- Tuy nhiên, quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp SHCN đối với chỉ dẫn địa lý còn nhiều bất cập và chưa được quan tâm thích đáng; - Để thực hiện công việc quản lý chỉ dẫn địa lý,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ LÊ VĂN
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA HIỆP HỘI
ĐỂ QUẢN LÝ VÀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, tháng 01 năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ LÊ VĂN
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA HIỆP HỘI
ĐỂ QUẢN LÝ VÀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60 34 04 12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN HẢI
Hà Nội, tháng 01 năm 2014
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 9
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Giả thuyết nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 10
9 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 1 12
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 12
1.1 Tổng quan về sở hữu công nghiệp 12
1.1.1 Khái niệm sở hữu công nghiệp 12
1.1.2 Quản lý sở hữu công nghiệp 15
1.1.3 Thực thi quyền sở hữu công nghiệp 18
1.2 Chỉ dẫn địa lý 20
1.2.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý 20
1.2.2 Quản lý chỉ dẫn địa lý 29
1.2.3 Thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 30
1.3 Các chủ thể quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 33
1.3.1 Chủ thể quản lý chỉ dẫn địa lý 33
1.3.2 Chủ thể thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 34
1.3.3 Hiệp hội tham gia quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 35
* Kết luận Chương 1 36
CHƯƠNG 2 38
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ THỰC THI 38
QUYỀN ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 38
2.1 Thực trạng quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý do cơ quan nhà nước tiến hành 38
2.1.1 Tổng quan về quản lý chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam 38
2.1.2 Hiệu quả quản lý chỉ dẫn địa lý do cơ quan nhà nước là chủ thể - Trường hợp cà phê Buôn Ma Thuột 40
2.2 Cơ quan nhà nước và Hiệp hội cùng quản lý chỉ dẫn địa lý 42
2.2.1 Trường hợp gạo tám xoan Hải Hậu 42
2.2.2 Trường hợp vải thiều Thanh Hà 45
2.3 Thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 51
2.3.1 Các cơ quan thực thi của nhà nước và chế tài xử lý vi phạm 51
2.3.2 Các trường hợp thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 52
2.4 Đánh giá tác động của mô hình nhà nước quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 56
2.4.1 Tác động dương tính 56
Trang 42.4.2 Tác động âm tính 58
* Kết luận chương 2 59
CHƯƠNG 3 60
NHỮNG BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP 60
QUẢN LÝ, THỰC THI QUYỀN ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 60
3.1 Bất cập trong quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 60
3.1.1 Bất cập trong quản lý chỉ dẫn địa lý 60
3.1.2 Bất cập trong thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 64
3.2 Mô hình hiệp hội tham gia quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 67 3.2.1 Mô hình kinh nghiệm quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 67
3.2.2 Xây dựng mô hình tổng quát về quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý có sự tham gia của hiệp hội 69
3.3 Áp dụng mô hình quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý có sự tham gia của hiệp hội 71
3.3.1 Hiệp hội gạo tám xoan Hải Hậu tham gia quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 71
3.3.2 Hiệp hội vải thiều Thanh Hà tham gia quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 75
3.3.3 Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột tham gia quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 78
3.4 Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý có sự tham gia của hiệp hội 79
3.4.1 Giải pháp pháp lý nhằm nâng cao vai trò của hiệp hội 79
3.4.2 Giải pháp củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của hiệp hội 81
3.4.3 Giải pháp hỗ trợ hoạt động của hiệp hội 83
3.5 Đánh giá tác động của mô hình hiệp hội tham gia quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý 85
3.5.1 Tác động dương tính 85
3.5.2 Tác động âm tính 86
* Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN 87
KHUYẾN NGHỊ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH&CN Khoa học và Công nghệ SHCN Sở hữu công nghiệp SHTT Sở hữu trí tuệ
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chỉ dẫn địa lý là một đối tượng của sở hữu công nghiệp, từ những năm cuối thế kỷ 19, các khái niệm về chỉ dẫn nguồn gốc, tên gọi xuất xứ hàng hóa (một dạng đặc biệt của chỉ dẫn địa lý) đã được đề cập trong Công ước Paris và một số nước trên thế giới, đặc biệt là châu Âu đã bảo hộ rất thành công chỉ dẫn địa lý
Ở Việt Nam, bảo hộ chỉ dẫn địa lý là một lĩnh vực tương đối mới, mặc
dù chúng ta đã có đề cập đến từ những năm cuối thế kỷ 20, với việc bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hóa Tuy nhiên, đến năm 2005, khi Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) và một số văn bản dưới luật được ban hành, chúng ta mới có các qui định cụ thể về bảo hộ đối tượng này
Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ phải đáp ứng một số điều kiện, cụ thể là sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý phải có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định
- Tính đến thời điểm này đã có 36 chỉ dẫn địa lý của Việt Nam được bảo hộ (năm 2001 mới chỉ có 2 chỉ dẫn địa lý được bảo hộ)
- Về cơ bản Việt Nam là một trong các nước thực hiện tốt việc xác lập quyền chỉ dẫn địa lý trong khu vực
- Tuy nhiên, quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với chỉ dẫn địa lý còn nhiều bất cập và chưa được quan tâm thích đáng;
- Để thực hiện công việc quản lý chỉ dẫn địa lý, Nhà nước đã đầu tư một số dự án nhằm xây dựng mô hình quản lý Chỉ dẫn địa lý (thực hiện một chương trình do Thủ tướng chính phủ phê duyệt trong đó có thực hiện một số
dự án quản lý chỉ dẫn địa lý) Tuy nhiên, những dự án quản lý chỉ dẫn địa lý khi thực hiện còn rất nhiều bất cập Khi trao đổi, thảo luận với các hiệp hội sản xuất về mô hình quản lý chỉ dẫn địa lý đang được áp dụng ở địa phương,
đã có nhiều ý kiến cho rằng mô hình quản lý đang áp dụng tương đối phức
Trang 7tạp, chồng chéo, các qui định về quản lý như cấp quyền sử dụng, kiểm soát chất lượng còn phức tạp, không hợp lý, bởi vậy, các tổ chức tập thể, cụ thể
là hiệp hội không có điều kiện để tham gia nhiều vào quá trình quản lý chỉ dẫn địa lý Quy trình quản lý được xây dựng có vẻ chặt chẽ nhưng thực chất rất cồng kềnh làm cho người sản xuất không phát huy được tinh thần làm chủ của mình, bị lệ thuộc và gây tâm lý chán nản, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh Chính vì những qui định đó, nên hiệp hội là tổ chức đại diện của những người sản xuất, kinh doanh trực tiếp chưa có vai trò xứng đáng
Vì vậy, tôi chọn đề tài Nâng cao vai trò của hiệp hội để quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam làm luận văn
chuyên ngành Quản lý KH&CN, với mong muốn sẽ góp phần làm rõ hơn thực trạng quản lý và đề xuất phương án đổi mới, nâng cao vai trò của các hiệp hội để quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa
lý ở Việt Nam được tốt hơn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nhưng khái niệm chỉ dẫn địa lý mới chính thức lần đầu tiên được đưa ra trong Hiệp định
