CHƯƠNG I: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỚI QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNGCỦA VIỆT NAM 1.1 - Đầu tư tr
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia Để thựchiện và duy trì được mục tiêu đó, mỗi nước sẽ có những chính sách và nhữngbước đi phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên dù là quốc gia nào cũng phảitrả lời câu hỏi nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế ở đâu và cách thức để huyđộng những nguồn lực ấy như thế nào? Thật vậy, trong xu thế toàn cầu hoá nềnkinh tế hiện nay, muốn tồn tại và phát triển được mỗi nền kinh tế đều phải pháthuy nội lực trong nước kết hợp với các nguồn lực bên ngoài Thực tiễn 15 nămđổi mới kinh tế ở Việt Nam cho thấy hoạt động đầu tư trong nước và đầu tưnước ngoài luôn phải song hành và hoạt động vì mục tiêu tăng trưởng và pháttriển kinh tế
Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào các yếu tố nguồn lực vàkhả năng huy động, sử dụng các yếu tố đó vào quá trình sản xuất để tạo ra củacải vật chất cho xã hội Quá trình đó liên tục được tiếp diễn và tạo thành chu kỳtái sản xuất với qui mô ngày càng mở rộng, đây là cơ sở cũng chính là kết quảđược tích lũy lại từ hoạt động đầu tư
Như vậy đầu tư có tác động trực tiếp đối với tăng trưởng kinh tế và pháttriển của một nền kinh tế Kết quả của hoạt động đầu tư là làm gia tăng năng lựcsản xuất, cung ứng các sản phẩm vật chất, dịch vụ cho nền kinh tế, thúc đẩy quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển giao công nghệ, từ đó tạo đà cho sựtăng trưởng và phát triển kinh tế
Trong những năm qua , nền kinh tế nước ta ngày một phát triển, duy trìđược mức tăng trưởng cao và ổn định so với nhiều nước trong khu vực và trênthế giới, mức sống người dân được cải thiện rõ rệt, chất lượng cuộc sống đượctăng cao…để có được thành tựu đó , phải kể đến vai trò đặc biệt quan trọng củađầu tư Với những chính sách nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tưtrong và ngoài nước, Việt Nam đang nâng cao uy tín, vị thế của mình trêntrường quốc tế
Trong phạm vi của bài này em xin được phân tích: “ Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài với quá trình tái cấu trúc kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng của Việt Nam” Lấy ví dụ một dự án để minh họa.
Trang 2CHƯƠNG I: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỚI QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG
CỦA VIỆT NAM 1.1 - Đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Theo khái niệm của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987: Đầu
tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Namvốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Namchấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệpLiên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luậtnày
Theo quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam quy định tạiKhoản 1 điều 2, Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ sung năm 2000 “đầu tưtrực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằngtiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theoquy định của luật này”
Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem như
là một khoản đầu tư với những quan hệ, theo đó một tổ chức trong một nền kinh
tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại nềnkinh tế khác.Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởngtrong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác đó
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếpnước ngoài như sau : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (gọi tắt là FDI) tại một quốcgia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nàovào quốc gia đó để được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát mộtthực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình
1.2 – Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng về sản lượng của nền kinh tếtheo thời gian Theo quan điểm của kinh tế học, thì tăng trưởng kinh tế thườngchỉ sự gia tăng của giá trị tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc sự gia tăng củagiá trị GNP bình quân đầu người
Trang 3Tuy nhiên để phản ánh chính xác hơn sự tăng trưởng kinh tế của một quốcgia người ta thường chỉ tính đến sản lượng ròng của một nền kinh tế, tức là tổngsản phẩm quốc nội (GDP) của nền kinh tế đó.
