Từ góc độ tiếp cận Văn hóa học có công trình nghiên cứu "Nho giáo và gia đình" của Vũ Khiêu 1995 đã cung cấp một khối lượng tri thức rất sâu rộng về văn hóa gia đình, những tác động ảnh
Trang 1-* -
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình nông thôn
hiện nay (Nghiên cứu trường hợp xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 603130
Luận văn thạc sĩ xã hội học
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Trịnh Duy Luân
Hà Nội, 2009
Trang 21 Lý do chọn đề tài 1
2.4.1 Sự tham gia của cha mẹ đối với định hướng nghề nghiệp cho
2.4.2 Mong muốn của cha mẹ đối với nghề nghiệp của con khi
Trang 4Hình 1: Người chủ yếu họp phụ huynh cho con 38
Hình 2: Người chủ yếu giúp con học thêm ở nhà 40
Hình 3: Người chủ yếu dạy bảo, đưa con vào kỷ luật 42
Hình 4: Cơ cấu khoản chi tiêu trong gia đình trong 12 tháng qua 43
Hình 5: Tỷ lệ gia đình có hành động cụ thể hướng nghiệp cho con 49
Hình 6: Tỷ lệ gia đình hướng nghiệp cho con một cách cụ thể 50
Hình 7: Nhận định “Con cái ngày nay không vâng lời cha mẹ
Hình 8: Nhận định “Con cái ngày nay không gắn bó với họ hàng
Hình 9: Quan niệm về giá trị của con cái trong gia đình ở Trịnh Xá
Danh mục bảng
Bảng 1: Tương quan giữa trình độ học vấn của bố mẹ và việc
Bảng 2: Tỷ lệ gia đình hướng nghiệp cho con một cách cụ thể 50
Bảng 3: Mong muốn nghề nghiệp cho con trai và con gái ở Trịnh Xá 52 Bảng 4: Nhận định “Con gái ngày nay ứng xử giống con trai
Bảng 5: Tổng kết mức độ nhận định của cha mẹ về con cái ngày nay 69 Bảng 6: Quan niệm về giá trị của con cái trong gia đình ở Trịnh Xá 73
Trang 5Phần I: Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển của mình, gia đình vừa là một đơn vị kinh tế, vừa là cái nôi đầu tiên và suốt đời nuôi dưỡng, giáo dục con người, duy trì và phát triển ở họ những quan hệ tình cảm đặc biệt từ thế hệ này sang thế hệ khác Cùng với thiết chế giáo dục, gia đình có vai trò quan trọng trong việc xã hội hóa con người, từ con người sinh vật thành con người xã hội Sự hình thành những chuẩn mực và định hướng giá trị tốt đẹp của gia đình không chỉ củng cố các mối quan hệ gia đình mà còn kiến tạo môi trường xã hội thuận lợi cho mỗi cá nhân được phát triển hài hòa và toàn diện Về phương diện này, gia đình là cơ sở đầu tiên cho việc tái sản xuất ra con người và xã hội
Do những chức năng xã hội đặc thù của mình, gia đình góp phần quan trọng vào việc duy trì sự tồn tại của đời sống xã hội, phát triển kinh tế, ổn định xã hội, xây dựng các chuẩn mực và giá trị đạo đức, phong tục tập quán, lối sống văn hóa, giáo dục Gia đình cũng là một mắt xích quan trọng trong mối quan hệ xã hội giữa con người với con người, con người với làng xóm, cộng đồng, đất nước Bởi vậy, việc củng cố gia đình, xây dựng các quan hệ gia đình lành mạnh là cơ sở đầu tiên cho việc xây dựng các quan hệ xã hội tốt đẹp
Những năm gần đây, đời sống xã hội nước ta đã có nhiều thay đổi Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, bộ mặt nông thôn có những biến đổi nhanh chóng Quá trình giao lưu và hội nhập với các nước đã mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đem đến cho chúng ta nhiều thách thức Những biến đổi trong quan hệ xã hội được phản chiếu trong những biến đổi của các quan hệ gia đình Gia đình nông thôn nơi có khoảng 70 - 80% dân số Việt Nam sinh sống cũng không nằm ngoài dòng chảy lịch sử đó
Trang 6Chẳng hạn như mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình không chỉ dựa trên tình yêu thương mà còn trên cơ sở của pháp luật về quyền tự do
cá nhân Năm 1979, Pháp lệnh bảo vệ, giáo dục và chăm sóc trẻ em được ban hành Việt Nam là nước đầu tiên ở châu á và là nước thứ hai trên thế giới tham gia phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc (tháng 2/1990) Các quyền cơ bản của trẻ em được Việt Nam tôn trọng và luật hoá trên cơ sở phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đặc biệt được thể hiện trong Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân gia đình, Luật chống bạo lực gia đình cũng dần được ban hành và thực thi Các chức năng của gia đình như chức năng kinh tế, giáo dục, duy trì và phát triển nòi giống, chức năng thỏa mãn tình cảm cũng được khẳng định, ghi nhận rõ ràng
và khoa học hơn Trách nhiệm và quyền lợi của các thành viên trong gia đình đang tiến dần tới sự công bằng, mối quan hệ giới cũng được cải thiện rõ rệt Đặc biệt, trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình cũng không quá khắt khe như trước, mỗi người chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước gia đình, pháp luật và xã hội Sự biến đổi kinh tế - xã hội đã tác động sâu sắc đến
sự biến đổi các quan hệ gia đình, trong đó có quan hệ giữa cha mẹ và con cái
Cho đến nay việc tìm hiểu thực chất chất keo kết dính trong mối quan
hệ giữa các thành viên gia đình vẫn luôn là một vấn đề phức tạp Có thể nói,
sự gắn bó giữa các thành viên trong gia đình luôn phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố Nó không phải chỉ đơn thuần là yếu tố vật chất mà còn là những yếu tố phi vật chất, những giá trị tinh thần, tình cảm, đạo đức vốn không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày của gia đình Thực tế cho thấy, vượt lên trên tất cả vẫn là những yếu tố về mặt tình cảm, sự yêu thương gắn bó giữa các thành viên trong gia đình Chính những yếu tố này đã là cơ sở quan trọng nhất đối với sự tồn tại của các quan hệ gia đình
Trang 7Mặc dù trên thực tế, nhiều mâu thuẫn bất đồng trong gia đình đã được nảy sinh từ những thay đổi trong quan niệm sống hay từ những lý do kinh tế nhưng chính tình cảm, sự yêu thương giữa các thành viên trong gia đình, sự nhường nhịn, hòa thuận trong mối quan hệ gia đình đã giúp các gia đình vượt qua được những khó khăn, trở ngại để tiếp tục tồn tại, gắn bó với nhau hơn
Chính vì vậy, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái đang trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu trong việc củng cố các mối quan hệ gia đình Do đó, việc đánh giá mối quan hệ này trong gia đình là cần thiết để giúp
ta nhận diện được về thực trạng của gia đình, nhận diện được sự thay đổi của gia đình nông thôn Việt Nam hiện nay
2 Vài nét về vấn đề nghiên cứu
Gia đình là một trong những thiết chế xã hội cơ bản nhất có vai trò to lớn đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội, đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có xã hội học Những vấn đề gia đình và nhiều khía cạnh liên quan khác có nội dung hết sức phong phú đã được các nhà nghiên cứu tìm tòi, phát hiện và công bố trên các ấn phẩm nghiên cứu chuyên ngành khác nhau
Khi đề cập đến gia đình, người ta thường nói đến các chức năng của gia đình như chức năng tái sản xuất con người, chức năng kinh tế, chức năng xã hội hóa cá nhân và một số chức năng khác Hiện nay, người ta còn đề cập đến những vấn đề xã hội của gia đình như: hôn nhân, ly hôn, bạo lực, giá trị, chuẩn mực, di cư Tất cả những vấn đề đó đều có liên quan mật thiết với mối quan hệ cơ bản nhất trong gia đình: quan hệ giữa các thế hệ, trong đó có quan
hệ giữa cha mẹ và con cái
Trong “Từ điển xã hội học” do NXB Larousse ấn hành năm 1973, đã định nghĩa gia đình là “Nhóm người gắn bó với nhau bằng một liên hệ hôn
Trang 8nhân, huyết thống hay là việc nhận con nuôi Có sự tác động qua lại giữa chồng và vợ, giữa bố và mẹ, giữa cha mẹ với con cái, giữa anh chị em và họ hàng xa hơn Tình hình đó tạo ra một loại cộng đồng ít nhiều hạn chế và được miêu tả bằng những nét riêng biệt Cộng đồng ấy được xác định và được đóng khung trong những sự điều chỉnh xã hội chủ yếu mà không nhất thiết có liên
hệ với tầm quan trọng của hành vi sinh đẻ” [Larousse, 1973, tr.131]
Cũng bàn về định nghĩa gia đình, trong “Từ điển tâm lý học” (Penguin Books xuất bản năm 1985): “Theo một nghĩa chặt chẽ nhất, gia đình nói lên một đơn vị thân tộc cơ bản Trong hình thức tối thiểu của nó hay là hình thức hạt nhân, gia đình gồm mẹ, bố và các con Rộng ra nó có thể nói lên gia đình
