1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm của phân tâm học về con người và văn hóa - văn minh

165 750 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Với tính cách là sản phẩm tinh thần của thời đại, sự ra đời của phân tâm học (psychoanalysis) xét đến cùng là nhằm tìm kiếm những lời giải cho những vấn đề của thời đại lúc bấy giờ, nhất là khắc phục sự tha hoá về tinh thần và sự ức chế của con người trong xã hội phương Tây thế kỷ XX. Có thể khẳng định rằng, những thành tựu khoa học kỹ thuật ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt của xã hội phương Tây. Một mặt, khoa học kỹ thuật mang đến một đời sống tiện nghi, nhưng mặt khác, nó cũng làm nảy sinh sự lệ thuộc và tha hoá về tinh thần của con người hiện đại. Sự ra đời của Phân tâm học là hướng đến giải phóng con người khỏi những ức chế và dồn nén bên trong của đời sống tâm thần. Nhờ sự tìm tòi, nghiên cứu một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, Sigmund Freud đã xây dựng nên học thuyết phân tâm học – một trong những học thuyết có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực của đời sống hiện đại. Về điều này, trong Lời giới thiệu cuốn Phân tâm học nhập môn, Jostein Gaarger đã viết: “Thực vậy, tất cả mọi lĩnh vực tri thức của con người như văn chương, nghệ thuật, tôn giáo, nhân chủng học, giáo dục, luật pháp, xã hội học, luật học, sử học và những môn về xã hội hay cá nhân khác đều chịu ảnh hưởng của học thuyết Freud” [41, tr. iv]. Hơn một thế kỷ đã trôi qua, lý thuyết phân tâm học đã có những sự phát triển phong phú hơn rất nhiều, chứ không còn đóng khung trong những điều mà người ta từng hình dung về nó như lúc ban đầu, đó là một phương pháp chữa trị hysteria. Trong xu thế hội nhập quốc tế đang diễn ra hết sức mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay, khoảng cách văn hóa Đông – Tây ngày càng có sự giao thoa và hướng lại gần nhau. Bên cạnh những đóng góp tích cực trong việc phát triển con người và xã hội thì sự hội nhập và phát triển này cũng dẫn tới những nguy cơ mới như: nạn ô nhiễm môi trường, sự mất cân bằng sinh thái, khủng hoảng tài nguyên, đối diện với tình trạng bùng nổ dân số, đại dịch,… và hơn nữa đó là tình trạng mất cân bằng tâm lý do đổ vỡ trong tình yêu, hôn nhân, gia đình, sức ép công việc, sự bất ổn bạo động về chính trị, chiến tranh và những di chứng của nó để lại,…đó là những điều làm cho con người ngày càng trở nên tha hóa và ngày càng đánh mất mình trong xã hội. Trong một thế giới đầy biến động như thế, con người cần hiểu rõ hơn về chính mình và những gì con người làm ra trong xã hội. Đặt trong bối cảnh ấy, chúng tôi cho rằng, nghiên cứu vấn đề con người và văn hóa – văn minh tiếp cận từ góc độ phân tâm học giúp chúng ta có cái nhìn khách quan và biện chứng trong đời sống con người và xã hội, góp phần làm phong phú hơn vào kho tàng lý luận cũng như ý nghĩa thực tiễn. Vì thế, khi trả lời phóng viên báo Nhân Đạo năm 1969, Hồ Chí Minh từng nói rằng, “có lẽ xuất phát từ hoàn cảnh của chúng tôi, chúng tôi phải xây dựng đất nước trước hết bằng văn hóa”, nó chính là nền tảng cốt lõi của lối sống, hành vi ứng xử, đạo đức, phương thức hoạt động sống với sự định hướng giá trị mang lại ý nghĩa cho tồn tại con người và xã hội. Việc tiếp cận để làm sáng tỏ quan điểm phân tâm học về con người và văn hóa – văn minh nhằm chắt lọc để tiếp thu và phát huy những yếu tố tích cực, nhận diện nhằm phê phán, khắc phục những yếu tố chưa hợp lý, qua đó làm phong phú hơn hiểu biết của chúng ta về con người và văn hóa – văn minh. Phân tâm học ra đời được xem như đã “uốn cong” tư duy nhân loại sang một hướng khác, bởi lẽ nó đã phá bỏ những tín điều mang tính truyền thống, đồng thời cung cấp những phương án giải quyết mới cho vấn đề này để khắc phục sự khủng hoảng tinh thần của con người trong xã hội. Quả thực, sức ảnh hưởng của phân tâm học đối với xã hội hiện đại lớn đến mức khó có thể đo lường một cách chính xác, nhưng sự hoài nghi về học thuyết này cũng không ít, nhất là ở các nước phương Đông và Hồi giáo. Phần đông họ chỉ xem phân tâm học như là học thuyết về tình dục. Chính những hiểu biết quy giản (một cách đơn giản) này phần nào làm cho phân tâm học mất đi tính khoa học của nó. Do đó, việc tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề về con người và văn hoá - văn minh trong phân tâm học, theo chúng tôi, là cần thiết nhằm đạt đến một nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn của phân tâm học về vấn đề này. Từ những nhận thức trên, chúng tôi chọn vấn đề “Quan điểm của Phân tâm học về con người và văn hoá – văn minh” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN QUẾ

QUAN ĐIỂM CỦA PHÂN TÂM HỌC

VỀ CON NGƯỜI VÀ VĂN HÓA – VĂN MINH

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 62.22.03.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Tiến Dũng

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS Nguyễn Tiến Dũng Những trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận được rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án là khách quan và chưa từng được công bố bởi tác giả nào trong bất cứ công trình nào khác Tác giả chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận án

Tác giả

Nguyễn Văn Quế

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 5

1.1 Các công trình nghiên cứu về bối cảnh lịch sử - xã hội và những tiền đề ra đời của phân tâm học 5

1.2 Các công trình tiêu biểu có liên quan đến nội dung quan điểm của phân tâm học về con người 11

1.3 Các công trình tiêu biểu có liên quan đến nội dung quan điểm của phân tâm học về văn hoá - văn minh 24

CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA PHÂN TÂM HỌC 31

2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội 31

2.2 Tiền đề khoa học 33

2.3 Tiền đề tư tưởng 39

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM CỦA PHÂN TÂM HỌC VỀ CON NGƯỜI 52

3.1 Vị trí, vai trò của vô thức trong sự hình thành và phát triển con người 52

3.2 Lý thuyết về nhân cách 68

3.3 Tích hợp học thuyết Marx và phân tâm học về con người trong lý thuyết nhân bản của Erich Fromm 85

CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM CỦA PHÂN TÂM HỌC VỀ VĂN HÓA – VĂN MINH 101

4.1 Nguồn gốc và bản chất của văn hóa – văn minh 101

4.2 Vai trò của văn hóa – văn minh trong đời sống con người và xã hội 112

4.3 Văn hóa của xã hội hiện đại theo quan niệm của E.Fromm 131

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với tính cách là sản phẩm tinh thần của thời đại, sự ra đời của phân tâm học (psychoanalysis) xét đến cùng là nhằm tìm kiếm những lời giải cho những vấn đề của thời đại lúc bấy giờ, nhất là khắc phục sự tha hoá về tinh thần và sự ức chế của con người trong xã hội phương Tây thế kỷ XX

Có thể khẳng định rằng, những thành tựu khoa học kỹ thuật ở cuối thế kỷ XIX

- đầu thế kỷ XX đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt của xã hội phương Tây Một mặt, khoa học kỹ thuật mang đến một đời sống tiện nghi, nhưng mặt khác, nó cũng làm nảy sinh sự lệ thuộc và tha hoá về tinh thần của con người hiện đại Sự ra đời của Phân tâm học là hướng đến giải phóng con người khỏi những ức chế và dồn nén bên trong của đời sống tâm thần

Nhờ sự tìm tòi, nghiên cứu một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, Sigmund Freud đã xây dựng nên học thuyết phân tâm học – một trong những học thuyết có ảnh hưởng

sâu rộng trong nhiều lĩnh vực của đời sống hiện đại Về điều này, trong Lời giới thiệu cuốn Phân tâm học nhập môn, Jostein Gaarger đã viết: “Thực vậy, tất cả mọi

lĩnh vực tri thức của con người như văn chương, nghệ thuật, tôn giáo, nhân chủng học, giáo dục, luật pháp, xã hội học, luật học, sử học và những môn về xã hội hay cá nhân khác đều chịu ảnh hưởng của học thuyết Freud” [41, tr iv] Hơn một thế kỷ đã trôi qua, lý thuyết phân tâm học đã có những sự phát triển phong phú hơn rất nhiều, chứ không còn đóng khung trong những điều mà người ta từng hình dung về nó như lúc ban đầu, đó là một phương pháp chữa trị hysteria

Trong xu thế hội nhập quốc tế đang diễn ra hết sức mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay, khoảng cách văn hóa Đông – Tây ngày càng có sự giao thoa và hướng lại gần nhau Bên cạnh những đóng góp tích cực trong việc phát triển con người và xã hội thì sự hội nhập và phát triển này cũng dẫn tới những nguy cơ mới như: nạn ô nhiễm môi trường, sự mất cân bằng sinh thái, khủng hoảng tài nguyên, đối diện với tình trạng bùng nổ dân số, đại dịch,… và hơn nữa đó là tình trạng mất cân bằng tâm

lý do đổ vỡ trong tình yêu, hôn nhân, gia đình, sức ép công việc, sự bất ổn bạo động

Trang 5

về chính trị, chiến tranh và những di chứng của nó để lại,…đó là những điều làm cho con người ngày càng trở nên tha hóa và ngày càng đánh mất mình trong xã hội Trong một thế giới đầy biến động như thế, con người cần hiểu rõ hơn về chính mình

và những gì con người làm ra trong xã hội

Đặt trong bối cảnh ấy, chúng tôi cho rằng, nghiên cứu vấn đề con người và văn hóa – văn minh tiếp cận từ góc độ phân tâm học giúp chúng ta có cái nhìn khách quan và biện chứng trong đời sống con người và xã hội, góp phần làm phong phú hơn vào kho tàng lý luận cũng như ý nghĩa thực tiễn Vì thế, khi trả lời phóng viên báo Nhân Đạo năm 1969, Hồ Chí Minh từng nói rằng, “có lẽ xuất phát từ hoàn cảnh của chúng tôi, chúng tôi phải xây dựng đất nước trước hết bằng văn hóa”, nó chính là nền tảng cốt lõi của lối sống, hành vi ứng xử, đạo đức, phương thức hoạt động sống với sự định hướng giá trị mang lại ý nghĩa cho tồn tại con người và xã hội

Việc tiếp cận để làm sáng tỏ quan điểm phân tâm học về con người và văn hóa – văn minh nhằm chắt lọc để tiếp thu và phát huy những yếu tố tích cực, nhận diện nhằm phê phán, khắc phục những yếu tố chưa hợp lý, qua đó làm phong phú hơn hiểu biết của chúng ta về con người và văn hóa – văn minh

Phân tâm học ra đời được xem như đã “uốn cong” tư duy nhân loại sang một

hướng khác, bởi lẽ nó đã phá bỏ những tín điều mang tính truyền thống, đồng thời cung cấp những phương án giải quyết mới cho vấn đề này để khắc phục sự khủng hoảng tinh thần của con người trong xã hội Quả thực, sức ảnh hưởng của phân tâm học đối với xã hội hiện đại lớn đến mức khó có thể đo lường một cách chính xác, nhưng sự hoài nghi về học thuyết này cũng không ít, nhất là ở các nước phương Đông và Hồi giáo Phần đông họ chỉ xem phân tâm học như là học thuyết về tình dục Chính những hiểu biết quy giản (một cách đơn giản) này phần nào làm cho phân tâm học mất đi tính khoa học của nó Do đó, việc tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề về con người và văn hoá - văn minh trong phân tâm học, theo chúng tôi,

là cần thiết nhằm đạt đến một nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn của phân tâm học

về vấn đề này

Trang 6

Từ những nhận thức trên, chúng tôi chọn vấn đề “Quan điểm của Phân tâm

học về con người và văn hoá – văn minh” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án

- Phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và những tiền đề ra đời của phân tâm học

- Làm rõ nội dung cơ bản quan điểm của phân tâm học về con người

- Làm rõ nội dung cơ bản quan điểm của phân tâm học về văn hóa – văn minh

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là nội dung cơ bản quan điểm của phân tâm học về con người và văn hóa – văn minh

có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành, phát triển của phân tâm học Hơn nữa, so với những nhà phân tâm học khác, chúng tôi cho rằng, trong tư tưởng của Freud, Jung

và Fromm có sự kết nối (phê phán, bổ sung và phát triển) rất rõ ràng, nhất là trong quan niệm về con người và văn hóa – văn minh

Trang 7

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nghiên cứu lịch sử triết học và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và văn hóa – văn minh

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của luận án là phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp lịch sử – cụ thể, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp diễn dịch - quy nạp, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp khái quát hóa – trừu tượng hóa, phương pháp chú giải học, nhân học văn hóa,

