1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng thế sự và triết lý trong thơ chế lan viên giai đoạn sáng tác sau 1975 luận văn thạc sĩ ngữ văn

134 1,6K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cảm hứng thế sự và triết lý trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sáng tác sau 1975
Tác giả Nguyễn Văn Hoàng Hạnh
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 741,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên quan gần xa với đề tài Cảm hứng thế sự và triết lý trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sáng tác sau 1975, chúng tôi nhận thấy có các bài nghiên cứu nổi bật như Tính triết lý trong thơ

Trang 1

NGUYỄN VĂN HOÀNG HẠNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2012

Trang 2

NGUYỄN VĂN HOÀNG HẠNH

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHAN HUY DŨNG

NGHỆ AN - 2012

Trang 3

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Phan HuyDũng - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoànthành luận văn.

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Ngữ văn Trường Đại học Vinh đã quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôixuyên suốt quá trình học tập và nghiên cứu

-Tôi xin chân thành cám ơn, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ,tạo điều kiện để tôi nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn này

Vinh, tháng 10 năm 2012

Tác giả

Nguyễn Văn Hoàng Hạnh

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của luận văn 4

7 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HÀNH TRÌNH THƠ CHẾ LAN VIÊN VÀ NHỮNG CẢM HỨNG LỚN TRONG THƠ ÔNG 5

1.1 Hành trình thơ Chế Lan Viên 5

1.1.1 Giai đoạn sáng tác trước năm 1945 5

1.1.2 Giai đoạn sáng từ năm 1945 đến 1980 9

1.1.3 Giai đoạn sáng tác cuối đời 13

1.2 Những cảm hứng trong thơ Chế Lan Viên 14

1.2.1 Cảm hứng về thế giới phi thường, về cõi siêu hình 14

1.2.2 Cảm hứng sử thi, lãng mạn 18

1.2.3 Cảm hứng thế sự 25

1.2.4 Cảm hứng triết luận, triết lý 31

1.3 Nét chung và nét riêng giữa hành trình thơ Chế Lan Viên với hành trình thơ những nhà thơ mới theo cách mạng 36

1.3.1 Nét chung 36

1.3.2 Nét riêng 37

1.3.3 Những bài học về tư tưởng và nghệ thuật 38

Trang 5

SÁNG TÁC SAU 1975 40

2.1 Những dấu hiệu chuyển biến của thơ Việt Nam sau 1975 40

2.1.1 Những nguyên nhân đưa đến sự chuyển biến 40

2.1.2 Sự nhạt nhòa dần của cảm hứng sử thi 41

2.1.3 Những tìm tòi nghệ thuật tương ứng với nguồn cảm hứng mới 43

2.2 Những khía cạnh nổi bật của cảm hứng thế sự trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sáng tác sau 1975 45

2.2.1 Tìm vẻ đẹp thơ ở những sự bình dị của đời thường 45

2.2.2 Quan tâm đến con người cá nhân và những nỗi đau của nó 50

2.2.3 Chú ý khám phá bản chất phong phú vô tận của cuộc sống 53

2.3 Những khía cạnh nổi bật của cảm hứng triết lý trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sáng tác sau 1975 57

2.3.1 Suy tư về cuộc sống và cái chết 57

2.3.2 Suy tư về sự mê lầm và giác ngộ 60

2.3.3 Suy tư về sự tùy thời và sự khẳng định bản lĩnh 64

2.3.4 Suy tư về ý nghĩa đích thực của nghệ thuật 68

2.4 Sự thống nhất giữa cảm hứng thế sự và cảm hứng triết lý trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sáng tác sau 1975 78

Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CẢM HỨNG THẾ SỰ VÀ TRIẾT LÝ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN GIAI ĐOẠN SÁNG TÁC SAU 1975 81

