG NGHỆ VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA
3.1) Làm thế nào để đánh giá đóng góp của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế? Xu hướng của thế giới trong đầu tư phát triển công nghệ 3.1.1) Làm thế nào để đánh giá đóng góp của khoa học công nghệ đối với sự
phát triển kinh tế? 15 3.1.2) Xu thế của thế giới trong phát triển khoa học- công nghệ………… 16
3.2) Việt Nam với sự phát triển khoa học –công nghệ
3.2.1) Quan điểm của nước ta về việc đầu tư phát triển khoa học-công nghệ………18 3.3.2) Các chính sách của Đảng và Nhà nước ta đầu tư chokhoa học-công nghệ nhằm phát triển kinh tế ……….… 19 3.2.3) Tác động của khoa học công nghệ tới phát triển kinh tế của Việt Nam……….25
Kết luận :
Tài liệu tham khảo:
Trang 4Danh mục chữ viết tắt
Fund
Quỹ tiền tệ thế giới
Economic Co-operation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Countries
Nước công nghiệp mới
hợp
Output Rate
Hệ số sử dụng vốn, hay hệ
số đầu tư tăng trưởng
i
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Các Mác từng nói: “ Khoa học là tinh hoa của tiến trình phát triển chung củalịch sử Hơn thế nữa, đó là đòn bẩy mạnh mẽ của lịch sử, là một lực lượng cáchmạng, theo ý nghĩa chính xác nhất của từ đó”.Lịch sử phát triển của xã hội loàingười đã chứng minh điều đó là đúng
Ngay từ thế kỉ XVII, khoa học đã từng bước đưa ngành trồng trọt chăn nuôitrở thành cốt lõi của nền kinh tế nông nghiệp, phát triển chủ yếu dựa vào tàinguyên thiên nhiên Đến giữa thế kỉ XVII, nền kinh tế công nghiệp bắt đầu đượchình thành Từ đó đã có hai cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra nhờ sự phát triểnvượt bậc của khoa học kĩ thuật, được đánh dấu bằng sù ra đời của máy hơi nước vàmáy phát điện Và đặc biệt, với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đầu thế kỉ XX,loài người đã đi sâu nghiên cứu thế giới từ vi mô đến vĩ mô, tất cả những sự vậtnằm ngoài khả năng quan sát của giác quan con người Cuộc cách mạng khoa học
kĩ thuật đó tất yếu sẽ dẫn đến cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất mà ngày naychúng ta gọi là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, bắt đầu vàokhoảng sau đại chiến thế giới lần thứ hai Có thể nói với sự phát triển của khoahọc-công nghệ đã khiến kinh tế thế giới tăng trưởng vượt bậc, nâng lên tầm caomới, đóng vai trò “đòn bẩy” cho nền kinh tế…
Trên thế giới, nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm đến khoa học công nghệ Điểnhình là Mĩ Tháng 9 năm 2009, tổng thống Mĩ đã ban hành Chiến lược đổi mới,cam kết trên 100 tỷ USD đầu tư vào giáo dục, y tế, khoa học công nghệ; tăng gấpđôi ngân sách nghiên cứu của các cơ quan khoa học chủ chốt
Từ xa xưa, cha ông ta đã chỉ rõ hiền tài là nguyên khí của quốc gia; “Phi trí bấthưng” Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III cách đây trên nửa thế kỷ,Đảng ta đã đề cập đến 3 cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học-kỹ thuật làthen chốt Các Nghị quyết tiếp tục sau đó cho đến nay, khoa học-công nghệ đượcxác định là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất đểphát triển kinh tế-xã hội
Vậy đâu là nguyên do khiến khoa học công nghệ nhận được sự quan tâm đầu
tư lớn như vậy? Vai trò của khoa học công nghệ là gì? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu!
Trang 7
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ
1.1 Bản chất của sự phát triển kinh tế
1.1.1) Thế nào là phát triển kinh tế?
