Khi phát hiện con mình mắc tự kỷ, cha mẹ trẻ tự kỷ có sự chuyển đổi lớn về các trạng thái tâm lý cá nhân; bầu không khí tâm lý trong gia đình; chuyển đổi hoạt động sống của cá nhân; có s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ QUYÊN
TÂM TRẠNG CỦA CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội-2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÂM TRẠNG CỦA CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ 6
1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ 6
1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước 13
1.3 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tâm trạng của cha mẹ có con bị tự kỷ 17
1.3.1 Tâm trạng (mood) 17
1.3.2 Tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ 22
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Nghiên cứu lý luận 36
2.2 Nghiên cứu thực tiễn 38
2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu 38
2.2.2 Giai đoạn điêu tra chính thức 39
2.2.3 Giai đoạn phỏng vấn sâu Error! Bookmark not defined 2.2.4 Giai đoạn xử lý kết quả và viết luận văn 41
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TÂM TRẠNG CỦA CHA MẸ CÓ CON BỊ TỰ KỶ 45
3.1 THỰC TRẠNG TÂM TRẠNG CỦA CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ 45
3.1.1 Tâm trạng chung của cha mẹ có con tự kỷ 45
3.1.2 Tâm trạng về bản thân của cha mẹ có con tự kỷ 49
3.1.3 Tâm trạng về gia đình của cha mẹ có con tự kỷ 68
3.1.4 Tâm trạng về xã hội của cha mẹ có con tự kỷ 74
Trang 43.1.5 Mối tương quan giữa tâm trạng chung với các khía cạnh của tâm
trạng 81
3.1.6 So sánh tâm trạng của các nhóm khác nhau 83
3.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA TÂM TRẠNG CỦA CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ VÀ CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI 90
3.2.1 Mối tương quan giữa tâm trạng với yếu tố thu nhập của gia đình 91 3.2.2 Mối tương quan giữa tâm trạng với yếu tố vị thế xã hội 93
3.2.3 Mối tương quan giữa tâm trạng và mối quan hệ trong gia đình 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
1 KẾT LUẬN 101
2 KIẾN NGHỊ 103
2.1 Đối với Nhà nước Error! Bookmark not defined 2.2 Đối với các tổ chức xã hội 103
2.3 Đối với gia đình 104
2.4 Đối với bản thân cha mẹ trẻ tự kỷ 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined PHỤ LỤC 1 111
PHIẾU KHẢO SÁT 111
PHỤ LỤC 2 119
PHIẾU HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 119
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu……… 40 Bảng 3.1 Các biểu hiện tâm trạng chung của cha mẹ có con tự kỷ 44 Bảng 3.2 Các biểu hiện tâm trạng về bản thân có liên quan đến tình cảm, vai trò, nghĩa vụ đối với con của cha mẹ có con tự kỷ 48 Bảng 3.3: Biểu hiện tâm trạng về bản thân thân liên quan đến đời sống tinh thần và vật chất của cha mẹ có con tự kỷ 55 Bảng 3.4: Tâm trạng về bản thân liên quan đến mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, làng xóm và mọi người trong xã hội của cha mẹ có con tự kỷ 59 Bảng 3.5 Tâm trạng về bản thân có liên quan đến mối quan hệ vợ chồng
và các thành viên trong gia đình của cha mẹ có con tự kỷ 63 Bảng 3.6 Tâm trạng về gia đình có liên quan đến bầu không khí tâm lý trong gia đình của cha mẹ có con tự kỷ 67 Bảng 3.7 Tâm trạng về gia đình có liên quan đến đời sống kinh tế gia đình của cha mẹ có con tự kỷ 70 Bảng 3.8 Tâm trạng về xã hội của cha mẹ có con tự kỷ 72 Bảng 3.9 Tổng hợp tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ 77
Bảng 3.10 Hệ số tương quan của các yếu tố thu nhập, chức vụ, mối quan
hệ trong gia đình và tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ 88 Bảng 3.11 Mức thu nhập của gia đình cha mẹ trẻ tự kỷ 90 Bảng 3.12 Mức chi phí cho chăm sóc trẻ tự kỷ 91
Trang 6Bảng 3.13 Mức độ ảnh hưởng của địa vị bản thân tại cơ quan đến việc trị liệu cho con 92 Bảng 3.14 Mối quan hệ trong gia đình của cha mẹ có con tự kỷ 93
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Các khía cạnh biểu hiện tâm trạng 78
Sơ đồ 3.1 Mối tương quan giữa các khía cạnh biểu hiện tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ 79
Biểu đồ 3.2 So sánh tâm trạng của nam và nữ 82
Biểu đồ 3.3 So sánh tâm trạng theo chức vụ 84
Biểu đồ 3.4 So sánh tâm trạng theo tình trạng hôn nhân 86
Sơ đồ 3.2 Mối tương quan giữa thu nhập, chức vụ, mối quan hệ gia đình với tâm trạng 89
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tự kỷ là một trong những dạng khuyết tật ở trẻ em Trẻ bị mắc tự kỷ không những chậm phát triển về quan hệ xã hội, ngôn ngữ, giao tiếp, học hành mà còn có những rối loạn hành vi ảnh hưởng lớn đến môi trường gia đình và xã hội Tỷ lệ trẻ em mắc tự kỷ thay đổi theo thời gian Lotter (1966) đã tiến hành nghiên cứu dịch tễ học tự kỷ và đưa ra tỷ lệ mắc tự kỷ
ở trẻ nhỏ là 4 - 5/10.000 (0,0005%) Trong vài thập kỷ gần đây các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc tự kỉ tăng nhanh chóng
Theo thông báo của Thượng viện Hoa Kỳ tháng 12 năm 2006, cứ bình quân khoảng 166 trẻ được sinh ra sẽ có 1 trẻ bị tự kỷ Như vậy tỷ lệ bệnh
tự kỷ cao hơn các bệnh Down, ADHD, tâm thần ở trẻ em Báo cáo từ Bộ Y
tế Trung Quốc (2006) cho thấy, cả nước hiện có hơn 1,6 triệu trẻ tự kỷ và
tỷ lệ có thể cao hơn nữa vì nhiều trẻ chưa được chẩn đoán kịp thời Khái niệm ―dịch tự kỷ‖ đã xuất hiện ở quốc gia đông dân nhất thế giới này Theo số liệu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng bệnh (2007) tại Mỹ là 1/150 trẻ sơ sinh sống (0,006%) và cứ 1 trong 4 gia đình có ít nhất 1 trẻ tự
kỉ Hiện nay mô hình tàn tật ở trẻ em đang có xu thế thay đổi: các dạng khuyết tật do nhiễm trùng (viêm não, viêm màng não, bại liệt, ) đang giảm xuống và dần mất đi, còn những dạng khuyết tật liên quan đến chuyển hoá, di truyền, môi trường lại tăng lên trong đó có rối loạn tự kỉ
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có số liệu thống kê chính xác về tỷ lệ mắc và tỷ lệ lưu hành tự kỷ Nghiên cứu mô hình tàn tật ở trẻ em của khoa Phục hồi Chức năng Bệnh viện Nhi Trung Ương giai đoạn 2000 - 2007 cho thấy: số lượng trẻ được chẩn đoán và điều trị tự kỷ ngày càng đông; số trẻ tự kỷ đến khám năm 2007 tăng gấp 50 lần so với năm 2000; số trẻ tự
Trang 9kỷ đến điều trị năm 2007 tăng gấp 33 lần so với năm 2000 Với những con
số thống kê ở trên tự kỷ ở trẻ em đang thực sự là một vấn đề nổi cộm của toàn xã hội nói chung, đối với từng gia đình nói riêng và đặc biệt là đối với những bậc cha mẹ có con bị tự kỷ
Việc chăm chữa và giáo dục cho trẻ tự kỷ là một điều hết sức khó khăn
và phức tạp Vì lý do đó mà bệnh tự kỷ không chỉ là bệnh của y khoa mà còn là bệnh về Tâm lý, Giáo dục và Xã hội Theo sau các triệu chứng lâm sàng là hàng loạt các vấn đề xã hội được đặt ra cho trẻ tự kỷ và gia đình Khi phát hiện con mình mắc tự kỷ, cha mẹ trẻ tự kỷ có sự chuyển đổi lớn
về các trạng thái tâm lý cá nhân; bầu không khí tâm lý trong gia đình; chuyển đổi hoạt động sống của cá nhân; có sự suy tư, xáo trộn trong đời sống tình cảm giữa vợ/chồng và con cái cũng như các thành viên trong gia đình; các mối quan hệ xã hội Quá trình chuyển đổi này dẫn đến những tâm trạng nhất định khi các bậc cha mẹ có thể chưa thích nghi, chưa thể chấp nhận được với hoàn cảnh mới này của bản thân và gia đình
Tâm trạng là một trong những mặt cơ bản của đời sống tâm lý của con người, của các nhóm xã hội nên nó có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần, hành vi và tính tích cực hoạt động của con người Cha mẹ co con
tự kỷ buộc phải chuyển đổi các hoạt động sống của mình và gia đình nhằm phù hợp với điều kiện chăm sóc và nuôi dạy trẻ tự kỷ, buộc phải thay đổi hàng loạt thói quen, sở thích, nhu cầu của cá nhân của mình và gia đình, buộc phải thay đổi và thích nghi với vị thế vai trò và trách nhiệm của mình trong gia đình, ngoài xã hội và đặc biệt là trách nhiệm nuôi dạy đứa con bị