3.1 Nhìn chung về nghệ thuật thơ Chế Lan Viên 81

3.1.1 Hệ thống hình ảnh tân kỳ 81

3.1.2 Mật độ dày đặt của các biện pháp tu từ 85

Trang 7

3.2.1 Xây dựng tứ thơ từ những câu chuyện đơn sơ của đời sống sinh

hoạt 97

3.2.2 Chọn lối diễn tả bình dị 101

3.2.3 Dùng giọng điệu tâm tình nhỏ nhẹ 103

3.3 Nghệ thuật thể hiện cảm hứng triết lý trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sáng tác sau 1975 105

3.3.1 Huy động tối đa vốn kiến thức dồi dào về văn hóa, văn học 105

3.3.2 Sử dụng thường xuyên biện pháp đối lập - tương phản 108

3.3.3 Triển khai bài thơ trên nền tự vấn 111

3.3.4 Chọn giọng điệu hoặc chua chát hoặc thản nhiên 115

KẾT LUẬN 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn, một nhà hoạt động văn hóa có vịtrí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại Trong cuộc đời sáng tạonghệ thuật của mình, Chế Lan Viên đã để lại một di sản thơ và văn xuôiphong phú bao gồm trên mười tập thơ, hàng chục tập bút ký, tiểu luận, phêbình đã xuất bản và hàng ngàn trang di cảo mới được tập hợp bước đầu, in

thành 3 tập Di cảo thơ Vì những đóng góp to lớn đối với nền văn học nước

nhà, ông được nhận Huân chương Độc lập hạng II năm 1988, được truy tặngGiải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 1997 Sự nghiệp sángtác của Chế Lan Viên từ lâu đã được giới nghiên cứu phê bình chú ý tìm hiểu

Đã có nhiều bài viết, công trình có giá trị, chứa đựng nhiều phát hiện sâu sắc

về thơ Chế Lan Viên ra đời Tuy nhiên, với một tác gia lớn như Chế LanViên, việc nghiên cứu vẫn cần phải được tiếp tục Hy vọng từ nhiều góc nhìnkhác nhau, tầm vóc thơ của Chế Lan Viên ngày càng được nhận thức mộtcách đầy đủ, toàn diện hơn

1.2 Sau năm 1975, "thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và

những trăn trở của cái "tôi" trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống" Phong cách thơ Chế Lan Viên nổi bật với "chất suy tưởng triết lí mang

vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa" Đặc biệt, ở nhiều bài thơ trong Di cảo,

nhất là những bài viết vào khoảng thời gian 1987 - 1988, người đọc nhậnthấy sự tự vấn da diết của Chế Lan Viên Nghiên cứu sự thống nhất củaphong cách thơ Chế Lan Viên qua các giai đoạn sáng tác là rất cần thiết.Nhưng việc chỉ ra sự biến động của phong cách ấy ở từng thời điểm mộtcũng là một việc làm có nhiều ý nghĩa Điều này sẽ giúp chúng ta nhìn thấy

rõ hơn sự nhạy cảm nghệ sĩ cũng như khả năng tự đổi mới của nhà thơ trước

Trang 9

những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống và nghệ thuật Đây chính là mộttrong những mục tiêu quan trọng mà chúng tôi nhằm tới khi thực hiện đề tàinghiên cứu này.

1.3 Chế Lan Viên là một nhà thơ có vị trí quan trọng trong chươngtrình văn học phổ thông Theo đuổi đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ tích luỹđược nhiều hiểu biết về sự nghiệp thi ca Chế Lan Viên để có thể dạy tốtnhững bài thơ của ông được đưa vào chương trình và sách giáo khoa Cũngvới nó, chúng tôi mong muốn có được một nhận thức sâu sắc hơn về bướcchuyển mình của nền văn học Việt Nam nói chung, nền thơ Việt Nam nóiriêng sau cái mốc 1975 lịch sử

2 Lịch sử vấn đề

Hơn nửa thế kỷ qua, đã có rất nhiều công trình, bài viết, luận văn, luận

án nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên Liên quan gần xa với đề tài Cảm hứng

thế sự và triết lý trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sáng tác sau 1975, chúng

tôi nhận thấy có các bài nghiên cứu nổi bật như Tính triết lý trong thơ Chế

Lan Viên của tác giả Hồ Thế Hà, Vẻ đẹp của triết lý trong thơ Chế Lan Viên

của Hoàng Quốc Khánh, Thơ Chế Lan Viên chất hùng ca và trí tuệ của Mai Quốc Liên, Chế Lan Viên và sự đổi mới chân chính của thơ của Lệ Thu, Chế

Lan Viên với cái nhìn nghệ thuật trong thơ của Huỳnh Văn Hoa, Chế Lan Viên trong di cảo của Vũ Quần Phương…, và gần đây nhất là 2 luận văn

nghiên cứu về Chế Lan Viên: Sự gặp gỡ giữa tôn giáo và thơ ca trong tư duy

của thơ Chế Lan Viên trước cách mạng của Đào Thị Mai Phúc và Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên của Ngô Thái Lễ.