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế Nó baogồm tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh
- Chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân số trong xã hội sẽ được cải thiện
và cao hơn: giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm lo nhiều hơn,môi trường sống được đảm bảo
Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nộitại (bên trong) quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó
1.1.2) Phát triển kinh tế bền vững
Ngày nay, các nền kinh tế trên thế giới đều hướng vào một mục tiêu chung: pháttriển kinh tế bền vững- sự phát triển mọi mặt trong hiện tại vẫn đảm bảo sự pháttriển trong tương lai Quan điểm này được đưa ra lần đầu năm 1987 và được pháttriển một cách hoàn thiện, đầy đủ hơn trong Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới vềphát triển bền vững năm 2012( Rio+20) tổ chức ở thành phố Rio de Janeiro(Brazil) với nội dung: “ Phát triển bền vững là qúa trình phát triển có sự kết hợpchặt chẽ hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiệncác vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường”
1.1.3) Nền kinh tế tri thức
Thế giới đã và đang trải qua nhiều giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau: từ nềnkinh tế hàng hóa tự cung tự cấp, nền kinh tế hàng hóa tập trung( bao cấp), và gầnđây nhất, cũng là nền kinh tế phát triển nhất, nền kinh tế tri thức Theo cách định
Trang 8nghĩa của tổ chức quốc tế về hợp tác và phát triển kinh tế (viết tắt là OECD): Kinh
tế tri thức là một dạng hình kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng trithức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của nền kinh tế nhằm tạo racủa cải vật chất, nâng cao chất lượng cuộc sống con người
Còn có thể định nghĩa đơn giản hơn: Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó khoahọc, kĩ thuật và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố hàngđầu quyết định việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh và triển vọng phát triển.Đặc điểm của kinh tế tri thức là vai trò ngày càng to lớn của những đổi mới liên tục
về khoa học và công nghệ trong sản xuất và vai trò chủ đạo của thông tin và trithức với tư cách là nguồn lực cơ bản tạo nên sự tăng trưởng và năng lực cạnh tranhcủa nền kinh tế
Như vậy trong nền kinh tế tri thức, vấn đề không chỉ ở việc tạo ra tri thức, mà phảithu nhận, sử dụng và truyền bá tri thức Kinh tế tri thức không chỉ bao hàm duynhất các lĩnh vực lao động với công nghệ cao, sử dụng lao động có tri thức và laođộng có kĩ năng cao là chính, mà còn là quá trình tri thức xâm nhập và chi phối tất
cả mọi hoat động kinh tế Nghĩa là không phải tất cả các ngành đều phải dựa trênnền tảng công nghệ kĩ thuật cao, song điều chắc chắn là tất cả các ngành đều hoạtđộng dưới sự chi phối của tri thức.Tóm lại, tri thức vừa là nội dung vừa là động lựccủa nền kinh tế
1.2 Lí luận chung về khoa học công nghệ
Trang 9Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con ngườicũng như của những động vật khác vào môi trường tự nhiên của mình.
1.2.3 Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ
Phải khẳng định rằng khoa học và công nghệ luôn có mối liên quan mật thiết vớinhau
Khoa học tạo cơ sở lí thuyết và phương pháp cho ứng dụng, triển khai công nghệmới vào sản xuất, đời sống.Nếu khoa học nghiên cứu các sự kiện tự nhiên, từ ứngdụng của các kiến thức khoa học để phát triển sản phẩm, tức kĩ nghệ, thì công nghệchính là vệc sử dụng các sản phẩm đã được “ kĩ nghệ hóa”.Thuật ngữ công nghệchính vì vậy mà được đặc trưng bởi các phát minh và cải tiến sử dụng các nguyên
lí đã được khoa học phát hiện gần nhất
Ngược lại, công nghệ là cơ sở để tổng quát hóa những nguyên lí khoa học, taọ ranhững phương tiện làm khoa học có bước tiến dài
1.3 Phát triển và đổi mới khoa học-công nghệ
1.3.1 Quá trình phát triển của khoa học-công nghệ thế giới :
Đầu thế kỷ XX, loài người đã tích lũy được một kho tàng trí tuệ về khoa học và kỹthuật đồ sộ Các Mác (1818 - 1883) đã từng có một luận điểm nổi tiếng: “tri thức
xã hội phổ biến (được hiểu là khoa học - TVK) đã chuyển hóa thành lực lượng sảnxuất trực tiếp” Tuy nhiên do điều kiện lịch sử lực lượng sản xuất phát triển khôngđồng đều, không dưới 80 - 90% dân số thế giới vẫn sống trong nghèo nàn lạc hậu