tự kỷ của mình nên ở họ có những nhận thức và tâm trạng có thể chưa thực
sự ổn định
Trang 10Từ góc độ lý luận, tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ, diễn biến tâm trạng trong từng thời điểm cụ thể và những biểu hiện của tâm trạng này ở các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống là những vấn đề đáng quan tâm và còn
là mảng trống trong lý luận về tâm lý học hiện nay Từ góc độ thực tiễn, nghiên cứu tâm trạng của cha mẹ có con bị tự kỷ giúp chúng ta hiểu được nhu cầu, tâm tư, tình cảm của họ để có những biện pháp giúp họ thích ứng với hoàn cảnh mới nhanh hơn
Vì những lý do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận, làm rõ thực trạng tâm trạng của cha mẹ khi có con
tự kỷ trong các khía cạnh khác nhau của cuộc sống và những yếu tố ảnh hưởng đến tâm trạng của họ Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp tâm
lý giúp cha mẹ có con tự kỷ có tâm trạng tích cực để thích ứng với hoàn cảnh mới nhanh hơn và góp phần chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ tốt hơn
3 Đối tuợng nghiên cứu
Tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ và những yếu tố ảnh hưởng đến tâm trạng của họ
4 Khách thể nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành khảo sát các khách thể là 275 cha mẹ có con tự kỷ trên địa bàn thành phố Hà Nội
5 Giả thuyết nghiên cứu
5.1 Tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ thể hiện ở các khía cạnh: Tâm trạng về bản thân, tâm trạng về gia đình và tâm trạng về xã hội, trong đó mỗi khía cạnh đều có những biểu hiện tiêu cực và tích cực
Trang 115.2 Tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố khác nhau, trong đó các yếu tố như nhận thức, kinh tế, mối quan hệ trong gia đình, địa vị xã hội là những yếu tố chi phối nhiều hơn cả tới tâm
trạng của cha mẹ có con tự kỷ
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cha mẹ và trẻ tự kỷ, về bệnh tự
kỷ, về tâm trạng, tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ và các yếu tố ảnh
hưởng đến tâm trạng của họ
6.2 Khảo sát thực trạng và mức độ tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ
ở các khía cạnh: Tâm trạng về bản thân, tâm trạng về gia đình, tâm trạng
về xã hội và những yếu tố tác động đến tâm trạng của họ
6.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần tăng cường tâm trạng tích cực cho cha mẹ có con tự kỷ và giúp việc chăm sóc trẻ tự kỷ tốt hơn
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
7.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
- Chúng tôi không tập trung nghiên cứu cấu trúc của tâm trạng mà chỉ nghiên cứu các biểu hiện của tâm trạng Có rất nhiều khía cạnh có thể tìm hiểu để làm sáng tỏ tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ nhưng nghiên cứu này chỉ đề cập đến những khía cạnh nổi bật nhất thể hiện rõ nét tâm trạng của họ Nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ các khía cạnh sau: (1) Tâm trạng
về bản thân; (2) Tâm trạng về gia đình; (3) Tâm trạng về xã hội của cha
mẹ có con tự kỷ
- Nghiên cứu hai chiều hướng của tâm trạng: tích cực và tiêu cực
- Các yếu tố ảnh hưởng cũng là một khái niệm rộng nên chúng tôi chỉ lựa chọn một số yếu tố ảnh hưởng có liên quan đến đời sống tâm lý của
Trang 12cha mẹ có con bị tự kỷ, đó là: nhận thức; mối quan hệ trong gia đình; kinh
tế của gia đình, địa vị xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến tâm trạng của họ,
mà không đề cập đến các yếu tố tác động ở tầm vĩ mô
7.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là 275 cha hoặc mẹ của trẻ tự kỷ
7.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Chúng tôi chỉ nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội, cụ thể là tại 4 trường mầm non chuyên biệt dành cho trẻ tự kỷ: Trường Mầm non đặc biệt Myoko, trường Sao Mai, trường Tuệ Tâm, trường Newstar
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu tài liệu sách, báo, báo cáo khoa học về lý luận và thực tiễn
đã được phát hành, công bố trong và ngoài nước về vấn đề tâm trạng, về tâm trạng của cha mẹ trẻ tự kỷ, về bệnh tự kỷ
8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
8.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
8.4 Phương pháp thống kê toán học (Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 13.0)
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÂM TRẠNG CỦA
CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ
1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến vấn đề tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về trẻ tự kỷ
Với tác phẩm ―The Wild Boy of Aveyron‖, một cậu bé hoang dã
được tìm thấy vào năm 1798, biểu hiện hàng loạt triệu chứng của tự kỷ , một sinh viên y khoa tên là Jean Itard đã điều trị cậu bé đó bằng một chương trình hành vi nhằm giúp cậu hình thành những kết nối về mặt xã hội và ngôn ngữ thông qua bắt chước (Wolf, 1975), và sau này ông được coi là người đầu tiên ghi lại các triệu chứng của hội chứng tự kỷ (Holaday, 2012) Từ khi Victor, trường hợp tự kỷ đầu tiên được phát hiện năm 1798, phải đến năm 1912 thuật ngữ ―tự kỷ‖ mới xuất hiện Bác sĩ, nhà tâm lý học người Thụy Sĩ, Eugen Bleuler, là người đầu tiên sử dụng từ này trong chẩn đoán hội chứng tự kỷ, với nghĩa là ―xa rời thực tại‖ (Holaday, 2012) Từ Latinh ―autismus‖, dịch sang tiếng Anh là autism Ông lấy ―autismus‖ từ một từ của Hy Lạp ―autós‖ (αὐτός nghĩa là bản thân), và nó được dùng với nghĩa là tự ngưỡng mộ mình một cách bệnh tật, ám chỉ ―sự thoái lui một cách tự kỷ của bệnh nhân với những tưởng tượng của riêng mình, tách biệt với những ảnh hưởng từ bên ngoài, và những tác động từ bên ngoài này là những sự khó chịu không thể chịu nổi với bệnh nhân‖ [30, tr 361]
Từ ―tự kỷ‖ (autism) mang nghĩa hiện đại lần đầu tiên vào năm 1938, khi Hans Asperger của Bệnh viện Đại học Vienna sử dụng thuật ngữ ―tâm bệnh tự kỷ‖ (autistic psychopaths) vào bài giảng của mình bằng tiếng Đức
Trang 14về tâm lý trẻ em (Asperger, 1938) Asperger đã nghiên cứu về một dạng rối loạn phổ tự kỷ mà bây giờ được biết đến là Hội chứng Asperger, tuy vậy vì nhiều lý do mà nó không được công nhận như một rối loạn riêng cho đến tận năm 1981 (Wolf, 1975)
Leo Kanner của Bệnh viện Johns Hopkins lần đầu tiên đã sử dụng từ
―tự kỷ‖ theo nghĩa hiện đại trong tiếng Anh khi ông giới thiệu về tự kỷ sớm ở trẻ nhỏ vào năm 1943 trong một báo cáo về 11 trẻ với những mẫu hình vi khá giống nhau (Kanner, 1968) [29, tr 217 - 250] Hầu hết những đặc điểm được Kanner mô tả vào năm 1943, ví dụ như ―sự cô đơn tự kỷ‖
và ―khăng khăng bám lấy cái không thay đổi‖ vẫn được coi là những đặc trưng của các rối loạn phổ tự kỷ Người ta không rõ là liệu Kanner có thừa hưởng thuật ngữ từ Asperger hay không (Lyons, 2007) [32]
Theo Kanner, ba đặc điểm chính của tự kỷ là: hạn chế giao tiếp xã hội, rối loạn ngôn ngữ và có hành vi lặp đi lặp lại Cho đến nay, sau 50 năm nghiên cứu, những đặc điểm này vẫn tiếp tục là những điểm đặc trưng của
tự kỷ (Mesibov & Shea, 2010) [33, tr 570 - 579]
Kanner theo trường phái phân tâm học, nên ông giải thích nguyên nhân của căn bệnh lạ lùng này là do bố mẹ nuôi dạy trẻ trong môi trường thiếu tình thương, thiếu giao tiếp với trẻ nhưng lại đòi hỏi quá mức ở trẻ Giả thuyết của Kanner được nhiều nhà khoa học và bác sĩ cùng thời đồng tình Bettelheim (1967) suy luận rằng một khi bố mẹ thiếu quan tâm chăm sóc