Như vậy, tăng trưởng kinh tế được tính bằng mức tăng GDP hoặc mức tăngGDP bình quân đầu người theo thời gian Điều này có nghĩa là tăng trưởng kinh
tế chỉ thể hiện sự gia tăng về mặt lượng của nền kinh tế theo thời gian
1.3 -Vai trò của đầu tư đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế
Hoạt động đầu tư trên phương diện vĩ mô một nền kinh tế bao gồm hoạtđộng đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư nước ngoài Trong đó, hoạt độngđầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài có mối quan hệ hữu cơ với nhau, chúng
có tác động lẫn nhau và thúc đẩy quá trình tăng trưởng của nền kinh tế
Đầu tư trong nước có hiệu quả sẽ xây dựng được một nền kinh tế ổn định
có tốc độ tăng trưởng nhanh, có cơ sở hạ tầng hiện đại và cơ sở pháp lý lànhmạnh, tạo ra tiền đề để tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả đầu tư nước ngoài.Nguồn vốn đầu tư trong nước của các doanh nghiệp tự đầu tư để mở rộng sảnxuất kinh doanh có ý nghĩa to lớn trong việc tạo ra khả năng tốt cho đầu tư nướcngoài Vì hoạt động đầu tư nước ngoài hoạt động chủ yếu thông qua các công tyxuyên quốc gia, mà các công ty này rất cần tìm chọn đối tác đầu tư là các công
ty tương xứng ở các nước nhận đầu tư Chính vì vậy mà trong những năm vừaqua chúng ta đã có nhiều biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp tự đầu tưphát triển sản xuất, gần đây chính phủ đã thực hiện việc sắp xếp các doanhnghiệp nhà nước, một mặt cũng là để các doanh nghiệp này có khả năng nângcao hiệu quả kinh doanh với nước ngoài Nhờ có đầu tư trong nước để tạo ramột hệ thống công nghiệp phụ trợ thì hoạt động đầu tư nước ngoài mới đượcthực hiện với hiệu quả cao Thông thường khi có một đồng vốn đầu tư nướcngoài thì cũng cần phải có hai ba đồng vốn “bên ngoài hàng rào”
Ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng kinh tế:
Xét về hiệu quả tài chính thì vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kểvào ngân sách nhà nước, qua việc nhận viện trợ, vay tín dụng và qua thu thuế
đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài Qua đó bổ sung nguồn vốn quan trọng cho
Trang 4đầu tư phát triển, mặc dù vốn FDI thường chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng
mức đầu tư của các nước chủ nhà nhưng đáng lưu ý là vốn FDI cho phép tạo racác ngành mới hoàn toàn hoặc thúc đẩy sự phát triển của một số ngành quantrọng trong quá trình công nghiệp hoá đất nước Sự phát triển của các ngành nàytạo điều kiện để phát triển cơ sở hạ tầng, giảm nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu,tăng thu cho ngân sách nhà nước và góp phần cải thiện cán cân thanh toán củađất nước, nhờ đó đảm bảo tăng trưởng kinh tế
Hoạt động đầu tư nước ngoài gắn liền với việc chuyển giao công nghệ kỹthuật, kỹ xảo chuyên môn, bí quyết và trình độ quản lý tiên tiến Các liên doanhcủa Việt Nam với nước ngoài đã làm tăng tính cạnh tranh của thị trường ViệtNam, giúp cho các doanh nghiệp trong nước nỗ lực đổi mới công nghệ, nâng caochất lượng sản phẩm
Thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài, các nguồn lực trong nước như laođộng, đất đai và tài nguyên thiên nhiên được huy động ở mức cao và sử dụng cóhiệu quả, cung cấp cho thị trường trong nước nhiều sản phẩm, mặt hàng và dịch
vụ có chất lượng cao, góp phần giảm áp lực tiêu dùng, ổn định giá cả
Đầu tư nước ngoài tạo thêm việc làm và góp phần nâng cao trình độ chuyênmôn và quản ký cho người lao động FDI tạo thêm việc làm không chỉ cho cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà còn gián tiếp tạo việc làm cho cácdoanh nghiệp liên quan đến hoạt động FDI như các doanh nghiệp cung cấp cácyếu tố đầu vào; doanh nghiệp phân phối, tiêu thụ sản phẩm
FDI góp phần tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng phù hợp với chiến lượccông nghiệp hoá của nước chủ nhà Ngoài ra, hoạt động FDI còn tạo ra một môitrường kinh doanh ngày càng khốc liệt, góp phần hình thành và khẳng định bảnlĩnh kinh doanh cho các doanh nhân Việt Nam
Đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài có vị trí khác nhau nhưng là hai bộphận của cùng một quá trình đầu tư, nó gắn bó đan kết với nhau, hỗ trợ bổ sungcho nhau cùng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 51.4- Đầu tư trực tiếp nước ngoài được mô tả bởi sáu nét đặc trưng:
FDI có sự cam kết về nguồn lực lớn hơn Với vai trò là phương
thức quốc tế hóa cuối cùng, nó đòi hỏi nhiều nguồn lực và khảnăng của công ty hơn bất cứ phương thức thâm nhập nào khác
FDI bao hàm sự hiện diện và những hoạt động ở nước sở tại.