mở rộng, có thể gồm ông, bà, anh chị em họ, con nuôi… tất cả đều hành động như một đơn vị được công nhận…” [Penguin Books, 1985, tr.269]
Mối quan hệ trong gia đình phản ánh kết cấu nội tại của hệ thống gia đình Hình thức, nội dung và cách thức quan hệ gia đình phụ thuộc vào các loại hình gia đình như truyền thống hay hiện đại, hạt nhân hay mở rộng… Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào cơ cấu gia đình và khung cảnh văn hóa xã hội Trong gia đình truyền thống, một hệ thống các chuẩn giá trị cổ truyền được hình thành và tồn tại với những biểu tượng như “tam tứ đại đồng đường”, “đông con, nhiều cháu”, “tam tòng tứ đức”, “trên kính dưới nhường” v.v… Vấn đề quan hệ giữa các thế hệ vốn được xem như một chuẩn mực, giá trị Các quan hệ này có sự phân biệt theo trật tự cha mẹ, con cái và chồng vợ, song quyền lực của cha mẹ và chồng (nam giới) không có tính tuyệt đối như trong gia đình Nho giáo Con cái trong gia đình phải nghe lời và tuân thủ ý kiến của cha mẹ Con cái phải biết ơn và tôn trọng cha mẹ
ở Việt Nam, những khảo luận và phân tích về gia đình cũng đã được chú ý từ rất lâu Trong lịch sử, cha ông ta không chỉ để lại cho con cháu
Trang 9những giá trị truyền thống về tính cộng đồng, tinh thần tương thân tương ái,
sự ham học hỏi và tôn trọng tri thức mà còn là sự tôn trọng và bảo vệ các giá trị gia đình và vai trò của nó trong việc tổ chức và điều hành xã hội Điều này thể hiện rất rõ trong các câu chuyện lịch sử, trong văn chương bác học và văn
học dân gian (Cá không ăn muối cá ươn Con cưỡng cha mẹ trăm đường con
hư ) Có khi gia đình là đề tài riêng biệt, cũng có khi nó được đề cập đến
trong các đề tài khác và nó cũng thường được đề cập trong các chính sách, chiến lược xây dựng và phát triển đất nước
Khi bàn đến lĩnh vực gia đình không thể không nhắc tới các tác giả như
Vũ Khiêu, Lê Thi, Trần Đình Hượu, Vũ Tuấn Huy, Vũ Mạnh Lợi, Mai Huy Bích, Lê Ngọc Văn, Mai Quỳnh Nam với nhiều công trình nghiên cứu về gia đình tiêu biểu Từ góc độ tiếp cận Văn hóa học có công trình nghiên cứu
"Nho giáo và gia đình" của Vũ Khiêu (1995) đã cung cấp một khối lượng tri thức rất sâu rộng về văn hóa gia đình, những tác động ảnh hưởng của Nho giáo trong giáo dục gia đình, những ưu điểm và hạn chế của Nho giáo đối với việc củng cố gia đình, vai trò của gia đình trong việc hình thành nhân cách con người và xã hội
Tổng kết những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam, có các công trình nghiên cứu: "Gia đình và giáo dục gia đình" của Trần Đình Hượu,
"Tam giác gia đình" của Hồ Ngọc Đại Đây là những công trình mang nhiều dấu ấn của phương pháp liên ngành Cuốn sách "Trẻ em gia đình và xã hội" (2004) của Mai Quỳnh Nam (chủ biên) có nhiều bài viết về vai trò của gia đình và xã hội đối với việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em, trong đó đề cập đến những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nêu ra những khó khăn và giải pháp Cùng tác giả Mai Quỳnh Nam, cuốn sách "Gia đình trong tấm gương xã hội học" (2004) được tập hợp từ những nghiên cứu của nhiều tác giả về gia đình trong đó có nói tới cấu trúc gia đình và những vấn đề với giới; các chức năng
Trang 10của gia đình; gia đình và các ảnh hưởng của văn hóa; sự biến đổi của các quan
hệ trong gia đình
Cuốn sách "Gia đình Việt Nam và chức năng xã hội hóa" của Lê Ngọc Văn (1996) đề cập đến gia đình Việt Nam truyền thống với chức năng xã hội hóa, biến đổi chức năng xã hội hóa của gia đình, những khó khăn và giải pháp cho gia đình Việt Nam trong việc thực hiện chức năng xã hội hóa Tác giả dựa trên quan điểm xã hội học để phân tích đánh giá, dự báo các hiện tượng, các
xu hướng diễn ra trong gia đình nói chung và chức năng xã hội hóa của gia đình Việt Nam nói riêng
Cũng bàn về sự biến đổi trong các chức năng của gia đình, Vũ Mạnh Lợi & Vũ Tuấn Huy đã chỉ ra rằng: Trong những thay đổi quan trọng nhất các chức năng của gia đình là sự “đổi ngôi” trong giá trị con cái, từ chỗ con cái được xem như một tài sản (hay lao động) sang việc con cái được coi như nguồn thỏa mãn nhu cầu tình cảm của cha mẹ (điều này thường đi kèm với sự
“đổi ngôi” khó khăn khác là vị trí của người già trở nên yếu đi) [Vũ Tuấn Huy, 2004, tr.35]
Trong cuốn "Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” (2002) của GS Lê Thi, đã nghiên cứu những chuyển đổi của gia đình Việt Nam khi đất nước chuyển sang thế kỷ XXI; tiếp cận các vấn đề của gia đình ở góc độ giới Trong đó, chương III: tác giả đã đề cập đến vần đề xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa cha mẹ và con cái từ góc độ tâm lý và tình cảm Những yếu tố xã hội đang ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái hiện nay như: sự đổi mới về cơ chế quản lý từ bao cấp sang kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường đã nâng cao mức hưởng thụ vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình; sự phát triển nhanh chóng đa dạng của các phương tiên thông tin đại chúng; quyền tự do bình đẳng, dân chủ; quỹ thời gian dành cho
Trang 11con cái ít ỏi Do đó, các thành viên trong gia đình cần một nghệ thuật ứng xử đúng đắn mới đảm bảo gia đình trở thành tế bào của xã hội trong gia đoạn chuyển đổi
Nhiều kết quả điều tra xã hội học cho thấy, quan hệ giữa cha mẹ và con cái đang là mối quan tâm hàng đầu trong việc củng cố các quan hệ gia đình Hầu hết những người được hỏi đều cho rằng cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc giáo dục lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, ông bà cho thế hệ trẻ Có tới 94,6% ý kiến người được hỏi cho rằng họ được hấp thụ lòng hiếu thảo từ gia đình qua ông bà, cha mẹ, 88,5% số người được hỏi cho rằng cần phải dạy dỗ lòng hiếu thảo cho con cháu Theo tương quan với thu nhập, nhu cầu phải truyền dạy sự hiếu thảo cho con cái ở các gia đình giàu có cao hơn các gia đình nghèo: 92,6% gia đình giàu; 88,4% ở gia đình khá giả; 82,1% ở gia đình đủ ăn [Đặng Cảnh Khanh-Lê Thị Quý, 2007, tr.256] Quan hệ cha mẹ - con cái quyết định mối quan hệ ông bà - cháu Trẻ em thường bắt chước cách mà cha mẹ chúng ứng xử với ông bà để ứng xử với ông bà và với chính bố mẹ Do đó trên thực thế, thế hệ cha mẹ rất quan tâm, chú ý làm gương cho con trong cách ứng xử với cha mẹ họ
Vũ Khiêu khi “Bàn về văn hiến Việt Nam” cũng cho rằng, các chuẩn mực mới của chữ hiếu trong gia đoạn hiện nay cần phải được hình thành trên một nguyên tắc cơ bản nhất - đó là việc xây dựng những tình cảm nhân ái và chân thành giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là tình cảm giữa cha
mẹ và con cái Sự trợ giúp về tình cảm và vật chất giữa các thế hệ trong gia đình ông bà, cha mẹ và con cái được thể hiện vai trò của mỗi thế hệ trong đời sống gia đình Tuy nhiên, những vấn đề nảy sinh trong gia đình mở rộng cho thấy những vấn đề đáng quan tâm Tác giả cho rằng “Ngày nay trong gia đình, quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em với nhau không còn chặt chẽ và thân thiết như trước [Vũ Khiêu, 2002]
Trang 12Về mặt huyết thống, giữa cha mẹ và con cái có quan hệ máu mủ, ruột thịt rất sâu đậm Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thành người, từ lúc sinh ra đến tuổi trưởng thành Người mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục trẻ Quan hệ tình cảm mẹ con đặt nền tảng cho
sự phát triển tình cảm với gia đình và cộng đồng xã hội Người mẹ thường tỷ
mỉ, gần gũi con hàng ngày, khi cho ăn, tắm rửa, ru ngủ v.v phát hiện và uốn nắn kịp thời những sai lệch của con Với thái độ dịu dàng, kiên nhẫn, tế nhị, người mẹ có khả năng cảm hóa, thuyết phục con, giáo dục tình yêu cho con,
kể cả khi con đã trưởng thành Nhưng trong thời đại mới, người mẹ chỉ có thể làm tốt trách nhiệm của mình khi có những kiến thức văn hóa cần thiết và những tri thức về tâm lý tuổi trẻ [Lê Thi, 2002]