về mặt tình cảm cho trẻ, não bộ của trẻ có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt là ở những năm phát triển đầu đời khi hệ thần kinh còn chưa ổn định [25] Những biến đổi về hệ thần kinh sẽ ảnh hưởng tới việc phát triển trí tuệ cũng như khái niệm về cái Tôi của trẻ Hệ quả của giả thiết này là bố mẹ của nhiều trẻ bị bệnh tự dằn vặt vì cách nuôi dạy của gia đình mình , và nhiều gia đình tan vỡ vì bố hoặc mẹ được cho là nguyên nhân dẫn đến trẻ
Trang 15bị tự kỷ Cùng trong khoảng thời gian này, Hans Asperger miêu tả một số
ca bệnh gần giống như hội chứng tự kỷ theo chẩn đoán của Kanner (Holaday, 2012) Các ca của Asperger có những triệu chứng như : ít quan
hệ xã hội , ít thể hiện tình cảm và cách dùng từ ngữ cứng nhắc , nhưng lại
có khả năng phi thường về toán học và khoa học tự nhiên Ông gọi bệnh này là hội chứng Asperger Bố mẹ của các trẻ này phần nào có tích cách hướng nội hoặc có những đặc điểm tương tự như triệu chứng tự kỷ ở trẻ, nhưng Asperger không khẳng định rằng cách nuôi dạy trẻ là nguyên nhân dẫn đến tự kỷ như Kanner mà xem xét ảnh hưởng của gen Việc sử dụng từ
―tự kỷ‖ của Kanner đã dẫn tới nhiều thập kỷ lẫn lộn về thuật ngữ ví dụ như
―tâm thần phân liệt ở trẻ nhỏ‖, và việc ngành tâm thần học tập trung vào sự thiếu chăm sóc của người mẹ dẫn tới việc hiểu sai về tự kỷ, như là một phản ứng của trẻ nhỏ với ―người mẹ băng giá‖
Bắt đầu từ những năm 1960, tự kỷ bắt đầu được rộng rãi công nhận như
là một hội chứng riêng biệt, kéo dài suốt đời, phân biệt khỏi chậm phát triển trí tuệ và tâm thần phân liệt và các rối loạn phát triển khác, và có hiệu quả khi bố mẹ cùng tham gia vào chương trình can thiệp tích cực (Fombonne, 2003) [27, tr 503 - 505]
Cuối những năm 1970, đã có một số bằng chứng về vai trò của gen đối với tự kỷ; và cho đến nay nó được coi là mang tính kế thừa cao nhất trong tất cả các rối loạn tâm thần (Szatmari & Jones, 2007) Từ những phát hiện của Kanner , khoa ho ̣c y học đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc chẩn đoán một dạng bệnh tâm trí Từ mô tả này , sau này khái niệm tự kỷ được mở rộng thành khái niệm Rối loạn tự kỷ rồi đến Phổ tự kỷ Công trình nghiên cứu của Kanner ban đầu ít được c hú ý, sau đó được phổ biến nhanh chóng và ngày nay là trọng tâm của nhiều công trình nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới (Wing, 1988) [39]
Trang 16Kết quả tìm kiếm từ ―autism‖ (tự kỷ) trên PsyINFO1 là 38.250 bài báo, sách và luận văn, luận án Nếu giới hạn ―autism‖ ở tên của nghiên cứu thì
có 12.174 kết quả
1.1.2 Các nghiên cứu về thái độ của cha mẹ đối với trẻ tự kỷ
Trong nghiên cứu của Lorna Wing đã chỉ ra một số biểu hiện đặc
trưng của trẻ tự kỉ: Trong sử dụng lời nói của trẻ tự kỉ, trẻ hoặc câm lặng suốt đời, hoặc bắt chước tiếng kêu của loài vật, tiếng lạ hoặc lặp câu, lặp từ; Ngữ điệu và việc làm chủ lời nói thì kì dị, đơn điệu, máy móc, đổi giọng không đúng chỗ…Trẻ dường như không nghe, không hiểu, không trả lời người khác Trẻ chỉ nghe, hiểu trong tình huống trẻ muốn hoặc liên quan đến nhu cầu của trẻ
Lorna Wing cũng đã thống kê một số quan điểm tranh luận về các yếu tố ảnh hưởng tới cách thức ứng xử của trẻ tự kỷ:
Cách ứng xử có thể thay đổi theo hoàn cảnh, thường là dở hơn khi ở nhà do cha mẹ có những đòi hỏi dồn dập bắt trẻ phải chú ý, và khá hơn khi ở nhà trường hoặc buồng bệnh có tổ chức tốt hơn
Cách ứng xử có thể thay đổi tùy theo kinh nghiệm của người đó
về trẻ tự kỷ Cách ứng xử sẽ khá hơn nếu người đó đã có kinh nghiệm giải quyết vấn đề với trẻ tự kỷ hơn là khi người đó chưa có kinh nghiệm hoặc
là khi đối tượng trẻ tự kỷ ở trong các nhóm không có sự sắp xếp một cách hẳn hoi
Quá trình giáo dục có tác động tới mẫu hình ứng xử Khi nhận biết được điều này, cha mẹ và người chăm sóc sẽ hiểu được rằng việc trẻ
1 PsyINFO là cổng tìm kiếm thông tin về tâm lý phổ biến nhất ở Mỹ, được các trường đại học sử dụng như là nguồn tra cứu thông tin đầy đủ, toàn diện và đáng tin cậy
Trang 17tự kỉ thiếu khả năng ứng xử xã hội có liên quan tới việc chúng không được yêu thương chăm sóc [39]
Những nghiên cứu của các tác giả thuộc Hội Tương trợ trẻ tự kỷ
tại Sydney chỉ ra, cha mẹ có con mắc chứng tự kỷ thường đối phó theo ba
giai đoạn:
Giai đoạn đổ lỗi và trách móc
Họ nổi giận và đổ lỗi cho người khác, tránh không nhận lỗi về mình Thái độ này thường ngấm ngầm có từ trước khi triệu chứng tự kỷ ở con họ được xác nhận Và chuyện có thể đi xa hơn tới mức vợ chồng luôn có những trục trặc mà không liên quan gì đến chứng tự kỷ Ví dụ, người vợ
có thể cho rằng con mình mắc chứng tự kỷ là do di truyền từ chồng, còn chồng thì nói vợ mình đã sử dụng một loạt thuốc nào đó trong thời gian mang thai
Giai đoạn tuyệt vọng
Sau khi định bệnh (tức là xác định triệu chứng bệnh bằng các dấu hiệu) và biết là không có cách chữa, họ tin rằng khi lớn lên trẻ vẫn giữ tình trạng như hiện tại Điều này khiến họ khó chấp nhận được
Giai đoạn chối bỏ
Đôi khi họ tin rằng bác sĩ kết luận sai, con họ vẫn biết nhiều điều và không có bệnh gì, hay bệnh không nặng như bác sĩ nói và cũng không cần phải trị liệu gì Hình thức phủ nhận thường thấy nhất là cha mẹ tin rằng giai đoạn có những trục trặc của con rồi sẽ qua đi
Nghiên cứu của các tác giả theo quan điểm Văn hóa cho thấy:
Các nhóm văn hóa khác nhau có thái độ khác nhau đối với việc con mình mắc chứng tự kỷ
Trang 18Với gia đình người Á châu: Người Trung Quốc thấy xấu hổ, trì hoãn việc trị liệu cho con, họ chống đối việc cho con mình vào nhóm trẻ đặc biệt Người mẹ thường lo lắng cho con còn người cha thì dửng dưng, và họ
ít khi dự thính các nhóm tương trợ trẻ
Với gia đình người Mỹ, Úc: Họ có thể chấp nhận hình thức tương trợ giúp cho con theo tính cộng đồng và đọc nhiều tài liệu có liên quan đến chứng tự kỷ
Với gia đình người gốc Latinh (Nam Mỹ, Ý, Tây Ban Nha) họ cảm thấy khó khăn nếu đứa con mắc chứng tự kỷ là con trai và nhất là con đầu lòng Người cha quan niệm rằng trẻ khuyết tật là sự nhục nhã cho nam tính của họ, họ đổ lỗi cho vợ và muốn nhanh chóng chữa trị cho con Người mẹ
dễ dàng chấp nhận khuyết tật của trẻ như việc trời định và không muốn thay đổi gì ở con mình
Mặc dù chưa có công trình khoa học nào đặt vấn đề nghiên cứu trực tiếp thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ, nhưng ở khía cạnh khác nhau, nhiều tác giả đã xem xét vấn đề này một cách nghiêm túc Nổi lên 3 xu hướng nghiên cứu:
Xu hướng thứ nhất: Phủ nhận việc có liên quan giữa thái độ, cách ứng
xử của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ Họ thường có xu hướng đi tìm nguyên nhân sinh lý từ thực thể trẻ tự kỷ
Xu hướng thứ hai: Thừa nhận rằng chính cách ứng xử hàng ngày của cha mẹ có ảnh hưởng lớn đến việc trẻ tự kỷ phát triển khả năng của mình như thế nào Cha mẹ càng có kinh nghiệm và quan tâm nhiều tới lĩnh vực phát triển nào của trẻ thì trẻ càng học hỏi, đạt được kết quả cao trong lĩnh vực ấy
Trang 19 Xu hướng thứ ba: Xác định rõ các giai đoạn và sự khác biệt giữa các bậc cha mẹ ở nhiều khu vực trên thế giới trong việc chấp nhận con và tình trạng bệnh của con [Dẫn theo 11]
1.1.3 Hướng nghiên cứu về mối quan hệ giao tiếp giữa cha
mẹ và trẻ tự kỷ
M Mahler cho rằng tự kỷ là biểu hiện sự không bình thường xuất
phát từ mối quan hệ mẹ con Đứa trẻ mới sinh ra có mối quan hệ cộng sinh hòa mình với người mẹ, đây là giai đoạn tự kỷ bình thường, sau đó đến giai đoạn chia cách cá nhân hóa (nảy sinh tâm lý cá nhân) Có một số rối loạn trong quá trình này, một điều gì đó không ổn trong giai đoạn tách mẹ
và cá nhân hóa Cơ chế tự kỷ gắn với sự mất khía cạnh hoạt hóa, mất sự phân biệt với cơ thể người mẹ, nên đứa trẻ không có sức sống, mất ham muốn về xã hội Chức năng của trẻ tự kỷ mang ý nghĩa thái độ phòng vệ
