Mặt khác, những nội dung nghiên cứu trên là nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước trong phạm vi những quy định pháp luật về du lịch Pháp lệnh Du lịch 1999 hoặc Luật Du lịch 2005 và các v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM CAO THÁI
PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
TRONG HOẠT ĐỘNG LỮ HÀNH, HƯỚNG DẪN DU LỊCH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 21.3 Quan niệm pháp luật về du lịch
1.4 Thực thi pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch
Chương 2: TỔNG QUAN VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ LỮ HÀNH,
HƯỚNG DẪN DU LỊCH VÀ VIỆC THỰC THI HIỆN NAY 2.1 Văn bản pháp luật về du lịch
2.1.1 Luật Du lịch 2005
2.1.2 Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007
2.1.3 Nghị định 149/2007/NĐ-CP ngày 09/10/2007
2.1.4 Thông tư 89/2008/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2008
2.1.5 Một số quy định pháp luật khác có nội dung liên quan
2.2 Quy định pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch
2.2.1 Quy định pháp luật về lữ hành
2.2.2 Quy định pháp luật về hướng dẫn du lịch
2.3 Quy định pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch
của một số quốc gia
Trang 32.4 Thực thi pháp luật trong hoạt động lữ hành
2.4.1 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
2.4.2 Điều kiện kinh doanh lữ hành
2.4.3 Thủ tục cấp phép kinh doanh lữ hành quốc tế
2.4.4 Bảo hiểm du lịch
2.4.5 Đại lý lữ hành
2.4.6 Doanh nghiệp lữ hành quốc tế có vốn đầu tư nước ngoài
2.4.7 Một số vấn đề khác liên quan đến hoạt động lữ hành
2.5 Thực thi pháp luật trong hướng dẫn du lịch
2.5.1 Đối với người Việt Nam
2.5.2 Đối với người nước ngoài
2.6 Sự tham gia của khách du lịch
2.7 Đánh giá chung
Chương 3: NHỮNG ĐỀ XUẤT TĂNG CƯỜNG THỰC THI
PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG LỮ HÀNH,
HƯỚNG DẪN DU LỊCH Ở VIỆT NAM
3.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về pháp luật và
Trang 5ra đời trở thành công cụ hữu ích góp phần tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch Tuy nhiên, sau khi Luật Du lịch có hiệu lực, việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực thi luật Qua thực tiễn áp dụng đã có một số những quy định bộc lộ những hạn chế, bất cập, đồng thời có những vấn đề phát sinh trong thực tiễn nhưng chưa có những quy định bổ sung điều chỉnh Đó là những nguyên nhân gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp phát triển du lịch, đòi hỏi cần nghiên cứu nhằm tăng cường việc thực thi pháp luật về du lịch, đồng thời tìm ra những bất cập giữa những quy định pháp luật với thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật về du lịch để đáp ứng tình hình mới trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế ngày càng sâu rộng
Cho đến nay cũng có một vài nghiên cứu về vấn đề liên quan đến pháp luật về du lịch như công trình nghiên cứu khoa học của Vụ Pháp chế, Tổng cục Du lịch với đề tài "Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu lực quản
lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực du lịch" (năm 2001) do Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Vân làm Chủ nhiệm đề tài, chủ yếu nghiên cứu về thực
Trang 6trạng công tác quản lý nhà nước qua việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực
du lịch; Luận án Tiến sĩ của tác giả Trịnh Đăng Thanh với đề tài "Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay" (năm 2004) thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng là đề tài nghiên cứu sâu về góc độ quản lý nhà nước Cả hai công trình nghiên cứu này đều thực hiện trước khi Luật Du lịch 2005 ra đời Một công trình nghiên cứu khác
là Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nga với đề tài "Quản lý nhà nước
về du lịch trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam bằng pháp luật" (năm 2008) nhưng cũng chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về du lịch bằng pháp luật và những phương hưóng, giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch Những công trình nghiên cứu nêu trên đều tập trung đi vào nghiên cứu dưới góc độ quản lý nhà nước bằng pháp luật, nhà nước là chủ thể quản lý với đối tượng quản lý là hoạt động du lịch nói chung chứ không nghiên cứu chính những quy định pháp luật về du lịch và việc thực thi pháp luật trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch mà trong đó chính những cơ quan nhà nước cũng là đối tượng chấp hành pháp luật trong quá trình thực hiện quản lý hoạt động du lịch Trong khi đó, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến những tồn tại, bất cập giữa các văn bản pháp luật với thực tiễn thi hành Mặt khác, những nội dung nghiên cứu trên là nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước trong phạm vi những quy định pháp luật về du lịch (Pháp lệnh Du lịch 1999 hoặc Luật Du lịch 2005 và các văn bản hướng dẫn) chứ không nghiên cứu về vấn đề thực thi pháp luật trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch
Vì vậy, nội dung nghiên cứu đề tài này tập trung vào những quy định pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch và một số quy định pháp luật liên quan có nội dung điều chỉnh hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch; thực trạng việc thi hành pháp luật trong hoạt động lữ hành và hướng dẫn du lịch ở Việt
Trang 7Nam hiện nay, từ việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, những tồn tại, bất cập giữa những quy định so với thực tiễn đến những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình diễn ra hoạt động lữ hành và hướng dẫn du lịch đòi hỏi có sự điều chỉnh của pháp luật; những đề xuất nhằm tăng cường thực thi pháp luật trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch và điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện những quy định pháp luật về du lịch
Như vậy, việc nghiên cứu "Pháp luật và thực thi pháp luật trong
hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch ở Việt Nam hiện nay" là một việc
làm vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn, là một đòi hỏi cấp bách hiện nay
Bên cạnh ý nghĩa khoa học nêu trên, đề tài đặc biệt có ý nghĩa thực tiễn Là một đề tài ứng dụng, góp phần cùng ngành Du lịch vận dụng lý luận khoa học nhà nước - pháp luật vào thực tiễn, thực hiện công cuộc cải cách hoàn thiện hệ thống pháp luật, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch
2 Mục tiêu - nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về pháp luật và thực thi pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch, nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành và thực trạng thi hành; đề xuất một số giải pháp sửa đổi,
bổ sung hoàn thiện pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch góp phần tăng cường thực thi pháp luật trong hoạt động du lịch
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu là phải hệ thống được những quy định pháp luật hiện hành về lữ hành, hướng dẫn du lịch, có nghiên cứu một số quy định liên quan, những cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO Đồng thời tổng hợp, khảo sát đánh giá những hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch đã phát sinh trong thực tiễn nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh hoặc có điều chỉnh nhưng còn bất cập
Trang 8Trên cơ sở đó đề xuất những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp nhằm hoàn thiện
hệ thống pháp luật hiện hành về du lịch
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Là những văn bản pháp luật về lữ hành, hướng
dẫn du lịch ở Việt Nam hiện nay Việc thực thi pháp luật trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch đang diễn ra trong thực tiễn
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung sẽ đi sâu nghiên cứu những quy định pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch trong Luật Du lịch 2005, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Du lịch; nghiên cứu việc chấp hành quy định pháp luật của các tổ chức,
