1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh thi pháp truyện thơ Tum Tiêu của dân tộc Khơme Campuchia với vượt biển của dân tộc Tày ở Việt Nam

208 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong đề tài luận án nghiên cứu thi pháp truyện thơ Tum Tiêu của Campuchia chúng tôi chủ yếu dùng theo văn bản của Phùng Huy Thịnh Nxb Khoa học Xã hội, 2000 vì: 1 Tác giả đã

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CÙ THỊ ÁNH NGỌC

SO SÁNH THI PHÁP TRUYỆN THƠ

TUM TIÊU CỦA DÂN TỘC KHƠME CAMPUCHIA VỚI VƯỢT BIỂN CỦA DÂN TỘC TÀY Ở VIỆT NAM

Ngành: Lí luận văn học

Mã số: 9.22.01.20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN ĐỨC NINH

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án

CÙ THỊ ÁNH NGỌC

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu truyện thơ ở Việt Nam và nước ngoài 6

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu hai truyện thơ Tum Tiêu và Vượt biển 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 26

2.1 Thi pháp và thi pháp học lịch sử 26

2.2 Văn học so sánh và so sánh song song 33

2.3 Thi pháp truyện thơ và truyện thơ Đông Nam Á 36

2.4 Sự hình thành văn bản hai truyện thơ Tum Tiêu và Vượt biển 52

CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG CỦA HAI TRUYỆN THƠ TUM TIÊU VÀ VƯỢT BIỂN 66

3.1 Cốt truyện 66

3.2 Nhân vật 78

3.3 Không gian nghệ thuật 86

3.4 Thời gian nghệ thuật 93

CHƯƠNG 4: NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA HAI TRUYỆN THƠ TUM TIÊU VÀ VƯỢT BIỂN 101

4.1 Cốt truyện 101

4.2 Nhân vật 115

4.3 Không gian nghệ thuật 123

4.4 Thời gian nghệ thuật 137

KẾT LUẬN 146 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Truyện thơ là một thể loại phát triển phong phú và có thành tựu trong văn học

Đông Nam Á Truyện thơ không thuộc loại hình văn học nói - kể mà thuộc loại hình hát - kể, nghĩa là cốt truyện tự sự được truyền đạt bằng phương thức dân ca Và như thế, truyện thơ các cư dân vùng Đông Nam Á ra đời, có vai trò, vị trí và tác động sâu sắc tới đời sống văn hóa cũng như trong tiến trình lịch sử phát triển văn học các dân tộc ở khu vực Đông Nam Á

1.2 Campuchia được biết đến, trước hết như một quốc gia ở Đông Nam Á có một

truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, với những công trình kiến trúc, điêu khắc kì vĩ, độc đáo, tiêu biểu là quần thể kiến trúc Angkor - đỉnh cao của trí tuệ Có lẽ đó chính là cội nguồn của những rung cảm thẩm mĩ tạo nên tác phẩm văn học đặc sắc như truyện

thơ Tum Tiêu Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu Đông Nam Á, truyện thơ Tum

Tiêu không chỉ là một tác phẩm văn học đặc sắc của đất nước Campuchia mà còn

thuộc số những truyện thơ tiêu biểu ở Đông Nam Á Nếu như Tum Tiêu được đánh giá

là thành tựu văn học xuất sắc và tiêu biểu đánh dấu chặng đường phát triển quan trọng của văn học và chứa đựng nội dung xã hội, lịch sử của đất nước Campuchia thì với người Tày của Việt Nam, chúng ta thấy rằng người Tày không chỉ có bề dày lịch sử văn hóa mà văn học dân gian cũng có những đỉnh cao, nhất là những tác phẩm truyện

Nôm Tày như Khảm hải (Vượt biển) Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chú trọng khai

thác những giá trị của từng văn bản nhưng chưa sử dụng văn học so sánh để tìm ra

những điểm tương đồng và khác biệt về mặt thi pháp truyện thơ Tum Tiêu của người Khơme Campuchia với Vượt biển của người Tày ở Việt Nam So sánh văn học giữa

các quốc gia hay liên quốc gia sẽ bổ sung quan trọng cho hướng nghiên cứu văn học riêng lẻ từng quốc gia vốn vẫn tồn tại từ trước đến nay ở Việt Nam

1.3 Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia láng giềng gần gũi, có quan hệ hữu

nghị truyền thống lâu đời, nhân dân hai nước là anh em gắn bó Thiên nhiên ưu đãi đã cho dòng sông Mê công chảy qua hai nước làm nên cuộc sống trù phú của nhân dân hai nước Dòng Mê công cũng chứng kiến trực tiếp mối tình hữu nghị đoàn kết gắn bó keo sơn giữa nhân dân hai nước Việc nghiên cứu văn học các nước trong khu vực Đông Nam Á còn có ý nghĩa làm thay đổi nhận thức của giới văn nghệ và văn học của Việt Nam chỉ “quen thuộc những chủ nhân từ phương xa - vốn xa lạ với chúng ta trên nhiều phương diện, trong khi đó chúng ta lại rất lạ với người bà con ở ngay bên cạnh - vốn rất gần gũi, có quan hệ gắn bó về mọi mặt với chúng ta trong cộng đồng khu vực

mà chúng ta là một thành viên” [102; 3] Vì vậy, nghiên cứu văn học Campuchia vừa

có ý nghĩa củng cố tình hữu nghị hợp tác giữa Việt Nam - Campuchia vừa có đóng góp vào sự phát triển chung của khu vực Đông Nam Á (ASEAN)

Trang 5

Để góp phần khai thác các giá trị văn hóa và văn học trong sự tương đồng, khác

biệt của truyện thơ hai nước chúng tôi chọn: “So sánh thi pháp truyện thơ Tum Tiêu

của dân tộc Khơme Campuchia với Vượt biển của dân tộc Tày ở Việt Nam” làm

đề tài nghiên cứu của mình Đây là việc làm vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa

thực tiễn Nghiên cứu văn học Campuchia song hành với văn học Việt Nam còn góp phần mở rộng hơn về mối quan hệ văn hóa - văn học giữa Việt nam với các nước Đông Nam Á Từ đó, những vấn đề của văn học Việt Nam cũng sẽ được làm sáng tỏ hơn, thuyết phục hơn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Luận án đi sâu nghiên cứu để tìm ra những đặc điểm thi pháp của Tum Tiêu, Vượt

biển và so sánh thi pháp của những tác phẩm đó để thấy tư duy nghệ thuật, mĩ cảm, tâm lí,

tính cách của người Khơme và người Tày ở hai quốc gia Campuchia và Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận án là phân tích các khía cạnh, các

bình diện thi pháp của hai tác phẩm Tum Tiêu, Vượt biển, xem xét môi trường văn hóa,

lịch sử của các tác phẩm để có thể tiến hành so sánh loại hình truyện thơ Khơme và truyện thơ Tày

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi chọn các văn bản truyện thơ Tum Tiêu của người Khơme Campuchia, các văn bản truyện thơ Vượt biển của người Tày ở Việt Nam để nghiên cứu thi pháp

các tác phẩm đó và tiến hành so sánh thi pháp của chúng trên các bình diện: cốt truyện,

nhân vật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi văn bản: Tum Tiêu là một truyện thơ tiêu biểu cho thể loại văn học truyền

thống của Campuchia Đây là một câu chuyện có thật trong dân gian sau đó nó được rất nhiều người viết lại và người thành công hơn cả là nhà sư Bôtum Mắtthê Xôm Và

Tum Tiêu đã trở thành một tác phẩm văn học viết hoàn chỉnh của người Khơme

Campuchia (Ở Campuchia người Khơme được chia thành 3 cách gọi: 1) Khơme Thượng là Khơme Trên hay còn gọi là Khơme Lự; 2) Khơme Kaldai hay còn gọi là Khơme Giữa; 3) Khơme Krom là Khơme Dưới sống ở Việt Nam, còn được gọi là

Khơme Nam Bộ) Ở Việt Nam, có hai bản dịch Tum Tiêu được xem là phản ánh trung

thực, đầy đủ sát với nguyên tác là bản dịch nghĩa của Thái Văn Chải (1972) và dịch thơ của Phùng Huy Thịnh (1987) Cả hai bản dịch đều thể hiện sự làm việc nghiêm túc, công phu của các dịch giả để mang đến cho người đọc nguồn tri thức tin cậy, kết

Trang 6

hợp với văn phong dung dị, gần gũi Tuy nhiên, trong đề tài luận án nghiên cứu thi

pháp truyện thơ Tum Tiêu của Campuchia chúng tôi chủ yếu dùng theo văn bản của

Phùng Huy Thịnh (Nxb Khoa học Xã hội, 2000) vì: 1) Tác giả đã dịch trực tiếp từ tiếng Campuchia sang tiếng Việt đúng theo cấu trúc của nguyên tác (7 tiếng) và “bản dịch đạt được thần thái của nguyên tác” [193; 8]; 2) Dịch giả có nhiều năm công tác trên nước Campuchia, am tường lịch sử văn hóa, phong tục, tập quán của đất nước này

“Vốn là một cử nhân văn chương, lại có nhiều năm lăn lộn với nghề làm báo, Phùng Huy Thịnh tỏ ra mẫn cảm với việc nhận biết các giá trị văn học, giá trị dân tộc và giá trị văn

hóa tiềm tàng trong tác phẩm Tum Tiêu” [193; 8]; 3) Văn bản này được nhà xuất bản

Khoa học Xã hội ấn hành lần đầu năm 1987 và sau đó tái bản năm 2000

Vượt biển (Khảm hải) - một truyện thơ dân gian của người Tày ở vùng núi phía

Bắc Việt Nam Đã có rất nhiều văn bản Vượt biển được các nhà nghiên cứu văn hóa

dân gian sưu tầm và biên dịch lại như Nông Minh Châu, Vi Hồng, Lục Văn Pảo… Tuy nhiên, các văn bản này lại chủ yếu được sưu tầm ở các tỉnh Việt Bắc như Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn… Và nó đã đem đến cho người đọc những cảm nhận khác nhau, nhưng tựu chung lại tác phẩm có cốt truyện đậm màu sắc trữ tình tự sự

Còn văn bản Vượt biển do Hoàng Hạc sưu tầm và giới thiệu in trong cuốn Truyện thơ

Tày - Nùng, tập 2 (Nxb Văn học, 1964) được chúng tôi chọn làm văn bản nghiên cứu

đối trọng với Tum Tiêu của người Khơme Campuchia vì: 1) Đây là văn bản do Hoàng

Hạc sưu tầm và giới thiệu trên chính quê hương ông (xã Xuân Lai, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái - thuộc vùng Tây Bắc): “Ngày còn nhỏ, tôi đã được nghe cha mẹ và các

cụ trong bản kể cho nghe từng đoạn Vượt biển Tôi cũng lại đã dự xem nhiều buổi

“biểu diễn” Vượt biển của các ông Pụt (thầy cúng)” [13; 307] và nó có một tích truyện

cụ thể khi kể về cuộc đời cùng đường, bế tắc của con người: “Đây là con người lao động nghèo khổ, những kẻ bị trị, những Sa dạ Sa dồng, quanh năm nai lưng làm lụng một nắng hai sương mà rồi vẫn nghèo xác nghèo xơ Những người ấy, lúc sống đã bị bọn vua quan bắt đi phục dịch Khi chết vẫn bị quan Slay bắt đi phục dịch, mang của cống lễ lên quan trên miền âm phủ” [13 ; 307]; 2) Tác phẩm được khẳng định là một truyện thơ có kết cấu cốt truyện, nhân vật cụ thể và mang đậm màu sắc tự sự trữ tình,

nên được đưa vào dạy trong chương trình Ngữ văn phổ thông: “Nguyên văn Khảm hải

bằng chữ Nôm Tày, Hoàng Hạc dịch ra thành 249 câu tiếng Việt Bản được đưa vào sách văn 10 có cốt truyện quen thuộc như các truyện thơ Tày - Nùng khác” [150; 49]

và trong giáo trình Văn học dân gian bậc đại học

Phạm vi nghiên cứu: Khi nghiên cứu thi pháp truyện thơ có những bình diện khác

nhau Ở luận án này, chúng tôi giới hạn sử dụng chủ yếu phương pháp so sánh song

Trang 7

song để tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt trên các bình diện: cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật của hai tác phẩm vừa nêu

4 Phương pháp nghiên cứu

Ở luận án này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Là nghiên cứu tác phẩm như một chỉnh thể

nghệ thuật qua các bình diện như cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu đó nhằm xác định những

nét tương đồng và khác biệt giữa Tum Tiêu với Vượt biển

Phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành: Để hiểu rõ hơn giá trị tác phẩm ở

hai nền văn học cần thiết sử dụng kiến thức tổng hợp và viện dẫn kết quả của các ngành có liên quan như dân tộc học, văn hóa học, xã hội học… Theo chúng tôi, sự kết hợp đa ngành là cách thức tối ưu làm nổi bật những nét tương đồng và khác biệt trong

đời sống văn học - văn hóa, môi trường, bối cảnh lịch sử của hai tác phẩm Tum Tiêu và

Vượt biển

Phương pháp thống kê: Luận án tiến hành sưu tầm, thống kê số lượng văn bản, số

lượng những điểm tương đồng và khác biệt trong những văn bản đó Đồng thời, luận

án dựa trên những kết quả, đưa ra những nhận xét, đánh giá một cách chính xác về các

khía cạnh của vấn đề

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Chúng tôi lựa chọn phương pháp này để phân

tích tác phẩm và tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Phương pháp so sánh song song: Là tìm kết cấu nội tại, mối liên hệ giữa toàn bộ

tác phẩm với toàn bộ tiến trình xã hội của người Khơme và người Tày dựa trên các tư liệu trong lịch sử và trong quá trình điền dã Từ đó, luận án đối chiếu các bình diện thi pháp truyện thơ của người Khơme Campuchia và người Tày ở Việt Nam để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng, nhằm cho thấy tính liên văn hóa và tính xuyên văn hóa trong nền văn hóa, văn học của hai nước

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về so sánh thi pháp

truyện thơ Tum Tiêu của người Khơme Campuchia với Vượt biển của người Tày ở

Việt Nam Kết quả nghiên cứu căn cứ vào quá trình hình thành sẽ làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trên các bình diện thi pháp: cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật của hai tác phẩm thuộc hai tộc người của hai đất nước khác nhau Thông qua sự phân tích, so sánh này, luận án tiến tới giải mã các mã văn hóa từ không gian văn hóa, từ chỗ tải đạo đến tải đời Đặc biệt, luận án đưa ra được những kết luận có tính chất khái quát về sự sáng tạo độc đáo của các tác giả trong từng

bình diện thi pháp của Tum Tiêu và Vượt biển Đó là sự xây dựng thành công cốt

Trang 8

truyện tự sự trữ tình với mô hình cấu trúc “kết thúc bi kịch”, đã phá vỡ kiểu mô hình vòng tròn khép kín của “kết thúc có hậu” để tạo nên một kiểu kết thúc mở và việc chọn cách kết thúc cốt truyện đúng như thực tế sự việc đã diễn ra; Đó là kiểu nhân vật có ngoại hình, tính cách và tâm lí duy mĩ, duy tình dám bẻ lái số phận bằng cách chọn cái chết để giữ lòng thủy chung trong tình yêu và sự tinh khiết trong tâm hồn; Đó là mô hình không gian - thời gian gắn liền với tinh thần tôn trọng thiên nhiên và các giá trị văn hóa của con người trong đời sống khi cùng sinh tụ trên một khu vực địa lí Qua đó, hai truyện thơ này sẽ khơi dậy những khoái cảm thẩm mĩ và làm sáng tỏ bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo của họ Đồng thời, hai truyện thơ này còn góp phần làm phong phú và đa dạng hơn trong thể loại truyện thơ Campuchia và Việt Nam

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lí luận

Một, Chúng tôi giới thuyết cụ thể một cách hệ thống diễn trình vận động của lí

thuyết: thi pháp và thi pháp học lịch sử; văn học so sánh và so sánh song song; thi pháp truyện thơ và truyện thơ Đông Nam Á thông qua các công trình tiêu biểu của các đại diện quan trọng Một số công trình nghiên cứu ứng dụng được xem là có tính chất

hệ thống khi nghiên cứu thi pháp học lịch sử và thi pháp truyện thơ

Hai, Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh song song để tìm ra những

điểm tương đồng và khác biệt trên các bình diện thi pháp của Tum Tiêu và Vượt biển