cơ bản của đứa trẻ, không thể xây dựng được cực định hướng đối với người mẹ Đứa trẻ dính chặt vào người lớn và dung họ như một bộ phận để kéo dài cơ thể nó Đây là cách đứa trẻ gạt ra quyền năng của người mẹ trong giai đoạn đầu tiên
Nghiên cứu của Robert Rosine Le Eost nhắc nhở rằng trẻ tự kỷ dạy
cho chúng ta một điều gì đó mà ta cần nghe Thế giới của nó là thế giới tự phá hoại mình, nó chối bỏ thế giới xung quanh và tất cả mọi người làm xuất hiện hiện thực đối với nó như là một đồ vật Trước gương nó cảm thấy một cái gì đó rất khủng khiếp Trẻ tự kỷ sống trong môi trường ngôn ngữ nhưng không có lời nói của riêng nó, lời nói chỉ là sự kết nối máy móc, sự lặp lại mà nó không thể hiểu Trẻ tự kỷ tách biệt với người khác, không có nhu cầu giao tiếp với người khác và luôn cảm thấy như mình bị nuốt chửng trong ham muốn của mọi người [Dẫn theo 14]
Trang 20Như vậy, có thể nói là số lượng và chủ đề nghiên cứu về tự kỷ trên thế giới là vô cùng lớn, vô cùng phong phú và đa dạng Trong đó, vấn đề tâm lý của cha mẹ có con bị tự kỷ cũng được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có đề tài nào thực sự nghiên cứu về vấn đề ―tâm trạng của cha
mẹ có con tự kỷ‖
1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam có liên quan đến vấn
đề tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ
Ở Việt Nam, tự kỷ chỉ thực sự được quan tâm khoảng 15 năm trở la ̣i đây Do vâ ̣y, các nghiên cứu có quy mô lớn , chuyên sâu về tự kỷ còn khá khiêm tốn Đặc biệt nghiên cứu về tâm trạng của cha mẹ có con bị tự kỷ chưa được quan tâm đúng mức Vấn đề tâm trạng của cha mẹ có con bị tự
kỷ chỉ được nghiên cứu lồng ghép vào trong những nghiên cứu về thái độ, nhận thức của gia đình và xã hội về trẻ tự kỷ; về vấn đề giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ Có thể nêu dẫn một số nghiên cứu về vấn đề này
Nghiên cứu ―Tìm hiểu một số yếu tố gia đình và hành vi của trẻ tự kỉ‖ tại Khoa Tâm thần bệnh viện Nhi Trung ương do bác sỹ Quách Thúy Minh
và các cộng sự thực hiện Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng có 55,5% trẻ tăng giao tiếp bằng mắt, 64,1% giảm tăng động và 77,8% giảm xung động nếu được tiến hành điều trị tâm vận động và có sự kết hợp của gia đình Từ
đó cho thấy vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ Bệnh tình của trẻ nặng lên hay giảm đi phụ thuộc rất nhiều vào cha mẹ Chỉ có sự yêu thương, chăm sóc từ gia đình mới là môi trường tốt nhất giúp con giảm bớt đi gánh nặng bệnh tật Tuy nhiên, bác sỹ cũng khẳng định, việc chăm sóc cho trẻ tự kỷ là vô cùng khó khăn, vì liên quan đến nhiều vấn đề như tốn kém về kinh tế, đòi hỏi sự kiên trì trong trị liệu,
và việc cho trẻ học tập ở địa chỉ nào cũng là vấn đề nan giải
Trang 21Nguyễn Thị Thanh Liên với đề tài luận văn thạc sĩ ―Thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỉ” đã chỉ ra phần lớn cha mẹ của trẻ tự kỉ có thái
độ tiêu cực đối với trẻ Thái độ này xuất phát từ mặc cảm về khuyết tật của con mình Thái độ này được thể hiện rõ trên ba phương diện: Nhận thức, tình cảm và hành vi Về phương diện nhận thức: Đa số cha mẹ có hiểu biết
về bản chất của chứng tự kỉ không đầy đủ, một số người còn hiểu chưa đúng Về phương diện tình cảm: Cha mẹ một mặt thương con, muốn dành tình cảm cho con mặt khác lại thấy lo lắng, thiệt thòi, tuyệt vọng về những
gì mà họ phải gánh chịu Về phương diện hành vi: Nhìn hình thức bên ngoài khiến người ta dễ lầm tưởng cha mẹ có hành vi tích cực song về bản chất đó là sự buông xuôi tiêu cực, thiếu khoa học trong việc trợ giúp con chống lại chứng tự kỉ Trong khi phân tích các khía cạnh biểu hiện thái độ của cha mẹ, tác giả cũng đã cho thấy những khó khăn, lúng túng của họ trong việc nuôi dạy đứa con bị tự kỷ Mong muốn lớn nhất của cha mẹ với trẻ tự kỷ là các bé có thể tự phục vụ bản thân, không cần người khác chăm sóc Ngoài ra, trong việc cha mẹ đối xử giữa người con tự kỷ và các anh chị em của trẻ cũng có sự bất bình đẳng, và thiếu tính khoa học, thường nuông chiều theo mọi sở thích, yêu cầu, đòi hỏi của trẻ, nhằm bù đắp thiệt thòi của con, hoặc để trẻ chấp nhận ngồi chơi không làm phiền, không gây ảnh hưởng tới hoạt động của người khác Cũng chính vì thế, đa số cha mẹ trẻ tự kỷ hoặc chỉ tìm đến trung tâm y tế hoặc các cơ sở giáo dục đặc biệt,
mà chưa tìm ra được mô hình chăm sóc con hợp lý Những điều này cho thấy rất nhiều khó khăn trong việc chăm sóc trẻ tự kỷ [11]
Tác giả Nguyễn Thị Như Mai (2010) với nghiên cứu ―Có thể phát hiện sớm những dấu hiệu của bệnh tự kỷ ở trẻ em‖ đã trình bày những nét đặc trưng của bệnh tự kỷ ở trẻ em và những dấu hiệu, biểu hiện thường thấy ở trẻ nhỏ có nguy cơ mắc bệnh tự kỷ Theo những nghiên cứu mới đây của
Trang 22những nhà tâm lý học, trẻ em ở những giai đoạn khác nhau: 0 – 6 tháng, 6 – 12 tháng, 12 – 24/ 30 tháng được can thiệp kịp thời sẽ có nhiều cơ hội hòa nhập cộng đồng Từ đó, tác giả đưa ra những lời khuyên dành cho cha
mẹ trẻ tự kỷ để có thể phát hiện sớm, can thiệp kịp thời bệnh tự kỷ ở con
em mình [13]
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mẫn (2010), việc giao tiếp giữa cha mẹ với trẻ tự kỷ vẫn còn hạn chế cả về thời gian, về nội dung giao tiếp và hình thức giao tiếp Khi nói chuyện với trẻ, cha mẹ đều nhằm mục đích hướng vào đứa trẻ như để hy vọng vào một sự thay đổi của trẻ hay để giúp con hiểu những gì đang diễn ra trong cuộc sống Tuy nhiên, mục đích giao tiếp của người cha khác so với mục đích giao tiếp của người
mẹ Người mẹ tập trung vào đứa trẻ nhiều hơn, để giúp con hiểu những gì đang diễn ra trong cuộc sống và để hy vọng vào một sự thay đổi nào đó của trẻ Trong khi đó, người cha không chỉ tập trung vào đứa trẻ mà việc chia sẻ tình cảm, giải tỏa những suy nghĩ của bản thân cũng rất quan trọng
Đề tài này đã chỉ ra những vất vả của cha mẹ trẻ tự kỷ hơn so với những trẻ không bị tự kỷ vì thời gian và công sức dành cho trẻ tự kỷ cần hơn rất nhiều Đặc trưng của trẻ tự kỷ là hạn chế về giao tiếp, vì thế để góp phần cải thiện giao tiếp cho trẻ, các cha mẹ của trẻ cần đặc biệt chú ý tới cả thời gian, hình thức và nội dung khi giao tiếp với trẻ Tuy nhiên, do những khó khăn trong cuộc sống và nhận thức của từng cha mẹ trẻ tự kỷ, số thời gian hạn chế mà họ dành để giao tiếp với trẻ sẽ khó có thể giúp trẻ tiến bộ Hơn nữa, điểm yếu của những cha mẹ này là họ sử dụng rất hạn chế các hình thức để giao tiếp với trẻ, vì thế khả năng đón nhận nội dung giao tiếp của trẻ cũng rất khó khăn [14]
Luận án tiến sỹ ―Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỉ tại thành phố Hồ Chí Minh‖ do tác giả Ngô Xuân Điệp chỉ ra thực trạng mức độ nhận thức
Trang 23cũng như một số đặc điểm trong nhận thức của trẻ tự kỉ tại thành phố Hồ Chí Minh Để hiểu rõ hơn tình tra ̣ng nhâ ̣n thức của trẻ tự kỷ, tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên 104 trẻ tự kỷ có độ tuổi từ 36 đến 72 tháng tuổi và 68 trẻ bình thường cùng tuổi làm nghiên cứu đối chứng Tác giả đã chỉ ra các yếu tố: Khả năng nhận thức sự vật, khả năng nhận thức hiện tượng, khả năng gọi tên sự vật từ đó đưa ra các kết luận về khả năng nhận thức chung của trẻ tự kỷ
Qua kết quả nghiên cứu trên 104 trẻ tự kỷ cho thấy, ở mức độ nhận thức rất kém có 44.2% và nhận thức rất tốt có 1.9% với hai con số khá chênh lệch trên chứng tỏ khả năng nhận thức của trẻ tự kỷ là rất kém Qua những nghiên cứu khả năng nhận thức và chăm chữa thực tế , tác giả cho thấy sự phát triển nhận thức của trẻ tự kỷ hết sức bất thường, trong đó hầu như khả năng nhận thức so với mặt bằng chung là thấp hơn trẻ cùng tuổi Đồng thời sự tiến triển nhận thức cũng không phát triển theo logic thông thường, vì ngoài chậm phát triển, trẻ còn có biểu hiện rối loạn phát triển: chủ yếu trẻ tự kỷ chậm nhận thức đối với các môn khoa học xã hội, khó khăn trong việc hiểu ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ., hạn chế trong việc biểu hiện xúc cảm, tình cảm của người khác Nhưng trái lại trẻ khá hơn trong việc nhận thức các môn khoa học thuộc tự nhiên và một số môn nghệ thuật như: toán học, điện tử, hội họa, âm nhạc…Vì thế, hầu hết trẻ tự