và khoa học công nghệ vẫn chưa thực sự phát triển
Khoa học và công nghệ (KHCN) giai đoạn mới hiện nay bắt đầu phát triển mạnh từnhững năm 40 thế kỷ trước và đặc trưng rõ nét nhất từ khi vệ tinh nhân tạo đầu tiênchinh phục không gian vũ trụ (1957), tiếp đó là con người bay vào vũ trụ, đặt chânlên mặt trăng, cũng như các công trình nghiên cứu vũ trụ khác đến nay hầu như làchuyện “hàng ngày” Được sự kích thích và sự hỗ trợ của công nghệ vũ trụ, cácngành công nghệ mới với tầm cao mới liên tiếp ra đời, đặc biệt là công nghệ thôngtin, viễn thông, công nghệ năng lượng tái tạo,… với những phát minh kỳ diệu nhưlade (1967), truyền hình qua vệ tinh nhân tạo (1964), tổng hợp gien (1973), mạch
tổ hợp cho (1965), máy tính điện tử, máy tính điện tử sinh học dựa trên cấu tạo bộ
1óc con người (1994), bộ vi xử lý (1971), rệp điện tử, máy gia tốc, v.v…
1
Trang 10Có thể nói từ nửa cuổi thế kỷ XX, con người đã mở rộng thêm tầm nhìn, thực sựnối thêm cánh để bay và làm việc trong không gian bao la, đã làm cho không gianthu hẹp khoảng cách, con người xích lại gần gũi nhau hơn, cuộc sống tốt đẹp, sôinổi hơn, khối óc, sâu rộng hơn, hiểu biết thế giới khách quan khám phá quá khứlịch sử cũng như dự đoán tương lai xác thực hơn(1)…
Đến cuối thế kỷ XX, phải khẳng định rằng nền sản xuất xã hội đang biến đổi sâusắc, mạnh mẽ cả về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động, tạo nên một sựphát triển nhảy vọt, một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại sang một thời đạikinh tế mới (thường gọi là thời đại kinh tế tri thức), quá độ sang một nền văn minhmới (thường gọi là nền văn minh trí tuệ) mà nguyên nhân và động lực chính làcuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới (2) hình thành từ mấy chục năm qua
Thời gian ra đời những thành tựu khoa học công nghệ đang được rút ngắn dần, vànhững thành tựu khoa học công nghệ mới ra đời ngày càng có ý nghĩa thực tiễncao hơn đối với thế giới
1.3.2 Đổi mới công nghệ
Cùng với việc ngày càng xuất hiện nghiều thành tựu khoa học công nghệ, trongthời đại hiện nay, đổi mới công nghệ là xu hướng tất yếu, là con đường ngắn nhấtdẫn tới sự thành công của doanh nghiệp Bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu không
có những hoạt động nhằm đổi mới công nghệ thì chắc chắn hệ thống công nghệ,dây chuyền sản xuất, máy móc, trang thiết bị… sẽ trở nên lạc hậu, hiệu quả kinh tếthấp, dẫn đến bị đào thải, làm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bị đedoạ Đổi mới công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp, nhà sản xuất cải thiện, nâng caochất lượng sản phẩm, củng cố, duy trì và mở rộng thị phần của sản phẩm; đa dạnghoá mẫu mã sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; cải thiện điều kiện làmviệc, nâng cao mức độ an toàn sản xuất cho người và thiết bị, giảm tác động xấuđến môi trường Đặc biệt, về mặt lợi ích thương mại, nhờ đổi mới công nghệ, chấtlượng sản phẩm được nâng lên đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ tạo được ưuthế vững vàng trên thị trường cạnh tranh
(1) Tháng 4/1992 vệ tinh nhân tạo Cobe (người thám hiểm nền vũ trụ) truyền về trái đất hình ảnh vũ trụ khi mới hình thành sau vụ nổ Big Bang cách đây khoảng 15 tỷ năm Các nhà khoa học hy vọng trên các máy(1) Tháng 4/1992 vệ tinh nhân tạo Cobe (người thám hiểm nền vũ trụ) truyền về trái đất hình ảnh vũ trụ khi mới hình thành sau vụ nổ Big Bang cách đây khoảng 15 tỷ năm Các nhà khoa học hy vọng trên các máy gia tốc năng lượng lớn có thể tái tạo lại sự ra đời của vũ trụ (Almanach những nền văn minh thế giới - NXB Văn hóa - Thông tin, 1997, trang 1932).
(2) Còn gọi là cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ ba, động lực chính là khoa học và công nghệ, hình thành từ giữa thế kỷ XX (cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần 1 (thế kỷ 18) bắt nguồn từ giai đoạn thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ giới Cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần 2 (thế kỷ 19) tiêu biểu là sản xuất điện năng và nền sản xuất đại cơ giới.