Bằng cách sử dụng phương thức FDI, ban quản lý đã chọn cáchhiện diện ở nước nhận đầu tư và thiết lập mối liên hệ trực tiếpvới khách hàng, các bên trung gian, những nhà cung cấp cơ sởvật chất và các khu vực của Chính phủ Một vài hãng tập trungvào hoạt động ở một hay một số địa điểm; số khác lại phân tánFDI tới nhiều quốc gia
FDI cho phép công ty đạt được hiệu quả trên quy mô toàn
cầu, giúp nâng cao thành tích của công ty Các nhà kinh doanh
chọn mỗi địa điểm dựa trên cơ sở lợi thế so sánh Điều đó cónghĩa là hãng tìm kiếm để tiến hành các hoạt động R&D ởnhững nước có trình độ học vấn cao nhất về lĩnh vực hãng kinhdoanh, tìm những người cung ứng mà có thể cung cấp nhữnghàng hóa trung gian và hàng hóa cuối cùng tốt nhất, xây dựngcác cơ sở kinh doanh sản xuất ở những địa điểm có tỉ lệ năngsuất trên chi phí lao động tốt nhất, và thành lập những chinhánh marketing để bán hàng hoặc dịch vụ ở những quốc gia cótiềm năng bán hàng lớn nhất
So sánh với những phương thức xâm nhập khác, FDI gây
ra sự không chắc chắn và rủi ro rất lớn, do việc thiết lập sự hiện
diện ổn định ở một quốc gia nước ngoài khiến cho hãng sẽ dễ bịtác động trước những hoàn cảnh đặc biệt của quốc gia đó Sựđầu tư lớn vào nhà máy, trang thiết bị và nguồn lực con người ởnước sở tại sẽ khiến cho nhà đầu tư trực tiếp phải đối mặt vớinhững rủi ro chính trị và sự can thiệp của chính quyền địaphương về giá, lương và thủ tục thuế
Những nhà đầu tư trực tiếp phải đối mặt nhiều hơn với
những vấn đề về văn hóa và xã hội đặc trưng ở nước sở tại Các
doanh nghiệp đa quốc gia với những hoạt động gây chú ý lạiđặc biệt dễ phải chịu những sự giám sát chặt chẽ từ phía côngchúng đối với những hoạt động đó Để có thể tối thiểu hóanhững vấn đề tiềm năng, các doanh nghiệp đa quốc gia thườngthích đầu tư vào những quốc gia có văn hóa và ngôn ngữ tương
tự với nước đầu tư Ví dụ, khi mở cửa hàng ở Châu Âu, các công
Trang 6ty Hoa Kỳ có thể lựa chọn Bỉ hoặc Hà Lan bởi vì Tiếng Anh được
sử dụng rộng rãi ở những nước này
Trong FDI, các công ty đa quốc gia ngày càng phấn đấu để
hành động theo những cách có trách nhiệm với xã hội ở những
nước sở tại Nhiều công ty đang cố gắng đào tạo nhân viên củamình theo đúng nội quy ở nước sở tại, đầu tư vào những cộngđồng địa phương và tìm kiếm để thành lập các tiêu chuẩn quốc
tế về đối xử bình đẳng đối với công nhân
Sáu đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài mà chúng ta vừa xem xét đãđem lại những thách thức to lớn cho các doanh nghiệp Thậm chí cả những công
ty lớn có uy tín như Disney cũng đã nếm trải một vài thất bại trong những phi vụ
đầu tư ra nước ngoài của mình Như tạp chí Fortune đã đề cập, hồ sơ của công
ty trong việc điều hành các hoạt động của các công viên giải trí ở nước ngoài làkém đồng đều hơn so với 101 Dalmatians Khi Disney mở Tokyo Disneyland,ban quản lý của hãng giả thiết một cách thiếu chính xác rằng những kinh nghiệmcủa Disneyland không thể được chuyển giao sang Nhật thành công Thay vì đầu