Qua đó, luận án sẽ góp phần làm phong phú hơn lí luận về thể loại truyện thơ

Ba, Hơn nữa, việc luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu song song để tìm ra

những điểm tương đồng và khác biệt trên các bình diện thi pháp của Tum Tiêu và Vượt

biển còn góp phần quan trọng vào tìm hiểu quá trình biến đổi và tiếp nối trong nghiên

cứu lí thuyết thi pháp truyện thơ

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ luận án này, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần bổ sung cho việc nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số của Việt Nam, Campuchia và các dân tộc trong khu vực Đông Nam Á Ngoài ra, luận án còn là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho các giảng viên, giáo viên, học sinh các trường; những người có nhu cầu tìm hiểu truyện thơ của người Khơme Campuchia và người Tày ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết cấu thành 04 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 3: Những điểm tương đồng của hai truyện thơ Tum Tiêu và Vượt biển Chương 4: Những điểm khác biệt của hai truyện thơ Tum Tiêu và Vượt biển

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu truyện thơ ở Việt Nam và nước ngoài

1.1.1 Một số vấn đề lí luận về truyện thơ

Ở Việt Nam có ba khái niệm “truyện thơ”, “truyện Nôm” và “truyện thơ Nôm” Truyện thơ chủ yếu nói về các tác phẩm của các dân tộc ít người ở Việt Nam (như

truyện thơ Mường, truyện thơ Tày - Nùng, truyện thơ Thái) Trong cuốn Từ điển văn

học (bộ mới) thì truyện Nôm (hay truyện thơ Nôm) chủ yếu nói về các tác phẩm của

dân tộc Việt (Kinh) và đó là những tác phẩm viết bằng chữ Nôm (không phải chữ Hán) Để hiểu một cách cụ thể về khái niệm “truyện thơ” chúng tôi sẽ tìm hiểu từ khái niệm về “truyện thơ Nôm” một thể loại tương đối hoàn chỉnh trong nền văn học truyền

thống của Việt Nam

Truyện Nôm tuy có từ xa xưa nhưng khái niệm và thuật ngữ “truyện Nôm” thì có

lẽ phải đến Dương Quảng Hàm mới được gọi là chính thức Trước đó trong sách Việt

Hán văn khảo của Bưu Văn Phan Kế Bính và Quốc văn cụ thể của Ưu Thiên Bùi Kỷ

không thấy nhắc đến tên gọi thể loại này Còn Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn

học sử yếu đã có chương XV ghi rõ: “Các văn thể riêng của ta đã nói đến hai thể:

truyện, ngâm, hát nói trong đó “các truyện Nôm của ta viết theo hai thể: lục bát và biến thể lục bát”, và ông hiểu “truyện Nôm là tiểu thuyết viết bằng văn vần…” (Dẫn theo Trần Đình Sử) [143; 83] Đây là định nghĩa sơ lược đầu tiên về truyện Nôm Nhà

nghiên cứu Nguyễn Hồng Phong trong sách Sơ khảo văn học Việt Nam (tập 3, 1959)

lại xem truyện Nôm bình dân là thể loại “tiểu thuyết” tuy còn non kém [135; 36] Còn

nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh trong sách Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt

Nam (1974) cũng đồng quan điểm cho rằng truyện Nôm là một loại tiểu thuyết bằng

thơ [39; 131]

Ở cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi

đồng chủ biên thì mục từ “truyện Nôm” có lời giải thích như sau: “Thể loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, do viết bằng tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm”

[48; 45] Còn trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới) thì nguồn gốc của truyện Nôm vẫn

là một ẩn số “cho đến nay chưa thể biết truyện Nôm ra đời vào lúc nào và hình thái

đầu tiên như thế nào” [49; 1847] Trong chuyên luận Truyện Kiều và thể loại truyện

Nôm, Đặng Thanh Lê đã đưa ra hai nhận định cụ thể về truyện Nôm: 1) “Truyện Nôm

nằm trong hệ thống các tác phẩm phản ánh cuộc sống bằng phương thức tự sự có ý nghĩa là phản ánh cuộc sống xã hội thông qua sự trình bày, miêu tả có tính chất hoàn chỉnh vận mệnh một nhân vật (trong mối quan hệ với nhiều vận mệnh, nhiều tính cách

Trang 10

nhân vật khác)”; 2) “Thể loại tiểu thuyết này sử dụng ngôn ngữ, văn tự dân tộc: chữ Nôm và với tư cách tác phẩm tự sự bằng văn vần, đại bộ phận các tác phẩm đều sử dụng một thể loại thơ dân tộc - thể lục bát” [74; 55] Như vậy, Đặng Thanh Lê đã coi truyện Nôm như một thể loại tiểu thuyết bằng thơ Các học giả Nga như B.L Riptin, N.I Niculin đã nhìn truyện Nôm trong truyền thống truyện thơ gần gũi với các nước trong khu vực Đông Nam Á Ở Việt Nam, truyện Nôm có thể diễn ca không chỉ truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, Phật thoại, tiên thoại, sử kí mà còn diễn ca

cả tiểu thuyết chương hồi Điều đó chứng tỏ truyện thơ Nôm là một hình thức văn học vừa ổn định vừa linh hoạt, có khả năng đồng hóa lớn, có sức sống lâu bền trong tâm thức người Việt

Một vấn đề khác là truyện Nôm gắn với chữ Nôm, thuộc phạm trù văn học Viết

dân tộc Năm 1993, Kiều Thu Hoạch công bố công trình Truyện Nôm - Nguồn gốc và

bản chất thể loại, trong chương Thi pháp truyện Nôm ông đã phủ nhận xem truyện

Nôm bình dân là văn học viết, là thể loại tự sự tiểu thuyết hóa và có xu hướng xem đó

là thể loại văn học dân gian, sáng tác theo khuôn hình cốt truyện văn học dân gian, nhân vật nhiều loại tính hơn là cá tính, tác phẩm mang đậm tư duy cổ tích, sử dụng kết cấu có hậu với yếu tố thần kì, các môtíp truyện dân gian được sử dụng phổ biến, ngay ngôn ngữ đối thoại, độc thoại cũng là bộ phận cấu thành quan trọng của thể loại cổ tích [54; 133 - 215] Truyện Nôm bình dân là sản phẩm sáng tác tập thể và sáng tác để kể miệng là chính Sự phân tích của Kiều Thu Hoạch đã làm sâu sắc thêm bản chất dân gian của thể loại mà nhiều khi chưa được giới nghiên cứu nhận thức đầy đủ Mặt khác, các chứng cứ của nhà nghiên cứu cũng không thể bác bỏ được đặc trưng của văn học viết của các tác phẩm đó Cho đến nay, chưa có truyện Nôm nào được các nhà nghiên cứu văn học dân gian ghi chép bằng phương pháp điền dã (chép trực tiếp từ người hát)

mà chỉ có các bản phiên âm của một văn bản Nôm có trước Đồng thời, cho dù những

lí lẽ xác định bản chất sáng tác văn học dân gian hoàn toàn đủ sức thuyết phục, thì đó cũng mới đề cập đến bộ phận truyện Nôm bình dân, vô danh hay khuyết danh thì vẫn còn một bộ phận truyện Nôm có tác giả Nôm, bác học nữa được xem là tiểu thuyết Như vậy, truyện Nôm là thể loại truyện kể dân gian hay thể loại tiểu thuyết thuộc hai loại hình văn học viết Và để hiểu rõ hơn chúng tôi sẽ làm rõ những đặc trưng chung của chúng

Năm 2002, Trần Đình Sử đã ra chuyên luận về Thi Pháp Truyện Kiều Trong chuyên luận ông dành hẳn một mục Truyện thơ Nôm và Truyện Kiều Theo quan điểm

của Trần Đình Sử thì truyện Nôm không phải thể loại sử thi, khác với cổ tích, khác với tiểu thuyết hiện đại “truyện Nôm là thể loại “truyện vừa trung đại”, chỉ kể các nhân vật

và sự tích trong quan hệ nhân quả sít sao, chặt chẽ, có hậu Truyện Nôm nói chung chưa biết đến các chi tiết “thừa”, nó chưa cho ta biết về vô thức và trạng thái thế giới

Trang 11

bao la xung quanh con người và sự việc Và do đó, truyện Nôm chưa phải là tiểu thuyết” [143; 102] Đây là một nhận định rất xác đáng khi nhà nghiên cứu dựa trên quan điểm của A Chichêrin về việc phân loại truyện vừa trong văn học Nga và thể loại tiểu thuyết Bằng những luận điểm và những dẫn chứng rất cụ thể, chi tiết thì đây

là một nhận định khoa học đáng tin cậy

Năm 2016, Đức Ninh chủ biên công trình Quá trình hình thành thể loại tiểu thuyết

hiện đại trong văn học Việt Nam và một số nước Đông Nam Á, ở mục truyện Nôm thì

“Truyện Nôm là một thể loại truyện kể có cốt truyện được viết dưới hình thức văn vần” [107; 82] Công trình đã tổng kết những ý kiến đánh giá khác nhau của các nhà nghiên cứu văn học trung đại và văn học hiện đại về thời điểm ra đời của truyện Nôm dẫn đến các cách gọi khác nhau: “Cho đến nay, các nhà nghiên cứu văn học trung đại vẫn chưa thể xác định được một cách chắc chắn thời điểm ra đời của thể loại này trong lịch sử nước ta Trong quan điểm của một số nhà nghiên cứu văn học hiện đại, thể truyện Nôm có nhiều đặc tính của tiểu thuyết Một số nhà nghiên cứu đã không ngần ngại dùng thuật ngữ “tiểu thuyết” để chỉ thể loại này, thậm chí kể cả những dạng thức manh nha của loại hình truyện kể” [107; 82] Hơn nữa, chuyên khảo đã so sánh được

sự khác nhau về quan niệm đạo đức, nhân vật, ngôn ngữ giữa truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học để thấy được sự ảnh hưởng của nó lên tiểu thuyết quốc ngữ đầu thế kỉ XX Những ý kiến đánh giá trong công trình được đúc kết cô đọng, có giá trị và tác động sâu sắc đến tư tưởng để chúng tôi tiếp tục triển khai đề tài

Theo chúng tôi thì truyện Nôm là để nói về tác phẩm tự sự ở Việt Nam viết bằng các loại chữ Nôm (Nôm Việt, Nôm Tày…) dưới hình thức văn vần hoặc văn xuôi Còn truyện thơ Nôm chỉ để nói về một loại tác phẩm tự sự ở Việt Nam, viết bằng thơ (của tác giả khuyết danh hoặc có tên), văn tự là chữ Nôm các loại, chủ yếu xuất hiện ở Việt Nam trong các thế kỉ XVIII, XIX

Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm “truyện thơ Nôm”, chúng ta tiếp tục mở rộng phạm

vi khảo sát các ý kiến, nhận định của các nhà nghiên cứu về nội hàm và ngoại diện của

“truyện thơ” Các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm “truyện thơ”: Trong Từ điển văn

học (bộ mới) nêu ngắn gọn truyện thơ là “Một thể loại văn học viết dưới hình thức văn

vần có cốt truyện” [49; 1850] Phan Đăng Nhật trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu

số ở Việt Nam đã đưa ra một cách hiểu khá đơn giản “Truyện thơ - đó là những tác

phẩm tự sự dưới hình thức thơ ca” [110; 150] Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong

cuốn Các thể thơ ca và sự phát triển của hình thức trong thơ ca Việt Nam lí giải khái

niệm truyện thơ hoàn chỉnh và sâu sắc hơn: “Truyện thơ căn bản dựa vào phương thức

tự sự với một hệ thống sự kiện và cốt truyện để bộc lộ nội dung chủ đề Cốt truyện trong truyện thơ cũng giống như cốt truyện của kịch, tiểu thuyết Bằng hình thức kể có cốt truyện, nhà thơ có điều kiện đi sâu vào những tình tiết, những sự kiện của câu

Trang 12

chuyện, những khía cạnh khác nhau của xung đột xã hội, do đó, truyện thơ có khả năng phản ánh những mặt phong phú của đời sống xã hội Trên ý nghĩa đó, truyện thơ

có thể được xem như một tiểu thuyết Một mặt khác, do chỗ vận dụng ngôn ngữ thơ ca

để diễn đạt nên từ hình ảnh, nhịp điệu đến cú pháp thơ ca, truyện thơ tự xác định chỗ

khác nhau với tiểu thuyết” [109; 396] Võ Quang Nhơn trong giáo trình Văn học dân

gian các dân tộc ít người ở mục Truyện thơ đưa ra định nghĩa: “Truyện thơ một mặt kế

thừa và phát triển truyền thống tự sự và trữ tình của truyện cổ và thơ ca dân gian, một mặt tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa bác học và đặc biệt là nền văn hóa bác học Việt Từ những kế thừa và chịu ảnh hưởng nhiều mặt đó, các nghệ nhân dân gian và các trí thức dân tộc đã sáng tạo nên một thể loại văn học dân gian mới với nội dung bề thế hơn về mặt dung lượng, với nghệ thuật được trau chuốt và hoàn thiện hơn” [128;

450] Nguyễn Xuân Kính trong mục Chung quanh các khái niệm “truyện thơ” và

“truyện thơ các dân tộc thiểu số” đã xác định: “Truyện thơ các dân tộc thiểu số là một

thể loại văn học dân gian thuộc loại hình tự sự, bao gồm những tác phẩm có hình thức văn vần, được kể, được hát, được ngâm, đọc (kể cả trước và sau khi đã được ghi chép)

và thường có nội dung thể hiện thân phận con người và cuộc sống đôi lứa” [62; 547]

Có thể thấy, dù nghiên cứu từ một loại hình lí thuyết nào, dù nghiên cứu từ một phương diện nội dung hay hình thức nghệ thuật của thể loại truyện thơ các nhà nghiên cứu đều chú ý đến khai thác hai yếu tố: tự sự và trữ tình và coi nó là một loại tiểu thuyết bằng thơ Tuy nhiên, nếu chỉ khai thác các yếu tố này vào tác phẩm truyện thơ

cụ thể thì vẫn chưa thỏa đáng Điểm dừng của các công trình này sẽ là điểm tiếp nối để chúng tôi khai triển tiếp vấn đề lí luận về truyện thơ

Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra khái niệm Truyện thơ ở hai góc độ lí luận văn học

và văn học sử: 1) Truyện thơ là một thể loại văn học nằm trong hệ thống những tác phẩm phản ánh cuộc sống hiện thực bằng phương thức tự sự thông qua sự trình bày miêu tả có tính chất hoàn chỉnh vận mệnh của một hay một số nhân vật chính và trên

cơ sở ấy là sự phát triển có tính chất hoàn chỉnh của một số tính cách nhân vật (trong mối quan hệ với nhiều tính cách nhân vật khác) Tính chất hoàn chỉnh này cũng được tạo nên bởi kết cấu cốt truyện, hệ thống nhân vật, tình huống trong một kiểu kết cấu phổ biến; 2) Truyện thơ phản ánh cuộc sống bằng việc sử dụng hình thức văn vần (thể thơ) trên cơ sở của các bài hát dân ca thấm đẫm chất trữ tình với đầy đủ những đặc trưng của phương thức sáng tác này cùng với sự tồn tại của nó trong không gian diễn xướng

Khái niệm truyện thơ mà chúng tôi đưa ra khác với khái niệm về sử thi Có thể nhận thấy, trong văn học của các dân tộc thiểu số nổi lên hai thể loại văn học đặc trưng cho văn hóa vùng miền, đó là: đối với dân tộc thiểu số miền Bắc là truyện thơ còn đối với dân tộc thiểu số Tây Nguyên là sử thi Hai đối tượng này có những điểm tương

Trang 13

đồng như về dung lượng tác phẩm đồ sộ hơn so với dung lượng của các thể loại văn học khác; ngôn từ sử dụng thể văn vần; phương thức phản ánh tự sự, hình thức diễn xướng chủ yếu là hát - kể Đây là những yếu tố rất căn bản để trong một thời gian dài các nhà nghiên cứu suốt từ năm 1963 - 1978 dựa vào đặc tính riêng này mà xếp sử thi

và truyện thơ vào cùng một thể loại Tuy nhiên, cho đến nay các nhà nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng truyện thơ và sử thi là hai thể loại khác hẳn nhau Theo Phan Đăng Nhật sự khác nhau giữa truyện thơ và sử thi thể hiện ở chỗ: “Sử thi ra đời chủ yếu do nhu cầu phản ánh và hỗ trợ việc chuyển hóa của lịch sử (chủ yếu bằng chiến tranh) để hình thành Nhà nước, hình thành Quốc gia Còn truyện thơ ra đời do nhu cầu lịch sử - xã hội của thời đại của nó Lúc bấy giờ trong xã hội các dân tộc thiểu số đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn Mâu thuẫn giữa tình yêu chân chính của đôi lứa với đòi hỏi khắt khe, lạnh lùng nhiều khi tàn bạo của gia đình và xã hội; mâu thuẫn giữa người nghèo khó và kẻ giàu sang; mâu thuẫn giữa chính nghĩa và phi nghĩa Lúc này vấn đề thân phận con người được đặt ra và đòi hỏi phải đáp ứng thỏa đáng” [110; 401] Điều