Trang 11Chương 2 : ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI
KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC
2.1 Vai trò của khoa học- công nghệ đối với kinh tế thế giới:
2.1.1) Khoa học công nghệ đã mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất và năng
suất lao động, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế :
Khoa học công nghệ, thông qua việc tạo ra công cụ lao động và phương phápsản xuất mới, đã mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất và năng suất lao động.Đặc biệt, vai trò của khoa học công nghệ thể hiện rõ ràng hơn ở chỗ: một mặtkhoa học công nghệ kích cầu, mặt khác nó tăng cung thông qua việc tăng năngsuất Từ đó sản lượng cân bằng tăng , làm tăng thu nhập bình quân, cải thiệnmức sống con người
Khoa học và công nghệ đã trực tiếp tác động nâng cao năng suất lao động, giảmnhẹ cường độ lao động, giảm chi phí, hạ giá thành sản xuất, giảm rõ rệt tỷ lệtiêu hao vật chất, tăng tỷ lệ chất xám trong cấu tạo sản phẩm,…Nhiều sản phẩmmới ra đời phong phú, đa dạng, đa năng, mẫu mã đẹp, kích thước nhỏ nhẹ hơn.Chu kỳ sản xuất cũng được rút ngắn đáng kể
Theo phân tích gần đây của Ngân hàng thế giới( WB) ở 38 quốc gia và khu vực,tiến bộ công nghệ đóng góp 50% vào tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển,hơn 30% ở các nước đang phát triển
Theo một số số liệu thống kê :
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 1990 so 1982 tăng 28,5% - khốilượng thương mại thế giới tăng 57,9% (IMF 10/1990)
+ Trong 5 năm đầu thế kỷ XXI, GDP của thế giới tăng 40,5% (44 nghìn tỷUSD/31,6 nghìn tỷ USD - Niên giám thống kê/ TCTK 2006)
+ Thế kỷ XVIII, một nước muốn công nghiệp hóa thường mất 100 năm Đầuthế kỷ XX, còn khoảng 30 năm.Vào thập niên 70 - 80 rút xuống 20 năm.Thậpniên 90 chỉ còn trên dưới 10 năm (4)
Quãng thời gian cần thiết để tăng gấp đôi GDP theo đầu người đã được rútngắn một cách ổn định Nếu như Anh mất 58 năm (kể từ 1780), Mỹ 47 năm (từ1839), Nhật 34 năm (kể từ 1880) thì từ sau Đại chiến thứ hai, cuộc cách mạngkhoa học và công nghiệp lần thứ ba còn đẩy tốc độ này lên cao hơn như Brazin
18 năm, Indonesia 17 năm, Hàn Quốc 11 năm, Trung Quốc 10 năm(4)
Trang 122.1.2) Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế :
Sự phát triển của khoa học công nghệ làm cho phân công lao động xã hội ngày
2càng sâu sắc, phân chia nền kinh tế làm nhiều ngành nghề nhỏ hơn
Đặc biệt, sự phát triển của khoa học công nghệ còn đánh dấu bước chuyển dịchmạnh mẽ của cơ cấu kinh tế:
- Giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỉ trọng ngành công nghiệp dịch vụ
- Trong nội bộ mỗi ngành cũng có sự thay đổi đáng kể: mở rộng quy mô sảnxuất nhẵng ngành áp dụng trình độ khoa học công nghệ cao, giảm dần nhữngngành sử dụng lao động chân tay Lao động tri thức ngày càng chiếm tỉ trọnglớn, đô thị hóa với tốc độ nhanh dần đều
Như vậy, nếu những năm trong quá khứ, hầu hết các nền kinh tế trên thế giớiđều phát triển nông nghiệp thì hiên tại nền kinh tế đã chuyển mình sang nềnkinh tế thị trường nhiều thành phần với sự lên cao của ngành công nghiệp- dịch
vụ và các ngành kinh tế thông minh Đó là thực tế, và không có một biểu hiệnnào khác hơn có thể chỉ rõ tác động của KH- CN lên sự chuyển dịch cơ cấukinh tế rõ ràng hơn thế!
2.1.3) Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại – Yếu tố tiền đề chủ
yếu của kinh tế tri thức
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại được mở đầu bằng công nghệthông tin (CNTT) CNTT là nhân lõi của cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ hiện đại, nó phản ánh giai đoạn phát triển mới về chất của sản xuất trong
đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm
CNTT bao gồm từ phần cứng như chế tạo các mạch vi điện tử, các máy vi tính,máy siêu tính các dây chuyền sản xuất tự động hóa, các thiết bị ngoại vi chođến các phần mềm ứng dụng và các phần mềm hệ thống Một phần quan trọngnữa trong CNTT phải kể đến là các loại thiết bị viễn thông, điện tử công nghiệp,điện tử tiêu dùng Mạng máy tính và internet đã và đang trở thành hệ thốnghuyết mạch quan trọng trong mọi hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội Năm
1993 đã có 1 triệu người nối mạng, đến tháng 3 – 2000 số người dùng đã lên tới
2 Sổ tay Báo cáo viên về Đại hội IX Đảng CSVN Trung tâm thông tin công tác tư tưởng/Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương - 2001.