Tuy nhiên, đã có lúc chúng ta quá đề cao vai trò người mẹ trong việc giáo dục trẻ, như là người thầy đầu tiên, là linh hồn của gia đình v.v và có phần xem nhẹ vai trò của người cha, một trụ cột của gia đình và có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành phát triển nhân cách của trẻ Sự thiếu vắng người cha ở các gia đình phụ nữ đơn thân, nuôi con một mình đã dẫn đến những hạn chế nhất định trong việc giáo dục con
Người cha, đặc trưng cho lý trí, kỷ cương của gia đình, là tấm gương để các con noi theo, đặc biệt là con trai Do đó, người cha cần tham gia vào việc nuôi daỵ con từ nhỏ, dành thời gian chơi với con, chăm sóc hướng dẫn con một cách tin cậy Cần khắc phục quan niệm cho rằng nuôi dạy con là việc của phụ nữ Thực tế, đây là công việc của cả hai vợ chồng, cùng có trách nhiệm, chung lưng đấu cật nuôi dạy con cái Đó cũng chính là quyền lợi thiết thân của cả hai người, qua đó con cái có tình cảm thương yêu, gắn bó với cả cha và
mẹ
Trang 13Quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ mật thiết tình cảm Ngay từ nhỏ, mối quan hệ này là khuôn khổ cần thiết cho sự phát triển của trẻ, làm cho
sự trưởng thành sinh học của nó và những mối liên hệ của nó phù hợp với môi trường Sự phụ thuộc về vật chất và mật thiết về tình cảm tạo ra sự kết dính mạnh mẽ giữa con cái với những người chăm sóc nó là bố mẹ Vì thế đối với trẻ, gia đình đại diện cho thế giới rộng lớn xung quanh nó Do đó, sự cảm nhận về thế giới, về xã hội, về chính bản thân ảnh hưởng trực tiếp bởi thái độ, hành vi, niềm tin của bố mẹ Thông qua các thông tin thành văn và bất thành văn, cha mẹ đã truyền đạt lại cho con cái những giá trị, niềm tin, thái độ và cả những tri thức về thế giới xung quanh
Gia đình là cái gốc của con người, nơi con người sinh ra, bắt đầu một cuộc đời, bắt đầu sự nhận biết và trong suốt cuộc đời cho đến khi kết thúc Rõ ràng quá trình xã hội hóa của một người từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời có ảnh hưởng quyết định tới những thái độ và hành vi khi đã lớn Những gì mà cá nhân thu nhận được từ gia đình là rất đáng kể Một trong những khía cạnh thể hiện bản chất của mối quan hệ này là chức năng xã hội hóa của bố mẹ đối với con cái
Khi phân tích tác động của kinh tế thị trường đến mối quan hệ cha mẹ – con cái trong gia đình nông thôn khu vực châu thổ sông Hồng, Nguyễn Đức Truyến đưa ra nhận xét sau: “Đối với nhóm hộ kinh doanh phi nông nghiệp: Kinh tế thị trường kích thích chủ nghĩa cá nhân, làm suy yếu các chuẩn mực đạo đức gia đình nhất là quan hệ cha mẹ - con cái Bố mẹ thường thích ở riêng khi còn khả năng lao động Đối với nhóm hộ thuần nông: quan hệ cha mẹ - con cái được duy trì tốt hơn vì con cái vẫn phụ thuộc vào cha mẹ về mặt kinh
tế (đất ở, vốn sản xuất); có sự ưu tiên cho mối quan hệ cha mẹ, con cái, đặc biệt đối với người nuôi dưỡng cha mẹ khi về già, không nhất thiết phải là con trưởng Đối với nhóm kinh doanh hỗn hợp: sự tách biệt giữa quan hệ kinh tế
Trang 14và quan hệ gia đình đòi hỏi sự kết hợp giữa trật tự gia đình, quyền uy của cha
mẹ với con cái và sự mở rộng tính độc lập của con cái trong kinh doanh; quan
hệ cha mẹ – con cái cần có tính nghi lễ để duy trì tình cảm gia đình” [Nguyễn Đức Truyến, 1997]
Trong các vấn đề liên quan đến mối quan hệ cha mẹ và con cái thì vai trò của cha mẹ trong việc học tập của con được xem là một trong những yếu
tố quan trọng và gần đây đã có một số nghiên cứu đề cập đến vấn đề này Đặng Bích Thuỷ trong “Tìm hiểu về vai trò của cha mẹ trong việc học hành của con cái” đã chỉ ra rằng: trẻ em trong các gia đình dân tộc thiểu số ở Yên Bái chịu nhiều thiệt thòi về giáo dục do đói nghèo và thực tế là trẻ em sống ở các vùng sâu và ở rất xa các trường học Tuy nhiên, các gia đình ở đây vẫn ưu tiên cho con đi học vì họ hiểu được sự cần thiết phải đầu tư cho tương lai của con em mình bằng cách cho chúng học tốt hơn Rất nhiều phụ huynh mơ ước rằng con mình sẽ tìm được việc làm thoát ra khỏi nghề nông để có một cuộc sống tốt hơn, đỡ vất vả hơn cuộc sống mà họ đã trải qua [Trịnh Duy Luân,
2008, tr.23]
Cũng theo hướng phân tích này, bài viết của Nguyễn Thị Minh Phương
về “ảnh hưởng của địa vị xã hội của cha mẹ lên giáo dục đạt được của con cái” tại Tiền Giang thì cho thấy: địa vị xã hội của cha mẹ có ảnh hưởng nhất định đến việc học của con cái Tuy nhiên, ảnh hưởng này khá phức tạp và có thể bị can thiệp bởi nhiều yếu tố Học vấn của cha mẹ là một yếu tố quan trọng giải thích sự khác biệt về học vấn của con cái thuộc các gia đình có học vấn bố mẹ khác nhau Tuy nhiên, nếu mặt bằng học vấn chung của cha mẹ còn thấp dưới cấp trung học cơ sở thì sự khác biệt giữa hai nhóm trẻ thuộc cha mẹ có học vấn cấp tiểu học và trung học cơ sở sẽ không rõ lắm Sự khác biệt chỉ thực sự rõ khi bố mẹ có học vấn từ cấp ba trở lên Vấn đề là những đứa trẻ thuộc gia đình có bố mẹ học vấn cấp 3 trở lên sẽ có nhiều khả năng để
Trang 15học hết cấp 3 và học lên cao hơn Trong khi đó, những đứa trẻ có cha mẹ học vấn tiểu học hoặc trung học cơ sở thường kết thúc việc học hành ở trình độ trung học cơ sở và vì vậy chúng khó có thể có cơ hội có việc làm cao [Kết quả nghiên cứu khảo sát tại Tiền Giang, 2005]
Thái độ của các gia đình nông thôn với việc học tập của trẻ em cũng được thể hiện ở nguyện vọng, dự định của họ Có thể nói dự định “các con đều hết cấp II” được những người mù chữ tính tới nhiều nhất (100%), rồi đến những người biết đọc, biết viết (13,3%) Kết quả điều tra cho thấy, các bậc cha mẹ càng có trình độ học vấn cao thì càng mong muốn con cái học cao (hết cấp III) Con số này ở những người học hết cấp I là 1,2%, hết cấp II là 12%, hết cấp III là 14,2% và số người có trình độ đại học là 50% Xét theo nghề nghiệp, nhóm gia đình làm nghề “nông nghiệp kết hợp với nghề khác” có nhiều người mong muốn cho con học lên cao (16,9% tùy con trai, con gái hết phổ thông trung học) Dự định cho con học hết cấp III ở nhóm gia đình “phi nông nghiệp” cao hơn hẳn (30,4%) so với nhóm gia đình nông nghiệp (8,3%) [ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em, 2004]
Các nghiên cứu về mối quan hệ cha mẹ và con cái trong gia đình bao gồm cả mô hình sống giữa cha mẹ và con cái Đặc điểm cấu trúc hộ gia đình
có bố mẹ sống cùng với con cái đã trưởng thành và đã kết hôn: mô hình sống cùng con trai là chủ yếu Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là tỷ lệ bố/mẹ hoặc
cả hai bố mẹ sống cùng với con trai út đã có vợ cao hơn là sống cùng với con trai trưởng đã có vợ Kết quả phân tích cho thấy, khoảng 38% người trả lời mong muốn sống với con cái khi về già Trong dàn sếp sống chung này, mong muốn sống với con trai trưởng là chủ yếu, chiếm 29% trong tổng số người trả lời Điều đặc biệt khi so sánh giữa thế hệ già và thế hệ trẻ, tỷ lệ mong muốn sống chung với con cái của thế hệ trẻ giảm so với thế hệ già Điều đáng quan tâm là khoảng một nửa số người trả lời mong muốn sống riêng khi về già
Trang 16Điều này cho thấy một sự thay đổi đáng kể trong tâm thế hướng đến gia đình
mở rộng [Vũ Tuấn Huy, 2004, tr.139]
Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học và các bài viết phản ánh nhiều chiều cạnh về mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình nói chung và quan hệ giữa cha mẹ và con cái nói riêng Tuy nhiên, khi đề cập đến mối quan hệ này cũng còn một số điểm trống cần được làm rõ hơn, chẳng hạn sự lúng túng của lớp trẻ nông thôn trước khi bước vào lập nghiệp và vai trò của cha mẹ như thế nào trong việc định hướng cho con em mình hoặc quan niệm về ứng xử đạo đức của các bậc cha mẹ và con cái ở nông thôn hiện nay ra sao
Để tiếp tục có những đóng góp trong lĩnh vực này đề tài luận văn nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình nông thôn hiện nay” sử dụng số liệu điều tra tại địa bàn xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam thuộc Dự án “Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi”, luận văn cố gắng phân tích thực trạng mối quan hệ cha mẹ và con cái trong một số biểu hiện: mối quan tâm của cha mẹ trong việc học tập của con cái; cha mẹ trong việc định hướng nghề nghiệp cho con cái; quan hệ ứng xử đạo đức giữa cha mẹ và con cái Trong nghiên cứu, chúng tôi cũng kế thừa và tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến chủ đề này, đồng thời phát hiện thêm những vấn đề mới nhằm làm rõ hơn mối quan
hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình nông thôn hiện nay dưới tác động của sự chuyển đổi kinh tế - xã hội đang diễn ra hiện nay ở nước ta
3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Bằng cách phân tích các tác đông của điều kiện kinh tế – xã hội làm biến đổi văn hóa gia đình, các chức năng cơ bản của gia đình, vai trò xã hội của gia đình, đề tài góp phần bổ sung vào lý thuyết đã có với những luận
Trang 17điểm, lập luận về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình nông thôn hiện nay
- Phát hiện và khái quát những biểu hiện của những thay đổi chức năng
xã hội hóa của gia đình Việt Nam trong sự chuyển đổi từ truyền thống đến hiện đại
- Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của mối quan hệ giữa cha mẹ
và con cái trong việc xây dựng gia đình nông thôn ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ một số biểu hiện của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong đời sống gia đình nông thôn dưới tác động của những biến đổi kinh tế –
xã hội ở nước ta trong gia đoạn hiện nay
- Nghiên cứu đánh giá vai trò, sự tương tác, chức năng xã hội hóa và xã hội hóa trở lại giữa cha mẹ và con cái, những vai trò và chức năng này thay đổi như thế nào trong điều kiện biến đổi kinh tế xã hội như hiện nay
- Từ những phân tích về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình nông thôn hiện nay để hiểu rõ thực trạng cũng như sự biến đổi để đề xuất các giải pháp can thiệp
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số biểu hiện của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong đời sống gia đình nông thôn hiện nay
- Tìm hiểu về mối quan hệ của cha mẹ và con cái trong gia đình nông thôn tại xá Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam bao gồm: việc quan tâm của cha mẹ đối với việc học của con cái, định hướng nghề nghiệp, ứng xử đạo
Trang 18đức giữa cha mẹ và con cái trên cơ sở đó chỉ ra các yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái
- Đề xuất một số định hướng cơ bản nhằm đảm bảo tính liên tục của chức năng xã hội hóa của gia đình, góp phần xây dựng gia đình nông thôn mới ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong đời sống gia đình nông thôn hiện nay
Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua bảng câu hỏi dành cho các bậc cha mẹ trong các gia đình ở nông thôn Các đối tượng cung cấp thông tin khác gồm các cá nhân, các đại diện tổ chức đoàn thể, lãnh đạo địa phương, trường học trên địa bàn nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu là xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Nguồn số liệu sử dụng trong luận văn
Nguồn số liệu được sử dụng trong luận văn lấy từ số liệu gốc thuộc dự
án nghiên cứu liên ngành “Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi” (VS-RDE-05) với sự cho phép của Ban chủ nhiệm Dự án Dự án “Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi” là dự án nghiên cứu liên ngành thuộc chương trình hợp tác nghiên cứu Việt Nam - Thuỵ Điển do Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ quản và SIDA/SAREC tài trợ Dự án do Viện Xã hội học là cơ quan điều phối cùng với Viện Gia đình và Giới, Viện Dân tộc học và hai đối tác Thuỵ điển gồm Đại học Goteborg và Đại học Linkoping
Trang 19phối hợp thực hiện 2004 - 2008 Số liệu được trích dẫn trong đề tài lấy từ nguồn thông tin của dự án Thông tin định tính là của tác giả Ngoài ra, các số liệu khác dùng để so sánh đều có trích dẫn cụ thể
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Hệ thống lý luận, phương pháp luận của xã hội học đại cương trong việc giải thích các sự kiện, hiện tượng xã hội
Lý thuyết chức năng của xã hội học
Các lý thuyết xã hội học về xã hội hóa, về nhân cách và vai trò của gia đình trong việc hình thành nhân cách con người
Lý thuyết xã hội học gia đình
Lý thuyết tương tác biểu trưng
Phương pháp lịch sử cụ thể (phạm vi thời gian, không gian nghiên cứu khái quát)
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Sử dụng và phân tích thứ cấp các số liệu điều tra của dự án nghiên cứu
“Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi” (VS-RDE-05) nghiên cứu trường hợp xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Cuộc điểu tra được tiến hành năm 2008 do Viện Xã hội học (IOS) cùng hai đối tác Thuỵ điển gồm Đại học Goteborg và Đại học Linkoping, Viện Gia đình và Giới (IFGS)
và Viện Dân tộc học phối hợp thực hiện năm 2008 Tổng số mẫu được khảo sát là 302 gia đình thuộc xã Trịnh Xá
Phương pháp nghiên cứu định tính
Trang 20Tác giả tiến hành 15 phỏng vấn sâu và 5 thảo luận nhóm với các đối tượng là các bậc phụ huynh có con đang đi học, các bậc ông bà, các em đang trong độ tuổi đi học từ cấp Tiểu học đến PTTH
Thu thập các thông tin thứ cấp: luận văn sử dụng số liệu thông kê, báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, báo cáo của trường THPT Trịnh Xá, báo cáo của trường THCS Trịnh Xá Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng một số tài liệu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu được công bố trên các sách báo, tạp chí khoa học từ trước tới nay
7 Giả thuyết nghiên cứu
Thứ nhất: Sự chuyển đổi kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong hai thập kỷ
qua đã có những tác động làm cho quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình nông thôn hiện nay trở nên đa dạng và phức tạp hơn
Thứ hai: Có sự chuyển đổi trong chức năng xã hội hóa gia đình hiện
nay Quan hệ giữa cha mẹ và con cái thực chất là mối quan hệ tương tác nhiều chiều mà kết quả của nó là quá trình đan xen giữa những giá trị truyền thống
và những giá trị hiện đại
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 phần chính:
Phần I: Mở đầu
Giới thiệu khái quát nội dung của đề tài
Phần II: Nội dung chính
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương II: Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong đời sống gia đình nông thôn hiện nay
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Trang 212.2 Đặc điểm cấu trúc hộ gia đình được nghiên cứu
2.3 Cha mẹ với việc học tập của con cái
2.4 Cha mẹ với việc định hướng nghề nghiệp cho con
2.5 Quan hệ ứng xử đạo đức giữa cha mẹ và con cái
Phần 3: Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 22Phần II: Nội dung Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
của vấn đề nghiên cứu 1.1 Cở sở lý luận
Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó
có xã hội học Gia đình được hiểu là một thiết chế xã hội liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái Nhận thức được vị trí quan trọng của gia đình trong sự phát triển của xã hội nên từ rất lâu, vấn đề gia đình cũng đã được các nhà tư tưởng, các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và các lực lượng tiên tiến hết sức quan tâm, coi trọng Từ các trường phái khác nhau, các học giả phương tây áp dụng các cách tiếp cận của trường phái mình trong nghiên cứu về các vấn đề gia đình
Khoảng nửa cuối thế kỷ XIX, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã
có những đóng góp to lớn cho vấn đề nghiên cứu gia đình Các ông cho rằng gia đình là một tổ chức xã hội đặc biệt và mang tính xã hội cao Sự ra đời của gia đình đã gắn liền với sự hình thành xã hội với những cấu trúc chặt chẽ và logic Tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước” của F Engels được coi là một trong những tác phẩm dẫn đường cho trào lưu nghiên cứu về gia đình của thế kỷ XIX Trong cuốn sách này, vấn đề nguồn gốc của gia đình được soi sáng như là quá trình phát sinh của chế độ một vợ một chồng Quá trình này bị chế định – như F Engels đã nêu – không phải bởi tình yêu nam nữ - yếu tố được coi là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài và đầy mâu thuẫn của lịch sử, mà bởi sự hình thành chế độ tư hữu
