Sự biến đổi của mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc trong thời đại ngày nay .... Xuất phát từ những lí do trên, ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội, 2012
Trang 2MỤC LỤC
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Kết cấu của đề tài 10
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC TÀY Ở VÙNG ĐÔNG BẮC 11 1.1 Nguồn gốc lịch sử và quá trình hình thành 11
1.2 Địa bàn cư trú và truyền thống đấu tranh 19
1.3 Văn hóa 22
1.3.1 Văn hóa vật chất 22
1.3.2 Văn hóa tinh thần 26
CHƯƠNG 2: TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VÀ LỄ HỘI VỀ NGƯỜI ANH HÙNG LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC TÀY Ở VÙNG ĐÔNG BẮC 38
2.1 Truyền thuyết dân gian về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc 38
2.1.1 Tình hình sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu truyền thuyết dân gian Tày 38
2.1.2 Đặc điểm của truyền thuyết dân gian về người anh hùng của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc 45
2.2 Lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc 61
2.2.1 Tình hình giới thiệu và nghiên cứu lễ hội của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc 61
2.2.2 Phân loại lễ hội của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc 63
2.2.3 Đặc điểm của lễ hội về người anh hùng lịch sử của người Tày ở vùng Đông Bắc 66
Trang 3CHƯƠNG 3: VAI TRÒ QUA LẠI VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VÀ LỄ HỘI VỀ NGƯỜI ANH
HÙNG LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC TÀY Ở VÙNG ĐÔNG BẮC 72
3.1 Vai trò của truyền thuyết dân gian đối với lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc 72
3.2 Vai trò của lễ hội đối với truyền thuyết về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc 74
3.3 Sự phản ánh người anh hùng lịch sử dân tộc Tày 75
3.4 Sự biến đổi của mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc trong thời đại ngày nay 94
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 107
1 Phụ lục 1: Kết quả khảo sát mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc hiện nay 107
2 Phụ lục 2: Tư liệu ảnh 115
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn hóa dân gian là một dòng chảy mạnh mẽ và vô tận trong đời sống dân tộc Văn hóa dân gian bao gồm ba thành phần: văn học dân gian, nghệ thuật biểu diễn, tạo hình dân gian và các yếu tố thuộc về truyền thống, tinh thần, tâm linh Ba thành phần này vừa có tính độc lập tương đối vừa có mối liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau Do vậy, khi nghiên cứu văn học dân gian, phải đặt nó trong mối quan hệ tổng hòa với các thành phần khác
Truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, có nguồn gốc phát sinh và phát triển gắn với sự phát triển của dân tộc Việt Nam
Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội đã được các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu mới chỉ xem xét mối quan
hệ đó ở phạm vi văn học dân gian và lễ hội của người Việt Vấn đề đó ít và hầu như chưa được quan tâm thỏa đáng ở phạm vi văn học dân gian và lễ hội của các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Tày
1.2 Người Tày có số dân đông nhất trong số các dân tộc thiểu số ở nước ta, cư trú ở hầu khắp các địa phương trong cả nước nhưng chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam Trải qua sự phát triển thăng trầm của lịch sử
xã hội, dân tộc Tày đã tự tạo sự đề kháng để bảo tồn bản sắc văn hóa của riêng mình Dân tộc Tày được coi là chủ thể văn hóa vùng Đông Bắc, có ảnh hưởng tới các dân tộc khác trên nhiều phương diện: ngôn ngữ, văn hóa…
1.3 Dân tộc Tày có đời sống văn hóa vô cùng đặc sắc Văn hóa dân gian Tày giữ vị trí quan trọng trong tổng thể văn hóa dân gian Việt Nam Trong đó, phải kể đến các lễ hội về các anh hùng lịch sử mà các nhân vật này
đã từng đi vào truyền thuyết dân gian Truyền thuyết và lễ hội của người Tày cùng phản ánh các anh hùng lịch sử Sự thờ phụng người anh hùng đã trở thành một thứ tín ngưỡng có sức ảnh hưởng phổ biến đối với người dân vùng
Trang 5Đông Bắc Vậy, có mối quan hệ nào giữa truyền thuyết và các lễ hội ấy không? Nếu có, thì đó là quan hệ gì? Chúng gắn bó với nhau như thế nào trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển? Chúng có ảnh hưởng gì tới văn hóa của các dân tộc khác ở cùng địa bàn cư trú? Đó là những vấn đề mà chúng tôi quan tâm
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành tìm hiểu mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Đây là hướng nghiên cứu đặt văn học dân gian trong tổng thể văn hóa dân gian
2 Lịch sử vấn đề
Khác với văn học viết, văn học dân gian không đông cứng trên văn bản
mà tồn tại ở trạng thái động, tức gắn liền với sinh hoạt mọi mặt của nhân dân
và tham gia vào những sinh hoạt đó với tư cách là một thành phần, một nhân
tố cấu thành tổng thể Việc sưu tầm, ghi chép các tác phẩm văn học dân gian của người đời sau thực chất chỉ là một khoảnh khắc cố định hóa văn bản trong toàn bộ đời sống của tác phẩm Thực tế đời sống của các tác phẩm văn học dân gian là chúng nằm trong môi trường đời sống văn hoá dân gian
Xét đến cùng, văn học dân gian là một bộ phận của văn hóa dân gian
Do vậy, khi nghiên cứu về văn học dân gian, các tác giả chú ý tới mối quan hệ tổng hoà giữa tác phẩm văn học dân gian với nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật tạo hình (vũ đạo, âm nhạc, hội họa…), với những yếu tố thuộc về truyền thống, tinh thần, tâm linh như phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội… Chúng ta đặt những tác phẩm văn học dân gian vào môi trường diễn xướng, môi trường lưu truyền tức là chúng ta đặt tác phẩm văn học dân gian trong văn hoá dân gian, trong môi trường văn hoá truyền thống
Nhận thấy sự gắn bó chặt chẽ giữa văn học dân gian với các vi hệ khác
của văn hóa dân gian như thế, chúng tôi chọn đề tài Mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc làm báo cáo tốt nghiệp chương trình đào tạo cao học Trong khi
Trang 6chúng tôi tìm hiểu về vấn đề này, những công trình, bài viết của các tác giả đi trước rất quý báu đối với tác giả luận văn Có thể tổng thuật ý kiến của họ theo từng cụm vấn đề và theo trình tự thời gian như sau:
2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội nói chung
Năm 1971, trong cuốn Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình
tự sự dân gian do Viện Văn học tổ chức biên soạn, GS Kiều Thu Hoạch công
bố bài viết “Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong kiến” Tác giả có nhận xét: “Một đặc điểm của truyền thuyết anh hùng chống xâm lược của ta là thường gắn liền với các cuộc hội mùa và nghi lễ tế thần ở các đình chùa, đền miếu [17; tr 63]
Năm 1973, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương đăng bài “Tìm hiểu quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và diễn xướng phong tục” trên Tạp chí Văn học Trong bài viết này, tác giả quan niệm diễn xướng là một bộ phận của hội làng, mang tính chất và ý nghĩa là những lễ tiết vì nó được gắn với thần thoại, truyền thuyết Quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và diễn xướng giống như quan hệ giữa tích và trò Mối quan hệ ấy tạo nên một phong tục đặc biệt trong các hội làng là lệ tục Tác giả cũng lưu ý: “Những diễn xướng lễ tục chúng ta được biết đều không tái hiện toàn bộ thần tích hay truyền thuyết mà chỉ tái hiện một tình tiết nào đó” [45; tr 102] Tác giả đã phân loại các hình thức diễn xướng tín ngưỡng đa dạng thành ba nhóm chính: diễn xướng canh tác sản xuất và tín ngưỡng phồn thực, diễn xướng sinh hoạt văn hóa phong tục, diễn xướng lịch sử Cuối cùng, tác giả khẳng định: “Diễn xướng tín ngưỡng hội làng còn là một phương tiện bảo lưu thần thoại, truyền thuyết có hiệu lực” [45; tr 107]
Năm 1996, trong công trình Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt
và hội lễ về các anh hùng, TS Lê Văn Kì đã góp thêm tiếng nói khẳng định
truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian và hội lễ là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc biệt Trong quá trình lịch sử của dân tộc, nhiều
Trang 7hội lễ cầu mùa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước đã dần được bổ sung thêm lớp ý nghĩa ca ngợi các anh hùng chống ngoại xâm Từ đó, tác giả đưa
ra những nhận xét khá toàn diện về mối quan hệ giữa truyền thuyết và hội lễ
về người anh hùng Cụ thể, tác giả chỉ ra rằng: “Truyền thuyết và hội lễ cùng phản ánh nhiều nhân vật, nhiều sự kiện lịch sử” [11; tr 70]; truyền thuyết về người anh hùng là một lý do cho sự nảy nở và ngày càng phát triển của hội lễ
về người anh hùng; truyền thuyết là cái sườn, cái khung cố định hóa tính tổ chức của hội lễ; mỗi hội lễ thường chỉ phản ánh một phần của cuộc đời người anh hùng; hội lễ có ưu thế hơn truyền thuyết trong việc phản ánh người anh hùng nhờ sự tác động trực quan và không khí thiêng liêng của hội lễ; nhưng
“có những chi tiết, có những hành động của người anh hùng, hội lễ không thể hiện được hết hoặc nếu thể hiện cũng sẽ ít thành công” [11; tr 105]
Như thế, mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội nói chung đã có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Đặc biệt, mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng đã được tác giả Lê Văn Kì khảo cứu một cách công phu, hệ thống
2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian
và lễ hội về các anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
Mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Cụ thể, có thể kể đến các công trình như:
- Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2007, Khảo sát nhóm truyền thuyết Nùng Trí Cao và lễ hội đền Kì Sầm ở Hòa An - Cao Bằng, Luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Văn học dân gian, Đại học Sư phạm I Hà Nội
- Trần Duy Phương, 2008, Truyền thuyết Vũ Thành và lễ hội đền Hả - Lục Ngạn, Bắc Giang, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học dân gian, Đại
học Sư phạm Thái Nguyên
- Sở Văn hóa – Thông tin Thái Nguyên, 2001, Núi Đuổm và Dương Tự Minh, Tái bản lần thứ nhất
Trang 8Ở cả ba công trình này, các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về từng vị anh hùng lịch sử cụ thể của dân tộc Tày (Nùng Trí Cao, Vũ Thành – Thân cảnh Phúc, Dương Tự Minh), ở từng địa phương cụ thể mà chưa đưa ra được những nhận định có tính quy luật về mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc nói chung
Như vậy, qua tổng thuật ý kiến của các nhà khoa học như trên, chúng tôi nhận thấy mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc đã được quan tâm giới thiệu
và nghiên cứu Tuy nhiên, sự nghiên cứu đó mới chỉ dừng ở mức độ cụ thể, chưa được khảo cứu một cách hệ thống và khoa học
3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về các anh hùng lịch sử của người Tày ở vùng Đông Bắc – nghĩa là xét xem giữa những truyền thuyết và lễ hội đó có cái gì giống nhau, cái gì khác nhau, cái gì liên quan đến nhau có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau được?