(4) Almanach những nền văn minh thế giới 1997 (trang 1943).
Trang 13280 triệu Rõ ràng là mạng internet không còn là một phương tiện kĩ thuật thuầntúy mà đã thành một môi trường mới cho mọi hoạt động của con người và cótác động rất lớn đến sự chuyển biến nhanh chóng của đời sống con người trênkhắp hành tinh.
Thứ đến là công nghệ sinh học (CNSH), đây là một bước đột phá vào thế giớiđầy bí ẩn của sự sống.Nó bắt đầu bằng việc khám phá ra các phân tử hình xoắnkép (ADN) Công nghệ cao này đã tạo ra một tiềm năng vô tận cho sản xuất racác loại lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và các vật liệu công nghiệpnhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người
Cùng với CNTT và CNSH là một loạt các công nghệ cao khác: công nghệ vậtliệu mới, công nghệ năng lượng công nghệ hàng không – vũ trụ Nhiều loại vậtliệu mới với các tính năng ưu việt không thể tìm thấy trong tự nhiên đã được tạora: vật liệu tổ hợp, vật liệu com-pô-zit, các chất bán dẫn Nhiều nguồn nănglượng mới được tạo ra để thay thế các nguồn năng lượng tự nhiên sắp cạn kiệt,đặc biệt là năng lượng nguyên tử Đáng chú ý là công nghiệp hàng không - vũtrụ với triển vọng đưa con người đến với các hành tinh khác trong vũ trụ Nhờ các công nghệ cao đó, nền kinh tế thế giới đạt mức tăng trưởng chưa từng
có Ngày nay, tổng sản phẩm của thế giới ước tính khoảng 30.000 tỉ USD, nghĩa
là gấp khoảng 123 lần so với tổng sản phẩm thế giới những năm 50( 1300 tỉUSD) Có thể nói, bộ phận cách mạng nhất tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng
dư của lực lượng sản xuất to lớn của loài người ngày nay là khoa học côngnghệ.Các Mác đã dự báo rằng khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
và đã trở thành hiện thực.Chính điều đó đã tạo tiền đề cho sự hình thành kinh tếtri thức
2.1.4)Khoa học và công nghệ đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
Sự phát triển của khoa học công nghệ làm thay đổi căn bản nền tảng cơ sở vàphương thức giao dịch giữa các nước trên thế giới Nền công nghệ cơ khí về cơbản vẫn là một nền công nghệ có tính quốc gia, vì nó luôn phải lấy thị trườngtrong nước làm chính.Hiệu năng của nền công nghệ cơ khí chưa cho phép cácquan hệ kinh tế quốc tế có thể phát triển xa hơn xét về mặt hiệu quả kinh tế
Nhưng trong những thập kỷ gần đây, công nghệ thông tin và vận tải đã cónhững tiến bộ vượt bậc, đã làm giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần
và giảm chi phí liên lạc viễn thông xuống tới vài trăm lần.Tiến bộ khoa công nghệ này đã có tác động cực kỳ quan trọng đến toàn bộ các quan hệ kinh
Trang 14học-tế quốc học-tế, nó đã biến các công nghệ có tính quốc gia thành công nghệ toàn cầu.Các công nghệ sản xuất xe máy, ô tô, máy tính điện tử, máy bay đã ngày càng
có tính toàn cầu sâu rộng Tính toàn cầu này đã thể hiện ngay từ khâu sản xuất(được phân công chuyên môn hoá ở nhiều nước) đến khâu phân phối (tiêu thụtoàn cầu) Những công nghệ ngay khi ra đời đã có tính toàn cầu như công nghệ
vệ tinh viễn thông đã hiện diện Chính khoa học-công nghệ sáng tạo ra nhữngứng dụng rộng rãi cho nhiều quốc gia, góp phần cho sự đẩy mạnh quá trình toàncầu hoá Nhờ có công nghệ phát triển, sự hợp tác giữa các quốc gia, các tậpđoàn có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phối dịch vụ trên phạm vi toàn cầu,những quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau cùng có lợi phát triển
Toàn cầu hóa là xu thế khách quan gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất
xã hội, lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế Bản chất khách quancủa toàn cầu hóa được quy định bởi tính tất yếu khách quan của quá trình quốc