kỷ đều ít nhiều gặp khó khăn trong học tập và tiếp thu kiến thức Trong khi đó khả năng nhâ ̣n thức của trẻ tự kỷ là mô ̣t trong những yếu tố quyết đi ̣nh đến sự cải thiện của chứng tự kỷ , đồng thời nó cũng ản h hưởng đến tiến trình trị liệu và chất lượng trị liệu mà những nhà chuyên môn và các bậc phụ huynh thực hiện Do đó việc chăm chữa và giáo dục cho trẻ tự kỷ là một điều hết sức khó khăn và phức tạp[3]
Trang 24Như vậy, vấn đề tâm trạng của cha mẹ có con bị tự kỷ bước đầu đã được quan tâm nghiên cứu Dù ở các khía cạnh khác nhau nhưng các nghiên cứu đều cho thấy cha mẹ trẻ tự kỷ gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc, nuôi dạy, thăm khám, xin học cho con…Tuy nhiên, những nghiên cứu về vấn đề này còn khá khiêm tốn, chỉ được đề cập trong các nghiên cứu về thực trạng bệnh tự kỷ ở Việt Nam và được lồng ghép vào trong các nghiên cứu về thái độ và nhận thức, giao tiếp
1.3 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tâm trạng của cha mẹ có con mắc chứng tự kỷ
1.3.1 Tâm trạng (mood)
1.3.1.1 Khái niệm tâm trạng
Theo một số nhà tâm lý học Nga, tâm trạng được xem như là một trạng thái tâm lý: Tâm trạng thường được hiểu như là một trạng thái tâm lý ổn định kéo dài có cường độ vừa phải hay yếu được biểu hiện với tư cách nền cảm xúc dương tính hay âm tính của đời sống tâm lý con người Chúng gắn màu sắc nhất định cho tất cả các trải nghiệm khác
Một số định nghĩa khác coi tâm trạng như là trạng thái xúc cảm hay là một dạng xúc cảm như quan điểm của các tác giả B.A Meseriakov, V.B Dintrenkô: Tâm trạng là một trong những dạng của đời sống xúc cảm cá nhân, nó là trạng thái xúc cảm kéo dài ổn định không có định hướng nhất định bao trùm toàn bộ trải nghiệm của cá nhân trong khoảng thời gian nào
đó Tâm trạng ở mức độ khác nhau ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình tâm lý diễn ra trong khoảng thời gian đã cho của con người
Từ điển tâm lý học do A.V Petrovxki, M.G Iarosevski chủ biên, đã định nghĩa: Tâm trạng là một trạng thái cảm xúc trước những phản ứng
Trang 25của tình cảm, xuất hiện không phải do hậu quả của một sự kiện nào đó, mà thể hiện giá trị của con người trong ngữ cảnh của những dự định, những nhu cầu và những mong đợi trong cuộc sống
Cùng quan điểm như vậy, X.L Rubinstein cho rằng tâm trạng không trực tiếp gắn liền với đối tượng nào ở bên ngoài mà chủ yếu gắn với nhân cách bên trong; tâm trạng không phải là một trải nghiệm cụ thể nào, bắt nguồn từ một sự kiện cụ thể nào mà là trạng thái chung, mờ nhạt
Quan niệm khác của tác giả N.Đ Levitov coi tâm trạng là trạng thái cảm xúc chung trong một khoảng thời gan xác định, nó quy định sắc thái các trải nghiệm, hoạt động của con người, con người đôi khi không ý thức được nguyên nhân gây ra nó
Tác giả V.M Bleikher và Y.V Cruk: Tâm trạng là đặc điểm mang tính tổng hợp của trạng thái xúc cảm của con người trong một thời kỳ nhất định Trong một số trường hợp, thuật ngữ này được dùng để chỉ kiểu xúc cảm chủ đạo đối với một cá nhân Tâm trạng có thể mang tính cân bằng cường hoặc nhược Nền tâm trạng chung được xác định bởi diễn biến của các quá trình tâm lý, trong đó có tư duy [Dẫn theo 16, tr.38]
Quan điểm của V.V Sê-li-ăc: Tâm trạng là những cảm xúc và tình cảm biểu hiện tương đối yếu ớt mà đặc điểm là kéo dài hơi mơ hồ, có nguyên nhân không rõ lắm Tâm trạng mang tính chất tản mạn, xâm chiếm toàn bộ tâm lý và có ảnh hưởng đến sự diễn biến của các quá trình tâm lý và hoạt động của con người Nguyên nhân gây ra tâm trạng có thể là một sự kiện
cụ thể nào đó, một tin tức tốt lành hay không vui [17]
Nguyễn Quang Uẩn, Phạm Minh Hạc cho rằng tâm trạng là một dạng cảm xúc có cường độ vừa phải hoặc yếu, tồn tại trong thời gian tương đối dài [22, tr.165], [6, tr.146]
Trang 26Theo tác giả Vũ Dũng: Tâm trạng là trạng thái tâm lý tương đối bền vững có cường độ yếu hoặc trung bình Tùy theo hoàn cảnh, tâm trạng khác với tình cảm và cảm xúc ở chỗ nó không phải là phản ứng cảm xúc với kết quả trực tiếp của các sự kiện mà là phản ứng cảm xúc đối với ý nghĩa của các sự kiện liên quan đến con người [4, tr.299].
Những định nghĩa coi tâm trạng là một trạng thái có sự khác nhau về phạm vi của tâm trạng Ở phạm vi chung, tâm trạng là trạng thái tâm lý, coi tâm trạng như một hiện tượng tâm lý nói chung Ở phạm vi cụ thể hơn, tâm trạng là trạng thái cảm xúc hoặc một dạng của cảm xúc, một phạm vi hẹp hơn so với hiện tượng tâm lý
Với định nghĩa coi tâm trạng là một trạng thái tâm lý hoặc trạng thái xúc cảm thì tâm trạng cũng diễn ra trong một khoảng thời gian xác định, xuất hiện khi ý nghĩa của các sự kiện, hiện tượng có liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn các nhu cầu, động cơ của con người Ở phương diện này, các nghiên cứu tập trung mô tả biểu hiện của các trạng thái này ở các khía cạnh khác nhau
Từ đó, chúng tôi đưa ra khái niệm về tâm trạng: Tâm trạng là trạng thái xúc cảm của con người, thể hiện với cường độ rung động cảm xúc yếu, tồn tại trong một thời gian xác định, xuất hiện qua sự trải nghiệm các
sự kiện, hiện tượng có liên quan đến toàn bộ đời sống tinh thần và hoạt động của chủ thể Tâm trạng là các trạng thái xúc cảm như vui, phấn khởi, buồn, lo lắng, căng thẳng, chán nản, hụt hẫng…
1.3.1.2 Bản chất của tâm trạng
Tâm trạng mang bản chất xã hội
Các nhà tâm lý học Liên Xô như A.G Côvaliôv, A.N Lêônchiev cho rằng tâm trạng có vai trò xã hội và nhấn mạnh tới bản chất xã hội của tâm
Trang 27trạng, xem tâm trạng là trạng thái cảm xúc, tình cảm của con người đối với
sự vật, hiện tượng khách quan có liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu, động cơ của cá thể đó [2],[10] Chính vì mang bản chất
xã hội nên tâm trạng được hình thành trong hoạt động và giao tiếp, chịu sự quy đinh bởi những yếu tố của môi trường, hoàn cảnh và trạng thái bên trong của chủ thể, thể hiện suy nghĩ, thái độ và hành động của chủ thể với nhu cầu, động cơ xã hội của mình
Phân tích về mối quan hệ giữa tâm trạng và cảm xúc, tác giả A.G Côvaliôv đã chỉ ra sự khác biệt giữa tâm trạng và cảm xúc ở chỗ tâm trạng tương đối bền vững hơn và yếu hơn cảm xúc Ông cho rằng: Tâm trạng chính là trạng thái cảm xúc của cá nhân hoặc tập thể Nó là tổng thể độc đáo của các cuộc đấu tranh và tác động lẫn nhau giữa những cảm xúc hoặc cảm giác có sắc thái khác nhau [2, tr 115]
Phân tích tâm trạng qua việc xem xét những nguyên nhân nảy sinh tâm trạng, A.N Lêônchiev cũng khẳng định: Tâm trạng là một trạng thái cảm xúc Nguyên nhân làm nảy sinh tâm trạng phụ thuộc vào động cơ và đối tượng làm thỏa mãn nhu cầu xét về chức năng thể hiện nhân cách [10, tr.230]
Tác giả Lisa A Feldman nghiên cứu tìm ra bản chất của tâm trạng: Khi đánh giá tâm trạng của một con người thì cần phải xem xét theo hướng phát sinh và những hướng tiềm ẩn của nó, nghĩa là tâm trạng được xem xét bởi quy định của những yếu tố môi trường, hoàn cảnh sống và trạng thái bên trong của chủ thể [26, tr 806 - 817]
1.3.1.3 Vai trò của tâm trạng
Tâm trạng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người vì nó thể hiện ngữ cảnh ý nghĩa chung của toàn bộ đời sống tinh thần và hoạt
Trang 28động của cá nhân, gắn liền với tất cả các trải nghiệm và hành vi của cá nhân Nó chi phối toàn bộ đời sống tâm lý của con người và ở những người có trạng thái tâm lý tiêu cực có thể dẫn đến stress Ngoài ra, tâm trạng còn làm thay đổi hoạt động của các hệ thống trong cơ thể như là hệ