và nhà nước
F Engels đặt lên hàng đầu nhiệm vụ nghiên cứu nguồn gốc của gia đình bằng cách xem xét sự vận động khách quan của quá trình đó đi từ chế độ quần hôn tới gia đình một vợ một chồng Ông cũng phân biệt các khái niệm
Trang 23“hôn nhân” và “gia đình” Khi nói đến hôn nhân, F Engels cho rằng trọng tâm ý nghĩa thường rơi vào mặt tính giao xác thịt trong quan hệ giữa đàn ông
và đàn bà, vào việc làm thỏa mãn những nhu cầu sinh dục Mức độ phát triển cao nhất của nó, như F Engels đã đặc biệt nhận xét, là tình yêu có chọn lọc giữa các cá nhân với nhau, với niềm hưng phấn bởi một tình cảm cao quý Vấn đề bảo đảm các nhu cầu sinh học khác, trước tiên là tư liệu sinh hoạt, cũng như việc sinh con đẻ cái và giáo dục chúng, trong trường hợp này, nổi lên như một nhu cầu thứ yếu, có thể phát sinh hoặc không phát sinh từ cuộc hôn nhân nói trên
Ngược lại, khái niệm gia đình thường gắn với hôn nhân và là khái niệm phát sinh từ chính hôn nhân, song không thể chỉ quy trực tiếp vào hôn nhân được Gia đình đòi hỏi phải có hành động tương hỗ giữa các cá thể trong quá trình thỏa mãn không chỉ các nhu cầu sinh dục, mà còn cả các nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, giáo dục và tình cảm Nó cũng bao gồm cả việc làm kinh tế chung, sinh con đẻ cái và giáo dục chúng, việc con cháu được thừa hưởng tài sản của tổ tiên v.v
Trong xã hội học, quan điểm của Parson (1955) coi gia đình là một tiểu
hệ thống xã hội (sub system) đã định hướng cho phần lớn công trình phân tích gia đình từ cách tiếp cận xã hội học trong thập niên 1950 từ các thông số tâm
lý (sinh vật học sang xã hội học thuần túy) Parson chứng minh tầm quan trọng của xã hội hóa và học hỏi vai trò xã hội, không những từ thời thơ ấu mà suốt cả cuộc đời Parson biện luận rằng sự khác biệt giữa vai trò làm mẹ và làm bố, là bằng chứng phân công lao động trong xã hội hiện đại Ông cho rằng trẻ em không có khả năng bẩm sinh gì ngoài khả năng sống còn cần thiết Vậy nên đứa trẻ phải học cách xin được thỏa mãn nhu cầu cũng như học thương yêu những ai thỏa mãn nhu cầu của nó Trong cuốn “Xã hội hóa gia đình và quá trình tương tác” của T Pasons và R F Bales (1955), Parson cũng
Trang 24nhấn mạnh ý kiến cho rằng gia đình chỉ là một hệ thống nhỏ trong hệ thống xã hội Dần dần có một tiểu hệ thống trong gia đình, như quan hệ giữa cha mẹ và con và tiểu hệ thống hôn nhân một vợ một chồng [Những bài giảng về xã hội học, 2006, tr 290]
Còn David M Newman trong tác phẩm “Xã hội học về gia đình” (1999) đã trình bày các định nghĩa về gia đình, hình thức tồn tại của gia đình, vấn đề quyền cá nhân và trách nhiệm của gia đình, mối quan hệ giữa đời sống gia đình và xã hội, hôn nhân và lao động, quyền của cha mẹ và con cái
Một đại biểu khác trong nghiên cứu về gia đình là August Comte (1798 – 1857), nhà triết học Pháp đồng thời là một trong những người sáng lập ra ngành xã hội học Ông cho rằng: gia đình là công cụ xã hội hóa cá nhân, chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống xã hội, là trường học của đời sống xã hội Gia đình là một tập đoàn xã hội cơ bản và quan trọng nhất Cơ sở gắn bó gia đình trong xã hội là kết quả hợp tác giữa các gia đình trong sự phân công lao động
Cũng trong giai đoạn này, còn có Le Play (1806-1882), nhà xã hội học Pháp, được coi là một trong những người đầu tiên đề xướng việc nghiên cứu thực nghiệm về gia đình Ông coi gia đình là một bộ phận của xã hội và do đó
có thể thông qua việc phân tích, mổ xẻ những quan hệ gia đình mà tiến tới phân tích toàn bộ xã hội Ông nhấn mạnh vào việc nghiên cứu ngân sách gia đình và cho rằng nó là một yếu tố quan trọng, sẽ quyết định toàn bộ đời sống gia đình cũng như các chức năng của gia đình
Ch H Cooley, nhà xã hội học Mỹ trong cuốn sách “Bản chất con người và trật tự xã hội” thì lại đưa ra quan điểm coi gia đình như là một thành
tố của cấu trúc xã hội Ông chia xã hội thành nhiều nhóm nhỏ có vai trò rất quan trọng trong quá trình xã hội hóa cá nhân Đưa hệ thống phương pháp
Trang 25luận có tính cơ cấu chức năng vào việc phân tích gia đình, Cooley và những học trò của ông đã có điều kiện để mổ xẻ, phân tích các quan hệ gia đình một cách cụ thể, sát thực, nhưng lại có phần coi nhẹ các nhân tố mang tính chủ thể như nhận thức, tâm lý, tâm trạng, các nhân tố về văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán trong sự vận động của các quan hệ gia đình
Từ giữa thế kỷ XX đến nay là giai đoạn có những biến đổi to lớn trong nghiên cứu và nhận thức khoa học về gia đình Trước đây, khái niệm gia đình chỉ được bao hàm hai người nam nữ khi họ đã cưới nhau và chung sống với con cái Người chồng là người duy nhất trụ cột gia đình và người vợ là người
ở nhà chăm sóc công việc gia đình và con cái Vào khoảng những năm 50 của thế kỷ XX, trong giới nghiên cứu rất thịnh hành một định nghĩa về gia đình:
“là một nhóm xã hội gồm hai hoặc nhiều người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nhận con nuôi nhằm thỏa mãn nhu cầu về xã hội về tái sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xác và tinh thần”
Tuy nhiên trên thực tế xã hội đang ngày càng phát triển, các hình thức gia đình cũng càng đa dạng và phức tạp Các hình thức như cặp vợ chồng; gia đình chỉ có một mẹ hoặc một cha; gia đình tái hôn; nam nữ sống chung mà không cưới; vợ chồng không có con; mẹ kế, cha dượng; cha mẹ và con nuôi
đã khiến những định nghĩa cứng nhắc như trên sẽ không còn phù hợp
Cách đây hơn một thế kỷ, F Engels (1848) đã mô tả gia đình như thể một cội nguồn căn bản của bất bình đẳng xã hội do vai trò của nó trong sự chuyển giao quyền lực, của cải và đặc quyền đặc lợi Gần đây hơn, các lý thuyết gia duy xung đột đã chủ trương rằng gia đình góp phần vào sự bất công
xã hội; phủ nhận các cơ hội của phụ nữ, những cơ hội vốn đang được mở rộng
ra cho nam giới Trái lại, quan điểm duy chức năng thì nhắm vào những
Trang 26phương cách mà qua đó gia đình đáp ứng nhu cầu của những thành viên của mình và góp phần vào sự ổn định xã hội
Phân tích các chức năng của gia đình, theo Mai Huy Bích, có hai tác giả chính đại diện cho thuyết chức năng - cấu trúc là George Murdock và Talcott Parsons Phân tích 250 xã hội, Murdock cho rằng ở tất cả các xã hội
đó, gia đình thực hiện 4 chức năng cơ bản và phổ biến mà ông gọi là chức năng tính dục, tái sinh sản, kinh tế và giáo dục Những chức năng này hết sức quan trọng đối với xã hội vì nếu không có chức năng tính dục và tái sinh sản,
sẽ không có các thành viên của xã hội Nếu không có chức năng kinh tế, ví dụ việc cung ứng và chế biến nấu nướng món ăn, cuộc sống sẽ không còn nữa
Và nếu không có chức năng giáo dục, tức xã hội hóa, sẽ không có văn hóa,
mà nếu không có văn hóa thì xã hội con người sẽ không thể vận hành
Đại biểu xuất sắc cho thuyết chức năng - cấu trúc là Parsons Theo ông, trong xã hội Mỹ hiện đại, gia đình vẫn còn hai chức năng “cơ bản và không thể quy giản” và hai chức năng này cũng chung cho gia đình ở mọi xã hội Đó
là “xã hội hóa sơ cấp đối với trẻ em và ổn định nhân cách người lớn” [Mai Huy Bích, 2003, tr.209]
Xã hội hóa trẻ con là nền tảng cho sự đúng vững của bất kỳ nền văn hóa nào Cách tiếp cận theo thuyết tương tác biểu trưng chủ yếu áp dụng vào quá trình xã hội hóa trẻ em Theo cách tiếp cận này, con người ta phát triển quan niệm về bản thân thông qua cái nhìn, quan điểm của người khác về họ thông qua sự tương tác với những tha nhân quan trọng (significant others), tức
là với những người đóng vai trò quan trọng trong đời sống cá nhân (như cha
mẹ, thầy cô giáo, bàn cùng tuổi )
Thuyết tương tác biểu trưng coi xã hội hóa là một quá trình theo đó trẻ
em tham gia vào sự hình thành bản sắc của mình Gần đây đã xuất hiện quan