tế hóa.Những phát kiến địa lý, giao thông vận tải đã mở ra cơ hội cho quá trìnhquốc tế hóa kinh tế vào thế kỷ XV, nhưng tiến trình này chỉ thực sự tăng tốc saukhi cách mạng công nghiệp ở Anh Quá trình quốc tế hóa mang tính tất yếukhách quan, do đòi hỏi của bản thân nền sản xuất, đặc biệt là do sự phát triểncủa lực lượng sản xuất Cách mạng khoa học-công nghệ tạo tiền đề cho bướcquá độ từ cơ sở vật chất-kỹ thuật truyền thống sang cơ sở vật chất-kỹ thuật hoàntoàn mới về chất ở một số nước kinh tế phát triển
Làn sóng khoa học công nghệ ngày càng trở nên phổ biến, trình độ khoa họccông nghệ ngày cao với khả năng ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vựcđời sống Việc hợp tác khai thác, sử dụng công nghệ làm cho các nước phụthuộc vào nhau nhiều hơn Các làn sóng phát triển khoa học công nghệ là chấtxúc tác làm cho quan hệ giữa các quốc gia xích lại gần nhau hơn.Thành tựukhoa học công nghệ dường như xóa nhòa dần biên giới địa lý của từng quốcgia, làm cho khoảng cách không gian trên thế giới càng co hẹp giữa các châulục Toàn cầu hoá ngụ ý tầm quan trọng ngày càng giảm của các đường biêngiới quốc gia và sự tăng cường những đặc tính lan toả ra ngoài biên giới bắtnguồn từ một nước, hoặc một khu vực nhất định Tức là, sự phụ thuộc lẫn nhauphải đến mức toàn diện và vai trò của các đường biên giới quốc gia giảm dần
Nhờ có nhiều thành tựu khoa học-kỹ thuật, nhiều phát kiến địa lý và khai phácác thị trường mới ở các châu lục, các nguồn lực và dòng sản phẩm được lưu
chuyển khắp toàn cầu.“Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu
thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp toàn cầu.Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi Do bóp
Trang 15nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới”
Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ, loài người đangtừng bước tiến vào kinh tế tri thức, lực lượng sản xuất mang tính chất xã hộihóa cao độ, phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng, quốc tế hóa nềnkinh tế và đời sống xã hội, thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển, đồng thời tạo
ra những phương tiện có hiệu quả đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa
2.1.4) Tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị
trường:
Nếu đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp, hay nói cách khác, là nền kinh tế
cũ, là nền kinh tế mà tự cung tự cấp là một đặc trưng lớn, thì nền kinh tế tri thức– nền kinh tế thị trường đề cao sức cạnh tranh hàng hóa
Những ngành nghề đa dạng đã đa dạng hóa sản phẩm.Càng ngày người người tacàng có nhiều sự lựa chọn hơn.Chưa nói đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, chỉriêng việc tồn tại trong thị trường khắc nghiệt đã là thách thức lớn đối với mỗidoanh nghiệp Để vượt qua điều này, doanh nghiệp phải đưa sức cạnh tranhhàng hóa lên mức tối đa, và khoa học công nghệ đã làm rất tốt điều đó: giảm chiphí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm trong khi vẫn nâng cao chất lượng sảnphẩm.Và như một lẽ tất nhiên, điều đó đã thúc đẩy nền kinh tế thị trường pháttriển
2.2 Các cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại và đặc điểm :
Thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng kỹ thuật Cuộc cách mạng kỹ thuật lầnthứ nhất diễn ra đầu tiên ở nước Anh vào 30 năm cuối thế kỷ XVIII và hoànthành vào những năm 50 đầu thế kỷ XX với nội dung chủ yếu là cơ khí hóa,thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Cuộc cách mạng
kỹ thuật lần thứ hai còn gọi là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại,xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX
Vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ hiện đại chuyển sang giai đoạn mới- giai đoạn đã và đang có nhiều quanđiểm khác nhau khi đặt tên gọi cho nó Có người cho rằng đó là giai đoạn côngnghiệp siêu dẫn; có ý kiến cho là giai đoạn vi điện tử; ý kiến khác lại cho là giaiđoạn tin học hoá; các nhà tương lai học gọi là giai đoạn văn minh trí tuệ, và
Trang 16theo họ nền văn minh này diễn ra sau nền văn minh nông nghiệp và nền vănminh công nghiệp.