tư, Disney đã lựa chọn giấy phép bản quyền ở Nhật cho lợi nhuận danh nghĩa.Nhưng sau đó Tokyo Disneyland đã thành công rực rỡ Không muốn lặp lại sailầm, ban quản lý lại duy trì một nguồn vốn FDI ở công viên giải trí tiếp theocủa hãng – Disneyland Paris Nhưng đây lại là một thất bại của Disney Từnhững bài học rút ra qua những kinh nghiệm trên, công viên giải trí mới nhất,Hong Kong Disneyland đã đạt được những thành công nhất định Tuy nhiên,một phần vì nhượng bộ với Chính phủ Trung Quốc, Disney chỉ sở hữu 43% liêndoanh và ban quản lý đang lo lắng về những vi phạm tài sản trí tuệ ở TrungQuốc có thể sẽ dẫn đến làm giảm lợi nhuận từ việc cấp giấy phép cho những bộphim của Disney, các nhân vật hoạt hình và các tài sản giá trị khác
Trang 7CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỚI QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG
TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM
Kể từ năm 1986, Việt Nam đã thực hiện đường lối đổi mới, bằng sự nỗ lực
to lớn của toàn dân và sự ủng hộ và hợp tác của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đãvượt qua nhiều khó khăn thách thức , đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩalịch sử: đất nước đã thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm cóthu nhập trung bình; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăngtrưởng khá cao (bình quân khoảng 7%/năm); đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân được cải thiện rõ rệt; chính trị xã hội ổn định; quốc phòng an ninhđược giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, vị thế quốc tế không ngừngđược nâng cao Việt Nam đã trở thành địa điểm ngày càng nhiều nhà đầu tưnước ngoài tin cậy, lựa chọn đầu tư, kinh doanh
Thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, trong những năm qua, chính phủViệt Nam đã không ngừng cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh Hệ thốngpháp luật, chính sách đầu tư đã không ngừng được hoàn thiện theo hướng đơngiản, thông thoáng, minh bạch và thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư Chính phủcũng đã nỗ lực huy động các nguồn vốn đầu tư trong nước và ngoài nước đểnâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực Hệ thống qui hoạchngành, lãnh thổ được rà soát, cập nhật và bổ sung tạo dựng khuôn khổ pháp lýthúc đẩy hoạt động cạnh tranh lành mạnh
Thực tiễn những năm qua cho thấy việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài là một chủ trương đúng đắn, đã góp phần thực hiện nhiều mục tiêu pháttriển kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước Đến hết tháng 2/2013 đã có14.550 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt gần 211 tỷ USD, vốn thực hiệnđạt gần 100 tỷ USD Khu vực đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốnđầu tư xã hội; kim ngạch xuất khẩu chiếm trên 60% tổng kim ngạch xuất khẩu
cả nước năm 2012; đóng góp vào ngân sách đạt 14, 2 tỷ USD trong giai đoạn
2001 – 2010 và khoảng 3,7 tỷ USD năm 2012; phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao, tạo nhiều việc làm, với trên 2 triệu lao động trực tiếp, từ 3 – 4 triệulao động gián tiếp
Trang 8Trên thực tế, khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ngày càng lớn mạnhtrở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế đất nước, đượckhuyến khích phát triển ổn định, lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tếkhác, góp phần phát huy nội lực và lợi thế so sánh của Việt Nam, tác động tíchcực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần vào quá trình tái cơ cấunền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng
2.1- Nhận diện tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Thành công của đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong hơn
25 năm qua đã được thừa nhận một cách rộng rãi cả ở trong và ngoài nước Tốc
độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm giai đoạn 2000 – 2010 là 7,26%;GDP theo giá thực tế năm 2011 đã gấp hơn 3,8 lần so với năm 2000; nước ta đãtrở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp Đã đạt được thành tích vượtbậc về xóa đói giảm nghèo; cơ cấu kinh tế từng bước chuyển đổi tích cực theohướng hiện đại; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đã được cải thiện đáng kể cả về sốlượng và chất lượng; đã thu hẹp đáng kể khoảng cách phát triển so với các nềnkinh tế khác trong khu vực
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã bước đầu phát huy được lợi thế của từngvùng; một số sản phẩm nông nghiệp đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, cónăng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới Cơ cấu công nghiệp đã có sựchuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; một số ngành côngnghiệp quan trọng đã bắt đầu hình thành , trở thành động lực cho tăng trưởngnói chung và tăng trưởng công nghiệp nói riêng Các ngành dịch vụ phát triển đadạng, một số loại dịch vụ hiện đại, giá trị gia tăng cao phát triển rất nhanh Cácvùng kinh tế trọng điểm phát triển khá nhanh, đóng góp lớn vào GDP và tăngtrưởng GDP của cả nước
Cơ cấu thành phần kinh tế đã thay đổi căn bản; cơ cấu lao động đã chuyểndịch tích cực, phù hợp với chuyển dịch cơ cấu ngành, thành phần và vùng kinh
tế Nguồn vốn đầu tư phát triển được đa dạng hóa và liên tục tăng cao Vốn đầu
tư nhà nước đã được đầu tư một cách tập trung hơn vào một số ngành, nhất làkết cấu hạ tầng giao thông và các dịch vụ công ích khác, đồng thời đã quan tâmđầu tư nhiều hơn cho vùng nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 9Tuy vậy, cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay đã bộc lộ không ít những yếu kémnội tại Tăng trưởng GDP tuy vẫn ở mức tương đối cao nhưng đang có xuhướng giảm dần; chất lượng tăng trưởng còn thấp Quy mô các ngành kinh tếcòn nhỏ và phân tán; sản xuất công nghiệp phần lớn còn ở dạng gia công, lắpráp, giá trị gia tăng nội địa thấp Đa số các sản phẩm có đóng góp lớn trong GDP
và kim ngạch xuất khẩu đều là sản phẩm nông nghiệp, thủy sản và khoáng sản,các sản phẩm công nghiệp sơ chế và dịch vụ phục vụ tiêu dùng thâm dụng nhiềulao động phổ thông Số ngành, lĩnh vực có công nghệ tiên tiến, hiện đại còn ít;công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, còn mất cân đối lớn giữa các khâu trongchuỗi sản xuất và cung ứng Tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp vẫn còn khá lớn,thủy sản phát triển chưa đồng bộ về nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và các dịch
vụ khác Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và nông thôn theo hướngcông nghiệp hóa, hiện địa hóa còn chậm Dịch vụ phát triển chậm so với tiềmnăng
Cơ cấu đầu tư còn chưa hợp lý Một số ngành có đóng góp lớn cho nềnkinh tế, hoặc có hiệu quả cao, có độ nhạy cảm hoặc lan tỏa lớn chưa được đầu tưtương xứng; đầu tư vào các ngành công nghệ cao chưa đáng kể và các ngànhnày chưa thực sự trở thành đích đến hấp dẫn của các nhà đầu tư Đầu tư nhànước còn phân tán, dàn trải, chưa đồng bộ; làm tăng chi phí và giảm hiệu quả sửdụng vốn đầu tư Sử dụng các nguồn lực khác như đất đai, tài nguyên thiênnhiên và lao động vẫn còn lãng phí