đó cho thấy, khi đứng riêng thành một thể loại văn học chuyên biệt thì những giá trị của nó được hiểu và khai thác một cách sâu sắc, các tầng lớp không bị chồng chéo khi nghiên cứu Lí luận này về truyện thơ sẽ được chúng tôi tiếp thu trong việc triển khai luận án của mình

1.1.2 Tình hình nghiên cứu lí luận truyện thơ ở Việt Nam

Như chúng tôi đã trình bày, ở Việt Nam có ba khái niệm “truyện thơ”, “truyện Nôm” và “truyện thơ Nôm” Truyện thơ chủ yếu nói về các tác phẩm của các dân tộc

ít người ở Việt Nam (như truyện thơ Mường, truyện thơ Tày - Nùng, truyện thơ Thái)

Để làm rõ tình hình nghiên cứu lí luận về truyện thơ (truyện thơ Tày) ở Việt Nam một cách chính xác và khoa học còn là một thách thức lớn Các học giả đều quan tâm đến

nghiên cứu truyện thơ từ góc độ văn học

Các giáo trình về văn học dân gian của Phan Đăng Nhật, Võ Quang Nhơn, Vũ Anh Tuấn… đều viết về mảng truyện thơ với những quan điểm khác nhau Trong giáo trình

Văn học các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Phan Đăng Nhật (1981) dựa trên những

tiêu chí ông đã chia văn học dân gian các dân tộc thiểu số có: văn học nói, văn học kể, văn học hát Theo ông, nội dung chính của truyện thơ là truyện nói về các nhân vật mồ côi người em út, người con riêng, người lao động nghèo khổ, chuyện tình yêu Với cốt truyện gắn bó với lời nói vần và thơ dân gian, nghệ thuật tự sự hòa nhịp với trữ tình và tồn tại trong lời hát ca với âm nhạc Đó là nguồn truyện thơ của các dân tộc Dựa trên những tiêu chí về lí thuyết như trên, ông đã phân loại truyện thơ thành ba loại: truyện thơ về tình yêu; truyện thơ về sự nghèo khổ; truyện thơ về chính nghĩa Kết luận cuối cùng của tác giả: “Truyện Nôm miền xuôi cũng như truyện thơ miền núi đều là bước nối tiếp giữa văn học dân gian và văn học thành văn, đều mang tính chất của hai loại

Trang 14

hình nói trên” [110; 24] Trong khi đó, giáo trình Văn học dân gian các dân tộc ít

người của Võ Quang Nhơn (1983), ông đã dành hẳn một chương để bàn về truyện

thơ Tác giả đã so sánh một cách toàn diện giữa truyện Nôm Việt với truyện Nôm Tày Một thành công đáng kể trong công trình này là tác giả đã chỉ ra được một cách rõ ràng những điểm tương đồng ở nhóm truyện thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức Ông khẳng định: “Truyện thơ ở nhóm này đã thể hiện khá rõ tính chất thành văn, tiếp cận với đặc điểm thi pháp của nền văn học bác học và đánh dấu một bước phát triển mới của nền văn học dân gian” [128; 382] Căn cứ vào nguồn gốc tiếp thu một cách có chọn lọc để sáng tạo nên những cốt truyện được truyền tải dưới những câu thơ

Và căn cứ vào phương thức diễn xướng ông đã chia truyện thơ thành bốn nhóm cơ bản Trên cơ sở phân tích các đặc điểm thể loại và khái quát nội dung một số truyện thơ khác nhau của các dân tộc ít người ông đi đến kết luận: “Truyện thơ một mặt kế thừa và phát triển truyền thống tự sự và trữ tình của truyện cổ và thơ ca dân gian, một mặt tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa bác học và đặc biệt là của văn học bác học Việt Từ những sự kế thừa và chịu ảnh hưởng về nhiều mặt đó, các nghệ nhân dân gian

và các trí thức dân tộc đã sáng tạo nên một thể loại văn học dân gian mới, với nội dung

bề thế hơn về dung lượng, với nghệ thuật được trau chuốt và hoàn thiện hơn Ở một số dân tộc ít người, thể loại truyện thơ đánh dấu bước phát triển mới của văn học dân gian Nó phản ảnh quá trình vận động, biến chuyển của văn học dân gian các dân tộc ít người, tiến tới tiếp cận và đi dần vào quĩ đạo của nền văn học thành văn của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam” [128; 450] Đây là công trình bề thế, chuyên sâu và sớm nhất

về folklore ngôn từ các dân tộc ít người ở Việt Nam Tiếp nối tư tưởng và những thành

tựu của hai công trình bề thế trên, năm 2012 cuốn giáo trình Văn học dân gian do Vũ

Anh Tuấn chủ biên đã ra đời Công trình này được trình bày có hai phần chính: 1) Những vấn đề chung về văn học dân gian; 2) Các thể loại văn học dân gian Trong đó,

truyện thơ thuộc chương 11 Các nhà nghiên cứu đã làm rõ những vấn đề chung về thể

loại, phương thức lưu truyền, cung cách diễn xướng và làm nổi bật những nét chính về nội dung, nghệ thuật của truyện thơ dân gian các dân tộc thiểu số Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều đánh giá: “Truyện thơ dân gian các dân tộc thiểu số là một thể loại đặc biệt Đặc biệt ở chỗ, nó là truyện nhưng lại được kể bằng hình thức thơ ca dân gian, với những thể thơ khác nhau tùy thuộc vào truyền thống văn hóa - văn học của mỗi dân tộc” [152; 303 ] Những luận điểm đưa ra trong cả ba cuốn giáo trình rất xác đáng

là tiền để để chúng tôi sử dụng triển khai những nội dung nghiên cứu của mình

Nghiên cứu truyện thơ còn được các học giả thể hiện thành quan điểm, tư tưởng qua những chuyên luận, đặc biệt có ba chuyên luận được nghiên cứu rất công phu và nghiêm túc của Kiều Thu Hoạch, Lê Trường Phát và Vũ Anh Tuấn Các ông đã nâng

những đánh giá, nhận xét thành lí luận về truyện thơ Đầu tiên, Truyện Nôm - Nguồn

Trang 15

gốc bản chất và thể loại của Kiều Thu Hoạch (1993), có thể khẳng định rằng đây là

một chuyên luận có ý nghĩa đặc biệt đối với việc nghiên cứu thể loại truyện Nôm ở Việt Nam nói chung và truyện thơ các dân tộc miền núi nói riêng trên cả hai phương diện lí luận và thực tiễn Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn đề cập đến trong công trình này là tác giả đã phát hiện ra những đặc điểm cụ thể về mối quan hệ có tính chất biện chứng giữa truyện Nôm kinh và truyện thơ Tày Ông đã chỉ ra: quan hệ ấy biểu hiện ở

sự tương đồng ở câu mở đầu, câu kết thúc truyện, ở phong cách ngôn ngữ thơ ca pha tạp không thuần nhất, khi thì Hán khi thì Nôm, khi thì bình dân khi thì trang trọng Và

“đáng chú ý là truyện Nôm của người Việt dần dần đã thâm nhập vào cả truyện thơ Tày - Nùng, để tạo nên những truyện thơ mang dáng dấp của truyện Nôm, hay nói đúng hơn là chịu ảnh hưởng của truyện Nôm cả về mặt cấu trúc tư tưởng lẫn cấu trúc

nghệ thuật” [54; 104] Tiếp theo, Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số

của Lê Trường Phát (1997) Ở công trình này chúng tôi nhận thấy ông đã tiến hành khảo sát theo nhiệm vụ khoa học của mình Ông nghiên cứu trên 6 truyện thơ Thái và

14 truyện thơ Tày - Nùng Một điểm khác biệt nổi trội trong chuyên luận này là ông đã đặt truyện thơ các dân tộc thiểu số trong bối cảnh truyện thơ của các nước Đông Nam

Á (Lào, Camphuchia, Thái Lan ) để so sánh, phân tích đưa ra các kết luận vừa thú vị vừa mang tính khoa học như: Mô hình kết cấu cốt truyện kết thúc có hậu (với ba

chặng: Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ) không phổ biến cho kiểu kết cấu cốt truyện của

truyện thơ các dân tộc thiểu số trong nền đại hòa sắc tộc của các nước Đông Nam Á Theo ông thì: “Mô hình kết thúc bi kịch mới là phổ biến, nó có tỉ lệ lấn át có những trường hợp thì cách kết thúc này giữ vị trí độc tôn (100%) như truyện thơ của dân tộc Mường; dân tộc Chăm Còn riêng với truyện thơ Tày - Nùng theo tác giả khảo sát và kết luận trùng với kết luận của Kiều Thu Hoạch “Kết thúc có hậu chiếm tỉ lệ lấn át” [131; 87] Ông đã lí giải điều này: Sở dĩ có sự kết thúc khác nhau giữa nhóm truyện thơ Tày - Nùng với truyện thơ Mường - Chăm là do vai trò tham gia sáng tạo của các Nho sĩ, thầy đồ người Việt miền xuôi lên, họ mang theo ảnh hưởng của truyện Nôm Việt vào truyện thơ Tày Nhưng mục đích quan trọng mà công trình này hướng tới là nhằm khảo sát phương diện về hình thức nghệ thuật, phương diện tạo thành nghệ thuật

về mặt thể loại như chính tác giả tự giới hạn Và sau quá trình 10 năm khảo sát, nghiên

cứu một cách công phu đầy tâm huyết, chuyên luận khoa học với đề tài Truyện thơ Tày

- Nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại của Vũ Anh Tuấn (2004) đã ra

đời Đây là một công trình nghiên cứu một cách hệ thống về nguồn gốc thể loại truyện thơ Nôm Tày dựa trên cơ sở hiện thực xã hội, nguồn gốc nội sinh, ngoại sinh trong quá trình phát triển và tiếp biến của nền văn hóa tộc người Từ đó, tác giả xác lập quá trình phát triển của truyện thơ Tày, nêu lên giả thiết về lược đồ của quá trình phát triển

đó Sau cùng, tác giả phân tích thi pháp của thể loại truyện thơ Tày qua những đặc

Trang 16

điểm thi pháp cấu trúc, nhân vật và lời văn nghệ thuật trong truyện thơ Tày Công trình này được khá nhiều học giả đánh giá cao và ghi nhận những đóng góp lớn lao của Vũ Anh Tuấn trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam Có thể nói, hệ thống lí luận của các tác giả trong các chuyên luận sẽ gợi ý cho chúng tôi nghiên

cứu cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong Tum

Tiêu và Vượt biển

Cùng nghiên cứu về lí luận truyện thơ từ góc độ văn học nó còn được các học giả

quan tâm như: Cuốn Văn hóa Tày Nùng của Lã Văn Lô và Hà Văn Thư (1984) trong chương 3: Văn học nghệ thuật truyền thống, có phần viết về Truyện thơ Nôm khuyết

danh, học giả Hà Văn Thư đã liệt kê tên một số truyện thơ Nôm Tày - Nùng khuyết

danh như: Slam Péc - Anh Tài, Nam Kim - Thị Đan, Kim Quế, Chim sáo, Khảm hải,

Lưu Đài - Hán Xuân, Trần Chu - Quyển Vương, Quảng Tân - Ngọc Lương Và một

số truyện cổ dân gian của người Việt được dịch ra thơ Tày như: Phạm Tải - Ngọc Hoa,

Tống Trân - Cúc Hoa Tiếp đó, tác giả đi đến giới thiệu nội dung một số truyện thơ

Nôm khuyết danh Tày - Nùng theo 2 loại: 1) Gồm các truyện có kết cấu đơn giản, đậm

tính chất dân gian, thường mượn những cốt truyện dân gian như: Slam Péc - Anh Tài,

Nam Kim - Thị Đan; 2) Gồm những truyện có kết cấu phức tạp hơn, trình bày có tình

tiết hơn, mang tính tiểu thuyết hơn, như: Lưu Đài - Hán Xuân, Tần Chu - Quyển

Vương Và trong bộ Tổng tập văn học Việt Nam (2000), trọn bộ 42 tập, có chỉnh lí và

bổ sung, trong đó tập 39 do nhóm: Đặng Nghiêm Vạn chủ biên; Chu Thái Sơn, Nguyễn Hữu Thấu, Lục Văn Pảo sưu tầm, biên soạn (Trung tâm Khoa học Xã hội và

Nhân văn Quốc gia xuất bản), có giới thiệu 2 tác phẩm của dân tộc Tày là: Pú Lương

Quân (chỉ có phần tóm tắt nội dung, tuyển theo bản dịch kể của hai ông Lã Văn Lô và

Lê Bình Sự trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 65/1964), truyền thuyết Chín chúa

tranh vua dài 1.372 câu (chỉ có phần dịch thơ tiếng Việt, Lã Văn Lô dịch, đã giới thiệu

trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 5 và 6/1963) Trong Chữ Nôm Tày và truyện thơ do

Triều Ân chủ biên (Trung tâm Nghiên cứu Quốc học xuất bản, 2003) Các tác giả đã bước đầu tìm hiểu thời điểm xuất hiện truyện thơ Nôm Tày và tiến hành phân loại

nguồn gốc truyện thơ Nôm Tày Trong cuốn sách Tử Thư - Văn Thậy do Hà Thị Bình

dịch và giới thiệu (Nxb Khoa học Xã hội, 2005) Bên cạnh việc giới thiệu phần phiên

âm và dịch thơ truyện Tử Thư - Văn Thậy, tác giả đã tiến hành phân tích một số vần đề

về nội dung và một số yếu tố nghệ thuật của loại truyện thơ này Đặc biệt trong bài

viết Dẫn luận mang tiêu đề Quá trình sưu tầm, nghiên cứu truyện thơ các dân tộc

thiểu số được in trong Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập

21 sau đó in lại trong cuốn Một nhận thức mới về văn học dân gian Việt Nam của

Nguyễn Xuân Kính (Nxb Khoa học Xã hội, 2006) cũng đã phân tích dựa trên những thành tựu của các nghệ nhân, nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu về truyện thơ để có cái

Trang 17

nhìn khái quát về tình hình sưu tầm và nghiên cứu truyện thơ Qua đó, Nguyễn Xuân Kính còn góp phần làm rõ vấn đề “chung quanh các khái niệm “truyện thơ” và ‘truyện thơ các dân tộc thiểu số” [62; 542] Những luận điểm trên là những gợi ý khá hay để chúng tôi xem xét nghiên cứu về sự hình thành văn bản

của Tum Tiêu và Vượt biển

Các công trình nghiên cứu truyện thơ đăng tải trên các tạp chí khoa học, trong đó

có thể kể đến: Bài Đọc sách Nôm Tày Tần Chu của tác giả Hiền Lương đăng trên Tạp

chí Hán Nôm (số 1/1989) Bài viết Về tác phẩm truyện thơ Tày - Nùng Lưu Đài - Hán Xuân của Nguyễn Minh Tuân, bước đầu giới thiệu tác phẩm Lưu Đài - Hán Xuân

thông qua việc tìm hiểu đôi nét về nội dung cơ bản của tác phẩm và một vài đặc điểm của việc sử dụng chữ Nôm Tày trong văn bản Trong đó, ở phần nội dung của tác

phẩm, tác giả bài viết tiến hành khảo cứu khái quát nội dung tác phẩm ba văn bản Lưu

Đài - Hán Xuân Ở phần tiếp theo của bài viết, tác giả nêu một số loại chữ Nôm Tày

được sử dụng trong tác phẩm này như: chữ Nôm Tày dùng nguyên chữ và âm Hán Việt, nhưng không dùng đến nghĩa của chữ; chữ Nôm Tày dùng nguyên chữ, âm và nghĩa Hán Việt; chữ Nôm Tày dùng nguyên chữ Hán đọc chệch âm Hán Việt, không dùng theo nghĩa của chữ; chữ Nôm Tày sáng tạo; chữ Nôm Tày dùng nguyên chữ Nôm Việt cả ba mặt chữ - âm - nghĩa; chữ Nôm Tày dùng nguyên chữ Nôm Việt có bị

biến đổi về âm đọc Trong bài viết Về mô hình cốt truyện của truyện thơ các dân tộc

thiểu số của Lê Trường Phát đăng trên Tạp chí Văn học (số 7/1997) Đây là một bài

viết chuyên sâu về thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số Bài viết Tìm hiểu đôi nét về

truyện thơ Nôm Tày - Nùng Tọong Tương của tác giả Trần Thị Thu Hường đăng trên Tạp chí Hán Nôm (số 3/2004) lại đi sâu tìm hiểu văn bản truyện thơ Nôm Tày này trên các

phương diện: tác giả, văn bản tác phẩm, thể loại, nội dung và giá trị của tác phẩm Đây là hai bài viết mang tính khảo cứu khá kĩ về hai tác phẩm truyện thơ Nôm Tày - Nùng là