5 Đóng góp mới của luận án

- Làm rõ quan điểm của phân tâm học về con người và văn hóa – văn minh qua tư tưởng của ba nhà phân tâm học tiêu biểu là S Freud, Carl G Jung và Erich Fromm

- Bước đầu đưa ra một số nhận xét về giá trị và hạn chế quan điểm của phân tâm học về con người và văn hóa – văn minh

6 Ý nghĩa của luận án

- Về phương diện lý luận, những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án góp phần cung cấp một sự hiểu biết phong phú và mang tính hệ thống của phân tâm học xoay quanh vấn đề con người và văn hoá – văn minh

- Về phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy triết học, tâm lý học, văn hóa học và các ngành khoa học xã hội & nhân văn khác

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 4 chương (12 tiết)

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Phân tâm học là một trong những học thuyết có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống con người xã hội phương Tây nói riêng và thế giới nói chung Từ khi hình thành vào cuối thế kỷ XIX đến nay, lý thuyết phân tâm học không ngừng được bổ sung và hoàn thiện mà còn thâm nhập vào nhiều ngành học vấn khác nhau Chính quá trình phát triển đó của phân tâm học đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của giới học thuật

Hiện nay, nghiên cứu về phân tâm học không còn là việc mới, tuy nhiên tính chất chưa rõ ràng của một số nội dung lý thuyết phân tâm học đưa ra còn gây nhiều

sự tranh luận, điều này cho thấy, nghiên cứu phân tâm học là cần thiết để tiếp tục làm rõ những vấn đề còn khúc mắc Tiếp tục nghiên cứu phân tâm học, trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án, chúng tôi xem xét, đánh giá những thành tựu nghiên cứu đã đạt được của các học giả đi trước để tham khảo, đồng thời xác định những vấn đề lý luận mà luận án tiếp tục đi vào nghiên cứu Căn cứ vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án cũng như những kết quả nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến phân tâm học, chúng tôi chủ yếu tập trung tổng thuật một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến quan điểm của phân tâm học về con người và văn hoá – văn minh

1.1 Các công trình nghiên cứu về bối cảnh lịch sử - xã hội và những tiền

đề ra đời của phân tâm học

Phân tâm học cũng như các trào lưu triết học phương Tây ra đời có sự liên hệ mật thiết với bối cảnh lịch sử - xã hội và những phát minh khoa học ở thời đại của

nó Ngay từ khi ra đời phân tâm học cũng chịu sự ảnh hưởng bởi điều kiện lịch sử -

xã hội, văn hóa, những phát minh khoa học của châu Âu nói riêng và thế giới nói chung cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Cho đến nay, nghiên cứu về phân tâm học

đã vượt qua lằn ranh của học thuật Nếu như ban đầu, phân tâm học chủ yếu chỉ được nghiên cứu ở góc độ y học thần kinh và tâm lý học, thì vào nửa sau thế kỷ XX,

Trang 9

các nhà nghiên cứu bắt đầu chú ý nghiên cứu đến khía cạnh văn hóa và nhân văn của phân tâm học Nghiên cứu về phân tâm học, các học giả đã ít nhiều đề cập đến bối cảnh lịch sử - xã hội và những tiền đề ra đời của phân tâm học

Công trình Học thuyết Freud (Nxb Tân Việt, 1943) của Tô Kiều Phương, là

công trình tiếp nhận phân tâm học dưới góc độ y học, với mục đích nghiên cứu phân tâm học như là một phương pháp để chữa bệnh tâm thần cho con người, nhưng trong công trình này, Tô Kiều Phương đã đề cập đến những tiền đề quan trọng cho

sự ra đời của phân tâm học và chỉ ra rằng, đời sống xã hội phương Tây cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với một lối sống đạo đức giả, đã kìm nén đời sống tâm thần con người, làm nó bị ức chế, không thỏa mãn, dẫn tới sự xuất hiện bệnh tâm thần trong

xã hội Tác giả cho rằng, “trong thế kỷ XIX, một khoa giáo huấn đáng ghét, bằng những phương tiện phản tự nhiên, ngăn cách nó với mọi điều thành thật Không ai trước mặt trẻ con nói chuyện mà không dè dặt về vấn đề tình dục Vì vậy, trẻ con phải tìm hiểu vấn đề ấy với bọn gái nhà thổ hay với đám bạn bè lớn tuổi hơn nó” [121, tr 18] Chính sự dè dặt và giả dối đó làm cho nhu cầu về đời sống tâm thần của con người không được đáp ứng, đây chính là sự yếu kém hay “gót chân achilles” của tâm lý học trước khi phân tâm học ra đời Như vậy, trong bối cảnh xã hội mà vấn đề tính dục được ghi nhận nhưng chưa thể giải quyết rạch ròi, chúng lại

bị đẩy ra sau một bức bình phong đạo đức giả tạo, tất cả những điều ấy cùng với thực tiễn chữa bệnh tâm thần cho con người là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời, phát triển của phân tâm học khi đi sâu vào nghiên cứu về con người trong điều kiện hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ

Tác phẩm Triết học phương Tây hiện đại (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1994) của Lưu Phóng Đồng, trình bày một cách khái quát những tiền đề về khoa học tự nhiên và triết học của phân tâm học Lưu Phóng Đồng cho rằng: “Trong thế

kỷ XVIII-XIX, quan điểm duy vật tầm thường chiếm địa vị thống trị trong nghiên cứu y học; người ta quen dùng cơ chế sinh lý để giải thích sự bất thường về tinh thần” [34, tr 9-10] Nhưng khi lấy cơ chế sinh lý để giải thích các hiện tượng tâm thần ở những người bệnh không mang lại kết quả Do vậy, để giải thích các hiện

Trang 10

tượng trên đòi hỏi phải tìm nguyên nhân của căn bệnh ở phương diện khác đó là phương diện tâm lý, vì thế, nảy sinh việc nghiên cứu tâm lý học dị thường

(Abnormal psychology) Freud chịu ảnh hưởng mạnh mẽ về tâm lý học dị thường

này khi làm việc với J.Breuer và J.M.Charcot Tác giả chỉ ra: “Freud thừa nhận, ông xuất phát từ quan điểm sinh vật học để xem xét khuynh hướng của con người, và quan điểm bản tính hành vi của loài người là được “quyết định luận” quyết định, chủ yếu chịu ảnh hưởng của tiến hóa luận của Darwin” [34, tr 10] Lưu Phóng Đồng cho rằng, khi Freud nghiên cứu về con người, “ông coi toàn bộ cơ thể của con người là một hệ thống năng lượng, và cho rằng, trong hệ thống năng lượng này, ngoài năng lượng cơ giới, năng lượng điện, và năng lượng hóa học biểu hiện bằng hình thức sinh lý thể xác, còn có năng lượng tâm lý nảy sinh tác dụng trong quá trình tâm lý” [34, tr 10] Và khi xem toàn bộ cơ thể người là một hệ thống các năng lượng chuyển đổi cho nhau, Freud đã chịu ảnh hưởng của học thuyết năng lượng của học phái Helmho, học thuyết đơn tử của Leibniz và lý luận giới hạn ý thức của Herbart

Về mặt triết học, Lưu Phóng Đồng phân tích sức ảnh hưởng của hai nhà triết học Schopenhauer và Nietzsche đến phân tâm học Freud Với phương châm “tìm tòi bản tính nội tại của con người và thế giới” [34, tr 11], Schopenhauer và Nietzsche

đã công khai tuyên chiến với chủ nghĩa lý tính truyền thống ở châu Âu lúc bấy giờ Hai ông yêu cầu triết học cần phải thoát khỏi thế giới hào nhoáng bên ngoài và hãy trở về với thế giới nội tâm bên trong, lấy đó làm hướng phát triển của triết học

“Freud đã hấp thụ quan điểm chủ yếu của trào lưu tư tưởng này, từ đó học thuyết của ông cũng hòa nhập vào trào lưu tư tưởng này” [34, tr 12] Chúng tôi cho rằng, đây là nguồn khơi lý luận quan trọng dẫn xuất đến quan điểm của Phân tâm học với tính cách là học thuyết nghiên cứu về con người và văn hoá – văn minh

Nhìn chung, công trình nghiên cứu của Lưu Phóng Đồng đã đề cập đến các tiền đề hình thành của phân tâm học, song chưa có những luận giải cụ thể nhằm làm

rõ các tiền đề này đã ảnh hưởng như thế nào đến tư tưởng của phân tâm học, nhất là đến quan điểm của phân tâm học về con người và văn hóa – văn minh

Trang 11

Diệp Minh Lý trong công trình Ximôn Phrớt, (Nxb Thuận Hóa – Trung tâm

ngôn Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2005) đã giới thiệu khái quát về sự ra đời của phân tâm học Khi nói về vai trò của những điều kiện dẫn đến sự ra đời của phân tâm học, tác giả cho rằng: “xem xét quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Freud có thể thấy rằng sự biến đổi kinh tế chính trị của xã hội và tiến hóa của văn minh xã hội, đặc biệt sự phát triển của khoa học, văn hóa có ảnh hưởng lớn tới ông” [97, tr 8] Ngoài ra, theo tác giả, những phát minh khoa học của thế kỷ XIX, đặc biệt là trong lĩnh vực sinh học và vật lý học là những yếu tố khách quan ảnh hưởng lớn đến sự hình thành phân tâm học Theo Diệp Mạnh Lý, hoàn cảnh gia đình mang dòng máu Do Thái, quá trình học tập từ thời niên thiếu cho đến khi học hết trung học và sự lựa chọn nghề nghiệp với sự đam mê khoa học của Freud, sống trong một thời kỳ mà chủ nghĩa bài Do Thái diễn ra mạnh mẽ, với nỗi ẩn ức tâm lý của bản thân, cũng là những nguyên nhân mang tính chủ quan thôi thúc cho sự ra đời phân tâm học

Công trình Freud cuộc đời và sự nghiệp (Nxb Thế giới, Hà Nội, 2006) của

Roland Jaccard là công trình giới thiệu khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của người sáng lập phân tâm học – Sigmund Freud Một trong những điểm đáng chú ý

là, trong công trình này, Roland Jaccard đã chỉ ra những nguồn gốc tư tưởng có ảnh hưởng đến quá trình hình thành phân tâm học của Sigmund Freud như học thuyết tiến hóa Darwin, lý luận của nhà sinh lý học Ernst Brucke, phương pháp chữa bệnh hysteria của Jean-Marie Charcot Jacard dự định, “đặt lại Freud trong bối cảnh văn hóa của ông, đồng thời chỉ ra làm thế nào Freud lật nhào được các giá trị đã được thiết lập một cách vững chắc nhất” [88, tr 10] Theo Jaccard, ảnh hưởng của Charcot là yếu tố quyết định để Freud sau này chuyển từ chuyên ngành thần kinh học sang chuyên ngành tâm bệnh học Đây cũng chính là chuyên ngành giúp Freud khám phá ra phương pháp phân tâm học - “phương pháp tìm tòi độc đáo, đổi mới nhận thức mà chúng ta có trước đây về mặt tối của con người, nhất là chứng minh được sự tồn tại của một thức “động cơ vô thức”, có liên quan đến sự “dồn nén” và đặc biệt là sự “dồn nén tính dục” [88, tr 40] Chúng tôi cho rằng, công trình của

Trang 12

Roland Jaccard đã giới thiệu khá sinh động về những tư tưởng ảnh hưởng đến quá trình xác lập quan điểm của phân tâm học về con người và văn hóa – văn minh

Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh trong công trình Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX (Nxb

Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2008) đã trình bày tổng quát về phân tâm học

và giới thiệu một số đại diện tiêu biểu của phân tâm học như S.Freud, Carl Jung, và học thuyết Freud mới Về khái niệm phân tâm học, các tác giả cho rằng, phân tâm học trước hết là lĩnh vực y học thực hành bao gồm hoạt động của hàng trăm nghìn bác sĩ tâm thần tại nhiều quốc gia Xét về mặt phát sinh, toàn bộ phân tâm học gắn liền với tư tưởng của nhà sáng lập Sigmund Freud Do vậy, thuật ngữ “phân tâm học” là rộng hơn một cách đáng kể so với thuật ngữ “học thuyết Freud” Phân tâm học nói chung không phải là lý luận, học thuyết hay tư tưởng hệ thuần tuý” [74, tr 60] Các tác giả cũng lưu ý rằng, chúng ta chủ yếu quan tâm tới các phương diện triết học của phân tâm học, song một điều cũng khá quan trọng là không tồn tại triết

học phân tâm học với tư cách là một thứ triết học cụ thể “Chúng ta có thể nói tới các quan điểm triết học của Freud và của một số nhà phân tâm học khác” [74, tr

61] Chúng tôi cho rằng, đây là luận điểm mang tính phương pháp luận cho việc định hình nghiên cứu những quan điểm triết học ảnh hưởng đến sự ra đời và phát triển phân tâm học với tính cách là học thuyết nghiên cứu về con người và văn hoá – văn minh

Công trình Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó đến nhân học triết

học phương Tây hiện đại do tác giả Đỗ Minh Hợp chủ biên (Nxb Tôn giáo, Hà Nội,

2014) Đây là một trong số những công trình hiếm hoi ở Việt Nam tiếp cận học thuyết phân tâm học của Sigmund Freud từ góc độ triết học, cụ thể là nhân học triết

học Về các tiền đề triết học của phân tâm học Freud, các tác giả nhấn mạnh, việc

làm rõ các tiền đề triết học ảnh hưởng đến sự ra đời của phân tâm học có một ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu di sản lý luận của Freud và phân tâm học Khi nói về tư tưởng triết học của Schopenhauer và Nietzsche đối với quá trình hình thành phân tâm học, tác giả cho rằng: “Freud công khai tuyên bố quan điểm của các

Trang 13

nhà triết học này không có ảnh hưởng đến quá trình hình thành phân tâm học và ông không biết đến các tác phẩm của họ ở giai đoạn xây dựng các luận điểm cơ bản của phân tâm học” [77, tr 78] Và như vậy, “với toàn bộ sự tương đồng bên ngoài với phân tâm học, triết học Schopenhauer “không có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển các tư tưởng của Freud”” [dẫn theo 77, tr 78 – 79], nhưng một số các nhà nghiên cứu lại cho rằng: “một số tư tưởng triết học hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến việc hình thành các luận điểm khác nhau của phân tâm học” [77, tr 79]

Cho đến nay, việc làm rõ cội nguồn ra đời của phân tâm học với tính cách là một học thuyết nghiên cứu về con người và văn hóa – văn minh, đặc biệt là mối liên

hệ giữa các tư tưởng triết học trong lịch sử với phân tâm học vẫn chưa có những kết luận thỏa đáng về mặt khoa học, đây là vấn đề đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu:

Về điều này, H Ellenberger viết: “Các cội nguồn triết học của Freud rất đa dạng, song trái ngược với nhiều công trình nghiên cứu, chúng cho tới nay vẫn chưa được làm sáng tỏ đầy đủ” [dẫn theo 77, tr 80 – 81] Để đánh giá một cách khách quan về

sự ảnh hưởng của các tư tưởng triết học đối với sự hình thành và phát triển của phân tâm học, Đỗ Minh Hợp và các cộng sự đưa ra và phân biệt ba kiểu đánh giá sau:

Thứ nhất, “phân tâm học thực sự không phải là triết học về con người, Freud hoàn

toàn bác bỏ triết học, thậm chí là người chống lại triết học” [dẫn theo 77, tr 82], điều này chứng minh cho quan điểm của Freud khi ông công khai tuyên bố quan

điểm của các nhà triết học không ảnh hưởng đến việc hình thành phân tâm học Thứ hai, “vốn không phải là triết học, phân tâm học đòi hỏi được xem xét về mặt triết

học, Freud cần được xem xét là nhà khoa học đặt ra các vấn đề triết học và cố luận giải chúng theo cách của mình” [77, tr 83], với đặc trưng thứ hai này, các tác giả đã

đi đến kết luận rằng, “một số tư tưởng triết học hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến việc

hình thành các quan điểm phân tâm học” [77, tr 83] Thứ ba, “triết học xuyên suốt

các tư tưởng và quan điểm của Freud, phân tâm học bao hàm “lược đồ triết học”,

“hạt nhân triết học”, “cơ sở triết học” riêng của mình, một quan điểm triết học hoàn toàn xác định về con người, lịch sử và văn hóa” [dẫn theo 77, tr 84] Với cách đánh giá kiểu thứ ba này, phân tâm học có thể được xem là một cấu trúc khoa học có mối

Trang 14

liên hệ với triết học về con người trong sự tương tác với văn hóa – văn minh Các tác giả cũng lưu ý rằng, khi đưa ra những khẳng định trên “còn đòi hỏi xem xét lập trường của bản thân Freud” [77, tr 85]

Có thể khẳng định rằng, trong số các công trình nghiên cứu về phân tâm học

Freud ở Việt Nam, Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó đến nhân học triết học phương Tây hiện đại là một công trình nghiên cứu công phu, có nhiều giá

trị gợi mở, là tài liệu tham khảo để chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu về những tư tưởng triết học đã ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển phân tâm học về con người, văn hoá – văn minh

Nhìn chung, tổng quan một số công trình nghiên cứu về các điều kiện, tiền đề

đưa đến sự ra đời, phát triển của phân tâm học, có thể nhận ra điểm chung là các tác giả đã trình bày khá phong phú bối cảnh ra đời và những tiền đề hình thành của học thuyết Freud Đây là điều quan trọng bởi lẽ chính Freud là người sáng lập phân tâm học Tuy nhiên, phân tâm học không chỉ dừng lại ở học thuyết Freud, do đó, chúng tôi nhận thấy cần làm rõ thêm bối cảnh và tiền đề hình thành quan điểm phân tâm học về con người và văn hoá – văn minh Chúng tôi ghi nhận những đóng góp của các công trình trên, xem đó là những gợi mở quan trọng cần tiếp tục triển khai rộng hơn trong luận án

1.2 Các công trình tiêu biểu có liên quan đến nội dung quan điểm của phân tâm học về con người

Có thể thấy, lý thuyết về vô thức trong phân tâm học là nền tảng và đóng góp quan trọng nhất về phương diện triết học Do vậy, sự lý giải về vô thức cũng là kết quả quan trọng để hiểu toàn bộ các quan niệm về con người và văn hóa – văn minh

Vì thế, khi khảo cứu về phân tâm học đa số các học giả đều dành phần lớn cho việc nghiên cứu nội dung này

J.P.Charrier trong Phân tâm học, (Nxb Trẻ, Sài Gòn, 1972) đã bàn đến những

tư tưởng của phân tâm tâm học về con người thông qua phân tích quan niệm về vô thức, lý luận bản năng, cấu trúc nhân cách, Tác giả chỉ ra rằng, vô thức đã được đề cập và biết đến từ trước khi phân tâm học ra đời, nhưng việc đi vào tìm hiểu, khám

Trang 15

phá và phân tích để thấy rõ vai trò của vô thức tác động đến đời sống tâm thần của con người thì chỉ đến khi xuất hiện phân tâm học “Đời sống tâm linh không phải chỉ hạn chế trong những gì chúng ta ý thức được mà thôi, rằng dưới những động lực

ý thức và những quyết định hợp lý, có một bộ máy tâm linh ở đó những nguyên động lực được che dấu diếm, vô thức hay bị dồn nén vẫn tác động” [10, tr 15] Theo Charrier, trong khi chữa trị bệnh hysteria, Freud đã sử dụng phương pháp “liên tưởng tự do” và nó trở thành phương pháp chính của Freud trong việc khám phá ra nhân cách chiều sâu Tác giả cho rằng, Freud chia bộ máy tâm thần của con người thành ba phần, phần thứ nhất là phi Ngã, phần thứ hai là Ngã và phần thứ

ba là siêu Ngã1, mỗi một phần có một nội dung và chức năng khác nhau, từ đó để xem xét, đánh giá cơ cấu nhân cách con người Bản năng tính dục libido là quan trọng nhất, khi giúp con người tránh những căng thẳng và thỏa mãn các nhu cầu của

mình, nó hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn, đây là nguyên tắc giúp “giảm bớt

những căng thẳng đau đớn của cơ thể, hầu tránh sự đau đớn khó chịu, và nếu có thể đưa tới khoái lạc” [10, tr 37] Nó cũng là nguồn gốc của những thúc đẩy hoạt động của đời sống tâm thần con người được biểu hiện ra hai khuynh hướng là bản năng sống và bản năng chết Nhưng trong thực tế, cuộc sống con người chịu sự chi phối bởi những phong tục, tập quán, văn hóa, quy phạm xã hội, buộc con người phải từ

bỏ một số nhu cầu để được bảo vệ hay sự tán đồng của người khác Việc từ bỏ này làm con người dần dần bị ức chế, “lực lượng ức chế này làm cho trẻ tập thay đổi những thèm muốn của mình thay vì thế giới bên ngoài” [10, tr 38], được Freud gọi

là nguyên tắc thực tế Hai nguyên tắc này không chống đối nhau mà nó bổ sung cho

nhau, thay đổi tuần tự mục đích của nhau mà thôi

Nhìn chung, công trình của J.P.Charrier đã nghiên cứu khá sâu về một số vấn

đề liên quan đến quan điểm phân tâm học Sigmund Freud về con người Ở mức độ nhất định, công trình này cũng đề cập một cách khái quát đến phân tâm học sau

1

Từ đây trở đi, chúng tôi thống nhất gọi ba yếu tố trong bộ máy tâm thần con người theo quan niệm của Freud (dù các bản dịch dùng từ khác nhau) là: phi Ngã (Id, cái Ấy, cái Nó,…); Ngã (Ego, cái Tôi, bản Ngã,…); siêu Ngã (Superego, cái Siêu tôi, )

Trang 16

Freud như Jung, Erich Fromm, Karen Horney Tuy nhiên, những nội dung mà Charrier trình bày chưa được hệ thống nên làm cho người đọc khó theo dõi

Cuốn sách Freud đã thực sự nói gì của David Stafford – Clark (Nxb Thế giới,

Hà Nội, 1998) Trong cuốn sách này, Stafford - Clark hệ thống hóa một số nội dung cốt lõi của phân tâm học được công bố trong các nghiên cứu của Freud như: Giải thích giấc mơ, tâm bệnh học trong đời sống hàng ngày, khái niệm cấu trúc và chức năng tâm thần, lý thuyết tổng quát về các triệu chứng hysteria, đặc biệt là những bổ sung vào lý thuyết phân tâm và những sửa đổi của Freud, trong đó, ông tập trung chủ yếu vào các vấn đề: Ngã và tâm lý học của những miền sâu; bên kia nguyên tắc khoái cảm, bản năng sống và bản năng chết, thăng hoa và siêu Ngã, phi Ngã và lương tâm Trong những vấn đề trên, chúng tôi cho rằng việc bổ sung và làm rõ

“tâm lý tập thể” là một phần bổ sung quan trọng trong lý thuyết của ông Tâm lý

tập thể như một phẩm chất sống của cộng đồng được đánh giá cao Phần bổ sung

này quan tâm đến điều mà chúng ta thường gọi là “chất dương tính của tập thể”,

giải thích tại sao có các cuộc hỗn chiến tham quyền của các dân tộc trên thế giới, các cuộc chiến tranh để phân chia quyền lực hay thị trường

Trước thời kỳ Freud, chứng bệnh hysteria được xem là hiện tượng hay biểu hiện của tà đạo, quỷ thần nên nó không được chấp nhận, nhưng “Freud thấy rằng chứng hysteria thật ra là “một căn bệnh thật sự”; rằng những triệu chứng hysteria được các bệnh nhân cảm thấy một cách có thật” [12, tr 40] Clark giới thiệu về các chứng nhiễu tâm (hysteria), từ đó chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những căn bệnh nhiễu tâm trên có chung nguồn gốc là tính dục: “tính dục là gốc rễ của mọi chứng nhiễu tâm và mức độ rối nhiễu cảm xúc tính dục có thể đẻ ra một loạt những triệu chứng tâm lý nào đó gắn liền với số lượng năng lượng thần kinh có liên quan” [12, tr 58] Trong công trình, tác giả làm rõ quan điểm của Freud về năng lực tính dục libido trong đó chứa hai bản năng cơ bản: “bản năng bảo vệ sự tồn tại của cơ thể và bản năng bảo đảm sự tái sinh của nòi giống”, một bên sẽ dẫn tới những hành vi giúp cho cá nhân hay chủng loại tồn tại và một bên sẽ dẫn tới sự phá hoại bản thân Theo

Stafford-Clark, Freud thừa nhận sự tồn tại của hai bản năng này bởi vì chúng là yếu

Trang 17

tố chi phối hành vi tâm lý thường nghiệm của con người Sau một thời gian nghiên

cứu, Freud kết luận: “Eros - vừa là tính dục, vừa là bản năng sống; Thanatos - bản năng chết” Hai bản năng này có sức mạnh ngang nhau, chống đối nhau Một bên thúc đẩy ta hành động, sống và chinh phục còn một bên thúc đẩy để ta buông xuôi, tan biến và chết Cả hai luôn thúc đẩy ta tìm kiếm sự quân bình

Clark đi sâu nghiên cứu học thuyết Freud với trọng tâm là cấu trúc tính dục trẻ

em Ông viết: “không một đứa trẻ nào có thể nói lên thành lời mặc cảm Oedipe, dù

đó là những lời thú nhận, giãi bày, sám hối và xin được yên lòng.” [12, tr 129 - 130] Freud coi cấu trúc tính dục trẻ con cũng như sự phát triển tính dục của nó là nền tảng quan trọng để giải thích các hành vi của con người sau này Con người qua các thời đại luôn tìm cách thống ngự các đối tượng xung quanh nó, nhưng dường như rất hiếm khi con người quay ngược nhãn quan thống ngự ấy vào chính bản thân

mình, khám phá bản chất con người của mình Clark làm rõ “những nghiên cứu về bản chất con người và những niềm tin của nó” trong lý thuyết bổ sung của Freud,

trong đó, Clark nhấn mạnh:

Từ đầu đến cuối cuộc đời hoạt động của ông, không hiếm khi Freud đã lấy làm ngạc nhiên về những suy luận và kết luận riêng của mình; nhưng mặc dù lúc đầu có thể bối rối vì chúng, cuối cùng ông không bao giờ lùi bước, cũng không bỏ dở việc đẩy chúng càng xa càng tốt trên con đường

đi tới kết cục logic của chúng Freud đã bắt đầu mong muốn trở thành một nhà tư tưởng, một người hướng dẫn dũng cảm của xã hội loài người[12, tr 235]

Công trình của David Stafford – Clark đã khảo cứu một cách tổng quát về phân tâm học Freud Chúng tôi xem đây là những gợi ý quan trọng về mặt học thuật rất hữu ích, nhất là quan điểm của phân tâm học Freud về chứng nhiễu tâm, tính dục, vô thức và nhân cách để tiếp tục làm rõ và triển khai trong luận án, làm rõ bản chất con người trong mối liên hệ với văn hóa – văn minh

Trong công trình Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn (Nxb Tổ hợp Gió, Sài Gòn, 1969), tác giả Vũ Đình Lưu đưa ra và giới thiệu tư

Trang 18

tưởng của ba nhà phân tâm học đó là: E.Fromm, H.S.Sullivan và K.Horney Fromm

và Sullivan xem xét phân tâm học dưới góc cạnh văn hoá và ảnh hưởng qua lại giữa con người với xã hội Fromm cho rằng, con người thích ứng với xã hội vì ảnh hưởng của giáo dục và văn hoá hơn là vì sự tiến triển của bản năng Sullivan thì chú trọng đến việc nghiên cứu mối liên hệ giữa cá nhân và người thân thuộc gần xa, giữa cá nhân và tập thể để tìm ra đầu mối những thiên lệch tâm tính, còn Horney tiến xa hơn Sullivan khi ông gán cho văn hoá giáo dục vai trò tất định trong sự cấu tạo nhân cách Như vậy, việc giới thiệu tư tưởng của ba nhà phân tâm học sau Freud

là chủ trương nhấn mạnh và đề cao vai trò giáo hoá trong sự cấu tạo nhân cách con người theo quan niệm phân tâm học

Tác giả khẳng định, sự ra đời của phân tâm học đã tạo nên một cuộc “hôn nhân” với các ngành khoa học xã hội khác Sự kết hợp tốt đẹp đó cung cấp một cái nhìn đa chiều về con người và xã hội loài người Mục tiêu của sự kết hợp của phân tâm học với các ngành khoa học xã hội cụ thể khác là chỉ ra những sự thiếu sót trong một ngành cụ thể để đưa đến mục đích là mở đường cho con người ý thức được ý nghĩa chân thực của cuộc sống, của số mệnh Không những thế phân tâm học còn muốn con người đạt tới sự toàn diện, con người “hiện hữu với người khác”

và con người hiện hữu với “tư cách là người” Cuốn sách là một sự tổng hợp cách tiếp cận khi đưa ra mối quan hệ giữa phân tâm học và các ngành khoa học để giải thích một số vấn đề về con người và xã hội đặt ra

Lưu Hồng Khanh với cuốn sách Tâm lý học chiều sâu – Ý thức và những tầng sâu vô thức (Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2005), trình bày những yếu tố trong

cấu trúc và những năng lực sinh lý của bộ máy tâm thần con người theo tư tưởng của Jung Đồng thời, tác giả cũng giới thiệu những kỹ năng sinh học, tâm lý phù hợp giúp khám phá những tầng sâu vô thức, giải mã những mặc cảm đen tối, cũng như phát huy những tiền năng sáng tạo nhằm tạo ra nhân tính con người quân bình, điều hòa và hướng tới một cuộc sống lạc quan với người khác, với xã hội và tự nhiên Theo Lưu Hồng Khanh, Jung đi xa hơn Freud trong quan niệm về vô thức,

“quan niệm vô thức không chỉ là vô thức cá nhân, mà còn cả vô thức tập thể” [90,

Trang 19

tr 23] Tác giả đưa ra hai phương pháp đó là: giải mộng và chủ động tưởng tượng

để hiểu về vô thức tập thể “Giải mộng là phương pháp cho thấy được các ý nghĩa của chiêm mộng và từ đây đưa đến thể hiện những ý nghĩa đó trong thực tại cuộc sống” [90, tr 190] còn “phương pháp chủ động tưởng tượng con người đi một bước đầu đến với vô thức” [90, tr 190] Thông qua hai phương pháp này, chúng ta có thể phỏng vấn, phân tích, trao đổi để những gì trong vô thức được bộc lộ ra và có cách ứng dụng vào cuộc sống

Phạm Minh Lăng với Sigmund Freud và Tâm phân học (Nxb Văn hóa Thông

tin, Hà Nội, 1998) Diện mạo của “Tâm phân học” (phân tâm học) được tác giả phác họa qua lý thuyết tình dục, lý thuyết về vô thức Tác giả lưu ý rằng, phân tâm học cũng như các phát minh khoa học khác khi nhìn nhận đánh giá cần có một thái

độ khoa học khách quan bởi “quan niệm khác nhau về thế giới quan, cụ thể về triết học, về truyền thống đạo đức, tập quán… nhất là sự khác nhau về quan điểm chính trị, xã hội… hay xem xét đánh giá vấn đề theo cảm tính” [xem: 95, tr.19 - 21] sẽ dẫn đến một cách nhìn phiến diện, thiên kiến, không chính xác về vấn đề mà chúng

ta nhìn

Phạm Minh Lăng xem việc nghiên cứu về vô thức chính là cửa ngõ để đạt đến hiểu biết sâu sắc về con người, tuy nhiên ông cũng lưu ý rằng “quan niệm của phân tâm học về vô thức là một vấn đề vô cùng phức tạp và nó đụng đến tận gốc những điều mà con người đã hay biết về nó” [95, tr 57] Theo ông, vô thức ngoài nguồn gốc có tính sinh lý bẩm sinh do cơ quan sinh lý phát động còn có sự tác động từ bên ngoài xã hội Với cách nhìn nhận như vậy, tác giả cho rằng: “theo phân tâm học ngoài mặt sinh lý bẩm sinh, bản năng, vô thức còn có mặt khác, đó là hoàn cảnh sống của mỗi người trong xã hội Chính sự tác động từ bên ngoài này quyết định sự hình thành cái vô thức và nội dung của nó chẳng có gì ngoài cái người đời đã từng gặp phải trong đời sống của mình” [95, tr 60] Vô thức bao gồm tất cả những biến

cố, những kỉ niệm, những ký ức mà con người đã trải qua trong quá trình sống từ khi sinh ra, nhưng chưa được thực hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó, theo tác giả thì nguyên nhân xã hội giữ vai trò to lớn và thường là quyết định Vô

Trang 20

thức có vai trò đặc biệt quan trọng trong bộ máy tâm thần con người cũng như trong việc chữa trị bệnh tâm thần Theo tác giả, tính dục nảy sinh từ khi con người được sinh ra, có một vị trí đặc biệt bởi nó liên quan trực tiếp đến việc tìm hiểu và chữa trị các chứng bệnh tâm thần Những sự cấm đoán thô bạo đối với những hành vi tính dục trẻ em không những không ngăn chặn được hoàn toàn mà nó có thể sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng về sau trong cuộc đời Do đó, con người cần tiếp thu một nền giáo dục lành mạnh và hợp lý trong gia đình, ở nhà trường và ngoài xã hội Cuốn sách Sigmund Freud và Tâm phân học của Phạm Minh Lăng đã khái quát một

số lý thuyết quan trọng của phân tâm học, cung cấp những kiến thức cần thiết cho việc hiểu rõ hơn phân tâm học Freud về con người

Cuốn sách Chủ nghĩa Mác phương Tây (trường phái Frankfurt) do Nguyễn

Chí Hiếu và Đỗ Minh hợp đồng chủ biên (Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2013) giới thiệu toàn cảnh về chủ nghĩa Mác phương Tây ở trường phái Frankfurt và trình bày một

số đại diện tiêu biểu của trường phái Frankfurt, khi giới thiệu về Fromm, các tác giả cho rằng, “trong suốt sự nghiệp sáng tạo của mình, ông nghiên cứu có hệ thống những vấn đề về con người trên các phương diện phân tâm học, nhân học triết học

và tâm lý học xã hội” [68, tr 205] Theo các tác giả, công lao của Freud là khám phá ra vô thức, nhưng chưa được chứng minh đầy đủ nếu chỉ dựa trên quan điểm sinh vật học khi nghiên cứu về con người Với Mác, “ông đã bỏ qua sự hiện diện của các lực lượng không hợp lý trong hoạt động sống của con người, chúng liên tục phục hồi thói “hám quyền và phá hủy” ở con người, ngoài ra, không cho phép con người đạt tới tự do nếu không sử dụng lực lượng mang tính giải phóng nội tâm của phân tâm học” [68, tr 207] Do vậy, theo Fromm, để hiểu rõ con người cần có sự tích hợp quan điểm phân tâm học Freud và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế học của Mác để luận giải về con người “Với việc coi nhẹ các khát vọng của con người như vậy, chỉ có thể chấp nhận quan điểm của Mác sau khi đã chuẩn xác hóa và bổ sung căn bản nó về mặt khoa học” [68, tr 207] Theo chúng tôi, đây là công trình trình bày khái quát quan điểm phân tâm học Fromm về con người trên cơ sở tích hợp giữa phân tâm học Freud và chủ nghĩa Mác Bước đầu cung cấp cho chúng tôi

Trang 21

những tư tưởng cần thiết để tiếp tục đi sâu nghiên cứu quan điểm của phân tâm học Fromm về con người

Công trình Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó đến nhân học triết học phương Tây hiện đại do Đỗ Minh Hợp chủ biên Trong công trình này, các tác

giả nghiên cứu con người dưới góc độ nhân học triết học Freud từ những khía cạnh bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức học, triết học văn hóa Ở khía cạnh bản thể luận phân tâm học, các tác giả cho rằng: “Vô thức trở thành đối tượng nghiên cứu chủ yếu và quan trọng nhất, cho phép nhận thức bản tính người” [77, tr 189] của nhân học triết học Freud Vì vậy,

trái ngược với quan điểm triết học chủ yếu quan tâm nghiên cứu thế giới bên ngoài, các vấn đề của “đại vũ trụ”, qua đó coi nhẹ ý nghĩa tồn tại người, theo Freud, cần phải dịch chuyển trọng tâm nghiên cứu vào “tiểu

vũ trụ”, vào con người tự thân nó, vì chỉ đi từ “tiểu vũ trụ” đến “đại vũ trụ” và nắm bắt bản chất của hành vi con người thì mới có thể cải biến bản thân cấu trúc vũ trụ, diễn biến của những quá trình vũ trụ [77, tr 192]

Bản thể luận phân tâm học không đúng nghĩa của bản thể luận triết học truyền thống mà nó đi sâu vào tìm hiểu cơ sở của tồn tại người trong thế giới và “Freud thực sự thừa nhận địa vị bản thể đặc thù của vô thức” [77, tr 200] và “sự đặc thù của quan niệm nhân học triết học Freud trong hệ vấn đề này là nó dịch chuyển bình diện nghiên cứu từ thực tại vật chất sang thực tại tâm thần, còn ở bên trong thực tại tâm thần thì dịch chuyển từ các quá trình hữu thức sang quá trình vô thức” [77, tr 226] Tiếp cận từ góc độ nhận thức luận phân tâm, khác với các nhà triết học truyền thống trước đó coi “vô thức” là cái “chẳng chứa nội dung gì”, là “bỏ đi” “Freud xem xét vô thức là thực tại tâm thần, có các đặc điểm và nội dung hoàn toàn cụ thể của mình” [77, tr 228] Và như vậy, nhận thức nhân học triết học phân tâm học là làm rõ nội dung tâm thần vô thức và cơ chế hoạt động của nó trong đời sống con người Theo Freud, “mỗi hành vi tâm thần, mỗi quá trình vô thức đều có nghĩa xác định, bao hàm những quan hệ về nghĩa, việc làm sáng tỏ chúng là nhiệm vụ quan

Trang 22

trọng của nhân học phân tâm” [77, tr 247] Với nhân học phân tâm thì mục đích là làm rõ những nguyên nhân bên trong con người để tìm ra đâu là nguyên nhân dẫn tới bệnh tâm thần ở con người, từ đó đưa ra những tri thức khoa học để chữa trị bệnh cho người bệnh “Khách thể nghiên cứu trong nhân học phân tâm là tất cả mọi biểu hiện vô thức, việc làm rõ nghĩa và vai trò của chúng là quan trọng xét từ góc độ nhận thức luận phân tâm” [77, tr 248]

Freud cho rằng cội nguồn của vô thức đó là tính dục thời thơ ấu, do vậy, nhận thức về vô thức chỉ kết thúc khi chúng ta làm rõ các đam mê tính dục bẩm sinh Các tác giả đi đến kết luận rằng, “nhận thức luận phân tâm xuyên suốt bởi hai sự quy giản: thứ nhất, quy giản toàn bộ về quá khứ và, thứ hai, quy giản mọi biểu hiện hoạt động sống của con người về những đam mê tình dục của họ” [77, tr 252] Từ góc

độ nhân học đạo đức phân tâm, các tác giả khẳng định “phân tâm học là một học thuyết triết học mang đậm sắc thái đạo đức” [77, tr 267], vì “việc làm rõ bản tính người có liên hệ mật thiết với nhận thức các vấn đề thiện và ác, các động cơ hoạt động và các cấm đoán đạo đức, tự do ý chí và số phận, lương tâm và tội lỗi” [77, tr 267] Việc giải quyết vấn đề bản thể luận và nhận thức luận của nhân học triết học Freud là nhằm mục đích đưa ra quan niệm của riêng ông về các cơ sở của đạo đức con người, do vậy, để con người tồn tại với tư cách tồn tại người (con người đạo đức) phải giải mã được những đam mê vô thức nằm trong miền sâu thẳm tâm thần con người

Chúng tôi cho rằng, công trình do Đỗ Minh Hợp chủ biên đã tiếp cận nhân học triết học Freud trên một nền tảng tư duy logic chặt chẽ ở các góc độ bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức và đưa ra những luận giải trong cách tiếp cận của mình Đây là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và làm rõ quan điểm của phân tâm học Freud về con người

Công trình Tư tưởng triết học của S.Freud (2014) (Luận án tiến sĩ, Trường

Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội) của Tạ Thị Vân

Hà Trong công trình này, vấn đề con người trong phân tâm học Freud được tác giả

Trang 23

trình bày từ hai góc độ căn bản: bản thể luận và nhận thức luận Ở góc độ bản thể luận, tác giả viết:

Trên cơ sở phê phán bản thể luận truyền thống Freud cho rằng, nhiệm

vụ của triết học là phải quay trở lại tìm hiểu chính con người, nắm bắt bản chất của hành vi con người để từ đó nhận thức được nó trong tương quan với thế giới bên ngoài Từ đó, ông xác định nhiệm vụ của phân tâm học cần phải tập trung nghiên cứu con người, thâm nhập vào miền sâu vô thức để nắm được cơ sở cấu thành bản thể được biểu hiện thông qua những sinh hoạt của cuộc sống thường ngày” [53, tr 66]

Tác giả có lý khi đưa ra nhận định: “Freud không khước từ bản thể luận truyền thống mà chủ yếu dịch chuyển sự quan tâm của nó vào trong miền sâu “vô thức” của bản tính người” [53, tr 66]

Ở góc độ nhận thức luận, quan niệm của phân tâm học Freud về con người thể hiện ở việc “tập trung làm sáng tỏ những đặc trưng của quá trình tâm lý vô thức diễn ra trong miền sâu tâm thần con người” [53, tr 77], và “mục tiêu của nhận thức

là nắm bắt được cơ chế dịch chuyển các hoạt động của tâm thần từ lĩnh vực vô thức vào lĩnh vực ý thức, vạch rõ nội dung của quá trình vô thức Do đó, đối tượng nhận thức của phân tâm học chính là thế giới nội tâm của con người, trong đó vô thức chính là hạt nhân” [53, tr 77]

Luận án là một tài liệu quan trọng cho nỗ lực hiểu biết về quan điểm phân tâm học về con người và văn hóa Tuy nhiên, do mục tiêu của công trình là làm rõ tư tưởng triết học của Sigmund Freud, nên tác giả chỉ giới hạn trong khuôn khổ tư

tưởng của người sáng lập phân tâm học, mà chưa đề cập đến các tư tưởng của các nhà phân tâm học khác

Edward Amstrong Bennet với tác phẩm Jung đã thực sự nói gì? (Nxb Văn hóa

Thông tin, Hà Nội, 2002) trình bày về cuộc đời và tư tưởng của Carl Gustav Jung – một trong những người tạo nên bước rẽ trong phân tâm học nói chung, trong quan niệm của phân tâm học về con người và văn hoá – văn minh nói riêng Bennet khái

quát học thuyết của Jung về con người ở những điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, Jung

Trang 24

chia “những kiểu tâm lý” của con người thành hai dạng chủ yếu “tâm lý hướng nội”

và “tâm lý hướng ngoại” Tuy nhiên, Jung cũng lưu ý rằng, “bản chất con người với tất cả sự phức tạp của nó khó có thể chia thành hai nhóm đơn giản như vậy” [7, tr 58]; thứ hai, lý thuyết của Jung về “bốn chức năng của ý thức”: suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác và trực giác Bennet nhận xét: “Loại hình tâm lý học của Jung cho phép chúng ta nghiên cứu tâm lý con người theo một cách chính xác hơn, và cơ bản hơn”

[7, tr 62]; thứ ba, lý thuyết về hoạt động tâm thần vô thức Jung thừa nhận cái gọi

là vô thức cá thể kiểu Freud, song ông còn nhấn mạnh vai trò đặc biệt của vô thức tập thể, cái “đồng nhất ở tất cả mọi người và do đó tạo nên một cơ tầng tâm thần chung của bản chất siêu cá nhân hiện diện ở mỗi người chúng ta” [7, tr 75]

Bennet trình bày tư tưởng của Jung giả thuyết về cổ mẫu và bản năng Theo Jung, vô thức cá thể được tạo ra từ phần lớn những tổ hợp còn những cổ mẫu, đó là những hình thức tiền tồn hay những hình thức nguyên thủy tạo nên vô thức tập thể

Và ông cho rằng: “các bản năng [những xu hướng bẩm sinh không biết] rất gần với những cổ mẫu, đến mức mà trên thực tế có một lý do đủ tin cậy khi cho rằng các cổ mẫu là những hình ảnh vô thức của chính những bản năng” [7, tr 74]

Qua sự diễn giải của Bennet trong công trình này, có thể khẳng định rằng, đây

là sự khảo cứu khá toàn diện về cuộc đời và phân tâm học Jung ở nhiều khía cạnh

khác nhau, đặc biệt trong tác phẩm, Bennet làm rõ khía cạnh tinh thần của bản chất con người

Murray Stein với công trình Bản đồ tâm hồn con người của Jung (Nxb Tri

thức, 2011) Đây là một trong số ít công trình nghiên cứu về phân tâm học của Carl

G Jung được chuyển ngữ sang tiếng Việt Ở phần dẫn nhập, Murray Stein phác họa những lý do mà ông viết cuốn sách này, và trình bày một vài yếu tố cơ bản của phân tâm học Jung Tác phẩm đề cập đến chín vấn đề chính: cái tôi ý thức, các tổ hợp, năng lượng tâm thần, cổ mẫu (archetype)2 và bản năng, persona (mặt nạ nhân cách)

và shadow (bóng âm), anima (khía cạnh nữ tính ở nam giới) và animus (khía cạnh

2 Từ đây trở đi, chúng tôi thống nhất dùng từ Archetype (cổ mẫu, mẫu tượng, siêu tượng,…) theo nguyên từ gốc của

Trang 25

nam tính ở nữ giới), self 3 (tự Ngã), cá nhân hóa và cuối cùng là mối quan hệ giữa tâm thần con người và không gian Những đặc điểm chính của cái tôi đã được tác giả trình bày và phác họa kèm theo một sự giới thiệu về các loại hình tâm lý phổ quát nhất của con người khi nói về bản ngã (cái tôi ý thức) Theo Stein, tư tưởng của Jung về vô thức cá thể chính là cách hiểu của Freud về vô thức, ngoài ra, tác giả trình bày “vô thức tập thể” trong đó chỉ ra cổ mẫu và bản năng có một vị trí quan trọng tạo thành “vô thức tập thể”, điều này làm cho phân tâm học Jung khác với phân tâm học Freud và các trường phái tâm lý học miền sâu khác

Murray Stein đã nêu bật quan niệm của Jung về các loại hình nhân cách: persona, shadow, anima, animus đây là những archetype có tính năng làm vô thức biến đổi trở thành ý thức để từ đó con người có khả năng giao tiếp với nhau, với thế giới bên ngoài Và, Self (tự Ngã) cũng là một loại archetype về nhân cách, một archetype trọng tâm của đời sống tâm thần mà khi con người đạt tới sẽ có một nhân cách toàn diện và đạt được “tồn tại người thực của mình”

Tác giả trình bày đời sống tâm lý con người ở tất cả các chiều kích và những động lực bên trong của nó Những nội dung được nêu ở trong công trình khá đặc sắc cho thấy có một sự khác biệt tương đối và sự phát triển học thuyết của Jung với các trường phái tâm lý học chiều sâu khác, như: quan niệm về vô thức tập thể; về năng lượng tâm thần (libido), cái tôi ý thức, cá nhân hóa và mối quan hệ giữa tâm thần con người với không gian, persona và shadow, anima và animus, self, chứa đựng những nội dung hết sức phong phú Một số thuật ngữ Jung đưa ra có tính trừu tượng cao nhưng qua sự trình bày của Stein nó trở nên dễ hiểu với thực tế trong đời sống tâm thần con người, để con người có thể ý thức và đạt tới “tự do cá nhân”, hay

“nhân cách toàn diện”

Trong công trình, Stein trình bày khá tường minh về cuộc hành trình tư tưởng của Jung tới một miền đất bí hiểm – tâm thần con người Stein đã ví Jung như là

“Christopher Columbus của thế giới nội tâm” Nếu như Glenn và Neil Amstrong đã

mở ra cho chúng ta không gian bên ngoài với tư cách là những người thám hiểm vũ

3

Từ đây trở đi, chúng tôi thống nhất dùng từ Persona (mặt nạ nhân cách); Shadow (bóng âm); Anima (khía cạnh nữ tính ở

Trang 26

trụ, thì Jung chỉ báo cho chúng ta về không gian bên trong như một nhà thám hiểm dũng cảm và táo bạo vào những điều chưa từng được biết tới Jung từng nói rằng,

toàn bộ thế giới treo trên một sợi chỉ và sợi chỉ này là tâm thần con người Do đó, việc nghiên cứu tâm thần là một vấn đề quan trọng lớn về mặt lịch sử

Chúng tôi cho rằng, Stein đã cung cấp một phân tích khá toàn diện và sâu sắc

tư tưởng của Jung về cấu trúc tâm thần con người, đồng thời đặt nó trong mối tương quan với văn hoá – văn minh Đây là cơ sở để chúng tôi tiếp thu và triển khai rõ hơn trong luận án

Trong Ximôn Phrớt Diệp Mạnh Lý đã bàn đến khái niệm về vô thức khi so

sánh mối tương quan giữa ý thức và vô thức, cho rằng: “vô thức là “nguồn” của ý thức, ý thức lại là dòng chảy của vô thức” [97, tr 110] Khi nói về nguồn gốc tư tưởng của vô thức, theo tác giả: “các nhà triết học trước đây chỉ chú ý nghiên cứu

bộ phận nhỏ lộ ra trên mặt nước, còn Freud lại đi sâu dưới nước, tìm hiểu rộng rãi hơn phạm vi của hoạt động tinh thần của con người” [97, tr 114] Theo Diệp Mạnh

Lý, Freud xác định cơ sở khách quan cho việc xây dựng học thuyết vô thức, “học thuyết vô thức xây dựng trên cơ sở thuyết cân bằng thân thể và tinh thần” [97, tr

115] Qua nghiên cứu và phân tích cuốn Bệnh lý học về sinh hoạt đời thường của

Freud, ông cho rằng, vô thức là trạng thái tâm lý bình thường và cần phải nghiên cứu mối quan hệ của nó với các hoạt động tâm lý của con người, từ đó Diệp Mạnh

Lý đi đến kết luận:

Phân tích sự nhầm lẫn thường ngày vạch rõ hơn nữa sự tồn tại của vô thức, đã mở ra con đường mới cho học thuyết vô thức, tăng thêm tài liệu kinh nghiệm mới Nó chứng tỏ, vô thức không chỉ thể hiện trong chứng bệnh tâm thần và cảnh mộng, mà còn len lỏi trong trạng thái tâm lý bình thường của con người Vì vậy, nghiên cứu sự nhầm lẫn và quy luật tâm

lý của nó chắc chắn sẽ mở ra một lĩnh vực rộng rãi hơn cho việc nhận thức và ứng dụng của học thuyết vô thức [97, tr 129]

Khi trình bày các yếu tố trong bộ máy tâm thần con người, tác giả cùng quan điểm với Freud khi chia cấu trúc tâm thần con người thành ba yếu tố: phi Ngã, Ngã

Trang 27

và siêu Ngã Đồng thời, tác giả cũng khẳng định, “nhân cách là một hệ thống năng lượng phức tạp, năng lượng tâm lý là cái điều khiển sự vận hành ba bộ phận nhân cách,… năng lượng tâm lý được phân bổ và di chuyển trong ba bộ phận nhân cách

và tạo nên hệ thống động lực nhân cách, nó quyết định phương hướng phát triển nhân cách” [97, tr 231 – 232] Từ đó, Diệp Mạnh Lý kết luận: “lý luận nhân cách của Freud đã giới thiệu với chúng ta một trình tự phát triển hợp logic, vạch ra bí mật của nhân cách tâm lý” [97, tr 245] Như vậy, cùng với việc giới thiệu về điều kiện kinh tế - xã hội và những tiền đề cho sự ra đời của phân tâm học, thân thế sự nghiệp

và một số nội dung chính trong phân tâm học Freud, Diệp Mạnh Lý cũng đưa ra một số nội dung phân tâm học Freud về con người như: quan niệm về vô thức, nhân cách, bản năng sống, bản năng chết,…Đây là những nội dung quan trọng để chúng tôi tiếp thu và tiếp tục phát triển trong luận án của mình

Như vậy, tổng quan một số công trình tiêu biểu có liên quan đến quan điểm

của phân tâm học về con người, các nhà khoa học đều đi đến một điểm chung rằng

“vô thức” là nền tảng tồn tại của đời sống tâm thần nói riêng và đời sống con người nói chung, tìm hiểu về con người chính là quá trình khám phá và nhận thức “vô thức” Tuy nhiên, ở một góc độ nhất định đa số các Nhà khoa học chỉ dừng lại làm

rõ và nhấn mạnh quan niệm về vô thức trong phân tâm học Freud Trong luận án này, chúng tôi tiếp tục khảo cứu “vô thức” trong “dòng chảy” của phân tâm học sau Freud với tính cách là nguồn gốc, bản chất của tồn tại người mới được giới thiệu một cách khái quát, cụ thể ở đây là tư tưởng của Jung và Fromm Do vậy, việc khảo sát những công trình nghiên cứu trên giúp chúng tôi có thêm những tư liệu để tiếp tục làm rõ quan điểm của phân tâm học về con người

1.3 Các công trình tiêu biểu có liên quan đến nội dung quan điểm của phân tâm học về văn hoá - văn minh

Trong khoảng hơn mười năm trở lại đây, tư tưởng của Sigmund Freud và phân tâm học không chỉ được giới thiệu qua các bản dịch Việt ngữ, mà còn được nghiên cứu khá sôi động và khách quan Ở những mức độ khác nhau, các công trình đó đã bàn đến quan điểm phân tâm học về văn hoá – văn minh

Trang 28

A.A Belik với công trình Văn hóa học những lý thuyết nhân học văn hóa

(Nxb Tạp chí văn hóa nghệ thuật, 2000) Trong công trình, ngoài phần dẫn luận tác giả giới thiệu về những khái niệm cơ bản, đối tượng của văn hóa học, tác phẩm gồm

có bốn phần: phần một, quá trình lịch sử như là sự phát triển văn hóa Những tiếp cận cơ bản nghiên cứu văn hóa thế kỷ XIX – XX; phần hai: những khái niệm nhân học – văn hóa toàn vẹn giữa thế kỷ XX; phần ba: Tương tác giữa văn hóa và nhân cách – Những đặc điểm về vận hành và tái sản xuất của các nền văn hóa; phần bốn: Các lý thuyết văn hóa theo hướng nhân học tâm lý những năm 70 – 80

Trình bày về phân tâm học trong nghiên cứu văn hóa Belik cho rằng, “hiện tượng này đã trở thành một cách nối tiếp việc nghiên cứu tâm lý học về văn hóa” [5,

tr 81], và theo ông, cho đến nay phân tâm học “được vận dụng khá phổ biến để giải thích một phổ hiện tượng văn hóa khá rộng” [5, tr 81] Chúng tôi cho rằng đây là những nhận định mang tính chất gợi mở để tiếp tục nghiên cứu quan điểm của phân tâm học về văn hóa Khi trình bày quan điểm của Fromm về văn hóa tác giả cho rằng, sự tha hóa là một đặc điểm của văn hóa học hiện đại, tâm lý tôn giáo như là sự phân tích đặc điểm văn hóa

Theo chúng tôi, một số luận điểm đưa ra trong công trình là cơ sở để chúng tôi tiếp tục triển khai rõ hơn trong luận án, đồng thời đặt nó trong mối tương quan với con người và văn minh

Trong cuốn sách Ximôn Phrớt của Diệp Mạnh Lý khi nói về vấn đề văn hóa,

tác giả cho rằng, “trong lịch sử xã hội, sự sáng lập ra phân tâm học có ảnh hưởng rất lớn, nó thúc đẩy văn hóa hiện đại phát triển hơn nữa” [97, tr 246] Từ đó, tác giả nêu lên một số nội dung về văn hóa như tư tưởng về tôn giáo, quan điểm mỹ học, lý luận về văn học nghệ thuật,… Diệp Mạnh lý cho rằng, “sự ra đời và diễn biến của quan niệm tôn giáo có mối liên hệ với sự ra đời của xã hội nguyên thủy từ xã hội mẫu hệ quá độ sang xã hội phụ hệ và gắn liền với nó là gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước” [97, tr 253] Theo tác giả, chế độ tôn giáo đầu tiên của loài người đó là chế độ Tôtem giáo, “giống như bệnh nhân tâm thần, đều bắt nguồn từ mặc cảm

Trang 29

Oedipe Vì vậy, tôn giáo chẳng qua là tâm lý không bình thường ấu trĩ, ngu xuẩn của con người trong quá trình tiến hóa” [97, tr 254]

Đỗ Lai Thúy (biên soạn) với công trình Theo vết chân những người khổng lồ: Tân Guylivơ phiêu lưu ký về các lý thuyết văn hóa (Nxb Văn hóa thông tin và Tạp

chí Văn hoá nghệ thuật Hà Nội, 2006) đã giới thiệu một cách tương đối hệ thống các lý thuyết văn hoá xuất hiện trên thế giới từ đầu thế kỷ XX đến nay thông qua các tác giả và tác phẩm tiêu biểu Ở mức độ nhất định, quan điểm của phân tâm học

về văn hoá – văn minh đã được đề cập đến một cách khái lược trong bài viết “Tiếp cận phân tâm học tới văn hoá và cái tôi” [145, tr 423 – 446] Khi nghiên cứu phân tâm học của Freud về văn hoá – văn minh, công trình khẳng định “Freud đã vẽ nên một sự đồng nhất giữa sự phát triển của văn minh (nhờ đó ông ngụ ý nói đến một xã hội hiện đại và quan liêu) và sự phát triển của cá nhân” [145, tr 426], theo đó, “có một sự mâu thuẫn giữa nhu cầu văn minh vi trật tự, kiểm soát và hợp tác và những đòi hỏi bản năng của thoả mãn dục tính và của sự hối thúc những ham muốn bạo lực tiềm ẩn” [145, tr 426] Với Freud, “bản năng và cái tôi bị kiểm soát như là điều kiện tiên quyết của xã hội có trật tự” [145, tr 426]

Không chỉ dừng lại ở quan điểm của Freud về văn hoá – văn minh, tác giả còn

vạch ra xu hướng chung của lý thuyết phân tâm học sau Freud gồm: Thứ nhất, ít

nhấn mạnh những nghiên cứu bệnh học về tâm lý cá nhân như là nguyên do của bệnh tâm thần và sự quan tâm bù đắp về mối quan hệ giữa con người với con người

hoặc con người với các vật thể; thứ hai, chú trọng vào cách thức mà xã hội và tổ

chức văn hoá của nó được ngụy trang, hay ẩn dấu trong những vấn đề mà bản ngã

cảm nghiệm; thứ ba, hiểu biết về con người hiện đại như là bị tổn thương về tình

cảm, bị cô lập và thống khổ bởi bản năng bị nghèo nàn đi Luận điểm này đã thay thế cho mường tượng theo kiểu Freud về “chức năng sai lệch của tình dục và tâm thần” [145, tr 427] Đây là những chỉ dẫn quan trọng đối với việc nghiên cứu quan điểm của phân tâm học về văn hoá – văn minh

Vấn đề văn hóa theo quan điểm của phân tâm học cũng được bàn đến trong

cuốn Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó đến nhân học triết học phương

Trang 30

Tây hiện đại Khi xem xét về văn hóa, các tác giả cho rằng, “việc xem xét hệ vấn đề

văn hóa xã hội trong nhân học phân tâm có liên hệ mật thiết với việc giải quyết những vấn đề đạo đức” [77, tr 305] Do vậy, các tác giả cho rằng khi xem xét cụ thể vấn đề văn hóa xã hội, “Freud xuất phát từ sự đối lập giữa cá nhân với văn hóa, giữa cá nhân với xã hội” [77, tr 306] Từ đó các tác giả đi đến kết luận: “những thành tựu văn hóa của loài người căn cứ trên việc đối lập giữa các đam mê vô thức với các mệnh lệnh đạo đức xuất hiện trên cơ sở “văn hóa hóa” bản tính người” [77,

tr 307] Chính từ điểm này mà Freud đã đưa ra luận điểm: “mỗi người trên thực tế đều là kẻ thù của văn hóa, và điều này là như vậy cả khi có cảm tưởng văn hóa có ý nghĩa chung nhân loại” [dẫn theo, 77, tr 307] Và “đặc trưng cho quan niệm về văn hóa của Freud là tính hai mặt Một là, văn hóa được ông coi là phương tiện dồn nén

“bản tính người” Mặt khác, nó được xem là kích thích cho tự biểu hiện sáng tạo của con người” [77, tr 309]

Khi luận giải về nguồn gốc và chức năng của văn hóa, theo các tác giả, “có thể luận giải chức năng hai mặt như vậy của văn hóa bởi tính đa nghĩa của khái niệm

“vô thức” ở Freud cùng với việc đặt trọng tâm vào đam mê tính dục của con người” [77, tr 309] Nhưng khi đi vào giải thích thì Freud lại rơi vào vòng luẩn quẩn mà sau này các nhà phân tâm học sau Freud đã chỉ ra Freud viết: “văn hóa căn cứ trên những kết quả dồn nén của các thế hệ trước kia và mỗi thế hệ mới đều cần sáng tạo

ra văn hóa nhờ thực hiện dồn nén” [dẫn theo 77, tr 310] Không chỉ dừng lại làm rõ vai trò của văn hóa, các tác giả còn chỉ ra có ba cội cội nguồn sinh ra đau khổ của con người trong sự tương tác với văn hóa, đó là: “các lực lượng vượt trội của tự nhiên; đặc thù của thể xác con người và không hoàn hảo của các thể chế xã hội” [77, tr 335] Hai cội nguồn đầu là mang tính tự nhiên, sinh ra đau khổ của con người có thể loại bỏ hay làm giảm bớt được nó còn cội nguồn thứ ba là cội nguồn

xã hội gây ra lo lắng lớn nhất cho con người nhưng “con người không hiểu tại sao các thể chế do họ tạo ra lại không những không bảo vệ con người mà, ngược lại, còn trở thành lực lượng xa lạ thống trị họ” [77, tr 335]

Trang 31

Theo chúng tôi, tác phẩm trình bày những nội dung quan niệm của phân tâm học về văn hóa – văn minh mang tính khái quát cao, nhưng do mục đích của công

trình là làm rõ Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó đến nhân học triết học phương Tây hiện đại nên công trình chỉ dừng lại ở tư tưởng của Freud, còn tư

tưởng của Jung và của Fromm về văn hóa – văn minh chưa đề cập đến

Công trình Tư tưởng triết học của Sigmund Freud của Tạ Thị Vân Hà, đã đặt

ra và luận giải “tư tưởng triết học của Freud về văn hoá” [53, tr 106 – 114] Tác giả cho rằng, “cách tiếp cận về văn hóa của Freud dựa trên sự lập lại ký ức ấu thơ của con người bị ngưng đọng trong vô thức khi con người buộc phải giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng” [53, tr 106], và “văn minh chỉ là cái vỏ bề ngoài che dấu những bản năng bị những cấm đoán xã hội dồn nén mà thôi” [53, tr 109] Tác giả cũng đồng quan điểm với Freud khi cho rằng, “muốn đạt tới văn hóa con người phải chấp nhận từ bỏ bản năng để hướng tới tình yêu và sự tôn trọng lẫn nhau và đó chính là cơ sở để đảm bảo cho mỗi người có thể đạt tới hạnh phúc” [53,

tr 114] Đây là những nhận định mang tính chất gợi mở để chúng tôi tiếp tục mở rộng trong luận án

Chúng tôi rất chú ý đến loạt công trình do Đỗ Lai Thuý sưu tầm, biên soạn, và

giới thiệu có liên quan đến phân tâm học (Phân tâm học và tình yêu; Phân tâm học

và văn hoá tâm linh; Phân tâm học và văn hoá nghệ thuật; Phân tâm học và tính cách dân tộc) Sở dĩ chúng tôi dành sự trân trọng cho loạt công trình này bởi vì đây

là những tư liệu có giá trị tham khảo cao đối với việc đào sâu nghiên cứu nội dung quan điểm của phân tâm học về con người và văn hóa – văn minh, nhất là trong bối cảnh những tư liệu nguyên bản về phân tâm học còn khá khan hiếm hiện nay

Như vậy, tổng quan một số công trình tiêu biểu có liên quan đến quan điểm

của phân tâm học về văn hóa – văn minh, các tác giả đều đi đến một điểm chung là chủ yếu tập trung vào nội dung phân tâm học Freud về văn hóa – văn minh, chưa bàn nhiều đến các nhà phân tâm học khác như C.Jung và E.Fromm Trên cơ sở những nghiên cứu ấy, chúng tôi tiếp thu và tiếp tục làm rõ quan điểm phân tâm học của Freud, Jung và Fromm về văn hóa – văn minh trong luận án

Trang 32

Tóm lại, từ tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài luận án, chúng tôi nhận thấy rằng, phân tâm học

đã được đề cập và nghiên cứu ở nhiều cách tiếp cận và với những mức độ đậm nhạt khác nhau Những thành tựu đạt được của các công trình nghiên cứu từ trước đến nay là không thể phủ nhận, giúp ích rất đáng kể cho hiểu biết của chúng ta về phân tâm học Tuy nhiên, các công trình chủ yếu nghiên cứu phân tâm học thông qua tư tưởng của người sáng lập ra nó – Sigmund Freud, trong khi những đại biểu quan trọng khác của phân tâm học chỉ được giới thiệu rất mờ nhạt Chính vì thế, trong luận án này, chúng tôi không chỉ dừng lại ở tư tưởng của Sigmund Freud, mà còn hướng đến làm rõ quan điểm về con người và văn hóa – văn minh của một số nhà phân tâm học quan trọng khác (Carl Gustav Jung và Erich Fromm) nhằm cung cấp một cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về phân tâm học

Kết luận chương 1

Nội dung quan điểm của phân tâm học về con người và văn hóa – văn minh là rất rộng Vấn đề này đã ít nhiều được bàn đến trong các công trình nghiên cứu về phân tâm học Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, phân tâm học được nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở Freud Vì thế, không thể nói đã có một bức tranh khoa học đầy đủ và cái nhìn toàn diện về Phân tâm học ở Việt Nam Do đó, khảo sát về các công trình nghiên cứu phân tâm học như một “sợi chỉ xuyên suốt” (Freud – Jung – Fromm) về con người và văn hóa – văn minh và chúng tôi tạm chia thành ba lĩnh vực chủ yếu:

Các công trình tiêu biểu giới thiệu khái quát về bối cảnh lịch sử - xã hội và những tiền đề ra đời, phát triển của phân tâm học, điểm chung của các công trình

này là giới thiệu hoặc phân tích cụ thể về điều kiện, kinh tế xã hội; những tiền đề về khoa học trong quá trình hình thành và phát triển phân tâm học Tuy nhiên, việc khái quát về bối cảnh lịch sử - xã hội và những tiền đề ra đời của phân tâm học với tính cách là một khuynh hướng nghiên cứu về con người và văn hóa – văn minh cũng được đề cập tới một cách khái quát nhưng chưa có những phân tích rõ ràng, vì vậy, việc làm này là cần thiết trong quá trình nghiên cứu

Trang 33

Các công trình tiêu biểu có liên quan đến nội dung quan điểm của phân tâm học về con người, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này là rất đa dạng và phong

phú Tuy nhiên, quan điểm của phân tâm học nói chung cũng như của ba nhà phân tâm học Freud, Jung và Fromm nói riêng đều có một đặc điểm chung là xem “vô thức” là yếu tố chủ đạo, điều khiển và chi phối trong đời sống con người và xã hội

Các công trình tiêu biểu có liên quan đến nội dung quan điểm của phân tâm học về văn hoá – văn minh, đa số các nhà nghiên cứu về vấn đề này đã chỉ ra được

vai trò của văn hóa – văn minh trong đời sống con người và xã hội từ góc tiếp cận phân tâm học Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu quan điểm của phân tâm học, vạch ra bản chất, vai trò của văn hóa – văn minh trong đời sống con người và xã hội mang tính hệ thống như một sợi chỉ xuyên suốt từ phân tâm học Freud đến Tân phân tâm học

Trang 34

CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI

VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA PHÂN TÂM HỌC

2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội

Bất kỳ một học thuyết, trào lưu lý luận hay một hệ tư tưởng nào ra đời bao giờ cũng là sự phản ánh hoàn cảnh xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Quan niệm duy vật lịch sử chỉ ra rằng, “tư duy lý luận của mỗi thời đại, cũng có nghĩa là

cả thời đại chúng ta, là một sản phẩm lịch sử mang những hình thức rất khác nhau trong những thời đại khác nhau và do đó có một nội dung rất khác nhau” [105, tr 487] Sự hình thành và phát triển của phân tâm học cũng chính là kết quả nảy sinh

từ bối cảnh lịch sử chính trị xã hội Tây Âu đương thời Vì vậy, làm rõ những bối cảnh lịch sử - xã hội ra đời của phân tâm học là cần thiết để thấy, những biến đổi về kinh tế, chính trị xã hội, tiến trình phát triển văn hóa, văn minh của xã hội loài người và sự phát triển của khoa học có tác động như thế nào đến sự ra đời của phân tâm học

Sigmund Freud, sinh ra và lớn lên ở Viên, thủ đô của Đế quốc Áo - Hung, nơi chủ nghĩa tư bản đã được xác lập và nhanh chóng phát triển Trong đế quốc Áo – Hung, luôn xảy ra những cuộc chiến tranh, khủng bố, tàn sát lẫn nhau đưa tới sự chết chóc Gia đình của Freud cũng không tránh khỏi vòng xoáy của các cuộc chiến tranh và làn sóng chống Do Thái đang diễn ra lúc bấy giờ Khi cuộc chiến tranh giữa Ý, Pháp, Phổ và Áo diễn ra, hai người anh của ông buộc phải tham gia vào quân đội Cha của ông đã dẫn cả gia đình chạy tới Lazic để lánh nạn Sự thay đổi về mặt xã hội làm cho kinh tế của toàn bộ Đế quốc Áo – Hung rơi vào khủng hoảng, công việc làm ăn của gia đình Freud gặp phải khó khăn, khiến gia đình phải ly tán

“Do sự biến đổi về kinh tế của toàn bộ đế quốc Áo – Hung, sự buôn bán của bố Freud cũng chịu ảnh hưởng nặng nề, đời sống gia đình trở nên nghèo túng” [97, tr 10], “hai người anh khác mẹ của Freud quyết định sang sinh sống ở Anh, Freud lên bốn đi theo bố mẹ sang Viên” [97, tr 17] Freud đến Viên thủ đô của Áo, một trong

Trang 35

những thành lũy của chủ nghĩa tư bản lúc bấy giờ, với vẻ bề ngoài hoa lệ, “phong cảnh thiên nhiên đẹp, rộng rãi, phong nhã của Viên mĩ lệ” [97, tr 17 – 18], lại chứa đựng bên trong đầy ắp những mâu thuẫn kinh tế, chính trị xã hội và tư tưởng, nó cũng là một lò lửa sục sôi chứa đựng những uẩn ức về đời sống tinh thần của xã hội lúc bấy giờ

Freud trực tiếp chứng kiến các cuộc chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha (1898), Nhật – Nga (1904 – 1905), và cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) Đặc biệt, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất xảy ra, “lôi cuốn hàng ngàn hàng vạn nhân dân tạo ra vết thương tinh thần to lớn, sự xáo động về chính trị, kinh tế và

sự dồn nén xã hội khiến bệnh tâm thần tăng vọt Tất cả những điều kiện trên đều ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành và phát triển tư tưởng của Freud” [97, tr 11] Bên trong những thay đổi về kinh tế, chính trị xã hội ở Áo nói riêng và châu Âu nói chung là những mâu thuẫn và căng thẳng trong “đời sống tinh thần xã hội” với những thói đạo đức giả, những ức chế của đời sống tinh thần của một xã hội quan phương Tây Thanh giáo bảo thủ và chủ nghĩa bài Do thái của Công giáo thống trị Những giá trị đạo đức truyền thống bị xem thường, coi nhẹ và thay vào đó là những mốt sống mới với thói đạo đức giả Xã hội phương Tây thời kỳ này xuất hiện mâu thuẫn mới trong đời sống tâm thần: “một bên là những quan niệm truyền thống với các tập tục, thành kiến của một xã hội Thanh giáo bảo thủ, một bên là những quan niệm mới, những “chuẩn” mới” [54, tr 5 – 6]

Vấn đề tính dục và những nhu cầu tâm, sinh lý (nhu cầu sinh học) của con người trong xã hội phương Tây cuối thế kỷ XIX vẫn chưa được công khai thừa nhận Vì thế, trong xã hội và con người luôn tồn tại mâu thuẫn của một thế giới bên trong với đời sống tính dục sục sôi diễn ra với một thế giới bên ngoài với cái tôi thanh cao thuần khiết Hai thế giới này đấu tranh với nhau làm cho đời sống tâm thần con người luôn trong tình trạng căng thẳng, ức chế, dễ dẫn đến mắc bệnh tâm thần

Tóm lại, điều kiện kinh tế, chính trị xã hội phương Tây cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có những đặc trưng cơ bản sau:

Trang 36

Thứ nhất, chủ nghĩa tư bản ra đời và nhanh chóng chuyển từ chủ nghĩa tư bản

tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc cùng với sự trợ lực mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã tạo ra một khối lượng của cải vật chất to lớn cho xã hội,

do đó đời sống vật chất của con người hiện đại đã được cải thiện đáng kể

Thứ hai, những cuộc chiến tranh giành độc lập và tranh giành thị trường nổ ra

lôi kéo hàng ngàn hàng vạn nhân dân lao động tham gia, nhưng cuối cùng cái giá

mà họ phải trả đó là sự tổn thương về đời sống tâm thần

Thứ ba, trong xã hội xuất hiện nhiều mâu thuẫn mới, nhất là mâu thuẫn về đời

sống tâm thần của con người: một bên là những quan niệm truyền thống tốt đẹp, với các phong tục tập quán, đạo đức xã hội Thanh giáo với một bên là những quan niệm

về chuẩn mực, lối sống trong xã hội mới đầy sôi động

Những đặc điểm này khiến cho đời sống con người, nhất là đời sống tâm thần

ở châu Âu có sự thay đổi mạnh mẽ Con người sống trong một xã hội mới đầy sôi động như vậy cần có sự thay đổi cho phù hợp, nhưng khi những thay đổi của con người chưa thích ứng kịp thời với những điều kiện xã hội mới sẽ rơi vào tình trạng căng thẳng, mất cân bằng tâm lý Nếu không kịp thời có những phương pháp làm dịu bớt các sức ép ấy, giúp cho con người có đời sống tâm thần ổn định hơn, lâu ngày, sẽ rơi vào tình trạng mắc bệnh tâm thần Do vậy, nhiệm vụ trong xã hội lúc này bên cạnh giải phóng con người khỏi sự áp bức bóc lột về mặt thể xác, còn đặt ra vấn đề cấp bách là giải phóng đời sống tâm thần của con người

Trang 37

Những phát hiện lớn trong khoa học làm cho con người “Có bước phát triển dài về nhận thức mối liên hệ tương hỗ đối với quá trình tự nhiên” [97, tr 11], có ảnh hưởng đến sự ra đời và phát triển phân tâm học

Thuyết tiến hoá của Charles Darwin (1809 - 1882) Freud “đã từng tin tưởng một cách cuồng nhiệt và chịu ảnh hưởng sâu sắc “Thuyết tiến hóa của Darwin’” [97, tr 12], Freud viết: “Học thuyết Darwin đang rất thịnh hành lúc ấy đã cuốn hút tôi mạnh mẽ như nó có thể tạo ra một xung lực phi thường để nhận thức được muôn vật của thế giới” [88, tr 29] Do vậy, khi nghiên cứu về con người và nhân cách con người, Freud đã xem xét, đánh giá bản tính, hành vi của con người trên quan điểm sinh vật học

Với lý thuyết tiến hoá, Darwin cho rằng, loài người cũng như những sinh vật nói chung trong quá trình tồn tại và phát triển chúng luôn đấu tranh để tồn tại Trong thời kì phát triển, những cá thể nếu không thích nghi với môi trường sống sẽ

bị đào thải Ông chỉ ra, con người có hai bản năng quan trọng là bản năng duy trì nòi giống và bản năng tìm kiếm thức ăn Ngoài ra, Darwin đưa ra một số khái niệm như: xung đột tâm lí, vai trò giấc mơ và những bí ẩn của các hành vi, sự hưng phấn tình dục Lý thuyết của Darwin được Freud đánh giá cao khi ông cho rằng, lý thuyết

mà Darwin đưa ra làm cho con người có thể hy vọng vào những bước tiến phi thường trong xã hội Về phương diện lý luận, “Thuyết tiến hóa làm cho Freud vững tin rằng đã là con người tiến hóa từ giới tự nhiên, thì trên thân thể con người tất nhiên cũng bảo lưu một số bản năng có tính động vật” [97, tr 12] Freud cho rằng, tâm lý con người trong quá trình hoạt động bị chi phối bởi một số xung động bản năng có tính chất động vật nguyên thủy, và các hoạt động tâm sinh lý của con người cũng tuân theo các quy luật đó Những khái niệm, những vấn đề Darwin đưa ra đã được Freud tiếp nhận, tiếp tục nghiên cứu và phát triển một cách hoàn chỉnh trong học thuyết phân tâm học của mình

Freud sử dụng khái niệm “năng lượng và định luật bảo toàn năng lượng” của

H.Helmholtz (1821 -1894) và E.W.Brucke (1819 - 1892) vào việc nghiên cứu lý thuyết xung năng vô thức của mình H.Helmholtz xem cơ thể con người giống như

Trang 38

một hệ thống hợp nhất hai loại năng lượng: năng lượng cơ giới (điện, hoá) với các hình thức sinh lý và năng lượng tâm lý, trong đó ông coi trọng và nhấn mạnh năng lượng tâm lý và cho rằng, đây là một loại năng lượng liên hệ gắn liền với tính bản năng không thể tách rời được Hai nguồn năng lượng này trong cơ thể con người không mất đi, chúng luôn hoán chuyển, chuyển hoá lẫn nhau thông qua những hành

vi của cơ thể, nguồn năng lượng tâm lý này, được Freud tiếp thu và đưa vào trong phân tâm học gọi là libido, và nó trở thành một khái niệm trung tâm trong học thuyết phân tâm học

Brucke và Helmholtz trong quá trình nghiên cứu đã đưa ra quan điểm đồng nhất rằng, toàn bộ những năng lượng hoạt động trong sinh vật là những gì có tính chất lý hóa, sự hoạt động đó là sự tăng lên hay giảm đi của năng lượng vật lý, nguồn năng lượng này không thay đổi, nó có cả ở con người, nhờ nó mà con người có thể thực hiện các chức năng sống như tuần hoàn máu, hít thở, vận động và những hoạt động nội tiết Còn trong hoạt động tinh thần như: nhận biết, suy nghĩ, ghi nhớ, phải có một nguồn năng lượng khác ngoài nguồn năng lượng vật lý nhưng về bản chất thì nó vẫn không có gì thay đổi Freud đã tiếp thu quan điểm này của Brucke và Helmholtz vận dụng vào học thuyết phân tâm học của ông trong quá trình tìm hiểu

về vô thức

J.Muller (1801 – 1858) với “Thuyết năng lượng chuyên biệt” cho rằng, tất cả

các hành vi, hoạt động của con người và của phải phẫu học, cũng như các hiện tượng vật lý đều phải được xem xét ở góc độ sinh lý học Ông xem xét một cách chi tiết sự khác nhau trong hệ thống sinh lý của mỗi loài động vật, và các thuộc tính của chúng, ông coi giữa chúng có liên quan đến sự hiện diện của một đời sống tâm thần chung hay không Theo Muller, trong cơ thể mỗi sinh vật sống có một nguồn năng lượng mà với sự tác động vật lý thì không bao giờ có thể cảm nhận được đầy đủ

Theo “Thuyết năng lượng chuyên biệt”, khi có một sự tác động vật lý vào một giác

quan nào, thì giác quan đó bị kích thích phóng ra một năng lượng riêng vốn có làm cho ta cảm nhận được sự tác động ấy Đây là một phát hiện mà Freud đã tiếp thu trong quá trình tìm hiểu về các yếu tố tâm thần con người

Trang 39

G.T Fechner (1801 - 1877) sử dụng khái niệm “Ngưỡng cửa ý thức” khi nói

về hoạt động của ý thức Fechner xem những “cảm giác vô thức” là những trạng thái nằm dưới “ngưỡng cửa ý thức” nó gắn với những hoạt động sinh lý, là cơ sở để xuất hiện các hành vi có ý thức “Tuy nhiên chúng tôi không thể không để ý đến ý kiến của một nhà bác học thâm trầm như G.Th.Fechner: ông quan niệm vấn đề “dễ chịu khó chịu” với những nét chính rất gần với những điều mà chúng tôi đã tìm ra nhân việc nghiên cứu phân tâm học của chúng tôi” [38, tr 17] Theo G.Th.Fechner,

ý thức con người chỉ hoạt động đến ngưỡng nhất định, phần vượt ngưỡng và chịu sự chi phối bởi các yếu tố ngoài ý thức được gọi là “vô thức” Ngoài ra, những khái niệm mà Fechner đưa ra như: nguyên tắc thoả mãn, năng lượng tâm lý, đã ảnh hưởng đến sự hình thành một số khái niệm của phân tâm học Freud gọi ông là

“Fichner vĩ đại” [dẫn theo 77, tr 137]

Theodor Hermann Meynert (1833-1892), một nhà giải phẫu học và bệnh lý học thần kinh người mang hai quốc tịch Đức-Áo, được biết đến như một trong những người sáng lập của khoa học thần kinh (bệnh học thần kinh) Ông là thầy dạy Freud môn tâm thần học Meynert tìm hiểu các sự kiện tâm lý của những người mắc chứng bệnh thần kinh, cả về những yếu tố bên ngoài và cấu trúc giải phẫu bệnh bên trong của nó Meynert cho rằng, do sự xung đột tồn tại giữa vỏ não và các tiểu vùng

vỏ não, sự xung đột này xảy ra là nguyên nhân chính dẫn tới chức năng bình thường của các thành phần não bị thay đổi và bệnh tâm thần xuất hiện Meynert là người sáng lập ra tâm thần học, và xem nó là một môn khoa học chính xác dựa trên giải

phẫu; sách giáo khoa “tâm thần học” của ông được xuất bản năm 1884, một trong

những nội dung được nhấn mạnh đó là định nghĩa về “tâm thần” Meynert là nhà khoa học đầu tiên cho rằng cần khảo luận lâm sàng về bệnh của não trước, để thấy được những bệnh tâm thần mà con người mắc phải và nghiên cứu về bộ não là một

sự kết hợp nghiên cứu liên ngành lại với nhau ở giải phẫu và sinh lý, được xem là một phương pháp mới của Y học Freud coi Meynert “như một thiên tài chói lọi nhất mà ông gặp” [88, tr 30] để nói về người thầy của mình

Trang 40

Joseph Breuer (1842-1925), ở một mức độ nào đó có thể được coi là “người

mở đường” cho sự ra đời của phân tâm học Mối quan hệ giữa Freud và Breuer khá đặc biệt Breuer đã đóng một vai trò rất lớn trong những năm tháng mà hai ông cộng tác với nhau Trong quá trình điều trị cho bệnh nhân Breuer đã phát hiện ra rằng chứng loạn thần kinh có thể khởi sinh từ vô thức và quy trình sinh lý, hơn nữa, các triệu chứng loạn thần kinh có thể biến mất khi những nguyên nhân cơ bản của triệu chứng tâm thần không còn nữa Ông trao đổi những kết quả này với Freud và cùng nghiên cứu Trong khi Breuer nhấn mạnh thôi miên đồng thời tin rằng mức độ biểu hiện khác nhau của ý thức rất quan trọng trong cả hai trường hợp tâm thần và bất thường, ngược lại Freud không xem thôi miên như là phương pháp duy nhất và có

thể chữa khỏi bệnh thần kinh Vì thế, cuốn sách “Nghiên cứu về chứng bệnh Hysteria” (1895) ra đời, đánh dấu sự bất đồng quan điểm giữa hai người trong điều

trị bệnh Sự hợp tác giữa Breuer và Freud đã chấm dứt Nhưng những gì mà Freud tiếp nhận được ở Breuer là không thể chối bỏ trong quá trình xây dựng học thuyết phân tâm học

Hippolyte Bernheim (1840 - 1919), là một bác sĩ, nhà thần kinh học người Pháp Ông được biết đến với lý thuyết liên quan đến thuật thôi miên Bernheim đã

có ảnh hưởng đáng kể đến Freud, người đã đến thăm Bernheim vào năm 1889, và chứng kiến một số thí nghiệm của mình Freud đã dịch chuyên luận nổi tiếng của

Bernheim “thôi miên, ám thị và phương pháp trị liệu bằng tâm lý” (1886); trong

chuyên luận này Freud nhận xét rằng:

Đối với Bernheim, không thể nói thôi miên một cách thuần túy, mà chỉ

có thể nói về hiện tượng ám thị Ông là người say mê miêu tả tỉ mỉ hiện tượng này và từ đó rút ra một phương pháp điều trị rõ ràng Bernheim nhận thấy trong ám thị chứa đựng một quá trình tâm lý chung cho tất cả mọi người, ở cấp độ thay đổi khác nhau, dù họ là người ốm hay là người khỏe mạnh Bernheim vốn là một trong những người đầu tiên làm lung lay bức tường ngăn cách giữa tâm lý học và tâm bệnh học [88, tr 37 – 38]

Ngày đăng: 18/08/2016, 08:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Adler, J (2004), Tìm hiểu nhân cách, bản dịch của Trí Hải, Nxb Hoàng Đông Phương, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nhân cách
Tác giả: Adler, J
Nhà XB: Nxb Hoàng Đông Phương
Năm: 2004
2. Adler, Mortimer J (2004), Những tư tưởng lớn qua tác phẩm của thời đại, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng lớn qua tác phẩm của thời đại
Tác giả: Adler, Mortimer J
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2004
3. Ngọc Anh sưu tầm và biên soạn (2002), Các hình thức thờ phụng của bộ lạc, Nxb Văn hóa dân tộc – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức thờ phụng của bộ lạc
Tác giả: Ngọc Anh sưu tầm và biên soạn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2002
4. Lý Chấn Anh (2007), Nghiên cứu triết học cơ bản, bản dịch của Nguyễn Tài Thư, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu triết học cơ bản
Tác giả: Lý Chấn Anh
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2007
5. Ban tư tưởng văn hoá Trung ương (2002), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban tư tưởng văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
6. Belik, A.A (2000), Văn hoá học những lý thuyết nhân học văn hóa, Tạp chí văn hoá nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá học những lý thuyết nhân học văn hóa
Tác giả: Belik, A.A
Năm: 2000
7. Bennet, E.A. (2002), Jung đã thực sự nói gì?, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jung đã thực sự nói gì
Tác giả: Bennet, E.A
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
8. Bochenski, J.M. (1969), Triết học Tây phương hiện đại, Nxb Ca Dao, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Tây phương hiện đại
Tác giả: Bochenski, J.M
Nhà XB: Nxb Ca Dao
Năm: 1969
9. Brinton, C. (2007), Con người và tư tưởng phương Tây, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và tư tưởng phương Tây
Tác giả: Brinton, C
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2007
10. Charrier, J.P. (1972), Phân tâm học, Nxb Trẻ, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học
Tác giả: Charrier, J.P
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1972
11. Quang Chiến (1993), “Tìm hiểu quan niệm của Giaxpe về con người”, Tạp chí Triết học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quan niệm của Giaxpe về con người”, Tạp chí" Triết học
Tác giả: Quang Chiến
Năm: 1993
12. Clark, David S. (1998), Freud đã thực sự nói gì?, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Freud đã thực sự nói gì
Tác giả: Clark, David S
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1998
13. Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (2008), Triết học Tây Âu Trung cổ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Tây Âu Trung cổ
Tác giả: Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
14. Trương Chí Cương (2007), Tôn giáo học là gì, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo học là gì
Tác giả: Trương Chí Cương
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
15. Brinton, C., Wolff, R.L., Christopher, J.B. (2004), Văn minh phương Tây, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh phương Tây
Tác giả: Brinton, C., Wolff, R.L., Christopher, J.B
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2004
16. Daco, Pierre (2004), Những thành tựu lẫy lừng của tâm lý học hiện đại, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu lẫy lừng của tâm lý học hiện đại
Tác giả: Daco, Pierre
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2004
17. Dave Robinson và Oscar Zarate (2006), Nhập môn kierkegaard, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn kierkegaard
Tác giả: Dave Robinson và Oscar Zarate
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006
18. Đỗ Lộc Diệp chủ biên (2003), Âu – Mỹ - Nhật: Văn hóa và phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âu – Mỹ - Nhật: Văn hóa và phát triển
Tác giả: Đỗ Lộc Diệp chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
19. Mai Ngọc Diệp (2004), “S.Freud và những luận điểm của ông chung quanh những vấn đề liên quan đến văn hóa”, Tạp chí Thông tin khoa học, Đại học An Giang, số 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: S.Freud và những luận điểm của ông chung quanh những vấn đề liên quan đến văn hóa”, "Tạp chí Thông tin khoa học
Tác giả: Mai Ngọc Diệp
Năm: 2004
20. Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2005), Lịch sử triết học phương Tây hiện đại, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w