Bao quát toàn bộ tư liệu đã tìm được về thơ Chế Lan Viên, chúng tôi

nhận thấy cảm hứng thế sự và triết lý trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sáng

tác sau 1975 là một đề tài chưa được tác giả nào nghiên cứu trực tiếp Tuy

nhiên, tất cả những đánh giá đã có về thơ Chế Lan Viên đều chứa đựng nhữnggợi ý bổ ích giúp chúng tôi thực hiện luận văn của mình một cách thuận lợi

Trang 10

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định rõ, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trongluận văn này là cảm hứng thế sự và triết lý trong thơ Chế Lan Viên giai đoạnsáng tác sau 1975

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Luận văn tập trung nghiên cứu những sáng tác của Chế Lan Viên sau

1975 với trọng tâm là 3 tập Di cảo (tất nhiên, trong Di cảo, loại bài sáng tác

trước 1975 sẽ được tách riêng) Chúng tôi cũng nghiên cứu thêm thơ củanhiều nhà thơ khác được sáng tác sau 1975 để có tài liệu đối chứng và đểnhững khái quát có được căn cứ vững vàng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Tìm hiểu chung về thơ Chế Lan Viên và những cảm hứng lớn trong

thơ ông

4.2 Làm sáng tỏ những khía cạnh chính trong cảm hứng thế sự và cảmhứng triết lý của thơ Chế lan Viên sau 1975

4.3 Phân tích nghệ thuật thể hiện cảm hứng thế sự và cảm hứng triết lýtrong thơ Chế Lan Viên sau 1975

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiêncứu chủ yếu sau:

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống

- Phương pháp loại hình

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp khảo sát - thống kê

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

Trang 11

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên tập trung tìm hiểu Cảm hứng thế sự và

triết lý trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sáng tác sau năm 1975, góp phần

làm sáng tỏ những giá trị độc đáo của bộ phận thơ được Chế Lan Viên sángtác trong hơn 10 năm cuối đời mình Luận văn có thể dùng làm tư liệu thiếtthực cho cho những ai muốn nghiên cứu về Chế Lan Viên và thơ của ông

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính

của luận văn còn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về hành trình thơ Chế Lan Viên và những cảm

hứng lớn trong thơ ông.

Chương 2 Những khía cạnh chính của cảm hứng thế sự và cảm hứng

triết lý trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sáng tác sau 1975.

Chương 3 Nghệ thuật thể hiện cảm hứng thế sự và cảm hứng triết lý

trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sáng tác sau 1975.

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HÀNH TRÌNH THƠ CHẾ LAN VIÊN

VÀ NHỮNG CẢM HỨNG LỚN TRONG THƠ ÔNG

1.1 Hành trình thơ Chế Lan Viên

1.1.1 Giai đoạn sáng tác trước năm 1945

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh năm 1920 tại xã Cam

An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗbằng Thành chung thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống Có thể xem Quy Nhơn,Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu

ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13tuổi Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay

nhan đề Điêu tàn (xuất bản năm 1937), là lời tuyên ngôn nghệ thuật của

"Trường Thơ Loạn" do ông và Hàn Mặc Tử lập ra Từ đây, cái tên Chế LanViên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam Ông cùng với Hàn Mặc Tử,Yến Lan, Quách Tấn lập ra nhóm thơ được người đương thời gọi là "Bànthành tứ hữu" của Bình Định Năm 1939, Chế Lan Viên ra học tại Hà Nội,sau đó vào Sài Gòn làm báo, rồi ra Thanh Hoá, quay về Huế dạy học Năm

1942, ông cho ra đời tập văn Vàng sao và sau đó viết tập bút kí triết luận

Gai lửa Nhưng rồi mọi con đường kiếm tìm của nhà thơ đều rơi vào bế tắc

trước tình hình đất nước lúc bấy giờ Chế Lan Viên lạc vào các triết học duytâm và các tôn giáo siêu hình Đó thực là một cơn mơ khó tỉnh, như sau nàyông nhìn lại:

Tôi ở đâu? Đi đâu? Tôi đã làm gì?