Tọong Tương và Lưu Đài - Hán Xuân Với bài viết Tìm hiểu yếu tố đạo giáo trong một

số truyện thơ Nôm Tày - Nùng đăng trên Tạp chí Hán Nôm (số 1/2009), Nguyễn Minh

Tuân sơ lược đề cập đến các yếu tố Đạo giáo trong một số truyện thơ Nôm Tày như:

Nhân Lăng, Kim Quế, Chiêu Đức, Lưu Đài Hán Xuân, Đính Quân, Quảng Tân Ngọc Lương, Tần Chu Ở đây, tác giả đã tìm hiểu về cấu trúc, cách thức xây dựng

nhân vật; không gian hoạt động của các truyện thơ trên Qua đó, tác giả cho người đọc thấy rõ hơn tư tưởng độc đáo mà Đạo giáo đã thâm nhập và ảnh hưởng vào

truyện thơ Nôm Tày - Nùng

Có thể thấy, truyện thơ Nôm Tày luôn nhận được sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu của nhiều học giả trong khoảng thời gian hơn nửa thế kỉ qua Các công trình trên hầu hết

đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ, song so với kho tàng truyện thơ Nôm Tày phong phú về số lượng, đa dạng về nội dung thì số lượng truyện thơ Nôm Tày

Trang 18

từng được biên dịch mới chỉ chiếm khoảng chưa đầy 1/3 số lượng truyện thơ hiện có Bên cạnh đó, một phần không nhỏ những truyện thơ đã được biên dịch và công bố có

sự lặp lại về số lần xuất bản, số lần tuyển dịch hoặc trích dịch Do đó, một bộ phận không nhỏ truyện thơ Nôm Tày vẫn còn trong tình trạng nguyên bản, chưa được biên dịch và nghiên cứu Thêm nữa, phần lớn các bản dịch truyện thơ Nôm Tày thường chỉ cung cấp bản dịch thơ tiếng Việt, một số còn lại được cung cấp thêm cả bản phiên âm tiếng Tày, nhưng những bản in kèm cả nguyên bản chữ viết Nôm Tày là rất ít, trong đó

tiêu biểu phải kể đến công trình Tổng tập truyện thơ Nôm các dân tộc thiểu số Việt

Nam do Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổ chức biên dịch (Nxb Khoa học Xã hội, đã xuất

bản được 8 tập) Điều đó phần nào hạn chế giới nghiên cứu tiếp cận một cách đầy đủ với nguồn tư liệu văn học phong phú của người Tày Từ đó, giúp giới khoa học khai thác được nguồn di sản phong phú và đa dạng không chỉ của riêng người Tày mà của cả nền văn học dân gian Việt Nam thời trung đại

Như vậy, nghiên cứu truyện thơ ở Việt Nam chủ yếu được các học giả trình bày quan điểm, tư tưởng từ góc độ văn học Nó tập trung vào hai xu hướng: 1) Các công trình tìm hiểu hệ thống lí luận truyện thơ từ khái niệm, đặc trưng, phân loại… Xu hướng này được các học giả trình bày rất rõ trong các cuốn giáo trình, sách chuyên khảo viết về truyện thơ - truyện thơ của các dân tộc thiểu số; 2) Các tác giả đã sử dụng lí thuyết truyện thơ vào phân tích một số những tác phẩm tiêu biểu của các dân tộc và đặt chúng vào những kiểu kết cấu khác nhau trong lòng thể loại truyện thơ Tuy nhiên, cả hai xu hướng này đều đưa ra được những nhận định, đánh giá khái quát về các tác phẩm truyện thơ song chưa có một công trình nào phân tích một cách

kĩ lưỡng về so sánh thi pháp truyện thơ cũng như sử dụng một phương pháp cụ thể để

triển khai tìm ra điểm tương đồng và khác biệt của Tum Tiêu và Vượt biển Đây là

khoảng trống để chúng tôi đi sâu nghiên cứu và làm sáng tỏ những nhận định của những người đi trước

1.1.3 Tình hình nghiên cứu lí luận truyện thơ ở nước ngoài

Những đặc điểm về lịch sử, kinh tế, xã hội kết hợp với vốn văn hóa nghệ thuật của dân tộc chính là tiền đề cho sự ra đời của một thể loại văn học mới ở Đông Nam Á: đó

là truyện thơ Truyện thơ là một thể loại văn chương truyền thống đã xuất hiện từ lâu trong nền văn học các dân tộc khu vực Đông Nam Á Hơn nữa, truyện thơ còn là một thể loại độc đáo mang tính loại hình của văn học khu vực và được các cư dân vùng Đông Nam Á hết sức ưa chuộng Chính vì vậy, trong tiến trình lịch sử văn học các dân tộc Đông Nam Á, truyện thơ đã được nhiều học giả nước ngoài quan tâm chủ yếu theo

hướng nghiên cứu từ góc độ văn học

Lịch sử Đông phương học thế giới đã ra đời từ thế kỉ XVII Có những trung tâm lâu đời nghiên cứu phương Đông nằm ở các nước Tây Âu như Pháp, Hà Lan, Liên Xô

Trang 19

cũ và sau này có Mĩ, Úc Các trung tâm này hiện còn lưu giữ rất nhiều tài liệu và văn bản quí về các lĩnh vực của phương Đông Tuy nhiên, văn học các nước Đông Nam Á thực sự được nghiên cứu vào những năm 50 của thế kỉ XX Từ năm 1960 trở về trước thì Đông phương học Xô Viết chỉ chú ý đến các nền văn học lớn ở phương Đông mà chưa chú ý đáng kể đến các nền văn học Đông Nam Á

Trong thời kì sau Đông phương học Xô Viết về văn học đã cho ra đời một bộ sách

mang tên Văn học phương Đông (gồm 23 cuốn sách viết về 23 nền văn học dân tộc ở phương Đông, trong đó có các cuốn: Văn học Indonesia (1965) của V Sicorski, Văn

học Philippines (1965) của Santos; Văn học Miến Điện (1967) của G Pôpốp; Văn học Thái Lan (1971); Văn học Việt Nam (1972) của Niculin N.I Đây là tập sách công phu

viết về văn học trong đó đã có những đánh giá quan trọng viết về truyện thơ Nó đánh dấu một bước tiến rõ rệt và quan trọng trong nghiên cứu văn học Đông Nam Á ở Liên

Xô cũ

Năm 1958, Viện Văn học thế giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô có nhóm chuyên môn nghiên cứu quan hệ qua lại giữa các nền văn học phương Đông và phương Tây Năm 1961, Viện phương Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô

đã lập ra một bộ phận chuyên nghiên cứu văn học và văn bia các dân tộc ở Châu Á Và các nền văn học dân tộc ở khu vực Đông Nam Á được coi là các thành viên của văn học phương Đông Các chuyên gia các nền văn học Đông Nam Á đã tham gia bàn bạc

về văn học phương Đông cùng với các chuyên gia văn học khác ở Liên Xô Họ đã có những bài nghiên cứu về văn học Đông Nam Á Về truyện thơ không thể không nói

đến công trình nghiên cứu năm 1972 của Niculin N.I là Văn học Việt Nam trong đó ông có hẳn chuyên đề nghiên cứu về Truyện Kiều, Hồ Xuân Hương Trong đó, ông đã

khẳng định: “Truyện thơ bắt nguồn từ văn học dân gian, với tư cách là những thể loại, chúng tạo thành một bộ phận tiêu biểu đặc biệt cho thơ ca Việt Nam” [99; 11] Hay khi ông so sánh truyện thơ của Việt Nam với truyện thơ của các nước trong khu vực và lân cận, ông cũng đưa ra những đánh giá rất sắc sảo: “Truyện thơ đã làm cho văn học của Việt Nam khác hẳn với truyền thống ở Viễn Đông mà nó gắn bó mật thiết Những nền văn học đó không hề biết đến những tác phẩm truyện thơ dài Về mặt này văn học Việt Nam gần gũi với các nền văn học của các dân tộc khác ở Đông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Lào, Malaixia) cũng như các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam” [99; 11]

Có thể thấy, tác giả đã có những đánh giá bước đầu về truyện thơ nói chung và đi vào khai thác từng tác phẩm cụ thể nói riêng là những đóng góp vô cùng quí báu để các nhà nghiên trong nước tìm hiểu sâu hơn nữa tài sản văn học của dân tộc

Ở nước ngoài, các học giả khi nghiên cứu về truyện thơ đều có những nhận xét,

đánh giá sâu sắc và viện dẫn Truyện Kiều làm dẫn chứng cụ thể Quan điểm này thể hiện trong các công trình Những vấn đề văn học của Bakhtin M (1975) Ông đã đưa ra

Trang 20

những nhận xét rất sắc bén: “Nguyễn Du đi sâu khám phá nội tâm nhân vật, cái cá biệt không lặp lại của không gian và thời gian” (Dẫn theo Trần Đình Sử) [143; 224] Trong

công trình Thi pháp văn học Nga cổ của Likhachev D.X (1978) thì ông cũng có những đánh giá, nhận xét so sánh văn học Nga cổ với tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du

ở Việt Nam: “Nguyễn Du đã thể hiện được quan niệm thời gian hiện tại của tiểu thuyết, là thời gian hiện tại chưa hoàn thành, đang diễn ra đầy phấp phỏng và chờ mong” [77; 29] Đây là một công trình chuyên sâu và đã có những đánh giá sâu sắc về

Truyện Kiều Quan điểm trên còn thể hiện sâu sắc ở bài viết Sự phát triển của truyền thống trong văn học dân gian, văn học loại hình trung đại và vai trò của các mối liên

hệ qua lại trong quá trình này trong công trình Cái truyền thống và cái mới trong văn học Đông Nam Á của Viện sĩ Riptin B.L (1982) một nhà nghiên cứu nổi tiếng về văn

học phương Đông Ông đã đưa ra những ý kiến đánh giá đúng vị trí và công lao to lớn của Nguyễn Du: “Khi Bakyn - nhà tiểu thuyết Nhật Bản dựa vào cốt truyện để sáng tạo ra tiểu

thuyết đạo đức Con cá vàng thì Nguyễn Du sáng tác ra cả một truyện thơ” (Dẫn theo Trần

Đình Sử) [143; 39]

Dựa trên tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, chúng tôi nhận thấy, các công trình của các học giả trên thế giới nhìn chung đã chỉ ra được những giá trị nổi bật của truyện thơ và tầm quan trọng của nó trong phạm vi nghiên cứu về truyện thơ ở khu vực Đông Nam Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng Nghiên cứu khu vực văn học Đông Nam Á nằm trong Đông phương học của nhiều nước trên thế giới như của Liên Xô cũ, của Pháp… Kết quả nghiên cứu của các trung tâm khoa học, của các nhà khoa học về thể loại truyện thơ với nhiều cách đánh giá khác nhau Mỗi cách đánh giá đó đều có hạt nhân hợp lí nhưng bên cạnh đó cũng còn những đánh giá phiếm diện, góp phần không nhỏ giúp chúng tôi có những cách lí giải cụ thể, thấu đáo về tính thể loại truyện thơ ở khu vực Đông Nam Á

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu hai truyện thơ Tum Tiêu và Vượt biển

1.2.1 Hướng nghiên cứu Tum Tiêu và Vượt biển từ góc độ văn học

1.2.1.1 Hướng nghiên cứu Tum Tiêu từ góc độ văn học

Từ thế kỉ XVII trở đi nền văn học viết của Campuchia đã đạt đến đỉnh cao, với sự xuất hiện hàng loạt các thể loại văn học khác nhau như: Sastra Ibaen, chơbắp, truyện bằng văn xuôi… “Sastra Ibaen là truyện bằng thơ Đây là thể loại hàng đầu của văn học Khơme, được các nhà thơ ưa chuộng và sử dụng thành thạo” [30; 569] Bởi vậy, trong kho di sản của nền văn học của Campuchia nói chung và truyện thơ nói riêng thì

Tum Tiêu là một truyện thơ đặc biệt được ưa chuộng Văn bản này đã được các nhà

nghiên cứu Campuchia và nước ngoài quan tâm đến nguồn gốc câu chuyện, tác giả,

nội dung và hình thức của tác phẩm, tiêu biểu là hai cuốn Nghiên cứu Văn học Khơme của Lí Thêm Têng (1959) và Nghiên cứu Tum Tiêu của Úc Xa Mon (1966) Còn hầu

Trang 21

như các học giả của Campuchia khi viết về Tum Tiêu trong công trình nghiên cứu của

mình thì vẫn còn còn dè dặt, do dự về ý nghĩa giáo dục và giá trị văn học của tác phẩm

này Họ chưa đặt Tum Tiêu vào đúng vị trí xứng đáng của nó trong nền văn học dân tộc Campuchia như trong cuốn: Lịch sử văn học Khơme của Khum Xò Mâu (1956); cuốn Suy nghĩ về văn học Khơme của Ken Van Sắc (1969); cuốn Suy nghĩ về văn học

Khơme của Vandy Kaon (1981)

Với vị trí và giá trị to lớn, Tum Tiêu được các học giả nước ngoài biết đến và giới

thiệu về văn học Campuchia như trong các công trình của học giải Pháp: Solange Bernard Thierry, Pierre Bitard, Georges Coedès, Francoins Martini, Guy Porée,

Etienne Aymonier, Auguste Pavie… Tuy nhiên, trong các công trình này thì tác phẩm

chỉ được giới thiệu một cách sơ lược và khái quát về giá trị nội dung Trong những

năm gần đây trong sách giáo khoa trung học của Campuchia mang tên Riêm Kê và

Tum Tiêu của Bộ giáo dục Campuchia (1988) mới khẳng định vị trí và vai trò quan

trọng của tác phẩm Tum Tiêu trong nền văn học Campuchia

Đối với các học giả Việt Nam, Tum Tiêu là tác phẩm được quan tâm và biết đến từ rất sớm Trong hướng nghiên cứu Tum Tiêu từ góc độ văn học thì ở phần giới thiệu

cuốn sách dịch các học giả đã nói về giá trị, những thành tựu nổi bật ở phương diện

nội dung, nghệ thuật của Tum Tiêu và khẳng định: “Với Tum Tiêu, văn học đã có được

vị trí riêng của mình, nó vừa là đỉnh cao, vừa là điểm kết thúc của cả một truyền thống văn học Campuchia” [83; 8] Theo quan điểm này có Phạm Thành Trục (1966); Thái Văn Chải (1972) và Phùng Huy Thịnh (1987) Tuy nhiên, những nhận xét, đánh giá đó vẫn chỉ dừng lại ở mức độ chung chung chưa toát lên được nội dung sâu sắc và giá trị

nghệ thuật mà Tum Tiêu mang lại

Ngoài phần phân tích và giới thiệu Tum Tiêu đến độc giả thì tác giả đầu tiên cần phải kể đến là Vũ Tuyết Loan, trong cuốn Riêm kê và Tum Tiêu trong văn học

Campuchia (Nxb Văn học, 1992) Đồng thời, bài viết này in lại và bổ sung thêm kiến

thức trong cuốn Văn học Campuchia qua những chặng đường lịch sử (Nxb Khoa học

Xã hội, 2000) Đây là những công trình mà tác giả đã phân tích làm rõ nội dung phản

ánh và nghệ thuật của tác phẩm Đặc biệt, khi nghiên cứu chuyên sâu về Tum Tiêu tác

giả đã trình bày quá trình chuyển biến và phát triển của văn học Campuchia từ thế kỉ

IX đến thế kỉ XX qua hai tác phẩm tiêu biểu Riêm Kê và Tum Tiêu Trong chương II viết về Tum Tiêu nhà nghiên cứu đã đi sâu làm rõ tình hình văn bản của Tum Tiêu thì:

“Theo các nhà nghiên cứu, Tum Tiêu đến được tay bạn đọc ngày nay đã trải qua một

lịch sử văn bản khá phức tạp” [82; 80] Tác giả tiếp tục đưa ra những văn bản khác nhau nhưng cuối cùng khẳng định: “Về cơ bản, Bôtum Mắtthê Xôm là người có công

lớn nhất trong việc nhuận sắc, hoàn chỉnh tác phẩm Tum Tiêu, đã nâng cao giá trị của

tác phẩm, nhất là về phương diện nghệ thuật” [82; 86] Tác giả đã khai thác sâu các giá

Trang 22

trị trong văn bản của Tum Tiêu về nhân vật; đề tài tình yêu, tôn giáo; giá trị hiện thực

của tác phẩm; ngôn ngữ; thể thơ… một cách khá rõ nét Từ đó, đưa ra những nhận

định khái quát về tác phẩm: “Có thể nói Tum Tiêu là một tác phẩm văn học đích thực