Cơ cấu thành phần kinh tế còn bất hợp lý về phân bố nguồn lực Các doanhnghiệp Nhà nước chưa phát huy tốt vai trò dẫn dắt, chủ đạo trong chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đổi mới và phát triển công nghệ Kinh tế tư nhân trong nước cònnhỏ và yếu; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gia tăng nhanh chóng, nhưng tácđộng của chúng đối với chuyển giao công nghệ, nâng cao và phát triển năng lựccông nghệ của nền kinh tế là chưa đáng kể Các doanh nghiệp chưa đủ sức thamgia vào mạng sản xuất, chuỗi cung ứng và hệ thống phân phối toàn cầu
Những yếu kém nói trên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng chủ yếu là do các nguyên nhân chủ quan sau:
Trang 10Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng đã duy trì quá lâu Môi trường kinhdoanh còn hạn chế trên nhiều mặt Thủ tục hành chính còn phiền hà tốn kém;chính sách, pháp luật chưa ổn định, hiệu lực thực thi chưa cao, nên chưa tạođược niềm tin và độ an toàn đủ để khuyến kích các nhà đầu tư, doanh nghiệpđầu tư lớn dài hạn vào đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnhtranh; chưa hạn chế và loại trừ được các hành vi kinh doanh theo hướng đầu cơtrục lợi.
Quản trị doanh nghiệp nhà nước chưa theo kịp với các nguyên tắc và thông
lệ thị trường; nội lực về vốn, về kỹ năng và trình độ quản trị kinh doanh của khuvực kinh tế ngoài nhà nước nói chung còn yếu kém; cơ chế quản lý nhà nước đốivới phân bố và sử dụng các nguồn lực quốc gia chưa thực sự hiệu quả Trongkhông ít trường hợp, phân bố vốn đầu tư, lựa chọn dự án đầu tư, giao đất, chothuê đất và cấp phép khai thác tài nguyên khoáng sản… còn theo cơ chế xin –cho dưới nhiều hình thức khác nhau, thiếu tiêu chí đo lường, thẩm định hiệu quảkinh tế - xã hội một cách rõ ràng, cụ thể, làm sai lệch, thậm chí phá vỡ quyhoạch đầu tư, quy hoạch và không gian phát triển đã được phê duyệt
Chế độ khuyến khích ưu đãi đầu tư chưa tập trung khai thác, phát triển cácngành, sản phẩm có lợi thế, còn thiếu mục tiêu cụ thể, thiếu điều kiện, tiêu chí
và công cụ ràng buộc trách nhiệm đối với người nhận hỗ trợ, ưu đãi, mức độ hỗtrợ chưa lớn đủ mức để thu hút sự quan tâm thực sự của các nhà đầu tư có tiềmnăng và uy tín Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các chínhsách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư còn yếu và chưa được tiến hành thường xuyên
Cùng với duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, thì tư duy,chủ trương, chính sách và cách thức quản lý, điều hành nền kinh tế ở các cấp cácngành chưa thay đổi kịp thời, chậm khắc phục các điểm ngẵn kìm hãm gia tăngnăng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Gia tăng vốn đầu tư dưới cáchình thức và kênh khác nhau vẫn là công cụ chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng Đểđáp ửng yêu cầu nói trên, chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng đã phải liên tụcduy trì trong nhiều năm , và đó là một trong các nguyên nhân quan trọng củalạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô ở nước ta trong thời gian gần đây
Trang 112.2 – Đầu tư trực tiếp nước ngoài với những đóng góp và quá trình tái
cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam trong những năm qua.