hô hấp, tuần hoàn, nội tiết…
Trước tiên, tâm trạng có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần, hành
vi và hoạt động của con người vì tâm trạng có liên quan đến quá trình điều khiển bên trong của hành vi Vốn là một hình thức mang tính chủ quan thể hiện nhu cầu, tâm trạng xảy ra khi hoạt động để thỏa mãn nhu cầu, kích thích và định hướng hoạt động Vì vậy, tâm trạng là hiện tượng tâm lý có thể điều khiển được
Tác giả Đinh Trọng Vinh đã đề cập đến vai trò quan trọng của tâm trạng của những người lao động sản xuất vì nó có ảnh hưởng đến năng suất lao động, sau đó là đến điều kiện giáo dục các thành viên tùy theo tính chất
và mức độ biểu hiện của nó [23]
Ngoài ra, tâm trạng còn ảnh hưởng không nhỏ đến các phản ứng cảm xúc trực tiếp đối với các sự kiện đang diễn ra làm thay đổi phương hướng của tư duy, tri giác và hành vi của con người Khi cá nhân đang có tâm trạng chán nản thì cư xử với người xung quanh thường không đánh giá đúng đắn được vấn đề và có những hành vi không phù hợp với hoàn cảnh Nhưng khi cá nhân đang vui vẻ, hứng khởi thì thường nhìn nhận, đánh giá mọi việc tốt đẹp và thường có hành vi thái quá
Tác giả Hà Ngân với đề tài ―Cuộc sống xã hội và tâm lý xã hội‖ đã đánh giá được trọng tâm vai trò của tâm trạng nên đã tìm được phương hướng và đưa ra được biện pháp để khắc phục tâm trạng về xã hội tiêu cực Điều đó chỉ có thể tiến hành bằng phương pháp giáo dục ý thức và
Trang 29các giá trị, các định hướng, các chuẩn mực bằng việc nêu gương những nhân tố tích cực trong đời sống và hoạt động của con người bằng sự giáo dục ý thức và sự cần thiết phải đạt tới những mục tiêu có ý nghĩa quan trọng [15, tr 44 – 49]
1.3.2 Tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ
1.3.2.1 Khái niệm tự kỷ
Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra khá nhiều quan niệm về tự kỷ Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, sau đây là một số quan niệm:
Năm 1943, Leo Kanner của Bệnh viện Johns Hopkins, lần đầu tiên đã
sử dụng từ ―tự kỷ‖ theo nghĩa hiện đại trong tiếng Anh Ông sử dụng từ tự
kỷ khi giới thiệu về tự kỷ sớm ở trẻ nhỏ trong một báo cáo về 11 trẻ với những mẫu hành vi khá giống nhau (Kanner, 1968) [29] Hầu hết những đặc điểm được Kanner mô tả như ―sự cô đơn tự kỷ‖ và ―khăng khăng bám lấy cái không thay đổi‖ vẫn được coi là những đặc trưng của các rối loạn phổ tự kỷ Người ta không rõ là liệu Kanner có thừa hưởng thuật ngữ từ Asperger hay không (Lyons, 2007) [32]
Cuối những năm 50 và đặc biệt vào những năm 60 của thế kỷ XX, quan niệm về tự kỷ đã thay đổi rõ rệt Bernard Rimland (1964) và một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, nguyên nhân của tự kỷ là do thay đổi cấu trúc lưới trong bán cầu đại não trái hoặc do những thay đổi về sinh hoá và chuyển hoá ở những đối tượng này Do đó, những trẻ tự kỷ không có khả năng liên kết các kích thích thành kinh nghiệm của bản thân, không giao tiếp được vì thiếu khả năng khái quát hoá những điều cụ thể Từ đó, nhiều chuyên gia y tế đã chấp nhận và cho rằng tự kỷ là một bệnh lý thần kinh đi kèm với tổn thương chức năng của não
Trang 30Vì tính chưa rõ ràng về tự kỷ nên trong những thập niên nửa cuối của thế kỷ XX, nhiều cuộc tranh cãi đã diễn ra xung quanh việc định nghĩa tự
kỷ vì ngày càng có nhiều mô tả g ần giống mô tả của Kanner và Asperger nhưng lại không điển hình với hai hội chứng này Trước tình trạng này, Lorna Wing và Fudith Gould đã tiến hành một cuộc nghiên cứu nhằm khảo sát tất cả trẻ nhỏ dưới 15 tuổi tại một khu vực ở London có bất kỳ chứng tật nào về thề chất và học tập, cũng như có những hành vi khác thường từ nặng tới nhẹ Sau nghiên cứu hai bà đưa ra kết luận như sau: Thứ nhất, các hội chứng Kanner và Asperger thuộc về nhóm nhỏ nằm trong một dãy các dạng rối loạn gây ảnh hưởng xấu tới quan hệ tương tác
và giao tiếp xã hội; Thứ hai, các rối loạn này có thể có ở các trẻ với bất kỳ mức độ thông minh nào; Thứ ba, các rối nhiễu này gắn với những vấn đề thể chất nào đó hoặc với khuyết tật khác về phát triển Qua khảo sát này của Lorna Wing cho thấy tự kỷ kiểu Kanner là một dạng trong nhóm nhiều rối loạn tương tự Như vậy, ngoài hai rối loạn được xem là điển hình trên còn có những rối loạn khác Đó là rối loạn với những đặc điểm, tính chất
và mức độ trí tuệ khác nhau Từ đây Lorna Wing đưa ra khái niệm Phổ Tự
kỷ (Autism spectrum disorder) để khái quát hiện tượng phức tạp này
Năm 1979, Wing và Gould đưa ra mô hình Ba khiếm khuyết (Triad of
Impairments) để mô tả những biểu hiện điển hình giúp nhận biết phổ tự
kỷ Mô hình này sau đó cũng được sử dụng một cách rộng rãi trong việc nhận dạng và mô tả những biểu hiện của cá nhân mắc rối loạn loạn kỷ Cũng nghiên cứu về bệnh tự kỷ, theo cuốn Sổ tay chẩn đoán và thống
kê những rối loa ̣n tâm th ần (DSM- IV) của Hiệp hội Các nhà Tâm thần Hoa Kỳ thì tự kỷ được xác định là Rối loạn phát triển lan tỏa (Pervasive Developmental Disorders) gồm năm thể loại rối loạn phát triển khác nhau: Rối loạn tự kỷ (Autistic disorder); Rối loạn Rett (Rett‘s disorder); Rối loạn
Trang 31tan rã thới ấu thơ (childhood disintegrative disorder); Rối loạn Asperger (Asperger‘s disorder); Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu
(pervasive developmental disorder not otherwise specified) [35, tr 59]
Theo ICD – 10: Tính tự kỷ của trẻ em, một rối loạn lan tỏa sự phát triển được xác định bởi một sự phát triển không bình thường và hay giảm sút biểu hiện trước 3 tuổi, và bởi một hoạt động bất thường đặc trưng trong ba lĩnh vực: tác động xã hội qua lại, giao tiếp và tác phong thu hẹp đình hình
Ở Việt Nam hiện đã có một số nghiên cứu về tự kỷ, theo đó các tác giả cũng đã đưa ra những khái niệm về tự kỷ Tác giả Lê Khanh cho rằng: Chứng Tự tỏa (hay tự kỉ) gọi chung là hiện tượng tự tỏa (Autistic spectrum Disorder) theo nguyên nghĩa là Tự mình phong tỏa các khả năng quan hệ của mình với bên ngoài, ở Việt Nam còn gọi là Tự kỷ hay Tự bế Đây là tình trạng khiếm khuyết phức tạp về các khả năng phát triển của não bộ, tiến triển trong ba năm đầu đời của đứa trẻ, thường xảy ra cho trẻ trai nhiều hơn ở trẻ gái, tình trạng này có thể xảy ra cho bất kì một đứa trẻ nào, không lệ thuộc vào dân tộc, xã hội hay trình độ phát triển của cha mẹ Chứng tự kỷ làm cho đứa trẻ mất khả năng giao tiếp, nhất là về phương diện ngôn ngữ và có thể gây tổn thương cho chính đứa trẻ vì các hành động tự gây hại, không biết đến sự nguy hiểm của môi trường xung quanh
và vì thái độ quậy phá của trẻ [8]
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa tự kỷ theo DSM – IV
để làm cơ sở đánh giá trẻ tự kỷ
1.3.2.2 Khái niệm trẻ em, trẻ tự kỷ
Theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em: Trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên lớn hơn (Điều 1, Công ước quốc tế, 1990)
Trang 32Ở Việt Nam, trẻ em là công dân Việt Nam dưới 18 tuổi (Điều 1, Luật Bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em Việt Nam)
Trong tâm lý học, khái niệm trẻ em được dùng chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý – nhân cách con người Độ tuổi thường là tiêu chí để xác định trẻ em, độ tuổi này khác nhau ở mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa – xã hội cụ thể
Trong luận văn này, chúng tôi cho rằng trẻ tự kỷ là trẻ em dưới 18 tuổi,
có những dấu hiệu của hội chứng tự kỷ là: Trẻ có sự phát triển bất thường hoặc khiếm khuyết rõ rệt trong ba lĩnh vực: Tương tác xã hội qua lại, giao tiếp, thu hẹp phạm vi hoạt động và các thích thú
1.3.2.3 Khái niệm tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ
Qua việc phân tích các khái niệm công cụ ở trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ như sau:
Trạng thái xúc cảm, thể hiện những rung động cảm xúc yếu, tồn tại trong thời gian xác định, xuất hiện qua sự trải nghiệm các sự kiện, các hiện tượng có liên quan một cách có ý nghĩa đến toàn bộ đời sống tinh thần và hoạt động của họ khi phát hiện con mình mắc chứng tự kỷ
1.3.2.4 Biểu hiện tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ
Dựa trên cơ sở biểu hiện của tâm trạng của cha mẹ có con bị tự
kỷ ở mặt nhận thức, thái độ - cảm xúc, hành vi, chúng tôi coi tâm trạng của cha mẹ có con bị tự kỷ như một miền liên tục với hai chiều tích cực và tiêu cực như là hai cực đối diện của một chiều cạnh duy nhất này Cụ thể:
- Tâm trạng tích cực là trạng thái cảm xúc và tình cảm, thể hiện thái độ
tích cực, kích thích, thúc đẩy hành vi và hoạt động của cá nhân Biểu hiện của tâm trạng tích cực là niềm hy vọng, vui vẻ, hào hứng, phấn khởi… làm
Trang 33cho con người có sức sống, có khả năng hoạt động dẻo dai, bền bỉ hơn, có hiệu suất hoạt động cao hơn và đặc biệt ở cha mẹ có con bị tự kỷ tâm trạng tích cực sẽ giúp cho họ có động lực để cố gắng chăm sóc, dạy dỗ và trị liệu cho đưa con tự kỷ của mình
- Tâm trạng tiêu cực là trạng thái cảm xúc và tình cảm, thể hiện thái độ
tiêu cực làm giảm sút tính tích cực của cá nhân trên cả ba mặt: nhận thức, cảm xúc - thái độ và hành vi Tâm trạng tiêu cực làm cho các phản ứng sinh lý, tâm lý bị rối loạn, trì trệ, tư duy rời rạc, tính nhạy cảm giảm sút, hoạt động mệt mỏi… Tâm trạng tiêu cực biểu hiện sự buồn chán, đau khổ,
bi quan, hoài nghi, trễ nải hoạt động, tính tích cực bị giảm sút, đầu óc suy nghĩ luẩn quẩn, cơ thể chóng mệt mỏi làm cho con người sinh ra yếu đuối, năng suất lao động giảm đi đáng kể
Theo quan điểm của nhà tâm lý học Kenneth W Olsen, các chiều cạnh của tâm trạng bao gồm các phạm trù chính của cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực Cảm xúc tích cực bao gồm sự hài lòng, hạnh phúc, niềm vui
và mãn nguyện, trong khi cảm xúc tiêu cực bao gồm lo lắng, băn khoăn, giận dữ và sợ hãi Một số tác giả cho rằng cảm xúc tích cực và tiêu cực độc lập với nhau, là hai yếu tố riêng biệt Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại xem xét chúng là hai cực đối diện của một chiều cạnh duy nhất [34] Chúng tôi dựa trên quan niệm này để nghiên cứu tâm trạng cha mẹ có con bị tự kỷ trên cơ sở xem xét hai chiều cạnh tích cực và tiêu cực của nó Việc phân chia tâm trạng chỉ có ý nghĩa tương đối giúp cho việc nhận thức nó một cách rõ ràng Thực chất, đối với từng cá nhân, tùy theo từng thời điểm, dựa vào từng hoàn cảnh cụ thể mà chúng ta có thể xét đoán được tâm trạng của mỗi người trong cuộc sống xã hội
Tâm trạng là trạng thái cảm xúc được biểu hiện dưới các hình thức rất
đa dạng và phong phú, nhưng hiện nay, các nhà tâm lý học mới chỉ nghiên
Trang 34cứu tâm trạng của những người phụ nữ đơn thân (Lê Thi), người nông dân
đi làm thuê (Vũ Dũn), những người lao động sản xuất (Đinh Trọng Vinh),
và của những tội phạm vị thành niên (Phạm Đình Chi) [20], [5], [23], [1]
Do vậy, nghiên cứu về tâm trạng của cha mẹ có con bị tự kỷ là một vấn đề
mới nên gặp phải những khó khăn nhất định
Theo quan điểm của chúng tôi, tâm trạng được thể hiện bao trùm lên mọi mặt của đời sống con người: cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội Có thể nói, khi trải nghiệm một trạng thái cảm xúc nhất định thì tâm trạng chi phối toàn bộ hoạt động cá nhân và xã hội của họ Tâm trạng không khu trú chỉ ở một khía cạnh nào của cuộc sống nên việc nghiên cứu những biểu hiện mức độ của tâm trạng cũng cần được xem xét ở các khía cạnh khác nhau
Có rất nhiều các khía cạnh có thể khai thác để tìm hiểu tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ, song trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số khía cạnh cơ bản sau:
Tâm trạng về bản thân của cha mẹ có con tự kỷ
Tâm trạng về bản thân là trạng thái cảm xúc của cha mẹ có con tự kỷ
về chính bản thân mình khi trải nghiệm các sự kiện có liên quan đến vai trò của bản thân khi con họ mắc chứng tự kỷ Tâm trạng này đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của họ và nhiều khí nó đóng vai trò quyết định đến trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân họ đối với đưa con bị tự kỷ Trong
đó, tâm trạng về bản thân của cha mẹ có con bị tự kỷ thường được biểu hiện qua các khía cạnh như: Tình cảm, vai trò, nghĩa vụ, trách nhiệm của
họ với đứa con tự kỷ; Đời sống tinh thần và vật chất của bản thân; Mối quan hệ vợ chồng và các thành viên trong gia đình; Mối quan hệ với bạn
bè, làng xóm và mọi người trong xã hội
Trang 35Như vậy, tâm trạng về bản thân của cha mẹ có con bị tự kỷ được thể hiện rõ nét qua tâm trạng về các vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của họ trong bối cảnh của sự thay đổi hoàn cảnh và điều kiện sống mới của bản thân và gia đình họ
Tâm trạng về gia đình của cha mẹ có con bị tự kỷ
Tâm trạng về gia đình là trạng thái tâm lý biểu hiện ở nhận thức, cảm
xúc, hành vi của cha mẹ có con tự kỷ khi trải nghiệm cuộc sống trong gia đình từ khi phát hiện con họ bị tự kỷ
Gia đình là mối liên hệ có ý nghĩa nhất của con người với cuộc sống xã hội Đặc biệt đối với các gia đình có con bị tự kỷ thì gia đình chính là nơi họ có thể chia sẻ, giúp đỡ và cùng nhau gánh vác trách nhiệm làm cha, làm mẹ với những đứa con của mình trong đó có cả đứa con bị tự
kỷ Một gia đình bình thường với những đưa con bình thường, khỏe mạnh thì cha mẹ những người trụ cột trong gia đình cũng đã phải gánh vác, cùng nhau chia sẻ nhiều công việc để vun đắp, xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dạy những đưa con khỏe mạnh, nên người Tuy nhiên ở hoàn cảnh đặc biệt trong gia đình có một trẻ tự kỷ thì trách nhiệm, nghĩa vụ, sự chia
sẻ trong gia đình của hai vợ chồng và các thành viên trong gia đình lớn hơn rất nhiều Nếu vợ chồng thuận hòa, cùng nhau gánh vác trách nhiệm, chia ngọt sẻ bùi, cùng cố gắng chăm sóc, nuôi dạy đứa con tự kỷ thì tâm trạng của tất cả các thành viên trong gia đình sẽ nghiêng về những tâm trạng tích cực Cảm giác có sự đồng cảm, chia sẻ, quan tâm, chăm sóc từ những người thân trong gia đình, mà trước hết là từ vợ/chồng, con cái là những cảm xúc hết sức có ý nghĩa đối với con người, song ngược lại nếu
vợ hoặc chồng thiếu trách nhiệm với đứa con tự kỷ của mình, không chia
sẻ, buông xuôi sẽ dẫn đến cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên trong gia đình có tâm trạng tiêu cực như chán nản, tuyệt vọng…
Trang 36Tâm trạng về xã hội của cha mẹ có con tự kỷ
Tâm trạng về xã hội là trạng thái tâm lý biểu hiện nhận thức, thái độ,
hành vi của cha mẹ có con tự kỷ xuất hiện qua trải nghiệm của các sự kiện, hiện tượng có liên quan đến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho trẻ tự kỷ (chế độ khám chữa bệnh; trị liệu; giáo dục hòa nhập), thái độ của mọi người trong xã hội đối với đưa con tự kỷ của họ và đối với chính bản thân họ và các thành viên khác trong gia đình
Tất cả những cái đó ảnh hưởng đến suy nghĩ, tâm tư và tạo nên tâm trạng tích cực hay tiêu cực của cha mẹ có con bị tự kỷ
1.3.2.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ
Nghiên cứu của các nhà khoa học tâm lý đã chỉ ra rằng tâm trạng của con người chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau: cả những yếu tố xã hội bên ngoài mang tính khách quan và cả những yếu tố cá nhân bên trong mang tính chủ quan