Trang 27điểm coi đứa trẻ là một chủ thể hành động tích cực Theo họ, đứa trẻ cùng tạo nên sự phát triển của bản thân Ví dụ, một bà mẹ chỉ có thể dạy con mình đọc nếu đứa trẻ hợp tác với mẹ và tích cực tham gia Quan điểm này lấy cảm hứng
từ thuyết tương tác biểu trưng Như vậy, thuyết này đặc biệt bổ ích khi nghiên cứu mối quan hệ cha mẹ và con cái Nó sửa chữa những khiếm khuyết vốn có
ở lý thuyết trước đây về xã hội hóa và sự phát triển trẻ em khi coi trẻ em chỉ
là đối tượng thụ động nhận sự tác động của cha mẹ [Mai Huy Bích, 2003, tr 218]
Đặc điểm của quá trình xã hội hóa là các cá nhân không phải lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội ngay một lúc mà dần dần Cũng như vậy, các cá nhân không phải tiếp xúc với xã hội rộng lớn nói chung, không phải tham gia vào tất cả các tổ chức, môi trường xã hội mà thông qua những nhóm xã hội nhất định trong những giới hạn nhất định Xã hội hóa là quá trình đưa cá nhân vào một con số thiểu số các quan hệ xã hội Những quan hệ đó lúc đầu còn rất hạn hẹp rồi càng ngày càng mở rộng ra Những môi trường vi mô có vai trò cực
kỳ quan trọng Chính môi trường vi mô có ảnh hưởng và quyết định đối với việc hình thành nhân cách con người Một trong những môi trường vi mô quan trọng nhất thực hiện chức năng xã hội hóa là GIA ĐìNH Từ lúc sinh ra cho đến tuổi thiếu niên và ngay cả ở lứa tuổi trưởng thành, ảnh hưởng của gia đình vẫn rất quan trọng
- ở giai đoạn tuổi ấu thơ: Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên của đứa trẻ Chỉ sau khi sinh ra không lâu, trẻ sơ sinh đã hướng về thế giới xung quanh và bắt đầu quá trình học hỏi Sự chăm sóc của các thành viên trong gia đình (bố, mẹ) như cho ăn, tắm rửa và cách thức chăm sóc như giờ giấc ăn, ngủ đã giúp trẻ đào luyện các thói quen Giai đoạn này gia đình là môi trường xã hội hóa và tác nhân xã hội hóa duy nhất
Trang 28- ở giai đoạn tuổi mẫu giáo, nhi đồng: cùng với việc tiếp tục đào luyện các thói quen, trẻ bắt đầu tập đóng các vai trò của người lớn, chúng mô phỏng hoạt động và quan hệ xã hội của người lớn thông qua các trò chơi Bên cạnh gia đình, ở giai đoạn này, trẻ em bắt đầu có những mối quan hệ với xã hội bên ngoài, mở rộng giao tiếp và bắt đầu chịu ảnh hưởng của bạn bè, nhà trường, tivi, tranh ảnh Gia đình có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và hướng dẫn các hoạt động của trẻ em: xem sách gì, học trường nào, bao giờ được xem
ti vi và xem chương trình nào, chơi với ai Gia đình giúp trẻ nhận thức cái đúng, cái sai, cái được phép, cái không được phép
- ở lứa tuổi thiếu niên, trẻ em tiếp xúc đa dạng với thế giới xung quanh, hình thành những giá trị, chuẩn mực, thiết lập quan hệ với những người xung quanh trước hết là với những người trong gia đình, thử sức trong các quan hệ
xã hội, tiến tới hình thành nhân cách độc lập ở giai đoạn này gia đình giúp đỡ
và cung cấp cho các em những kinh nghiệm xã hội trong quan hệ và ứng xử với những người xung quanh động viên thông cảm và nâng đỡ các em khi thất bại và nản chí, giúp các em có những kiến thức, hiểu biết cần thiết để tự chủ ở giai đoạn tiền dậy thì khi cơ thể có những thay đổi lớn
Trong gia đình, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái ở lứa tuổi này có nhiều phức tạp Những điểm cọ sát thường gặp ở lứa tuổi này là vấn đề học hành, nghề nghiệp và quan hệ bạn bè Hầu hết thanh thiếu niên đều phải tim
và chọn cho mình một nghề trong tương lai và việc định hướng học tập hoặc định hướng nghề thì quyết định khởi đầu là bố mẹ Lúc này bố mẹ vừa là người có trách nhiệm vừa phải là người bạn lắng nghe những băn khoăn, trăn trở, chia sẻ, giúp đỡ để có được một định hướng tốt nhất cho con cái ở cả hiện tại và tương lai
Trang 29- ở giai đoạn chuẩn bị kết hôn và làm cha mẹ, những vai trò của người
vợ, người chồng, người mẹ, người cha được nhận thức từ trong gia đình qua cách ứng xử của cha mẹ đối với nhau và thái độ tình cảm của cha mẹ đối với con cái Gia đình tạo cho cá nhân động cơ và mong muốn đi tới kết hôn và giúp cho cá nhân biết cách ứng xử khi họ kết hôn Một người trước khi bước vào hôn nhân thường đã quan sát hôn nhân của cha mẹ Mô hình hôn nhân của cha mẹ có vai trò cực kỳ quan trọng đối với xã hội hóa vai trò hôn nhân
và làm cha mẹ của con cái
- ở giai đoạn bước sang tuổi già, những người trẻ tuổi có thể hình dung được cuộc sống của mình khi bước sang tuổi già sẽ diễn ra như thế nào chính
là nhờ quan sát cuộc sống của những người già trong gia đình (cha me, ông bà ) Do đó, người ta biết được cách chuẩn bị cho tuổi già Nói cách khác là người ta học được cách trở thành người già, kể cả việc phải học cách sống phụ thuộc vào người khác sau những năm dài họ đã từng có cuộc sống độc lập Gia đình giúp người ta đương đầu được với tuổi già và cái chết Do hiểu biết cuộc sống của người già trong gia đình mà người ta đã biết già đi một cách đẹp đẽ
Xã hội hóa không chỉ cần thiết đối với con cái, đối với trẻ em mà còn cần thiết đối với bố mẹ và người lớn tuổi Đó là tính chất hai chiều của quá trình xã hội hóa (hay quá trình xã hội hóa trở lại (reverse socialzation) Xã hội hóa không chỉ gồm những điều cha mẹ truyền cho con cái mà còn cả những điều con cái truyền cho cha mẹ mình Xã hội hóa có vai trò to lớn trong việc hình thành nhân cách của thế hệ tương lai Nó giúp đỡ người lớn tuổi, người già đảm nhận các vai trò xã hội, đương đầu với những khó khăn, phức tạp trong cuộc sống Xã hội hóa gia đình góp phần tạo ra sự bình ổn và trong sạch của môi trường sống, của sự phát triển xã hội Nó có những ưu thế độc đáo trong sự phân công, hợp tác với các thiết chế xã hội khác
Trang 30Như vậy, các nhà xã hội học đã có những phân biệt rõ nét từng giai đoạn của quá trình xã hội hóa cá nhân, tuy nhiên trong luận văn này, tác giả muốn nhấn mạnh đến vai trò xã hội hóa ở giai đoạn thiếu niên ở thời điểm này cha mẹ có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ học tập, hướng nghiệp, giáo dục cách ứng xử đạo đức cho các em Hơn thế nữa, bất cứ lúc nào người ta cũng có thể được xã hội hóa Do đó, thông qua tương tác, bên cạnh việc cha mẹ hiểu được nguyện vọng của con cái, họ còn tìm ra lỗ hổng kiến thức của bản thân trước một xã hội đang thay đổi từng ngày từng giờ, từ đó các bậc cha mẹ có những ứng xử thích hợp hoặc trau dồi thêm kiến thức, kinh nghiệp để phù hợp với thực tế trong việc giáo dục con cái
1.2 Các khái niệm
1.1.1 Gia đình
Gia đình là một phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người và đã không ngừng biến đổi cùng với bước tiến của nền văn minh nhân loại Là thiết chế cơ sở của xã hội, gia đình từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Gia đình là một tế bào xã hội và là một thiết chế
xã hội có tính lịch sử và tính toàn cầu Là một yếu tố năng động, một khái niệm phức tạp, vì vậy khái niệm gia đình có nhiều cách biểu đạt và có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau
Gia đình là một tổ chức xã hội, được hình thành bởi một nhóm gồm ít nhất hai thành viên, tồn tại có tính lịch sử, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nhận nuôi; các thành viên có các quyền và nghĩa vụ với nhau tuân theo chuẩn mực xã hội và pháp luật quy định nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng tư và thỏa mãn những nhu cầu của xã hội
cả trên phương diện vật chất và tinh thần
Trang 31Theo quan điểm của nhà nhân chủng học người Pháp Levy Straus thì, gia đình là một nhóm xã hội được quy định bởi ba đặc điểm thường thấy nhiều nhất:
chất kinh tế, cấm đoán tình dục gắn với các thành viên và những ràng buộc về tình cảm, tâm lý, tình yêu, tình thương và sự kính trọng sợ hãi [Chung á-Nguyễn Đình Tấn, 1996, tr.189]
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1845), khi luận chứng về những tiên đề, điều kiện cho sự tồn tại của con người, K Marx và F Engels đã cho rằng: “Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ
và con cái, đó là gia đình” [K Marx và F Eghels, 1999] Quan niệm này cho thấy, thứ nhất, gia đình ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người, con người cùng với quá trình tái tạo ra bản thân mình thì đồng thời cũng rạo ra gia đình Thứ hai, chức năng chính của gia đình là tái tạo ra con người – chức năng tái sản xuát con người Thứ ba, gia đình được cấu thành bởi hai mối quan hệ chủ yếu: quan hệ hôn nhân (vợ – chồng) và quan hệ huyết thồng (cha mẹ – con cái)
Gia đình có thể được hiểu theo quan điểm của A.G Kharchep, trong tác phẩm “Hôn nhân và gia đình ở Liên xô” ông đã coi gia đình là một hệ thống
cụ thể lịch sử các mối quan hệ qua lại giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, là một nhóm nhỏ xã hội trong đó các thành viên liên quan với nhau bởi các mối quan hệ hôn nhân, họ hàng và nhận con nuôi, bởi sự chung sống và
có trách nhiệm đạo đức với nhau và tính tất yếu của nhóm xã hội này được
Trang 32quy định bởi nhu cầu của xã hội về tái sản xuất dân số, về thể chất và tinh thần
Hướng tới việc xây dựng gia đình bền vững, tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc đã quyết định lấy năm 1994 là năm Quốc tế về gia đình và khẳng định: Gia đình là một yếu tố tự nhiên và cơ bản, một đơn vị kinh tế của
xã hội Gia đình được coi như một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại, cần được giữ gìn và phát huy Trên tinh thần đó, UNESCO đã đưa ra định nghĩa
về gia đình: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có ngân sách chung”
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, (năm 2000): “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan
hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau”
[Giáo trình dân số và phát triển, 2005, tr.288]
Dưới giác độ xã hội học, gia đình thuộc phạm trù cộng đồng xã hội Các nhà xã hội học đưa ra khái niệm về gia đình như sau: Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính chất tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người” [Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng, 2006, tr.306]
Như vậy, khi bàn tới khái niệm gia đình còn rất nhiều vấn đề phải tìm hiểu và nghiên cứu Như trên đã trình bày, có rất nhiều định nghĩa khác nhau
về gia đình nhưng khái quát lại chúng ta có thể thống nhất: gia đình là một nhóm xã hội cơ bản hình thành trên hai mối quan hệ cơ bản, đó là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống được nhà nước và xã hội thừa nhận
Trang 331.1.2 Nông thôn
Nông thôn và đô thị là những vùng lãnh thổ có những nét nổi bật cơ bản ở chỗ cả hai không có một ranh giới rõ rệt Nhưng cả hai đều có một mối liên hệ khăng khít với nhau ở chỗ các khu vực nông thôn luôn gắn liền với một trung tâm của nó - đó là những vùng đô thị, hay chí ít ra mang những nét
cơ bản của đô thị Trong lòng các vùng nông thôn luôn tồn tại một trung tâm như thế Khi đó cần chú ý đến sự giáp ranh giữa hai khu vực Trong thực hiện phát triển xã hội giữa nông thôn và đô thị có một vùng “mờ” pha tạp giữa nông thôn và đô thị – vùng đô thị hóa và cùng ven đô
Theo quan niệm của xã hội học Trung Quốc, thị trấn “đầu là nông thôn, đuôi là thành phố” và vì vậy thị trấn và dưới nó là thị tứ không thuộc vào đô thị [Tô Duy Hợp, 1997, tr.177] V Staroverov – nhà xã hội học người Nga đã đưa ra một định nghĩa khá bao quát về nông thôn khi ông cho rằng: “nông thôn với tư cách là một khách thể nghiên cứu xã hội học về một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã định hình từ lâu trong lịch sử Đặc trưng của phân
hệ xã hội này là sự thống nhất đặc biệt của môi trường nhân tạo với các điều điều kiện địa lý tự nhiên ưu trội, với kiểu loại tổ chức xã hội phân tán về mặt không gian” Đồng thời ông phân biệt nông thôn với đô thị bởi những đặc điểm sau: a) trình độ phát triển kinh tế – xã hội thấp kém; b) thua kém hơn về mức độ phúc lợi xã hội, sinh hoạt, điều này thể hiện rõ trong cơ cấu xã hội và trong lối sống của cư dân nông thôn; c) thua kém về độ đa dạng của hoạt động lao động; d) có độ thuần nhất cao hơn về xã hội cũng như về nghề nghiệp Nông thôn là một hệ thống độc lập tương đối ổn định, là một phân hệ xã hội xét về mặt phân biệt lãnh thổ Các thành phần cơ bản của nó đồng nhất với đô thị, song mặt khác lại chia cắt với đô thị Nông thôn và đô thị hợp lại thành chỉnh thể xã hội và lãnh thổ” [Tô Duy Hợp, 1997, tr.398] Chính vì thế, có
Trang 34thuật ngữ “sự tiếp nối cộng đồng - đô thị (Folk – urban continuum), một thuật ngữ chỉ sự chuyển đổi các xã hội nông thôn thành đô thị
Một trong những lĩnh vực nghiên cứu chủ chốt của xã hội học nông thôn là “các vấn đề hoạt động của các hệ thống xã hội ở nông thôn và sự biến đổi giá trị”, điều này càng quan trọng đối với Việt Nam, khi mà quá trình “đô thị hóa cưỡng bức” thường diễn ra (sau một đêm tỉnh dậy, xã trở thành phường) Chính quá trình đô thị hóa gấp gáp này mới chỉ đạt được đô thị về mặt hành chính chứ chưa đạt được nếp sống đô thị Nói cách khác, dù đã thành người dân đô thị, nhưng về bản chất và các giá trị xã hội, phong tục tập quán vẫn là nông dân, sự biến đổi giá trị trong lối sống, quan hệ xã hội của người dân vẫn đậm chất nông dân, nông thôn
1.1.3 Xã hội hóa
Xã hội hóa là quá trình các cá thể tiếp thu, học tập văn hóa xã hội mà cá nhân sinh ra tức là lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội, học những cái gì phải làm, những cái gì không được làm, học ngôn ngữ, học chuẩn mực giá trị xã hội để thích ứng được với xã hội Đó là một thuật ngữ chỉ quá trình nhờ đó nền văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Thực chất của xã hội hóa là quá trình chủ thể hóa các tri thức của xã hội, là sự tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm xã hội nói chung thông qua lăng kính chủ quan và sự xét đoán của mỗi cá nhân Điều đáng lưu ý là ở chỗ, sự xét đoán đó cũng là sản phẩm của sự tương tác giữa cá nhân và xã hội bên ngoài Theo ý nghĩa đó, sự tiếp nhận tri thức kinh nghiệm xã hội thông qua giáo dục phải là nội dung cơ bản và quan trọng nhất của xã hội hóa (đặc biệt đối với xã hội công nghiệp phát triển) ở đây, sự khác biệt giữa xã hội hóa và giáo dục là ở chỗ: giáo dục là một sự tác động của chủ thể giáo dục để truyền đạt các tri thức và kinh nghiệm xã hội – tức là tri thức hóa và nghề nghiệp hóa
Trang 35con người; còn xã hội hóa lại chủ yếu nhấn mạnh đến quá trình tiếp nhận tri thức của các cá nhân đối với các tác động xã hội (kể cả chủ động và không chủ động) thông qua con đường chính thức
Xã hội hóa là mối liên hệ cơ bản giữa cá nhân và xã hội – một mối liên
hệ sống còn đến mức cả cá nhân và xã hội đều không thể tồn tại nếu thiếu nó Một mặt, xã hội hóa cho phép cá nhân học hỏi những điều cơ bản đối với đời sống xã hội Bằng cách đáp lại sự tán thành hoặc không tán thành của cha mẹ
và mô phỏng tấm gương của họ, đứa trẻ học ngôn ngữ và nhiều mô hình hành
vi cơ bản trong xã hội của nó Mặc khác, xã hội hóa cho phép xã hội tái tạo lại bản thân nó về mặt văn hóa cũng như mặt sinh học, do đó đảm bảo tính liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác Con người chỉ có thể thực sự là con người thông qua sự tương tác với những người khác Không có xã hội hóa con người không thể hình thành nhân cách và không thể đương đầu với ngay cả những thách thức đơn giản nhất của cuộc sống
Sự học hỏi của cá nhân không chỉ dừng lại ở tuổi thơ mà kéo dài suốt
cả cuộc đời Vì thế, quá trình xã hội hóa cũng không chỉ diễn ra ở lứa tuổi đang lớn mà cả khi trưởng thành, cho đến lúc chết Xã hội hóa biến đổi và luôn đòi hỏi các thành viên phải học hỏi để không ngừng đáp ứng nhu cầu của
Trang 36được thừa nhận Một trong những định nghĩa được chấp nhận rộng rãi trong khoa học xã hội, coi giá trị như là những quan niệm về cái đáng mong muốn ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn Trong cách nhìn rộng rãi hơn thì bất kỳ cái gì tốt xấu đều là giá trị hay giá trị là điều quan tâm đến chủ thể
Như vậy, mọi giá trị dường như chứa đựng một yếu tố nhận thức Chúng có tính chất hướng dẫn và lựa chọn Chúng cũng gồm một số yếu tố tình cảm, vì chúng thể hiện những gì chúng ta thấy cần phải bảo vệ Khi được nhận thức một cách công khai đầy đủ các giá trị trở thành tiêu chuẩn cho sự