Cụ thể, đó là các mục đích sau đây:
- Tìm hiểu sự gắn bó giữa truyền thuyết và lễ hội về các anh hùng lịch
sử của người Tày ở vùng Đông Bắc trong quá trình nảy sinh, tồn tại, vận động
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 9Đối tượng nghiên cứu mà đề tài hướng tới là mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về các anh hùng lịch sử của người Tày ở vùng Đông Bắc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi dành sự quan tâm cho đối tượng nghiên cứu ở:
- Truyền thuyết dân gian của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
- Lễ hội về các anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Tuy nhiên, để có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề nghiên cứu, khi có điều kiện, chúng tôi sẽ liên hệ đến một số truyền thuyết và
lễ hội khác của dân tộc Tày và của các dân tộc khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có sử dụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp điều tra xã hội học
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã đi điền dã tại những địa bàn lưu truyền các truyền thuyết dân gian và có diễn ra lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Chúng tôi đã phỏng vấn, phát phiếu điều tra tới nhiều đối tượng, thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau để khảo sát về sự biến đổi của mối quan hệ giữa hai vi hệ văn hóa trong đời sống hiện nay
5.2 Phương pháp hệ thống
Chúng tôi coi truyền thuyết và lễ hội dân gian về người anh hùng của dân tộc Tày ở Đông Bắc là những hệ thống Từ đó, chúng tôi hướng tới sự liên hệ giữa các thành tố trong từng hệ thống và giữa hai hệ thống này với nhau Đó sẽ là cơ sở cho một cái nhìn đa chiều, tức phát hiện ra cái giống nhau trong những cái khác nhau để tìm ra cái phổ biến, cái có tính quy luật; phát hiện ra cái khác nhau trong những cái giống nhau để tìm ra cái đặc biệt, sắc thái riêng, cái mới ngoài quy luật Cả hai điều này đều cần thiết và bổ
Trang 10sung cho nhau để tạo nên mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở Đông Bắc
5.3 Phương pháp loại hình
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi nhằm nhận thức truyền thuyết và
lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở Đông Bắc thông qua việc khám phá các yếu tố cấu thành cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố đó và giữa hai thành tố của văn hóa là truyền thuyết và lễ hội trong sự vận động của không gian và thời gian
5.4 Phương pháp lịch sử văn hóa
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để nghiên cứu lịch sử văn hoá dân tộc Tày với tư cách là "cái tổng thể", tức nghiên cứu diện mạo, tính chất, đặc trưng, giá trị của văn hoá Tày và sự chuyển biến kế tiếp nhau từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác trong khung cảnh chung của lịch sử hình thành và phát triển tộc người
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng phương pháp này để nghiên cứu lịch
sử của từng thành tố chuyên biệt của văn hóa dân gian Tày, cụ thể là truyền thuyết và lễ hội về người anh hùng lịch sử
5.5 Phương pháp phân tâm học
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi tìm hiểu phương thức tồn tại của truyền thuyết và lễ hội, đi tìm và giải mã cấu trúc vô thức trên/ trong/ qua truyền thuyết và lễ hội theo một hệ thao tác ngược, tham chiếu đối tượng nghiên cứu trên phông nền là văn hóa truyền thống, vô thức tập thể, đặc điểm lịch sử xã hội tộc người: truyền thuyết – lễ hội về các anh hùng lịch sử – văn hóa tín ngưỡng
Trang 11các phương diện vai trò qua lại và sự biến đổi của mối quan hệ giữa hai vi hệ văn hóa này
7 Kết cấu của đề tài
Được thể hiện trong 116 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bản luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Khái quát về dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
Chương 2: Truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở Đông Bắc
Chương 3: Vai trò qua lại và sự biến đổi của mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
Ngoài ra, bản luận văn còn có phần phụ lục
Trang 12CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC TÀY Ở
VÙNG ĐÔNG BẮC
1.1 Nguồn gốc lịch sử và quá trình hình thành
Dân tộc Tày là một cộng đồng tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái “Thời Chu Tần, các dân tộc thuộc ngôn ngữ Tày – Thái và nhiều dân tộc khác nữa cư trú ở miền nam Trung Quốc và miền bắc Việt Nam được gọi chung là Bách Việt; thời Tần có tên gọi là Tây Âu – Lạc Việt; thời Lưỡng Hán có tên gọi là Ô Hử; thời Nam Bắc triều có tên gọi là Lý, Lạo, Lang; thời Tống xuất hiện các tên gọi Thổ, Cháng và thời Minh, tên Cháng trở nên phổ biến” [14; tr 22]
Theo tác giả Nguyễn Thị Yên trong công trình Then Tày [46], Bách
Việt là tổ tiên của các tộc người thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau thuộc
cả hai nhóm văn hóa ngôn ngữ là Nam Á và Nam Đảo Cư dân Bách Việt được hình thành từ thời Hạ Thương, cư trú chủ yếu ở phía nam sông Trường Giang Thời Xuân Thu chiến quốc, các cư dân Việt đã lập nên hai nước Việt, Ngô Năm 473 trước công nguyên, nướcViệt tiêu diệt nước Ngô Năm 323 trước công nguyên, nước Sở tiêu diệt nướcViệt Dưới thời Tần Hán, Việt tộc phân hóa rồi hợp lại, gọi là Bách Việt, gồm: Đông Việt ở Chiết Giang, Mân Việt ở Phúc Kiến, Nam Việt ở Quảng Đông, Lạc Việt ở Quảng Tây và Bắc Việt Nam, Điền Việt ở Vân Nam, Quỳ Việt ở Tứ Xuyên… Khoảng năm 221 trước công nguyên, hầu hết đất đai của người Việt đều bị nhà Tần chinh phục Đông Âu, Mân Việt dần dần bị Hán hóa Người Tây Âu, Lạc Việt đã chống lại quân Tần, chiến thắng quân Tần và thành lập được những vương quốc độc lập
Đến những thiên kỉ cuối cùng trước công nguyên, miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam đã là địa bàn cư trú của người Tây Âu, Lạc Việt Người Tây Âu – Lạc Việt chính là tổ tiên của người Thái ở Vân Nam, người Choang ở Quảng Tây, người Lê ở đảo Hải Nam, người Chủng Chá, Bố Y ở Quý Châu, người Tày, Nùng, Kinh ở Việt Nam
Trang 13Như thế, người Tày cổ vốn là cư dân bản địa lâu đời, xuất hiện ở vùng Đông Bắc Việt Nam từ rất sớm, có thể từ cuối thiên niên kỉ I trước Công
nguyên Các truyền thuyết Pú Lương Quân, Cẩu chủa cheng vua nói về sự có
mặt của họ từ những thời kì xa xưa ở Việt Nam và những công tích của họ trong xây dựng đất nước Người Tày cổ là một nhánh của cộng đồng người Việt cổ Vào thời dựng nước, cư dân của nước Văn Lang, Âu Lạc là người Việt cổ gồm hai thành phần chính là người Việt trồng lúa ở đồng bằng gọi là Lạc Việt, người Việt ở miền núi gọi là Âu Việt Âu Việt là tổ tiên của dân tộc Tày, mà một số nhà khoa học vẫn quen gọi là người Tày cổ Khi Thục Phán – vua của nước Nam Cương đánh chiếm nước Văn Lang đã hợp nhất Lạc Việt
và Âu Việt, lập nên nước Âu Lạc, đóng đô tại Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội ngày nay), có thể những bộ phận người Tày cổ ở vùng thượng du Bắc Bộ đã hòa hợp vào người Việt - Mường ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ để hình thành dân tộc Việt hiện đại Bộ phận người Tày cổ ở lại miền núi chính là tổ tiên người Tày hiện nay
Lịch sử hình thành của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái đánh dấu hai lần thiên di lớn theo hướng Tây Nam và Nam Lần thiên di thứ nhất là vào nửa cuối thiên kỉ thứ I trước công nguyên, lần thiên di thứ hai là vào những thế kỉ cuối của thiên kỉ thứ I và đầu thiên kỉ thứ II sau công nguyên Hai cuộc thiên di lớn đó cùng với những cuộc thiên di nhỏ lẻ, mang tính chất địa phương khác đã dẫn tới sự giao lưu, tiếp biến và hỗn hợp về nhân chủng, văn hóa giữa các dân tộc với nhau Kết quả của những biến động trên là khối Tày – Thái có sự phân tách làm hai vào khoảng đầu công nguyên: nhóm Tày – Thái ngành phía đông và nhóm Tày – Thái ngành phía tây Điểm cực nam của địa vực cư trú của ngành Tày – Thái phía đông là vùng núi rừng Việt Bắc
Dân tộc Tày thuộc nhóm Tày – Thái ngành phía đông, sinh sống ở vùng Lưỡng Quảng Trung Quốc, vùng biên giới Đông Bắc Việt Nam, thuộc
bộ phận người Tày – Thái có tên gọi là Man – Lão
Trang 14Trên đây, chúng tôi dùng danh từ người Tày cổ để phân biệt với người Tày hiện đại, tức người Tày ở Đông Bắc Việt Nam ngày nay
Thời Đường – Tống (thế kỉ VI - XII), ở người Tày cổ có sự hình thành nên các bộ lạc và liên minh bộ lạc do một dòng họ lớn đứng đầu, tiêu biểu như: họ Ninh ở vùng động Như Tích (Quảng Ninh) và châu Vĩnh An (Quảng Đông), họ Vi ở Tú Lăng, Lộc Châu, Tư Bình (Quảng Tây), Tô Mậu (Đình Lập – Lạng Sơn) Từ khoảng thế kỉ VII trở đi, thủ lĩnh của các dòng họ nói trên liên tiếp nổi dậy chống lại triều đình nhà Đường, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao
Năm 1038, Nùng Tồn Phúc, thủ lãnh châu Thảng Do chiếm các châu của các thủ lãnh lân cận và xưng vua là Chiêu Thánh hoàng đế, đặt tên nước
là Trường Sinh, không nộp cống xưng thần với Đại Cồ Việt Chẳng bao lâu, nước này bị nhà Lý tiêu diệt Nùng Trí Cao, con của Nùng Tồn Phúc, sau này cùng mẹ từ động Lôi Hỏa trở lại châu Thảng Do, dâng biểu chịu thần phục Đại Cồ Việt Vua Lý Thái Tông phong cho Trí Cao chức Thái bảo và cho giữ châu Quảng Nguyên Sau này muốn độc lập, Nùng Trí Cao tự đổi châu thành nước Đại Lịch (còn gọi là Đại Lí quốc, liên hệ với nước Đại Lí gốc Thái ở Vân Nam, trước kia gọi là Nam Chiếu) Nhà Lý mang quân đánh, bắt sống được Trí Cao mang về kinh sư Sau vua tha tội, lại cho giữ châu Quảng Nguyên như cũ, phụ thêm cho bốn động Lôi Hỏa, Bình An, Bình Đà và châu
Tư Lang (nay là Trùng Khánh, Cao Bằng) Nhưng Trí Cao vẫn giữ nguyên ý nguyện độc lập nên đã liên kết với những người đồng tộc ở cùng Tả Giang lập
ra nước Nam Thiên, lấy niên hiệu là Cảnh Thụy Ông trở thành thủ lĩnh của các dân tộc Tày, Nùng, Choang ở Đông Bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc Sau, Nùng Trí Cao tiến hành chiến tranh chống lại nhà Tống, chiếm cứ được các vùng Ung Châu, Hưng Châu, Ngô Châu, Quảng Châu Nhưng cuối cùng, Nùng Trí Cao bị nhà Tống đánh bại (1053)
Trang 15Sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao, giữa nhà Lý và nhà Tống xảy ra chiến tranh và đi đến một cuộc điều đình Sau cuộc điều đình này, biên giới Việt Trung được phân định rõ ràng hơn Các triều đình phong kiến Việt Nam
và Trung Quốc tổ chức cai trị nhân dân ở các vùng biên giới một cách chặt chẽ hơn Từ đó, dân tộc Choang ở Trung Quốc và Tày ở Đông Bắc Việt Nam hình thành và phát triển trong những điều kiện khác nhau Đó chính là cơ sở
để phân tách khối Tày – Choang để hình thành nên người Tày hiện đại ở Việt Nam ngày nay
Trải qua lịch sử hàng nghìn năm, do hiện tượng hòa hợp dân tộc diễn ra trên những sự kiện có thuộc tính xã hội và hiện tượng sinh học trên con người
cụ thể, dân tộc Tày đã dần dần có sự thay đổi về thành phần Về cơ bản, dân tộc Tày ở Việt Nam hiện nay là sự hợp thành của bốn thành phần chính là: bộ phận người Tày bản địa (người Tày cổ), bộ phận người Tày gốc Kinh, bộ phận người Nùng hóa Tày, bộ phận người Tày thuộc các nhóm đồng tộc đến
từ Trung Quốc Người Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam hiện nay chủ yếu là
sự kết hợp của ba nhóm Tày bản địa, Tày gốc Kinh và Tày gốc Nùng Ở mỗi tỉnh trong vùng, sự kết hợp giữa các thành phần trên lại có mức độ đậm nhạt khác nhau Cụ thể:
Bộ phận người Tày bản địa: Vùng Đông Bắc, hay hẹp hơn là Việt Bắc
là địa vực cư trú của người Tày cổ, hay chính là Tày bản địa Các cứ liệu lịch
sử, khảo cổ học, dân tộc học, truyền thuyết dân gian đã chứng minh điều đó
Ở Lạng Sơn, Cao Bằng, các nhà khoa học đã phát hiện các di chỉ khảo cổ học thuộc văn hóa Bắc Sơn, ở Bắc Kạn, nhân dân địa phương cũng tìm ra nhiều công cụ lao động của người nguyên thủy như rìu, bôn có vai có nấc ở xã Đông Phúc, Hoàng Trĩ (Ba Bể), Bằng Thành (Pác Nặm)… Một số cứ liệu lịch
sử và truyền thuyết Cẩu chủa cheng vua còn cho phép ta đoán định rằng: cuối
thế kỉ III trước công nguyên, thủ lĩnh của người Tày cổ là Thục Phán đã làm vua nước Nam Cương, gồm miền tây tỉnh Quảng Tây và Cao Bằng ngày nay,
Trang 16với kinh đô là Nam Bình, tức Cao Bình (Hòa An – tỉnh Cao Bằng) Thục Phán đánh chiếm nước Văn Lang, là nước láng giềng bị suy yếu, hợp nhất hai
bộ lạc Âu và Lạc, thành lập nước Âu Lạc, lấy ngôi hiệu là An Dương Vương, đóng đô tại Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội ngày nay) Những cứ liệu này đã cho thấy sự có mặt từ rất sớm của người Tày cổ ở khu vực Đông Bắc Người Tày có mặt ở đây trước người Nùng, nên thường chiếm những vùng đồng ruộng thấp Từ sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao (thế kỉ XI), biên giới Việt Trung được quy định rõ ràng hơn, người Tày dần tách ra khỏi người Choang
và dần hình thành dân tộc Tày hiện đại
Bộ phận người Tày gốc Kinh: Người Kinh lên sinh sống ở vùng người Tày, bị đồng hóa thành người Tày vì những lí do sau:
Sau cuộc khởi nghĩa của Nùng Trí Cao, nhà Lý và các triều đại phong kiến tiếp đó (đặc biệt là triều Lê) đã tổ chức cai trị nhân dân ở vùng biên giới một cách chặt chẽ hơn bằng cách thực hiện chế độ lưu quan (phái các vị quan lại người Kinh lên thống trị ở miền núi) Các vị quan khi lên cai trị vùng Tày thường đem theo cả gia quyến, binh lính, phu phen tạp dịch… lên chiêu dân lập ấp và trở thành quý tộc địa phương, cha truyền con nối cai trị từng vùng Trong quá trình cư trú lâu đời tại địa phương, những người Kinh này dần bị Tày hóa Chẳng hạn, đời vua Trần Hiến Tông (1328 – 1341), quan văn Thiều Thốn được cử lên giữ Đoàn Thành (Lạng Sơn), quan võ Nguyễn Công Ngân vốn là người Nghệ An được cử lên cai trị châu Thất Nguyên, em là Nguyễn Thành Du kế tục làm tri châu Thất Nguyên Nay, ở vùng Thất Khê có dòng họ Nguyễn Công, Nguyễn Khắc là con cháu của các vị lưu quan này Hay ở Bắc Kạn có Đại quận công Nông Đại Bảo vốn là người Kinh, mang họ Nguyễn, quê ở Nghệ An, năm Giáp Tý đời vua Lê Nhân Tông (1445) lên trấn ải tại Bắc Kạn, sau bị Tày hóa và đổi sang họ Nông Đến nay, hầu hết con cháu của Đại quận công Nông Đại Bảo đều cư trú ở xã Lương Thượng – huyện Na Rì
Bộ phận người Tày gốc Kinh còn xuất phát từ nguồn binh lính đi dẹp loạn ở miền núi, sau đó ở lại địa phương kết hôn với người miền núi, sinh cơ
Trang 17lập nghiệp tại đây, con cháu nhiều đời bị Tày hóa Chẳng hạn, ở làng Vị, xã Hoàng Đồng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn có dòng họ Nguyễn vốn là con cháu Bình Ngô thượng tướng quân Nguyễn Cẩm Miên (quê ở Nghệ An), năm Thuận Thiên thứ hai (1429) được triều đình cử lên Lạng Sơn đánh giặc Ở Cao Bằng hiện nay có dòng họ Đinh ở xã Tiên Dao (nay là xã Tiên Thành, huyện Phục Hòa) là con cháu tướng Đinh Văn Tả; dòng họ Hoàng ở xóm Lam Sơn (xã Hồng Việt, huyện Hòa An) là con cháu tướng Hoàng Triều Hoa Hai vị này đều là các tướng quân đời Lê lên dẹp nhà Mạc rồi ở lại
Các cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến trong nước nhằm tranh chấp quyền lực cũng có ảnh hưởng nhất đinh tới lịch sử hình thành của dân tộc Tày hiện đại Trong cuộc chiến tranh ấy, thế lực phong kiến suy yếu phải chạy lên miền núi, thay tên đổi họ để sống lẫn vào với cư dân bản địa, tránh bị khủng bố Sự kiện lịch sử nổi bật có ảnh hưởng đến việc hình thành dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc là cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn Lê – Trịnh và Mạc kéo dài gần suốt thế kỉ XVII Khi nhà Mạc thất thế ở miền xuôi
đã phải chạy lên chiếm đóng Cao Bằng (1595 – 1667) Năm 1667, nhà Mạc diệt vong, Mạc Kính Vũ chạy sang Trung Quốc, con cháu và dư đảng của nhà Mạc phải sống mai danh ẩn tích, đồng hóa với người Tày, góp phần tạo nên một bộ phận lớn người Tày gốc Kinh ở Cao Bằng, Lạng Sơn
Ngoài ra, bộ phận người Kinh hóa Tày còn bao gồm các thầy đồ miền xuôi lên miền núi dạy học và nhân dân miền xuôi bị nạn đói kém, loạn lạc, phải chạy lên miền núi, ở lại địa phương, làm ăn lâu đời rồi bị đồng hóa thành người Tày
Như thế, từ thế kỉ XI trở đi, cùng với việc biên giới Việt Trung được quy định rõ ràng hơn và việc củng cố quyền lực nhà nước phong kiến tập quyền của các triều đại, dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc đã được hình thành trên cơ sở giao lưu, tiếp biến về văn hóa, chính trị, kinh tế với người Việt
Bộ phận người Tày gốc Nùng: Người Tày và người Nùng đều có cùng một nguồn gốc, có nhiều điểm tương đồng về ngôn ngữ và văn hóa Do đó,
Trang 18khi người Nùng di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam, trong quá trình cộng cư của người Nùng và người Tày đã xảy ra hiện tượng Nùng hóa Tày Trong lịch
sử, triều Nguyễn đã có chủ trương đổi người Nùng ở Cao Bằng thành người Thổ, tức Tày bản địa (năm Minh Mệnh thứ 13) Theo đó, những người Choang từ Trung Quốc sang Việt Nam được trên 200 năm và thì gọi là Tày Những nhóm Nùng đến sau hoặc đến từ lâu đời nhưng sống tụ cư, giữ được những đặc điểm dân tộc sẽ hình thành dân tộc Nùng hiện đại Hiện tượng Nùng hóa Tày khá phổ biến ở các địa phương như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn
Tóm lại, người Tày ở khu vực Đông Bắc Việt Nam hiện nay là sự kết hợp của ba bộ phận: Tày bản địa, Tày gốc Kinh và Tày gốc Nùng Ngoài ra, ở Quảng Ninh còn có người Phén - một bộ phận người Tày thuộc các nhóm đồng tộc đến từ Trung Quốc Tuy nhiên, nhóm này không nhiều Việc tìm hiểu sự kết hợp của các nhóm Tày ở mỗi khu vực địa lí khác nhau như trên rất
có ý nghĩa trong việc đem đến cái nhìn rõ ràng hơn về điểm khu biệt trong văn hóa của người Tày ở các vùng khác nhau Xét từ nguồn gốc, dễ nhận thấy đặc điểm nổi bật trong văn hóa của người Tày ở vùng Đông Bắc là sự giao thoa của các yếu tố văn hóa Kinh – Tày – Nùng Điểm khác biệt của người Tày Đông Bắc với người Tày ở các khu vực khác là sự tiếp thu yếu tố Kinh trong văn hóa của họ
Về tên gọi, tộc danh Tày đã xuất hiện từ lâu đời Theo tác giả Hà Đình
Thành trong công trình Văn hóa dân gian Tày – Nùng ở Việt Nam, Tày là tên
gọi “có nguồn gốc chung của nhiều dân tộc thuộc nhóm Thái – Choang ở Nam Trung Quốc và Đông Nam Á, như: Tai, Tay, Táy, Thai…, đều có nghĩa
là người” [28; tr 26] Cũng có ý kiến khác cho rằng tộc danh Tày xuất phát từ
ý nghĩa chỉ cư dân làm nghề lúa nước với nông cụ tiêu biểu là cái cày Trong tiếng Tày – Thái, “cái cày được viết là Mạc Thay hay Thây, khi đọc thì biến
Trang 19âm thành Tày hay Thái Tày được dùng làm tên gọi chính thức cho dân tộc Tày ở Việt Nam từ sau năm 1945” [40; tr 48]
Dân tộc Tày còn có tên gọi khác là Thổ với nghĩa là “người vốn ở đất này từ lâu Tuy nhiên, tộc danh này không chỉ có ở người Tày mà còn là tên gọi của một số cư dân bản địa khác” [28; tr 26]
Người Tày bao gồm 4 nhóm địa phương là Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa
Dí Dân tộc Tày có số dân đông nhất trong số các dân tộc thiểu số ở nước ta Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 1999, hiện có khoảng 1 477 514 người Tày sinh sống trên đất nước ta, chiếm gần 1,94% tổng dân số toàn quốc Người Tày có địa bàn cư trú ở hầu khắp các địa phương trong cả nước nhưng chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam và một số tỉnh thuộc Tây Nguyên Ở vùng Đông Bắc, người Tày tập trung đông nhất ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên Cụ thể, theo kết quả điều tra dân số năm 1999 của Tổng cục Thống kê [32], tình hình phân bố dân cư của người Tày ở các tỉnh đó như sau:
Trang 201.2 Địa bàn cư trú và truyền thống đấu tranh
Người Tày cư trú chủ yếu ở vùng Đông Bắc Đây là vùng bao gồm cả miền núi và trung du, khác với vùng Tây Bắc là đơn vị miền núi thống nhất Đông Bắc là vùng có tính chất tiếp giáp giữa miền núi và miền xuôi, Trung Quốc và Việt Nam, miền núi và biển Đông Do đó, vùng Đông Bắc “có tính chất mở hơn vùng Tây Bắc” [15; tr 15] Với địa hình núi non hình vòng cung
và các con sông đều chảy ra biển, “Đông Bắc đã trở thành vùng núi đất mở từ rất sớm, giao lưu thông thương với miền xuôi và miền biển, tạo điều kiện giao lưu văn hóa Bắc Nam, Nam Bắc từ lâu đời” [15; tr 16 – 17]
Vùng Đông Bắc – địa bàn cư trú chủ yếu của người Tày là vùng có vị trí chiến lược quan trọng trong việc củng cố an ninh quốc phòng của Việt Nam Lịch sử ghi nhận nhiều trận đánh lớn giữa nước ta và các thế lực xâm lược tại nơi đây Trong đó, tiêu biểu là các trận Như Nguyệt, trận Bạch Đằng trận Chi Lăng, … trong các cuộc kháng chiến chống quân Tống thời nhà Lí, chống quân Nguyên Mông thời nhà Trần, chống quân Minh thời nhà Lê… Trong các cuộc chiến đó, giặc ngoại xâm thường chọn con đường xâm lược là
đi qua vùng Đông Bắc Đó là đường bộ qua Lạng Sơn, đường bộ ven biển ở Quảng Ninh, và đường biển trên vịnh Bắc Bộ rồi cũng đổ bộ vào Quảng Ninh
Vùng dân tộc Tày trước đây là địa bàn chính chống xâm lăng dưới nhiều triều đại phong kiến Trong lịch sử, nhiều lần các thế lực xâm lược phương Bắc đã thâm nhập vùng này trước tiên Là chủ nhân sớm nhất của vùng Đông Bắc, người Tày giữ vai trò quan trọng trong đấu tranh chống ngoại xâm Thực tế, trong quá trình dựng nước và giữ nước, đấu tranh giành độc lập, dân tộc Tày đã có những đóng góp hết sức to lớn trong việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ cùng biên cương phía Bắc của Tổ quốc, chống lại sự bành trướng của các thế lực phong kiến ngoại bang Cụ thể:
- Vào những thiên kỉ cuối cùng trước công nguyên, người Tây Âu, Lạc Việt đã cùng hợp sức chống lại sự xâm lược của nhà Tần Kết quả của sự liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung đó là sự ra đời của nước Âu Lạc
Trang 21- Thế kỉ thứ VI, Lý Bôn xuất quân từ vùng người Lạo (Lạo là tên cổ của người Tày, Nùng) khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Lương Sau, quân của Lý Bôn thua lại rút vào vùng người Lạo để chống giữ
- Thế kỉ thứ VIII, trong cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Đường của Phùng Hưng, từ trưởng người Lạo Đỗ Anh Hàn đã giúp sức vây hãm phủ thành đô hộ, khiến tướng nhà Đường là Cao Chính Bình lo sợ, sinh bệnh mà chết
- Năm 1028, dưới triều Lý , trước sự xâm phạm của nhà Tống ở vùng biên giới kéo dài, để giải quyết bất hoà giữa hai nước , vua Lý Thái Tổ cử phò
mã Thân Thừa Quý đem quân đánh sang châu Thất Nguyên của đất Tống , giết tướng Lý Tự
- Trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai (1075 - 1077), quân địch theo nhiều đường qua vùng Đông Bắc nước ta để tiến vào Thăng Long Các mũi tiến công của bộ binh địch đều phải đi qua vùng núi rừng Đông Bắc hiểm trở Đó là nơi cư trú của các dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Tày Lý Thường Kiệt giao cho các tù trưởng chỉ huy các đội quân thiểu số, lúc đó gọi
là quân thượng du - lợi dụng địa hình, đón đánh địch Những đạo quân thiểu
số trên đây rất thông thạo địa hình, là nỗi e ngại lớn cho kẻ địch Phò mã Thân Cảnh Phúc cùng các tướng Sầm Khánh Tân, Nùng Thuận Linh, Lưu Kỷ, Tông Đản, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An đã tham gia tích cực và lập được nhiều chiến công Tướng địch Triệu Tiết nói rằng: ''Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Thân Cảnh Phúc ở động Giáp đều cầm cường binh'' Dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh địa phương, các đội quân miền núi đã tiến sang đất Tống để Thân Cảnh Phúc cho quân bộ tiến sang đất Tống triệt hạ các căn cứ quân sự tiền phương cuả địch và thực hiện kế nghi binh Khi quân Tống lấn chiếm nước ta, các đội quân này lại giữ các chỗ hiểm yếu, đánh úp đường hành quân và tiếp tế của địch Khi quân Tống bị chặn đánh ở phòng tuyến sông Cầu , Thân Cảnh Phúc cho quân mai phục đánh sau lưng làm tiêu hao nhiều sinh lực của địch
Trang 22- Năm 1041, Nùng Trí Cao được nhà Lý giao cho cai quản đất Quảng Nguyên, châu Tư Lang và các động Lôi Hỏa, Bình, Bà Đến năm 1050, Nùng Trí Cao chống quân xâm lược nhà Tống, giữ vùng biên cương Tổ quốc
- Thế kỉ XIII, nhà Trần tiến hành kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên, dưới sự chỉ huy của các thổ hào Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Linh, nhân dân Tày, Nùng ở Lạng Sơn đã đánh úp quân Nguyên ở trại Ma Lục
- Thế kỷ thứ XV, nhà Minh xâm lược nước ta Ở Cao Bằng, giặc Minh đóng ở Nà Lữ, gò Đống Lân, Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái dấy binh dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Minh Nhiều trận ác chiến xảy ra, trong đó có trận đánh ở Nà Khuổi (xã Hồng Việt, Hòa An) Quân Bế Khắc Thiệu, Nông Đắc Thái đã tiêu diệt hơn 4.000 tên giặc, buộc giặc Minh phải rút quân Cuộc khởi nghĩa của Bế Khắc Thiệu góp phần cùng Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa đánh đuổi giặc Minh bảo vệ nền độc lập dân tộc
Cũng trong cuộc kháng chiến chống Minh, nhân dân châu Thất Nguyên (Lạng Sơn) đã vũ trang tự vệ, đánh lại những toán quân Minh đến cướp bóc làng mạc Đô đốc Cao Sĩ Văn kéo quân đi đánh úp nghĩa quân nhưng bị giết chết trong trận phục kích tại Quảng Nguyên (Cao Bằng) Năm 1412, nhân dân Tày Nùng dưới sự chỉ huy của Nông Văn Lịch đã chiếm cứ địa phương, chặn đường đi của địch, giết chết tên Việt gian Mạc Thúy Năm 1425 – 1426, ở Thái Nguyên, Hoàng Am cầm đầu một cuộc khởi nghĩa của nhân dân địa phương
Theo truyền thuyết dân gian, ở làng Lìu, huyện Ôn (Chi Lăng – Lạng Sơn) có bốn người Tày là “Hoàng Đại Huề, Hoàng Đại Liễu (em Đại Huề), Hoàng Thị Kim Liên, Hoàng Thị Kim Hoa (con gái Đại Huề) đã tham gia trận đánh tiêu diệt Liễu Thăng tại gò Mã Yên Sơn, thuộc xã Chi Lăng Bốn anh hùng dân tộc này đã được nhân dân địa phương thờ làm thần thành hoàng” [14; tr 36]
Đến thời kì hiện đại, vùng Đông Bắc vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lãnh thổ của đất nước Thời kỳ kháng chiến chống Pháp có các
Trang 23trận đánh lớn như chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch biên giới thu đông (1949), v.v Cuối thập niên 1970 và trong thập niên 1980, quân Trung Quốc
đã tấn công dữ dội Việt Nam chủ yếu là trên dọc tuyến biên giới ở vùng Đông Bắc Quê hương của đồng bào Tày trở thành quê hương cách mạng, là căn cứ địa chính chống các thế lực xâm lược
Như thế, trong suốt chiều dài lịch sử, đồng bào Tày dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh địa phương đã đóng góp công sức vào công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi, biên cương của Tổ quốc Người Tày đã sát cánh bên người Việt và các dân tộc anh em để chung tay xây dựng nên quốc gia Việt Nam thống nhất
1.3.1 Văn hóa vật chất
1.3.1.1 Làng bản, nhà cửa
Làng bản trước hết là một không gian cư trú, có một cơ cấu tổ chức, hạ tầng cơ sở, tập tục sinh hoạt riêng Điều đó đã tạo cho làng bản những đặc điểm văn hóa mang phong cách dân tộc Làng bản luôn bộc lộ đặc tính của nó rất khác nhau giữa các khu vực và các tộc người
Ở Đông Bắc, người Tày thường sống ở ven suối hay ven các thung lũng
và chân núi ở vùng trung du Nơi đây thuận tiện cho việc trồng trọt, chăn nuôi
và ổn định cuộc sống của cư dân Người Tày sống thành bản Mỗi bản có từ
15 đến 20 nóc nhà, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ Làng bản thường dựa lưng vào sườn núi hoặc được dựng trên những đồi thấp dọc khe suối, có khi được dựng ở giữa đồng Điều đó khiến
Trang 24cho làng bản của người Tày khác với làng của các dân tộc khác Làng Tày thường êm ả với tiếng suối chảy róc rách, khác với kiểu làng phòng thủ của một số dân tộc khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên, khác với làng của người H’Mông trên những rẻo núi cao với sương mù mờ ảo, khác với làng Việt mang tính cộng đồng và tự trị rõ nét ở Bắc Bộ với những cổng làng, lũy tre và mái đình cong… Bản của người Tày là đơn vị tổ chức xã hội tự quản mang tính truyền thống của người Tày, trực thuộc các đơn vị hành chính cấp xã, tổng, châu, tỉnh mà đứng đầu là tầng lớp ''quằng'' hay ''thổ ty''
Tên làng của người Tày thường gắn với một câu chuyện cổ nhất định, tạo nên những huyền thoại hợp lí Chẳng hạn, ở huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng có các làng Dộc Săm, Nà Mỏ (xã Nam Tuấn), Nà Mò, Chông Mu, Bản
Sẩy (xã Bế Triều)… là các địa danh gắn liền với truyền thuyết Pú lương quân… Bên cạnh đó, tên bản làng của người Tày thường có ý nghĩa phản ánh
đặc điểm tự nhiên của vùng đất đó Tên bản được gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông Chẳng hạn, ở xã Dương Quang - thị xã Bắc Kạn - tỉnh Bắc Kạn có bản Nặm Cắt (nước lạnh), ở xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể có bản Nà Dài (ruộng cát), Đông Băm (rừng tối)…
Nhà ở là nơi hội tụ, quây quần của gia đình, đồng thời có thể coi là một bằng chứng văn hóa, mang bản sắc riêng của từng dân tộc Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo bốn, năm, sáu hoặc bảy hàng cột Nhà có hai hoặc bốn mái Sống ở khu vực trung du
và miền núi Đông Bắc, người Tày thường tranh thủ nguồn lâm sản có sẵn để dựng nhà Vật liệu làm nhà sàn của người Tày chủ yếu là tranh, tre, nứa, lá
và gỗ Nhà dựng bằng nhiều gỗ Nhà của người Tày có ít cửa và cửa sổ Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa Trước đây, nhà của người Tày nặng về tính chất phòng thủ, đề phòng trộm cướp, thú dữ Kiểu nhà phòng thủ được xây dựng theo kiểu pháo đài đặc biệt phổ biến ở một số vùng giáp biên giới Ngày nay, ngôi nhà sàn được dựng theo hướng thông thoáng và tiết kiệm gỗ hơn Ở nhiều nơi, đồng bào chuyển sang làm nhà đất
Trang 25hoặc nhà xây giống như người miền xuôi Kiểu nhà sàn cổ truyền ngày càng thưa vắng dần ở những địa phương xen cư và cận cư Tày – Kinh Song, nhìn chung, ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày vẫn được duy trì bởi nó phù hợp với thị hiếu dân tộc, phù hợp với điều kiện sinh hoạt ở vùng rừng núi nhiệt đới, khí hậu ẩm ướt, nắng lắm mưa nhiều, có nhiều sâu bọ, ác thú
1.3.1.2 Ẩm thực
Người Tày sống gắn bó với thiên nhiên Cư trú trên những cánh đồng màu mỡ ở các thung lũng, người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển Họ sinh sống chủ yếu dựa vào nghề trồng lúa nước Ngoài ra, đồng bào còn chú trọng đến việc chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng rau xanh, cây ăn quả và cây thuốc Nền kinh tế này là cơ sở cho văn hóa ẩm thực của người Tày Nguồn lương thực, thực phẩm chính của người Tày là những sản phẩm thu được từ hoạt động sản xuất ở vùng có rừng, sông, suối, đồi núi bao quanh
Đó là thóc, gạo, ngô, khoai, sắn, đậu, đỗ cùng các loại rau quả do trồng trọt trong vườn hoặc hái lượm trong rừng, các loại thuỷ sản như cá, tôm, cua do nuôi thả và đánh bắt ở sông suối, các loại gia súc, gia cầm như trâu, bò, gà, vịt hoặc chim, thú săn bắt ở trong rừng
Trước kia, ở một số nơi, người Tày có thói quen ăn nếp là chính Cách chế biến đồ nếp đơn giản nhất là đồ xôi hoặc nấu cơm nếp Đồng bào hay dùng các loại lá trong rừng để nhuộm xôi thành các màu tím, xanh, vàng, đỏ Hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi Trong các ngày lễ tết, người Tày thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo Về cơ bản, bánh chưng của người Tày cũng giống bánh chưng của người Kinh, tức cũng gói bằng lá dong, hình vuông, nhân bánh là đỗ xanh và thịt lợn Điểm khác là ở chỗ ngoài bánh chưng vuông, đồng bào còn gói bánh chưng dài, cho nên còn gọi là bánh Tày Ngoài ra, bánh chưng của người Tày đa dạng về nhân hơn so
Trang 26với bánh chưng của người Kinh Đồng bào có thể gói bánh chưng nhân hạt lạc giã nhỏ, nhân cá Ðặc biệt, người Tày có loại bánh bột khá hấp dẫn với nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã
Thói quen ăn nếp có ảnh hưởng nhất định tới phong tục thờ cúng của người Tày Vào các dịp lễ lớn trong năm, người Tày thường làm rất nhiều loại thực phẩm có nguồn gốc từ gạo nếp như bánh dợm, bánh lá ngải, bánh gai, bánh trứng kiến, bánh mật, xôi ngũ sắc, xôi trám, cơm lam… để thờ cúng các
vị thần linh và tổ tiên Mỗi loại thực phẩm lại tiêu biểu cho một dịp lễ tết Tết Thanh Minh có bánh lá ngải, xôi nhuộm lá cẩm Tết Đoan ngọ có bánh tro, rượu nếp Tết rằm tháng bảy có bánh gai, bánh dợm, bánh mật Tết trung thu
có xôi trám đen Tết mùng chín tháng chín có xôi lá gừng Ngày Đông chí người Tày làm bánh trôi có thêm gừng Đặc biệt, vào các dịp lễ hội đầu xuân, người Tày còn tổ chức thi cỗ với các sản phẩm từ nếp, chẳng hạn như lễ hội xuân ở đền Đuổm (xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên)
Ở vùng rừng núi Đông Bắc, đồng bào Tày có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc săn bắn và phát triển nghề chăn nuôi Mặt khác, do người Tày ít có điều kiện chế biến, bảo quản lương thực, thực phẩm theo phương thức hiện đại nên đa phần, thịt gia súc thu được từ nghề chăn nuôi và săn bắn đều được đồng bào đem sấy khô hoặc ướp muối, ngâm rượu Đến khi cần sử dung, đồng bào mới đem những thực phẩm đã sấy hoặc ngâm đó ra chế biến thành món ăn Vì thế, thịt trâu sấy khô, thịt lợn ướp muối… đã trở thành món ăn đặc trưng của người Tày, nhất là trong những tháng mùa đông lạnh giá Đối với
cá, hai cách chế biến thường thấy nhất của đồng bào Tày là nướng hoặc sấy khô, để trên giàn bếp để ăn dần
Ngoài ra, người Tày có đặc sản là thịt vịt quay và thịt lợn quay Đây là những món ăn được chế biến rất cầu kỳ của người Tày ở vùng Thất Khê (Lạng Sơn)
Trang 27Về đồ uống, người Tày uống nước đun sôi với lá hoặc vỏ cây rừng Nhưng khi đi rừng, lên nương, người dân thường uống nước khe, nước suối
Người Tày hay uống rượu Rượu của người Tày rất đa dạng, được làm
từ các sản phẩm của nghề nông và núi rừng như: rượu nếp, rượu ngô men lá, rượu vạng, rượu đông chí… Khác với người Thái và người Mường, người Tày không làm cần mà nấu rượu bằng gạo, sắn, ngô, mật mía Trong các dịp lễ tết, người Tày thường tiếp khách bằng rượu, có khi chỉ là rượu suông
Tóm lại, văn hóa ẩm thực của người Tày ở Đông Bắc mang đậm bản sắc dân tộc: nguồn nguyên liệu chính đều là những sản phẩm đặc trưng của nghề nông, nghề chăn nuôi và săn bắn những sản vật của núi rừng Kĩ thuật chế biến thức thức ăn dựa trên kinh nghiệm là chính Ngoài ra, trong quá trình cộng cư, người Tày có tiếp thu kĩ thuật chế biến của các dân tộc lân cận như Kinh, Nùng, Dao
1.3.2 Văn hóa tinh thần
1.3.2.1 Tín ngưỡng dân gian
"Tín ngưỡng chính là cơ sở, là khí trời, hơi thở của văn hoá dân gian Phải có tín ngưỡng với những hành động lễ, hành động hội mới làm sống lại, thể hiện rõ những điều truyền tụng trong văn hoá dân gian” [19; tr 21] Truyền thuyết và lễ hội dân gian về người anh hùng của người Tày ở vùng Đông Bắc luôn gắn bó chặt chẽ với tín ngưỡng của chính những con người ở vùng đất này Vì vậy, tìm hiểu tín ngưỡng dân gian của người Tày là việc làm hết sức quan trọng
Người Tày quan niệm thế giới đa tầng và vạn vật hữu linh Tín ngưỡng dân gian của người Tày bao gồm các tín ngưỡng dân gian bản địa và các tín ngưỡng du nhập từ bên ngoài vào
Tín ngưỡng dân gian bản địa của người Tày gồm: tín ngưỡng thờ tổ, tín ngưỡng thờ mẹ sinh sản, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thần tự nhiên, tín ngưỡng thờ các loài động – thực vật Các tín ngưỡng này về cơ bản cũng
Trang 28giống tín ngưỡng của người Kinh, thể hiện tư duy của người dân làm nông nghiệp lúa nước
Shaman giáo của người Tày thể hiện qua các trò chơi bói đoán và các lễ hội shaman (lễ hội Nàng Hai) Đặc điểm chung trong Shaman giáo của người Tày là sự hội tụ cả hai yếu tố xuất hồn và nhập hồn
Ngoài ra, tín ngưỡng của người Tày còn có các yếu tố tín ngưỡng dân gian du nhập từ miền nam Trung Quốc (tín ngưỡng của người Choang) và miền bắc Việt Nam (tín ngưỡng của người Kinh) trong quá trình các nhóm người Choang di cư sang vùng Đông Bắc Việt Nam và người Kinh di cư lên miền núi Các yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo du nhập gồm có các yếu tố Đạo giáo và Phật giáo Sự giao lưu văn hóa tín ngưỡng dẫn tới sự thâm nhập của Đạo giáo, Phật giáo vào tín ngưỡng dân gian của người Tày; đồng thời các yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo này lại tiếp tục được bản địa hóa Điều đó đã taọ nên sự đa dạng và phức tạp trong đối tượng thờ cúng của người Tày
Tín ngưỡng dân gian của người Tày thể hiện rất rõ sự giao lưu văn hóa Kinh – Tày – Nùng Những tín ngưỡng này có ảnh hưởng nhất định tới việc sáng tạo các tác phẩm văn học dân gian và hình thành các lễ hội dân gian của người Tày Chẳng hạn:
Người Tày có tín ngưỡng thờ tổ: thờ tổ tiên gia tộc, thủ lĩnh dân tộc, tổ
sư ngành nghề, tổ tiên làng bản… Tục thờ tổ làng là cơ sở tín ngưỡng cho các
lễ hội Lồng tồng Chẳng hạn, lễ hội Lồng tồng ở xóm Bản Mạc (xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn) mở vào ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch có liên quan tới truyền thuyết về Hoàng Biện Mạc, lễ hội Lồng tồng ở xã Khôn Đoài và Ngọc Động (huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng) có liên quan tới truyền thuyết về đôi trai gái có tên là cô Xinh và anh Mình Những nhân vật này đều là những người có công hai phá ruộng nương, xây dựng làng bản
và được người Tày coi là những vị thần nông
Tục thờ thủ lĩnh dân tộc xuất phát từ sự ghi nhớ công ơn của vị thủ lĩnh đối với dân tộc Người Tày quan niệm các vị anh hùng sau khi chết đi vẫn có
Trang 29thể tiếp tục che chở, phù hộ, tạo phúc cho dân tộc Vì thế, ở vùng Đông Bắc,
có nhiều nơi lập miếu thờ các vị anh hùng dân tộc Tày
Nùng Trí Cao là vị anh hùng đã lập nên nước Đại Lịch, sau là nước Nam Thiên (thế kỉ XI) Ông mơ ước kết hợp tất cả dân Tày, Nùng, Choang ở Quảng Tây, Quảng Châu và bắc Cao Bằng thành một nước độc lập nằm giữa hai nước Việt Trung Nhưng sau đó, Nùng Trí Cao bị nhà Tống đánh bại Ông được nhân dân ở các địa phương dọc biên giới Việt Trung như huyện Tịnh Tây, huyện Thiên Đẳng của tỉnh Quảng Tây, khu tự trị Choang Vân Sơn của tỉnh Vân Nam, một số huyện của tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn lập miếu thờ, tôn làm thiên tử
Đức Thánh Đuổm Dương Tự Minh là người làng Quan Triều, tỉnh Thái Nguyên Ông làm thủ lĩnh phủ Phú Lương xưa, gồm các châu: Thượng Nguyên, Vĩnh Thông, Quảng Nguyên, Cảm Hóa, Vạn Nhai, Tư Nông, Tuyên Hóa (thuộc Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang và một phần Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lạng Sơn ngày nay) trong suốt ba đời vua nhà Lý: Lý Nhân Tông (1072 - 1128), Lý Thần Tông (1128 - 1138), Lý Anh Tông (1138
- 1175) Ông đã có những đóng góp to lớn trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc vùng biên cương phía Bắc của Tổ quốc Đại Việt Nhân dân ở các vùng Cao Bằng, Bắc Cạn, Bắc Giang, Thái Nguyên đã dựng đình miếu thờ Đức Thánh Đuổm Những làng thờ Thành hoàng là Đức Thánh Đuổm thường mở hội lớn suốt 3 ngày vào dịp đầu xuân, lễ rước trang trọng
Vì thế, nhân dân có câu rằng:
Thượng Đu Đuổm
Hạ Lục Đầu
200 xã lưỡng biên giang thờ
Cũng vào đời nhà Lý (thế kỷ X - XI), tại xã Hả Hộ thuộc Động Giáp, là Châu Lạng của nước Đại Việt, dòng họ Giáp sống ở động này đã từng nổi tiếng trong lịch sử dựng nước và giữ nước Các tù trưởng, tộc trưởng vùng này đều thuộc dòng họ Giáp được kế tiếp nhau qua nhiều thế kỷ Vào thời Lý,
Trang 30họ Giáp ba đời có người làm phò mã cho nhà Lý, như: thời Lý Thái Tổ có Giáp Thừa Quý; thời Lý Thái Tông có Thân Thiệu Thái lấy công chúa Bình Dương; thời Lý Nhân Tông có Thân Cảnh Phúc lấy công chúa Thiên Thành Các phò mã họ Thân đều giữ chức Châu mục Lạng Châu và giỏi đánh giặc, có công lớn trong chiến đấu chống quân xâm lược, đã được nhân dân tôn sùng và lịch sử đã ghi là những “thiên thần Động Giáp” Các vị phò mã anh hùng và các công chúa đều được thờ tại đền Từ Hả thuộc thôn Kép, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Tín ngưỡng thờ mẹ sinh sản của người Tày ít nhiều có liên quan tới sự
hình thành truyền thuyết của dân tộc này Chẳng hạn, truyền thuyết Pú lương quân (hay Báo Luông – Slao Cải) của người Tày ở Cao Bằng có nói về hai
nhân vật Báo Luông (ông lớn) và Slao Cải (bà to) Theo truyền thuyết này, hai nhân vật khổng lồ được người Tày quan niệm là thủy tổ đã tạo ra con người
và có công tìm ra lửa, sáng tạo ra nghề trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng bản mường Xét về mặt tín ngưỡng, hai nhân vật Báo Luông, Slao Cải có nhiều điểm tương tự với bố Poloto và mẹ Molojia – cặp cha mẹ thủy tổ trong tín ngưỡng của người Choang ở Trung Quốc
Tín ngưỡng phồn thực của người Tày có những ảnh hưởng nhất định tới nghi thức thờ cúng, các trò chơi dân gian trong những lễ hội nông nghiệp được tổ chức hàng năm, chẳng hạn như trong lễ hội Lồng tồng, trò kéo co tượng trưng cho việc kéo nguồn nước, trò tung còn tượng trưng cho sự giao hòa của âm dương và tiếng sấm gọi mưa; trong lễ hội pháo hoa Quảng Uyên (Cao Bằng), việc tranh đầu pháo tượng trưng cho mong muốn no ấm và sinh
được con trai…
1.3.2.2 Lễ tết
Cũng như nhiều dân tộc khác, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Tày chủ yếu thể hiện qua các hình thức lễ tết cổ truyền Hằng năm, người Tày có nhiều dịp lễ tết với những ý nghĩa khác nhau
Trang 31Về tết, đầu tháng giêng, người Tày có tết Nguyên đán với ý nghĩa mừng thu hoạch mùa, mở đầu năm mới Tháng bảy, người Tày có tết rằm tháng bảy để cúng các vong hồn Đây là hai tết lớn nhất trong năm đối với người Tày Tháng ba, người Tày ăn tết Thanh minh Tháng năm, đồng bào ăn tết Đoan ngọ Tháng sáu, đồng bào tổ chức tết gọi hồn trâu bò, cúng thần ruộng, thần trâu để bảo vệ mùa màng và gia súc Tháng tám, người Tày tổ chức tết Trung thu Tháng chín, người Tày ăn tết cốm mừng trăng và tết cơm mới mừng mùa lúa chín Tháng chạp, đồng bào tổ chức tết đông chí và tết ông Táo
Các dịp tết của người Tày cơ bản trùng với các dịp tết của người Kinh
Sự khác nhau về tết của hai dân tộc này chủ yếu ở quy mô và cách thức tổ chức, chẳng hạn như tết Thanh minh, tết rằm tháng bảy Đối với người Tày, đây là hai dịp tết lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với họ Đây là dịp để người Tày bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên (tết Thanh minh) và với các vong hồn (tết rằm tháng bảy) Do đó, những dịp này, đồng bào thường chuẩn bị lễ vật rất cầu kì: tết Thanh minh có thịt lợn quay, bánh dầy lá ngải, xôi nhuộm màu tím lá cẩm, tết rằm tháng bảy có bánh đường, bún, bánh dợm, thịt lợn quay, thịt vịt… Ngoài ra, các dịp tết như tết gọi hồn trâu bò, tết cơm mới, tết cốm, tết đông chí mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc Tày ở vùng núi rừng Đông Bắc Đây là các dịp tết gắn liền với ước mong mùa màng bội thu, của cải dồi dào, đời sống yên vui của người nông dân lao động miền núi, đồng thời nó nhằm cải thiện phần nào đời sống của con người sau những ngày lao động miệt mài trên ruộng nương
Ngoài các dịp tết, đời sống văn hóa tinh thần của người Tày phong phú với những lễ hội cổ truyền và những trò chơi dân gian, những điệu hát then, sli, lượn độc đáo thể hiện trong các lễ hội ấy Đặc sắc nhất phải kể đến lễ hội Lồng tồng, lễ hội Nàng Hai…
Vùng văn hóa Đông Bắc trước hết là quê hương của hội Lồng tồng (xuống đồng) Hội này là sản phẩm văn hóa của cư dân nông nghiệp Tày, tối
Trang 32thiểu diễn ra trong phạm vi một bản (làng) Thông thường, một số bản gần gũi
nhau liên kết cùng tổ chức, có khi mở rộng ra một vùng vài chục bản Dự hội đông đảo nhất là người Tày nhưng luôn có nhiều dân tộc láng giềng tham gia,
kể cả những người đồng tộc ở bên kia biên giới Việt Trung và người Kinh ở miền xuôi lên Có thể nói đó là những ngày lễ của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, gắn chặt với mùa vụ và mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian
Ngoài hội Lồng tồng, vùng văn hóa Đông Bắc còn có những lễ hội lớn
khác là hội Nàng Hai (lễ hội nàng Trăng) được tổ chức ở một số địa phương
thuộc tỉnh Cao Bằng để bày tỏ sự sùng bái nữ thần Trăng Đó cũng là những
lễ hội cầu mùa, một hình thức văn hóa tín ngưỡng đặc trưng của đồng bào Tày ở Đông Bắc Hội thường được tổ chức về đêm, trong những đêm trăng đẹp Thời gian và hình thức tổ chức hội không cố định Có khi hội diễn ra vào mùa xuân, vào trung tuần các tháng giêng, hai, ba, gắn với các nghi lễ cầu mùa và các nghi lễ múa quạt, hát đối đáp chúc phúc… Có khi hội diễn ra vào mùa thu, gắn với các lễ Then như: Lẩu Then, Cống Sử, Kỳ Em… và các trò
chơi phong phú như hát lượn Hai, bói việc sản xuất, bói tình duyên… Nàng Trăng là một hình thức nữ tính của thần Nông được ca ngợi qua các điệu lượn Hai là hàng trăm bài ca cầu nguyện và bài ca tình yêu mà các đôi trai gái Tày
say sưa hát đối đáp trong hơn một chục đêm hội Nàng Hai
Người Tày ở Đông Bắc còn có nhiều lễ hội đền chùa phong phú, gắn với các truyền thuyết dân gian về những nhân vật anh hùng trong lịch sử như Nùng Trí Cao, Dương Tự Minh, Thân Cảnh Phúc, cô Thắm, Lưu Nhân Chú… Những lễ hội này gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc, tổ tiên làng xóm, đất nước của người Tày Lễ hội diễn ra nhiều ở các tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Giang…
Lễ hội của người Tày bao giờ cũng gồm hai phần rõ ràng: phần lễ và phần hội Phần lễ là không gian để đồng bào biểu hiện lòng tôn kính đối với thần linh Phần hội là mảnh đất của các làn điệu dân ca hát lượn và các trò
Trang 33chơi dân gian: ném còn, cuớp còn, kéo co, đánh quay, đánh yến, đánh đu, múa
kỳ lân, múa sư tử, múa võ, múa giáo Các trò chơi này thể hiện rất rõ tín ngưỡng phồn thực của dân tộc Tày, gắn chặt với tính chất cầu mùa của các lễ hội nông nghiệp Sự trường tồn âm thầm mà mãnh liệt của các lễ hội dân gian Tày từ quá khứ tới hiện tại là minh chứng rõ nhất cho sự bền vững của bản sắc dân tộc Các lễ hội có sức sống như thế là vì nó phù hợp với tinh thần dân tộc, phù hợp với phong tục tập quán, với cuộc sống sinh hoạt bình dị ở miền núi
1.3.2.3 Kho tàng văn học dân gian
Trong quá trình phát triển của lịch sử, người Tày đã sáng tạo và bảo lưu được vốn văn học dân gian khá đa dạng và phong phú, góp phần tạo nên diện mạo, sắc thái độc đáo về văn hóa của dân tộc mình Văn học dân gian Tày thể hiện sự giao lưu văn hóa giữa các sắc tộc vùng núi rừng Đông Bắc, đặc biệt là
sự giao thoa văn hóa Kinh – Tày – Nùng thể hiện qua sự xuất hiện của các type, motif và các hình tượng; đồng thời vẫn thể hiện được tinh thần, bản sắc dân tộc Chủ đề tư tưởng lớn của văn học dân gian Tày là “người lao động cần
cù, trung thực, mưu trí phải thắng thiên nhiên, thắng kẻ thù bốn chân và kẻ thù hai chân để xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc; kẻ gian ác, giai cấp bóc lột nham hiểm sẽ bị trừng phạt ở ngay thế gian này hay ở cõi trời, ở
Do sự hạn chế về văn tự nên thần thoại Tày chỉ còn là từng mảnh rời rạc, thiếu hụt… Nó phản ánh xã hội, tư tưởng, tâm hồn và thể hiện được những vấn đề cơ bản của một dân tộc có lịch sử lâu đời ở vùng núi Đông Bắc Thần thoại của người Tày bao gồm các nhóm truyện kể về nguồn gốc vũ trụ
Trang 34và các hiện tượng tự nhiên (Mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú; Anh em mồ côi trên cung trăng…), truyện kể về nguồn gốc muôn loài (Những con vật phải sửa chữa, Sự tích cá đuôi cờ, Rắn có nọc độc, Trâu ăn cỏ, Cây đỗ xanh
ít phải làm cỏ; Cây cáng lò mọc nghiêng; Lá dong đỏ ở Đồng Phúc…), truyện kể về nguồn gốc tộc người, tộc danh, địa danh (Quả bầu tiên) và truyện kể về các anh hùng văn hóa, chinh phục tự nhiên (Thác Thản au khoan nu) Đa phần những tác phẩm thần thoại Tày đều ngắn gọn, có cốt truyện đơn
giản, ít chặt chẽ, chưa có nhiều chi tiết, thể hiện cách lí giải còn thô sơ, rời rạc trong nhận thức về thế giới của con người thời cổ Ở những cốt truyện này thường có kết cấu: một thần - một nhân vật - một hành động Thần thoại Tày còn có dạng truyện mang hình thức một cốt truyện với nhiều chủ đề Kết cấu của truyện là các cốt truyện đơn, song đã có thêm nhiều tình tiết, biến cố, sự
kiện Chẳng hạn, trong truyện Quả bầu tiên, chủ đề hồng thuỷ đan cài với chủ
đề quả bầu và chủ đề sáng tạo loài người
Truyền thuyết Tày cũng bao gồm ba bộ phận như truyền thuyết của người Kinh: truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phong vật Trong đó, bộ phận truyền thuyết nhân vật là tiêu biểu hơn cả Nhóm truyền thuyết này có hai hướng chính: ca ngợi các anh hùng lịch sử và
ca ngợi các anh hùng sáng tạo văn hóa Nhìn chung, truyền thuyết Tày được sáng tạo dựa trên nền văn minh nông nghiệp lúa nước Từ các truyền thuyết
về một phai nước Phiềng Liềng, một con mương Bản Loàn… đến các truyền thuyết về vị anh hùng miền núi Nùng Trí Cao, Dương Tự Minh, cô Thắm… đều thấm đẫm lối tư duy của những con người miền núi chất phác, yêu tự do, yêu núi rừng
Truyện cổ tích dân gian Tày được tạo nên bởi sự đồng điệu giữa con người với thế giới tự nhiên và giữa con người với cộng đồng Sự đồng điệu này sẽ tạo cho truyện cổ tích dân gian Tày một bản sắc riêng, đồng thời mang tính đồng hình Vì thế, đọc cổ tích Tày, người đọc nhận thấy nhiều motif cùng xuất hiện trong cổ tích của các dân tộc khác Truyện cổ tích loài vật của người
Trang 35Tày khá phong phú các motif kể về loài vật, cỏ cây; đồng thời các motif này mang giá trị đặc thù Chẳng hạn: motif con chó chín đuôi cứu mạng, con ngựa tinh khôn, con ruồi dẫn đường, con chuột ám hiệu, con tắc kè mở lối, con sáo thám hiểm Điều đặc biệt ở bộ phận cổ tích loài vật của người Tày là ở chỗ
nó chưa chuyển hóa thành ngụ ngôn Điều đó xuất phát từ các đặc điểm văn hóa tộc người như nhu cầu, trình độ nhận thức và các mối quan hệ tộc người Truyện cổ tích thần kì của người Tày còn bảo lưu được khá nhiều những type, motif có liên quan đến tín ngưỡng và cuộc sống của người Tày – Thái cổ Đó
là các type, motif có nguồn gốc từ thời tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, manh nha của chế độ tư hữu và phân chia giai cấp Chẳng hạn: các type truyện người mồ côi, người con riêng, các dũng sĩ miền núi diệt yêu tinh…
trong truyện Tua Gia - Tua Nhi, Hai anh em mồ côi, Cẩu Khây… Truyện cổ
tích sinh hoạt Tày đa phần mang tính chất giáo huấn và hoạt kê; số còn lại là những truyện về đề tài xã hội, phản ánh các chủ đề tình yêu nam nữ và khát vọng chiến thắng các kẻ thù bên ngoài
Ngoài các thể loại tự sự dân gian như trên, kho tàng văn học dân gian của người Tày còn có nhiều truyện thơ Nôm Tính tới nay, số truyện thơ Nôm Tày sưu tầm được là 60 bản Sự phong phú về số lượng truyện thơ Nôm của dân tộc Tày chỉ đứng sau truyện thơ Nôm của dân tộc Kinh Truyện thơ Nôm Tày chịu ảnh hưởng nhiều từ truyện thơ Nôm của người Kinh về các phương diện: chủ đề, cốt truyện, cấu trúc tư tưởng, cấu trúc nghệ thuật…, chẳng hạn
như các truyện Quắm Mai Công (Nhị độ mai), Tổng Trân – Cốc Hoa (Tống Trân – Cúc Hoa), Hoàng Tíu (Hoàng Trừu)… Bên cạnh đó, truyện thơ Nôm
Tày cũng mang nhiều nét riêng biệt, độc đáo như sự miêu tả cảnh và người, tình tiết… Đặc sắc lớn nhất của truyện thơ Nôm Tày là hầu hết các tác phẩm mang nguồn gốc bản tộc là chính, tức được hình thành từ cội nguồn văn hóa
dân gian Tày chẳng hạn như các truyện Lương Quân – Bjoóc Lả (dựa trên cốt truyện cổ tích Nàng Bjoóc Rồm), Kim Quế (dựa trên cốt truyện cổ tích Nàng Kim Quế), Chim sáo (dựa trên cốt truyện cổ tích Trương Anh), Lý Lan (dựa
Trang 36trên cốt truyện cổ tích Lý Lan), Chiêu Đức (dựa trên cốt truyện cổ tích Kim Nữ)… Trong kho truyện thơ Nôm Tày, đáng chú ý là các tác phẩm Khảm hải, Trần Chu - Quyển Vương… Truyện thơ Khảm hải dài chừng 1.000 câu thơ, diễn tả những kiếp người luân hồi đau khổ Truyện thơ Trần Chu – Quyển Vương dài khoảng 2600 câu thơ, có nội dung đề cao tình yêu chung
thủy của Thị Lương và Quyển Vương
Nhìn vào sự phát triển của các thể loại tự sự dân gian của dân tộc Tày,
có thể thấy rằng, so với văn học dân gian các một số dân tộc thiểu số khác còn tồn tại nhiều tàn dư của chế độ thị tộc, bộ lạc như Dao, Sán Chí… thì trong loại hình văn học tự sự dân gian của người Tày, càng về sau, các yếu tố hư cấu mang tính thần thoại, huyền thoại ngày càng giảm dần, các yếu tố nội dung như đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội ngày càng gia tăng Vị trí con người ngày càng được đề cao
Người Tày có kho tàng ca dao, dân ca hết sức phong phú: tình ca, ca đám
cưới, ca cúng bái… Tình ca được người Tày gọi là lượn Lượn có 3 thể khác
nhau: lượn Cọi, lượn Slương, lượn Nàng ới Đây là thể loại hát giao duyên phổ biến nhất của dân tộc Tày, gồm hai phía hát đối nhau: một bên nam - một bên nữ, hoặc một bên chủ - một bên khách Người Tày có tục hát lượn mỗi khi muốn hỏi thăm nhau và trong những ngày tết, lễ hội Nội dung của các bài hát lượn thường phản ánh về lịch sử của các tộc người, có phần thuộc truyền thuyết xa xưa, có phần thuộc về thế giới thần linh, lại có cả phần phản ánh về cuộc sống lao động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày
Ca đám cưới được người Tày gọi là xướng quan lang, là các bài hát diễn
tả các phong tục, lễ nghi của một đám cưới Người Tày có tục hát đối đáp giữa đại diện nhà trai và đại diện nhà gái trong lễ cưới Người ta thường hát dân ca qua 8 chặng là: hát căng dây (khèn lên), giữ cửa (thư tu), rải chiếu (pjoi phục), mời uống nước và ăn trầu (mời lẩu, mời mjau), trình tổ (xiềng trỏ), mời cơm hay thơ mâm (nai bôm), bái tổ (lạy táng), nộp rể, nộp dâu (nộp khơi hùa) Hệ thống các bài ca quan lang này thể hiện những nét tốt đẹp trong
Trang 37phong tục cổ truyền của đồng bào Tày như mến khách, hiếu thảo, tài ứng đối nhanh nhạy, thông minh…
Người Tày có rất nhiều bài ca cúng bái Hầu hết các bài ca này đều có tính chất tôn giáo, tuyên truyền tư tưởng mê tín dị đoan Bên cạnh đó, một số bài ca chứa đựng những yếu tố của nghệ thuật dân gian và mang giá trị văn
học Đáng chú ý nhất trong những bài ca cúng bái của người Tày là hát then
Hát then là loại dân ca mang nặng màu sắc tín ngưỡng của dân tộc Tày, Nùng với hình thức diễn xướng tổng hợp, sử dụng cả hát, múa, diễn trò Then được coi là điệu hát của thần tiên truyền lại Xét về ý nghĩa, hát then là thể loại dân
ca mang tính chất tổng hợp: khẩn nguyện, chúc tụng, cầu phúc, cầu yên, vui chơi giải trí, giãi bày nỗi lòng, thậm chí thể hiện tình yêu trai gái hoặc ngợi ca quê hương, bản làng Chính vì thế, then không chỉ được hát trong những sự kiện trọng đại trong đời sống của người Tày như lễ cầu an, cầu mùa, gọi hồn, chữa bệnh, lễ cấp sắc… mà làn điệu then còn được cất lên trong các lễ hội, khi Tết đến xuân về Hát then có ở năm tỉnh miền núi Việt Bắc là Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang Ở từng địa phương, hát then lại
có những đặc điểm riêng: Then Lạng Sơn dìu dặt, tha thiết, then Tuyên Quang dồn dập như thúc quân ra trận, then Hà Giang nhấn nhá từng tiếng một, then Bắc Kạn như tiếng kể chuyện thầm thì Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, then Tày vẫn nguyên vẹn một sức sống mãnh liệt trong đời sống tinh thần của những người con dân tộc Tày
Tiểu kết
Là một dân tộc bản địa, có lịch sử cư trú lâu đời ở vùng Đông Bắc nước
ta, dân tộc Tày đã đoàn kết cùng dân tộc Kinh và các dân tộc anh em khác trong công cuộc mở nước và giữ nước Từ rất sớm, người Tày đã khẳng định được bản sắc văn hóa của dân tộc mình Đặc điểm cơ bản của nền văn hóa Tày là sự giao thoa của các yếu tố văn hóa Tày – Nùng – Kinh, thể hiện rõ
Trang 38trên cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Là chủ thể văn hóa vùng Đông Bắc, dân tộc Tày có ảnh hưởng lớn tới đặc điểm văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số trong vùng Ngày nay, mặc dù trải qua nhiều biến động của lịch sử,
xã hội, cũng như nhiều dân tộc khác sinh sống trên đất nước Việt Nam, bên cạnh sự giao lưu, tiếp thu các yếu tố văn hóa của các dân tộc láng giềng, dân tộc Tày vẫn bảo lưu được bản sắc văn hóa truyền thống của riêng mình Bên cạnh đó, mối quan hệ giao lưu, tiếp biến về văn hóa giữa dân tộc Tày với các dân tộc khác trên địa bàn vùng Đông Bắc ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi Đó là điều kiện cần thiết để đời sống của người Tày có nhiều thay đổi theo hướng văn minh, tiến bộ Cùng với sự phát triển của xã hội, người Tày
đã và đang đạt được những thành tựu đáng kể trong xây dựng cuộc sống mới,
xã hội mới, góp sức vào việc đưa đất nước tiến nhanh hơn trên con đường chủ nghĩa xã hội
Trang 39CHƯƠNG 2: TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VÀ LỄ HỘI VỀ NGƯỜI ANH HÙNG LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC TÀY Ở VÙNG
2.1.1.1 Tình hình sưu tầm, biên soạn
Dân tộc Tày có số lượng truyền thuyết khá phong phú và ít nhiều đã được quan tâm sưu tầm Truyền thuyết của dân tộc Tày được tập trung trong các sách sưu tầm truyện cổ khá dày dặn Đó có thể là tập sách về truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam, hoặc tập sách về truyện cổ của từng địa phương khác nhau Tính đến thời điểm này, thành tựu sưu tầm truyền thuyết dân gian Tày gồm có các công trình:
- Viện Nghiên cứu Văn hóa, 2009, Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 16 – Truyện cổ tích, truyền thuyết, NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội
- Viện Nghiên cứu Văn hóa, 2004, Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 4, 5 – Truyền thuyết dân gian người Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà
Nội
- Đặng Nghiêm Vạn - Đặng Văn Lung – Tăng Kim Ngân (biên soạn),
1994, Truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam, tập 4 – Dòng Nam Á (Tày – Thái và Cơ Lao), NXB Văn học, Hà Nội
- Hoàng Quyết (sưu tầm và biên soạn), 1974, Truyện cổ Tày Nùng,
NXB Văn hóa, Hà Nội
- Hoàng Quyết – Hoàng Thao – Mai Sơn – Đỗ Thiên – An Ly (biên
soạn), 1963, Truyện cổ Việt Bắc, NXB Văn hóa – Viện Văn học
Trang 40- Hoàng Trọng Miên, 1960, Việt Nam văn học toàn thư II (Văn chương truyền khẩu – Cổ tích), Văn hữu Á Châu xuất bản, Sài Gòn
- Vũ Anh Tuấn, Lâm Xuân Đình, Bàn Tuấn Năng (biên soạn và chỉnh
lí), 2000, Truyện cổ Bắc Kạn, tập 1, Sở Văn hóa – Thông tin – Thể thao Bắc
Kạn
- Vũ Anh Tuấn, Lâm Xuân Đình, Bàn Tuấn Năng (biên soạn và chỉnh
lí), 2002, Truyện cổ Bắc Kạn, tập 3, Sở Văn hóa – Thông tin – Thể thao Bắc
biểu nhƣ Ngoại sử kí (Đỗ Thiện), Báo cực truyện (Khuyết danh), thế kỉ XIV
có tác phẩm Việt điện u linh (Lí Tế Xuyên), thế kỉ XV có tác phẩm Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh, Kiều Phú) Trong khi đó, truyền thuyết dân gian Tày sớm nhất cũng chỉ đƣợc tập hợp trong công trình Truyện cổ Việt Bắc, xuất
bản năm 1963, tức là vào khoảng giữa của thế kỉ XX
Thứ hai, xét về mặt phân loại (thể loại): Trong các công trình kể trên,
chỉ có cuốn Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 16 – Truyền thuyết, truyện cổ tích [40] và Truyện cổ Bắc Kạn tập 1 [36] và tập 3
[37] là có phân biệt truyền thuyết với các thể loại tự sự dân gian khác Nhƣng, ngay ở truyện cổ Bắc Kạn, các tác giả biên soạn cũng xếp chung truyền thuyết với thần thoại vào một mục để phân biệt với truyện cổ tích, chứ chƣa có sự
phân loại rạch ròi Các công trình khác: Truyện cổ Việt Bắc [26], Truyện cổ