Năm 2001, khi đưa ra vấn đề về các yếu tố ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến tâm trạng thì các tác giả David Watson, Lee A Clark, Auke Tellegen đã nghiên cứu cấu trúc tâm lý tâm trạng của người Nhật sử dụng tiếng Anh và rút ra kết luận rằng, bản sắc văn hóa giữa các dân tộc không ảnh hưởng đến tâm trạng tích cực hay tiêu cực của mỗi người mà chỉ có
văn hóa, giá trị con người, hành vi của họ mới có tác động đến tâm trạng
[38, tr 677 – 800]
Mặt khác, năm 2006, các tác giả như Albert Reijntjes, Hedy Stegge, Mark Meerum Terwogt, Jan H Kamphuis và Michael J Telch đã nghiên cứu quy tắc tình cảm và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển trạng thái của
con người Nội dung trọng tâm của nghiên cứu này là các hành vi, tính chất
Trang 37bột phát và những ảnh hưởng của nó đến tâm trạng trong quá trình điều chỉnh giao tiếp giữa hai người [36, tr 543 – 552]
Tác giả Đỗ Long đã chỉ ra nguyên nhân làm nảy sinh tâm trạng ở con
người là do các sự kiện, hiện tượng có ý nghĩa quan trọng đối với chủ thể,
kết quả hoàn thành nhiệm vụ và sự đánh giá của mọi người, trạng thái sức khỏe [12]
Như vậy, tâm trạng cũng chịu ảnh hưởng của các nhân tố khách quan
và nhân tố chủ quan, hay nói một cách khác là những yếu tố cá nhân, yếu
tố xã hội và một số yếu tố khác Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề cập đến hai nhóm yếu tố cơ bản tác động đến tâm trạng của cha mẹ có con tự
kỷ là các yếu tố cá nhân và các yếu tố xã hội Dưới đây sẽ đề cập đến các yếu tố này
Các yếu tố tâm lý cá nhân
- Yếu tố nhận thức: Nhận thức thể hiện sự đánh giá, nhìn nhận
của con người về các sự kiện xung quanh nên nó ảnh hưởng quan trọng đến đời sống tâm lý của con người và có vai trò chi phối hoạt động của con người
Quan hệ giữa nhận thức và tâm trạng (đặc biệt là yếu tố cảm xúc) không phải là quan hệ một chiều Ngày càng có nhiều nghiên cứu đi đến kết luận rằng, cảm xúc và nhận thức luôn đi liền với nhau và cung cấp các thông tin bổ sung cho nhau (Gray, 2004) [9, tr 114]
Bàn về vấn đề này, Baron, Byrne và Branscombe (2006) đã đưa ra khái niệm cho rằng thông tin có tác động lên những khu vực khác nhau của hệ
tư duy đề cương của chúng ta Trong đó, khung tư duy đề cương bao gồm nhiều khu vực khác nhau, gồm cả bộ phận cảm xúc Ví dụ như một cá nhân khi được mọi người gán cho đặc tính nào đó, họ sẽ có cảm xúc phản
Trang 38ứng của một cá nhân có đặc tính này Người bị chê là vụng tay chân, sẽ thao tác trở nên vụng về hơn
Đặc biệt, nhận thức có ảnh hưởng rất lớn đến sự điều tiết cảm xúc của tâm trạng Nghiên cứu của Tykocinski (2001) đã chỉ ra rằng, chúng ta luôn
có những điều tiết cảm xúc và thực hiện quá trình tư duy tùy thuộc vào khả năng xảy ra của một sự kiện Và khi kết quả của điều kiện thực tế xảy ra,
dù với bất kỳ kết quả như thế nào, chúng ta luôn có xu hướng làm giảm đi tính năng tiêu cực của những kết quả này, thông qua quá trình điều tiết cảm xúc của chúng ta
Tương tự, Tice, Bratslavsky và Baumeiser (2000) cho rằng, chúng ta thường sử dụng ý thức của mình để tìm ra những kênh hoạt động khác nhằm cố gắng làm giảm thiểu đi những căng thẳng xảy ra đến từ các hiện tượng sinh hoạt trong đời sống Vì thế, đây là những quyết định có sự tham gia của ý thức (mặc dù nhìn bên ngoài thì đây có vẻ là những phản ứng mang tính thụ động) Chúng ta tìm ra kênh hoạt động này với mục đích duy trì tình trạng cân bằng trong hệ tâm thức của mình Nghĩa là, con người có chủ ý trong quá trình sử dụng ý thức để đối diện những tình huống cảm xúc với mục tiêu giảm thiểu căng thẳng hoặc né tránh những cảm xúc này một cách có động cơ [18, tr 72 - 74]
Từ vai trò của nhận thức với cảm xúc như đã trình bày ở trên có thể suy
ra, nhận thức của cha mẹ có con tự kỷ sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với các biểu hiện tâm trạng của họ Cụ thể, đó có thể là nhận thức của các bậc cha
mẹ về bản chất (khái niệm, nguyên nhân, biểu hiện) của chứng tự kỷ, và nhận thức về sự phát triển cũng như khả năng phục hồi của trẻ tự kỷ Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Liên (2009) đã cho thấy, mặc
dù có nhiều cha mẹ đã rất quan tâm, tìm kiếm thông tin trên sách báo,
Trang 39internet, chuyên gia…nhưng sự tìm kiếm này ít mang tính chủ động và chưa thực sự tích cực nên đa số họ lại hiểu và biết về bản chất của chứng
tự kỷ không đầy đủ, một số người còn hiểu sai hoàn toàn [11, tr 102].Như vậy, nếu các bậc cha mẹ có những nhận thức đầy đủ, chính xác thì
sẽ có những ứng xử, hành vi và biểu hiện tâm trạng phù hợp để giúp trẻ Ngược lại, nếu có những nhận thức chưa chính xác, chưa đầy đủ, cha mẹ không những rất khó để giúp đỡ con mình tiến bộ hơn mà có thể dẫn tới tâm lý phó thác cho xã hội hoặc cho ―số phận‖
- Yếu tố kinh tế: Kinh tế là yếu tố tiên quyết cho sự phát triển nói
chung, đối với tâm lý con người nói riêng, kinh tế cũng có ảnh hưởng rất quan trọng Đối với các gia đình có trẻ tự kỷ, kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến việc điều trị cho trẻ cũng như đến tâm trạng của cha mẹ Bởi vì, việc nuôi dạy một đứa trẻ tự kỷ và theo đuổi bất kỳ một chương trình trị liệu, học tập nào trong thời gian dài cũng rất tốn kém, bao gồm việc mua sắm dụng cụ học tập, dụng cụ luyện tập thể lực, thần kinh, các loại thuốc, các loại phí tư vấn dinh dưỡng, tư vấn trị liệu, học phí…Thêm vào đó, trong các gia đình thường phải có một người nghỉ việc hoặc thuê người giúp việc
để trông nom, quản lý chương trình chữa bệnh cho con Có những gia đình
đã phải bỏ dở giữa chừng hoặc cắt giảm các liệu pháp vì thiếu nguồn tài chính, điều đó cũng có nghĩa là, đối với các gia đình nghèo thì việc cho con tham gia các lớp giáo dục đặc biệt là xa vời
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Liên (2009) đã chỉ ra rằng, nhóm cha mẹ có hoàn cảnh kinh tế nghèo không ai cho con đi học giáo dục đặc biệt, họ để con phát triển tự nhiên, còn nhóm cha mẹ có hoàn cảnh kinh tế khá giả thì ngược lại, họ can thiệp vào quá trình phát triển của con [11, tr 69]
Các yếu tố tâm lý xã hội
Trang 40- Yếu tố vị thế xã hội: Vị thế xã hội của con người được thể hiện
ở nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó, tiêu biểu là vị trí trong hệ thống quyền lực hay là chức vụ mà họ có được, và có thể là cả tiềm lực kinh tế
Vì trên thực thế, người nắm giữ kinh tế thường là người có quyền lực, và
có thể đi kèm với chức vụ Vì thế, có thể xảy ra hai xu hướng tâm trạng khi cha mẹ là những người có vị thế xã hội cao: Một là, có thể cha mẹ sẽ nhanh chóng chấp nhận và tìm cách điều trị cho con (do họ có khả năng nhận thức nhanh, thông minh, và có tiềm lực kinh tế); Hai là, họ khó chấp nhận thực tế về sự phát triển không hoàn thiện của con (do lòng tự tôn, và
lo sợ định kiến xã hội)
- Mối quan hệ trong gia đình: Các mối quan hệ trong gia đình
không chỉ có tầm ảnh hưởng quan trọng đến chính việc trị liệu chứng tự kỷ
ở trẻ mà đồng thời cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tâm trạng của cha mẹ Biểu hiện rõ nét nhất của các mối quan hệ trong gia đình là thông qua giao tiếp của các thành viên trong gia đình
Nhóm chuyên gia tâm lý học của Đại học Arizona và Đại học Washington tại Mỹ đã nghiên cứu tìm hiểu sự khác biệt qua giao tiếp giữa người hạnh phúc và người bất hạnh Kết quả cho thấy, những cá nhân hạnh phúc có xu hướng hòa mình vào xã hội xung quanh và thực hiện những cuộc hội thoại có nhiều thông tin Ngược lại, những cá nhân bất hạnh thường sống khép kín và nói những câu chuyện hời hợt, ít thông tin hữu ích [19]
Ảnh hưởng trước tiên đối với đứa trẻ bởi lẽ, các tương tác, giao tiếp thường xuyên nhất là giao tiếp mắt – mắt, giao tiếp bằng ngôn ngữ lời thoại và ngôn ngữ không lời, hay việc người thân dạy cho trẻ những kỹ năng sinh hoạt đời sống từ đơn giản đến phức tạp, thông qua đó trẻ có thể