Trong giai đoạn đầu mở cửa, đầu tư nước ngoài là giải pháp hữu hiệu gópphần đưa Việt Nam ra khỏi tình thế khó khăn của tình trạng bị bao vây, cấmvận, khẳng định xu thế mở cửa và quan điểm “ Việt Nam muốn là bạn của cácnước trong cộng đồng thế giới” Trong các giai đoạn tiếp theo, đầu tư nướcngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, gópphần đáng kể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, đổimới công nghệ, khai thông thị trưởng quốc tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, cảithiện cán cân thanh toán quốc tế , đóng góp ngân sách nhà nước, phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao và tạo thêm việc làm
Bên cạnh những đóng góp trực tiếp nêu trên, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã
có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế, trong đó cóviệc khơi dậy các nguồn lực đầu tư trong nước, tạo sức ép cạnh tranh, thúc đẩyđổi mới và chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất, phát triển ngànhcông nghiệp phụ trợ, góp phần đưa Việt Nam từng bước tham gia chuỗi giá trịsản xuất toàn cầu Đến nay Việt Nam đã trở thành điểm đến của nhiều tập đoànhàng đầu trên thế giới trong nhiều lĩnh vực khác như: BP, Total, Toyota,Honda,Canon, Samsung, Intel, Unilever, LG… với những sản phẩm chất lượngquốc tế, qua đó vừa góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ khuvực và thế giới, vừa góp phần tạo động lực cạnh tranh cho các doanh nghiệptrong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa Đầu tư trực tiếp nướcngoài cũng đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ cho quá trình cải cách doanhnghiệp nhà nước, khuyễn khích cải cách thủ tục hành chính và hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư trong nước
Theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch - Đầu tư, hiện nay cảnước có 8.590 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực với tổng số vốnđăng ký trên 83 tỷ USD
Trang 12Đầu tư nước ngoài bổ sung cho tổng vốn đầu tư xã hội và góp phần quantrọng vào xuất khẩu; đóng góp vào nguồn thu ngân sách Đầu tư nước ngoài gópphần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng sảnphẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo, mở rộng thịtrường xuất khẩu nhất là sang Hoa kỳ, EU, làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuấtkhẩu, góp phần ổn điịnh thị trường trong nước, hạn chế nhập siêu thông qua việccung cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm chất lượng cao do doanh nghiệptrong nước sản xuất thay vì phải nhập khẩu như trước đây.
Thứ hai: đầu tư nước ngoài thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hiện nay, 58,4% vốn đầu tư nước ngoàitập trung vào lĩnh vực công nghiệp – xây dựng với trình độ công nghệ cao hơnmặt bằng chung của cả nước, tốc độ tăng trưởng đạt bình quân gần 18%/năm,cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành, tạo ra gần 45% giá trị sản xuất côngnghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tếnhư viễn thông, khai thác, chế biến, dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép,
xi măng….góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đadạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu và tiếp thumột số công nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng caođạt tiêu chuẩn quốc tế, tạo ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất làcác dự án đầu tư vào phát triển nguồn nguyên liệu, góp phần cải thiện tập quáncanh tác và điều kiện hạ tầng yếu kém, lạc hậu ở một số địa phương
Thứ ba: đầu tư nước ngoài tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực và thay đổi cơ cấu lao động Hiên nay khu vực đầu tư nước ngoài tạo ra trênhai triệu lao động trực tiếp và khoảng 3 – 4 triệu lao động gián tiếp, có tác độngmạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa – hiện đạihóa Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được xem là tiên phong trong việc đào tạotại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình độ của công nhân, kỹ thuật viên, cán