Mặc dù có thể còn có ý kiến khác nhau, song nhiều ý kiến nhất trí cho rằng,cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiên đại kể trên có hai đặc trưng chủyếu:
- Một là, thời gian cho một phát minh mới của khoa học - công nghệ ra đời thaythế cho phát minh cũ có xu hướng rút ngắn lại và phạm vi ứng dụng vào sảnxuất và đời sống ngày càng mở rộng Vì vậy, đòi hỏi cần được kết hợp chặt chẽgiữa chiến lược khoa học - công nghệ với chiến lược kinh tế - xã hội
- Hai là, khoa học - công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp (baogồm cả khoa học tự nhiên, khoa học xã hội -nhân văn ) do con người tạo ra vàthông qua con người tác động trở lại đời sống kinh tế, xã hội Vì vậy, nó đòi hỏicần phải có chính sách đầu tư cho khoa học - công nghệ một cách thích ứng
Trong giai đoạn hiện nay, khoa học và công nghệ luôn gắn bó chặt chẽ vớinhau: khoa học là tiền đề trực tiếp của công nghệ và công nghệ lại là kết quảtrực tiếp của khoa học Vì vậy ở nước ta hiện nay nâng cao năng lực và hiệuquả hoạt động của khoa học và công nghệ là tùng bước tạo tiền đề cho kinh tếtri thức ra đời
2.3 Thành tựu của khoa học-công nghệ đối với kinh tế thế giới và của Việt
Nam :
2.3.1) Thành tựu của khoa học-công nghệ đối với kinh tế thế giới :
Từ trước đến nay nền kinh tế thế giới vẫn đang hoạt động chủ yếu dựa vàonhững cơ sở vật chất - kỹ thuật truyền thống.Trước yêu cầu phát triển của giaiđoạn mới, cơ sở này ngày càng tỏ ra không đáp ứng được Tại các nước côngnghiệp phát triển, kỹ thuật cơ khí hoá đã đạt trình độ cao và phổ biến, cácnguồn năng lượng dựa trên cơ sở sử dụng nguyên liệu rắn và lỏng, các vật liệukim khí… đều đã được tận dụng cao độ và nguồn cung cấp chúng ngày cànghạn chế Các quá trình công nghệ không liên tục ngày càng không đáp ứng cácyêu cầu phát triển, không gian lục địa đã tỏ ra không đủ cho một nền kinh tế thếgiới trong tương lai…
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tạo nên sự thay đổi to lớntrên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội, cụ thể là:
Trang 17- Về năng lượng: ngoài những dạng năng lượng truyền thống (nhiệt điện, thủyđiện) ngày nay đã và đang chuyển sang lấy dạng năng lượng nguyên tử là chủyếu và các dạng năng lượng "sạch" như năng lượng mặt trời, v.v
- Về tự động hóa: sử dụng ngày càng nhiều máy tự động quá trình, rô bốt, máycông cụ điều khiển bằng số
- Về công nghệ sinh học: được ứng dụng ngày càng nhiều trong công nghiệp,nông nghiệp, y tế, hóa chất, bảo vệ môi trường… như kỹ thuật cuzin, công nghệ
vi sinh, kỹ thuật gen và nuôi cấy tế bào
- Về vật liệu mới: chỉ chưa đầy 40 năm trở lại đây các vật liệu mới đã xuất hiệnvới nhiều chủng loại rất phong phú và có nhiều tính chất đặc biệt mà vật liệu tựnhiên không có được Ví dụ: vật liệu tổng hợp (composit); gốm Zincôn hoặccácbuasilích chịu nhiệt cao…
- Về điện tử và tin học: đây là lĩnh vực vô cùng rộng lớn, hấp dẫn đang đượcloài người đặc biệt quan tâm, nhất là lĩnh vực máy tính diễn ra theo bốn hướng:nhanh (máy siêu tính); nhỏ (vi tính); máy tính có xử lý kiến thức (trí tuệ nhântạo); máy tính nói từ xa (viễn tin học)
Thế kỷ XXI nền kinh tế trí tuệ đang được hình thành và phát triển Đó là nhữngngười máy công nghiệp sẽ thay thế bằng những người lao động Các quá trìnhlao động trí óc cũng được người máy thay thế Các nguồn năng lượng mặt trời