về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs)
Trên thế giới, đã có nhiều quốc gia thực hiện tốt việc xác lập quyền cho chỉ dẫn địa lý đồng thời làm tốt công tác quản lý Chỉ dẫn địa lý, ví dụ như Cộng hòa Pháp, Anh, Bồ Đào Nha…; đã có một số công trình, sách nghiên
cứu về chỉ dẫn địa lý như: The Socio-Economics of Geographical Indications” (Khía cạnh kinh tế - xã hội của chỉ dẫn địa lý) của tác giả
Dwijen Rangnekar- nghiên cứu viên cao cấp thuộc Trung tâm nghiên cứu của Globalis Regionalisation, Đại học Warwick, Vương quốc Anh
Tại Việt Nam đã có những nghiên cứu về quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý, trong đó có:
- Tác phẩm Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại đối với chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 8của NCS Lê Thị Thu Hà, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Ngoại thương, trong Luận án này tác giả đã tổng hợp, phân tích và nhìn nhận dưới góc độ thương mại đối với việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, tuy nhiên, công trình này không đề cập đến vai trò của hiệp hội đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam
- Tác phẩm Bàn về điều kiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 của Vũ Thị Hải Yến, đăng trên Tạp chí Luật học, số 5/2008,
tr 45 – 53 đã nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và các điều kiện khác để bảo hộ chỉ dẫn địa lý
- Tác phẩm Bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sĩ luật học của NCS Vũ Thị Hải Yến đã khảo sát
thực trạng bảo hộ và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý, đồng thời đề xuất hoàn thiện pháp luật để bảo hộ có hiệu quả chỉ dẫn địa lý
- Tác phẩm Bảo hộ chỉ dẫn địa lý dưới dạng nhãn hiệu chứng nhận của
Lê Thu Hà, Học viện Tư pháp đã nêu Trong khuôn khổ thực thi nghĩa vụ pháp
lý quốc tế theo Hiệp định TRIPs, Hoa Kỳ đã lựa chọn mô hình bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua hệ thống pháp luật hiện hành về nhãn hiệu với các sửa đổi và
bổ sung cho phù hợp với các quy định tối thiểu của Hiệp định này
Các tác phẩm trên chưa đề xuất về vai trò của hiệp hội trong quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Nhưng đã có tác phẩm bước đầu bàn về vai trò của hiệp hội trong việc
quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý, đó là tác phẩm Bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý theo pháp luật Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ Luật học của Ninh Thị Thanh Thủy do TS Nguyễn Thị Quế Anh hướng dẫn năm 2009 đã nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả bảo hộ quyền SHCN đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam: Nhà nước tạo cơ chế hỗ trợ việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý; nâng cao nhận thức của các nhà sản xuất; các hiệp hội ngành nghề phải thể hiện đầy đủ vai trò là người đại diện cho các chủ thể sản xuất, kinh doanh để họ có thể khai thác địa lý một cách hiệu quả nhất; cần có sự phân định một cách rõ ràng, cụ
Trang 9thể giữa hoạt động quản lý nội bộ của tổ chức tập thể và hoạt động quản lý bên ngoài của các cơ quan quản lý nhà nước
Trong khuôn khổ Luận văn này, tác giả sẽ kế thừa một số kết quả nghiên cứu từ trong và ngoài nước, khái quát về tình trạng bảo hộ, quản lý chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, đồng thời đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại, bất cập của công tác quản lý chỉ dẫn địa lý hiện nay bằng cách nâng cao vai trò của hiệp hội
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm ra giải pháp để quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam bằng việc tăng cường vai trò tham gia của các hiệp hội chuyên ngành
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Đưa ra hệ thống lý thuyết về sở hữu công nghiệp, quản lý sở hữu công nghiệp, thực thi quyền sở hữu công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, biện pháp công nghệ, vai trò của các hiệp hội chuyên ngành;
- Khảo sát thực trạng quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý; Khảo sát thực trạng tham gia của các hiệp hội chuyên ngành vào việc quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý;
- Đề xuất giải pháp quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam bằng việc tăng cường vai trò tham gia của các hiệp hội chuyên ngành
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài giải quyết 03 nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra ở
mục 3 trên đây
Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu một số chỉ dẫn địa lý
được bảo hộ trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến 2012
Trang 106 Câu hỏi nghiên cứu
Cần tiến hành các giải pháp nào để quản lý và thực thi có hiệu quả quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Cần tiến hành giải pháp để quản lý và thực thi có hiệu quả quyền đối với chỉ dẫn địa lý bằng việc nâng cao vai trò tham gia của các hiệp hội chuyên ngành;
- Khi vai trò của hiệp hội được nâng cao sẽ quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý đạt hiệu quả
8 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được tác giả Luận văn sử dụng trong nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu là các văn bản Pháp luật như các Luật, các nghị định, thông tư, tạp chí và báo cáo chuyên ngành để thu thập thông tin về cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu; thu thập các thông tin thông qua một số nguồn tài liệu: sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước
- Phương pháp xử lý thông tin: thu thập, thống kê, phân tích thông tin
từ công việc nghiên cứu tài liệu, bao gồm thao tác cụ thể:
- Thu thập, thống kê số liệu: thu thập các số liệu trong lĩnh vực đăng ký xác lập quyền chỉ dẫn địa lý của Cục Sở hữu trí tuệ
- Phân tích số liệu: phân tích tình hình, dự đoán diễn biến của công tác quản lý và thực thi quyền SHCN, phục vụ cho việc chứng minh giả thuyết
- Phương pháp phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn các chuyên gia để thu thập ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý, hiệp hội sản xuất và
Trang 11chính người tham gia sản xuất sản phẩm Tác giả Luận văn đã phỏng vấn 7 chuyên gia trong lĩnh vực quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý, cả
7 chuyên gia đều có câu trả lời, tuy nhiên Luận văn chỉ nêu một số câu trả lời
có liên quan trực tiếp đến vai trò của hiệp hội trong việc quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Cách tiến hành phỏng vấn:
+ Tác giả Luận văn gửi trước câu hỏi cho người được phỏng vấn;
+ Tác giả Luận văn trực tiếp gặp và nghe người được phỏng vấn trả lời
về những vấn đề có liên quan đến quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý như đã nêu trong câu hỏi được gửi trước;
+ Tác giả Luận văn trao đổi, nêu những vấn đề phát sinh mà người trả lời phỏng vấn chưa đề cập
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận của Luận văn
- Chương 2 Thực trạng quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý
- Chương 3 Những bất cập và giải pháp quản lý, thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
1.1 Tổng quan về sở hữu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với tài sản là các đối tượng sở hữu công nghiệp do mình tạo ra hoặc nắm giữ Quyền
sở hữu công nghiệp được thể hiện ở hệ thống những quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo ra, nắm giữ các sản phẩm trí tuệ
Quyền sở hữu công nghiệp được định nghĩa trong Luật Sở hữu trí tuệ