bộ quản lý, trong đó một bộ phận đã có năng lực quản lý, trình độ khoa học,công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài Ngoài ra, đầu tư nước ngoàiđóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng lao động thông qua hiệuứng lan tỏa lao động cho các bên liên quan
Trang 13Thứ tư: đầu tư nước ngoài là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng, góp
phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế Khu vực đầu tư nước ngoài
sử dụng công nghệ cao hơn hoặc bằng công nghệ tiên tiến đã có trong nước vàthuộc loại phổ cập trong khu vực Thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệkhu vực đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiêntiến vào Việt Nam, nâng cao năng lực công nghệ trong nhiều lĩnh vực Xét vềcấp độ chuyển giao công nghệ , công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hiệu quả caonhất Theo bộ Khoa học và Công nghệ, một số ngành đa thực hiện tốt cuyểngiao công nghệ như dầu khí, điện tử, viễn thông, tin học, cơ khí chế tạo, xe máy,dệt may và giầy dép, trong đó viễn thông, dầu khí được đánh giá có hiệu quảnhất
Thứ năm: đầu tư nước ngoài có tác động nâng cao năng lực cạnh tranh ở
cả ba cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Nhiều sản phẩm xuất khẩuViệt Nam đủ sức cạnh tranh và có chỗ đứng vững chắc trên các thị trường Hoa
Kỳ, EU, Nhật Bản Kết quả phân tích các chỉ tiêu về vốn, công nghệ, trình độquản lý, khả năng tiếp cận thị trường (đầu vào và tiêu thụ sản phẩm) và năng lựctham gia mang sản xuất toàn cầu cho thấy năng lực cạnh tranh của khu vực đầu
tư nước ngoài cao hơn so với khu vực trong nước Đồng thời, khu vực đầu tưnước ngoài đã và đang có tác động thúc đẩy cạnh tranh của khu vực trong nướcnói riêng và của nền kinh tế nói chung thông qua thúc đẩy năng suất, tăngtrưởng xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tê, nâng cao trình độ côngnghệ, trình độ lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động
Thứ sáu: đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế,
quản trị doanh nghiệp, tạo thêm áp lực đối với việc cải thiện môi trường kinhdoanh Thực tiễn đầu tư nước ngoài đã cho nhiều bài học, kinh nghiệm bổ ích vềcông tác quản lý kinh tế và doanh nghiệp, góp phần thay đổi tư duy quản lý,thúc đẩy quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách theo hướng bình đẳng, côngkhai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế, đào tạo được đội ngũ cán bộquản lý phù hợp với xu thế hội nhập
Thứ bẩy: đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng vào hội nhập quốc tế.
Hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở
Trang 14ộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi để Việt Nam gia nhập ASEAN, kýhiệp định khung với EU, Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư với 62 quốc gia/vùng lãnh thổ và hiệp định đối tác kinh
tế (EPA) với Nhật bản và nhiều nước
2.3 – Một số tồn tại hạn chế của đầu tư trực tiếp nước ngoài với quá trình tái cấu trúc kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng của Việt Nam
Bên cạnh những kết quả tích cực mà đầu tư trực tiếp nước ngoài mang đến,khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng thể hiện một số những tồn tại,yếu kém cần phải khắc phục đó là:
Thứ nhất: Hiệu quả tổng thể nguồn vốn đầu tư nước ngoài chưa cao.
Thứ hai: Tỷ lệ vốn thực hiện thấp so với vốn đăng ký, quy mô dự án nhỏ,
nhiều dự án chậm triển khai, giãn tiến độ, dòng vốn đăng ký đầu tư nước ngoàigần đây đang có xu hướng giảm
Thứ ba: mục tiêu thu hút công nghệ (công nghệ cao và công nghệ nguồn),
chuyển giao công nghệ chưa đạt được
Thứ tư: tạo việc làm chưa tương xứng, đời sống người lao động chưa cao,
tranh chấp và đình công có xu hướng gia tăng
Thứ năm: hiệu ứng lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài sang khu vực
khác của nền kinh tế còn hạn chế
Thứ sáu: Giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam và khả năng tham gia chuỗi
giá trị thấp
Thứ bẩy: một số dự án được cấp phép nhưng chưa bảo đảm tính bền vững,
gây ô nhiễm môi trường, tiêu tốn năng lượng, tài nguyên, chưa chú ý đầy đủ tới
an ninh quốc phòng
Thứ tám: có hiện tượng chuyển giá, trốn thuế.