Với đề tài “ Đồng dao dân tộc Tày ở Việt Nam” người viết tập trung tìm hiểu, nghiên cứu những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đồng dao Tày ở Việt Nam trong cuốn sách Đồng dao Tày c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hµ néi - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng sâu sắc và tình cảm chân thành, tác giả xin trân trọng cám ơn: Khoa Văn học, Khoa Sau Đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội cùng các thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và góp ý cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với GS.TS
Lê Chí Quế, người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình tác giả nghiên cứu
để hoàn thành luận văn
Đồng thời, tác giả cũng xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến nhà văn
Hoàng Triều Ân; tác giả cuốn sưu tầm, nghiên cứu Trò chơi dân gian đồng bào miền núi Dương Sách – Dương Thị Đào; tác giả cuốn Đồng dao Tày
Hoàng Thị Cành; Thư viện Tỉnh Cao Bằng… đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu cùng bạn bè, người thân…đã thường xuyên động viên, khích lệ tác giả yên tâm học tập và nghiên cứu…
Hà Nội, ngày…tháng…năm 2013 Tác giả luận văn
Nông Thị Huế
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 4
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
4.Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 6
4.1 Phạm vi nghiên cứu: 6
4.2 Đối tượng nghiên cứu: 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp luận văn 7
7 Bố cục luận văn 8
CHƯƠNG 1 - KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI TÀY, VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ ĐỒNG DAO TÀY Ở VIỆT NAM 9
1.1 Khái quát về tộc người Tày, Văn học dân gian Tày 9
1.1.1 Khái quát về tộc người Tày 9
1.1.2 Vài nét về văn học dân gian Tày 18
1.2 Đồng dao dân tộc Tày 20
1.2.1 Khái niệm về đồng dao 20
1.2.2 Quan niệm về đồng dao Tày 23
1.2.3 Phân loại đồng dao Tày 25
1.2.4 Tác giả đồng dao dân tộc Tày 28
1.2.5 Diễn xướng đồng dao 31
1.2.6 Tính nguyên hợp trong đồng dao Tày 34
1.3 Mối quan hệ giữa đồng dao Tày và trò chơi dân gian 36
1.3.1 Khái niệm về trò chơi dân gian 36
1.3.2 Đặc điểm của trò chơi dân gian 37
Trang 51.3.3.Vài nét về trò chơi dân gian dân tộc Tày và mối quan hệ mật thiết
với đồng dao Tày 41
1.3.3.1 Vài nét về trò chơi dân gian dân tộc Tày 41
1.3.3.2 Mối quan hệ giữa đồng dao Tày và trò chơi dân gian 43
CHƯƠNG 2 - NỘI DUNG CỦA ĐỒNG DAO TÀY 49
2.1 Những bài đồng dao phản ánh về thế giới tự nhiên 49
2.1.1.Đồng dao phản ánh về thế giới động vật 49
2.1.2 Đồng dao phản ánh về các hiện tượng tự nhiên 55
2.2 Những bài đồng dao phản ánh về đời sống văn hóa xã hội người Tày 59 2.2.1 Phản ánh đời sống tinh thần, tình cảm và sinh hoạt văn hóa người Tày 59
2.2.1.1.Những bài đồng dao phản ánh tinh thần chủ nghĩa tập thể, tinh đoàn kết, lòng nhân ái, vị tha 60
2.2.1.2.Những bài đồng dao phản ánh kinh nghiệm dân gian người Tày 67
2.2.1.3.Những bài đồng dao gắn với đạo đức, văn hóa ứng xử người Tày 70 2.2.1.4.Những bài đồng dao giới thiệu ẩm thực, địa danh từng vùng của người Tày 72
2.2.2 Đồng dao gắn với các hoạt động lao động, ngành nghề 76
2.2.3 Đồng dao phản ánh những nghi lễ, phong tục tập quán của người Tày 81 2.2.4 Những bài đồng dao trêu đùa, chế giễu 89
2.3 Đồng dao Tày – trong mối quan hệ đối sánh với đồng dao các dân tộc anh em 91
2.3.1.So sánh nội dung đồng dao Tày với đồng dao một số dân tộc anh em qua sự phản ánh thế giới tự nhiên và lao động sản xuất 91
2.3.2 So sánh nội dung đồng dao Tày với đồng dao một số dân tộc anh em qua sự phản ánh về quan hệ trong đời sống xã hội 100
Trang 62.3.2.1.Về hình ảnh con người được phản ánh trong các bài đồng dao
người Tày và đồng dao một số dân tộc 100
2.3.2.2 So sánh nội dung đồng dao Tày với các đồng dao các dân tộc anh em trong quan hệ gia đình và quan hệ xã hội 106
2.3.3 So sánh mối quan hệ giữa trò chơi dân gian kèm đồng dao dân tộc Tày với một số dân tộc 113
CHƯƠNG 3 - NGHỆ THUẬT ĐỒNG DAO DÂN TỘC TÀY 119
3.1 Kết cấu 119
3.1.1 Kết cấu vòng tròn lặp đầu cuối 119
3.1.2 Kết cấu điệp đoạn, điệp khúc 120
3.1.2.1 Kết cấu điệp ngắt quãng 120
3.1.2.2 Kết cấu điệp cấu trúc cú pháp 121
3.1.3 Kết cấu liên kết theo vần 123
3.1.4 Kết cấu móc xích 125
3.2 Ngôn ngữ 127
3.2.1 Là cuốn từ điển sống chứa kho từ vựng phong phú của ngôn ngữ dân tộc Tày 127
3.2.2.Ngôn ngữ sử dụng biện pháp nhân cách hóa dày đặc 128
3.2.3 Ngôn ngữ đồng dao cô đúc, gợi hình, gợi cảm 134
3.2.4 Sử dụng các từ mô phỏng âm thanh, từ láy 135
3.2.4.1.Từ mô phỏng âm thanh 135
3.2.4.2 Sử sụng các từ láy 136
3.3 Thể thơ 139
3.3.1 Thể bốn chữ 139
3.3.2.Các thể hai, ba chữ và năm chữ 142
3.3.2.1 Thể hai chữ: 142
3.3.2.2 Thể ba chữ 144
Trang 73.3.2.3 Thể năm chữ 146
3.3.3 Thể hỗn hợp 147
3.4 Thời gian – không gian nghệ thuật trong đồng dao Tày 149
3.4.1 Thời gian nghệ thuật 149
3.4.2 Không gian nghệ thuật 153
3.5 Một số biểu tƣợng, hình ảnh trong đồng dao dân tộc Tày 155
3.5.1 Biểu tƣợng con trâu 155
3.5.2 Biểu tƣợng trăng sao 157
KẾT LUẬN 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
Trang 8MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đồng dao là một trong những di sản tinh thần qúi báu của dân tộc Việt Nam Do đó, tìm hiểu đồng dao giúp chúng ta có điều kiện tiếp cận và hiểu sâu sắc hơn về truyền thống văn hóa Việt Nam, xuôi về với cội nguồn dân tộc Chính vì thế mà việc tìm hiểu đồng dao có một ý nghĩa thiết thực hết sức to lớn
Tìm hiểu đồng dao chính là để góp phần bổ sung, làm giàu nguồn sức mạnh tinh thần cho tuổi thơ và góp phần làm sống dậy những tinh hoa văn hóa dân tộc và kêu gọi ý thức giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của nhân dân ta
Qua những bài đồng dao theo cách nói vần, đồng dao đã làm tốt chức năng biểu đạt ý, giáo dục nhận thức, bồi dưỡng tình cảm cho trẻ Sinh hoạt
đồng dao thường xuyên có tác dụng luyện trí nhớ cho trẻ em Trẻ không thuộc
bài hát thụ động mà thuộc với tất cả sự hứng thú của nó Tham gia sinh hoạt đồng dao là đứa trẻ đã bắt đầu bước vào sinh hoạt văn hóa tập thể một cách tự nguyện Tùy theo lứa tuổi, trẻ có thể chơi các trò chơi khác nhau Ngoài ra, đồng dao cũng là một cuốn từ điển sống, chứa đựng một kho từ vựng phong
phú Thông qua kho tàng từ ngữ giàu có, đồng dao giáo dục các em nhận thức
được môi trường tự nhiên và xã hội
Bên cạnh dân ca sinh hoạt của các dân tộc khác thì dân ca sinh hoạt của người Tày có mặt trong mọi khía cạnh cuộc sống của người Tày Từ lúc bước chân ra khỏi nhà đến mảnh nương, thửa ruộng để nhặt rêu bắt ốc, tìm măng hái củ,… lúc nào, nơi nào cũng phải có câu hò, tiếng hát Tiếng hát, lời
ca đã trở thành linh hồn của bản làng, là nơi thể hiện chân thành tình cảm của người Tày theo cách riêng của mình Dân ca sinh hoạt của người Tày không chỉ phong phú về nội dung, chan chứa sắc thái biểu cảm mà còn đa dạng về các
Trang 9tiểu loại Ngoài Sli, lượn, phong slư dành cho người lớn, trẻ em người Tày còn
có đồng dao
Dựa vào kết quả của các công trình nghiên cứu mà chúng tôi sưu tầm
và tìm hiểu được thì chỉ có thể kể đến một số bài viết về đồng dao về dân tộc thiểu số đăng trên các tạp chí, hoặc là những bài đồng dao chỉ dừng lại ở mức sưu tầm, giới thiệu chứ chưa có một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào về đồng dao dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Tày
Ngoài ra, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, có sự du nhập văn hóa
từ nước ngoài, đã tạo ra một nhóm giá trị mang tính thời đại, khác lạ so với những giá trị truyền thống dân tộc Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã xuất hiện một số loại hình trò chơi hiện đại, làm thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí của giới trẻ, đồng thời thực hiện chức năng phát triển nhận thức, phát triển trí tuệ cho học sinh
Tuy nhiên, trong số những trò chơi ngoại nhập, trò chơi điện tử, có không ít những trò chơi đã gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển tâm lý, ý thức của học sinh dẫn tới những hệ lụy không nhỏ tới quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, nối tiếp truyền thống văn hóa dân tộc Những trò chơi này đang dần dần lấn át, khiến cho trò chơi dân gian trở nên mờ nhạt trong xã hội hiện đại Đặc biệt, các em học sinh ở khu vực nông thôn, miền núi cũng bị ảnh hưởng, một số học sinh nghiện trò chơi điện tử dẫn đến trốn học, chơi bời lêu lổng, sa vào các tệ nạn xã hội…
Tình hình hiện nay cho thấy tiếng dân tộc ngày càng bị thu hẹp, chỉ có lĩnh vực văn học, nghệ thuật là còn chỗ cho tiếng dân tộc tồn tại, phát triển nên qua đó chúng ta thấy được tầm quan trọng và vai trò của của nền văn học nghệ thuật và văn học, văn hóa dân gian trong việc giữ gìn, phát huy một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc khi mà tốc độ mất đi những gì gọi là bản sắc, là tinh túy của dân tộc ngày càng lớn theo tiến trình của thời đại khoa học kĩ thuật thì việc
Trang 10tìm hiểu đồng dao Tày góp thêm một tiếng chuông để khơi dậy, để giáo dục cho các con em người dân tộc Tày chung tay gìn giữ ngôn ngữ, bản sắc dân tộc mình
Như chúng ta đã biết, người Tày phân bố rải rác nhiều nơi ở nước ta, tuy nhiên tập trung đông nhất và cũng là địa bàn cư trú chủ yếu của người Tày là ở khu vực miền núi phía Đông Bắc thuộc các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang…hơn nữa ở khu vực này các đặc điểm về văn hóa, văn học…được tập trung thể hiện một cách đầy đủ, rõ nét và tiêu biểu nhất
Đứng trước thực trạng đáng báo động như vậy, bản thân tôi là người con dân tộc Tày nên có mong muốn thông qua luận văn này góp một phần nhỏ
để gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa đặc sắc của quê hương đang dần bị mai một trong cuộc sống hiện đại đồng thời bản thân tôi cũng có mong muốn,
đề xuất về việc đồng dao các dân tộc nói chung và đồng dao Tày nói riêng phải được phục hồi và tiếp nối Hơn nữa, đây chính là cơ sở để lớn tìm đến với các bài đồng dao, nghiên cứu, viết lời mới, sưu tầm và sáng tạo trò chơi mới để vừa đưa đồng dao đến với trẻ, vừa thực hiện được mục tiêu giáo dục
Việc làm đó có ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo dục, phát triển ngôn ngữ, tâm lý, tính cách của trẻ, tác động sâu sắc đến tâm hồn trẻ nhỏ đồng thời
sẽ góp phần cho sự tiếp nối sức sống của đồng dao trong đời sống sinh hoạt, tinh thần của cộng đồng Đó cũng chính là sự góp phần vào việc gìn giữ, phát huy…các giá trị văn hóa dân gian ngày càng có nguy cơ bị đánh mất
Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn đề cập đến một thể loại văn học dân
gian dành cho trẻ em đó là Đồng dao dân tộc Tày ở Việt Nam làm đối tượng
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp Việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này do hoàn cảnh cũng như điều kiện về địa lý chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về đồng dao Tày ở khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc vì đây cũng là nơi mà đồng dao Tày
Trang 11mang những nét đặc trưng, tiểu biểu nhất, đại diện, khái quát cho cả đồng dao dân tộc Tày ở Việt Nam
2.Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này chúng tôi mong muốn có thể đạt được những mục đích thiết thực sau :
- Thứ nhất, nhằm đưa ra một quan niệm về đồng dao dân tộc Tày trên
cơ sở tổng hợp những ý kiến của các nhà nghiên cứu, mong rằng có thể khái quát đầy đủ những thuộc tính bản chất của thể loại này
- Thứ hai, từ những kết quả nghiên cứu thu nhận được, chúng tôi
mong rằng có thể cho người đọc phần nào thấy được những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật của đồng dao dân tộc Tày
- Thứ ba, trên cơ sở những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của đồng dao chúng tôi đi đến khẳng định giá trị đặc sắc và vai trò to lớn của tiểu loại này trong hệ thống thể loại của nền văn học dân gian nước nhà Đồng thời, công trình này cũng góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị dân gian và bản sắc văn hóa dân tộc Tày
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đồng dao có lịch sử lâu đời Nó được hình thành và phát triển cùng với
sự phát triển của xã hội Đồng dao là một bộ phận của văn học dân gian xuất hiện sớm và được lưu truyền tương đối rộng rãi Không ai trong chúng ta lúc còn bé lại không biết đến đồng dao Mặc dù vậy, chưa có một công trình nghiên cứu Folklore nào tìm hiểu đồng dao dân tộc thiểu số nói chung và đồng dao Tày nói riêng một cách chuyên sâu và hoàn chỉnh mà chỉ dừng lại ở việc sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu hay một số những bài nghiên cứu nhưng chỉ
đi sâu vào một vài khía cạnh nhỏ
Theo một số tài liệu chúng tôi có được thì có thể kể đến một số bài viết
Trang 12về đồng dao đăng trên các tạp chí:
+Triều Nguyên (2008), So sánh đồng dao Việt với đồng dao Tày, Nùng
về vần, nhịp và kết cấu, Tạp chí Văn hoá dân gian
+Tô Ngọc Thanh (1974), Đồng dao với cuộc sống dân tộc Thái ở Tây Bắc, Tạp chí Văn học
+Mông Kí Slay (1994), Ngôn ngữ trẻ thơ qua đồng dao Nùng, Tạp chí
Văn hóa dân gian
+ Lèng Thị Lan, Nhân cách hóa trong đồng dao Tày, Nùng, Tạp chí
Khoa học và Công nghệ, Tập 71, số 09, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, tr 57 -61
+ Lèng Thị Lan (2012), Diễn xướng đồng dao trong các hoạt động lao
động của trẻ em dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, Tạp chí Khoa học Công
nghệ, Tập 91, số 03, tr 33 - 37
+ Tuấn Giang với công trình nghiên cứu âm nhạc: Đặc điểm dân ca Mông Tày Nùng Thái
Bên cạnh đó là một số cuốn sách được sưu tầm và biên soạn như:
Hoàng Thị Cành (1994), Đồng dao Tày Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội
+Tô Ngọc Thanh (1994), Đồng dao Thái, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà
+ Một số bài đồng dao trong cuốn Địa chí Cao Bằng của NXB Chính trị
quốc gia (năm 2000) – Tỉnh ủy, UBND Tỉnh Cao Bằng
+ Một số bài đồng dao trong Tổng tập Văn học các dân tộc thiểu số Việt
Trang 13Với đề tài “ Đồng dao dân tộc Tày ở Việt Nam” người viết tập trung
tìm hiểu, nghiên cứu những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đồng dao
Tày ở Việt Nam trong cuốn sách Đồng dao Tày của tác giả Hoàng Thị Cành - Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, HN – 1994 và các bài đồng dao trong cuốn Địa chí Cao Bằng của NXB Chính trị quốc gia (năm 2000) – Tỉnh ủy, UBND Tỉnh Cao
Bằng
Một số bài đồng dao Tày gắn với trò chơi dân gian trong cuốn sưu tầm,
nghiên cứu Trò chơi dân gian đồng bào miền núi của đồng tác giả Dương Sách –
Dương Thị Đào (2006) đây là công trình tài trợ sáng tạo của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam
Ngoài ra, trong Tổng tập Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tập I,
Quyển 1, Nxb Đà Nẵng 2002 và một số bài đồng dao người viết đi sưu tầm
Đồng thời, do hạn chế về điều kiện, người viết trong quá trình làm luận văn chỉ khảo sát đồng dao Tày ở các tỉnh ở phía Đông Bắc, đặc biệt chủ yếu là
ở tỉnh Cao Bằng
4.2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tất cả các bài đồng dao được
trong cuốn Đồng dao Tày của Hoàng Thị Cành và một số bài đồng dao do
người viết sưu tầm thêm qua nhiều nguồn tài liệu
5 Phương pháp nghiên cứu
Mỗi phương pháp đều có những ưu đ iểm và nhược điểm riêng Bởi
Trang 14vậy, với mong muốn thu được kết quả cao nhất, ở đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Trong đó xác định một số phương pháp sau là cơ bản:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
- Phương pháp khảo sát, thống kê
Thứ nhất: Mở ra một hướng nghiên cứu để tiếp cận thế giới đồng dao Tày Việt Nam trên phương diện nội dung và nghệ thuật và tiếp tục làm sáng tỏ những đặc sắc nội dung, nghệ thuật đồng dao Từ đó, tạo tiền đề cần thiết cho những công trình nghiên cứu ở cấp độ cao hơn Hơn nữa, từ việc thấy được giá trị về nội dung, nghệ thuật đồng dao Tày cùng với ý nghĩa giáo dục to lớn đối với trẻ em, chúng tôi mong muốn các cơ quan chức năng, cơ quan có thẩm quyền và các cơ sở, các tổ chức giáo dục sẽ quan tâm, chú trọng hơn đến thể loại đồng dao và có những biện pháp, hình thức để đưa đồng dao vào học tập, vui chơi nhiều hơn nữa không chỉ trong môi trường sư phạm
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa sư phạm thiết thực Thông qua việc tìm hiểu những nét đặc sắc nội dung, nghệ thuật đồng dao sẽ góp phần giúp cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn về những nét văn hóa truyền thống của
Trang 15người Tày Từ đó, sẽ giúp học sinh có điều kiện để khám phá ra cái hay, cái đẹp của đồng dao cũng chính là khám phá ra truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình.Trên cơ sở đó mà giáo dục cho các em lòng tự hào về bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Bên cạnh đó, luận văn được hoàn thành sẽ cung cấp cho những sinh viên, giảng viên Ngữ Văn và những người yêu thích, nghiên cứu văn học dân gian có thêm một nguồn tư liệu để tham khảo
Chương 2: Nội dung đồng dao Tày
Chương 3: Nghệ thuật đồng dao Tày
Trang 16
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI TÀY, VĂN HỌC DÂN GIAN
VÀ ĐỒNG DAO TÀY Ở VIỆT NAM
1.1 Khái quát về tộc người Tày, Văn học dân gian Tày
1.1.1 Khái quát về tộc người Tày
“…Tộc người Tày thuộc ngữ hệ Nam Á, thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái ở Việt Nam, xuất hiện vào thời đại đồ đồng thau, ở miền Bắc Việt Nam, được hình thành trên cơ sở những loại hình Anhđônêđiêng bản địa, tổ tiên trực tiếp của người Nam á hiện nay, trong đó có người Kinh, Mường, Tày, Thái Yếu tố Anhđônêđiêng không phải là yếu tố ngoại lai từ một nơi nào đó
ở lục địa châu á bành trướng xuống Đông Nam á mà là một yếu tố bản địa, là loại hình Mônggôlôit phương Nam hình thành trên cơ sở hỗn chủng
Hầu hết các học giả đều thống nhất rằng, đến đời Tần - Hán, tổ tiên các dân tộc Tày - Thái ở phía đông nằm trong khối cộng đồng Tây Âu và Lạc Việt Sự khẳng định của học giả Đào Duy Anh về tổ tiên của người Tày - Thái
là Tây Âu và tổ tiên của người Việt là Lạc Việt, vẫn làm trăn trở nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn Theo Đặng Nghiêm Vạn, ngoài tổ tiên người Tày - Thái và người Việt còn có tổ tiên của các nhóm dân tộc khác trong nhóm cộng đồng Tây Âu và Lạc Việt Hơn nữa, đặc điểm lịch sử của miền Nam Trung Quốc và miền núi Bắc Bộ Việt Nam là lịch sử của những đợt di cư của các tộc người thuộc các ngôn ngữ khác nhau Kết quả của các đợt di cư rộng lớn từ thế kỉ III trước Công nguyên đến đời Tần Hán về sau đã làm cho các tộc người bản địa vùng này bị biến động, phải thiên di xuống phía nam hoặc phải dạt vào các miền rừng núi Sự hỗn nhập nhân chủng và văn hoá qua các lần di cư đã làm thay đổi cục diện và đã thúc đẩy khối Tày - Thái cổ tách làm hai vào khoảng những thế kỉ trước, sau Công nguyên Sự phân bố của khối
Trang 17Tày - Thái phía đông về cơ bản được ổn định vào đầu Công nguyên với ranh
giới khu vực là miền núi rừng Đông Bắc (Việt Bắc) ngày nay
Đây cũng chính là thời kì diễn ra quá trình hình thành nhà nước Văn Lang ở miền đất cổ Phong Châu Theo sử cũ và truyền thuyết thì lúc bấy giờ
có khoảng 15 bộ lạc đã liên kết lại để dựng nên nhà nước Văn Lang, mở đầu thời đại đầu tiên của lịch sử Việt Nam - thời đại các vua Hùng Các bộ lạc Tày - Thái cổ được coi như là một thành phần quan trọng trong sự liên minh
bộ lạc lần thứ nhất Sau thời Chiến Quốc (481 - 221 trước Công nguyên), nhà Tần thống nhất Trung Quốc và bành trướng xuống phương Nam Nhà nước Văn Lang không thể đủ sức để chống lại sức mạnh của tư tưởng "bình thiên hạ" của nhà Tần Một tình hình thực tế lúc bấy giờ là các bộ phận khác của Bách Việt đã bị Tần thôn tính đều ra nhập cộng đồng Hán tộc Nhu cầu cấp bách chống ngoại xâm đã thúc đẩy sự liên minh lần thứ hai giữa các bộ tộc Tày - Thái cổ với các bộ tộc Lạc Việt để dựng lên nhà nước Âu Lạc trên cơ sở
kế thừa và phát triển nhà nước Văn Lang Cơ sở hình thành nhà nước Âu Lạc
đã được GS Đinh Gia Khánh phân tích khá cụ thể với ba luận điểm:
- Đó là sự mở rộng liên minh bộ lạc vốn có từ thời các vua Hùng
- Nâng cao chất lượng của liên minh bộ lạc nhằm làm chủ con đường
giao thương quốc tế trên lục địa và ven biển
- Củng cố liên minh giữa bộ lạc Âu Việt và Lạc Việt để chuẩn bị đối
phó với nguy cơ xâm lược từ phương Bắc
Sự ra đời của nhà nước Âu Lạc được phản ánh trong nhiều truyền thuyết của người Tày và người Việt, xoay quanh nhân vật Thục Phán - An Dương Vương, vua nước Âu Lạc Thực, hư thế nào chưa rõ, chỉ biết rằng nước Âu Lạc ra đời là một tất yếu khách quan của lịch sử, minh chứng cho sự liên kết của những bộ tộc có cùng trình độ phát triển kinh tế và văn hoá, có cùng vận mệnh lịch sử là chống kẻ thù từ bên ngoài tới Sự liên minh của hai
Trang 18khối cộng đồng cư dân Lạc Việt và Âu Việt này có vai trò không nhỏ của mối
quan hệ tộc người Tày - Việt
Trong trường kì lịch sử chống giặc ngoại xâm dưới thời Bắc thuộc, liên minh bộ lạc giữa các tộc người chủ yếu sinh sống ở miền xuôi, miền trung du và đồng bằng châu thổ (Lạc Việt), với các tộc người chủ yếu sống ở miền rừng núi (Âu Việt) càng trở nên vững chắc Sự thực lịch sử với nhiều sự kiện từ Hai Bà Trưng cho đến Nùng Trí Cao đã khẳng định một bước phát triển mới của các bộ tộc Tày - Thái cổ qua sự củng cố ý thức tộc người để vươn lên thành một cộng đồng lãnh thổ tộc người tự cường ở vùng phía bắc Việt Nam Sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao thì lịch sử chung của tổ tiên các nhóm dân tộc Tày - Thái phía đông đã chấm dứt với sự hình thành dân tộc Choang ở Trung Quốc và sự hình thành dân tộc Tày ở Việt Nam Chính vì thế
mà học giả Đào Duy Anh đã nhận định "người Tày ở Việt Bắc nước ta ngày nay cũng cùng một tổ tiên với người Choang", "người Choang là thành phần quan trọng nhất của tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay và người Tày
là thành phần quan trọng nhất ở khu Việt Bắc nước ta ngày nay người Choang, tức là người Tây Âu (một nhóm Bách Việt) vào miền Bắc Việt Nam
thì thành các bộ lạc mà di huệ ngày nay là người Tày"
Nếu như, trong lịch sử xa xưa, có một bộ phận người Tày cổ đã cùng với các tộc người khác qua quá trình giao thoa, dung hợp văn hoá, nhân chủng
đã hoà nhập với người Việt cổ để hình thành người Việt hiện đại, thì ngược lại, vào các giai đoạn lịch sử sau này, nhất là từ thế kỉ XIII – XVIII, người Việt lại trở thành một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên diện mạo tộc người Tày hiện đại Trong nhiều thời điểm khác nhau của lịch sử, có một bộ phận người Tày được Việt hoá thì cũng không ít người Việt được Tày hoá Trong suốt gần mười thế kỉ của quốc gia phong kiến tự chủ đã có khoảng nửa triệu người Kinh lên Việt Bắc, đã bị Tày - Nùng hoá Nếu nghiên cứu một
Trang 19số gia phả của dòng họ người Tày ở Việt Bắc, chúng ta nhận thấy, có vùng người Kinh bị Tày hoá khá đậm ở xã Thạch Đam, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn có 89 gia đình thì trong đó có tới 63 gia đình Việt được Tày hoá; ở huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng nhân dân nhiều xã là con cháu của quan quân nhà Mạc hay nhà Lê ở lại, như ở thôn Phương Tiên, xã Dân Chủ có 40 gia đình trong số 149 gia đình đã Tày hoá đến 8 - 9 đời Vào những năm 80, ở Lạng Sơn - nơi có nhiều người Tày sinh sống - người ta đã tìm thấy tài liệu "Thất tộc Thổ ti" tức bảy dòng họ Thổ ti của người Tày ở đây có nguồn gốc từ người Việt ở Bắc Bộ và Trung Bộ Những cứ liệu đó từ các nghiên cứu liên ngành đã giúp chúng ta khẳng định: từ hàng ngàn năm trước, cùng với các bộ lạc Việt - Mường cổ, các nhóm Tày - Thái cổ đã thật sự tham gia vào quá trình tạo dựng nên lịch sử dân tộc cũng như văn hoá dân tộc Đặc biệt là dưới góc độ quan hệ văn hoá tộc người thì giữa người Tày và người Việt đã hình thành mối quan hệ khăng khít trên cơ sở khách quan của lịch sử và do nhu cầu
nội tại của hai tộc người Tày và Việt
Tộc người Tày không chỉ đóng góp trong việc xây dựng nền văn minh, văn hoá Việt Nam mà còn có công lao bảo vệ nền văn minh, văn hoá
Việt trước âm mưu thôn tính, đồng hoá của các thế lực ngoại bang
Các tác giả cuốn Văn hoá dân gian Tày, sau khi dẫn chứng các cứ liệu một cách khá tổng quát, đã đi đến nhận định: các cứ liệu khảo cổ học (văn hoá Phùng Nguyên), các tài liệu dân tộc học (ngọc phả đền Hùng, thần tích địa phương, địa danh ), các yếu tố văn hoá Tày - Thái trong nền văn hoá Đông Sơn, các truyền thuyết lịch sử của người Tày ở Cao Bằng (Cẩu chúa Cheng vua) và các cứ liệu dân tộc học khác trong cấu trúc thành Cổ Loa đều góp phần khẳng định sự có mặt của người Tày cổ, một tộc người bản địa trong không gian văn hoá truyền thống Việt Nam với nguồn gốc bản địa lâu đời ở
vùng Việt Bắc
Trang 20Trong cấu trúc cư dân và văn hoá Tày cổ, với các tên gọi là Âu Việt (trước Công nguyên), Ô Hử, Di Lão (thời Bắc thuộc), Tây Nguyên Man (thời Đường) và với các nhóm địa phương Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí,
tất cả đã hoà hợp trong cộng đồng dân tộc trong suốt trường kì lịch sử
Người Việt cổ cùng với các tộc người khác đã sáng tạo ra một nền văn hoá của chính mình trước khi tiếp xúc với văn hoá, văn minh ấn Độ và Trung Hoa Đó là nền văn hoá thấm đượm tri thức bản địa hay còn gọi là tri thức dân gian của các tộc người vốn đã định cư lâu đời trên vùng lãnh thổ phía bắc Việt Nam Tính bản địa trong văn hoá Tày khá đậm nét Dù có ảnh hưởng về nhân chủng, văn hoá của người Việt, người Hán và các tộc người khác ở mức nào
đi chăng nữa thì bản sắc văn hoá Tày vẫn giữ được nét đặc sắc riêng của văn hoá thung lũng, có những nét tương đồng với tộc người Nùng song lại giữ những điểm ưu thế của một tộc người chiếm số đông và giữ vai trò chủ thể của một vùng văn hoá Theo số liệu điều tra dân số công bố năm 2001 của Tổng cục thống kê thì dân tộc Tày có 1.477.514 người, tộc người có số dân đông nhất, sau người Kinh, cư trú trên một địa bàn rộng lớn từ miền thượng
du Việt Bắc đến vùng đông bắc, gồm các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh và
Lâm Đồng
Trong quá trình cộng cư lâu đời, cùng chung lưng đấu cật khai khẩn đất hoang, xây dựng bản làng để bảo vệ tổ quốc Việt Nam, giữa người Tày và người Việt đã hình thành mối quan hệ giao lưu một cách tự nhiên diễn ra trên các mặt: tộc người, văn hoá, truyền thống chống giặc ngoại xâm…” [79]
* Về văn hóa sản xuất
Từ lâu đời người Tày đã thành thạo nghề canh tác nông nghiệp, họ làm ruộng theo hai cách: chỗ trũng thấp hai vụ chiêm mùa, chỗ cao một vụ mùa Nơi đây do có vùng đổi cỏ rộng nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc
Trang 21nuôi đàn gia súc: trâu, bò…để có sức khỏe tốt phục vụ cho cày, bừa Người Tày cũng thành thạo trong việc xây dựng hệ thống phai mương, làm những gọn quay đưa nước lên tưới ruộng và lợi dụng sức nước để giã gạo Đồng bào nơi đây làm ruộng theo thời tiết âm lịch, đã biết sử dụng phâ bón cho cây trồng Trong việc làm ruộng người Tày có tạp quán đập, tuốt lúa ngay trên ruộng gặt, sau đó mới chuyển thóc về nhà phơi
Sản phẩm nông nghiệp của họ có đủ hầu hết các loại: lúa nếp, lúa tẻ, ngô, khoai lang, các loại đậu… Cùng với những sản phẩm trên đồng bào còn trồng cây ăn quả quanh vườn nhà, trên sườn đồi: hạt dẻ, lê, táo, mận, hồng…
Từ nền nông nghiệp phát triển đa dạng, đất rừng, đồi cỏ rộng người Tày còn phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm: dê, ngựa, trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng…
Người Tày hiện nay ở vùng sâu, xa vẫn đi săn bắn, tuy ở vùng thượng
du nhưng cũng khá giỏi về đánh bắt cá bằng chài, lưới…Nghề thủ công đồng bào nơi đây khá phong phú, nam nữ biết cách đan các đồ dùng bằng cót, bồ, dậu…họ tự túc được các loại vải may quần áo, làm màn, làm chăn đắp…Nhiều nơi còn nổi tiếng về dệt thổ cẩm, ngoài ra họ cũng đã mở chợ phiên để phục vụ mua bán, trao đổi hàng hóa của người dân Tày
* Văn hóa tổ chức đời sống
Gia đình người Tày là gia đình nhỏ phụ quyền, xã hội trước đây của
họ từng là xã hội phong kiến, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo nên người Tày thể hiện tính gia trưởng phụ quyền, trọng nam khinh nữ Người vợ
có vai trò quan trọng trong sản xuất, nội trợ, nuôi dạy con…nhưng quyền quyết định mọi công việc quan trọng về đối nội, đối ngoại là do người chồng Bàn thờ người Tày rất trang nghiêm hầu như phụ nữ, con gái không được bén mảng đến
Trang 22Người Tày quan hệ với nhau về mặt huyết tộc rất sâu sắc, người trưởng họ là người quan trọng và có uy quyền, họ phân biệt phân biệt trưởng thứ rõ rệt, con chú có nhiều tuổi hơn vẫn phải gọi con bác (tuy sinh sau, ít tuổi hơn) bằng anh, chị, vẫn là bậc trên
Từ bao đời nay người Tày đã hình thành tổ chức đời sống dân bản, mỗi bản người Tày gồm một số dòng họ sống quy tụ, liên kết với nhau bằng luật tục, tập quán, quyền lợi, nghĩa vụ chính trị…do ông thầu bản là người đứng đầu quản lý điều hành…
* Văn hóa vật chất
- Về nếp ăn:
Người Tày ăn cơm tẻ là chính, cơ cấu bữa ăn chủ yếu là cơm, thịt, cá…ràu xào thường cho nhiều mỡ đây là đặc trưng ở vùng rét, người Tày không ưa đồ luộc Vào các ngày Tết, lễ , cưới hỏi…thì thịt gia cầm rất nhiều
Từ lâu người Tày đã biết cất rượu từ gạo, ngô và có thói quen uống bằng bát Đàn ông Tày hút thuốc lào bằng điếu ống tre, hút thuốc lá bằng tẩu, đàn bà thì nhai trầu…
từ hai loại cây: co xỏm, co dàm), quần áo tự khâu tay
Trang 23Đi vào nhà người Tày sẽ thấy có bàn thờ tổ tiên để trên cao, trên tường thường có đại tự hoặc chữ Phụng, chữ Kính, chữ Tổ…Khi có khách đến nhà, bước lên sàn phải đến bến rửa (sích má) để rửa chân, ở đó có sẵn máng nước chảy theo ống khe suối về, rồi mới vào cửa Giữa nhà, bên bàn thờ (có vách ngăn) là bếp lửa, quanh đó là chạn bát, dụng cụ nấu nướng Trên bếp cao hơn đầu người có treo lủng lẳng nột cái giàn nhỏ (rộng khoảng 100cm x 150cm) gọi là ăn xá (gác bếp) có tác dụng sấy thịt phơi khô, tích trữ thức ăn Quanh nhà, trồng cây ăn quả, trước nhà là ao cá
* Văn hóa tinh thần
- Về hôn nhân
Thanh niên nam nữ người Tày được tự do tìm hiểu thổ lộ tình cảm với nhau nhưng hôn nhân vẫn do cha mẹ sắp đặt, người Tày có câu: “ tặt tầư nẳng tỉ” (đặt đâu ngồi đó) hay “ nhình khai chài dự” (gái bán trai mua) Nhưng hiện nay quan niệm hôn nhân người Tày đã có nhiều tiến bộ Hôn nhân thường trải qua các giai đoạn
Lễ ăn hỏi: Bước đầu tiên là dạm hỏi, việc dạm hỏi không thành lễ mà chỉ nhờ người có uy tín, đứng tuổi và có hiểu biết khá rõ về hoàn cảnh nhà trai, thay mặt nhà trai sang nhà gái bàn chuyện hôn nhân Lễ ăn hỏi được diễn rất trang trọng, lễ vật ăn hỏi: thường có mâm xôi, gà thiến luộc, hai chai
Trang 24rượu…Trong buổi lễ hai bên bàn bạc và quyết định nhiều vấn đề quan trọng: quyết định số lượng lễ vật cưới, đi sâu vào từng khoản cụ thể: tiền mặt, lợn, lễ hồi môn, ngày giờ đón dâu…hôm ăn hỏi thường cô dâu, chú rể tránh mặt Đồng thời, nhà trai lấy ngày sinh tháng đẻ của cô gái về để nhờ những người biết xem tướng số xem có hợp nhà trai không
Lễ cưới: Thường tổ chức từ tháng 7 – 8 đến tháng 2 âm lịch năm sau,
lễ cưới được tổ chức linh đình ở cả hai bên Theo tục lệ trước ngày cưới một vài hôm nhà trai phải nộp đồ sính lễ như đã thảo thuận, ngoài ra nhà trai phải
có một số vải tặng mẹ vợ gọi là rằm khấư (vải ướt khô) để trả công nuôi
dưỡng của người mẹ với cô gái, nhận vải này người mẹ sẽ đem nhuộm và khi nào con gái sinh con đầu lòng sẽ làm cho cháu một cái tã và địu Lễ cưới được tiến hành trong hai ngày, đúng ngày, đúng giờ đã định đoàn chú rể bắt đầu ra cửa đón dâu, lễ vật sang đón gồm: mâm xôi, gà, rượu, khoản tiền phong bao…bên đoàn nhà chú rể có người quan lang đứng đầu còn đại diện bên nhà gái là pả mẻ
Lễ lại mặt (tẻo slam nâu): Sau lễ cưới ba ngày, đôi trai gái đem lễ: gà, rượu, xôi, bánh…sang nhà gái làm lễ cúng tổ tiên
- Tang ma:
Người Tày quan niệm thế giới có hai bên: thế giới của người sống và chết Người chết cũng có linh hồn nên khi có người chết đồng bào nơi đây lo rất chu đáo và có nhiều nghi lễ: thủ tục nhập quan, thủ tục hành tang và chôn cất, lễ slam nâư (ba này) khay tu mạ
- Đời sống tín ngưỡng:
Người Tày quan niệm con người do một vị chú tể thiêng liêng tối cao tạo ra , ông sinh trưởng ra cả trời đất, sông núi, mây gió và con người, người Tày gọi đó là Pựt Luông và quan niệm một hiện tượng vật linh đó là phi, phi
có nghĩa rất rộng cơ thể chỉ cả thần, thánh, quỷ thần…
Trang 25Phi trên trời: then, bụt, tiên
Phi trên mặt đất: phi đin (ma đất), phi ná (ma rừng), phi slấn (ma núi)…
Phi dưới âm phủ: có phi lành và phi dữ, phi lành được thờ cúng ở gia đình, đền miếu, phi dữ phải làm lễ cúng trừ…
Việc giao cảm với thần linh người Tày có then, giàng, thầy tào
1.1.2 Vài nét về văn học dân gian Tày
Văn học dân gian người Tày rất phong phú bao gồm nhiều thể loại khác nhau: tự sự dân gian, thơ ca dân gian, lời ăn tiếng nói của nhân dân…
*Kho tàng truyện kể
Trong kho tàng tự sự dân gian thì kho tàng truyện cổ là phong phú nhất Về mảng truyền thuyết, dã sử phải kể đến một truyền thuyết đã lưu truyền trong dân gian người Tày từ bao đời nay kể về hai con người đầu tiên xuất hiện trên mặt đất này, giải thích tại sao con người sinh ra lại biết lao
động, trông cấy, chăn nuôi…đó là truyền thuyết Báo Luông – Sao Cải (Trai
Khổng Lồ - Gái Vĩ Đại), hay trong kho tàng Văn học dân gian của người Tày
Cao Bằng từ lâu đời đã có truyền thuyết về Thục Phán – An Dương Vương
(Cẩu Chủa Cheng Vùa – Chín Chúa Tranh Ngôi Vua), đến những câu chuyện
lịch sử có giá trị như truyện Trần Qúy (thế kỷ X), Truyện Khâu Sầm, Bà Hoàng…
Về truyện cổ của người Tày rất đa dạng: thần thoại, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn…Tất cả đều nhằm giải thích sự ra đời của các hiện tượng tự nhiên, của con người cùng với sự đấu tranh tinh thần trong xã hội Truyện được kể rất hấp dẫn, lôi cuốn làm toát lên tinh thần hướng thiện, lạc quan, có những truyện còn đưa thêm những câu tục ngữ, ca dao…cho thêm phần hấp dẫn, mới mẻ
Trang 26Trong vùng cư dân Tày có ba áng thơ được lưu truyền rộng rãi, được viết bằng chữ Nôm Tày: Lượn Hồng nhan tứ quý, khúc hát then Khảm Hải, Truyện thơ Nôm Tày Thị Đan đến những truyện cười dân gian: Hổ với Thỏ,
Hổ với Voi, Nàng dâu vụng, Chàng rể ngốc, Truyện anh Tráng…
* Dân ca dưới hình thức văn học
Những loại hình dân ca quen thuộc của đồng bào Tày có thể chia thành hai nhóm:
- Nhóm ca hát giao duyên: lượn, rọi, sli, vãng lai, phung slấn
Hát lượn:
Là hình thức hát giao duyên nhằm đạt đến sự tìm hiểu và xây dựng tình yêu đôi lứa, qua hát lượn người ta có thể thấy được trình độ hiểu biết, cách ứng xử và mức độ thẩm mỹ của người hát, người Tày phổ biến các loại lượn then, lượn cọi và lượn slương
Rọi, sli:
Trang 27Rọi là lời nói trao đổi tâm tình giữa đôi nam nữ thanh niên Tày có vần, điệu song không chặt chẽ, đối đáp, ứng khẩu tức thì Rọi nói như hát, hát như nói.[57, tr 601]
1.2 Đồng dao dân tộc Tày
1.2.1 Khái niệm về đồng dao
Đồng dao là một bộ phận của văn học dân gian xuất hiện rất sớm và được lưu truyền rất rộng rãi Đó là những bài hát mà chúng ta quen hát nơi cửa miệng từ khi còn rất nhỏ, là những lời ru ngọt ngào dịu êm khi còn nằm trong nôi, là những câu đố giản dị, lí thú,Ngay từ lúc ấu thơ, trong mỗi chúng ta không
ai không thuộc một vài bài đồng dao và không thông thạo một trò chơi đồng dao Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu
về đồng dao một cách chuyên sâu và hoàn chỉnh
“Đồng dao, đồng diêu”: câu hát chơi, con nít hay hát Đó là định nghĩa đơn giản nhất của Huình Tịnh Paulus Của, trong đại Nam Quấc Âm Tự
Vị, cuốn tự điển đầu tiên của Việt Nam, xuất bản năm 1895 tại Sài Gòn 36 năm sau, Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến đức khởi thảo Việt Nam Tự điển,
Trang 28Mặc Lâm xuất bản tại Hà Nội năm 1931 và Nhà In Imprimarie Trung Bắc
Tân Văn phát hành, cũng định nghĩa ngắn gọn Đồng dao: câu hát trẻ con Hơn thế kỷ sau, tức là cả 103 năm sau, Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn
Như Ý, do Bộ Giáo dục và đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành
năm 1998, định nghĩa đồng dao: lời hát truyền miệng của trẻ con, nhưng
không đưa ra một câu nào…”[82]
Công trình nghiên cứu và sưu tầm đồng dao sớm nhất là của học giả
Nguyễn Văn Vĩnh trong "Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt" Tuy vậy, trong bài viết của mình, Nguyễn Văn Vĩnh không dùng thuật ngữ "đồng dao"
mà gọi là "Trẻ em hát trẻ em chơi" Theo ông, những "câu hát trẻ con" bao
gồm những câu vừa hát vừa chơi, sau là những câu hát không phải có cuộc chơi và tiếp nữa là đến những câu hát ru trẻ ngủ Những nhà nghiên cứu đồng dao sau này đều sử dụng tư liệu từ công trình sưu tập của Nguyễn Văn Vĩnh Như vậy, những tác phẩm văn học dân gian được trẻ em truyền miệng, được trẻ em hát, trẻ em chơi và được dùng để ru trẻ ngủ đều được học giả Nguyễn Văn Vĩnh xếp vào chung một loại tác phẩm [61, tr.19]
Định nghĩa đồng dao Dương Quảng Hàm (1943), trong Việt Nam văn học sử yếu đã định nghĩa đồng dao là “các bài hát của trẻ con”, với nghĩa của
từ dao là “bài hát không có chương khúc” Tô Ngọc Thanh (1974), ở bài
“Đồng dao với cuộc sống dân tộc Thái ở Tây Bắc”, đã viết: “Trong môi trường sinh hoạt, mỗi bài đồng dao là một thể kết hợp văn hoá - văn nghệ dân gian Thông thường nó gồm ba yếu tố: trò chơi, lời ca văn vẻ, làn điệu âm nhạc Cũng có một số bài chỉ có hai yếu tố, là lời ca và âm nhạc Mỗi yếu tố hợp thành đã đóng vai trò của một thành viên không thể cắt rời của thể kết
hợp đó” Từ điển tiếng Việt (1994) nêu định nghĩa của đồng dao: “lời hát dân
gian truyền miệng của trẻ em , thường kèm một trò chơi nhất định” Các trích
Trang 29dẫn trên cho thấy, đồng dao gồm phần lời ca, phần làn điệu âm nhạc, và có thể kèm phần trò chơi.[85]
Các tác giả Doãn Quốc Sĩ (1969), Nguyễn Tấn Long - Phan Canh đã gọi đồng dao là ca dao nhi đồng Khái niệm “ca dao nhi đồng” gần đây ít thấy được nhắc đến, có lẽ vì khái niệm này thiếu chính xác Mới đây, Nguyễn Nghĩa Dân, ở bài viết “Tìm hiểu về hệ thống đồng dao Việt Nam”, đã đưa bộ phận “những lời ca dao cho trẻ em” thuộc đồng dao Tác giả lí giải: “Xét đến cùng, điều phân biệt giữa ca dao cho trẻ em với ca dao cho người lớn là ở chỗ:
ca dao cho người lớn có một bộ phận quan trọng nhất, chiếm tỉ lệ cao nhất trong kho tàng ca dao Việt Nam là ca dao về tình yêu nam nữ và ca dao về hôn nhân gia đình” Theo sự nhìn nhận này thì chẳng những bộ phận ca dao trẻ em thuộc kho tàng ca dao sẽ rất lớn mà còn nảy sinh vấn đề quan trọng khác, đó là giữa ca dao và đồng dao có một phần chung (phần giao giữa chúng), không thể tách bạch, vì ca dao về người lớn không chỉ là chuyện tình yêu và gia đình Phần giao này sẽ tạo ra sự lúng túng, nếu làm việc sưu tầm thì dễ dẫn đến chuyện tuỳ tiện muốn chọn ra sao thì chọn: còn nếu làm việc nghiên cứu thì có nhiều khả năng sai lạc, vì phải đương đầu với một đối tượng không thuần nhất [85]
Vũ Ngọc Phan trong cuốn "Hợp tuyển thơ văn Việt Nam - Văn học dân gian" có hai mục: Hát vui chơi và hát ru em, gồm những tác phẩm dân
gian có chung đối tượng phục vụ là đồng dao mà không giới thuyết về tên gọi của hai loại tác phẩm này
Vũ Ngọc Khánh không gọi "bài hát trẻ em" mà dùng thuật ngữ "đồng dao" để chỉ những lời ca dân gian trẻ em và loại trừ các câu sấm mà trước đây
các nhà nho xếp vào đồng dao Theo tác giả, đồng dao cũng là một thể loại văn
học dân gian tồn tại bình đẳng với các thể loại khác: tục ngữ, ca dao
Trang 30Trần Hòa Bình trong bài viết "Từ những bài đồng dao đến thơ cho các
em hôm nay" phát biểu ý kiến : "Trong kho tàng văn nghệ dân gian của dân tộc nào cũng có những bài hát dành riêng cho trẻ emđó là những bài đồng dao" Như vậy, với tác giả này, những tác phẩm dân gian nào được trẻ em ca
hát thì gọi là đồng dao, hay nói cách khác, đó là những "bài hát trẻ em"
Cuốn "Văn học dân gian Việt Nam", tác giả Hoàng Tiến Tựu trong khi
nghiên cứu về thể loại ca dao đã dành một phần giới thiệu tương đối ngắn gọn
về đồng dao Theo tác giả, đồng dao còn có thể gọi là ca dao trẻ em và không xếp bài hát ru em hay ru con vào bộ phận này Tác giả đưa ra định nghĩa vắn tắt
"Đồng dao bao gồm tất cả các hình thức ca hát truyền thống của trẻ em trong nhân dân thuộc các lứa tuổi khác nhau" Vậy, tuy coi đồng dao là một bộ
phận của ca dao, song trong quá trình phân tích, phân loại, tác giả đã mở rộng
sang cả một số thể loại văn học dân gian khác, chẳng hạn như : vè, sấm
Một quan niệm tương đối thống nhất và cụ thể về đồng dao là của
Trần Đức Ngôn trong cuốn "Văn học thiếu nhi Việt Nam" Theo tác giả, "đồng dao không thể được xây dựng như một thể loại Văn học dân gian riêng biệt Đây là một khái niệm tập hợp, bao gồm những tác phẩm từ vài thể loại khác nhau Chúng bao gồm ca dao cho thiếu nhi (những bài hát ru, những bài ca
vui chơi) và những bài vè cho thiếu nhi" [61, tr 20 -21]
Điểm qua những quan điểm, cách nhìn nhận của các nhà nghiên cứu
về đồng dao chúng tôi nhận thấy, có rất nhiều ý kiến, cách đánh giá, cách nhìn nhận khác nhau, mỗi ý kiến đưa ra đều có cơ sở riêng Chính vì thế mà việc
đưa ra khái niệm về đồng dao là chưa có sự thống nhất
1.2.2 Quan niệm về đồng dao Tày
Cùng với nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc Trong tiến trình phát triển văn hoá Việt
Trang 31Nam, những giá trị văn nghệ dân gian có vai trò đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển từng dân tộc Đồng dao của dân tộc Việt nói chung và các dân tộc thiểu số nói riêng đều được coi là những giá trị tinh thần truyền thống và luôn là một phương tiện quan trọng mang ý nghĩa giáo dục và nhận thức
Theo Hoàng Thị Cành tác giả cuốn Đồng dao Tày cho rằng: “ Đồng dao là di sản folklore của dân tộc Tày, chứa đựng bản sắc dân tộc Tày Loại thể này chỉ dừng ở “ca dao” chứ chưa phải “dân ca” Nó chỉ ở mức xướng lên tự
do những bài có câu dài câu ngắn khác nhau mà vẫn có vần tuy không chặt chẽ lắm Nó là bài ca của nhi đồng, ca được nhưng không có điệu khúc nhất định
Nó chưa có làn điệu tương đối cố định như dân ca, là bài hát dân gian truyền miệng Ta có thể xếp cả những bài “ru em” vào loại đồng dao nhưng cũng không có làn điệu cố định, mỗi người ru theo một điệu ru không giống nhau tuyệt đối” [11, tr 137 – 138]
Trong lời giới thiệu cuốn Đồng dao Tày tác giả đã nhìn nhận: “ Đồng dao - Đó là những bài ca vui của lứa tuổi nhi đồng đã xuất hiện tự nhiên được xướng lên từ những cuộc sinh hoạt vui chơi của tập thể nhi đồng Những bài
ca ấy có vần, có điệu ít nhiều, tuy không chặt chẽ lắm Hoặc đó là những bài hát của các bậc cha mẹ, anh chị thương quý các em mà đặt nên lời ru, những bài đồng dao cho lứa tuổi nhi đồng Đồng dao dân tộc Tày thường tập trung biểu thị tình cảm của tuổi thơ với tự nhiên, với loài vật Ngoài ra là những bài dùng trong vui chơi tập thể, hoặc những bài dỗ em, ru em ngủ ”
Và “Đồng dao dân tộc Tày thực chất là những bài ca dao của tuổi thơ, với những hình ảnh đẹp đẽ đã nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ của các em phát triển lớn lên từ lòng tôn kính cha mẹ, tình yêu thiên nhiên, từ tấm lòng vị tha, lòng nhân ái, tình yêu lao động Đó là di sản văn hóa một vùng, mang
Trang 32bản sắc dân tộc đậm đà ” [10, tr 5 -6]
Còn trong cuốn sách sưu tầm, nghiên cứu Cách nói truyền thống của người Tày – Nùng Cao Bằng - Nét đẹp văn hóa trong ứng xử của đồng tác giả Dương Sách – Dương Thị Đào đưa ra quan niệm về đồng dao: Đồng dao là hình thức nói có vần có điệu của trẻ con (trẻ dưới 10 tuổi) vừa chơi vừa reo hò, nói có vần có điệu kèm theo [56]
Trên cơ sở kế thừa, tổng hợp những kết quả của các nhà nghiên cứu về
đồng dao đi trước chúng tôi xin đưa ra quan niệm về đồng dao Tày: “Trong kho tàng văn học dân gian của người Tày thì đồng dao chiếm một vị trí quan trọng
Đó là những câu, những bài ca của trẻ nhỏ được xướng lên một cách tự nhiên
có vần có nhịp điệu tuy nhiên kết cấu còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ Đồng dao Tày gồm những bài không kèm trò chơi và những bài có kèm trò chơi Với những bài đồng dao có trò chơi dân gian kèm theo thì giữa chúng có mối quan
hệ gắn bó mật thiết, không tách rời và mang nét đặc trưng riêng của người Tày
Có thể coi đồng dao Tày là thế giới được thu nhỏ của cộng đồng người Tày thông qua lăng kính trẻ thơ Đồng thời, những bài đồng dao còn là nơi lưu giữ
và bảo tồn những giá trị về văn hóa, những tri thức dân gian quý báu…mang đậm bản sắc dân tộc Tày ”
Quan niệm về đồng dao dân tộc Tày nhìn chung cũng giống như đồng dao các dân tộc khác tuy nhiên khi đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu thì có những nét riêng biệt, nó điển hình cho di sản văn hóa một vùng, là những giá trị lành mạnh cho đồng dao người Tày, mang đậm đà bản sắc dân tộc
1.2.3 Phân loại đồng dao Tày
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về đồng dao các tác giả đã có ý thức phân chia đồng dao ra những kiểu, những dạng riêng để thuận lợi hơn cho công việc nghiên cứu Tuy nhiên với thể loại này đến nay vẫn chưa có sự
Trang 33thống nhất về cách phân loại Những nhà nghiên cứu về đồng dao bằng quan niệm riêng của mỗi người lại đưa ra những cách phân loại khác nhau, xét trên nhiều tiêu chí…Phân loại đồng dao nói chung và đồng dao Tày nói riêng là việc làm không hề đơn giản bởi khái niệm về đồng dao chưa được thống nhất
hơn nữa “Đồng dao không được xác định như một thể loại văn học dân gian riêng biệt Đây là khái niệm tập hợp những tác phẩm từ vài thể loại khác nhau Chúng bao gồm ca dao cho thiếu nhi (những bài hát ru, những bài ca dao vui chơi) và những bài vè cho thiếu nhi” Mặt khác, đồng dao còn là
những câu, những bài được xướng lên một cách tự do, thoải mái của con trẻ nên rất khó khăn cho người tìm hiểu, nghiên cứu để đưa ra cách phân loại hợp
lý và đi đến thống nhất
Đứng trước khó khăn như vậy, mỗi nhà nghiên cứu về đồng dao lại cố gắng để đưa ra những cách phân loại hợp lý nhất theo quan niệm riêng, chúng tôi điểm qua một số những cách phân loại sau:
Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu đã
phân loại đồng dao:
- Bộ phận đồng dao gắn với công việc trẻ em phải đảm nhiệm hằng ngày như việc chăn trâu, bò, việc giữ em
- Bộ phận đồng dao gắn với các trò chơi trẻ em
- Bộ phận đồng dao gắn với nhu cầu hiểu biết, học hỏi, mở mang trí tuệ
- Sấm truyền, sấm ký do trẻ em hát [61, tr.24]
Còn Nguyễn Văn Vĩnh lại phân chia như sau:
- Trước hết là những câu vừa hát vừa chơi
- Sau là đến những câu hát không phải cuộc chơi
- Thứ ba nữa là đến những câu ru trẻ ngủ [61, tr 23]
Trang 34Hay trong cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt tác giả đưa ra
cách sắp xếp:
A Đồng dao (xếp theo chủ đề)
+ Về thế giới quan ta và cuộc sống
+ Quan hệ gia đình và xã hội
+ Lao động và nghề nghiệp
+ Châm biếm và hài hước
B Đồng dao – Chị ru em
C Đồng dao – Hát vui chơi [61, tr 24]
Với riêng đồng dao Tày bài viết Câu đố và đồng dao Tày của Lục Văn Pảo trong cuốn Văn hóa dân gian Cao Bằng cho rằng: Đồng dao của người
Tày có thể chia thành hai loại lớn
- Loại thứ nhất do những lớp người sống ở tuổi nhi đồng hát là chính
- Loại thứ hai có thể không phải là nhi đồng mà là các phụ huynh hát cho những người từ tuổi hai, ba đến tuổi nhi đồng nghe Và căn cứ phân chia theo đối tượng sử dụng như vậy thì ông đã chia đồng dao Tày thành mấy loại như sau:
Đồng dao chủ yếu do nhi đồng hát
+ Đồng dao hát để chơi trò bịt mắt bắt dê
+ Người anh, người chị hát ru em mình [45, tr 128]
Từ cơ sở những cách phân chia của những nhà nghiên cứu về đồng dao ở trên chúng tôi đưa ra cách phân chia về đồng dao Tày như sau:
Trang 35Thứ nhất, căn cứ vào chức năng diễn xướng
+ Hệ thống những bài đồng dao không có trò chơi dân gian kèm theo + Hệ thống những bài đồng dao có trò chơi dân kèm theo
Thứ hai, căn cứ vào nội dung phản ánh:
+ Những bài đồng dao phản ánh về thế giới tự nhiên
+ Những bài đồng dao phản ánh về đời sống xã hội người Tày
1.2.4 Tác giả đồng dao dân tộc Tày
Quá trình chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu về đồng dao Tày thì nhận thấy những bài đồng dao ra đời là của các tác giả dân gian đó là những sản phẩm tinh thần thuộc về nhân dân lao động, ban đầu có thể là sáng tác của một cá nhân nào đó nhưng qua thời gian, qua hình thức truyền khẩu từ người này qua người kia, từ vùng này sang vùng kia đã có nhiều sửa chữa, bổ sung sao cho phù hợp hơn với mỗi nơi nên trong mỗi bài đồng dao có dị bản khá nhiều và cuối cùng trở thành những sáng tác tập thể Với hệ thống những bài đồng dao có tên tác giả là không có
Việc tìm hiểu tác giả những bài đồng dao Tày không hề dễ dàng, bởi rất khó để nhận định đâu là bài đồng dao người lớn sáng tác và đâu là do trẻ
tự sáng tác Để thực hiện công việc này chúng tôi căn cứ vào chính nội dung phản ánh cùng với hình thức nghệ thuật trong đồng dao Tày để đưa ra những
ý kiến ban đầu
Trong bài viết Nét đẹp của tâm hồn thơ ngây trong đồng dao dân tộc Tày của Hoàng Thị Cành đã khẳng định tác giả các bài đồng dao Tày: “ Trước hết và chủ yếu là tuổi thơ sáng tác cho tuổi thơ; thứ đến phải là người lớn sáng tác cho các em” [11, tr 139 – 140]
Thứ nhất, về đồng dao do người lớn sáng tác cho trẻ em
Căn cứ và dựa vào nội dung phản ánh trong đồng dao Tày thì có rất nhiều bài mang nội dung về tri thức dân gian, đề cập đến những triết lý mà
Trang 36với nhận thức cũng như tư duy non nớt của trẻ là quá giới hạn Đáng chú ý là nhóm những bài đồng dao phản ánh về nghi lễ, phong tục người Tày hay những câu thần chú (người Tày gọi là mẳn)…Người Tày với quan niệm vạn vật hữu linh, quan niệm thiên về duy tâm và thông qua những biện pháp tín ngưỡng, tổ tiên người dân tộc tin rằng thần linh là lực lượng phù trợ hiệu nghiệm trong cuộc sống…Những bài đồng dao này với trẻ là chưa đủ sự hiểu biết tường tận, sâu xa, gốc rễ nhưng từ nhỏ ngay trong gia đình các em được tiếp xúc, chứng kiến những nghi lễ, tập tục…nên với lứa tuổi của các em chỉ
có thể cảm nhận, được trực tiếp chơi khi tái hiện qua các trò chơi dân gian kèm lời đồng dao nhưng chức năng chủ yếu của nó chỉ là chơi để phục vụ trẻ đồng thời cũng thấy được dụng ý của tác giả dân gian sử dụng trò chơi như một hình thức sáng tạo để bảo tồn, lưu giữ
Hơn nữa, đối tượng chính của đồng dao là trẻ em nên những bài đồng dao do người lớn sáng tác để phục vụ cho nhu cầu chơi đùa nội dung phải phù hợp với tâm sinh lý và trình độ nhận thức Nhất là trong sinh hoạt gia đình, qua những bài hát ru do người lớn sáng tác và dạy lại các em để khi ông, bà hay bố, mẹ các em vắng nhà, đi làm đồng…thì các em sẽ thay người lớn vai trò trông và ru em ngủ Trong đồng dao Tày hát ru em có hai loại, có bài là hát ru người bà, người mẹ…
Ứ, ứ bấu nòn cáy tót tha
Bấu nòn ma khốp cổn
Nòn mẻ pây rẩy au qua
Nòn đây mẻ pây nà au luổm
Đảy mẻ luổm pác đeng
Au mà chò lục eng chắng cọm [45, tr 134]
Trang 37Dịch: ( À ơi/ Không ngủ gà mổ mắt/ Không ngủ chó liếm đít/ Ngủ để
mẹ đi nương lấy dưa/ Ngủ để mẹ ra đồng bắt muỗm/ Được con muỗm răng đỏ/ Đem về dỗ trẻ nín ngay)
Hay những bài là người anh, người chị ru em mình ngủ:
Nòn đắc noọng nòn đí
Nòn thả mí pây tổng au pja
Nòn thả à pây nà au luổm
Luổm cỏm mà hất vầư
Luổm lầu mà mẳm noọng
Ớ noọng ới ới nòn
Lắp tha nòn hẩư thí
Nòn thả mí pây tổng
Những bài đồng dao với nội dung trên chỉ có thể là do người lớn đặt lời cho trẻ bởi vì với lứa tuổi nhỏ như vậy các em chưa thể đủ khả năng để tự sáng tác
- Thứ hai, đồng dao do trẻ em sáng tác
Đồng dao nghĩa là ca dao nhi đồng, hay chính là lời ca dân gian của trẻ em vì vậy ở đây, chủ thể sáng tạo, sử dụng, lưu truyền và tái tạo các lời đồng dao này là trẻ em Trong quá trình vui chơi với nhau các em đã tự xướng lên những lời ca tự do, rất đáng yêu, ngộ nghĩnh, phù hợp với lứa tuổi cũng như trình độ nhận thức của các em Trong thế giới quan của trẻ ở độ tuổi này, trẻ chỉ cần quan sát cuộc sống xung quanh mình mà chưa cần hiểu và lý giải tại sao, chỉ cần thấy vui, nghĩ đến đâu, nói đến đấy Đôi khi nói ngược đời, nói khuếch nói khoác, nói những việc đẩu việc đâu chẳng ăn nhập gì với nhau, lúc này nói thế này, lúc sau đã có thêm có bớt để ra một bài khác Đứa này nói một, đứa kia chêm thêm vào, đứa nữa đọc câu khác
Trang 38Đồng dao và trò chơi trẻ em được tiếp thu bằng ấn tượng về ngoại vật chứ không phải bằng lý luận nên những bài các em tự sáng tác đều phù hợp với trí lực của các em, không hề có bóng dáng tư duy người lớn ở trong đó
1.2.5 Diễn xướng đồng dao
Diễn xướng trong môi trường lao động
Với không gian của bản làng, rừng núi, ruộng đồng, nương rẫy, và môi trường của xã hội nông nghiệp nên trẻ em Tày từ khi sinh ra đã gắn bó, sống hòa nhịp vào môi trường lao động Ở đây, trong môi trường lao động, trẻ
em không phải là đối tượng lao động chính mà trẻ trong các bài đồng dao chỉ
có mối quan hệ hữu cơ với các hoạt động thực tiễn khi trẻ tham gia lao động sản xuất
Điển hình cho những bài đồng dao trong môi trường lao động đó là hệ thống bài đồng dao gọi con vật: con trâu, con bò hay những trò chơi: xay thóc, giã gạo, đánh cá, nấu rượu, được các em mô phỏng lại và chơi đùa rất vui vẻ, tạo không khí sôi động, giúp các em làm việc có hiệu quả hơn như bài
Câừ thua mừa kin ẹm mẹ [75]
Dịch: (Ù ì xay thóc/ Làm rượu đi bán/ Chăn trâu lấy vợ/Làm giống hai con/Ai thua về bú tí mẹ…)
Diễn xướng trong môi trường tự nhiên
Đây được coi là môi trường diễn xướng tiêu biểu cho sinh hoạt đồng dao của trẻ nhỏ, thời gian và địa điểm để các em hát đồng dao chơi đùa rất đa dạng, có thể ở bất kì đâu, miễn là phù hợp Nhất là vào những đêm trăng sáng
Trang 39các trẻ em Tày thường cùng nhau chơi đùa và cất lời đồng dao Mời trăng ngay tại nhà sàn:
Hai ơi hai
Tốc lồng mà hử khỏi
Khỏi nhằng ỉ nhằng eng
Khỏi tò cheng bấu đảy
Khỏi nhằng hảy kin nồm [57, tr 596 – 597]
Dịch: (Trăng ơi trăng/ Trăng hãy rơi xuống đây/ Tôi còn bé còn nhỏ/ Chẳng tranh nổi bạn bè/ Tôi còn nhè đòi bú)
Hay các em gọi nhau lại chơi trò Ú tim (trốn tìm) ở xung quanh nhà hay ở chỗ nào mà các em có nơi ẩn nấp:
Dịch: (Xếp thứ tự/ Đến dự ống/ Chống cán dao/ Ngựa thắng yên/ Đan
rễ răm/ Một cành tre/ Đè cành trúc/ Quay long lốc/ U úp)
Và đến những trò chơi ngộ nghĩnh khi các em đi đường hay tranh nhau đi trước, vừa cùng nhau tranh bước vừa hát vang bài đồng dao Pây tàng (Đi đường) rất vui nhộn:
Pây cón cón
Kin tỏn khẩu lam
Trang 40Pây chang chang
Kin ràng khẩu mẩu
Pây lăng lăng
Kin năng vỏ hẩu [10, tr 64]
Dịch: (Đi trước trước / Được ăn đoạn cơm lam/Đi giữa giữa /Được ăn bữa cơm thơm/Đi sau chậm trễ/Chỉ ăn da người hủi
Đến những những buổi chăn trâu ven rừng, trẻ em thường bắt được
những con bọ măng màu nâu, có vòi cứng, chân có gai, cánh cứng, thân bóng
nhẵn và đẹp Bọ măng đục vòi vào măng lấy chỗ đẻ trứng, cây măng chỉ có chết Trẻ em bắt bọ măng rồi buộc chỉ vào vòi, hoặc luồn kim qua đít, buộc chỉ để chơi Con bọ măng bay vù vù phát ra âm thanh êm ả từ đôi cánh rung Khi mỏi bọ măng nghỉ bay, trẻ em cầm đầu dây giật giật đồng thời cùng đồng thanh ca bài “Bọ măng chăm hay lười” để nhắc nó tiếp tục bay
Quắng xắc quắng dạn
Quắng khảu bản phầy phiâu
Quắng khảu lầu phầy mẩy
Quắng tẻm tẩy bố thư
Quắng mì rèng quắng pứ [10, tr 42]
Dịch: (Bọ măng chăm, bọ măng lười/ Bọ măng vào bản lửa thiêu/ Bọ vào nhà lầu lửa đốt/ Bọ măng châm đuốc không nên/ Bọ măng có sức bền thì giang cánh)
Những trò chơi này được diễn ra trong không khí sôi động, vui tươi…Các em cùng nhau chơi say sưa ở mọi nơi, mọi lúc, nếu thấy trò này hết hứng thú lại rủ nhau cùng chơi trò khác, cuộc chơi các em cứ thế kéo dài…trong môi trường tự nhiên không gò bó, thoải mái cho các em hoạt động vui chơi hết mình, không cần biết đến thời gian