cá nhân hoạt động kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch và việc thực hiện pháp luật của các cơ quan quản lý trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch
Về không gian: Thực trạng việc thi hành pháp luật trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch tại Việt Nam hiện nay
Về thời gian: Những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn từ khi Luật Du lịch
2005 ra đời và có hiệu lực thi hành cho đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp luật, luận văn sử dụng những phương pháp sau: Phương pháp chuyên gia; Phương pháp tổng hợp; Phương pháp so sánh; Phương pháp hệ thống
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, kết cấu của Luận văn gồm 3 chương, cụ thể là:
Chương 1: Pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch ở Việt Nam
Trang 9Chương 2: Thực thi pháp luật trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch ở Việt Nam
Chương 3: Những đề xuất tăng cường thực thi pháp luật trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch ở Việt Nam
Trang 10Như vậy pháp luật được hình thành bằng hai con đường: Thứ nhất nhà nước thừa nhận các quy phạm xã hội - phong tục, tập quán chuyển chúng thành pháp luật, thứ hai, bằng hoạt động xây dựng pháp luật định ra những quy phạm mới
Pháp luật cũng giống như mọi hiện tượng xã hội, có các hình thức thể hiện và hình thức tồn tại riêng Hình thức pháp luật gồm: hình thức bên ngoài (nguồn của pháp luật) và hình thức bên trong của pháp luật (cấu trúc của pháp luật)
Khi nói đến hình thức bên ngoài của pháp luật là nói đến sự biểu hiện
ra bên ngoài của pháp luật Đó là văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng
xã hội chủ nghĩa và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống Văn bản quy phạm pháp luật chia làm 2 loại: văn bản luật và văn bản dưới luật
Trang 11Hình thức bên trong của pháp luật là hình thức cấu trúc của pháp luật Pháp luật có các bộ phận cơ cấu, bao gồm: quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật
Từ định nghĩa trên rút ra những nhận xét sau:
- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Nghĩa là chỉ có những văn bản nào được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền (theo luật định) ban hành mới có thể là văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng các quy tắc xử sự chung (các quy phạm pháp luật) Điều này để phân biệt với những văn bản mặc dù có ý nghĩa pháp lý nhưng không chứa đựng các quy tắc xử sự chung thì cùng không phải là văn bản quy phạm pháp luật Ví dụ: Lời kêu gọi, lời hiệu triệu, thông báo, tuyên bố của nhà nước xã hội chủ nghĩa mặc dù có ý nghĩa pháp lý nhưng không phải là văn bản quy phạm pháp luật
- Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong đời sống, trong mọi trường hợp Khi có sự kiện pháp lý xảy ra văn bản quy phạm pháp luật lại được áp dụng
- Tên gọi, nội dung và trình tự ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong pháp luật
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam theo Hiến Pháp
1992 và Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
- Văn bản do Quốc Hội ban hành: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết
- Văn bản do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành: Pháp lệnh, Nghị quyết
- Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc Hội, Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội
Trang 12Căn cứ vào trình tự ban hành và giá trị pháp lý, các văn bản quy phạm pháp luật được chia ra thành 2 loại là các văn bản luật và văn bản dưới luật
1.1.2 Văn bản luật
Văn bản luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước ban hành Văn bản Luật có các hình thức là Hiến pháp và luật
- Hiến pháp (bao gồm Hiến pháp và các Đạo luật về bổ sung hay sửa đổi Hiến pháp) Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất của Nhà nước như: Hình thức và bản chất của Nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp
- Luật (bộ luật, luật), nghị quyết của Quốc hội có chứa đựng các quy phạm pháp luật là những văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành để cụ thể hoá Hiến pháp, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước
Trong lĩnh vực du lịch, Luật Du lịch 2005 là văn bản luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các hoạt động du lịch Luật Du lịch có giá trị pháp lý cao chỉ sau Hiến pháp, vì vậy khi xây dựng các văn bản dưới luật quy định về
du lịch phải dựa trên cơ sở các quy định thể hiện trong Luật Du lịch 2005, không được trái với các quy định đó
1.1.3 Văn bản dưới luật
Văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật quy định
Trang 13Theo Hiến pháp năm 1992 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hiện nay ở nước ta có những loại văn bản dưới luật sau:
- Pháp lệnh do Uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành quy định những vấn đề được Quốc hội giao Thẩm quyền ban hành Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ quốc hội được quy định trong Điều 91 và Điều 93 của Hiến pháp năm 1992
- Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ quốc hội được ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước khác
- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, Luật quy định
- Nghị định, nghị quyết của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ
- Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng
- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; quyết định, chỉ thị, thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Thông tư liên tịch
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp
- Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp
Nhà nước trong quá trình thực hiện quyền quản lý xã hội đều ban hành một số lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật làm chuẩn mực chung để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực của đời sống quốc gia Toàn
bộ các quy phạm trong các văn bản đó không tồn tại một cách rời rạc mà có quan hệ gắn bó hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất- một hệ thống
Trang 14Như vậy, hệ thống pháp luật là cơ cấu bên trong của pháp luật được quy định một cách khách quan bởi các điều kiện kinh tế - xã hội, biểu hiện ở
sự phân chia hệ thống ấy thành các bộ phận cấu thành khác nhau, phù hợp với những đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, nhưng các bộ phận khác nhau ấy có mối quan hệ qua lại chặt chẽ và thống nhất với nhau Cấu thành của hệ thống pháp luật gồm có: quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và ngành luật
1.1.4 Pháp luật về du lịch
Cho đến nay tuy chưa có một định nghĩa chính thức pháp luật về du lịch là gì, tuy nhiên trên cơ sở lý luận về pháp luật và hệ thống pháp luật, với cách tiếp cận nhìn từ hình thức bên ngoài của pháp luật thì đó chính là những văn bản quy phạm pháp luật quy định về du lịch Pháp luật về du lịch là một
bộ phận cấu thành không thể tách rời trong một chỉnh thể thống nhất hệ thống pháp luật Việt Nam Trong đó, khi nói đến pháp luật về lữ hành, hướng dẫn
du lịch tức là chỉ nói đến những quy định cụ thể trong những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ nảy sinh trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch
Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, về mặt nội dung không đi sâu nghiên cứu toàn bộ pháp luật về du lịch mà đi sâu nghiên cứu những quy định pháp luật về du lịch được quy định trong Luật Du lịch 2005, các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật Du lịch Trong đó tập trung vào những nội dung quy định về lữ hành, hướng dẫn du lịch
1.2 Thực thi pháp luật
Thực thi pháp luật, theo quan niệm chung nó là một quá trình làm cho những quy định pháp luật được áp dụng trong thực tiễn mà biểu hiện của nó là việc thực hiện pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong cuộc sống xã hội và việc áp dụng pháp luật (hay còn gọi là thi hành pháp luật) của các cơ quan,
Trang 15người có thẩm quyền, nhằm thực hiện trong thực tế các quy phạm pháp luật trong mọi tình huống cụ thể của cuộc sống
Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm xác định những khả năng xử sự của mọi cá nhân, tổ chức Khả năng đó chỉ trở thành hiện thực trong đời sống khi các chủ thể pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật Pháp luật được ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống thì điều đó chứng tỏ công tác quản
lý nhà nước kém hiệu quả Chính vì vậy, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai hoạt động có quan hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước sử dụng pháp luật như là phương tiện để thực hiện sự quản lý đối với xã hôị, và đây là nguyên tắc hiến định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”
Như vậy, thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
Nói cách khác, việc thực hiện thực tế các quy phạm pháp luật, đó là bằng hành vi cụ thể của mình, các chủ thể pháp luật khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, đã bằng các hành vi của mình thực hiện các quy phạm pháp luật phù hợp với các quy định đã được đưa ra
Các quy phạm pháp luật hết sức phong phú cho nên hình thức thực hiện chúng cũng rất phong phú Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:
Tuân thủ pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm Ở hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành động, ví
Trang 16dụ như Hướng dẫn viên du lịch không tiến hành những hành vi trục lợi từ khách du lịch chính là đã tuân thủ pháp luật
Thi hành pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực
Khác với tuân thủ pháp luật, trong hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực, chẳng hạn như Hướng dẫn viên thực hiện việc đeo thẻ khi hoạt động hướng dẫn, hoặc doanh nghiệp lữ hành thực hiện chế độ báo cáo tình hình kết quả kinh doanh lữ hành cho cơ quan quản lý chính là đã thi hành pháp luật
Sử dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi
mà pháp luật cho phép)
Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứ không bị bắt buộc phải thực hiện, chẳng hạn như khách du lịch thực hiện quyền kiến nghị, khiếu nại
Áp dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà
nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc
tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể
Nếu tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những hình thức thực hiện pháp luật mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền Áp dụng pháp luật
Trang 17là một hình thức rất quan trọng của thực hiện pháp luật liên quan đến hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước vì thế cần thiết phải đi sâu nghiên cứu
Thi hành pháp luật - việc áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước: Áp dụng pháp luật là một hoạt động có tổ chức mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quan, người có thẩm quyền, nhằm thực hiện trong thực tế các quy phạm pháp luật trong mọi tình huống cụ thể của cuộc sống
Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau:
- Khi những quan hệ pháp luật với những quyền và nghĩa vụ cụ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước;
- Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia vào quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được;
- Khi cần áp dụng các biện pháp chế tài được nhà nước quy định trong các quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh;
- Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó, hoặc nhà nước xác nhận tồn tại hay không tồn tại một số vụ việc, sự kiện thực tế
Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước Nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức nhà nước
tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật
Áp dụng pháp luật có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước,
cụ thể, hoạt động này chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người
có thẩm quyền tiến hành Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không bị phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng pháp luật Văn bản áp dụng pháp
Trang 18luật mang tính bắt buộc phải thực hiện đối với những cá nhân, tổ chức có liên quan
Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động được thực hiện theo thủ tục do
pháp luật quy định chặt chẽ Trong quá trình áp dụng pháp luật các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên có liên quan phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục
Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối
với các quan hệ xã hội Đối tượng của áp dụng pháp luật là những quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật Bằng hoạt động áp dụng pháp luật, những quy phạm pháp luật nhất định được cá biệt hoá, cụ thể hoá đối với những trường hợp cụ thể
Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo Khi áp dụng
pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành
Như vậy, thi hành pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông quan những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách, hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể
1.3 Quan niệm pháp luật về du lịch
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động du lịch với tính chất là một hoạt động kinh tế - xã hội là cơ sở thực tiễn cho sự ra đời và phát triển của pháp luật về du lịch Về cơ sở lý luận, cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất pháp luật về du lịch Tuy nhiên, từ góc độ lý luận, xuất phát
Trang 19từ đối tượng điều chỉnh của pháp luật về du lịch để tiếp cận khái niệm này theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về du lịch là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch Hoạt động du lịch có thể làm nảy sinh nhiều quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau, trên thực tế khó có thể liệt kê đầy đủ Như việc quy hoạch phát triển du lịch, quản lý tài nguyên du lịch liên quan đến lĩnh vực đầu tư xây dựng, nông nghiệp Việc tổ chức, thành lập các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch làm phát sinh quan hệ quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, các cá nhân hành nghề hướng dẫn, đội ngũ nhân viên phục vụ cho hoạt động du lịch Đây chính là cơ sở làm phát sinh nhiều nhóm quan hệ xã hội khác nhau về du lịch, trong đó có thể kể đến: quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp kinh doanh du lịch, quan hệ giữa người chịu trách nhiệm trước pháp luật của doanh nghiệp lữ hành với người điều hành du lịch, quan hệ giữa người điều hành với đội ngũ hướng dẫn viên, quan hệ giữa doanh nghiệp với khách du lịch, giữa hướng dẫn viên với khách Các quan hệ này rất khác nhau về cả tính chất nội dung và thành phần chủ thể Với đối tượng điều chỉnh như vậy, pháp luật về
du lịch có thể được định nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động
du lịch Từ quan điểm truyền thống của lý luận pháp luật ở Việt Nam thì pháp luật về du lịch là một lĩnh vực pháp luật, bao gồm các quy phạm, các chế định được quy định trong các văn bản pháp luật từ Hiến pháp đến các Luật (như Luật Du lịch, Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo vệ môi trường, Luật giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, Luật lao động ) đến Pháp lệnh và các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình diễn ra hoạt động du lịch
Trang 20Theo nghĩa hẹp, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về du lịch là các quan hệ pháp luật về du lịch Trong đó ở một phạm vi nghiên cứu hẹp đó là nghiên cứu các quan hệ pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch Có thể thấy, các quan hệ pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch phát sinh trực tiếp từ quá trình tạo lập, duy trì tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành (bao gồm việc thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh, việc sử dụng người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành, việc đảm bảo có 3 hướng dẫn viên và sử dụng hướng dẫn viên để hướng dẫn cho khách, việc ký quỹ kinh doanh lữ hành ), và vai trò, tư cách, trách nhiệm của người hướng dẫn viên du lịch tham gia trong quá trình phục vụ khách du lịch
Như vậy, khái niệm pháp luật về du lịch được tiếp cận trong khoa học pháp lý nhìn chung có thể được hiểu là các quy định về hoạt động du lịch Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chỉ tiếp cận nghiên cứu theo nghĩa hẹp, với nội dung là những quy định pháp luật về lữ hành, hướng dẫn
du lịch trong những văn bản pháp luật về du lịch, bao gồm từ Luật Du lịch cho đến các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, việc phân biệt nội hàm của khái niệm pháp luật về du lịch theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp chỉ có tính chất tương đối
Hệ thống pháp luật là một chỉnh thể thống nhất, các bộ phận cấu thành pháp luật về du lịch nói chung hay pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch nói riêng dù được xác định trên nguyên tắc nào đi chăng nữa thì cũng luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về mặt nội dung
1.4 Thực thi pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch
Thực thi pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch được đề cập đến ở đây bao gồm:
- Là quá trình các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh lữ hành, bao gồm các doanh nghiệp trong nước, các văn phòng đại diện doanh nghiệp du
Trang 21lịch nước ngoài tại Việt Nam và các tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện, chấp hành những quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam trong hoạt động
lữ hành; là quá trình các doanh nghiệp lữ hành, các cá nhân tham gia vào hoạt động hướng dẫn du lịch chấp hành những quy định pháp luật về hướng dẫn du lịch;
- Là quá trình các cơ quan nhà nước về du lịch, từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến Tổng cục Du lịch, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho đến các cơ quan liên quan áp dụng những quy định pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch trong thực tiễn cuộc sống như: Việc cấp phép kinh doanh
lữ hành quốc tế của Tổng cục Du lịch; việc cấp thẻ hướng dẫn viên của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; việc thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh
lữ hành, hướng dẫn du lịch và áp dụng các quy định pháp luật xử phạt hành chính đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm
Trang 22Chương 2
TỔNG QUAN VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ LỮ HÀNH,
HƯỚNG DẪN DU LỊCH VÀ VIỆC THỰC THI HIỆN NAY
2.1 Văn bản pháp luật về du lịch
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về du lịch cần được xem xét theo hai góc độ: Theo chiều dọc và theo chiều ngang Về mặt lý luận chung, “xét theo chiều ngang, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với hệ thống cấu trúc của pháp luật, Xét theo chiều dọc, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mang tính thứ bậc” [5, tr.59] Như vậy, ta có thể xác định được hệ thống pháp luật về du lịch hiện hành theo chiều dọc là tính thứ bậc từ Luật Du lịch
2005 đến Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Du lịch, các Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định, Chỉ thị và những quy định pháp luật khác có nội dung liên quan điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực du lịch
2.1.1 Luật Du lịch
Luật Du lịch được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 và ngày 27 tháng 6 năm 2005, Chủ tịch nước ký Lệnh số 14/2005/L/CTN công bố Luật
Du lịch Luật Du lịch gồm có 11 chương, 88 điều, quy định chi tiết nhiều vấn
đề mà trước đó Pháp lệnh du lịch 1999 chưa đề cập đến
Điều đặc biệt của Luật Du lịch là đã quán triệt ngay quan điểm của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, đó là những quy định về chính sách phát triển du lịch trong đó Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực và tăng đầu
tư để phát triển du lịch, và có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân đầu tư vào một số lĩnh vực trong du lịch Ở đây có sự phân biệt rõ giữa các lĩnh vực nhà nước thực hiện và những
Trang 23lĩnh vực Nhà nước hỗ trợ để phát triển du lịch, trong đó Nhà nước chú trọng công tác quy hoạch, đồng thời chú trọng hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch, công tác xúc tiến, quảng bá quốc gia, bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường
du lịch, nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào hoạt động du lịch và công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch Luật Du lịch cho phép thành lập quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, và quy định Chính phủ trên cơ sở những chính sách cơ bản này sẽ ban hành những chính sách cụ thể, đặc thù, áp dụng trong từng giai đoạn nhất định để phát triển du lịch Đó có thể là những quy định về
ưu đãi thuế đối với việc nhập khẩu phương tiện cao cấp phục vụ cho vận chuyển khách du lịch, các trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch hạng cao cấp Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch để hỗ trợ cho việc phát triển du lịch trên cơ sở huy động các nguồn đóng góp của tổ chức, cá nhân khác nhau Quỹ được hình thành từ nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch (các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư, các cơ quan nhà nước ), nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
Các nội dung về quản lý nhà nước đối với du lịch có nhiều điểm mới,
đã thể hiện các yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về du lịch, đó là yêu cầu quản lý đối với một ngành kinh tế độc lập trong nền kinh tế quốc dân, từ việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về du lịch đến quy hoạch, kế hoạch, chiến lược, chính sách phát triển du lịch, vấn đề về tổ chức thực hiện, thanh tra du lịch Luật Du lịch cũng để một hướng mở trong bối cảnh chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh cải cách nền hành chính khi quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch là “Cơ quan quản lý nhà nước
về du lịch ở Trung ương” chịu trách nhiệm trước Chính phủ Những quy định này của Luật không nêu tên cụ thể cơ quan nhưng khi đó đã xác định địa vị pháp lý của Tổng cục Du lịch là cơ quan thuộc Chính phủ Tuy rằng tại thời
Trang 24điểm đó Tổng cục Du lịch đã thực hiện một số nội dung quản lý nhà nước do Chính phủ giao nhưng cũng không có đầy đủ chức năng của một cơ quan quản lý nhà nước Ví dụ như việc Tổng cục Du lịch khi đó không được ban hành văn bản quy phạm pháp luật, điều này làm hạn chế rất lớn đến khả năng phát huy của Tổng cục Du lịch với vai trò là cơ quan có trách nhiệm lớn nhất trong quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương Đó là khả năng ban hành kịp thời những quy định pháp luật mới để điều chỉnh những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, sửa đổi bổ sung những quy định cũ khắc phục những bất cập Như vậy, tại thời điểm Luật Du lịch được ban hành và có hiệu lực thì trong công tác quản lý nhà nước và điều hành hoạt động du lịch đã gặp không ít khó khăn từ việc áp dụng, thực thi pháp pháp luật về du lịch Nhưng những quy định mở của Luật Du lịch cho đến nay vẫn phù hợp, nó đã rõ hơn khi hiện nay
đã xác định “cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương” thực thi trách nhiệm này là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Về vấn đề quản lý tài nguyên du lịch và bảo vệ môi trường du lịch: Luật Du lịch đã nêu cụ thể các loại tài nguyên du lịch, bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác Tài nguyên du lịch bao gồm tất cả các yếu tố tài nguyên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch như: các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên (tài nguyên du lịch tự nhiên), truyền thống văn hoá, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể (tài nguyên du lịch nhân văn) Về chế độ quản lý, bảo vệ, tài nguyên du lịch thuộc sự quản lý của các ngành, các cấp khác nhau, đối với mỗi loại tài nguyên du lịch đã có Luật riêng điều chỉnh như Luật Di sản văn hóa, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Thủy sản, Luật Khoáng sản Vì vậy, Luật Du lịch chỉ đưa ra các nguyên
Trang 25tắc chung và quy định trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành, chính quyền các cấp, nghĩa vụ của các cơ quan chủ quản và chủ sở hữu tài nguyên du lịch trong việc bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch, tạo điều kiện cho khách du lịch đến tham quan, thụ hưởng tài nguyên du lịch Luật Du lịch đã khẳng định tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước, có thể thuộc tổ chức, cá nhân Đây là một nội dung mang tính pháp lý cao ảnh hưởng tích cực đến việc phát triển du lịch khi đề cập đến một lĩnh vực nhạy cảm là “tài nguyên du lịch” với việc xác định sở hữu cá nhân, tuy nhiên Luật xác định cho dù nó thuộc sở hữu nào thì đều phải được bảo vệ, tôn tạo, khai thác hợp
lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững Luật quy định tổ chức, cá nhân sở hữu tài nguyên du lịch có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước về du lịch có thẩm quyền trong việc sử dụng và khai thác tài nguyên du lịch cho các mục tiêu kinh tế khác nhưng bảo đảm không làm giảm độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch Theo Luật du lịch, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch gắn chặt với vai trò của UBND trong công tác quản lý địa bàn, lãnh thổ Như việc thành lập Ban quản lý Khu du lịch do UBND tỉnh quyết định hoặc trong trường hợp khu du lịch được giao cho một chủ đầu tư thì chủ đầu tư chịu trách nhiệm thành lập ban quản lý Với những quy định về việc thành lập ban quản lý khu du lịch thì trách nhiệm quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch đã có chủ thể và được quan tâm hơn, việc chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước và phối hợp với chủ thể quản lý sẽ hiệu quả hơn Đặc biệt, khi đã gắn trách nhiệm của Ban quản lý thì
đi đôi với trách nhiệm là việc phát sinh quyền lợi của chủ thể quản lý, đó chính là động lực cho việc phát triển
Về vấn đề quy hoạch phát triển du lịch: Do tầm quan trọng của vấn đề quy hoạch đối với phát triển du lịch và bảo vệ tài nguyên du lịch, Luật Du lịch
đã dành riêng một chương (chương III) với 4 điều quy định cụ thể về quy
Trang 26hoạch phát triển du lịch Quy hoạch phát triển du lịch được xác định là quy hoạch chuyên ngành, bao gồm quy hoạch tổng thể và quy hoạch cụ thể Có nghĩa là nó bao gồm cả ở vĩ mô lẫn vi mô, từ phạm vi cả nước cho đến vùng, tỉnh, thành phố và đến điểm du lịch Các nguyên tắc, nội dung quy hoạch du lịch, thẩm quyền lập, phê duyệt và công bố quy hoạch được Luật quy định khá cụ thể, làm cơ sở để tài nguyên du lịch được bảo vệ, khai thác và đầu tư phát triển phù hợp với định hướng của Nhà nước Vấn đề quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch cũng được quy định nhằm đảm bảo quy hoạch được thực thi trên thực tế Một ý nghĩa quan trọng của những quy định về quy hoạch phát triển du lịch được khẳng định trong Luật Du lịch là việc đảm bảo cho hoạt động du lịch thực sự được khẳng định và coi trọng trong việc hoạch định chính sách và định hướng, quy hoạch phát triển kinh tế Đây chính là việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng khi xác định “du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn” bởi lẽ, việc đầu tư xây dựng một khu du lịch, một khách sạn từ nay không chỉ là sự hình thành của một cơ sở kinh tế đơn thuần mà nó phải nằm trong quy hoạch phát triển du lịch của từng tỉnh, thành phố và việc xây dựng quy hoạch phát triển du lịch phải nằm trong định hướng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế
Về vấn đề khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch: Luật Du lịch đã quy định rõ ràng, cụ thể các tiêu chí để hình thành khu du lịch, điểm du lịch, tuyến
du lịch và các điều kiện để được công nhận theo hai hạng là quốc gia và địa phương Đối với khu du lịch, đó chính là những tiêu chí về tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch và diện tích của khu
du lịch Đối với điểm du lịch, tiêu chí để được công nhận không quy định về diện tích, tuy nhiên phải dựa trên quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ
để đảm bảo phục vụ được một số lượng nhất định khách du lịch tới tham quan Về tuyến du lịch, đối với tuyến du lịch quốc gia phải là đường nối các
Trang 27khu du lịch, điểm du lịch trong đó có khu du lịch quốc gia Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng đang còn nhiều bất cập, nhất là quy định về diện tích của khu du lịch Cho đến nay chưa hề có một khu du lịch nào thỏa mãn các tiêu chí của Luật Du lịch và có quyết định công nhận của cơ quan có thẩm quyền Một đòi hỏi thực tế là từ những quy định của Luật cần phải có những văn bản dưới luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành từ
Đô thị du lịch được coi là một trong những chế định mới có tính đột phá trong Luật Du lịch Theo Luật Du lịch, đô thị để được công nhận là đô thị
du lịch phải là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có cơ cấu lao động phù hợp và ở đó ngành du lịch có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh
tế của đô thị đó Có nghĩa là, về cơ cấu lao động thì tỷ lệ lao động trong ngành
du lịch tại đô thị phải chiếm đa số so với các ngành dịch vụ khác, về kinh tế thì thu nhập từ hoạt động du lịch phải chiếm tỷ lệ cao trong tổng thu nhập của các ngành dịch vụ Mặt khác, đô thị du lịch phải có một cơ chế quản lý theo định hướng phát triển du lịch, có nghĩa là ngoài những nội dung của quản lý
đô thị nói chung thì trong quy hoạch đô thị du lịch phải được quy hoạch, xây dựng theo hướng phát triển du lịch, phải có những biện pháp bảo vệ tài nguyên du lịch, bảo vệ cảnh quan và môi trường du lịch, bảo đảm an ninh, trật
tự an toàn xã hội, bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách
du lịch Đô thị du lịch phải có quy chế quản lý đặc thù phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước của đô thị du lịch phải
có thẩm quyền và trách nhiệm điều phối các nguồn lực của đô thị để đảm bảo mục tiêu phát triển du lịch
Một trong những nét mới đáng chú ý của Luật Du lịch là những quy định có tính tôn trọng và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho khách du lịch Luật Du lịch đã quy định cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ,
Trang 28quyền hạn của mình có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa rủi ro, bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của khách du lịch
và ngăn chặn những hành vi thu lợi bất chính từ khách du lịch Luật Du lịch
đã có những quy định đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch phải có trách nhiệm đảm bảo các trang thiết bị cần thiết cho việc bảo vệ khách du lịch, đưa ra các giải pháp cứu nạn cho khách du lịch, các biện pháp phòng tránh rủi ro Luật Du lịch còn có quy định cụ thể về việc mua bảo hiểm cho khách du lịch, theo đó doanh nghiệp lữ hành phải có trách nhiệm bắt buộc phải mua bảo hiểm cho khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài du lịch, còn đối với khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam, tuy không bắt buộc nhưng Luật khuyến khích các doanh nghiệp lữ hành mua bảo hiểm cho khách và bắt buộc phải mua khi khách có yêu cầu hoặc được thỏa thuận trong hợp đồng lữ hành Ngoài ra, để bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp cho khách du lịch, Luật Du lịch có một điều quy định về việc giải quyết yêu cầu, kiến nghị của khách du lịch Trách nhiệm ở đây thuộc về cơ quan nhà nước về du lịch cấp tỉnh, theo đó tại đô thị du lịch, khu du lịch và nơi có lượng khách du lịch lớn, cơ quan tiếp nhận có vai trò như một đầu mối tổ chức tiếp nhận yêu cầu kiến nghị của khách, có thể giải quyết hoặc chuyển đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
Xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, nên trong phần kinh doanh du lịch, để nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng các dịch vụ du lịch, đảm bảo quyền lợi của khách du lịch, Luật Du lịch bổ sung một số nội dung cho phù hợp với tình hình phát triển hiện nay Cụ thể, bổ sung ngành nghề kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch nhằm khuyến khích việc đầu tư tôn tạo, xây mới khu du lịch, điểm du lịch thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của khách du lịch bên cạnh các ngành nghề truyền thống như kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú du lịch, kinh doanh vận chuyển
Trang 29khách du lịch Ngành nghề kinh doanh du lịch mới là kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch (Mục 5 Chương VI) và kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch (Mục 6 Chương VI) Hoạt động kinh doanh phát triển các khu du lịch, điểm du lịch được thực hiện trên
cơ sở các tổ chức, cá nhân lập dự án đầu tư trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Hoạt động kinh doanh này có thể là việc đầu tư để xây dựng các khu
du lịch, điểm du lịch mới, nâng cấp các khu, điểm du lịch hiện có hoặc chỉ đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất- kỹ thuật tại khu du lịch, điểm
du lịch rồi nhượng lại hoặc cho thuê để các tổ chức, cá nhân khác kinh doanh Đối với ngành nghề kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch, các hoạt động kinh doanh này xưa nay vẫn chịu sự quản lý nhà nước của một số bộ, ngành khác như văn hóa, thương mại, y tế, thể dục thể thao , nay có thêm sự điều chỉnh của Luật Du lịch trên cơ sở một cơ chế
tự nguyện đăng ký chất lượng và được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn du lịch Đây là một loại “văn bằng” có ý nghĩa tạo nên sự tin cậy cho khách du lịch, mặt khác có tác dụng khuyến khích các cơ sở kinh doanh nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch
Về kinh doanh lưu trú du lịch: Luật Du lịch đã mở rộng và đa dạng hóa các loại hình kinh doanh lưu trú để thu hút các tổ chức, cá nhân tham gia vào loại hình kinh doanh này Bên cạnh các loại cơ sở lưu trú đã được quy định, nay có thêm loại hình lưu trú “nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê” Theo quy định tại Luật Du lịch, nhà dân được kinh doanh phục vụ khách du lịch khi đảm bảo các trang thiết bị tối thiểu cho việc kinh doanh lưu trú du lịch Việc cho phép nhà dân được kinh doanh lưu trú du lịch một mặt thể hiện chủ trương xã hội hóa du lịch, mặt khác tạo cơ sở pháp lý để đảm bảo các cơ sở lưu trú khi cho khách du lịch thuê đều phải đáp ứng được những tiêu chuẩn chất lượng nhất định Về điều kiện kinh doanh lưu trú du lịch, khác với kinh
Trang 30doanh lữ hành phải thành lập doanh nghiệp, kinh doanh cơ sở lưu trú có thể dưới hình thức doanh nghiệp hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh Tổ chức,
cá nhân kinh doanh cơ sở lưu trú phải đáp ứng các điều kiện chung về bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, phòng cháy chữa cháy và các điều kiện riêng (yêu cầu tối thiểu về xây dựng, trang thiết bị, dịch
vụ, trình độ nhân viên ) đối với từng loại hình cơ sở lưu trú được quy định theo các nhóm: khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ du lịch và bãi cắm trại, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê
Về kinh doanh vận chuyển khách du lịch: Luật Du lịch điều chỉnh kinh doanh vận chuyển khách du lịch như một ngành nghề riêng ở 2 dạng: vận chuyển khách theo tuyến, theo chương trình du lịch và vận chuyển khách du lịch trong phạm vi khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch Về điều kiện, hoạt động kinh doanh vận chuyển khách du lịch, trước hết cần tuân thủ các quy định về kinh doanh vận chuyển hành khách nói chung, ngoài ra phải đáp ứng được các điều kiện khác về chất lượng dịch vụ để phục vụ khách du lịch như phải có phương tiện chuyên vận chuyển khách và phương tiện này phải được cấp biển hiệu riêng theo quy định của Bộ Giao thông Vận tải; người điều khiển các phương tiện này phải có kiến thức nghiệp vụ du lịch Các phương tiện chuyên vận chuyển khách du lịch có cấp biển hiệu sẽ được ưu tiên bố trí nơi dừng, đỗ để đón, trả khách du lịch
Một trong những nội dung được Luật Du lịch quy định chi tiết là những quy định về xúc tiến du lịch: Luật Du lịch quy định các nội dung xúc tiến du lịch, chính sách xúc tiến du lịch, hoạt động xúc tiến của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và của doanh nghiệp du lịch Hoạt động xúc tiến được quy định gồm có bốn nội dung là: tuyên truyền, quảng bá du lịch; nâng cao nhận thức xã hội về du lịch; huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển du lịch và nghiên cứu thị trường, xây dựng sản phẩm du lịch Trong đó, cơ quan quản lý
Trang 31nhà nước về du lịch ở trung ương có trách nhiệm xây dựng chiến lược, kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch quốc gia; tổ chức các hoạt động xúc tiến
du lịch tầm quốc gia ở trong và ngoài nước; điều phối các hoạt động xúc tiến
du lịch liên vùng, liên địa phương; thành lập cơ sở dữ liệu quốc gia và tổ chức thông tin du lịch tại các cửa khẩu quốc tế Ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch của địa phương; tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến du lịch tại địa phương Đối với hoạt động xúc tiến du lịch ra nước ngoài, Luật quy định cơ quan quản lý nhà nước
ở trung ương được lập các văn phòng đại diện của cơ quan này tại các thị trường du lịch trọng điểm ở nước ngoài Đối với doanh nghiệp, Luật quy định được tổ chức hoạt động xúc tiến du lịch trong và ngoài nước, tham gia các chương trình xúc tiến du lịch quốc gia Chi phí cho hoạt động xúc tiến quảng
bá được hạch toán vào chi phí của doanh nghiệp Việc luật hóa những hoạt động xúc tiến du lịch trong đó có quy định về xúc tiến du lịch của doanh nghiệp đã tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động này Nhất là quy định cho phép doanh nghiệp được quyền chủ động tiến hành các hoạt động xúc tiến du lịch trong và ngoài nước, doanh nghiệp không còn phải chịu đóng khung như trước kia khi mà cho dù doanh nghiệp có mong muốn phát triển thị trường thì cũng phải hạn chế trong phạm vi mà nhà nước
tổ chức
Ngoài ra, Luật Du lịch còn quy định Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các chuyên gia nước ngoài, phương tiện thông tin đại chúng nước ngoài trong hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam Luật Du lịch cũng đã dành một điều riêng (Điều 8) quy định về hiệp hội du lịch Theo đó, hiệp hội du lịch là một tổ chức tự nguyện của các tổ chức, cá nhân có hoạt động du lịch Mục đích của hiệp hội du lịch là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên tham gia hiệp hội, góp phần thúc đẩy sự phát
Trang 32triển và lớn mạnh của các thành viên của hiệp hội du lịch Các hoạt động chủ yếu của hội gồm: tham gia tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch và tham gia xây dựng, tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về du lịch
Có thể khẳng định, so với Pháp lệnh Du lịch năm 1999, Luật Du lịch có nhiều quy định mới, những quy định chi tiết hơn, phạm vi điều chỉnh rộng hơn Luật Du lịch được ban hành và có hiệu lực thể hiện được sự phát triển nhanh chóng, đa dạng của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực du lịch và đáp ứng được các yêu cầu phát triển du lịch trong giai đoạn mới
2.1.2 Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 01/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch
Luật Du lịch do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc Hội ban hành, tuy nhiên với tính chất là một luật chuyên ngành thì để thực sự được phát huy và áp dụng trong thực tiễn đòi hỏi phải có những văn bản dưới luật
từ nghị định đến các thông tư hướng dẫn thi hành Ngay trong điều cuối cùng của Luật Du lịch (Điều 88) cũng khẳng định “Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật này”, do vậy việc Chính phủ phải có nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Du lịch là yêu cầu bắt buộc
Nghị định 92/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch được ban hành ngày 01/6/2007 Nghị định gồm
8 Chương 43 Điều không hướng dẫn toàn bộ những quy định của Luật Du lịch mà chỉ quy định chi tiết hơn việc thi hành một số điều, như là những quy định về tài nguyên du lịch; quy hoạch phát triển du lịch; khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch; hướng dẫn du lịch; xúc tiến du lịch; kinh doanh du lịch và quản lý nhà nước về du lịch Như vậy, còn lại những nội dung của Luật đã rõ thì nghị định không hướng dẫn thêm
Trang 33Nghị định được ban hành chậm (sau khi Luật Du lịch có hiệu lực hơn 1 năm) đã khiến cho hoạt động quản lý và kinh doanh du lịch trong thời gian qua gặp không ít khó khăn, vướng mắc Tuy nhiên, từ ngày được ban hành và
có hiệu lực đến nay, những quy định của Nghị định 92/2007/NĐ-CP đã góp phần tăng cường công tác quản lý trong lĩnh vực du lịch, tạo hành lang pháp
lý cho hoạt động du lịch diễn ra thuận lợi hơn
2.1.3 Nghị định 149/2007/NĐ-CP ngày 09/10/2007 của Chính phủ về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch
Đồng thời với việc ban hành một nghị định quy định chi tiết luật thì Chính phủ cũng ban hành một nghị định quy định những hành vi bị coi là vi phạm luật và những chế tài xử lý hành chính nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực thi và xác định thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình quản lý hoạt động du lịch
Sau Nghị định 92/2007/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch, Chính phủ đã ban hành Nghị định 149/2007/NĐ-CP ngày 09/10/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch Nghị định gồm 5 Chương, 36 Điều quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch Nội dung của Nghị định, Chương 1 là những quy định chung, các Chương 3, 4, 5 quy định về thẩm quyền, thủ tục xử phạt, khiếu nại,
tố cáo, vi phạm, khen thưởng và điều khoản thi hành thì nội dung trọng tâm là Chương 2 quy định về những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, hình thức và mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm Cụ thể Chương
2 gồm Mục 1 quy định về vi phạm hành chính trong kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch và vận chuyển khách du lịch, Mục 2 quy định về vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch, Mục 3 quy định về vi phạm hành chính trong xúc tiến du lịch và Mục 4 quy định về những vi phạm hành chính trong hoạt động du lịch khác
Trang 34Trong lĩnh vực du lịch, Nghị định 149/2007/NĐ-CP là một trong những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng trong thời gian qua đã giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch, đặc biệt là việc quản lý các hoạt động kinh doanh lưu trú,
lữ hành và hoạt động hướng dẫn du lịch Việc áp dụng Nghị định 149/2007/NĐ-CP đã góp phần tăng cường pháp chế trong lĩnh vực du lịch, giúp cho các hoạt động kinh doanh du lịch và hoạt động hướng dẫn diễn ra đúng pháp luật
2.1.4 Thông tư 89/2008/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Thông tư 89/2008/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2008 của Bộ Văn hoá,
Thể thao và Du lịch được ban hành để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch về kinh doanh lữ hành, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam, hướng dẫn
du lịch và xúc tiến du lịch
Hướng dẫn về kinh doanh lữ hành, Thông tư 89/2008/TT-BVHTTDL quy định chi tiết về hồ sơ và thủ tục cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc
tế, trong đó có các biểu mẫu đơn, phương án kinh doanh để các doanh nghiệp
áp dụng Đồng thời, thông tư có những quy định về các trường hợp cấp lại giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế, quy định về người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành, mẫu bản kê khai thời gian làm việc của người điều hành
và những quy định chi tiết về việc lập báo cáo hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành có vốn đầu tư nước ngoài
Một trong những nội dung quan trọng được quy định trong Thông tư 89/2008/TT-BVHTTDL là những quy định về chi nhánh, văn phòng đại diện
Trang 35doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam Trong đó, về thẩm quyền cấp giấy phép, Tổng cục Du lịch là cơ quan cấp giấy phép thành lập chi nhánh còn các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan cấp giấy phép thành lập văn phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam Cơ quan cấp giấy phép có trách nhiệm cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, thu hồi giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện; thực hiện chế độ lưu trữ
hồ sơ; kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức, hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện; công khai thông tin về chi nhánh, văn phòng đại diện doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam Thông tư có những nội dung quy định về hồ sơ và các điều kiện chung về hồ sơ cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung gia hạn giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện; các trường hợp không cấp giấy phép, thu hồi giấy phép Đặc biệt, thông tư cũng quy định về nội dung hoạt động, trong đó chi nhánh doanh nghiệp du lịch nước ngoài được hoạt động phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định 92/2007/NĐ-CP, đó là được kinh doanh các ngành nghề lưu trú du lịch, kinh doanh vận chuyển khách du lịch, kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch và kinh doanh dịch vụ du lịch khác Về nội dung hoạt động của văn phòng đại diện bao gồm: thực hiện chức năng văn phòng liên lạc; xúc tiến xây dựng các dự án hợp tác của doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam; nghiên cứu thị trường để thúc đẩy cơ hội mua bán, cung ứng và tiêu dùng các dịch vụ du lịch của doanh nghiệp mà mình đại diện; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các hợp đồng đã ký kết với các đối tác Việt Nam hoặc liên quan đến thị trường Việt Nam của doanh nghiệp nước ngoài và các hoạt động khác theo quy định pháp luật Như vậy, các văn phòng đại diện doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam không được hoạt động kinh doanh
Đối với những nội dung về hướng dẫn du lịch, Thông tư có quy định chi tiết điều kiện về trình độ nghiệp vụ của hướng dẫn viên du lịch, điều kiện
Trang 36về trình độ ngoại ngữ đối với hướng dẫn viên du lịch quốc tế, về việc bồi dưỡng kiến thức định kỳ cho hướng dẫn viên, việc cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch và thuyết minh viên Trong thông tư còn để một hướng mở nhằm tháo gỡ cho tình trạng thiếu hướng dẫn viên ở một số ngoại ngữ hiếm khi quy định
“Đối với hướng dẫn viên của một số thị trường đặc thù, Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch sẽ có hướng dẫn riêng”
Thông tư 89/2008/TT-BVHTTDL được ban hành, có những quy định chuyển tiếp, nhưng kể từ khi ban hành đã góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển, tháo gỡ được những vướng mắc trong quá trình thực thi Luật Du lịch do thiếu những hướng dẫn chi tiết, cụ thể, đặc biệt là một số những nội dung liên quan đến thủ tục cấp phép lữ hành quốc tế, đến việc cấp giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam, việc cấp chứng chỉ đào tạo và cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch
2.1.5 Một số quy định pháp luật khác có nội dung liên quan
Như cách tiếp cận đã nêu trên, nếu nghiên cứu theo chiều ngang, ngoài những quy định của Luật Du lịch và các văn bản hướng dẫn nêu trên còn có những quy định pháp luật khác điều chỉnh những mối quan hệ liên quan đến lĩnh vực du lịch, đó có thể là những quy định trong Luật, Nghị định và các văn bản dưới luật do các Bộ (không phải là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ban hành như:
+ Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 theo đó các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch như doanh nghiệp
lữ hành, các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú du lịch cũng phải tuân thủ như các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực khác;
+ Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu
Trang 37tư; quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài, đối tượng áp dụng là nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài Như vậy việc đầu tư trong lĩnh vực du lịch cũng trước hết phải chịu sự điều chỉnh của luật này, điều này đặc biệt quan trọng khi mà những đầu tư vào lĩnh vực du lịch, nhất là vào bất động sản du lịch đang chiếm một
tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua
+ Luật Bảo vệ môi trường 2005;
+ Pháp Lệnh xuất nhập cảnh;
+ Quy định về tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch;
+ Thông tư 47/2010/TT-BTC ngày 12/4/2010 của Bộ Tài chính quy định về chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng phí thẩm định xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch và phí thẩm định cơ sở kinh doanh dịch vụ đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch;
+ Thông tư 48/2010/TT-BTC ngày 12/4/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý, sử dụng lệ phí cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế, cấp giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam, cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch, cấp giấy chứng nhận thuyết minh viên;
Ngoài ra, còn một số văn bản quy phạm pháp luật khác nữa có những nội dung liên quan điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu sẽ không đi vào phân tích nội dung mà chỉ xác định đó là những quy phạm tham chiếu khi nghiên cứu về thực trạng thi hành pháp luật trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch
Trang 38Ở đây cũng cần đề cập đến một văn bản pháp lý có nội dung tương đối quan trọng có liên quan đến hoạt động du lịch nói chung và hoạt động lữ hành, hướng dẫn du lịch nói riêng mà Việt Nam tham gia ký kết quốc tế là những Cam kết du lịch của Việt Nam trong WTO
Khi gia nhập WTO, Việt Nam đã có những cam kết thuộc ngành du lịch như sau:
- Khách sạn và nhà hàng bao gồm: Các dịch vụ lưu trú; Các dịch vụ cung cấp thức ăn và đồ uống
Không hạn chế, ngoại trừ trong vòng 8 năm kể từ ngày Việt Nam gia nhập WTO, các nhà đầu tư nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ khách sạn
và nhà hàng ở Việt Nam với điều kiện cần phải tiến hành song song với đầu
tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo hoặc mua lại khách sạn Sau thời gian 8 năm, điều kiện này sẽ được bãi bỏ và như vậy các nhà đầu tư, cung cấp dịch vụ khách sạn nhà hàng nước ngoài có thể cung cấp dịch vụ khách sạn nhà hàng dưới mọi hình thức, không hạn chế
- Các dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour du lịch
Không hạn chế, ngoại trừ: Các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ dưới hình thức liên doanh với các đối tác Việt Nam mà không hạn chế phần góp vốn nước ngoài
Trong nội dung về đối xử quốc gia: Không hạn chế, ngoại trừ hướng dẫn viên du lịch trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải là công dân Việt Nam Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được kinh doanh dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam và lữ hành nội địa đối với khách vào du lịch Việt Nam như là một phần các dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam
Những cam kết này bắt đầu có hiệu lực từ tháng 01/2007, đều phù hợp với những quy định pháp luật về du lịch hiện hành Tuy nhiên, những nội
Trang 39dung này cũng có những tác động trong quá trình thực thi pháp luật trong hoạt động lữ hành, hướng dẫ du lịch
2.2 Quy định pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch
2.2.1 Quy định pháp luật về lữ hành
Luật Du lịch đã hoàn thiện hơn các quy định về kinh doanh lữ hành theo hướng chuyên nghiệp hóa Luật quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân có tham gia hoạt động kinh doanh du lịch nói chung, trong đó có kinh doanh lữ hành Theo đó, với vai trò là một ngành dịch vụ mà sản phẩm hàng hóa có tính đặc thù thì những quy định của Luật nhằm nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp lữ hành đối với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch Cụ thể tại Điều 4, Điều 5 Luật Du lịch đã quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch phải thông tin rõ ràng, công khai, trung thực số lượng, chất lượng, giá cả các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho khách du lịch; phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết với khách du lịch và bồi thường thiệt hại cho khách du lịch trong trường hợp gây thiệt hại
do lỗi của mình; đồng thời doanh nghiệp kinh doanh du lịch phải có trách nhiệm áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của khách du lịch và phải thông báo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền về tai nạn hoặc nguy hiểm rủi ro xảy ra đối với khách Ngoài ra, đối với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế còn chịu sự ràng buộc chỉ được sử dụng người có thẻ hướng dẫn viên quốc tế để hướng dẫn khách du lịch là người nước ngoài; phải thông báo cho cơ quan nhà nước về du lịch cấp tỉnh khi có
sự thay đổi người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành; theo dõi, thống kê
số lượng khách du lịch mà doanh nghiệp phục vụ (khoản 2 Điều 13 NĐ 92/2007/NĐ-CP)
Về điều kiện kinh doanh, đối với kinh doanh lữ hành nội địa đã bỏ điều kiện về nghĩa vụ ký quỹ song Luật Du lịch lại có quy định điều kiện về người
Trang 40quản lý (người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa phải có thời gian ít nhất ba năm hoạt động trong lĩnh vực lữ hành); đối với kinh doanh lữ hành quốc tế, so với quy định cũ cũng bổ sung thêm điều kiện về cán bộ quản
lý (người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế phải có thời gian ít nhất bốn năm hoạt động trong lĩnh vực lữ hành) Ngoài việc tách biệt lữ hành quốc tế và lữ hành nội địa, Luật Du lịch phân chia kinh doanh lữ hành quốc tế thành hai loại hình riêng là kinh doanh lữ hành quốc tế đưa khách vào Việt Nam và kinh doanh lữ hành quốc tế đưa khách từ Việt Nam đi du lịch nước ngoài, vì đây là hai loại hình kinh doanh đòi hỏi có sự quản lý khác nhau Trong giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế có ghi cụ thể phạm vi kinh doanh là: kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam, kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài và bao gồm cả hai loại trên Doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế được kinh doanh lữ hành nội địa song doanh nghiệp lữ hành nội địa không được phép kinh doanh lữ hành quốc tế
Về bảo hiểm du lịch, điểm b khoản 2 Điều 50 Luật Du lịch đã có quy định bắt buộc doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế phải mua bảo hiểm cho khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài trong thời gian thực hiện chương trình du lịch Ngoài ra, đối với khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam và khách du lịch nội địa được pháp luật khuyến khích mua bảo hiểm du lịch (Điều 14 NĐ 92/2007/NĐ-CP)
Quy định về doanh nghiệp kinh doanh lữ hành có vốn đầu tư nước ngoài, luật chỉ quy định một hình thức liên doanh trong đó đối tác liên doanh Việt Nam phải là một doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế, đồng thời không hạn chế phần vốn góp của đối tác nước ngoài vào liên doanh Như vậy, không thể có doanh nghiệp kinh doanh lữ hành 100% vốn nước