số 50/2005/QH11, như sau:
“Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc
sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền đối với một loại tài sản đặc biệt đó
là tài sản vô hình, chủ sở hữu có đầy đủ các quyền như quyền sở hữu, sử dụng
và định đoạt
Quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố giới hạn phạm vi như quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, nó cũng có yếu tố giới hạn về thời gian (thời gian hiệu lực) tùy thuộc vào các đối tượng sở hữu công nghiệp và qui định của các quốc gia khác nhau
Quyền sở hữu công nghiệp có tính chất độc quyền sử dụng và khai thác Chủ sở hữu có quyền đầu tư sản xuất ra sản phẩm để bán hoặc chuyển nhượng, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp nhằm mục đích thu lợi nhuận
bù đắp lại chi phí tạo ra loại tài sản vô hình này
Trang 13Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập dựa trên cơ sở là văn bằng bảo
hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Ở Việt Nam, văn bằng bảo hộ do Cục Sở hữu trí tuệ, thuộc Bộ KH&CN cấp Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
là bảo hộ về nội dung Vì vậy, để được cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp phải qua giai đoạn thẩm định Hiện nay, tại Cục Sở hữu trí tuệ, các đơn yêu cầu xác lập quyền sở hữu công nghiệp đều phải trải qua quá trình thẩm định hình thức và thẩm định nội dung, với thời hạn riêng cho từng đối tượng sở hữu công nghiệp
Nguyên tắc quan trọng chung đối với việc đề nghị xác lập quyền sở hữu công nghiệp là nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (The first to file) Người nộp đơn cần biết rõ điều này để tiến hành nộp đơn sớm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình
Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm 7 đối tượng, cụ thể như sau:
1 Sáng chế: là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên
Sáng chế muốn được bảo hộ cần có tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp
Thời hạn bảo hộ đối với sáng chế là 20 năm kể từ ngày nộp đơn
Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và có tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp
Thời hạn bảo hộ của Giải pháp hữu ích là 10 năm kể từ ngày nộp đơn
2 Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này
Kiểu dáng công nghiệp muốn được bảo hộ cần có tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp
Trang 14Thời hạn bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp là 5 năm kể từ ngày nộp đơn (có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần 5 năm)
3 Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí):
là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn
Thiết kế bố trí được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện là có tính nguyên gốc và có tính mới thương mại
Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn có hiệu lực từ ngày cấp và chấm dứt vào ngày sớm nhất trong số những ngày sau đây:
- Kết thúc mười năm kể từ ngày nộp đơn;
- Kết thúc mười năm kể từ ngày thiết kế bố trí được người có quyền đăng ký hoặc người được người đó cho phép khai thác thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới;
- Kết thúc mười lăm năm kể từ ngày tạo ra thiết kế bố trí
4 Nhãn hiệu: là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các
tổ chức, cá nhân khác nhau
Nhãn hiệu được bảo hộ khi không trùng hoặc không tương tự với nhãn hiệu hàng hóa khác đã được bảo hộ hoặc có ngày nộp đơn sớm hơn
Nhãn hiệu được bảo hộ 10 năm tính từ ngày nộp đơn
Ngoài nhãn hiệu thông thường, còn có một số loại nhãn hiệu đặc biệt:
- Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch
vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó
- Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác,
độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu
Trang 15- Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau
- Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam
Trong các loại nhãn hiệu trên, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận là hai loại nhãn có thể được sử dụng để bảo hộ chỉ dẫn địa lý, thông thường tồn tại dưới dạng địa danh
5 Tên thương mại: là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh
Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh
6 Bí mật kinh doanh; là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh
Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;
- Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;
- Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được
7 Chỉ dẫn địa lý: là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể
Thời hạn bảo hộ Chỉ dẫn địa lý là vô thời hạn (có điều kiện)
Riêng đối tượng này sẽ được làm rõ hơn ở phần sau
1.1.2 Quản lý sở hữu công nghiệp
- Những nội dung về quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp [14; điều 10], bao gồm các nội dung chính sau đây:
Trang 16+ Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
+ Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp
+ Tổ chức bộ máy quản lý về sở hữu trí tuệ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
về sở hữu công nghiệp
+ Cấp và thực hiện các thủ tục khác liên quan đến văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp
+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sở hữu công nghiệp, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về sở hữu công nghiêp
+ Tổ chức hoạt động thông tin, thống kê về sở hữu công nghiệp
+ Tổ chức, quản lý hoạt động giám định về sở hữu công nghiệp
+ Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về sở hữu công nghiệp
+ Hợp tác quốc tế về sở hữu công nghiệp
- Phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp [14; điều 11], cụ thể như sau:
+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
+ Bộ KH&CN chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với
Bộ Văn hoá-Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và thực hiện quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp
+ Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ KH&CN, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý nhà nước
về sở hữu công nghiệp
+ Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp tại địa phương theo thẩm quyền
Để thi hành Luật SHTT, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
Trang 17dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN, Nghị định này qui định trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cho Bộ KH&CN, Cục
Sở hữu trí tuệ và các địa phương, có những điểm chính sau [15; điều 10]:
- Bộ KH&CN có trách nhiệm sau đây trong quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp:
+ Xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, ban hành, trình cấp có thẩm quyền ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp, tổ chức hệ thống cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp, tổ chức thực hiện xác lập quyền sở hữu công nghiệp
+ Cục Sở hữu trí tuệ là cơ quan thuộc Bộ KH&CN, có trách nhiệm giúp
Bộ trưởng Bộ KH&CN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp Bộ trưởng Bộ KH&CN quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục Sở hữu trí tuệ
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm sau đây trong quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp tại địa phương
+ Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về sở hữu công nghiệp, xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quy định của địa phương về sở hữu công nghiệp, tổ chức hệ thống quản lý hoạt động sở hữu công nghiệp tại địa phương và thực hiện các biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của hệ thống đó
+ Quản lý chỉ dẫn địa lý thuộc địa phương
Theo qui định tại Nghị định này, Cục Sở hữu trí tuệ là đơn vị trực thuộc
Bộ KH&CN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp Cục Sở hữu trí tuệ có chức năng, nhiệm vụ chính, như sau1:
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng và hoàn thiện
hệ thống văn bản pháp luật về SHTT; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, biện pháp đẩy mạnh hoạt động và phát triển hệ thống SHTT trong phạm vi cả nước;
Trang 18
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc xác lập và bảo vệ quyền SHTT tại Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân;
- Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về SHTT;
- Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn về SHTT cho các cơ quan quản lý SHTT thuộc các Bộ, ngành và địa phương trong cả nước;
- Thực hiện chức năng bảo đảm các hoạt động sự nghiệp chuyên ngành: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về SHTT; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học về SHTT; hỗ trợ và tư vấn về thủ tục xác lập, quản lý, sử dụng và chuyển giao, chuyển nhượng giá trị quyền SHTT; xây dựng, quản lý và tổ chức khai thác cơ sở dữ liệu thông tin sở hữu công nghiệp
Đặc biệt, ngoài công tác thẩm định, cấp văn bằng bảo hộ (công tác xác lập quyền), để thực hiện việc hỗ trợ công tác thực thi quyền sở hữu công nghiệp, Cục Sở hữu trí tuệ đã tổ chức nhiều khóa huấn luyện, tập huấn về kiến thức sở hữu công nghiệp, thực hiện các dự án hỗ trợ địa phương Trong Cục
Sở hữu trí tuệ cũng có Phòng thực thi và giải quyết khiếu nại nhưng vì không phải là cơ quan thực thi quyền sở hữu công nghiệp nên Cục Sở hữu trí tuệ chỉ thực hiện một số công việc có tính chất tư vấn, hỗ trợ về chuyên môn nghiệp
vụ sở hữu công nghiệp
1.1.3 Thực thi quyền sở hữu công nghiệp
- Ngoài Bộ luật dân sự, hình sự, Luật SHTT, cần chú trọng đến các văn bản dưới luật liên quan đến thực thi quyền sở hữu công nghiệp, dưới đây:
+ Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
+ Nghị định số 97/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Nghị định này thay thế cho Nghị định số 106/2006/NĐ-CP và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09/11/2010;
- Việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp là sự công nhận về mặt pháp
lý, nó xác định rõ chủ sở hữu tài sản trí tuệ Căn cứ vào sự công nhận về mặt
Trang 19pháp lý đó, chủ sở hữu và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhiều biện pháp nhằm đảm bảo cho pháp luật về SHTT được thực hiện một cách nghiêm chỉnh Vì vậy, việc thực thi quyền sở hữu công nghiệp là rất quan trọng
- Để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mình, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có một vai trò rất quan trọng, họ phải biết “tự bảo vệ mình” trước, muốn làm được như vậy, họ cần hiểu biết pháp luật về sở hữu công nghiệp và yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, chủ sở hữu có các quyền sau:
+ Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
+ Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp
+ Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
+ Yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình
- Một số hình thức được áp dụng khi xử lý vi phạm pháp luật về SHTT,
đó là các biện pháp hành chính, dân sự hoặc hình sự, cụ thể như sau2 :
+ Biện pháp hành chính được áp dụng khi hành vi vi phạm gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội, không chấm dứt vi phạm mặc dù đã được chủ sở hữu thông báo bằng văn bản Sản xuất, vận chuyển buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu công nghiệp, cạnh tranh không lành mạnh…thông thường, biện pháp sử phạt hành chính được thực hiện đối với các hành vi vi phạm nhưng chưa đến mức độ nghiêm trọng
+ Biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra Tức là, chủ sở hữu quyền có thể đưa đơn kiện ra tòa án và thủ tục được áp dụng tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
Trang 20
+ Biện pháp hình sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm trong trường hợp hành vi đó có yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Biện pháp này được thực hiện thường là do hành vi đó nghiêm trọng
và do các cơ quan thực thi đề nghị
- Các cơ quan nhà nước có chức năng thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam là:
+ Thanh tra KH&CN
+ Cơ quan quản lý thị trường
+ Cảnh sát kinh tế
+ Cơ quan hải quan
- Chúng ta thấy rằng, lực lượng thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam là tương đối “hùng hậu”, có đến 4 cơ quan có chức năng bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật về sở hữu công nghiệp được thực hiện tốt Tuy nhiên, thực tế cho thấy các cơ quan này còn yếu về kiến thức sở hữu công nghiệp và sự phối kết hợp giữa các cơ quan thực thi với nhau và với chủ sở hữu còn chưa thật sự được tốt, hoạt động đôi khi còn chồng chéo Chính vì vậy, nên số lượng các vụ vi phạm quyền sở hữu công nghiệp còn xảy ra rất nhiều
1.2 Chỉ dẫn địa lý
1.2.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý
Một số khái niệm của quốc tế về chỉ dẫn địa lý
Điểm lại lịch sử từ những năm cuối thế kỷ 19, khi Công ước Paris được
ký kết vào năm 1883 đã đưa ra khái niệm về chỉ dẫn nguồn gốc (Indication of Source) và Tên gọi xuất xứ hàng hóa (Appelations of Origin):
- Theo đó, chỉ dẫn nguồn gốc chỉ mối liên hệ giữa sản phẩm với nguồn gốc của nó, tức là nó chỉ hàng hóa đó được sản xuất ra từ đâu, khu vực, đất nước nào Chỉ dẫn nguồn gốc thường không có yêu cầu gì quá đặc biệt về chất lượng Tuy nhiên, đôi khi chỉ dẫn nguồn gốc cũng giúp người tiêu dùng liên tưởng đến chất lượng, danh tiếng của sản phẩm
Trang 21- Tại Điều 1.2 của Công ước Paris qui định rằng, chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ hàng hóa là hai đối tượng bảo hộ sở hữu công nghiệp Tuy nhiên, Công ước Paris không có qui định cụ thể nào về Tên gọi xuất xứ hàng hóa
Đến năm 1958, khi Thỏa ước Lisbon về Bảo hộ tên gọi xuất xứ và Đăng ký quốc tế được ký kết và đã đưa ra khái niệm tên gọi xuất xứ
(Appelations of Origin) một cách cụ thể, rõ ràng hơn:
Tại Điều 2 của Thỏa ước có nêu:
- Tên gọi xuất xứ hàng hóa là “Tên địa lý của một nước, một khu vực hoặc một địa phương nơi xuất xứ của sản phẩm mà chất lương và các tính chất đặc thù cơ bản của sản phẩm do môi trường địa lý của khu vực đó quyết định, kể cả các yếu tố tự nhiên và con người” Những tên gọi tuân thủ định
nghĩa trên mới được bảo hộ
Có ba yếu tố được đề cập đến trong định nghĩa trên là:
- Yếu tố thứ nhất của định nghĩa trên là tên gọi phải là tên địa lý của một nước, một khu vực hoặc một địa phương
- Yếu tố thứ hai của định nghĩa trên là tên gọi xuất xứ hàng hóa giúp xác định nơi xuất xứ của một sản phẩm từ một nước, một khu vực, hoặc một địa phương
- Yếu tố thứ ba theo định nghĩa trên thì phải có sự liên kết về chất lượng giữa sản phẩm và khu vực địa lý Tức là, chất lượng và các đặc tính phải đặc thù và cơ bản phải do điều kiện địa lý quyết định Nếu sự liên kết về chất lượng không đủ, quá ít thì tên gọi đó không phải là tên gọi xuất xứ hàng hóa mà chỉ được gọi là chỉ dẫn nguồn gốc [18]
Đến năm 1994, Hiệp định TRIPS được ký kết:
- Tại Điều 22.1 đã định nghĩa chỉ dẫn địa lý, như sau “Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn xác định một sản phẩm là có nguồn gốc từ lãnh thổ của một nước thành viên, hoặc từ một khu vực hay địa phương thuộc vùng lãnh thổ
đó, mà tại đó chất lượng, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của sản phẩm chủ yếu gắn với nguồn gốc địa lý của sản phẩm”
Trang 22- Điều 22.2 của Hiệp định TRIPS cũng qui định “Về các chỉ dẫn địa lý, các thành viên phải qui định những biện pháp pháp lý đối với các bên liên quan nhằm ngăn chặn:
+ Việc sử dụng bất kỳ phương tiện nào để đặt tên hay giới thiệu một hàng hóa mà chỉ dẫn hoặc gợi ý rằng hàng hóa đó xuất xứ từ một khu vực địa
lý khác với nơi xuất xứ thật để lừa dối công chúng về xuất xứ địa lý của hàng hóa;
+ Bất kỳ việc sử dụng nào tạo nên một hành động cạnh tranh không lành mạnh theo như định nghĩa tại Điều 10bis Công ước Paris”
- Điều 23.1 của Hiệp định TRIPS còn qui định chặt chẽ hơn, nhằm tăng cường việc bảo hộ cho rượu vang và rượu mạnh (đây là các hàng hóa nổi
tiếng ở châu Âu), cụ thể là “Mỗi thành viên sẽ qui định các biện pháp pháp lý đối với các bên liên quan để ngăn chặn việc sử dụng một chỉ dẫn địa lý dùng cho rượu vang và rượu mạnh không xuất xứ tại khu vực mà chỉ dẫn địa lý đã nêu hoặc chỉ ra loại rượu mạnh không có xuất xứ từ khu vực mà chỉ dẫn địa
lý nêu ra, thậm chí nếu xuất xứ thật của hàng hóa được chỉ ra hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng do dịch hoặc đi kèm sự diễn đạt như “loại”, “kiểu”, “bắt chước” hoặc “thuộc loại đó”
Thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” đã được sử dụng chính thức trong Hiệp định TRIRS Việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với các sản phẩm rượu vang và rượu mạnh được qui định rất nghiêm ngặt, yêu cầu các nước thành viên phải có biện pháp xử lý cả các dấu hiệu tương tự với chỉ dẫn địa lý
Chúng ta thấy rằng, chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa rất gần với nhau Có thể nói, tên gọi xuất xứ hàng hóa là một dạng đặc biệt của chỉ dẫn địa lý Chỉ dẫn địa lý có phạm vi rộng hơn, chỉ dẫn địa lý có thể là biểu tượng, hình ảnh (dấu hiệu) còn tên gọi xuất xứ chỉ là “tên gọi” cụ thể của một nước hay một khu vực địa lý
Chỉ dẫn địa lý phải có các điều kiện sau:
- Là dấu hiệu chỉ dẫn hàng hóa có nguồn gốc từ một vùng lãnh thổ, quốc gia hay địa phương cụ thể
Trang 23- Hàng hóa mang chỉ dẫn địa lý phải có chất lượng, danh tiếng hoặc có đặc tính khác do điều kiện địa lý mang lại
Mối liên kết giữa danh tiếng, tính chất, chất lượng đặc thù của hàng hóa với các điều kiện địa lý là yếu tố quan trọng nhất Trong thực tế, việc chứng minh mối quan hệ, liên kết này không phải dễ dàng thực hiện được mà đòi hỏi phải đầu tư nhiều công sức, tiến hành nghiên cứu, điều tra cụ thể mới chứng minh được
Qui định pháp luật của Việt Nam về chỉ dẫn địa lý
- Đầu tiên phải kể đến Pháp lệnh bảo hộ sở hữu công nghiệp số LCT/HDNN8, ban hành ngày 28/01/1989, tại Pháp lênh này đã có qui định
13-về tên gọi xuất xứ hàng hóa, tại Điều 4.5 đã nêu “Tên gọi xuất xứ hàng hóa
là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố
tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó” Như vậy, tại Pháp lệnh
này đã qui định tương đối rõ về tên gọi xuất xứ hàng hóa, một dạng đặc biệt của chỉ dẫn địa lý
- Bộ Luật dân sự năm 1995 quy định tại điều 786 Tên gọi xuất xứ
hàng hoá, trong đó nêu rõ: Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó Như vậy, Bộ Luật dân sự 1995 không trực tiếp quy định khái niệm chỉ dẫn địa lý mà gián tiếp quy định qua tên gọi xuất xứ hàng hoá, nhưng đã quy định những yếu tố được xem như nội hàm của khái
niệm chỉ dẫn địa lý như: tên địa lý của nước, địa phương, các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó
- Bộ Luật dân sự năm 2005 đã có qui định về chỉ dẫn địa lý Tại Điều
750 Bộ Luật dân sự năm 2005 có nêu chỉ dẫn địa lý là một đối tượng của
Trang 24quyền sở hữu công nghiệp “Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý’
- Luật SHTT Việt Nam đã định nghĩa tại Điều 22.4, như sau:
“Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể” [14; điều 22.4]
Chỉ dẫn địa lý là “dấu hiệu dùng để chỉ” khái niệm dấu hiệu ở đây có hàm ý rộng hơn tên gọi xuất xứ nhưng nó không có nghĩa là bất kỳ dấu hiệu nào mà nên hiểu là dấu hiệu đó phải có ý nghĩa tượng trưng cho khu vực địa
lý Nhìn vào dấu hiệu đó, người ta có thể liên tưởng ngay đến khu vực địa lý, hay nói cách khác những dấu hiệu đó là những hình ảnh nổi tiếng, có mối liên kết chặt chẽ với khu vực địa lý Ví dụ thực tế như có thể dùng hình ảnh của tháp Eiffel của Pháp hay chùa Một Cột của Việt Nam làm dấu hiệu chỉ dẫn địa lý Định nghĩa của Việt Nam về chỉ dẫn địa lý cũng phù hợp với qui định của quốc tế
Điều 22.4 của Luật SHTT mới chỉ đưa ra định nghĩa chung về chỉ dẫn địa lý Tuy nhiên, các điều khoản của Luật SHTT đã qui định khá chặt chẽ về điều kiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, cụ thể như sau:
- Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
+ Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
+ Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định
Phân tích điều này, ta thấy có mấy nội hàm sau:
+ Đó là phải có nguồn gốc từ vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng, điều này khẳng định sản phẩm đó bắt buộc phải xuất phát từ khu vực địa lý đã đề cập, thể hiện chức năng “chỉ dẫn” cung cấp thông tin cho người tiêu dùng biết xuất xứ của hàng hóa là của khu vực địa lý đó chứ không phải của nơi khác
Ví dụ như, nước mắm Phú Quốc, người tiêu dùng biết được rằng loại nước
Trang 25mắm đó có xuất xứ từ đảo Phú Quốc của Việt Nam Thực ra, yếu tố này thực hiện chức năng chỉ dẫn nguồn gốc cơ bản (Indication orgin)
+ Có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý quyết định Điều này là hiển nhiên, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý phải có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính, sản phẩm đó sẽ không có giá trị gì khi
nó không được ai biết đến hoặc chất lượng không tốt Điều ta cần chú trọng ở đây là “do điều kiện địa lý quyết định” tức là danh tiếng hay chất lượng đặc thù đó phải do điều kiện địa lý tạo nên, các yếu tố của điều kiện địa lý đã tác động lên sản phẩm để tạo ra những sản phẩm có danh tiếng, chất lượng
- Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa
+ Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo
hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm;
+ Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó
Phân tích điều này, ta thấy có nội hàm sau:
+ Pháp luật Việt Nam cũng như quốc tế qui định rằng một khi những chỉ dẫn địa lý đã trở thành tên gọi chung của hàng hóa thì nó sẽ mất đi tính chất chỉ dẫn đặc biệt, riêng của hàng hóa mà nó chỉ giúp người ta liên tưởng đến một loại hàng hóa chung mà thôi Một ví dụ cụ thể là trường hợp của rượu Champagnes (Sâm banh) Đây là rượu của một vùng khá nôi tiếng của Cộng hòa Pháp Tuy nhiên, ở Việt Nam ta, từ trước đến nay rất ít người biết điều này mà đều tưởng rượu Sâm banh là một loại rượu vang nổ, thậm chí rượu vang nổ của Mỹ, Chile chúng ta cũng đều gọi là rượu sâm banh Chính
Trang 26vì vậy, ở Việt Nam loại rượu này của Pháp đã mất đi tính chất chỉ dẫn riêng
và sẽ không được bảo hộ là chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam
+ Khi chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đã được bảo hộ thì chỉ dẫn địa lý đó sẽ không được bảo hộ nữa vì nó sẽ gây nhầm lẫm mặt khác nếu bảo hộ cho chỉ dẫn địa lý đó nó sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng nhãn hiệu đã tồn tại và được bảo hộ trước đó Ví dụ cho trường hợp này là Bia
Hà Nội, sản phẩm này đã nổi tiếng và nhãn hiệu này thuộc sở hữu của Tổng công ty rượu bia và nước giải khát Hà Nội, nhãn hiệu này đã được sử dụng lâu năm và rất nổi tiếng và nó sẽ không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý nữa
+ Đối với các chỉ dẫn địa lý ở nước ngoài nhưng tại nước xuất xứ nó không còn được bảo hộ nữa vì một lý do nào đó thì đương nhiên nó sẽ không được bảo hộ ở Việt Nam nữa Điều này có nghĩa là tại nước xuất xứ chỉ dẫn địa lý đã không còn được coi là chỉ dẫn địa lý nữa, tức là nó đã mất đi những điều kiện để được bảo hộ với danh nghĩa là chỉ dẫn địa lý thì nó cũng sẽ không được bảo hộ ở Việt Nam nữa
- Danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý
+ Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và chọn lựa sản phẩm đó
+ Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hoá học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp
Qui định thế nào là có danh tiếng và chất lượng đặc thù của sản phẩm: + Ta không thể nói chung chung là sản phẩm của tôi rất nổi tiếng, vậy thế nào được coi là nổi tiếng, nó phải được người tiêu dùng tín nhiệm và chọn mua sản phẩm đó Thực tế, mức độ tín nhiệm rất khó đo được bằng định
Trang 27lượng cụ thể mà nó chỉ có thể xác định ở mức độ cảm tính hoặc trong lĩnh vực, tầng lớp hẹp
+ Chất lượng, đặc tính của sản phẩm phải được xác định cụ thể, có thể kiểm tra được bằng các phương tiện, chuyên gia cụ thể ví dụ như xác định hàm lượng 93,5% Nacl trong muối bạc Liêu phải có máy móc và kỹ thuật viên thực hiện mới biết được
- Điều kiện địa lý liên quan đến chỉ dẫn địa lý
+ Các điều kiện địa lý liên quan đến chỉ dẫn địa lý là những yếu tố tự nhiên, yếu tố về con người quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó
+ Yếu tố tự nhiên bao gồm yếu tố về khí hậu, thuỷ văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác
+ Yếu tố về con người bao gồm kỹ năng, kỹ xảo của người sản xuất, quy trình sản xuất truyền thống của địa phương
Các điều kiện địa lý phải được hiểu là các yếu tố tự nhiên và cả yếu tố con người Cả hai yếu tố này đều rất quan trọng Có những sản phẩm thì yếu
tố tự nhiên là yếu tố chính tạo ra tính đặc thù của sản phẩm, ví dụ như đất và khí hậu ở vùng Đoan Hùng đã giúp cho quả bưởi ở đấy có mùi thơm, cơm chắc hạt hơn các vùng khác Tuy nhiên, cũng có những sản phẩm do bàn tay con người, hay phương pháp sản xuất lại quyết định cơ bản tính đặc thù, ví dụ như nón lá Huế có được đặc điểm nhẹ, thanh thoát phần lớn là do kỹ thuật chế biến lá nón tạo nên
- Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý
Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý có ranh giới được xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bản đồ
Nói đến khu vực địa lý là nói đến một khu vực cụ thể, nó được xác định chính xác trên bản đồ Việc xác định khu vực địa lý nhiều khi rất đơn giản, khu vực địa lý trùng với địa giới hành chính Tuy nhiên, nhiều khi cũng rất phức tạp, chúng ta phải tiến hành khảo sát, khoanh vùng khu vực địa lý chính xác Thực tế cho thấy, nhiều khi chỉ có một vùng, với diện tích xác định là có
Trang 28các điều kiện địa lý phù hợp, tương đồng còn các vùng lân cận nằm trong cùng một tỉnh, huyện thậm chí một xã đã có các điều kiện địa lý khác nhau
Ví dụ về trường hợp vùng chỉ dẫn địa lý tương ứng với Chỉ dẫn địa lý
“Đại Hoàng” chỉ bao gồm một số thôn, xóm trong 2 xã, thuộc huyện Lý Nhân, cụ thể là:
+ Xã Hoà Hậu gồm các xóm: từ xóm 1 đến xóm 17, diện tích 77 ha + Xã Tiến Thắng gồm các xóm 3; 4; 5; 6; 8; 9; 10; 11 và 12 của thôn Nhân Tiến, diện tích 23 ha
- Bộ KH&CN cũng đã ban hành Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp và Thông tư số 05/2013/TT-BKHCN, ngày 20/02/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 của Bộ KH&CN hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về
sở hữu công nghiệp Tại các văn bản này đã qui định chi tiết về thủ tục đăng
ký chỉ dẫn địa lý cũng như các loại nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận (bảo hộ các loại nhãn hiệu đặc biệt này cũng là một trong những hình thức bảo hộ chỉ dẫn địa lý) Căn cứ vào các văn bản này, người nộp đơn có thể tiến hành lập Tờ khai đăng ký chỉ dẫn địa lý, Bản mô tả sản phẩm tuy nhiên, để hoàn thiện một đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý, người nộp đơn phải nộp kèm các tài liệu chứng minh tính xác thực các số liệu đã nêu trong đơn đăng ký, cụ thể
là các kết quả kiểm tra, thí nghiệm, các đề tài, dự án đã tiến hành nghiên cứu
về chỉ dẫn địa lý tương ướng theo hồ sơ
Quan niệm của Luận văn
Qua việc phân tích khái niệm chỉ dẫn địa lý với các tiêu chí mà các nghiên cứu của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đã nêu, Luận văn sử
dụng khái niệm chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật Việt Nam: Chỉ dẫn
Trang 29địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa
phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể
1.2.2 Quản lý chỉ dẫn địa lý
Quản lý chỉ dẫn địa lý là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước,
tổ chức tập thể (hiệp hội) của các nhà sản xuất, kinh doanh sản phẩm nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Mục tiêu của việc quản lý chỉ dẫn địa lý là đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện sử dụng chỉ dẫn địa lý, ngăn chặn và chống các hành vi sử dụng trái phép chỉ dẫn địa lý Đảm bảo các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đạt yêu cầu về chất lượng, xuất xứ nhằm duy trì danh tiếng của sản phẩm
- Tại Điều 121.4 Luật SHTT quy định rằng “Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước Nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho
tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường Nhà nước trực tiếp thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý.”
Luật pháp Việt Nam qui định chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam
là Nhà nước Tuy nhiên, Nhà nước trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ chức đại diện cho quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền
sử dụng chỉ dẫn địa lý
Quan niệm của Luận văn:
Qua phân tích khái niệm quản lý chỉ dẫn địa lý với các tiêu chí trên,
Luận văn sử dụng định nghĩa quản lý chỉ dẫn địa lý: Quản lý chỉ dẫn địa lý là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức tập thể (hiệp hội) của các nhà sản xuất, kinh doanh sản phẩm nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Trang 301.2.3 Thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Trước hết phải đề cập đến khái niệm sử dụng chỉ dẫn địa lý Theo điều 124.7 Luật SHTT, việc sử dụng chỉ dẫn địa lý là việc thực hiện các hành vi sau:
a) Sản xuất sản phẩm được bảo hộ;
b) Áp dụng quy trình được bảo hộ;
c) Khai thác công dụng của sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ;
d) Lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm quy định tại điểm c khoản này;
đ) Nhập khẩu sản phẩm quy định tại điểm c khoản này
Luật SHTT cũng chỉ rõ các hành vi bị coi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, tại Điều 129.3, cụ thể như sau :
a) Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm mặc dù có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý, nhưng sản phẩm đó không đáp ứng các tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý;
b) Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm tương tự với sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý nhằm mục đích lợi dụng danh tiếng, uy tín của chỉ dẫn địa lý;
c) Sử dụng bất kỳ dấu hiệu nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sản phẩm có nguồn gốc
từ khu vực địa lý đó;
d) Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ đối với rượu vang, rượu mạnh cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó, kể cả trường hợp có nêu chỉ dẫn về nguồn gốc xuất xứ thật của hàng hoá hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm hoặc được sử dụng kèm theo các từ loại, kiểu, dạng, phỏng theo hoặc những từ tương tự như vậy
Trang 31Căn cứ vào các qui định trên đây, các cơ quan thực thi quyền đã có đầy
đủ cơ sở để tiến hành các biện pháp nhằm bảo đảm cho pháp luật về sở hữu công nghiệp được chấp hành tốt Tuy nhiên, rất đáng tiếc là trong thực tế các
vụ vi phạm đối với chỉ dẫn địa lý còn diễn ra nhiều và nghiêm trọng Ví dụ trường hợp của nước mắm Phú Quốc, theo ý kiến của bà Nguyễn Thị Tịnh, chủ tịch Hiệp hội nước mắm Phú Quốc cho biết : „toàn đảo hiện có 104 nhà thùng làm nước mắm, sản lượng bình quân đạt khoảng 25-30 triệu lít/năm Tuy nhiên, số lượng sản phẩm mang nhãn hiệu Nước mắm Phú Quốc tiêu thụ
trên thị trường lên đến khoảng 200 triệu lít/năm Như vâ ̣y, có khoảng 85-90%
nước mắm mang nhãn hiê ̣u nước mắm Phú Quốc đang bán trên thi ̣ trường là hàng giả, hàng nhái Qua ví dụ này, chúng ta thấy, việc xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý vẫn đang diễn ra rất nghiệm trọng Điều này, chứng tỏ rằng, công tác thực thi, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý vẫn chưa được thực hiện tốt
Về khái niệm thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý, hiện tại đang vướng mắc vì ngay cả khái niệm thực thi quyền SHTT cũng chưa thống nhất. 3
Pháp luật hiện nay chưa có khái niệm cụ thể thế nào là “Thực thi quyền SHTT” Trên thực tế khái niệm “Thế nào là thực thi quyền SHTT” chỉ tồn tại trong các nghiên cứu khoa học, báo cáo,…mà những tài liệu này thì tính phổ cập lại quá thấp Không có một khái niệm, dù là khái niệm chung nhất “Thế nào là thực thi quyền SHTT” ở một quốc gia có như chúng ta sẽ có thể dẫn đến tình trạng là các cán bộ Nhà nước hoặc chính doanh nghiệp không biết liệu hành vi của mình có phải là “thực thi quyền SHTT” hay không? Hay chính các cơ quan có chức năng thực thi lại băn khoăn vì trách nhiệm của mình là “thực thi” và “hỗ trợ thực thi” nhưng lại không rõ việc mình làm có phải là “thực thi quyền SHTT” không? Chính vì pháp luật không rõ ràng nên
3 Lê Hương Thảo, đăng trên
Trang 32http://luatminhkhue.vn/bi-mat/thuc-thi-quyen-so-huu-tri-tue-trong-boi-canh-hoi-hiện nay đang tồn tại một số quan điểm khác nhau về “Thực thi quyền SHTT” như sau:
- Thực thi quyền sở hữu trí tuệ được hiểu không chỉ giới hạn ở nghĩa
người nắm giữ quyền thực hiện các hành vi liên quan đến đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ, mà hơn thế nữa còn có nghĩa là việc người nắm giữ quyền
ngăn chặn và chống lại người thứ ba thực hiện trái phép các hành vi đó
- Thực thi quyền sở hữu trí tuệ là toàn bộ các hoạt động nhằm đưa các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đi vào cuộc sống, được
“thi hành trên thực tế” Theo cách hiểu này, thực thi quyền sở hữu trí tuệ
chính là quá trình thực hiện toàn bộ các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, không chỉ là các quy định về quyền của chủ thể đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, các biện pháp chống lại hành vi xâm phạm, mà còn bao gồm tất cả các quy định khác liên quan đến quá trình xác lập quyền cho chủ thể
Theo Hiệp định TRIPS, tại điều 41 có đề cập một cách gián tiếp đến
khái niệm “Thực thi quyền SHTT”, đó là “cho phép thực hiện các biện pháp
hiệu quả để chống lại bất kỳ hành vi nào vi phạm quyền SHTT, bao gồm cả các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm và ngăn ngừa hành vi vi phạm có
thể xảy ra trong tương lai”
Quan niệm của Luận văn:
Qua phân tích khái niệm thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý với các
tiêu chí trên, Luận văn sử dụng định nghĩa: thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa
lý là việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý, bao gồm:
- Các quy định về xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lý;
- Các quy định về quyền của chủ thể đối với chỉ dẫn địa lý;
- Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Trang 331.3 Các chủ thể quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý
UBND tỉnh có thể trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho các cơ quan, tổ chức khác, với điều kiện cơ quan, tổ chức đó đại diện cho quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý
Trong thực tế, UBND tỉnh thường trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho
Sở KH&CN, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc UBND huyện
Để tiến hành quản lý chỉ dẫn địa lý, cơ quan quản lý thường thành lập hoặc trao quyền cho cơ quan trực thuộc thực hiện chức năng kiểm soát chất lượng, những cơ quan này thường được coi là có chuyên môn, trang thiết bị
để tiến hành kiểm tra chất lượng sản phẩm, các cơ quan này thường được gọi
là cơ quan “kiểm soát bên ngoài”
Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý thuộc về các tổ chức, có sản xuất, kinh doanh tại khu vực địa lý, sản phẩm, quy trình sản xuất đạt yêu cầu và được cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý trao quyền sử dụng, bằng hình thức cấp giấy chứng nhận sử dụng chỉ dẫn địa lý
Căn cứ vào tình hình thực tiễn và các quy định của pháp luật và để hỗ trợ cho các địa phương, Cục Sở hữu trí tuệ và Chương trình hỗ trợ tài sản trí
Trang 34tuệ của Chính phủ đã xây dựng một mô hình mẫu về quản lý chỉ dẫn địa lý ở địa phương, như sau:
1.3.2 Chủ thể thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Cũng như các đối tượng sở hữu công nghiệp khác, các chủ thể thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý là:
+ Thanh tra KH&CN
+ Cơ quan quản lý thị trường
+ Cảnh sát kinh tế
+ Cơ quan hải quan
Chỉ dẫn địa lý là một đối tượng đặc thù, ngoài việc thực thi quyền nhằm chống lại việc làm giả, làm nhái sản phẩm, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, chúng ta còn phải quản lý, thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý sao cho các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được nhà nước bảo
hộ phải đáp ứng các tiêu chuẩn đặt ra như khi đăng ký xác lập quyền Để làm tốt công tác thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý cần có
sự tham gia của các cơ quan thực thi như nhà nước quy định trên đây và cả sự tham gia của các cơ quan chuyên môn hiểu biết về sản phẩm
Trang 351.3.3 Hiệp hội tham gia quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Hiệp hội là tổ chức tập thể của những người sản xuất, kinh doanh sản
phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại một khu vực địa lý xác định Hiệp hội do các
nhà sản xuất, kinh doanh sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tự nguyện thành lập
và hoạt động theo quy định của pháp luật Thực tế, ở các nước có hoạt động
quản lý chỉ dẫn địa lý phát triển như Pháp, Bồ Đào Nha thì tổ chức tập thể đã
được hình thành và hoạt động tốt trước khi họ tiến hành nộp đơn đăng ký chỉ
dẫn địa lý Tuy nhiên, ở Việt Nam, phần lớn, khi nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa
lý, hiệp hội mới được thành lập
- Chương trình hỗ trợ tài sản trí tuệ của Chính phủ cũng đã đưa ra mô
hình tổ chức mẫu cho hiệp hội, như sau:
Sơ đồ tổ chức của hiệp hội (nguồn: Cục Sở hữu trí tuệ)
Thư ký
Kiểm soát 2
Kiểm soát 1
P chủ tịch
Kiểm soát Trưởng
Ủy viên
3
Kiểm soát 3
Chi hội trưởng
Trang 36Bộ máy tổ chức của hiệp hội được trình bày trên đây có đầy đủ các thành phần từ Chủ tịch, Phó chủ tịch đến các ủy viên, ban kiểm soát, các chi hội trưởng, các cán bộ giúp việc về kế hoạch, kỹ thuật và kiểm soát:
+ Kiểm tra, xác nhận đủ điều kiện sử dụng chỉ dẫn địa lý cho các hội viên để đề nghị cơ quan quản lý chỉ dẫn địa lý trao quyền sử dụng;
+ Theo dõi tình hình sản xuất, kinh doanh về mặt địa điểm, diện tích, sản lượng;
+ Nghiên cứu xây dựng, trình phê duyệt, tổ chức áp dụng và kiểm soát việc áp dụng các quy định về kỹ thuật như canh tác, thu hoạch, chế biến, bảo quản sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý nhằm đảm bảo bảo chất lượng đã đăng ký;
+ Xây dựng và quản lý hệ thống tem, nhãn, bao bì sản phẩm, hệ thống quầy, kệ trưng bày sản phẩm;
+ Điều tra nghiên cứu và tổ chức các kênh thương mại cho việc tiêu thụ sản phẩm, quảng bá sản phẩm và nâng cao giá trị sản phẩm
Trong các chức năng của hiệp hội thì chức năng kiểm soát chất lượng sản phẩm hay còn gọi là “kiểm soát bên trong chất lượng sản phẩm” là quan trọng nhất Sản phẩm có đảm bảo chất lượng như đã đăng ký hay không là phụ thuộc vào công tác kiểm soát này, hiệp hội phải giám sát, kiểm soát toàn
bộ quá trình tạo ra sản phẩm, ở tất cả các khâu, đảm bảo tuân thủ các điều kiện về tiêu chuẩn chất lượng
* Kết luận Chương 1
Trong Chương 1, Luận văn đã đề cập đến cơ sở lý luận, trong đó nhấn mạnh các khái niệm quyền sở hữu công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, quản lý và thưc thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý, vai trò của của các
tổ chức liên quan, vai trò của hiệp hội trong công tác quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý
Công tác quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý là lĩnh vực tương đối mới ở Việt Nam Việc quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa
lý tại các địa phương hiện nay đang được thực hiện như thế nào? Trong
Trang 37Chương 2 tác giả sẽ nghiên cứu hiện trạng quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý ở một số địa phương có chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ
Trang 38CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ THỰC THI QUYỀN ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
2.1 Thực trạng quản lý và thực thi quyền đối với chỉ dẫn địa lý do cơ quan nhà nước tiến hành
2.1.1 Tổng quan về quản lý chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam
Chỉ dẫn địa lý đầu tiên của Việt Nam được bảo hộ là Tên gọi xuất xứ hàng hóa PHÚ QUỐC cho sản phẩm nước mắm của tỉnh Kiên Giang, vào năm 2001
Đến tháng 10.2013, đã có 36 chỉ dẫn địa lý được bảo hộ tại Việt Nam (trong đó có 3 chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc từ nước ngoài), chủ thể quản lý các chỉ dẫn địa lý này được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2
Chủ thể quản lý chỉ dẫn địa lý
Số đăng bạ Chỉ dẫn địa lý Sản phẩm Cơ quan/Hiệp hội quản lý
00001 Phú Quốc Nước mắm UBND tỉnh Kiên Giang
00002 Mộc Châu Chè Shan tuyết Sở KH&CN Sơn La
00003 Cognac Rượu mạnh (Cộng hòa Pháp)
Văn phòng quốc gia liên ngành COGNAC (Bureau National interprofessionnel du Cognac)
00004 Buôn Ma Thuột Cà phê nhân - UBND tỉnh Đắk Lắk
- Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột
00005 Đoan Hùng Bưởi quả Sở KH&CN Phú Thọ
00006 Bình Thuận Quả thanh long Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Sở KH&CN Bình Thuận
00007 Lạng Sơn Hoa hồi UBND tỉnh Lạng Sơn
00008 Pisco Rượu (Cộng hòa Peru) Cộng hòa Peru (the Republic of Peru)
00009 Thanh Hà Quả vải thiều UBND tỉnh Hải Dương
00010 Phan Thiết Nước mắm Sở KH&CN Phan Thiết
00011 Hải Hậu Gạo tám xoan UBND tỉnh Nam Định
00012 Vinh Quả cam Sở KH&CN Nghệ An
Tân Cương Chè UBND tỉnh Thái Nguyên
00014 Hồng Dân Gạo Một Bụi Đỏ UBND tỉnh Bạc Liêu
Lục Ngạn Vải thiều UBND tỉnh Bắc Giang
Trang 3900016 Hòa Lộc Xoài Cát Sở KH&CN Tiền Giang
00017 Đại Hoàng Chuối Ngự UBND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
00018 Văn Yên Quế vỏ UBND huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
00019 Hậu Lộc Mắm tôm UBND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
00025 Bảy Núi Gạo Nàng Nhen Thơm UBND huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang
00026 Trùng Khánh Hạt dẻ UBND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
00027 Bà Đen Mãng cầu (Na) Sở KH&CN Tây Ninh
00028 Nga Sơn Cói UBND huyện Nga Sơn, tỉnh
Thanh Hóa
00030 Ninh Thuận Nho UBND tỉnh Ninh Thuận
00031 Tân Triều Bưởi UBND tỉnh Đồng Nai
00032 Bảo Lâm Hồng không hạt UBND tỉnh Lạng Sơn
00033 Bắc Kạn Quýt Sở KH&CN Bắc Kạn
00034 Yên Châu (Sơn La) Xoài tròn Sở KH&CN Sơn La
00035 Mèo Vạc (Hà Giang) Mật ong Sở KH&CN Hà Giang
00036 Năm roi (Bình Minh) Bưởi UBND tỉnh Vĩnh Long
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ tài liệu của Cục SHTT)
Các quốc gia khác nhau đã xây dựng mô hình quản lý chỉ dẫn địa lý/nhãn hiệu đặc trưng riêng, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình, với mục tiêu bảo vệ tài sản quốc gia (chỉ dẫn địa lý), mang lại lợi nhuận cao nhất cho các tổ chức/cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Trang 402.1.2 Hiệu quả quản lý chỉ dẫn địa lý do cơ quan nhà nước là chủ thể - Trường hợp cà phê Buôn Ma Thuột
Trong tháng 9.2011, các phương tiện thông tin đại chúng dồn dập đưa
tin “Thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột có nguy cơ bị mất” 4 Tin này đã gây
sock cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam, nhưng lại không mới đối với giới nghiên cứu SHTT, một số bài viết trong lĩnh vực SHTT đã lưu ý các doanh nghiệp Việt Nam về khả năng bị mất tài sản trí tuệ của mình không chỉ tại thị trường nước ngoài mà còn bị mất ngay tại thị trường trong nước
Theo quy định của pháp luật Việt Nam về SHTT, Nhà nước là chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý, tuy nhiên trong thực tế Nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉ
dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường “Nhà nước trực tiếp thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý” (điều 121.4 Luật SHTT) Việc Nhà
nước trực tiếp quản lý hoặc trao quyền cho các tổ chức hiệp hội quản lý chỉ dẫn địa lý đã dẫn đến những bất cập nhất định
Đối với chỉ dẫn địa lý Buôn Ma Thuột cho cà phê nhân (đăng bạ quốc gia số 0004) từ năm 2005, UBND tỉnh Đắk Lắk là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là chủ thể quản lý
Nhưng UBND tỉnh Đắk Lắk đã không phát triển “Buôn Ma Thuột cho sản phẩm cà phê” ra thị trường các nước có khả năng tiêu thụ cà phê của chúng ta Lỗi này thuộc UBND tỉnh Đắk Lắk, vì có thể cơ quan này đã không nắm được nguyên tắc bảo hộ độc lập theo quy định của Công ước Paris mà tự cho rằng mình có quyền xuất khẩu cà phê Buôn Ma Thuột sang thị trường quốc gia nào mà mình muốn
Hậu quả là Guangzhou Buon Ma Thuot Coffee Co., Ltd (một doanh nghiệp của Trung Quốc) đã đăng ký yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu "BUON MA
4 Xin tham khảo: http://www.cand.com.vn/vi-VN/kinhte/2011/9/155989.cand và các nguồn thông tin khác