ưa thích, lựa chọn và phán xét Vậy giá trị mà ta cho là có, mà ta thích, ta cho
là quan trọng để hướng dẫn cho hành động của ta [Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng, 2006, tr.249]
+ Chuẩn mực là tổng thế những mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc của xã hội được ghi nhận bằng lời, bằng ký hiệu hay bằng các biểu trưng cho hướng cơ bản đối với các thành viên trong xã hội Những mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc xã hội đó xác định rõ cho mọi người những việc nào nên làm và những việc nào không nên làm Cần phải xử sự như thế nào cho đúng trong các tình huống khác nhau
Chuẩn mực được đưa ra với sự cân nhắc của cơ cấu xã hội, của quyền lợi nhóm, của hệ thống các mối quan hệ giữa các thành viên của xã hội về cái cần, cái được phép, cái có khả năng, cái mong muốn hay cái không mong muốn, không được phép Chuẩn mực thực hiện chức năng liên kết, điều chỉnh
và duy trì quá trình hoạt động của xã hội như là hệ thống của các mối quan hệ tác động lẫn nhau của các cá nhân, các nhóm xã hội Phạm vi của chuẩn mực rất rộng bao gồm những đạo luật, những quy tắc chặt chẽ nhất cho đến những quy định lỏng lẻo giữa một số người với nhau [Phạm Tất Dong-Lê Ngọc Hùng, 2006, tr.252] Quá trình xã hội hóa được phân ra thành hai cấp độ:
Trang 37- Xã hội hóa cơ cấp (Primary Socialization): là sự học hỏi đầu tiên trong
đời, cung cấp nền tảng cho sự nhận thức bản thân và thế giới xung quanh để mở đường cho hành động xã hội
- Xã hội hóa thứ cấp (Secondary Socialization): là sự học hỏi của cá
nhân nhằm mở rộng hiểu biết, kỹ năng đáp ứng các mong đợi của xã hội, của cộng đồng, của nhóm
Là một trong những thiết chế cơ bản của xã hội, gia đình đảm nhận chức năng tái sản xuất ra con người Trong sự phát triển lịch sử, các chức năng của gia đình đã có nhiều biến động Một số chức năng của gia đình truyền thống bị mất
đi hay bị thay thế bằng các chức năng khác phù hợp hơn Gia đình không chỉ tái sản xuất ra con người về mặt thể chất mà còn tái sản xuất ra đời sống tình cảm, tâm hồn, văn hoá, tức là xã hội hoá Trong trường hợp này mối tương tác giữa cha mẹ và con cái là nhân tố chính trong quá trình xã hội hoá Những chuẩn mực giá trị của nền văn hoá xã hội được đứa trẻ tiếp nhận trực tiếp, cụ thể thông qua gia đình mà trước hết là qua bố mẹ Đối với đứa trẻ, gia đình là mô hình xã hội đầu tiên được cảm nhận trực tiếp, thông qua những mối quan hệ trong gia đình Chính vì vậy, luận văn sử dụng khái niệm xã hội hoá là công cụ để giải thích quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình
Chương 2: Một số quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong đời sống gia
đình nông thôn hiện nay
2.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu
Vị trí địa lý
Xã Trịnh Xá thuộc phía tây huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, nằm trong vùng ô trũng châu thổ sông Hồng, đất đai màu mỡ do phù sa bồi đắp, tích tụ bởi hệ thống sông ngòi chằng chịt Trịnh Xá phía bắc giáp xã Đinh Xá, phía Nam giáp xã Đôn Xá, phía Đông giáp xã Tràng An, phía Tây giáp xã Liêm Phong và Liêm Tiết thuộc huyện Thanh Liêm Diện tích tự nhiên của xã là
Trang 38608,12 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 415 ha (Lịch sử đảng bộ xã Trịnh Xá 1950 - 2005) Điều kiện tự nhiên thích nghi với sản xuất nông nghiệp cây lúa nước và trồng cây ăn quả nhiệt đới
Dân số và phân bố dân cư
Dân số toàn xã có 5.381 người, tỷ lệ nữ chiếm hơn 50% gồm 2.323
Xã có 8 thôn: Tràng, Thượng, Nguyễn, Bùi, Hoàng, An, Đôn Vượt và Đôn Trung Tỷ lệ hộ nghèo là 8,7%,
tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 1% Cư dân Trịnh Xá có truyền thống siêng năng, cần cù trong lao động sản xuất và học tập
Đặc điểm kinh tế
Về cơ bản, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu (828 ha), bên cạnh đó còn trồng các loại cây như đậu tương (105 ha), dưa hấu (7 ha), bí xanh (1,5 ha) Ngành chăn nuôi quy mô nhỏ (gia đình) là chính với vật nuôi là trâu, bò, lợn
và gia cầm Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp hầu như chưa có
Trong cơ cấu lao động nghề nghiệp phản ánh rõ hơn cơ cấu kinh tế với 74% tổng số lao động nông nghiệp, 5% lao động CN-XD, 21% lao động dịch
vụ Có một số lao động đi làm thuê ở ngoại tỉnh lúc nông nhàn, một số lao động đi xuất khẩu ở Malaisia
Về giáo dục
Công tác giáo dục được quan tâm nhiều, trên địa bàn xã hiện có 3 trường học (01 trường mầm non, 01 trường Tiểu học và 01 trường THCS)
+ Cấp tiểu học: năm học 2008 - 2009, thực hiện phổ cập giáo dục đúng
độ tuổi có 345/345 học sinh, đạt 100% Trong đó:
- Danh hiệu học sinh giỏi: 82/345 = 23,76%
1
Theo số liệu thống kê năm 2000 của xã Trịnh Xá
Trang 39- Danh hiệu học sinh tiên tiến là: 84/345 = 24,34%
- Học sinh tuyên dương là 19/345 = 5,5%
- Huy động 59/59 trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100% Học sinh 14 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học 96/96 đạt 100%
- Đội tuyển học sinh giỏi khối 5 thi cấp tỉnh có 3 học sinh đạt giải ba Trong kỳ thi học sinh giỏi cấp trường của lớp 1,2,3,4 có 43 em tham dự thì có
38 em đạt giải trong đó có 5 giải nhất, 11 giải nhì, 11 giải 3 và 11 giải khuyến khích
Trường tiểu học Trịnh Xá có 11 phòng học, trong đó có 11 phòng học cao tầng kiên cố Trường có 11 bộ đồng bộ trang thiết bị và 148 bộ bàn ghế hai chỗ ngồi, một máy chiếu đa năng hỗ trợ các tiết dạy Trong mỗi phòng học có bảng chống lóa, quạt, hệ thống chiếu sáng, tủ và các trang thiết bị khác
+ Cấp THCS: năm học 2008 - 2009 có tổng số 381 học sinh chia làm
11 lớp học Kết quả xếp loại văn hóa: 8.2% đạt loại giỏi, 40.6% đạt loại khá, 50.5% đạt loại trung bình, 0.7% đạt loại yếu Tỷ lệ lên lớp là 98.8%, thi lại là 1.2% Kết quả được công nhận tốt nghiệp 116/116 đạt 100% Số học sinh thi vào PTTH 2008 – 2009 là 74/97 đạt 76.3%
Trường THCS Trịnh Xá hiện có 10 phòng học cao tầng, trang thiết bị tương đối phong phú phục vụ cho dạy và học Tuy nhiên, còn chưa có các công trình bổ trợ cho giảng dạy như: phòng bộ môn, thư viện, thiết bị trường còn phải học 2 ca
2.2 Đặc điểm cấu trúc hộ gia đình được nghiên cứu
+ Về cơ cấu giới: Kết quả khảo sát từ 302 hộ gia đình trong đó tỷ lệ nam chiếm 46% và nữ chiếm 54%
Trang 40+ Về trình độ học vấn: Qua điều tra có 5.6% số người được hỏi có trình
độ cấp tiểu học, 77.2% có trình độ THCS, 15.6% có trình độ THPT, 1% là trình độ CĐ, ĐH và 0.7% là mù chữ/không đi học
+ Về nghề nghiệp: 79.1% số người được hỏi làm nông nghiệp, 7.3% làm dịch vụ/kinh doanh, 4.0% là bộ đội/công an, 6.3%: công nghiệp, 1.5%: không nghề nghiệp, 1.7%: khác
+ Về thu nhập: Thu nhập trung bình của các hộ gia đình khoảng 25 triệu đồng/năm, trong đó 50.2% số gia đình có mức sống trung bình, 23.3%: khá hơn trung bình, 11.6%: kém hơm trung bình, 6.0%: khá giả, 9.0%: nghèo
Trong tổng số 302 hộ gia đình được khảo sát có 198 hộ có con đang đi học chiếm 62.6%, 18 hộ không có con cháu đang đi học chiếm 6.0% và 95 hộ không có con cháu trong độ tuổi đi học chiếm 31.5%
Xem xét mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái có rất nhiều lĩnh vực cần được quan tâm như: lĩnh vực học tập, nghề nghiệp của con cái, ứng xử đạo đức trong gia đình, mô hình sống chung giữa cha mẹ và con cái, sự giúp đỡ nhau giữa các thế hệ Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả chỉ đề cập đến một số quan hệ thiết yếu giữa cha mẹ và con cái trong đời sống gia đình nông thôn hiện nay, cụ thể là:
- Cha mẹ với việc học tập của con cái,
- Cha mẹ với việc định hướng nghề nghiệp cho con,
- Quan hệ ứng xử đạo đức giữa cha mẹ và con cái
2.3 Cha mẹ với việc học tập của con cái
2.3.1 Nhận thức của cha mẹ đối với việc học tập của con cái
Nhận thức về giá trị của việc học tập là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến mức độ quan tâm và đầu tư cho việc học tập của con cái