đầu tiên đã mô tả cuộc sống thực xẩy ra trong khung cảnh xã hội Campuchia Trong

Tum Tiêu bắt đầu lóe lên nhu cầu tình cảm của con người cận hiện đại: tự do yêu

đương, được hưởng hạnh phúc tình yêu Tum Tiêu cũng đòi hỏi phải khám phá, phải thể

hiện cho được những vấn đề của cuộc sống con người, của xã hội hiện thực” [82; 113 114] Đây là những đánh giá sắc sảo và có tầm khái quát rộng bao trùm toàn bộ tác phẩm

-Vì thế nó là nguồn tư liệu quí giúp chúng tôi triển khai tiếp đề tài luận án

Đồng quan điểm với tác giả Vũ Tuyết Loan, Đỗ Thu Hà trong công trình Văn học

khu vực Đông Nam Á, Đức Ninh chủ biên (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 tái

bản) cũng có bài viết về Tum Tiêu Ở đây, nhà nghiên cứu cũng đã phân tích và làm rõ

Tum Tiêu trên một số phương diện nội dung và nghệ thuật: “Lời lẽ cũng như hình ảnh

trong Tum Tiêu đã lên tới đỉnh cao về nghệ thuật đầy nhạc tính và chứa đựng những

hình ảnh đặc sắc” [102; 147] Về cơ bản, đây là một công trình nghiên cứu nghiêm túc

đã chỉ ra và khẳng định được vị trí của Tum Tiêu trong nền văn học Campuchia

Thêm nữa, nghiên cứu nội dung và nghệ thuật Tum Tiêu còn phải kể các công trình đăng trên các tạp chí như: Vũ Tuyết Loan có hai bài báo: Truyện Tum Tiêu và vị trí

của nó trong văn học Campuchia (Tạp chí Văn học, số 4/1984) và Đặc sắc trong văn

học truyền thống Campuchia qua nội dung truyện Tum Tiêu (Tạp chí Văn học, số

5/1992); Nguyễn Sỹ Tuấn có bài Bàn thêm về giá trị của Tum Tiêu trong nền văn học

Campuchia (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5/2010)…

Hướng nghiên cứu Tum Tiêu dưới góc độ văn học đã được các học giả quan tâm

Có hai xu hướng: 1) Các công trình phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật nằm rải rác trong các sách giáo trình, chuyên khảo Nhưng những nhận định, đánh giá cũng chỉ đề cập đến một bình diện nào đó và vẫn dừng ở cấp độ khái quát; 2) Khai thác nội dung

và nghệ thuật từ mối tình của Tum Tiêu và nâng lên thành quan điểm riêng tác giả

muốn gửi gắm đến độc giả Điều đáng chú ý là trong quá trình chứng minh cho sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật ở góc độ nghiên cứu văn học thì những phát hiện tinh tế về kết cấu cốt truyện, nhân vật tuy mới chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát, song sẽ là những ý kiến quí báu cho chúng tôi trong quá trình triển khai đề tài

1.2.1.2 Hướng nghiên cứu Vượt biển từ góc độ văn học

Truyện thơ Vượt biển đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ những năm 60 của thế

kỉ trước Điều đó càng khẳng định giá trị của nó trong kho tàng văn học của người Tày

Cụ thể:

Căn cứ vào nội dung và ý nghĩa câu chuyện mà các nhà nghiên cứu đã xếp Vượt

biển vào những nhóm truyện thơ viết về đề tài nghèo khổ Quan điểm này thể hiện rất

Trang 23

rõ trong công trình Văn học các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Phan Đặng Nhật (1981) Ở đây, ông đã đánh giá và phân tích từ cốt truyện Vượt biển đến ý nghĩa mà

tác phẩm mang lại đối với người đọc: “Hai bi kịch lớn của cuộc đời Sa dạ Sa dồng

trong truyện thơ Vượt biển, tiêu biểu cho những bi kịch của con người bị áp bức bóc

lột dưới chế độ cũ, trong phạm vi gia đình và xã hội, cõi sống và cõi chết” [110; 221] Điều này khiến độc giả hình dung một cách cụ thể và chi tiết về người nghèo miền núi sống trong xã hội phong kiến: “Rất cụ thể, sâu sắc mà cũng có giá trị khái quát từ cuộc đời của một con người mà động đến nhiều kiếp người Lời lẽ chân thành thống thiết như là dòng máu đau thương trào ra tự trái tim người thuật chuyện đời mình” [110; 243]

Căn cứ vào nguồn gốc ra đời lại xếp Vượt biển thuộc nhóm truyện thơ phục vụ nghi lễ dân gian Quan điểm này thể hiện rất rõ trong cuốn giáo trình Văn học dân gian

các dân tộc ít người của Võ Quang Nhơn (1983) Trong giáo trình này, ông đã phân

tích rõ nội dung mà truyện thơ Vượt biển muốn truyền tải: “Vấn đề mà Khảm hải nêu

lên là vấn đề gì? Đó là vấn đề của những con người nghèo khổ có thể nói thuộc lớp tận cùng xã hội nông thôn Tày Nùng” [128; 424] Từ đó, ông đã khái quát tư tưởng mà

người Tày muốn gửi gắm vào nó: “Bằng những nét sắc gọn truyện thơ Vượt biển

(Khảm hải) đã vẽ lên thân phận bị đày ải cùng cực, bị rẻ rúng như bèo bọt của người

phu thuyền tượng tựng cho người nghèo khổ cực nhất trong xã hội cũ của các dân tộc anh em” [128; 426] Như vậy, ông đã cho người đọc thấy được sự phân tích cụ thể, tỉ

mỉ khi đặt ra những vấn đề trọng tâm và giải quyết thấu đáo vấn đề đó là sự áp bức, khổ cực của những người nông dân Tày trong xã hội xưa

Căn cứ vào nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại thì Vượt biển được

phân tích và làm rõ về cốt truyện, nhân vật và lời văn nghệ thuật như trong công trình

cuốn Bước đầu tìm hiểu về vốn văn nghệ Việt Bắc (của Sở văn hóa thông tin Việt Bắc)

của Nông Minh Châu (1974) Ở đây, Nông Minh Châu đã nghiên cứu và đưa ra những

nhận định của về Vượt biển khi coi đó là một tác phẩm văn học cổ chính hiệu của dân

tộc Tày Xét một cách tổng thể thì đó cũng chỉ là một nghiên cứu nhỏ chưa làm rõ được hết giá trị của tác phẩm Quan điểm này thực sự hoàn thiện trong công trình

Truyện thơ Tày - Nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại của Vũ Anh

Tuấn Đây là một công trình công phu, bề thế khi phân tích Vượt biển ở góc độ văn học đích thực Tuy nhiên, ông lại xếp Vượt biển thuộc loại truyện thơ trữ tình tự sự:

“Khác với quan niệm trước đây, chúng tôi không quan niệm Vượt biển là truyện thơ tự

sự trữ tình Vượt biển là truyện thơ trữ tình tự sự, toát lên từ đặc điểm cấu trúc của nó,

và tất nhiên từ lời văn nghệ thuật của tác phẩm, từ cung cách xây dựng nhân vật chính” [151; 145] Quan điểm này của ông sẽ là tiền đề để chúng tôi đối chiếu khi

phân tích và so sánh về bình diện cốt truyện của Vượt biển

Trang 24

Như vậy, truyện thơ này với tính chất độc đáo, vừa là một tác phẩm văn học dân gian có giá trị, vừa là một tôn giáo bản địa nên đương nhiên được nghiên cứu nhiều

Về cơ bản chúng tôi thấy, Vượt biển được các học giả quan tâm trên hai phương diện: 1) Các công trình nói chung khai thác giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

nhưng những nhận định, ý kiến đưa ra ở một vài bình diện vẫn còn ở tầm khái quát, chung chung; 2) Các tác giả chủ yếu đi sâu và làm rõ thông qua cốt truyện này để phản ánh hiện thực xã hội Tày - Nùng xưa kia Nhìn chung, các nghiên cứu đều nên nhận

định khái quát về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tuy nhiên, chưa có một công

trình nào đi sâu phân tích một cách chi tiết những vấn đề về từng bình diện thi pháp

của Vượt biển và so sánh những bình diện thi pháp này với truyện thơ Tum Tiêu Dựa

trên những ý kiến đánh giá của những công trình đi trước sẽ là nguồn tài liệu quí báu

để chúng tôi có thể lấp đầy khoảng trống này

1.2.2 Hướng nghiên cứu Tum Tiêu và Vượt biển từ góc độ tôn giáo

1.2.2.1 Hướng nghiên cứu Tum Tiêu từ góc độ tôn giáo

Từ thế kỉ XV trở đi, khi đạo Phật Tiểu thừa trở thành quốc giáo với những giáo lí thấm sâu vào tiềm thức của người dân Campuchia Và Bôtum Mắtthê Xôm là một nhà

sư nên Tum Tiêu được ông nhuận sắc lại cũng chịu những ảnh hưởng của hệ tư tưởng

Phật giáo đó Vì vậy, Tum Tiêu còn được các nhà nghiên cứu quan tâm từ góc độ tôn

giáo

Quan điểm này được thể hiện trong công trình Tìm hiểu lịch sử văn hóa

Campuchia của Vũ Tuyết Loan (tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, 1994) có bài viết Ảnh hưởng của Phật giáo vào văn học Campuchia đã đánh giá: “Một điều chắc chắn rằng

tư tưởng, triết học Phật giáo đã góp một phần quan trọng làm nên giá trị bất tử đặc

biệt là tác phẩm nổi tiếng Tum Tiêu” [190; 91] Đây là một công trình nghiên cứu sâu

về sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo vào nền văn học Campuchia Vũ Tuyết Loan

đã cho chúng ta thấy cái nhìn toàn cảnh nền văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX khi Phật giáo trở thành quốc giáo ở đất nước Chùa tháp Tư tưởng Phật giáo thấm nhuần

vào đời sống người dân và tư tưởng đó đi vào văn học để mang tính giáo huấn Tum

Tiêu là tác phẩm do tầng lớp sư sãi sáng tác và hoàn thiện hơn cả là nhà sư Bôtum

Mắtthê Xôm Bởi vậy, tính giáo huấn, răn dạy trong đạo Phật thấm nhuần vào tác

phẩm Xét ở góc độ này thì Tum Tiêu là một tác phẩm thuộc về Phật giáo

Đồng quan điểm với tác giả Vũ Tuyết Loan trong công trình Văn học so sánh - lí

luận và ứng dụng (Nxb Khoa học Xã hội, 2001) có bài viết Suy nghĩ về vai trò của văn học dân gian trong văn học Đông Nam Á lục địa của Phan Ngọc Trong bài viết này,

ông đã đưa ra ý kiến: “Các tác phẩm dù là Kinh Phật cũng đều xây dựng trên thơ, có

thể trình diễn và cho đến nay tính hỗn đồng ấy không mất đi Người sáng tác Tum Tiêu

có thể chỉ nghĩ đến mặt thơ ca, nhưng tôi đã thấy ở Campuchia tác phẩm này được

Trang 25

trình diễn có múa hát, tức là mang tính hỗn đồng và quần chúng say mê hình thức hỗn đồng này” [123; 554] Bài nghiên cứu này một lần nữa khẳng định sự trường tồn của

tư tưởng Phật giáo trong sâu thẳm tâm hồn người dân Campuchia Hơn nữa, Phan

Ngọc đã đưa ra một đóng góp mới khi nhìn nhận Tum Tiêu trong đời sống của người

dân Campuchia

Quan điểm này còn được thể hiện trong tập bài giảng chuyên đề Truyện thơ Đông

Nam Á của Trần Thúc Việt (2011) Ông cũng đưa ra ý kiến khẳng định rằng: “Ở

Campuchia, đất nước hình thành sớm ở Đông Nam Á, tiếp nhận ảnh hưởng Ấn Độ sớm với bản tính của cư dân ưa ca hát, hội hè suốt chiều dài lịch sử phát triển, nền văn học truyền thống của quốc gia này đã có một số lượng truyện thơ rất lớn” [182; 18] Ở đây, Trần Thúc Việt đã khẳng định và đề cao truyện thơ đã bám rễ sâu vào trong tiềm thức và văn học truyền thống của người Khơme Campuchia Từ đó, nó hun đúc nên tâm hồn con người và khuyên con người phải sống, làm theo những giáo lí nhà Phật

còn nếu đi ngược lại sẽ nhận quả đắng như kết thúc truyện Tum Tiêu

Như vậy, hướng nghiên cứu Tum Tiêu ở góc độ tôn giáo được các học giả Việt

Nam quan tâm nhiều Tiếp cận ở góc độ này, chúng tôi nhận thấy, các học giả tập

trung vào hai khía cạnh chủ yếu: 1) Xem Tum Tiêu là một tác phẩm văn học chứa

đựng hệ thống giáo lí Phật giáo với các vấn đề thuộc về nhân sinh mang tầm triết học; 2) Thông qua chuyện tình Tum và Tiêu đi ngược giáo lí nhà Phật để khuyên răn các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ nên có cách ứng xử hợp lí hơn trong tình yêu và các mối

quan hệ xã hội Có thể nói, những ý kiến về Tum Tiêu được soi chiếu từ góc độ tôn

giáo sẽ là những gợi ý cho chúng tôi nghiên cứu về cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm

1.2.2.2 Hướng nghiên cứu Vượt biển từ góc độ tôn giáo

Căn cứ vào nguồn gốc hình thành văn bản thì Vượt biển là một văn bản thuộc loại

hình văn chương nghi lễ được các ông Then hát - kể trước ban thờ, nên ít nhiều khoác trên mình những tính chất linh thiêng thần bí Họ vừa mong muốn có một lực lượng siêu nhiên che chở, cứu vớt cuộc đời họ ra khỏi bể khổ cuộc đời, lại vừa để siêu thoát cho những kiếp người dưới đáy xã hội đã phải chịu cảnh đọa đầy Quan điểm này được

thể hiện rõ trong cuốn Lời hát Then của Dương Kim Bội (1975) đã hoàn thiện và ra

mắt độc giả Đây được coi là cuốn sách đầu tiên giới thiệu về lời hát Then dưới dạng nguyên bản tiếng Tày Tác giả đã cho rằng “người chèo thuyền rất sướng chứ không khổ” [9; 54] Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một văn bản đã được tác giả sưu tầm trong dân gian và ở một phương diện nào đó nó có giá văn hóa văn nghệ

Nghiên cứu tôn giáo bản địa của người Tày, phải kể đến công trình Mấy vấn đề

Then Việt Bắc có bài viết với tựa đề Bước đầu tìm hiểu những yếu tố hiện thực sinh hoạt và yếu tố tín ngưỡng nghi lễ của Lê Chí Quế (1978) sau đó được in lại trong cuốn

Trang 26

Văn hóa dân gian khảo sát và nghiên cứu (2001) Bằng những luận điểm và luận cứ có

tính khoa học, Lê Chí Quế đã làm nổi bật được giá trị Vượt biển khi nghiên cứu trong

sinh hoạt nghi lễ: “Hiện thực sinh động nhất, có khả năng cuốn hút người nghe nhiều nhất là những đoạn then kể về những tai ương… những cái đáy sâu thẳm chứa đựng những nỗi cay cực của con người Tày - Nùng xưa kia và cảnh xuôi Sluông, cuộc đời oan khuất, gian truân của Sa dạ Sa dồng vốn đã có cội nguồn từ sự bất hạnh của những đứa em út khi mới hình thành gia đình phụ quyền” [140; 43] Đưa ra luận điểm và viện dẫn cho yếu tố hiện thực sinh hoạt trong Then, tác giả đã giúp chúng tôi có cái nhìn xác đáng hơn khi nghiên cứu không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật của tác phẩm trong đời sống Nhưng đây cũng chỉ là một bài nghiên cứu khái quát một vài khía cạnh về sinh hoạt, tín ngưỡng nghi lễ trong Then nói chung chứ chưa nghiên cứu

hoàn chỉnh, cụ thể Vượt biển trong môi trường sống

Nghiên cứu Vượt biển ở góc độ tôn giáo được các học giả phát triển và nâng nó lên một tầm cao mới khi đưa ra những bình luận, đánh giá, nhận xét như cuốn Then Tày

Đăm do Phạm Tuất sưu tầm (2004) Ở đây, trong phần đầu giới thiệu sách ông đã phác

họa lại một cách tỉ mỉ, chi tiết về con đường hình thành nghi lễ Then của người Tày và ảnh hưởng của Then thấm nhuần vào từng câu chữ của văn bản Nhưng đỉnh cao và

hoàn thiện khi nghiên cứu Vượt biển ở góc độ tôn giáo phải kể đến công trình Then

Tày của Nguyễn Thị Yên (2007) Trong công trình này tác giả chủ yếu nhìn nhận,

đánh giá vị trí, vai trò và giá trị của Vượt biển trong đại nghi lễ Then Căn cứ vào hình thức diễn xướng và nội dung mà Vượt biển thể hiện thì truyện thơ này mang nặng yếu

tố tôn giáo và thấm đượm chất trữ tình tự sự

Những ý kiến, đánh giá của các nhà nghiên cứu khi khai thác các giá trị mà Vượt

biển mang lại ở góc độ tôn giáo bản địa Mặc dù thống nhất với nhau về quan điểm

song mỗi tác giả nghiên cứu kể trên lại có những ý kiến khác nhau, chủ yếu tập trung

vào hai vấn đề: 1) Xem Vượt biển là một chương trong khúc hát Then Đồng thời, đó

cũng là một thứ tôn giáo bản địa của người Tày - Nùng vùng núi phía Bắc Khúc hát này chứa đựng những giá trị độc đáo khác với những chương hát khác ở nghệ thuật biểu diễn của ông Then, nội dung phản ánh đến người đọc; 2) Các hướng nghiên cứu tập trung vào khai thác giá trị đích thực mà Then mang lại Những lí tưởng mà Then mang lại không chỉ có ý nghĩa trong quá khứ, hiện tại mà cả trong tương lai khi cuộc sống con người ngày càng trở nên bấp bênh và bị đe dọa bởi những hiểm họa trong

cuộc sống Việc nghiên cứu Vượt biển ở góc độ tôn giáo của các tác giả đều cho thấy

tác phẩm này ảnh hưởng lên mọi mặt trong đời sống của cư dân người Tày Những ý kiến trên đã cung cấp cho chúng tôi những kiến thức nền tảng để chúng tôi nghiên cứu vấn đề của mình

Trang 27

Như vậy, ở cả Tum Tiêu và Vượt biển khi nghiên cứu từ góc độ văn học thì các nhà

nghiên cứu đều rất chú ý tới mối quan hệ hữu cơ xuyên thấm giữa nội dung và hình thức, đặc biệt là khả năng biểu hiện nội dung của hình thức nghệ thuật, tức là đã chú ý tối đa đến tính hợp lí trong cách thức tổ chức tác phẩm Ở góc độ tôn giáo, cả hai tác

phẩm đều mang những nét đặc trưng riêng của từng tôn giáo ở mỗi quốc gia: Tum Tiêu

- Phật giáo, Vượt biển - Then (tôn giáo bản địa) Những phát hiện tinh tế trong nội dung, nghệ thuật và tôn giáo trong Tum Tiêu và Vượt biển ở các công trình nghiên cứu

nói trên không chỉ góp phần chứng minh giá trị to lớn của tác phẩm mà còn có tác dụng gợi mở để chúng tôi đi vào khám phá nghệ thuật tổ chức cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh hai tác phẩm này trên các bình diện của thi pháp vừa nêu

Tiểu kết chương 1

Trên cơ sở tìm hiểu lí luận truyện thơ, tìm hiểu việc nghiên cứu Tum Tiêu và Vượt

biển, chúng tôi nhận thấy: hầu hết các tác giả đã nhận ra tầm quan trọng và tầm ảnh

hưởng của hai tác phẩm này trong nền văn học dân tộc và vị trí của nó trong lòng thể

loại văn học Đông Nam Á Qua khảo sát tình hình nghiên cứu Tum Tiêu và Vượt biển,

có thể khẳng định, những công trình nghiên cứu truyện thơ ở nước ngoài, nghiên cứu

Tum Tiêu ở Campuchia và Vượt biển ở Việt Nam cho chúng ta thấy cái nhìn tổng thể

về tình hình nghiên cứu lí luận truyện thơ nói chung và hai tác phẩm này ở hai quốc gia nói riêng Tuy nhiên, để triển khai đề tài người viết có cơ hội tiếp thu những ý kiến đánh giá, nhận xét trong các công trình của các nhà nghiên cứu đi trước Chúng tôi rút

ra những nhận xét, đánh giá như sau:

Một, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài chủ yếu tập trung

nghiên cứu từ hai góc độ văn học và tôn giáo Cụ thể, đây là những đặc trưng nghệ

thuật, quan niệm thẩm mĩ, quan điểm nghệ thuật của Bôtum Mắtthê Xôm và tác giả dân gian Tày Qua đó, chúng tôi thấy rõ việc sử dụng các thủ pháp nghệ thuật ở một số

bình diện khác nhau để làm nổi bật, ở Tum Tiêu là: Tình yêu tự do cá nhân và tố cáo

xã hội phong kiến quân chủ chuyên chế khắc nghiệt; Hệ tư tưởng và giáo lí Phật giáo

khuyên răn con người Còn Vượt biển là: Phản kháng chế độ bất công trong xã hội Tày

cổ; Vấn đề tôn giáo kết hợp với loại hình diễn xướng Then

Hai, một số công trình nghiên cứu đã bước đầu tìm hiểu cách thức tổ chức tác

phẩm ở hai cấp độ, cấp độ hình tượng và cấp độ trần thuật (cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật…) Tuy nhiên, vấn đề này mới được thực hiện và khai thác với tư cách là “phương tiện” để làm nổi bật nội dung của tác phẩm, cụ thể: 1) Về cốt truyện thì các yếu tố nghệ thuật tổ chức cốt truyện mới chỉ nghiên cứu ở phương diện tóm tắt và tìm hiểu nội dung câu chuyện trên cơ sở phân tích nội dung và nghệ thuật chưa khai thác sâu những yếu tố tự sự,

Trang 28

phương thức trữ tình và mô hình cấu trúc mô hình “bi kịch” Đặc biệt là kiểu cốt truyện tâm lí, cốt truyện lồng trong truyện với các biểu tượng và thủ pháp nghệ thuật thì chưa được đề cập đến Vì thế, các công trình nghiên cứu chưa làm nổi bật được cách thức tổ chức cốt truyện độc đáo gắn với kiểu mô hình “kết thúc bi kịch” thể hiện

trong hai tác phẩm trên; 2) Về nghệ thuật xây dựng nhân vật đã được các nhà nghiên

cứu chú ý ít nhiều, nhưng mới chỉ dừng lại ở một số thủ pháp kĩ thuật xây dựng nhân vật mà chưa chú ý đến việc xây dựng một hệ thống nhân vật từ tiểu sử đến các mối quan hệ xung quanh với tất cả chiều sâu và chiều rộng của nội dung tác phẩm để thấy nhân vật thoát khỏi kiểu nhân vật chức năng hướng đến kiểu nhân vật loại hình với mô hình nhân vật tâm lí duy mĩ, duy tình trong dòng chảy của văn học, văn hóa Campuchia và Việt Nam; 3) Về không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật các nhà nghiên cứu cũng nói đến nhưng còn ở mức độ khái quát, chung chung chưa đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chưa nói rõ không gian và thời gian cụ thể và ảnh hưởng của những yếu tố nào chi phối tới nó và môi trường sống của nó trong đời sống sinh hoạt của con người trong nền văn hóa chung của đất nước Campuchia và Việt Nam

Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của những tác giả đi trước chúng tôi thấy còn thiếu

vắng nghiên cứu so sánh thi pháp hai truyện thơ Tum Tiêu của người Khơme Campuchia với Vượt biển của người Tày ở Việt Nam một cách hệ thống Nhưng đây là

một đề tài đề cập tới rất nhiều lĩnh vực: 1) Lí luận văn học; 2) Văn học dân gian; 3) Văn học nước ngoài Điều này đòi hỏi chúng tôi phải thu lượm, nghiên cứu ở các thư viện khác nhau, phải đi đến thực địa nơi cư chú của người Tày, người Khơme sống vùng Tây Nam Bộ của Việt Nam, người Khơme của Campuchia nhất là nơi xuất xứ của câu chuyện để tìm hiểu phong tục, tập quán, lối sống… của họ Vì vậy, chúng tôi

sẽ triển khai nghiên cứu so sánh thi pháp hai truyện thơ này theo hướng sử dụng lí luận của thi pháp học và văn học so sánh để tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt của các bình diện thi pháp đã nêu trong hai tác phẩm trên

Trang 29

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Trước khi so sánh thi pháp truyện thơ Tum Tiêu và Vượt biển, cần phải khái quát

hóa vấn đề thi pháp học, thi pháp lịch sử, văn học so sánh, so sánh song song, thi pháp truyện thơ, truyện thơ Đông Nam Á và quá trình hình thành văn bản của hai truyện thơ này làm cơ sở lí thuyết cho đề tài nghiên cứu

2.1 Thi pháp và thi pháp học lịch sử

2.1.1 Thi pháp học

Thi pháp học là một hướng nghiên cứu văn học mạnh mẽ của thế kỉ XX Đặc điểm của các hướng nghiên cứu trên là muốn thông qua tác phẩm để tìm đến những biểu hiện, những bằng chứng của lịch sử, xã hội, tác giả và cá tính thể hiện trong đó mà chưa chú ý đầy đủ đến bản thân nghệ thuật như một hiện tượng đặc biệt của đời sống tinh thần Đó là động cơ dẫn dắt thi pháp học hiện đại dấn thân vào các nẻo đường khác nhau

Các công trình về thi pháp học hoặc nghiên cứu văn học theo hướng thi pháp học

đều khẳng định thuật ngữ “thi pháp” xuất hiện từ thời cổ đại, trong công trình Thi pháp

(Poetika) của Aristote Thuật ngữ thi pháp (poetics, poetique, poetika) có nội hàm ban đầu là “cách thức, biện pháp, phương pháp mô phỏng, bắt chước để sáng tạo văn học” [1; 13] Ở Trung Quốc, thuật ngữ “thi pháp” được các học giả từ đời Tống trở đi nói

tới: Thế kỉ XIII có sách Thi pháp chính tông của Yết Khê Tư, thế kỉ XVI có Thi pháp

chính luận của Phó Nhược Kim Thuật ngữ “thi pháp” cũng được hiểu là phép làm thơ,

vận luật thơ là những nguyên tắc tạo hình, cấu tứ, cốt cách Ở Việt Nam, thuật ngữ “thi pháp”, “thi pháp học” xuất hiện khá muộn, phải đến những năm 80 của thế kỉ XX mới

được xác định Thuật ngữ “thi pháp học” xuất hiện trong các bài báo: Về việc nghiên

cứu thi pháp văn học dân gian của Chu Xuân Diên (1980); Chung quanh khái niệm thi pháp trong khoa nghiên cứu văn học Xô Viết hiện nay của Vương Trí Nhàn (1981) Và

chỉ đến công trình Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử (1985), nội dung “thi

pháp”, “thi pháp học” mới được Trần Đình Sử sử dụng Giữa “thi pháp” và “thi pháp học” có mối quan hệ qua lại giữa đối tượng và khoa học về đối tượng ấy Thi pháp là một tồn tại khách quan, là cái có trước xuất hiện từ khi loài người bắt đầu biết sáng tạo nghệ thuật một cách tự giác Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp, là cái

có sau Chính vì “thi pháp” có nội hàm rộng chứa đựng trong nó nội hàm vừa là văn học vừa là quá trình văn học, cho nên thuật ngữ “thi pháp” và “thi pháp học” thuộc vào

số những thuật ngữ được sử dụng sớm và có sức sống lâu dài của khoa nghiên cứu văn học

Trang 30

Trong quá trình phát triển của thi pháp học hiện đại, có nhiều định nghĩa: Viện sĩ Girmunxki.V viết: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học như một nghệ thuật” [45; 154] Viện sĩ Khrápchencô M.B thì: “Thi pháp học là một bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng” [72; 242] Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán chủ biên có viết: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống các phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ, chiều sâu phản ánh

của sáng tác nghệ thuật” [48; 256 - 257]

Khi xét các chỉnh thể văn học thi pháp có thể nói tới thi pháp tác phẩm cụ thể, thi pháp một trào lưu, thi pháp văn học một thời đại, thời kì lịch sử Xét các phương tiện, phương thức nghệ thuật đã được chia tách, có thể nói tới thi pháp của thể loại, thi pháp của phương pháp, thi pháp kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ Xét về phương pháp tiếp cận, thi pháp học có ba phạm vi nghiên cứu: 1) Thi pháp học đại cương (thi pháp học lí thuyết, thi pháp học hệ thống hóa hay thi pháp học vĩ mô) tức là lí luận văn học Mục đích của nó là xây dựng trọn vẹn một hệ thống các thủ pháp, bao quát ba phạm vi: ngữ âm, từ vựng, hình tượng; 2) Thi pháp học chuyên biệt (thi pháp học miêu tả vi mô) nhằm xây dựng mô hình hệ thống cá biệt của các thuộc tính tác động thẩm mĩ của tác phẩm Nó quan tâm chính đến kết cấu tức là tương quan hài hòa của các yếu tố nói trên trong một chỉnh thể nghệ thuật để có thể miêu tả tác phẩm văn học cá biệt, cũng như cụm tác phẩm trong sáng tác của một nhà văn, một thể loại, một trào lưu hay cả một thời đại văn học; 3) Thi pháp học lịch sử

2.1.2 Thi pháp học lịch sử

Trong lịch sử văn học so sánh hơn một trăm năm qua, người ta đã bàn nhiều về phương pháp nghiên cứu, về cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu Theo yêu cầu của từng thời kì phát triển, văn học so sánh sớm hình thành ở Châu Âu và Hoa Kì, với những phương pháp khác nhau có lúc rơi vào “khủng hoảng, phân li nhưng rồi lại lắng đọng xuống và hội tụ lại” [95; 221] Nhưng đó không phải là đối lập, đó chỉ là sự tiếp nối, sự mâu thuẫn, khủng hoảng tự nhiên của qui luật phát triển Văn học so sánh Pháp theo nguyên tắc nghiên cứu nguồn gốc và ảnh hưởng, nguyên tắc nhị nguyên và lấy thực chứng làm thước đo Văn học so sánh Pháp đã tiếp thu được nhiều thành tựu to lớn như một người đi tiên phong, như lá cờ đầu Văn học so sánh Mĩ lấy phương pháp song song và đối chiếu làm nguyên tắc Sau chiến tranh thế giới thứ 2, văn học so sánh

Mĩ chính thức lên tiếng tranh luận với văn học so sánh Pháp trong việc chia ba lĩnh vực văn học: Văn học dân tộc; Văn học so sánh và Văn học đại cương [95; 221] Văn

Trang 31

học so sánh chuyên khảo sát mối liên hệ giao tiếp giữa hai nền văn học, còn văn học đại cương khảo sát những liên hệ không nhất thiết có tính giao tiếp giữa ba hoặc nhiều nền văn học Đó chính là việc nghiên cứu ảnh hưởng, tác động trực tiếp và nghiên cứu những cái giống nhau, không phụ thuộc nhau, mang tính chất loại hình học Trong thực tế, cách phân chia này có cái yếu của nó Làm sao tách văn học so sánh và văn học đại cương cho thật rành mạch, khỏi dẫm đạp lên nhau Nghiên cứu ảnh hưởng của Scott.W đối với tiểu thuyết Pháp có khác nhau bao nhiêu so với nghiên cứu nguồn gốc tiểu thuyết lịch sử trong văn học Châu Âu thế kỉ XIX? Còn việc xác nhận về ảnh hưởng hay sự giống nhau về mặt loại hình học cũng rất dễ là ngẫu nhiên và dễ bị nhầm lẫn, nếu không gắn với đặc điểm lịch sử của quá trình văn học

Thi pháp học lịch sử được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, theo Trần Nho Thìn:

“Thi pháp học lịch sử, tức là phân tích sự vận động, thay đổi của thi pháp trong thời gian” [164; 331], Đỗ Lai Thúy là: “Tìm giá trị văn học không phải ở trong bản thân

nó, mà ở cái đối tượng đã in dấu vào nó, tức cái đối tượng tồn tại trước và độc lập với tác phẩm và chỉ “được phản ánh” trong tác phẩm” [171; 44 - 45], Trần Đình Sử nhiệm

vụ của thi pháp học lịch sử là: “Rút ra các qui luật sáng tạo văn học và đúc kết các tiêu chuẩn đánh giá nó từ sự tiến hóa lịch sử của nó, để thay thế các định nghĩa trừu tượng hay các phán quyết thống trị từ xưa đến nay” [144; 43] Nó đặt mục tiêu: “Nghiên cứu

sự tiến hóa của ý thức nghệ thuật và các hình thức của nó” [144; 43] Huỳnh Như Phương là: “Nghiên cứu sự vận động và phát triển của các phạm trù và thủ pháp nghệ thuật trong những bối cảnh lịch sử, văn hóa và văn học khác nhau” [137; 9] Như vậy,

có thể hiểu thi pháp học lịch sử là lĩnh vực nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các hình thức văn học, bắt đầu từ các thủ pháp ẩn dụ, ví von, vần điệu cho đến các thể loại, các phạm trù văn học như không gian, thời gian nghệ thuật, các hệ thống nghệ thuật như trào lưu, phong cách và cả bản thân văn học như một loại hình nghệ thuật bằng phương pháp so sánh lịch sử nhằm vạch ra các đặc điểm chung của các

hệ thống văn học thuộc các nền văn hóa khác nhau, xác định cội nguồn của chúng cũng như các qui luật chung của ý thức văn học nhân loại “Vấn đề chính của thi pháp học lịch sử là sự phát sinh, phát triển của thể loại trong ý nghĩa rộng nhất của từ đó, là ranh giới phân chia phạm vi văn học và ngoài văn học với tất cả sự thay đổi lịch sử của chúng” [59; 13]

Thi pháp học lịch sử được hình thành từ cuối thế kỉ XIX trên cơ sở của các phương pháp nghiên cứu văn hóa lịch sử và so sánh văn học, với hoạt động của nhà ngữ văn học Nga, Viện sĩ Vêxêlốpxki A.N (1838 - 1906) Trường phái văn hóa lịch sử Châu

Âu đã bắt đầu việc nghiên cứu sự tiến hóa của văn học và nghệ thuật dân tộc Châu Âu với các học giả nổi tiếng như: Hippolyte Taine (1828 - 1893); Ferdinand Brunetière

Trang 32

(1849 - 1906) Có thể thấy thi pháp học lịch sử nghiên cứu thi pháp của từng thời kì lịch sử (cổ đại, trung đại, hiện đại), từng khu vực, dân tộc (thi pháp Châu Âu, thi pháp văn học Trung Quốc…) Ngoài phương pháp hệ thống, nó sử dụng quan điểm lịch sử

và so sánh lịch sử Phạm trù cơ bản của thi pháp lịch sử là các loại hình ý thức nghệ thuật, các thể loại, phong cách, tác giả với cách hiểu rộng rãi và tự nhiên như chúng xuất hiện trong lịch sử văn học Từ sử thi Hi Lạp đến bi kịch cổ điển Pháp, Hán phú, ngâm khúc và truyện thơ Nôm Việt Nam… Thi pháp học lịch sử sử dụng các phạm trù nhân loại học phổ quát như con người, không gian, thời gian… để nghiên cứu sự thể hiện cụ thể của chúng trong các nền văn học và sự phát triển của chúng qua các thời kì của lịch sử văn học

Các quan điểm nghiên cứu về thi pháp học lịch sử đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và đạt những thành tựu Cụ thể:

Vêxêlốpxki A.N bắt đầu nghiên cứu Lịch sử của Định ngữ nghệ thuật (1895);

Song hành tâm lí và các hình thức của nó trong việc thể hiện phong cách nghệ thuật

(1898); Thi pháp cốt truyện Ba chương trong sách Thi pháp học lịch sử gồm: Tính

nguyên hợp của thơ và sự phân hóa thể loại, Từ người ca sĩ tới nhà thơ; Ngôn ngữ thơ

và ngôn ngữ văn xuôi (1898, 1940) Cái mới của Vêxêlốpxki A.N là xem xét các khía

cạnh bản thể luận của văn học - hình thức tồn tại và hình thức phát triển của văn học Thông qua những tác phẩm có thể thấy ông đi sâu phân tích sự ra đời của văn học qua các yếu tố hình thức, qua sự phân hóa của các yếu tố bên trong và bên ngoài, đặc biệt

là sự hình thành của ngôn ngữ văn học Tuy nhiên, do nhiệm vụ quá lớn, do ảnh hưởng các quan niệm thực chứng và do quan niệm văn học lúc ấy còn quá cũ, phần lớn ví dụ của ông đều thuộc văn học dân gian, Vêxêlốpxki A.N chưa thực hiện được ý đồ khoa học của ông (Dẫn theo Trần Đình Sử) [144; 111]

Người kế tục và đổi mới truyền thống Vêxêlốpxki A.N (khuynh hướng nghiên cứu

thi pháp văn học cổ và trung đại) có ba nhà nghiên cứu: 1) Phrâyđenbéc O.M viết Thi

pháp cốt truyện và thể loại - Thời kì cổ đại (L 1936); Từ huyền thoại đến trữ tình, Nguồn gốc thơ trữ tình Hi Lạp (công bố 1973), Xteplin - Kamenxki M (1903 - 1981),

trong công trình Thi pháp học lịch sử (L 1978), nghiên cứu sự hình thành của văn học

trong văn học Anh thời kì cổ đại qua các thể loại dân gian và sáng tác văn học thời kì

đầu Công trình Thế giới Saga (L 1972, 1984), nghiên cứu tính độc đáo của hình thức nghệ thuật Saga; 2) Likhachốp D.S (sinh năm 1906) đã công bố: Sự ra đời của văn

học Nga (1952); Con người trong văn học Nga cổ (1958, 1970); Thi pháp văn học Nga

cổ (1967, 1971, 1979); Sự phát triển của văn học Nga trong bảy thế kỉ: Thời đại và phong cách (1973) Ông chú ý đặc biệt đến cái nhìn nghệ thuật, phương pháp miêu tả

và phong cách thời đại Và theo hướng này còn có Avêrinxép S (sinh năm 1937)

Trang 33

nghiên cứu sự vận động của hình thức văn học trong quan hệ nhiều mặt với triết học,

văn hóa, tôn giáo: Thi pháp văn học Bidantin thời kì đầu (1977); Về việc giải thích ý

nghĩa tượng trưng của thần thoại Esudipe (1972); Thi pháp cổ Hi Lạp và văn học thế giới (1981); Sự biến đổi lịch sử của phạm trù thi pháp thể loại (1986) Ông chú trọng

khám phá cách hiểu của con người trong văn học, loại hình hóa các phong cách cảm nhận thế giới một cách khách quan, khoa học không rơi vào lối cảm thụ chủ quan Ông xem ngôn ngữ và văn học như “ngôn ngữ động tác” trong giao tiếp, phong cách là cái định thế đầy sức sống Ông đặc biệt chú ý tới tình trạng đối thoại nội tại của các nền văn hóa; 3) Mêlêtinxki E (sinh năm 1918) cũng là một nhà nghiên cứu nổi tiếng về thi

pháp văn học cổ và trung đại Ông đã có các công trình: Nhân vật chính trong truyện

cổ tích thần kì (1958), Sự ra đời của sử thi anh hùng (1963), Thi pháp thần thoại

(1976); Thi pháp học lịch sử về văn học mĩ thuật (1989)… Ông xem việc hình thành

của nghệ thuật ngôn ngữ là trung tâm của hệ thống nghệ thuật Ông kết hợp tài tình thi pháp học cấu trúc với việc so sánh rộng rãi các tài liệu nên đã đạt được nhiều thành quả, và trở thành vị đứng đầu của “trường phái Mêlêtinxki” (Dẫn theo Trần Đình Sử) [144; 113 - 115]

Thi pháp văn học cận và hiện đại nổi bật lên vấn đề thi pháp tác giả và trào lưu Về thi pháp học tác giả có nhà nghiên cứu người Nga là Bakhtin M (1895 - 1975) Ông đã

nghiên cứu thi pháp học lịch sử về tiểu thuyết, bao gồm: Ngôn từ trong tiểu thuyết (1934 - 1935), Các hình thức thời gian và không gian - thời gian trong tiểu thuyết (1937 - 1938); Từ tiểu sử của ngôn ngữ tiểu thuyết (1940); Những vấn đề thi pháp

Đốtxtôiépxki (1929 - 1963) với chương nói về sự phát triển đặc điểm thể loại của tiểu

thuyết đa thanh; Tiểu thuyết giáo dục và ý nghĩa của nó trong lịch sử chủ nghĩa hiện

thực (1937 - 1938) Đồng thời, ông nghiên cứu thi pháp tác giả Ngoài Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiépxki ông có cuốn Francois Rabelais và văn hóa dân gian thời Trung

cổ và Phục hưng (1965) Có thể thấy, thi pháp học lịch sử của Bakhtin nghiên cứu về

sự vận động của hình thức văn học thể hiện trong hình thức cái nhìn và cấu trúc văn học, phương diện cấu trúc và phương diện gắn liền với ý nghĩa biểu đạt của chúng Tầm quan trọng của Bakhtin M là nghiên cứu văn học trong mối quan hệ khăng khít với ý thức văn học, với giá trị văn hóa, với sự tác động của đời sống, và tất cả đều hướng vào giai đoạn hiện đại của phát triển văn học Qua thể loại, người ta nhận ra tiến trình phát triển của văn học nói chung (Dẫn theo Trần Đình Sử) [146; 43]

Về thi pháp học tác giả, ngoài hai công trình của Bakhtin nêu trên, còn có thể kể: các công trình về Puskin của Lốtman I.U, các công trình của Skơlốpxki V,

Eikhenbaum, Girmunxki.V về các tác giả cổ điển, hiện đại Thi pháp Puskin của Bôcharốp S, Thi pháp Gôgôn của Mann I.U (1988, in lần 2), Thi pháp tiểu thuyết

Trang 34

Tônxtôi của Ôđinnôkốp (1978), và hàng loạt công trình thi pháp học về tác giả cổ điển

của văn học Nga và Xô Viết Thi pháp học trào lưu thì có Thi pháp chủ nghĩa lãng

mạn (1966), của Mann I.U Thi pháp chủ nghĩa hiện thực (L 1971) của Phritleđơ

G (Dẫn theo Trần Đình Sử) [144; 44]

Về lí luận thi pháp học lịch sử có: Lí luận văn học - Các vấn đề cơ bản dưới cái

nhìn lịch sử của Viện văn học thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, 1962 - 1965, 3

tập; Khrápchenkô M.B (1904 - 1986); Thi pháp học lịch sử - các phương hướng

nghiên cứu cơ bản (1982), Thi pháp học lịch sử (1985), Cá tính sáng tạo của nhà văn

và sự phát triển của văn học (1970, 1972, 1974); Pôxpêlốp G (sinh năm 1899): Loại hình học thể tài văn học (1978), Mấy vấn đề về sự phát triển của văn học (1972); Tính qui luật của sự phát triển văn học (1978); Vưgốtxki L (1896 - 1934): Tâm lí học nghệ thuật (1965, 1968); Ghindbua L có: Thơ trữ tình (1974), Văn xuôi tâm lí (1971, 1977), Nhân vật văn học (1979); Pôliakốp M (sinh năm 1916): Vấn đề thi pháp học và ngữ nghĩa học nghệ thuật (1986), công trình nhiều tác giả Thi pháp học lịch sử: Tổng kết

và triển vọng nghiên cứu (1986)… (Dẫn theo Trần Đình Sử) [146; 43]

Qua tiến trình và thành tựu của thi pháp học lịch sử của Nga nổi lên các vấn đề chính là sự phát triển của thể loại, ngôn ngữ văn học, phong cách văn học, cá tính sáng tạo, trào lưu văn học, văn học dân tộc và quá trình văn học nói chung Tiêu biểu là

quan điểm của Girmunxki.V trong các bài viết như: Những mối quan hệ Đông Tây như

là vấn đề của văn học so sánh; Trào lưu văn học như là hiện tượng quốc tế; Các nền văn học trung đại và văn học so sánh Trong các công trình trên, ông đã nhìn nhận

lịch sử văn học thế giới trong những quá trình tiếp nối liên tục bằng việc: “Đối chiếu một cách đơn giản những hiện tượng văn học như là cơ sở của nghiên cứu văn học so sánh; nghiên cứu loại hình lịch sử nhằm lí giải sự tương đồng của những hiện tượng văn học không có liên quan gì với nhau nhưng do chúng phát triển trong các mối quan

hệ xã hội giống nhau; nghiên cứu sự phát triển lịch sử nhằm soi sáng những hiện tượng văn học hình thành một cách khác nhau do chúng phát triển trong những hoàn cảnh xã hội khác nhau; nghiên cứu sự hình thành của những hiện tượng văn học được tạo nên bởi ảnh hưởng qua lại giữa các nền văn hóa” [27; 98 - 99] Qua đó cho thấy, hầu hết các học giả nhìn thấy một thực thể văn học đa dạng, không ngừng vận động trong các mối quan hệ nhiều mặt với đời sống lịch sử, xã hội, văn hóa, tâm lí Hình thức văn học không chỉ là chất liệu, cấu trúc, mà còn là cái nhìn, quan niệm mang nội dung mĩ học, văn hóa, tâm lí Phương pháp luận duy vật mác xít kết hợp với kí hiệu học, lí thuyết cấu trúc, loại hình học, nhân loại học, thao tác hiện tượng học

Ở Việt Nam, hầu hết các nhà nghiên cứu về thi pháp học lịch sử đều căn cứ vào đặc điểm nổi bật của thi pháp học lịch sử không chỉ là xem xét quá trình tiến hóa của hình

Trang 35

thức nghệ thuật, mà còn phát hiện mối quan hệ giữa hình thức nghệ thuật, đời sống lịch sử và truyền thống văn hóa Do đó, mong muốn khắc phục tình trạng nghiên cứu thi pháp chỉ chú ý miêu tả tĩnh tại, cô lập, rời rạc và đóng khung trong quan niệm qui phạm bất biến, nên đã gắn liền thi pháp với tư duy nghệ thuật, khám phá, sáng tạo Phạm trù cơ bản của thi pháp học lịch sử là phong cách, thể loại và tác giả Phong cách

cá nhân chỉ vào giai đoạn sau cùng mới xuất hiện Các nhà nghiên cứu đã đạt được những thành công rất tự hào Điều này được thể hiện bằng các công trình của các tác giả như:

Trần Đình Sử là nhà lí luận có nhiều đóng góp nhất trong việc truyền bá thi pháp học hiện đại vào Việt Nam Ông đã cho xuất bản những công trình lí luận thi pháp học vừa ứng dụng những lí luận đó trong việc nghiên cứu văn học Việt Nam

Phan Ngọc có chuyên luận Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”

(1985) Đây là chuyên luận khá thành công của ông khi áp dụng lí thuyết văn học nước ngoài vào nghiên cứu văn học Việt Nam Đó là lí thuyết cấu trúc, phong cách học và tâm lí học Ông tiến hành xây dựng khái niệm của bộ môn phong cách học khám phá nét nội dung và hình thức không lặp lại phù hợp với nội dung ấy bằng cách nén tần suất lặp đi lặp lại của một hiện tượng sau đó kiểm chứng trên trục lịch sử và thời đại Phong cách học trong nghiên cứu cụ thể này không còn là phong cách hình thức mà đã gắn chặt với nội dung, điều kiện lịch sử [108; 122]

Nguyễn Xuân Kính là nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam Trong chuyên

luận Thi pháp ca dao (1993), Nguyễn Xuân Kính có đánh giá khách quan về sự tiếp

thu, ảnh hưởng và sự phát triển của thi pháp học ở Việt Nam Nghiên cứu thi pháp học theo Nguyễn Xuân Kính chính là chỉ ra cái hay, cái bản chất nghệ thuật của tác phẩm

và chỉ ra cái lí do tồn tại của hình thức Trên tinh thần đó, Nguyễn Xuân Kính nghiên cứu các yếu tố, phạm trù thi pháp của ca dao từ ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, biểu tượng hình ảnh [59; 14]

Sự phát triển thi pháp học và thi pháp lịch sử ở Việt Nam được cộng hưởng từ nhiều điều kiện: cả khách quan và chủ quan, yêu cầu của thời đại và nỗ lực của nhiều nhà nghiên cứu Do đó, thi pháp học lịch sử thực sự xuất hiện và phát triển thành hệ thống ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỉ XX Có thể thấy, thi pháp học lịch sử đã xác lập được cái nhìn biện chứng giữa nội dung và hình thức nghệ thuật, trong đó cái nhìn bắt đầu từ hình thức, cắt nghĩa nội dung thể hiện từ hình thức, chỉ ra quan niệm của nhà văn khi lựa chọn hình thức thể hiện Trường phái thi pháp học lịch sử không phải là hướng nghiên cứu văn học duy nhất, không là xu hướng nổi bật nhưng hệ thống

lí luận và những thành công mà nó mang lại đã góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng trong nghiên cứu, phê bình văn học ở Việt Nam

Trang 36

Như vậy, phương pháp nghiên cứu sẽ có sức thuyết phục hơn, nếu những so sánh

cụ thể được kết hợp với thi pháp lịch sử Phương pháp này yêu cầu phải có quan điểm lịch sử, phải trở lại trường phái thi pháp học lúc bấy giờ mà thẩm định Nếu chỉ đứng trên mảnh đất ngày nay, dùng hệ qui chiếu của thời đại chúng ta để giải thích cái cũ thì

dễ rơi vào bệnh hiện đại hóa lịch sử, phi lịch sử Bởi vậy, chúng tôi lấy nguyên tắc đặt tác phẩm vào đúng thời kì lịch sử, bối cảnh văn hóa lịch sử lúc bấy giờ làm cơ sở

xuyên suốt khi nghiên cứu Tum Tiêu của người Khơme ở Campuchia và Vượt biển của

người Tày ở Việt Nam Hơn nữa, việc sử dụng những nguyên tắc của thi pháp học lịch

sử vào nghiên cứu hai truyện thơ này sẽ làm sáng tỏ, thuyết phục hơn mục đích hướng tới của luận án và góp phần khắc phục các quan điểm, định kiến về bản chất và đặc trưng thể loại tác phẩm

2.2 Văn học so sánh và so sánh song song

2.2.1 Văn học so sánh

Then chốt trong sinh mệnh và sức sống của văn học so sánh là ở chỗ: “Từ lúc ra đời cho đến nay, nó đặt mục tiêu nghiên cứu văn học như một lĩnh vực giao lưu văn hóa và nghệ thuật của con người trong các cộng đồng và giữa các cộng đồng qua các thời đại với sự sử dụng ngôn ngữ và văn tự, hai công cụ của sự giao tiếp sâu rộng giữa người và người, để phát triển các cá nhân và các cộng đồng người ngày một trở nên

“người” hơn, ngày càng tiến lên đỉnh cao của chủ nghĩa nhân văn, những giá trị nhân văn xứng đáng với danh hiệu con người và đạo lí làm người” [123; 13] Do đó, văn học so sánh có sứ mệnh quan trọng hàng đầu là thúc đẩy mối liên hệ, giao lưu văn hóa

và là chiếc cầu nối văn học các nước Vậy, từ “so sánh” trong “Văn học so sánh” được

lí giải thành đại danh từ của phương pháp: nó bao gồm các phương pháp khảo chứng, diễn dịch, thống kê, so sánh “văn học” ở đây cũng có nghĩa rộng, nó không chỉ những tác phẩm mà bao gồm cả lịch sử văn học, lí luận văn học và phê bình văn học tức có nghĩa là nghiên cứu có tính chất tổng hợp về văn học

Thi pháp học so sánh đi vào lĩnh vực văn học so sánh là kết quả của việc phát triển,

mở mang văn học so sánh Nó không những mở rộng không gian văn học so sánh, làm cho văn học so sánh đi sâu vào lĩnh vực phê bình lí luận xuyên văn hóa, mà còn vượt qua kinh nghiệm cá thể và loại tỉ chung chung bề ngoài, đi sâu vào cơ sở lí luận của

nó Vì vậy, trong nghiên cứu, chúng ta có thể hội được từ góc độ lí luận, suy nghĩ một

số vấn đề mà văn học đối mặt và sẽ có thể có cống hiến độc đáo trong nghiên cứu văn học so sánh Đồng thời, thi pháp học so sánh và lí luận mang tính tiên phong của nó sẽ tạo nên sự đột phá trong nghiên cứu văn học so sánh Quan niệm mới, kết cấu mới ở cấp độ lí luận này sẽ thúc đẩy nghiên cứu văn học, sáng tác văn học có được thử nghiệm vào thực tiễn mới

Trang 37

Thông qua thi pháp học so sánh, trong tham chiếu lẫn nhau, cấu tạo ra một loạt phác đồ phân tích, giúp ích cho việc thúc đẩy chuyển hình sang hiện đại của lí luận văn học Nhiệm vụ của thi pháp học so sánh còn ở chỗ thông qua trình bày lí luận văn học càng nhận rõ và nắm vững đặc sắc dân tộc của lí luận văn chương truyền thống

Từ đó, thi pháp học so sánh sẽ giúp người tiếp nhận hiểu được tư tưởng văn học và những nguyên tắc phê bình tương tự như của lí luận văn học Không những thế, thông qua trình bày, dùng ngôn ngữ có tính phân tích nói rõ lại khái niệm và phạm trù mang tính miêu tả ở trong lí luận văn học cổ đại, có thể đạt được mục đích giao lưu, làm cho độc giả không thuộc hệ thống thi pháp học phương Đông hiểu được ý nghĩa vi diệu mà phong phú chứa đựng ở trong đó Vì vậy, văn học so sánh có ý nghĩa tích cực đối với việc xây dựng lí luận văn học Ngày nay, lí luận và phê bình văn học đã có mối liên hệ quốc tế rộng rãi, các tư trào, trường phái được truyền bá khắp thế giới là điều tất nhiên Thi pháp học so sánh là phương thức cần thiết và tất yếu để nền văn học các nước giao lưu với nhau Lí luận mới phải hiểu biết, hấp thu và tổng hợp toàn diện lí luận phê bình văn học các nước, dùng phương thức so sánh để nhìn nhận lại những vấn đề văn nghệ khác biệt, đồng thời tham chiếu lẫn nhau, phê phán và bổ sung cho nhau, cùng nhau xây dựng lên lâu đài lí luận và phê bình văn học

Trên cơ sở lí luận trên, theo chúng tôi thì Thi pháp học so sánh khi coi đối tượng

nghiên cứu của thi pháp học là “văn học có giá trị nghệ thuật” được thi pháp học giới định thành “khoa học nghiên cứu kết cấu của tác phẩm” trên các bình diện: cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật…

2.2.2 So sánh song song

Thi pháp học so sánh có tính chung của văn học so sánh, chủ yếu là dùng phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng và nghiên cứu song song Việc đề xuất nghiên cứu song song là cống hiến của trường phái Mĩ Những người có công lớn trong việc xây dựng lí luận cho trường phái này là Henry H.H Remak và Alffed Owen Aldridge Hai ông

nêu rõ ràng chủ trương “nghiên cứu song hành” và “nghiên cứu siêu ngành” [95; 34] Đây là trường phái nổi lên để phản bác lại trường phái Pháp Trường phái Mĩ yêu cầu

văn học so sánh nên chú ý đến mối liên hệ nội bộ của văn học, chú ý đến hàm nghĩa mĩ học của văn học và nguyên tắc mĩ học của phê bình văn học Từ đó, làm cơ sở để uốn nắn khuynh hướng chỉ khảo chứng sự thực mà quên mất đặc trưng văn học từng xuất hiện trong giới văn học so sánh

Khái niệm “nghiên cứu song song”: là dùng phương thức suy luận lôgích để

nghiên cứu hai nền văn học dân tộc, hoặc hai nền văn học dân tộc trở lên mà giữa chúng không có quan hệ trực tiếp Đồng thời, nó còn chú trọng đến tính văn học của

Trang 38

đối tượng, chú trọng so sánh chủ đề, thể tài, thể loại văn học, hình tượng nhân vật, đặc điểm phong cách [95; 84]

Tính khả thi của nghiên cứu song song: Đối tượng so sánh của nghiên cứu song

song là hai đối tượng không có mối liên hệ trực tiếp, nó không giống như nghiên cứu ảnh hưởng đưa ra những chứng cứ xác thực Dưới đây, chúng ta thông qua tính phổ quát và tính khác biệt để chứng minh khả năng có thể thực hiện được của nghiên cứu song song: 1) Tính phổ quát và tính khác biệt của văn hóa Đối với loại nghiên cứu này biểu hiện nổi bật ở sự nghiên cứu tổng hợp về sự phát triển xã hội và nhân tính; 2) Tính phổ quát và tính khác biệt của văn học: Một số qui luật phổ biến của văn học càng ngày càng được mọi người coi trọng, nghiên cứu văn học tổng hợp, vĩ mô đã trở thành tính tự giác của nhà nghiên cứu Từ cấp độ vĩ mô mà nói cũng là những nét

tương tự về nhân tính và tâm lí văn hóa

Do văn học và hình thức tồn tại của nó trong các nền văn học dân tộc cũng có nhiều chỗ giống nhau Chính vì những chỗ giống nhau về hình thức biểu hiện và thể nghiệm tình cảm giống nhau của nhân loại, đã cung cấp cơ sở cho việc so sánh phá vỡ hạn chế ngôn ngữ, truyền thống văn hóa có tính địa phương để tìm ra đặc trưng chung

và qui luật của văn học Như vậy, cơ sở nghiên cứu song song là ở chỗ tính phổ quát

và tính khác biệt của văn hóa, văn học Nếu hoàn toàn giống nhau A = B thì không cần

so sánh, A và B không dính dáng với nhau thì không có khả năng so sánh Chính do văn hóa và văn học có tính phổ quát và tính khác biệt mới làm cho nghiên cứu song song trở nên có tính khả năng Ở đây, “nghiên cứu song song cũng như nghiên cứu ảnh hưởng, nó bao giờ cũng xây dựng trên cơ sở lịch sử và địa lí, âu có lẽ là định mệnh của

văn học so sánh” [95; 89]

Phương pháp cụ thể của nghiên cứu song song: Phương pháp cụ thể của nghiên

cứu song song chủ yếu có hai loại: 1) Loại tỉ là khảo sát những chỗ tương tự của nhà văn, tác phẩm không liên quan với nhau, để tìm ra đặc điểm chung; 2) Đối tỉ là chỉ sự

so sánh những đặc điểm của nền văn hóa và hệ thống văn học khác nhau, từ đó làm nổi bật đặc trưng của chúng Loại tỉ và đối tỉ là phương pháp chủ yếu của nghiên cứu song song, đứng về quan hệ của hai phương pháp đó mà nói thì loại tỉ là tiền đề của so sánh, còn đối tỉ là chỗ giá trị của so sánh Khi sử dụng vào thực tế thì hai phương pháp loại

tỉ, đối tỉ thường sử dụng xen kẽ và chỉ ra điểm tương đồng, điểm khác biệt của hệ

thống, hoặc tác phẩm khác nhau

Đặc điểm và hạn chế của nghiên cứu song song: Về đặc trưng của nghiên cứu song

song thì việc nghiên cứu song song còn có thể đưa các hiện tượng văn học các nơi trên trái đất vào lĩnh vực nghiên cứu ở mức độ lớn nhất và đề xuất việc so sánh giữa văn học với các ngành nghệ thuật khác, giữa văn học với triết học, tôn giáo, lịch sử tư

Trang 39

tưởng, tâm lí học vậy là đã mở rộng thêm không gian nghiên cứu của văn học so sánh Nghiên cứu song song có hạn chế là mở rộng không gian văn học so sánh nhưng đồng thời cũng đem lại một số vấn đề, đó là việc tuyển lựa đối tượng nghiên cứu thiếu hạn định nghiêm ngặt, thậm chí làm cho phạm vi nghiên cứu lớn đến nỗi một môn học không thể nào chứa đựng nổi Hơn nữa, khi dùng phương pháp nghiên cứu song song phải quan tâm đến vấn đề xử lí tính khác biệt của văn học các dân tộc khác nhau Những phán đoán và kết luận của việc nghiên cứu song song cần phải cẩn thận và tỉ mỉ

Như vậy, nghiên cứu song song là phương pháp nghiên cứu cơ bản của văn học so sánh Nó liên tục hình thành trong sự phát triển của văn học so sánh và trong nghiên cứu văn học so sánh hiện nay Những luận điểm trên của phương pháp so sánh song

song sẽ được chúng tôi sử dụng để soi chiếu vào so sánh hai tác phẩm Tum Tiêu, Vượt

biển để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trên các bình diện của thi pháp

truyện thơ

2.3 Thi pháp truyện thơ và truyện thơ Đông Nam Á

2.3.1 Khái niệm thi pháp truyện thơ

Trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, có thể thấy, đối với dân tộc thiểu số miền Bắc phổ biến là truyện thơ còn đối với dân tộc thiểu số Tây Nguyên

là sử thi Hai đối tượng này có những điểm tương đồng như về dung lượng tác phẩm

đồ sộ hơn so với các thể loại văn học khác; ngôn từ sử dụng thể văn vần; phương thức phản ánh tự sự, hình thức diễn xướng chủ yếu là hát kể Đây là những yếu tố rất căn bản để các nhà nghiên cứu của các trường đại học sư phạm xếp sử thi và truyện thơ vào cùng một thể loại Nhưng cho đến nay các nhà nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng truyện thơ và sử thi là hai thể loại khác hẳn nhau Điều đó có thể thấy, khi đứng riêng thành một thể loại văn học chuyên biệt thì những giá trị của nó được hiểu và khai thác một cách sâu sắc, các tầng lớp không bị chồng chéo khi nghiên cứu Cũng giống như các thể loại khác trong văn học dân gian thì “truyện thơ ra đời do nhu cầu lịch sử - xã hội của thời đại nó” [151; 401] Lúc bấy giờ trong xã hội các dân tộc thiểu số xuất hiện nhiều mâu thuẫn đối kháng và đẩy người dân vào bế tắc, tuyệt vọng Lúc này, thân phận con người được đặt ra và đòi hỏi phải đáp ứng thỏa đáng nhu cầu hóa giải thân phận con người Vì thế, truyện thơ ra đời và là một thể loại mới tổng hợp được những phương thức cấu thành từ vốn văn hóa nghệ thuật của dân tộc Sản phẩm tinh thần này

có thể có một tác giả mà cũng có thể là quần chúng nhân dân sáng tạo Nhưng một điều không thể không nói đến là lực lượng sáng tác nên các tác phẩm này là các tầng lớp Nho sĩ, trí thức, các tu sĩ dựa vào vốn truyện thơ của dân tộc Việt ở dưới xuôi lên hoặc du nhập các truyện của Ấn Độ, của Lào, của Trung Quốc kết hợp với gọt giũa ngôn từ để xây dựng thành những áng truyện thơ tuyệt phẩm của dân tộc mình Vì thế,

Trang 40

có không ít những truyện thơ khi đọc lên chúng ta bắt gặp nhiều truyện có cốt truyện

na ná nhau nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ rất đặc trưng của một dân tộc khác Vì vậy, truyện thơ dù được lấy cốt truyện ở Việt Nam hay ở nước ngoài sáng tạo lại thành một tác phẩm văn học dài được viết bằng thơ có cốt truyện, kết cấu, nhân vật… thì đều được coi là truyện thơ

Bởi vậy, khi xem xét Thi pháp truyện thơ có nghĩa là xem xét thế giới cảm xúc thẩm

mĩ và tư tưởng, cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật

2.3.2 Đặc trưng của thi pháp truyện thơ

Đặc điểm nổi bật của truyện thơ là sự kết hợp nhuần nhị giữa thể truyện và thơ, giữa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình, giữa văn học nói và văn học viết, giữa tính dân gian và tính bác học Nó là dấu nối giữa văn học dân gian và văn học thành văn, giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại Do vậy, đặc trưng cơ bản nhất của truyện thơ Đông Nam Á có tính lưỡng thể: tự sự và trữ tình; dân gian và bác học Khi bàn về truyện thơ Lào, Võ Quang Nhơn đã nâng nhận xét thành lí luận chung về truyện thơ:

“Do tính chất truyền miệng gần gũi với cuộc sống và gắn bó với sinh hoạt văn hóa của nhân dân mà: Một mặt, truyện thơ là tác phẩm thành văn được ghi chép thành sách và được sáng tác theo những mẫu mực và những thi pháp nhất định Mặt khác, truyện thơ hầu như được coi là tác phẩm dân gian, được lưu truyền một cách sống động uyển chuyển qua cửa miệng của nhiều người, của nhiều bản mường khác nhau” [128; 113] Phan Đăng Nhật khảo sát truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam đã nêu thành đặc trưng: “Truyện thơ bắt nguồn từ dân ca và truyện kể, đã phát huy những đặc điểm nghệ thuật của loại hình này do đó vừa có khả năng diễn tả mọi tình cảm tinh vi, phức tạp lại vừa hấp dẫn người nghe bằng phương pháp kể chuyện lí thú Nhân dân đã tiếp thu được giá trị tự sự và giá trị trữ tình của các loại hình văn học dân gian, kết hợp lại trong một loại hình mới là truyện thơ, có trường hợp đã kết hợp nhuần nhuyễn hai mặt giá trị đó trong một tác phẩm” [110; 186] Như vậy, lưỡng thể là một đặc trưng nổi bật của truyện thơ Đông Nam Á

Tự sự là “thuật ngữ chỉ loại hình những sáng tác ngôn từ theo dạng kể chuyện Trong văn học, văn tự sự trình bày quá trình phát triển của những sự kiện, những biến

cố xoay quanh một câu chuyện nhất định Quá trình đó được dựng lên qua ngôn ngữ, hành động, tính cách của nhân vật, sự biến hóa của tình tiết và sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của người kể chuyện” [48; 155] Nếu chúng ta so sánh với các phương thức khác của văn học như kịch, trữ tình thì những tiêu chí khu biệt của cấu trúc tác phẩm tự sự là tính hành động Tác phẩm tự sự phải có nội dung hành động giống như kịch, nghĩa là phải kể lại một sự kiện, biến cố nào đó Tính chất này không có trong tác phẩm trữ tình Tính hành động phải được xem là nguyên tắc cấu trúc của tác phẩm tự

Ngày đăng: 11/12/2019, 21:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w