và nhiệt hạch… sẽ phổ biến và thay thế cho những cho các nguồn năng lượnghiện có Các chất siêu dẫn, siêu cứng, siêu sạch, siêu bền… sẽ thay thế các vậtliệu truyền thống Công nghệ vi sinh, công nghệ gen sẽ phát triển… Các côngnghệ liên tục sẽ được sử dụng rộng rãi Không gian của nền kinh tế thế giới sẽđược mở rộng đến đáy đại dương và vũ trụ … Khi đó nền sản xuất thế giới sẽđảm bảo cung cấp hàng hoá dồi dào với chi phí rất thấp, các khu vực sản xuấtvật chất sẽ thu hẹp lại nhỏ bé so với các khu vực kinh tế trí tuệ
Các quốc gia có nền kinh tế phát triển, trình độ công nghiệp hoá cao coi khoahọc công nghệ là cốt lõi của biến đổi nền kinh tế Các nước này áp dụng nhiềubiện pháp để dành được các ưu thế trong sáng tạo kỹ thuật công nghệ như: tăngcường quản lý nhà nước về lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ, thực hiện
kế hoạch nghiên cứu khoa học công nghệ và tăng cường đầu tư nghiên cứukhoa học, cải cách và chấn hưng giáo dục, bồi dưỡng và thu hút nhân tài, thànhlập các thành phố khoa học kỹ thuật cao
Các nước phát triển, đặc biệt là Nhật Bản đã đạt được thành tựu kinh tế nổi bậtcòn nhờ việc nhập bằng phát minh từ nước ngoài và đưa các bằng phát minhnày vào ứng dụng trong sản xuất Nhật Bản trong 20 năm (1950-1970) đã nhập
Trang 1811.606 bằng phát minh, vào những năm gần đây khối lượng các bằng phát minhNhật nhập vào còn nhiều hơn.
Việc chuyển nhượng các kỹ thuật trung gian và truyền thống ở các nước pháttriển sang các nước kém phát triển hơn Nhờ đó mà các nước nghèo rút ngắnđược chu kỳ đổi mới kỹ thuật và thời gian hoàn vốn cho những kỹ thuật nhậpkhẩu Cách thứ hai là áp dụng kết cấu hai tầng trong công nghiệp.Tầng thứ nhấtgồm các xí nghiệp lớn, hiện đại.Tầng thứ hai gồm các xí nghiệp nhỏ và vừakém hiện đại hơn Các kỹ thuật được xem là cũ luôn luôn được chuyển nhượng
từ tầng thứ nhất sang tầng thứ hai Nhật Bản đã thành công trong việc chuyểnnhượng kỹ thuật trung gian và truyền thống theo cả hai cách này Các nướcNICs hiện cũng đang tìm một tầng công nghiệp thứ hai ở các công nghiệp nướckém phát triển hơn
Hiện nay, khu vực dịch vụ ở các nước phát triển chiếm khoảng 50 – 60% dân sốlao động và 60 – 65% tổng số sản phẩm quốc dân, khu vực công nghiệp chỉ cònchiếm khoảng 40% lao động, 30 -35% tổng sản phẩm quốc dân Dự báo thế kỷXXI, khu vực dịch vụ ở các nước này có thể tăng 70 – 80% dân số lao động vàkhu vực công nghịêp sẽ giảm đi tương ứng, mà trong đó tỷ trọng của nhữngngành công nghiệp sản xuất ra hàng hoá có hàm lượng khoa học kỹ thuật caotăng lên và tỷ trọng của những ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật trunggian sẽ giảm đi
2.3.2) Thành tựu của khoa học-công nghệ đối với kinh tế Việt Nam :
Xã hội càng phát triển càng chứng minh một điều rằng: Khoa học và công nghệ(KH&CN) có vai trò ngày càng sâu sắc, tác động lớn đến nhịp độ tăng trưởngkinh tế ở nhiều quốc gia Những năm gần đây, thành quả của KH&CN, đặc biệt
là sự đổi mới công nghệ đã đem đến cho kinh tế, xã hội Việt Nam một diện mạomới
Tăng khoảng 5 lần thu nhập bình quân đầu người
Theo tài liệu của TS Cù Chí Lợi, Viện Kinh tế Việt Nam (Viện Khoa học - Xãhội Việt Nam): Ở nước ta, trong thời kỳ 1998-2002, tỷ trọng đóng góp của yếu
tố KH&CN vào tăng trưởng GDP chiếm gần 23%, kéo mức thu nhập bình quânđầu người từ vài trăm USD đạt ngưỡng 1.000 USD Trong khi dân số khôngngừng tăng (từ hơn 50 triệu người năm 1979 lên hơn 85 triệu người năm 2009),diện tích đất canh tác bị thu hẹp nhưng nhờ áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào