Chính vì vậy, tôi quyết định lựa chọn quan niệm về Con người và văn hóa trong phân tâm học Freud làm đề tài luận văn nhằm góp phần hiểu biết sâu rộng hơn nữa về phân tâm học Freud với t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ THỊ VÂN HÀ
CON NGƯỜI VÀ VĂN HOÁ
TRONG PHÂN TÂM HỌC FREUD
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ THỊ VÂN HÀ
CON NGƯỜI VÀ VĂN HOÁ
TRONG PHÂN TÂM HỌC FREUD
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60.22.80
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN SANH
HÀ NỘI - 2009
Trang 3lý vốn chủ yếu đã hình thành vào thời Cận đại ở Tây Âu Tuy nhiên, định hướng tư duy và lối sống duy khoa học, duy kỹ thuật, kỹ trị và việc đề cao thái quá những giá trị vật chất do văn minh duy lý đem lại đã đưa loài người đến những thảm họa ở thời hiện đại, mà biểu hiện rõ nhất là hai cuộc thế chiến ở thế kỷ XX Nguy hiểm hơn, cách tiếp cận duy lý cực đoan tới bản thân con người, tới bản tính người đã đơn giản hóa bản tính người, tước bỏ ở
nó hàng loạt những đặc điểm quan trọng khiến cho con người bị đẩy vào tình trạng bế tắc dù cố vùng vẫy thoát ra khỏi những tình huống sinh hoạt nan giải Bối cảnh sinh tồn của con người phương Tây hiện đại đã làm cho họ lâm vào khủng hoảng tinh thần sâu sắc, nó đòi hỏi người ta phải tìm hiểu kỹ lưỡng và toàn diện hơn “thế giới nội tâm”, bản tính người của mình như con đường, tiền đề lý luận để có được định hướng giá trị đáng tin cậy Phân tâm học gắn liền với tên tuổi Sigmud Freud ra đời chính trong điều kiện đó và nhằm đáp
ứng chính nhu cầu đó của con người phương Tây hiện đại
Cho đến nay, các quan điểm phân tâm học cơ bản của Freud không những vẫn bảo toàn giá trị mà còn được các thế hệ kế tục ông làm cho phong phú và phát triển toàn diện hơn Hiệp hội phân tâm học đã được thành lập ở nhiều nước trên thế giới, trong đó đáng kể hơn cả là Hiệp hội Phân tâm học quốc tế Tại nhiều trường đại học trên thế giới, phân tâm học đã trở thành môn học chính thức Phân tâm học Freud không chỉ là một lý thuyết về y học
Trang 42
mà còn được ứng dụng trong nghiên cứu văn học, nghệ thuật, trong nhân học, trong xã hội học, điều này càng làm cho học thuyết này có được nội dung, sắc thái triết học Có thể nói, phân tâm học bao hàm một sự hiểu biết triết học sâu sắc về tồn tại người trong thế giới hiện đại Sự hình thành phân tâm học gắn liền với thử nghiệm tìm ra lối thoát khỏi những bế tắc triết học sinh ra từ tính cực đoan của chủ nghĩa thực chứng định hướng triết học vào tri thức khoa học
tự nhiên và từ chủ nghĩa phi duy lý luôn truyền bá những phỏng đoán theo linh cảm và khả năng nhận thức tồn tại người theo tâm tính bằng cách mô tả
và giải thích nó
Việt Nam đang tiến hành công cuộc hiện đại hóa đất nước trong điều kiện tiếp biến văn hóa toàn cầu Trong bối cảnh đó chúng ta không thể không vấp phải những vấn đề của con người sống trong xã hội hiện đại Chính vì vậy, việc nghiên cứu phân tâm học như sự phản tư triết học đối với những vấn
đề sinh tồn của con người trong xã hội hiện đại là một việc làm vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách Hơn nữa, phân tâm học của Freud quan tâm đến việc xem xét con người và văn hóa không ở tư cách là một thực thể duy lý, mà thực chất là điểm giao của hai thế giới - thế giới tâm linh cao thượng và thế giới tự nhiên thấp hèn, do vậy nó liên quan đến từng cá nhân, từng số phận và nhất là nó đụng chạm đến nhiều lý thuyết xã hội, cũng như nhiều ngành khoa học khác Chính vì vậy, tôi quyết định lựa chọn quan
niệm về Con người và văn hóa trong phân tâm học Freud làm đề tài luận văn
nhằm góp phần hiểu biết sâu rộng hơn nữa về phân tâm học Freud với tư cách
là một trào lưu triết học phương Tây hiện đại, cũng như khắc phục những cách nhìn nhận thiếu khách quan về phân tâm học Thông qua đó, tôi cũng mong muốn vận dụng mô hình cấu trúc về tồn tại người của phân tâm học vào việc giáo dục trẻ em trong gia đình và nhà trường để hình thành những nhân
cách phát triển toàn diện, lành mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 53
Phân tâm học ra đời đã được hơn 100 năm Trong khoảng thời gian ấy,
ở nhiều nước đã diễn ra những tranh luận gay gắt hoặc về toàn bộ nội dung học thuyết, hoặc về điểm này hay điểm khác, đến nay vẫn chưa ngã ngũ Có thể nói trong khoảng 50 - 60 năm đầu, cuộc tranh luận gần như là bất phân thắng bại Có nhiều người đe doạ bắt ông bỏ tù, có người kết án Freud là kẻ tội phạm lớn nhất đe doạ nền văn minh châu Âu Phát xít Đức đốt sách của ông, và trong nhiều thập kỷ một số người mac-xit cũng lên án ông gay gắt Từ những năm 1960 của thế kỷ trước, cuộc tranh luận về Freud giữa hai phe đối lập, một bên là tín đồ của Freud cho rằng phân tâm học là chìa khoá vạn năng giả quyết tất cả các vấn đề nhân sinh và xã hội, một bên chỉ cần nghe đến Freud hay phân tâm học, mà không cần đọc tác phẩm của ông vẫn phê phán phản bác kịch liệt, vẫn tiếp diễn nhưng đỡ gay gắt hơn Thật ra trên thế giới, ý kiến đánh giá về Freud rất phức tạp Riêng ở Liên Xô trước đây, việc nghiên cứu phân tâm học cũng được tiến hành từ rất sớm Lúc đầu, nhiều nghiên cứu
có xu hướng phủ nhận hoàn toàn phân tâm học Tuy nhiên, về sau những nghiên cứu của A.V Xôcôlôp, V.M Lâybin, M Phrilenđe đã có sự đánh giá thoả đáng hơn, khi họ cho rằng “sẽ là sai lầm nếu coi nhẹ ảnh hưởng của phân tâm học đến đời sống tinh thần của thế giới phương Tây” [34, 391]1 Các học giả cũng nhất trí được rằng, không nên có định kiến chống phân tâm học, mà phải nghiên cứu nó để chỉ ra những hạn chế và thực tiễn không có triển vọng của nó [xem 34, 390 – 391]
Nói chung, ngày nay phân tâm học Freud đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, điều đó chứng tỏ Freud và học thuyết của ông đã và đang có những ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới và trên nhiều lĩnh vực Tuy vậy, do sự hạn chế ngoại ngữ của bản thân và nguồn tài liệu ít
1 Từ đây trở đi: trong ngoặc, số thứ nhất là chỉ số thứ tự của tài liệu trong Danh mục tài liệu tham khảo; số thứ hai chỉ trang trích dẫn của tài liệu
Trang 64
ỏi ở Việt Nam, nên ở đây, chúng tôi chỉ xin khái quát một số tư liệu nghiên
cứu cơ bản về phân tâm học Freud
Trước tiên phải kể đến cuốn sách của David Stafford - Clark, Freud đã thực sự nói gì (của Nxb Thế giới, 1998) Theo từng vấn đề tác giả đã tóm tắt
toàn bộ những công trình và cống hiến của Freud dành cho người đọc không chuyên, giúp họ có thể tiếp cận với phân tâm học Đây được coi là cuốn sách nhập môn về tư tưởng của Freud, tác giả chú giải khá rõ bằng nhiều trích dẫn những tư tưởng trong các tác phẩm của Freud theo từng nhóm vấn đề và đã từng được độc giả nước ngoài rất hoan nghênh Các khái niệm căn bản của phân tâm học như: vô thức, sự dồn nén, cấu trúc bộ máy tâm thần, libido… được tác giả phân tích khá tỉ mỉ, chi tiết Trong chương VI của cuốn sách:
Khái niệm về cấu trúc và chức năng tâm thần, thông qua việc phân tích, mô tả
cấu trúc bộ máy tâm thần với ba yếu tố: cái ấy, cái tôi và cái siêu tôi và quan
hệ giữa ba yếu tố Clark đã đề cập đến quan niệm về con người của Freud, và
ở đây ông cũng đồng ý với quan niệm của Freud khi cho rằng: “Freud chỉ coi
ý thức như một phần tương đối nhỏ và tạm thời trong toàn bộ đời sống tinh thần của cá nhân Chúng ta có thể cùng với Freud chấp nhận rằng đây là một phản ảnh trực tiếp thường xuyên thay đổi, của những gì chúng ta biết được vào thời điểm nào đó, mà phạm vi của sự hiểu biết ấy bị giới hạn bởi năng lực của con người chúng ta…” [38; 155] Tuy nhiên, mô hình bản tính người theo Freud chưa được Clark trình bày một cách có hệ thống Trong chương XI:
Những nghiên cứu về bản chất con người và niềm tin của nó, Clark bàn đến
quan niệm của Freud về quá khứ và tương lai của loài người, “những ý kiến tuy tạo thành cái cớ cho các cuộc tranh cãi nhưng dựa vào sự quan tâm của chính tác giả về thân phận con người…” [38; 235] Trong chương này Clark
tập trung vào phân tích các tác phẩm như: Tương lai của một ảo tưởng, Sự bất
ổn của nền văn minh chúng ta, Moise và tôn giáo độc thần… quan niệm của
Freud về văn hoá cũng được tác giả đề cập, ông cho rằng đa số các tác phẩm của Freud chưa có những kết luận vững chắc, và điều đó cũng thật dễ hiểu vì
Trang 7đột nội tâm; tuy nhiên cấu trúc này được trình bày dựa trên nền tảng tâm lý học
Diệp Mạnh Lý - Sigmund Freud (Nxb Thuận Hoá 2002) Đây là tác
phẩm cung cấp nhiều chi tiết về cuộc đời, sự nghiệp cống hiến của ông, những vấn đề mà Freud phải đối mặt khi công bố học thuyết của mình Tác giả cho thấy cuộc đời của Freud nếm đủ bao phen chua cay và giày vò, nhưng ông vẫn kiên cường, giữ vững ý chí, trước sau trung thành với lý tưởng của mình Phân tâm học của ông nhiều lúc cũng bị những người có quyền uy trong giới học thuật rẻ rúng và một số người trong xã hội đối xử lạnh nhạt; khi gặp khó khăn nhất, thì ông bị thầy dạy và bạn đồng nghiệp xa lánh Nội
bộ tổ chức học thuật quốc tế phát triển phân tâm học do ông sáng lập luôn bị phân hoá, mâu thuẫn chồng chất; những năm cuối đời, ông bị bệnh nặng… chưa bao giờ ông rời bỏ lý tưởng và niềm tin của mình Tác giả cũng đã bàn đến các tư tưởng cơ bản của Freud về quá trình ra đời của phân tâm học; lý luận về bản năng; bí mật của kết cấu nhân cách; lý luận văn hoá hiện đại và
ảnh hưởng của nó Trong chương Vạch rõ bí mật của tâm lý nhân cách tác
Trang 86
giả chia kết cấu nhân cách làm ba phần: bản Ngã, tự Ngã và siêu Ngã Ba yếu
tố này có quan hệ mật thiết với nhau: “… khi ba cái bản Ngã, tự Ngã và siêu Ngã điều hoà thống nhất, tâm lý con người có trạng thái cân bằng, nhân cách
là bình thường; khi ba cái này mất cân bằng, có trạng thái rối loạn, tâm lý con người không thể tự động tiến hành điều tiết khống chế, gây cho tinh thần không bình thường” [37; 213] Tác giả cho rằng: “Nhân cách là một hệ thống năng lượng phức tạp, năng lượng tâm lý là cái điều khiển vận hành ba bộ phận nhân cách… năng lượng tâm lý được phân bổ và di chuyển trong ba bộ phận nhân cách và tạo nên hệ thống động lực nhân cách, nó quyết định phương hướng phát triển của nhân cách” [xem 37; 231- 232] Cũng ở đây, tác giả đánh giá: “lý luận nhân cách của Freud đã giới thiệu với chúng ta một trình tự phát triển hợp lôgic, vạch ra bí mật của nhân cách tâm lý Lý luận này trong lịch sử tâm lý học là sáng tạo hàng đầu, có ảnh hưởng quan trọng trong các lĩnh vực khoa học như văn học nghệ thuật, mỹ học, tôn giáo lý luận” [37;
244]
Lưu Phóng Đồng trong Lịch sử Triết học phương Tây hiện đại (Nxb
Chính trị quốc gia Hà Nội,1994) cũng đã đưa ra những nhận định về tư tưởng con người và văn hoá, song nó chủ yếu được các tác giả lồng ghép trong khi nêu
những đóng góp chính của Freud và phân tâm học
Trong những năm gần đây, phân tâm học ở nước ta đã bắt đầu được chú ý nghiên cứu khách quan và công bằng hơn Một công trình nghiên cứu về phân tâm học được coi là bài bản và có hệ thống đầu tiên ở Việt Nam, theo mức độ
hiểu biết có hạn của cá nhân tôi, là Freud và Tâm phân học (Nxb Văn hoá
thông tin, 2000) của Phạm Minh Lăng Tác giả đã đề cập tương đối có hệ thống các ý tưởng cơ bản và nội dung chủ yếu và bao quát của phân tâm học Tuy những tìm hiểu về Freud và phân tâm học trong chuyên khảo này chỉ có tính chất sơ khảo; nhưng bước mở đầu này lại vô cùng quan trọng vì nó thực
sự giúp cho người đọc hiểu diện mạo của phân tâm học cũng như tư tưởng
Trang 97
của Freud đúng đắn hơn Từ việc đưa ra lý thuyết về cái vô thức và lý thuyết
về tình dục như là trình bày sự khởi đầu cho những đóng góp của Freud, tác giả đã lý giải về hai đóng góp của Freud tương đối khách quan giúp người đọc
có thể nhìn nhận phân tâm học thoải mái và tự nhiên hơn Phạm Minh Lăng khuyên mọi người cách tìm hiểu phân tâm học Freud: “Việc cần thiết lúc này
là hãy nhìn thẳng, không kiêng kỵ và đối xử với nó bằng một thái độ trong sáng, lành mạnh giữa những con người, một thái độ đạt tình thấu lý…” [19; 156-157] Nội dung chính của phân tâm học và cũng là đóng góp của Freud
được Phạm Minh Lăng chia làm ba bộ phận Đó là:
- Lý thuyết về cái vô thức
- Lý thuyết về tình dục (hiểu theo nghĩa của phân tâm học)
- Lý thuyết về cơ cấu toàn diện nhân cách hay còn gọi là tâm lý học về
cái Tôi
Trong ba bộ phận này thì lý thuyết về cái vô thức giữ vai trò nền tảng Cùng với ba bộ phận chủ yếu trên, tác giả còn đề cập đến nhiều vấn đề được coi là những đóng góp có giá trị của Freud như: giấc mơ, mặc cảm Ơdip… Tác giả kết luận: “Tâm phân học không muốn thi vị hoá cuộc đời và luôn chấp nhận sự đối nghịch: thiên thần và quỷ dữ trong một kiếp người Chấp nhận nó không phải để chiêm ngưỡng nó, không phải để bó tay mà để có đối sách phù hợp mà không hề có sự ảo tưởng hay huyễn hoặc nào” [19; 286] và
„tâm phân học là một hệ thống vô cùng phong phú với rất nhiều vấn đề đáng
để chúng ta quan tâm” [19;18]
Có lẽ, ở nước ta phân tâm học được giới thiệu rộng rãi hơn cả thông qua chùm tác phẩm về phân tâm học do Đỗ Lai Thuý biên soạn Đây là tập hợp các tác phẩm gốc của các nhà phân tâm học như;: Freud, Jung, Fromm giúp cho người đọc dễ dàng làm quen từng nhóm vấn đề mà phân tâm học quan tâm Như vậy, nhận thức về phân tâm học chỉ có được thông qua sự tự cảm nhận của người
đọc Còn trong Theo vết chân những người khổng lồ (Nxb Văn hoá thông tin
Trang 108
2006) , thông qua việc sưu tầm các lý thuyết văn hoá, Đỗ Lai Thuý có đề cập đến cách tiếp cận tới văn hoá và cái tôi Nó được đánh giá là “đã đánh dấu một trong những thành tựu quan trọng của lý thuyết văn hoá thế kỷ XX” [xem 31;
423 - 446] Trong đó Freud được coi là người đặt nền móng mở đầu cho cách
tiếp cận ấy “Trong Văn minh và những bất ổn của nó là nỗ lực quan trọng nhất
của ông để tìm hiểu văn hoá theo một cách thức mang chủ nghĩa tập thể hơn” [xem 31; 425 - 426] Cách tiếp cận này về sau được các học trò của ông bổ xung
và làm phong phú hơn
Cuối cùng, Nguyễn Hào Hải trong Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại (Nxb văn hoá thông tin 2003) và Đỗ Minh Hợp trong Diện mạo triết học phương Tây hiện đại (Nxb Hà nội, 2006) cũng đều đề cập đến vấn đề
con người trong phân tâm học Freud: “Học thuyết Freud về cái vô thức chỉ ra rằng con người là rất phức tạp và sẽ là sai lầm nghiêm trọng nếu chỉ xem nó như
là một thực thể có ý thức và hoàn toàn duy lý Học thuyết Freud đã trở thành một trong các nhân tố giáng một đòn nặng nề nhất vào quan niệm hời hợt – duy
lý chủ nghĩa về con người” [11; 232] Để từ đó chúng ta “cần xem xét con người
một cách chăm chú và sâu sắc hơn trước đây ” [11; 233]
Tóm lại, vấn đề Con người và văn hoá trong phân tâm học Freud đã
được ít nhiều bàn thảo trong các công trình nghiên cứu của các tác giả trên
Song, nó chưa được trình bày một cách hệ thống và mối quan hệ giữa con người và văn hoá - một nội dung triết học độc đáo của Freud - lại chưa được
nghiên cứu thấu đáo Đây là điều thực sự cần thiết đối với việc tìm hiểu lịch
sử triết học Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi cố gắng xâu chuỗi quan
niệm của Freud về con người và về văn hóa với nhau từ góc độ triết học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: trình bày và phân tích quan niệm triết học về con người, văn
hóa trong phân tâm học Freud, từ đó chỉ ra những giá trị, cũng như những hạn
chế của nó
Trang 119
Nhiệm vụ:
- Trình bày tiền đề lý luận, bối cảnh hình thành và phát triển quan niệm
triết học về con người và văn hóa trong phân tâm học Freud
- Làm rõ quan niệm siêu tâm lý học với tư cách là quan niệm triết học
về con người và văn hóa trong phân tâm học Freud
- Bước đầu đưa ra những nhận xét, đánh giá về những mặt tích cực và
những hạn chế trong quan niệm triết học về con người và văn hóa của Freud
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan niệm của Freud về con
người và văn hóa
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là một số tác phẩm tiêu biểu của
Freud như: Vật tổ cấm kỵ; Bệnh lý học tinh thần về sinh hoạt đời thường; Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ; Ba luận văn về lý thuyết tính dục, Bản ngã và tự ngã, Bất mãn với văn hoá, Phân tâm học nhập môn, Tương lai
của một ảo tưởng… và một số tác phẩm khác có liên quan
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của các nhà kinh điển mác xít về
mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về qúa trình lịch sử triết học
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là:
- Phân tích, đối chiếu so sánh tài liệu, tổng hợp
- Thống nhất logic và lịch sử
- Phương pháp hệ thống – cấu trúc…
6 Đóng góp của luận văn
- Chỉ rõ cội nguồn triết học và những nội dung cơ bản của quan niệm
về con người và văn hóa trong phân tâm học của Freud Bước đầu đưa ra những nhận xét đánh giá về những đóng góp của Freud đối với sự phát triển
quan niệm hiện đại về con người và văn hoá
Trang 1210
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu và
nghiên cứu về phân tâm học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm 2 chương 7 tiết
Trang 1311
CHƯƠNG 1
SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI VÀ VĂN HOÁ
TRONG PHÂN TÂM HỌC FREUD
Ph Ăngghen nói: "Tư duy lý luận của mọi thời đại, cũng có nghĩa là cả thời đại chúng ta, là một sản phẩm lịch sử mang những hình thức rất khác nhau trong những thời đại khác nhau và do đó có một nội dung rất khác nhau” [23;tr.487] Do vậy, trước khi đi vào nghiên cứu học thuyết phân tâm học Freud và cụ thể là quan niệm về con người và văn hoá của ông, chúng ta không thể không khảo sát bối cảnh và những cội nguồn xuất hiện của nó Sự hình thành và phát triển của một hệ tư tưởng bao giờ cũng được quy định bởi các điều kiện xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và đời sống của bản thân nhà
tư tưởng, bởi sự kế thừa tư tưởng của các bậc tiền bối Phân tâm học Freud
không phải là ngoại lệ
1.1 Freud: cuộc đời và sự nghiệp
Sigmund Freud sinh ngày 6 tháng 5 năm 1856 tại Freiburg, một thành phố nhỏ thuộc tỉnh Moravia, trước đây thuộc nước Áo, nay là Fribor thuộc Cộng hoà Séc Trong Tự truyện, Freud kể: "Bố mẹ tôi đều là người Do Thái, tôi cũng mang trong mình dòng máu đó Tôi có lí do để tin rằng, tổ tiên tôi từ rất sớm đã định cư và sinh sống trên bờ sông Ranh; trong thế kỉ XIV - XV rất nhiều người Do Thái ở đây bị bức hại, họ phải rời quê hương, chạy về hướng Đông, đầu thế kỉ XIX lại rời Litva, xuyên qua Kaxilia rồi trở về chốn cũ Đức
- Áo" [Freud: Tự truyện t 4, trích theo 41;14]
Vì truyền thống gia đình không trọng tín ngưỡng nên ngay từ thời trẻ, Freud đã là người vô thần nhiệt thành Chỉ khi ở Đức dấy lên phong trào bài
Do Thái vào năm 1926 ông mới tuyên bố: “Ngôn ngữ, văn hoá, giáo dục của tôi đều là Đức, tôi luôn coi mình là người Đức, chỉ có điều bây giờ ở Đức có
Trang 1412
phong trào bài Do Thái, tôi mới tự nhận mình là người Do Thái mà thôi” Bản lĩnh của người Do Thái trước sự rẻ rúng, sỉ nhục ở châu Âu lúc bấy giờ đã giúp Freud vượt qua được những định kiến của thời đại để cống hiến cho
nhân loại một học thuyết mang tính bước ngoặt
Bố của Freud là Yacob, một thương gia Do Thái không thành đạt nhưng lương thiện và thích giúp đỡ người khác Với các con cha Freud rất nghiêm khắc và gia trưởng Thủa nhỏ, Freud luôn có cảm xúc trái ngược với cha, vừa thương yêu, vừa sợ hãi Cha ông thực sự đã giành trọn tình cảm của mình cho người mẹ luôn yêu thương và bảo vệ Freud Sự gắn bó này có lẽ là điều báo trước cho sự phát triển mặc cảm Ơdip (Freud đã lấy tên của một nhân vật trong thần thoại Hi Lạp giết bố và lấy chính mẹ đẻ của mình và cũng chính là sự kết tình của đứa trẻ đối với người mẹ khác giới tính với nó) là một phần tạo nên hệ thống phân tâm học của ông sau này Trái ngược với cha, mẹ của Freud là Amini Nadansen, ít hơn chồng 20 tuổi, là người phụ nữ dịu dàng chu đáo, rất yêu thương và có ảnh hưởng sâu sắc đối với Freud Freud từng thổ lộ rằng: ông đã tiếp nhận tính đa cảm từ mẹ mình Niềm kiêu hãnh và tình yêu ông dành cho mẹ đã để lại những dấu ấn rất sâu đậm không phai mờ trong tâm trí của mình Sau này Freud nhận xét về mối quan hệ đó như sau: "Một người đàn ông được mẹ mình yêu thương nhất và không có gì thay đổi được tình yêu thương đó, sẽ giữ cho cuộc sống của mình cảm giác của người chiến thắng, tự tin với thành công đó sẽ luôn đưa tới thành công thực sự” [40;52]
Lúc Freud 4 tuổi, ở Freiberg lại nổi lên làn sóng chống Do Thái dữ dội, phá vỡ cuộc sống yên tĩnh hạnh phúc của gia đình Gia đình ông phải chạy đến vùng Laizic (nước Đức) Tài sản của gia đình bị phá huỷ, hàng hoá buôn bán bị mất sạch Freud cùng với bố mẹ chạy sang Viên (nước Áo) Đây là một khu vực có rất nhiều người Do Thái sinh sống, đường phố chật hẹp, nhà cửa san sát, không khí ô nhiễm Hoàn cảnh này trái ngược với phong cảnh thiên nhiên đẹp, rộng rãi của thành Viên Nhưng ở thủ đô đế quốc, tầng lớp
Trang 1513
dân chúng nghèo khổ thường ít bị hành hạ hơn ở những thành phố nhỏ tỉnh lẻ Cho nên bố ông cũng yên phận, thậm chí còn cảm thấy “cuộc sống khá hơn nhiều” so với những ngày lưu vong trước đây Nhưng Freud lúc ấy lại không thấy những uất ức, nhục nhã mà bố đã chịu đựng, mà lại so sánh với cuộc sống hạnh phúc trước đây Mặc dù người Do Thái được phép sống ở đây nhưng vẫn có thể bị đe dọa và tập kích bất cứ lúc nào Định kiến xã hội đã gây nhiều sức ép, đời sống gia đình xáo trộn và nghèo khổ, hoàn cảnh ngột ngạt đó không ngừng kích động tâm hồn thơ ngây của Freud, khiến ông từng bước hình thành tinh thần phản kháng kiên cường, bất khuất Thêm 6 đứa em của Freud ra đời, hai người anh khác mẹ của Freud sang Anh lập nghiệp và rất thành đạt, Freud đã rất khâm phục họ, sớm tỏ lòng ngưỡng mộ nước Anh
và có khát vọng định cư ở đó Ông coi nước Anh là nước tự do, đi đúng hướng, thậm chí ông luôn tỏ ra bực tức khi so sánh giữa nơi tốt đẹp đó với cuộc sống cơ cực ở Viên Có thể thấy ngay từ bé, Freud đã bất mãn với hiện thực, luôn có nguyện vọng hướng tới tương lai tươi sáng Ông rất tự tin, khó chịu trước sự phê bình, từ bé đã có ? thức chinh phục đối thủ, chống lại quyền
uy
Thông minh, học giỏi, đẹp trai nhưng Freud luôn bị ám ảnh bởi bệnh đau tim, lo sợ chết sớm và đã trải qua nhiều cơn suy nhược thần kinh Freud rất sợ đi tàu, hai lần muốn đến Roma để nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật nhưng đến cửa rồi ông lại không có can đảm bước vào Sau này nhớ lại, đó là
do những lời cha kể về sự tàn tệ của Công giáo đối với người Do Thái đã làm
ông sợ hãi
Cha mẹ ông luôn quan tâm và cổ vũ sự phát triển trí tuệ của con mình bằng mọi cách có thể, kể cả việc không cho các em gái Freud học Piano (môn học khá phổ biến của phụ nữ thời đó) vì sợ họ luyện tập ồn ào, làm ảnh hưởng đến sự tập trung của Freud Khi học trung học, Freud rất ham hiểu biết, rất chịu khó học tập với mong muốn có được nền tảng kiến thức vững chắc cho
Trang 1614
nghiên cứu khoa học sau này Freud không chỉ học kiến thức trên lớp, ông còn đọc nhiều sách tham khảo liên quan đến nội dung bài học Khi đọc sách, Freud thường suy nghĩ phân tích để hiểu rõ, hy vọng giải quyết tốt những vấn
đề khó Ngay từ bé, Freud đã biết rèn luyện và bồi dưỡng tư duy sáng tạo Freud coi việc đọc sách và học tập là một nhu cầu quan trọng của cuộc sống, ông rất cần cù học ngôn ngữ và tinh thông nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý và cả tiếng Do Thái cổ Ngay từ nhỏ, "tinh thần Do Thái" đã được định hình ở Freud - đó là vừa tôn trọng các nền văn hoá của loài người,
kể cả đạo lí và không giữ thiên kiến về tôn giáo và dân tộc, sẵn sàng liên kết với phái đối lập nhưng cũng kiên quyết không khuất phục thỏa hiệp với “số đông áp đảo” Thực tiễn hoạt động khoa học và quá trình sáng lập phân tâm học của Freud đã thể hiện đầy đủ đặc trưng tính cách tinh thần này Đến lúc phải lựa chọn cho mình một nghề nghiệp, Freud quyết định theo học ngành Y với mong muốn sẽ giúp mình theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học và ổn
định cuộc sống
Năm 1873, ông vào trường Đại học Y khoa Viên, mặc dù lịch học xếp kín nhưng Freud vẫn đam mê đọc tất cả các thể loại sách Năm thứ 2 đại học, Freud còn dồn nhiều công sức học môn sinh lí học, giải phẫu học và đi nghe
giáo sư Brentano giảng triết học
Trước khi tốt nghiệp (1881), Freud đã trở thành nghiên cứu viên tâm lí dưới sự hướng dẫn của Clous và Brueke Khi Freud gặp Brueke, nhiệt tình tìm tòi chân lí khoa học bắt đầu sục sôi Những bài giảng sinh lí học của Brueke không những ảnh hưởng đến sự nghiên cứu sinh lí học mà còn có ảnh
hưởng rất lớn đến phân tâm học của Freud sau này
Năm 1881, Freud tốt nghiệp Đại học Y với thành tích xuất sắc và tiếp tục làm việc trong phòng thí nghiệm của Giáo sư Brueke, sau đó Brueke khuyên Freud không nên tiếp tục nghiên cứu khoa học và nên làm Bác sỹ thực
tập để đảm bảo cuộc sống trước mắt
Trang 1715
Năm 1882, Freud chính thức đến làm việc tại Tổng Y viện Viên Đây là bệnh viện lớn và là trung tâm nghiên cứu y học hàng đầu thế giới lúc bấy giờ Ông làm việc rất xuất sắc và được bổ nhiệm phụ trách khoa Tâm thần rồi được phong làm giảng viên vì có thành tích đặc biệt trong nghiên cứu khoa học
Được Brueke bảo trợ, Freud được cấp một khoản tiền lớn để đi du học tại Pháp Freud đã đến học tại bệnh viện ở Pari dưới sự hướng dẫn của Giáo
sư T.Charcot - một chuyên gia hàng đầu về chữa bệnh tâm thần ở Pháp thời
đó Theo Freud, Charcot quả thực có ma lực của vị Giáo sư; cơ cấu và nội dung bài giảng của ông rất cô đọng, mỗi bài giảng là một kiệt tác Dưới sự hướng dẫn của Charcot, Freud ngày đêm không ngừng nghiên cứu các bệnh
án điển hình Tuy nhiên, cuộc sống ở Pari làm Freud quá mệt mỏi và khổ sở Sau đó, ông rời Pari về nước lập gia đình và mở phòng khám riêng Thời gian học tập Charcot đã trang bị cho ông kiến thức sâu hơn về thuật thôi miên trong việc điều trị bệnh thần kinh Tuy nhiên Freud nhận thức sâu sắc rằng thuật thôi miên rất hạn chế trong việc chữa bệnh tâm thần vì nó không mang tính phổ biến và kết quả thường không chắc chắn, hơn nữa nó không đi sâu lí giải được nguồn gốc thật sự của bệnh tâm thần Freud tiếp tục tìm hiểu thực tiễn, thăm dò, suy nghĩ từng bước tìm tòi, tổng kết một số phương pháp chữa bệnh mới Từ đó, ông đã đưa ra phương pháp liên tưởng tự do, thay thế
cho phương pháp thôi miên, đánh dấu sự mở đầu của phân tâm học
Từ năm 1890 đến 1900, Freud rất cô độc Brueke xa lánh và không chấp nhận quan điểm của Freud về tầm quan trọng của nhân tố giới tính trong bệnh lý học về những rối loạn cảm xúc như hiện tượng cuồng loạn trong
Nghiên cứu Hystêri Năm 1900 Lý giải giấc mơ được xuất bản nhưng không
gây được tiếng vang lớn, nhưng mười năm sau nó được phát hành rộng rãi và
gây nhiều tranh cãi Cùng với Bệnh lý học trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, Lý giải giấc mơ đã đặt nền móng cho phân tâm học Tác phẩm Ba luận
Trang 1816
thuyết tính dục của Freud ra đời năm 1906 đã được đón nhận nồng nhiệt
Nhưng tình trạng của ông trở nên xấu hơn khi năm 1907 Freud trình bày bản báo cáo tại Hiệp hội phân tâm học, trong đó ông đã diễn giải học thuyết của mình dựa trên vai trò sự cám dỗ mang tính cha mẹ trong chứng loạn thần kinh chức năng Chủ tịch Hội đoàn tâm thần và thần kinh học Krallt - Ebinh, bác
bỏ học thuyết và gọi nó là "một câu chuyện cổ tích tinh thần tiền khoa học" [41;54] Các tổ chức y khoa và khoa học phê phán ông ngày càng kịch liệt Báo chí bôi nhọ thanh danh của ông Học thuyết của ông bị đặt ngang hàng với sách báo khiêu dâm và được xem là cuộc tấn công vào đạo đức của nền
văn minh phương Tây
Trên con đường phát triển của phân tâm học, do có những bất đồng về quan điểm lí luận, Freud đã phải chia tay với những người thầy, người bạn như: Brurke, Phrenxơ, Alder và Jung Freud rất đau khổ và buồn rầu Nhưng ông vốn là con người kiên cường, tự tôn kiên định nên không vì thế nản lòng
nhụt chí, mà lại tìm mọi cách duy trì và phát triển sự nghiệp của mình
Freud kiên cường chịu đựng việc buộc tội mình Ông cũng nhận được
sự hỗ trợ từ một nhóm nhỏ các bác sỹ nội khoa trẻ là những người ngoại đạo
Họ lắng nghe những quan điểm của ông và ngày càng ngưỡng mộ ông Năm
1909, Freud được mời sang giảng dạy tại Đại học Clark bang Masschusetts của Mĩ Frued viết: "Khi tôi bước lên diễn đàn để thuyết trình năm bài giảng
về phân tâm học có vẻ như tôi đang mơ giữa ban ngày, một giấc mơ không thể nào tin được: phân tích tâm lí không còn là một sản phẩm của ảo tưởng nữa và nó đã trở thành một phần vô giá của thực tại" [41;55] Trong những năm tiếp theo, hiệp hội phân tâm học quốc tế được thành lập, đó là sự công
nhận xa hơn cho học thuyết của ông
Khi bùng nổ cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất thì toàn bộ các thành viên uỷ ban và Hiệp hội phân tâm học Viên đều tham gia chiến tranh Freud lần lượt nghe tin con cái của bạn bè và đồng nghiệp chết trận Ba người con
Trang 1917
ông thường xuyên ra vào tuyến lửa, vợ ông hàng ngày thức dậy rất sớm đầy lo
âu, sợ nhận tin không lành Lúc này, Freud như bừng tỉnh lại, ông nhận ra mình là thằng ngốc đã tuyên truyền rất mù quáng cho chiến tranh, và ông đau khổ vì chiến tranh gây tật nguyền và chết chóc cho nhân dân Năm 1916, chiến tranh đã làm cho thực phẩm thiếu hụt nghiêm trọng, đời sống nhân dân rất khó khăn, nạn đói đe doạ Freud sụt cân, thiếu than không thể đốt lò, ông
đành cuốn áo khoác, khăn, đội mũ viết và chữa bài với bàn tay lạnh cóng
Trong tình hình ấy, Freud vẫn đến đại học Viên nhiều lần để giảng bài
Nhưng bài giảng ấy đã được in thành Nhập môn phân tâm học vào năm 1917
Trong sách này, Freud đã giới thiệu rất rõ toàn bộ nội dung của phân tâm học Sách đã trình bày có hệ thống về nguyên nhân của sự nhầm lẫn, về giấc mơ, khái niệm vô thức và lý thuyết tính dục Có thể nói, đây là tác phẩm tổng kết
thời kỳ đầu của ông
Năm 1930, Freud vinh dự được nhận giải thưởng Gothe mà ông
hằng ao ước với tác phẩm Bất mãn với văn hoá - giải thưởng vinh dự nhất
cuộc đời ông với tư cách là một công dân Nhà tiểu thuyết Thomas Mann
đã bày tỏ sự thán phục và coi ông như là một ảnh hưởng chủ đạo trong lịch
sử tư duy hiện đại
Một số tác phẩm quan trọng được ông viết trong thời kì này: Vật tổ -
khoái lạc (1920); Nguyên tắc siêu việt và khoái lạc (1920); Bất mãn với văn hoá (1920); Tâm lí học tập thể và phân tích bản ngã (1921); Tự ngã, bản ngã (1923); Tương lai của một ảo tưởng (1924); Sự bất ổn của nền văn minh
(1930) Đây là những tác phẩm chính của Freud bàn về con người và mối
quan hệ con người và văn hoá trong xã hội hiện đại
Vào những năm 30 thế kỷ XX Đảng Quốc xã và Hitle - kẻ thù không đội trời chung cho những gì Freud đại diện, đã bành trướng thế lực ở Đức Những bài diễn thuyết của chúng về sự thấp kém chủng tộc là khúc dạo đầu
Trang 20phủ Quốc xã buộc ông phải thiêu huỷ toàn bộ sách của mình ở nơi công cộng
Trong những năm cuối đời, Freud ngoan cường đấu tranh với bệnh tật, tiếp tục nghiên cứu, sáng tác, công bố nhiều tác phẩm quan trọng, đặc biệt trong tình trạng bị phát xít Đức bức hại điên cuồng, ông vẫn kiên định niềm tin của mình phấn đấu đến hơi thở cuối cùng Ban ngày chữa bệnh, ban đêm
tiếp tục nghiên cứu, sáng tác và viết Tự truyện Trong Tự truyện, Freud khái
quát có hệ thống lịch sử ra đời và phát triển của phân tâm học, trình bày cốt lõi hệ thống lí luận phân tâm học và giá trị quan trọng của nó Đồng thời ông
còn viết một số luận văn ngắn như Dồn nén, chứng bệnh và lo âu, Sự chống
lại đối với phân tâm học
Freud định tận dụng thời gian bệnh tật cuối cùng viết nhiều tác phẩm mới Nhưng lúc này ở phương Tây, kinh tế khủng hoảng, lạm phát phi mã, tình hình chính trị căng thẳng khiến hoàn cảnh của Freud ngày càng tồi tệ Hiệp hội phân tâm học giải tán, Freud chạy chốn khỏi nước Áo, sang Anh sống lưu vong Ông được nước Anh chào đón nồng nhiệt và được đích thân Quốc vương tới thăm Lúc này bệnh tình của Freud ngày càng xấu, ông vẫn
tiếp tục viết Mosiel và tôn giáo độc thần Khắc kỉ, nhẫn nhục, Freud đã duyệt
đi duyệt lại học thuyết của mình cho đến phút cuối cùng
Ông mất ngày 23 tháng 9 năm 1939 và được hoả táng tại Luân Đôn
Freud là nhân vật lịch sử, sự cống hiến và hạn chế của ông đều mang tính thời đại Về địa vị và ảnh hưởng của ông, chúng tôi mượn lời nói của nhà tâm lí học Mĩ Bôring để diễn đạt "Nếu Freud bị chết ngạt trong nôi, thời đại
sẽ không thểsinh ra một Freud khác"
1.2 Bối cảnh châu Âu giữa thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
Trang 2119
Giữa thế kỷ XIX, ở châu Âu có rất nhiều sự biến đổi có tính chất bước ngoặt cả về kinh tế, chính trị và văn hoá tinh thần Năm 1848, nước Áo thực hiện cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ phong kiến, giải phóng nhân dân lao động khỏi sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc Cách mạng thất bại, chế độ chuyên chế của Vương triều Habsboudg lại được khôi phục, các dân tộc bị đế
quốc áp bức rơi vào cảnh bị tàn sát Cuối thế kỷ XIX, nhà nước phong kiến
tan rã, chủ nghĩa tư bản ra đời và phát triển nhanh chóng, từng bước chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Mặc dù mới được thiết lập nhưng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với các chế độ trước
đó Đây là thời kỳ ra đời của các tập đoàn tài chính lớn liên kết với nhau nhằm tập trung sức sản xuất, thành lập các liên minh, các tổ chức độc quyền tiến hành xuất khẩu tư bản lũng đoạn nền kinh tế thế giới Thực trạng này đã khiến cho cạnh tranh, mâu thuẫn ngày càng gay gắt trong thế giới tư bản, dẫn đến chiến tranh, đổ máu, tàn sát lẫn nhau Mặt khác, hàng loạt công nhân thất nghiệp, đời sống khó khăn, nhân dân bị áp bức về kinh tế chính trị ngày càng nặng nề Nhưng đồng thời với sự phát triển của nền kinh tế thì nó cũng kéo theo những mâu thuẫn gay gắt trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, triết học, tôn giáo… và đời sống xã hội lúc bấy giờ cũng trở nên căng thẳng hơn, nhạy cảm hơn Trong một xã hội với phương thức sản xuất mới, những tư tưởng, cách nhìn chuẩn mực đạo đức mới dần dần xuất hiện Có thể nói, bầu không khí Tây Âu thời kỳ này đã xuất hiện những mâu thuẫn mới trong đời sống tinh thần; một bên là những quan niệm truyền thống với những tập tục, thành kiến của xã hội phong kiến bảo thủ, một bên là xã hội sôi động với những quan niệm mới, những “chuẩn” mới
Lúc này Freud sống và trưởng thành ở thủ đô Viên, một trong những thành luỹ tư bản ở Tây Âu lúc bấy giờ Thành phố Viên hoa lệ lúc này thực sự
là một lò lửa sục sôi với những mâu thuẫn kinh tế, xã hội, tư tưởng Bạo loạn,
Trang 2220
chiến tranh, chết chóc và khủng bố xảy ra thường xuyên Lúc Freud ba tuổi,
Ý, Pháp tuyên chiến với Áo khiến bố và hai người anh trai của ông buộc phải tham chiến Gia đình Freud phải dời đến Laizic để lánh nạn Thời niên thiếu Freud không chỉ tận mắt chứng kiến các cuộc chiến tranh mà ông còn theo dõi
từ đầu đến cuối những diễn biến, số phận của con người và xã hội Xã hội
Áo còn đầy rẫy những thành kiến của tư tưởng quan phương Thanh giáo bảo thủ Điều đó cùng với sự thối nát của Vương triều Vichtoria đã làm nảy sinh thói đạo đức giả, sự ức chế tình dục là không thể tránh khỏi Những người không kịp thời thích ứng với điều kiện làm việc, thích ứng với quan niệm xã hội mới sẽ trở nên căng thẳng, thiếu tự tin trong cuộc sống, trong nếp nghĩ và nhất là bị “ám thị” với những cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới ngay trong suy nghĩ của bản thân mình Từ đó, những căn bệnh mới về tinh thần cũng có nguy cơ phát triển theo Mâu thuẫn giữa hệ tư tưởng chính thống với thực tế tàn khốc luôn làm cậu bé Freud hoài nghi suy nghĩ không nguôi Tình trạng căng thẳng của thành Viên và
sự phi nhân tính của chủ nghĩa bài Do Thái trong xã hội lúc bấy giờ đã
ảnh hưởng rất nhiều đến việc kiến tạo tư duy Freud
Đặc biệt, khi trưởng thành bản thân Freud lại được chứng kiến các cuộc chiến tranh (Mỹ - Tây Ban Nha, Nhật - Nga) Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Freud không quan tâm đến vấn đề chính trị, ông hăng hái tuyên truyền cho chiến tranh mà không chút hoài nghi về tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh này Thậm chí, Freud còn hùng hồn tuyên bố “bàn giao toàn bộ Libido cho đế quốc Áo - Hung” Vì đã hết tuổi đi lính Freud không trực tiếp tham chiến, nhưng ngay sau khi chiến tranh nổ ra, Freud lần lượt tiễn ba người con lên đường nhập ngũ Khi chiến tranh diễn ra ác liệt, thì cả những người bệnh của ông cũng phải tham chiến Thông tin về số người chết và bị thương ngày càng tăng thêm khiến Freud bừng tỉnh trở lại, thoát khỏi cơn u
mê cổ suý cho chiến tranh Những cuộc giao tranh đẫm máu trên chiến trường
Trang 2321
đã gây những xáo động lớn về kinh tế, chính trị, và làm tổn thương tinh thần rất lớn cho nhân dân Nhiều nhà rơi vào cảnh đói nghèo; người thân chết, nhà cửa tan hoang cùng với sự dồn nén xã hội khiến số bệnh nhân tâm thần tăng vọt Trong tình hình ấy, mọi người tìm đến phân tâm học, hi vọng tìm ra con
đường giải thoát tinh thần
Tha hóa tinh thần của con người phương Tây hiện đại – nguồn gốc
hình thành phân tâm học Freud
Triết học đã, đang và mãi mãi có một mục đích nhân văn duy nhất của mình là giải phóng con người, đem lại tự do cho con người, tức là chỉ ra bản chất đích thực của sự tha hóa của con người và con đường khắc phục sự tha hóa ấy Trong mỗi một thời đại lịch sử, con người luôn bị chi phối bởi một hình thức tha hóa nào đó C.Mác đã vạch trần sự tha hóa của con người dưới chủ nghĩa tư bản là do sự thống trị của chế độ tư hữu và ông cũng đã chỉ ra con đường khắc phục sự tha hóa đó bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa Giờ đây, hình thức tha hóa chiếm ưu thế trong xã hội phương Tây chính là sự tha hóa tinh thần Nghĩa là, con người trong xã hội phương Tây hiện đại bị nô dịch về mặt tinh thần - giá trị tối cao,
có ý nghĩa quyết định bản chất người Phân tích hình thức tha hóa này và chỉ
ra con đường khắc phục nó đã trở thành đề tài chủ yếu của tất cả các trào lưu triết học phương Tây hiện đại, trong đó có triết học Freud Việc tìm hiểu quan niệm của Freud về tha hóa tinh thần của người phương Tây hiện đại có ý
nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận, lẫn về mặt thực tiễn
Có thể nói, thời hiện đại trở thành một dấu mốc quan trọng trong lịch
sử loài người Dấu mốc này đánh dấu sự cáo chung của thời đại “chinh phục
tự nhiên” của con người Nền văn minh mà con người đã tạo dựng nên là hùng mạnh, khả năng tác động của con người đến sinh quyển đã sâu rộng tới mức đe dọa chính môi sinh của họ và do vậy, đến cả sự tồn tại của tất cả các loài sinh vật trong hệ thống sinh quyển Có thể là kỳ quặc, song có thể nói, cơ
Trang 2422
hội khắc phục sự khủng hoảng toàn cầu đó của loài người, trước hết, phụ thuộc không hẳn vào khả năng tổ chức - công nghệ của nền văn minh nhân loại, mà chủ yếu là vào năng lực tinh thần, đạo đức của bản thân con người,
vào trình độ phát triển đạo đức của con người
Điều nói trên chứng tỏ rằng, con người có khả năng tránh được thảm họa, nếu họ chuyển từ những vấn đề sinh thái học và chính trị học sang vấn đề tiến hóa trong thế giới nội tâm của con người Đây chính là chiếc chìa khóa để
mở ra điều quan trọng nhất - bảo tồn loài người trên hành tinh Điều đó thực
sự là như vậy, bởi chúng ta đang phải trả lời cho một vấn đề nan giải: xét về phương diện đạo đức, con người hiện đại là gì, những nhân tố nào cản trở con
người làm Người?
Để giải quyết những vấn đề nan giải này, Freud nhận thấy cần phải xây dựng một phương pháp thích hợp Do việc khảo cứu thế giới đương đại và con người với tư cách một thực thể tinh thần - xã hội phức tạp, tồn tại trong thể thống nhất hữu cơ, nên cần phải nhận thức được phức hệ toàn vẹn “tinh thần - văn hóa - văn minh” Thế nhưng, chúng ta lại không thể nhận thức được phức hệ thống nhất này nhờ áp dụng phương pháp luận của khoa học cổ điển, - phương pháp luận quy quá trình nhận thức và cải biến thế giới về sự tác động đến thế giới từ phía chủ thể bằng cách đối lập nghiêm ngặt khách thể với chủ thể Phương pháp mà chúng ta cần phải có là một phương pháp giả định thứ nhất: có sự tác động lẫn nhau giữa khách thể và chủ thể và, giả định thứ hai: chủ thể là một thực thể tinh thần Với những giả định này, có thể coi bản chất xã hội của con người là một tạo phẩm của chính con người Những tri thức có được về con người nhờ phân tích các dữ liệu kinh nghiệm tinh thần
đã được khách quan hóa là bổ sung cần thiết cho các khoa học cổ điển Những
dữ liệu này, về thực chất, phản ánh một phương diện khác của tồn tại người, - phương diện mà chúng ta không thể đạt được bằng tư duy duy lý thuần tuý, nhưng việc bỏ qua nó sẽ làm mất bản thân mục đích, nội dung của lịch sử -
tinh thần hóa xã hội tính
Trang 2523
Mặc dù vậy, bên cạnh những nhân tố mà chúng ta đã biết, trong lịch sử nhân loại vẫn có những nhân tố buộc chúng ta phải tách biệt thời đại thay thế cho thời Trung đại ở châu Âu có tên gọi là thời hiện đại hay thời đại công nghiệp, tức là giai đoạn đang đi đến hồi kết ở trước mắt chúng ta Vấn đề là ở chỗ, đây chính là thời đại đầu tiên mà những đặc điểm quyết định của nó là việc giải phóng con người khỏi thế giới quan tôn giáo từng thống trị, là việc
từ bỏ thần trung tâm chủ nghĩa (theocentrisme) để chuyển sang chủ nghĩa con người là trung tâm (anthropocentrisme) và kết quả tất yếu của nó là việc thế tục hóa (secularisation) xã hội Khủng hoảng xã hội bắt đầu bộc lộ rõ ở thời đại này và đó chính là khủng hoảng của lối sống coi con người là trung tâm (vô thần theo nghĩa này) Đến lượt mình, chính sự khủng hoảng này đã quyết
định bối cảnh đạo đức của con người hiện đại
Sống trong điều kiện văn minh công nghiệp, Freud nhận thấy nhiều giá trị to lớn được nền văn minh ấy đem lại cho con người Song, ông cũng nhìn
ra mặt trái của nền văn minh ấy là nó đưa con người vào tình cảnh bị nô lệ về mặt tinh thần mà khoa học tự nhiên đương thời cũng bất lực trong nỗ lực khắc phục nó Freud sáng lập ra phân tâm học vào lúc chủ nghĩa duy lí đang bị phê phán là học thuyết “không có con người”, không đề cập đến con người, đặc biệt là thế giới nội tâm của con người Vì vậy, trào lưu triết học nhân bản của S'chopenhauer và Nietzscher kêu gọi triết học cần thoát khỏi sự cám dỗ của thế giới hư ảo bên ngoài mà trở về với thế giới nội tâm, lấy đó làm nền tảng của triết học hiện đại Freud đã chịu ảnh hưởng bởi quan điểm chủ yếu này và xây dựng học thuyết của ông theo khuynh hướng phi duy lý chủ nghĩa Như vậy, chúng ta có thể khẳnh định thái độ say mê triết học có ảnh hưởng rất sâu đậm đến tư duy của Freud cũng như học thuyết phân tâm học của ông sau
này
Vấn đề còn là ở chỗ, thực tế cho thấy, cuộc cách mạng công nghệ có thể mở ra những khả năng to lớn cho sự phát triển tinh thần theo các
Trang 2624
phương hướng khác nhau nhất Song, kỹ thuật tự thân nó không tự động kéo theo sự tiến bộ trong lĩnh vực văn hóa và tinh thần - đạo đức Niềm tin mù quáng vào sức mạnh toàn năng của kỹ thuật có thể làm cho con người đánh mất những giá trị nhân văn, như năng lực thấu hiểu và đồng cảm với người thân, quan niệm về cái thiện và cái ác Điều này có thể dẫn đến sự phi
nhân văn hóa các quan hệ xã hội và quan hệ giữa các cá nhân với nhau
Xã hội hiện đại đang làm xuất hiện các lực lượng thù địch với nhân cách con người Do vậy, bên cạnh nhiệm vụ giải phóng con người khỏi sự áp bức bên ngoài, thực tiễn xã hội hiện đại còn đặt ra một cách gay gắt vấn đề tự
do nội tâm của con người Sự giải phóng con người khỏi áp bức xã hội chưa hẳn đã giải quyết triệt để vấn đề tự do nội tâm của con người Sau khi được giải phóng khỏi xiềng xích của chế độ áp bức, "con người nhỏ bé" lại bộc lộ khát vọng được giải phóng về mặt tinh thần ngày một lớn hơn Khi đó, các mặt đen tối của bản tính người bắt đầu được xem xét không hẳn từ góc độ nhận thức, mà chủ yếu là từ góc độ hiệu quả tẩy rửa, làm trong sạch bản tính
ấy Việc im lặng và che đậy sẽ sinh ra tính hiếu chiến Ngược lại, việc lôi con người đen tối ra ánh sáng sẽ có khả năng loại bỏ được sự căng thẳng nội tâm Thực tế này gắn liền với quá trình phi thần thánh hoá văn hóa Đây là vấn đề của thời hiện đại làm cho Freud luôn trăn trở như một nhà triết học lớn của
thời đại
Tất nhiên, nếu cho rằng, con người hoàn toàn thuộc về thế giới xã hội, thì có thể hạn chế số phận của họ một cách tuyệt đối ở bản thân tính xã hội này Quan niệm như vậy là rất hời hợt Tư tưởng triết học phương Tây luôn giữ quan điểm cho rằng, không thể quy con người chỉ về thế giới xã hội Không nên hiểu số phận của con người chỉ là số phận mang bản tính xã hội Không thể hình dung nổi tương lai của nhân loại sẽ ra sao nếu không tính đến
số phận của con người với tư cách một thực thể tinh thần, một nhân cách
Trang 2725
Freud đã nhận thấy sự thực là con người tạo ra một thế giới đặc biệt bao gồm: xã hội, văn hoá, sản xuất Những thành tựu kỹ thuật đã đặt con người vào địa vị thống trị đối với giới tự nhiên còn lại Tất cả những thực tế
đó cho phép nói về con người như một thực thể có lý tính, biết suy nghĩ, có năng lực tư duy Con người là "người khôn", “có lý tính" - đó là công thức nổi tiếng, biểu thị sự đặc thù của con người và địa vị đặc biệt của nó trong thế giới Song luận điểm này là chưa đầy đủ, vì nó chỉ vạch ra một mặt của vấn
đề Nhiều thực tế chứng tỏ điều đối lập - tính không có lý tính (phi duy lý) của con người Theo ông, chúng ta không thể nhắm mắt làm ngơ trước những biểu hiện của tính hiếu chiến, trước những thế lực hắc ám, trước con người "đen tối" Hơn nữa, nó không xem chúng như là cái ngẫu nhiên và thứ yếu Chính
sự không thể thừa nhận mặt "xấu xa", "đen tối" của bản tính con người về mặt
lý luận là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự xuất hiện của phân tâm học Freud Ngoài phương diện phương pháp luận y học tâm thần lâm sàng, phân tâm học Freud đã khám phá ra một thành tố mang tính nền tảng của bản tính người -
cái vô thức và vai trò rất quan trọng của nó trong cuộc sống của con người
Những bi kịch và khủng hoảng tinh thần của nền văn minh khoa học hiện đại vô tình đã đưa Freud tới kết luận rằng, cần phải nhận thấy một cái thô thiển và thấp hèn ở đằng sau mọi khát vọng cao thượng Học thuyết Freud thực ra là lời cảnh báo về những mối nguy hiểm nằm trong bề sâu tâm thần của con người Quan điểm nhân học của Freud là một bước ngoặt trong quan niệm triết học về con người Người ta bắt đầu thừa nhận cần phải xem xét con người một cách chăm chú và sâu sắc hơn so với trước đây Con người không những là một thực thể duy lý Nó thực ra là "giao điểm của hai thế giới" - thế giới tinh thần, cao thượng và thế giới tự nhiên, thấp hèn Và, đó chính là đặc thù của con người như một dạng đặc biệt của cái hiện tồn Từ những suy
Trang 2826
ngẫm sâu sắc như vậy, Freud đã quan tâm đến triết học như một trong phương
tiện hữu hiệu nhất để đem lại tự do tinh thần cho con người
1.3 Tiền đề khoa học và triết học của phân tâm học
1.3.1 Tiền đề khoa học
Vốn là người sinh sống vào thời đại thống trị của khoa học, của tư duy
khoa học, của triết học duy lý, Freud không thể không chịu ảnh hưởng của nó
Thế kỷ XIX còn là thời kỳ đầy biến đổi về tư tưởng và khoa học kỹ thuật Những phát hiện lớn của khoa học tự nhiên đã làm cho con người "Có bước phát triển dài về nhận thức mối liên hệ tương hỗ đối với quá trình tự
nhiên" [37; 11] Thuyết tiến hoá của Drawin, Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng và Tâm lý học biến thái có ảnh hưởng lớn nhất đến sự ra đời
của phân tâm học Freud Nó là kết quả lựa chọn chủ quan của Freud đối với
tri thức khoa học và văn hoá của thời đại ông
Năm Freud lên ba, cuốn sách Nguồn gốc của các loài của Drawin ra
đời Đây là tác phẩm làm nổi tiếng thế giới, vì nó làm thay đổi quan niệm của con người đối với bản thân, nó chứng minh các chủng loại động vật không phải là bất biến mà nó là một quá trình tiến hoá Drawin đã dùng thực tế không thể bác bỏ xác lập sự tiến của hoá loài người từ động vật mà phát triển lên, lật nhào quan niệm "Chúa sáng tạo ra thế giới”, đặt nền móng khoa học cho quan niệm về quá trình sinh ra và phát triển của loài người “Freud rất tin vào học thuyết của Drawin vì ông thấy rằng những học thuyết ấy làm cho người ta hy vọng vào sự tiến bộ phi thường trong sự tìm hiểu thế giới” [42; 251] Sự tin tưởng này trước hết thể hiện ở việc Freud chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tinh thần hiến thân theo đuổi chân lí của Drawin; còn lí luận thuyết tiến
hoá làm cho Freud vững tin rằng: Con người có nguồn gốc từ giới tự nhiên thì trên thân thể tất nhiên cũng bảo lưu một số bản năng có tính động vật Vì vậy
Freud cho rằng quá trình hoạt động tâm lí của con người vẫn còn bị chi phối
Trang 2927
bởi những xung động bản năng có tính động vật nguyên thuỷ Freud cho rằng ông chịu ảnh hưởng của Drawin trong việc nghiên cứu con người và bản tính
hành vi của con người
Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của H.L.F.Helmhotltz
cũng được Freud nghiên cứu và sử dụng một số khái niệm của nó trong học thuyết của mình Freud vốn là học trò cưng của Brucke - một nhà tâm lý học đồng thời cũng là một triết gia nổi tiếng và là bạn đồng môn của Helmhotltz Brucke và Helmholtz đã chia sẻ một quan điểm rất hợp lý tại thời điểm đó, rằng toàn bộ những lực hoạt động trong sinh vật là những gì có tính chất lý hoá, và sự tăng giảm của năng lượng vật lý là lời giải thích tốt nhất cho hoạt động của động vật Năm 1786, Brucke hướng dẫn Freud và Breuner những phương pháp biến hoá, cung cấp năng lượng vật lý Đó là những gợi ý tốt cho
ý tưởng, năng lượng tinh thần bắt nguồn từ năng lượng vật lý và có thể sử
dụng nó trong các hoạt động tinh thần
Freud đã triển khai học thuyết của Brucke - Helmholtz và liên kết nó với học thuyết nhân cách của ông Ông xem cơ thể con người như một hệ thống hữu cơ phức tạp, nơi tạo ra nguồn năng lượng vật lý từ thức ăn mà nó tiêu thụ và sử dụng nguồn năng lượng này để thực hiện các chức năng tuần hoàn máu, hít thở, vận động cơ, và những hoạt động nội tiết Nhưng tinh thần cũng thực hiện nhiều chức năng (như nhận biết, suy nghĩ, ghi nhớ), những hoạt động này đòi hỏi năng lượng tinh thần, tuy khác năng lượng vật lý về hình thể nhưng không khác về bản chất Ông đặc biệt chú ý đến khái niệm
"Lực” và “năng", sau này Freud đã đưa khái niệm này vào nghiên cứu tâm lí học Freud coi toàn bộ cơ thể là một hệ thống năng lượng Trong hệ thống năng lượng ấy, ngoài năng lượng cơ giới, năng lượng điện và năng lượng hoá học được biểu hiện bằng hệ thống sinh lí thể xác ra, còn có năng lượng tâm lí
là loại năng lượng liên hệ không thể tách rời được với bản năng tính Khái
Trang 3028
niệm "libido” được hình thành từ việc nghiên cứu năng lượng tâm lí này và
đây cũng là một khái niệm trung tâm trong học thuyết của Freud
Freud cũng đã nghiên cứu tỷ mỉ tác phẩm Lí luận giới hạn ý thức của
Herbart, Herbart đã phát triển quan niệm vô thức của Leibniz thành lí luận giới hạn ý thức Theo ông, những quan niệm bị gạt xuống thấp hơn giới hạn là
vô thức, và để nâng nó lên thành ý thức thì phải phù hợp các quan niệm hiện
có của ý thức Quá trình xung đột giữa ý thức và vô thức luôn diễn ra Vô thức là một bộ phận không thể chia cắt của tâm lí con người, nó xuất hiện như
là nguồn gốc, động lực của sự sống Herbart khẳng định, tính chất quan trọng của vô thức trong hoạt động sống con người cũng như trong hoạt động sáng tạo cá nhân Nhưng vấn đề này về sau đều trở thành nội dung quan trọng trong học thuyết phân tâm học Freud Herbart còn nêu lên vấn đề nhận thức khả năng của vô thức, sau này cũng trở thành một đề tài quan trọng
của học thuyết Freud
Fexnerz cũng là người có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của Freud Cách sử dụng hình ảnh tâm lý con người như tảng băng trôi, phần lớn hoạt động tâm lý được giấu dưới vỏ vô thức và chịu tác động của những sức mạnh
vô hình được đều được Freud lấy trong các tác phẩm của Fexnerz
Vào thế kỷ thứ XVIII - XIX Chủ nghĩa duy vật khoa học chiếm ưu thế trong nghiên cứu khoa học, phương pháp chữa bệnh bằng y học lâm sàng (thành tựu mới của y học lúc bấy giờ) được sử dụng rộng rãi trong khám chữa bệnh Các phương pháp này còn được ứng dụng sang chữa cả các căn bệnh tinh thần Tuy nhiên, rất nhiều kinh nghiệm lâm sàng trong nghiên cứu y học
đã chứng minh hệ thống thần kinh của nhiều người bị tâm thần không hề bị thương tổn Thủ phạm chính của loại bệnh này là do những hụt hẫng về tinh thần gây ra Với loại bệnh này chữa trị theo phương pháp cũ là không có tác dụng hoặc nếu có tác dụng thì cũng không triệt để Điều đó đã nhắc nhở mọi người không thể tìm ra căn nguyên của bệnh tâm thần ở phương diện y học
Trang 3129
mà phải nghiên cứu và điều trị nó ở bình diện tâm lý Do đó, ngành khoa học tâm lý học biến thái ra đời với các nhà chuyên môn nổi tiếng như Josept Breuer và J.M Charcot Freud đã được thực tập trong phòng thí nghiệm của Josept Breuer một thời gian Sau đó, Freud lại sang Paris để học và nghiên
cứu tiếp, vì đây là một trung tâm nghiên cứu về tâm thần tốt nhất ở Tây Âu
lúc bấy giờ Được làm việc với bác sỹ uyên bác người Pháp J.M Charcot, Freud đã học tập thêm được nhiều ở phương pháp thôi miên để chữa bệnh tâm thần Freud đã nhận thêm được nhiều kinh nghiệm mới và cũng có thêm những suy nghĩ mới về cách chữa chứng bệnh này Bác sỹ J.M Charcot cho rằng những triệu chứng của bệnh tâm thần có thể dùng phương pháp thôi miên để bệnh nhân có thể nói ra những điều sâu kín bị dồn nén, chôn sâu trong đáy lòng để giải toả tâm lý người bệnh, nhờ vậy bệnh tình có thể thuyên giảm Chính những ảnh hưởng của tâm lý đã chi phối, đã làm tổn thương các
cơ quan sinh lý dẫn đến người bệnh bị mắc các chứng bệnh điên, tâm thần, sau đó, Freud còn học thêm kỹ thuật "gợi ý" của Bernheim Ông thầy này vừa
là bác sỹ nhưng đồng thời cũng là nhà ma thuật Mục đích của Freud là đi để tìm hiểu, để biết thêm các cách thức khác nhau để chữa bệnh tâm thần của các đồng nghiệp là chính, còn áp dụng được hay không lại là chuyện khác Các chuyến thực tập, tìm hiểu cách chữa bệnh tâm thần của các đồng nghiệp như vậy đã cho ông thấy những điểm mạnh và những hạn chế của phương pháp chữa trị ấy, và quan trọng hơn đã cho ông nhận thức mới không chỉ trong phạm vi thực hiện mà còn cả trong những vấn đề lý luận, học thuật [8; 29] Qua quá trình nghiên cứu phương pháp chữa trị bằng thôi miên của các bậc thầy, Freud cho rằng nó đều có những hạn chế và thậm chí còn thiếu cả cơ sở khoa học vững chắc, chúng không thể áp dụng cho mọi đối tượng mắc bệnh tâm thần Thuật thôi miên chỉ có kết quả đối với những người dễ bị ám thị, còn kỹ thuật gợi ý của Bernheim có chứa nhiều tính cách ma thuật và mê tín Freud đã tỉa rút, giữ lại những mặt tích cực của những phương pháp điều trị
Trang 3230
này Theo Freud, nguyên nhân chính phát sinh những nội dụng khác nhau của bệnh điên, tâm thần với những mức độ khác nhau chính là do những vấn đề liên quan đến tình dục, đè nén dục vọng Do vậy, cần phải có những cách thức phân tích giải thích khác và cần phải có phương pháp điều trị khác đối với người mắc bệnh tâm thần Tuy nhiên, các bậc thầy trên đây cũng có những
ảnh hưởng sâu sắc đến Freud và việc kế thừa quan điểm của các ông cũng là một phần nền móng của học thuyết phân tâm học của ông sau này
Đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật khoa học, Freud luôn tâm niệm phải giữ phẩm chất người làm “khoa học” của mình Ông chưa bao giờ
có ý định từ bỏ làm khoa học và làm thày thuốc, ngay cả khi ông công nhận phân tâm học thuộc về tâm lý học Mặc dù các thành tựu khoa học tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành tư tưởng cũng như nội dung học thuyết phân tâm học Freud nhưng “tư tưởng triết học hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến việc hình thành các quan điểm phân tâm học khác nhau” [44;104], như
Freud đã khẳng định trong Phân tâm học nhập môn
1.3.2 Tiền đề triết học
Nhiều nhà nghiên cứu phương Tây khẳng định rằng, học thuyết phân tâm học của Freud dựa trên quan sát lâm sàng Cơ sở của phân tâm học là các quan điểm tâm thần học và sinh lý học cuối thế kỷ XIX Còn các tư tưởng triết học hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến Freud, vì ông không những có thái độ đề phòng đối với những suy luận trừu tượng của các nhà triết học mà còn chưa bao giờ quan tâm đến các tác phẩm triết học Chẳng hạn, J.Brown khẳng định “Freud không có một quan điểm triết học nào” [61; 179] Trái lại, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, nhiều tư tưởng triết học rất có thể đã ảnh hưởng đến việc hình thành các quan điểm phân tâm học khác nhau [xem: 62; 67] Các công trình nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, phần lớn các nhà nghiên cứu không tán thành quan điểm về các tiền đề thuần túy khoa học tự nhiên của phân tâm học, rằng phân tâm học cũng có nguồn gốc triết học của
Trang 3331
mình Tuy nhiên, mối quan hệ giữa triết học và phân tâm học vẫn là một vấn
đề bỏ ngỏ trong nghiên cứu về Freud
Để lý giải vấn đề này, theo chúng tôi, cần phải xem xét bản thân Freud
đã nói gì về vấn đề này Khi đề cập đến lịch sử phát triển của phân tâm học, ông dứt khoát tuyên bố: “Trong việc xây dựng khái niệm về sự lấn át, tôi tuyệt đối độc lập, tôi không biết đến một sự ảnh hưởng nào đưa tôi đến khám phá ấy Và tôi coi tư tưởng ấy là độc đáo suốt một thời gian dài, cho tới khi
O.Rank nói cho tôi biết một chỗ trong Thế giới như là ý chí và biểu tượng của
Schopenhauer, tại đó ông cố gắng lý giải sự điên rồ Như vậy, chỉ vì không đọc mà tôi có khả năng đưa ra một khám phá độc đáo” [xem 59; 50] Trong các tác phẩm khác, Freud thường viện ngay vào Schopenhauer Bàn về vấn đề tình dục, ông nhấn mạnh rằng, Schopenhauer từ lâu đã chỉ ra hành vi và suy nghĩ của con người “được định trước bởi khát vọng tình dục đến mức độ nào” [xem: 51;10] và “vai trò to lớn của đời sống tình dục” [xem: 56;17] Luận chứng quan niệm về “bản năng chết”, Freud viết rằng, ông vô vọng bị sa vào
“đầm lầy của triết học Schopenhauer” [54; 91] Một điều nổi bật là ngay trong giai đoạn hoạt động ban đầu, khi mà quan điểm “bản năng chết” chưa được luận chứng về mặt phân tâm học, Freud cũng dựa vào Schopenhauer: “theo Schopenhauer, vấn đề cái chết đứng ở ngưỡng cửa của bất kỳ triết học nào” [55;98] Mặc dù vậy Freud vẫn khẳng định rằng ông chỉ bắt đầu “đọc
Schopenhauer vào giai đoạn cuối đời” [58;110]!
Freud cũng có thái độ tương tự đối với Nietzsche Một mặt, ông thường viện dẫn tư tưởng của Nietzsche vào trong các tác phẩm của mình Cụ thể, khi khảo cứu vấn đề vai trò của người cha trong xã hội nguyên thủy, Freud nhận xét rằng, ở buổi đầu lịch sử của loài người, người cha là “siêu nhân mà Nietzsche chỉ chờ đợi trong tương lai” [56;72] Sử dụng khái niệm “phi Ngã”, Freud nhấn mạnh rằng, Nietzsche thường sử dụng thuật ngữ này để biểu thị
“cái vô cá tính, tự nhiên - tất yếu ở trong con người”[57; 192] Mặt khác, vào
Trang 3432
năm 1908, khi trình bày và thảo luận cuốn sách Gia phả luận đạo đức của
Nietzsche tại phiên họp của Hội Phân tâm học, Freud nhấn mạnh rằng, ông chưa từng biết đến tác phẩm này và các tư tưởng của Nietzsche không có ảnh
hưởng đến việc hình thành phân tâm học
Tất cả những điều nêu trên chứng tỏ Freud ở một chừng mực nhất định
đã viện dẫn các tư tưởng triết học của Schopenhauer và của Nietzsche Song, một vấn đề còn bỏ ngỏ là sự ảnh hưởng ấy đến Freud diễn ra trong giai đoạn hoạt động nào của ông Có những bằng chứng cho thấy Freud đã làm quen với các tác phẩm của hai nhà triết học nêu trên từ thời sinh viên và đã có hiểu biết
nhất định về tư tưởng triết học của hai ông
Chúng ta cũng biết rằng, vào thời sinh viên, Freud đã nghe 5 bài giảng
về triết học do Brentano thuyết trình Hai bài trong số đó đề cập đến Aristotes
Hơn nữa, Freud duy trì quan hệ thân mật với Brentano, trao đổi thư từ với ông Brentano có ảnh hưởng lớn đến Freud tới mức ông thừa nhận “tôi quyết định phấn đấu có được bằng tiến sĩ triết học do ảnh hưởng của Brentano” [35; 39] Theo chỉ dẫn của Brentano mà Freud đã dịch tập 12 của J.Mill sang tiếng Đức, trong đó có đề cập tới học thuyết Platon về hồi tưởng Như vậy, có thể khẳng định, việc say mê triết học đã để lại dấu ấn sâu đậm ở tư duy của
Freud
Những tài liệu được công bố vào đầu những năm 50 bao gồm thư từ của Freud gửi cho W.Fliess giai đoạn 1887 đến 1902 và những bản thảo của Freud về tâm lý học khoa học đem lại một quan niệm rõ ràng về cội nguồn đích thực của sự xuất hiện phân tâm học Chúng chứng tỏ một cách thuyết phục rằng, việc Freud say mê những quan điểm thần kinh học để xây dựng tâm lý học khoa học đã đưa ông đến thái độ thất vọng đối với thử nghiệm lý giải về mặt sinh lý học những quá trình tâm thần và đến việc tìm kiếm các tư tưởng mới có thể trở thành cơ sở cho học thuyết được gọi là phân tâm học Việc tìm kiếm này được đặc trưng bởi sự quan tâm của Freud đến các tác
Trang 3533
phẩm triết học Cụ thể, để thoát ra khỏi bế tắc về phương pháp luận gắn liền với thử nghiệm chuyển dịch các lược đồ thần kinh học và sinh lý học sang
lĩnh vực tâm lý học, ông đã làm quen với tác phẩm Những vấn đề cơ bản của
đời sống tâm thần (1883) của T.Lipps, trong đó một sự quan tâm đặc biệt
được dành cho việc khảo cứu những quá trình tâm thần vô thức Vào tháng 8 năm 1897, Freud viết thư cho Lipps, gọi ông ta là “trí tuệ lớn nhất trong số
các nhà triết học hiện đại” [xem 52]
Trong tác phẩm của mình, Lipps bảo vệ tư tưởng cho rằng, những quá trình vô thức là cơ sở của mọi quá trình hữu thức Freud lấy ra luận điểm này
và nhận xét: “những sự kiện của đời sống tâm thần không phải là những quá trình cấu thành nội dung của ý thức, mà là những quá trình vô thức tự thân chúng” [xem; 52] Và nếu vào giữa những năm 90 của thế kỷ XIX, Freud bày
tỏ thái độ thất vọng về việc không hiểu bản chất của các quá trình tâm thần và
cơ chế hoạt động của chúng, thì sau khi nghiên cứu các tác phẩm của Lipps, ông vui mừng nhận xét rằng, từ thời điểm này, công việc xây dựng học thuyết
mới của ông bắt đầu tiến triển rất tốt [xem; 52]
Những bức thư này chứng tỏ Freud đã quay lại quan tâm đến triết học chính vào thời điểm mang tính bước ngoặt trong sự nghiệp của mình, khi mà những tư tưởng phân tâm học tản mạn không những bắt đầu được phác họa rõ
mà còn được hợp nhất thành một hệ thống những tiền đề đóng vai trò cơ sở cho học thuyết phân tâm học Có thể giả định rằng, giống như các tiền đề khoa học tự nhiên, các nguồn gốc triết học của phân tâm học đã bộ lộ hoàn toàn rõ ràng Cho dù xét về mặt tư liệu, chúng ta không có đủ điều kiện để làm rõ hơn giả thuyết nêu trên, song có một điều chắc chắn rằng, không ai có thể bác bỏ được ảnh hưởng của các tư tưởng triết học đến quá trình hình thành
học thuyết phân tâm học của Freud
Những luận chứng bổ sung chứng tỏ mối liên hệ của triết học với phân tâm học có thể nhận được trong quá trình nghiên cứu chăm chú và tỉ mỉ các
Trang 3634
tác phẩm của bản thân Freud Khi đó, cần lưu ý đến những chi tiết được Freud
trình bày dưới dạng ghi chú, nói thêm, trích đoạn, v.v
Một trong những luận điểm cơ bản của phân tâm học nói rằng, tất cả những cái có cảm tưởng không quan trọng, ngẫu nhiên và không đáng kể trên thực tế lại là những vật liệu rất quan trọng và quý giá, việc nghiên cứu chúng cho phép làm sáng tỏ hoạt động có động cơ của con người Nếu vận dụng luận điểm lý luận này vào bản thân Freud và tiến hành cái gọi là “phân tâm học về phân tâm học”, thì thao tác ấy sẽ cho phép làm sáng tỏ những phương
diện mới khi tìm hiểu các cội nguồn triết học của học thuyết phân tâm học
Trên thực tế, quá trình phân tích văn bản học về các tác phẩm của Freud cho thấy ông thường xuyên nhắc đến tên nhiều nhà triết học, như Dyoghen, Epicure, Spinoza, Diderote, Russeau, Hassendi, Men de Birane, Spencer Vì trong các tác phẩm của mình, Freud chỉ một lần nhắc đến tên Brentano mà ông đã thừa nhận chịu ảnh hưởng, nên có thể kết luận rằng ông
cũng đã biết khá sâu tư tưởng của các nhà triết học khác
Trong tác phẩm cơ bản Lý giải giấc mơ xuất bản năm 1899 và, về thực
chất, là tác phẩm đánh dấu “sự khám phá” ra phân tâm học đối với độc giả, Freud viện ra nhiều nhà triết học, nhắc đến và bình chú luận điểm của họ về bản chất của giấc mơ, cũng như về các quá trình diễn ra trong miền sâu tâm thần con người Khi Freud còn sống, tác phẩm này được tái bản tám lần Vì những lần tái bản sau, Freud bổ sung và chỉnh lý nhiều, nên khó xác định được ông đã dựa vào các tác phẩm nào khi viết tác phẩm của mình Nhưng, trong lần xuất bản thứ ba vào năm 1911, trong danh mục tài liệu tham khảo có tên Platon, Aristotes, Lucrexius, Hegel, Kant, Fichte, Schubert, Fehner, Scherner, Schleiermecher, Herbart, Hartman, Lipps, Bundt, Bredli, Schopenhauer, v.v [xem : 50] Chỉ riêng một sự thực này đã cho phép rút ra kết luận rằng, Freud
là một người có học vấn triết học sâu sắc
Trang 37với dục vọng tâm thần trong phân tâm học [60 ; 198]
Thái độ “lãng quên” của Freud đối với các nguồn gốc triết học của mình được lý giải là vì ông muốn thể hiện dưới mắt mọi người với tư cách một nhà khoa học chân chính, xây dựng học thuyết của mình không phải dựa trên những sự tư biện trừu tượng đáng hoài nghi mà nhiều nhà triết học vẫn làm, mà dựa trên tư liệu kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn lâm sàng, từ cuộc sống hiện thực Do vậy, ông kiên trì và nỗ lực công khai khước từ triết học, cố gắng đặt lên hàng đầu tư liệu lâm sàng hay kết quả tự phân tích trong
các tác phẩm của mình
Chính thái độ kiên trì phủ định triết học bắt buộc chúng ta phải thận trọng trong vấn đề này Vả lại bản thân Freud cũng khẳng định rằng con người không những thường không trung thực trong những vấn đề bắt buộc họ phải thừa nhận một điều gì đó họ không mong muốn, mà còn chống lại việc những hồi tưởng từng bị bác bỏ không bùng phát trên bề mặt của ý thức Sử dụng hệ thuật ngữ của Freud, có thể nói rằng ý nghĩa của các cội nguồn triết học đối với sự xuất hiện của các tư tưởng phân tâm học đã bị gạt ra khỏi ý thức của Freud do ông lo ngại rằng học thuyết của ông bị đồng nhất với một hệ thống triết học nào đó và qua đó bản thân ông bị buộc tội là có thiên hướng về tư duy siêu hình học Đó là một trong những lý do có thể cho
Trang 38niệm triết học về bản chất và các cơ chế hoạt động của tâm thần con người
Thứ nhất, trong những bức thư của Freud gửi cho Fliess có lời khẳng định công khai về một thực tế rằng, các kết cấu lý luận của ông không được tư
liệu lâm sàng kiện toàn Chẳng hạn, sau khi công bố Lý giải giấc mơ, với tư
cách đối tượng kiểm tra phương pháp phân tích giấc mơ của Freud, tiến sĩ H.Hompets đã cầu cứu Freud Thí nghiệm đã thất bại, vì Freud không thể tiến hành phân tích giấc mơ của Hompets từ góc độ quan niệm về giấc mơ được ông bảo vệ với tư cách khát vọng tình dục không được đáp ứng Mô tả trường
hợp này, bản thân ông đã thông báo cho Fliess về thất bại của mình
Bất chấp bị thất bại trong thí nghiệm, song Freud không những không khước từ các tư tưởng phân tâm học của mình mà, ngược lại, còn tích cực phát triển chúng Khi đó, sự phản ứng hoàn toàn không tích cực từ phía một
số nhà khoa học đối với cuốn sách Lý giải giấc mơ đã được bản thân ông lý
giải là do ông “đi trước thời đại 15 - 20 năm” [xem: 50] Điều tuyệt vời ở đây
là khi cố gắng quan niệm phân tâm học là khoa học, Freud thường xuyên viện dẫn thực tiễn lâm sàng, cố né tránh những lời buộc tội của các nhà khoa học
về thử nghiệm xây dựng một học thuyết triết học Đến lượt mình, các nhà nghiên cứu lại nỗ lực để làm giảm bớt nội dung triết học của học thuyết phân tâm học, rốt cuộc phân tâm học bắt đầu được đồng nhất với khoa trị liệu lâm
sàng
Thứ hai, trong hàng loạt bức thư, Freud thông báo với Fliess về tính chất triết học của những suy luận của mình đối với những hiện tượng tâm thần Trong nhiều trường hợp, ông nói đến sự cần thiết phải nghiên cứu trên
Trang 3937
bình diện triết học những luận điểm mới mà ông đã cố gắng hình thành nhân nghiên cứu tâm thần con người Xu hướng này bộc lộ đặc biệt rõ trong quá
trình Freud viết Lý giải giấc mơ Chẳng hạn, trong những bức thư năm 1898 -
1899, Freud chia xẻ với Fliess những tư tưởng của mình về lần xuất bản mới các chương mục viết về giấc mơ mà “rốt cuộc, là mang tính triết học”, cũng
như kế hoạch gắn liền với việc viết “chương triết học cuối cùng” [xem 52]
Như vậy, cần lưu ý rằng quá trình hình thành học thuyết phân tâm học của Freud thực sự cũng phụ thuộc vào các nguồn gốc triết học xét trên nhiều phương diện Freud không mong muốn công khai thừa nhận các nguồn gốc này, nhưng không thể coi mong muốn của ông phân định với triết học như là bằng chứng và hơn nữa là sự khẳng định rằng, phân tâm học là khoa học không có điểm nào chung với tri thức triết học Ngược lại, được Freud tán thành và được các nhà phân tâm học ủng hộ, định hướng như vậy tất yếu cần phải dẫn đến vấn đề: phải chăng nó ẩn chứa triết học phân tâm học mà Freud không muốn nói tới do những nguyên nhân nêu trên, nhưng lại cấu thành hạt nhân, bản chất của học thuyết phân tâm học? Việc làm sáng tỏ vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải trực tiếp quan tâm đến nội dung triết học (quan niệm về con
người và văn hóa) trong phân tâm học Freud
Trang 4038
CHƯƠNG 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN VỀ CON NGƯỜI VÀ VĂN
HOÁ TRONG PHÂN TÂM HỌC FREUD
Phân tâm học tuy không phải là một học thuyết triết học hoàn chỉnh nhưng nó lại có một tiềm năng thế giới quan đáng kể Tiềm năng ấy có liên quan trước hết tới một sự thấu hiểu đặc biệt của Freud về con người và văn hóa Từ thực tiễn chữa bệnh tâm thần, Freud đã đưa ra mô hình cấu trúc của tồn tại Người và sự tác động giữa các nhân tố ấy Trên cơ sở đó, Freud đã làm
rõ những mâu thuẫn đối kháng trong bản tính người, những xung động tính dục và sự thù địch của nó với văn hóa Để hiểu rõ quan điểm về con người và văn hóa trong phân tâm học Freud, thì cần phải khảo cứu khái quát quá trình
hình thành bản thân tư tưởng ấy
2.1 Sự hình thành tư tưởng về con người và văn hóa
Phân tâm học Freud vốn là một phương pháp và kỹ thuật điều trị bệnh tâm thần Freud cho rằng, có một số nguyên nhân của bệnh tâm thần không do tổn thương cơ thể mà mang tính cơ năng, tức thuộc rối loạn mặt điều hoà của tâm thần Do đó, đối với những bệnh tâm thần này phải bắt đầu từ chỗ khơi lên những bí ẩn bên trong nội tâm người bệnh, phát hiện nguyên nhân gây bệnh, làm cho người bệnh thoát khỏi chỗ bị chi phối bởi tiềm thức mù quáng để chỉ chịu sự chi phối của lý tính tự giác Ông xây dựng phương pháp chữa bệnh liên tưởng tự do trên cơ sở kế thừa có phê phán phương pháp thôi miên của các bậc tiền bối Phương pháp liên tưởng tự do thực chất là hạt nhân của phương pháp phân tâm học, sự xác lập nó thực sự cũng
là xác lập phân tâm học
Phương pháp phân tâm học của Freud được xây dựng trên cơ sở lý luận tâm lý độc đáo của ông Phân tâm học là một học thuyết, và trước tiên nó