Đời thấp thoáng sau những trang sách Phật Đất nước đau dưới gót bầy ngựa Nhật Lạc giữa sao trời, tôi vẫn còn mê…

(Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi)

Trang 13

Điêu tàn bao gồm 36 bài thơ Điêu tàn ra đời nằm trong dòng thơ mới

lãng mạn Chủ nghĩa lãng mạn vốn ghét cái thường tình, cái thông tục, mà sovới các nhà thơ đương thời, Chế Lan Viên là người ít chịu đựng cái lẽ thườngtình hơn ai hết, hơn cả Hàn Mạc Tử là người cùng Chế Lan Viên khởi xướng

trường thơ Loạn Hoài Thanh, tác giả Thi nhân Việt Nam đã nói Chế Lan Viên

đã xuất hiện trong làng thơ đương thời “như một niềm kinh dị” Bởi Điêu tàn

đã đã dựng lên một thế giới riêng, một thế giới “đầy sọ người, đầu rơi, xương

vỡ, máu trào”

Rồi lấy ra một khớp xương rợn trắng Nút bao dòng huyết đẵm khí tanh hôi Tìm những “miếng trần gian” trong tủy cạn Rồi say sưa, vang cất tiếng reo cười.

(Xương khô)

Ngoài việc mô tả một thế giới ma quái như thế, giai đoạn này Chế LanViên còn có nhiều bài thơ miêu tả quá khứ và hiện tại của nước non Chàmnhư hai bức tranh tương phản Khung cảnh của nước Chàm rạng rỡ thanhbình năm xưa:

Đây những cảnh thái bình trong Chiêm quốc Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại ấp

Áo hồng nâu phủ phất xõa lời vui.

Đây, điện các huy hoàng trong ánh nắng, Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh.

Đây, chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng, Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành.

(Trên đường về)

Và sự đổ nát, chán chường theo thời gian và theo cả trí tưởng củathi nhân:

Trang 14

Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi, Những đền xưa đổ nát dưới thời gian, Những sông vắng lê mình trong bóng tối Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than.

(Trên đường về)

Điêu tàn thể hiện nỗi buồn, luyến tiếc những ngày đã qua, sự chán nản,

thất vọng không những cho số phận của một con người, một làng quê mà cảmột nước Chàm Qua đó thể hiện sự thất vọng của chung tầng lớp trí thứcđương thời, tố cáo xã hội bóp nghẹt con người, không cho con người tìm thấy

ý nghĩa của sự sống Bất lực trước thực tại, con người chạy trốn vào mộngtưởng, vào vũ trụ nhưng bất thành:

Ôi biết làm sau cho ta thoát khỏi Ngoài cơi ta ngập chìm trong bóng tối Cho linh hồn vụt đến xứ trăng mây

Mà sáp nhập vào tuổi tên cây cỏ.

(Cõi ta)

Chế Lan Viên nhìn cuộc đời quá tối tăm, ông muốn xa lánh cõi trầngian, muốn tạo hóa trả về Chiêm quốc Ông sống giữa cuộc đời nhưng hồn lạihướng về thế giới khác xa xôi, bởi ông cho rằng hiện tại là nguyên nhân gây

ra một sự chết chóc điêu tàn:

Cả dĩ vãng là chuỗi mồ vô tận

Cả tương lai là chuỗi huyệt chưa thành

Và hiện tại biết cùng chăng hỡi bạn Cũng đương chôn lặng lẽ những ngày xuân.

(Những nấm mồ)

Căn cứ toàn bộ sáng tác của Chế Lan Viên thời kỳ này, có thể thấy ChếLan Viên đã chọn cho mình một khách thể miêu tả mang đầy tính hư cấu,tưởng tượng, siêu hình, khác xa với nhiều nhà thơ mới đương thời Chế Lan

Trang 15

Viên đã dựng lên một nước non Chàm hoang tàn đổ nát Ở giai đoạn này, tuyChế Lan Viên không có bài thơ nào viết riêng về thơ, nhưng rải rác đây đó

trong tập Điêu tàn, chúng ta có thể thấy có một số câu đã thể hiện khá đậm

quan niệm của ông về thơ

Đối với ông, thi sĩ phải là người thoát ly triệt để thực tại để tìm giảithoát ở cõi siêu hình bất tận:

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo.

Vì u buồn là những đoá hoa tươi

Và đau khổ là chiến công rực rỡ.

(Đừng quên lãng)

Với một quan niệm về thơ như vậy, lại gặp mảnh đất Bình Định cóthành cổ Đồ Bàn cùng những ngọn tháp Chàm chứng tích của một dĩ vãngđau thương, uất hận, thơ Chế Lan Viên càng ngày lạc sâu vào cõi siêu hình,đến mức ông phải hoảng loạn thốt lên:

Có ai không nắm giùm tay ta lại!

Hãy bẻ giùm cán bút của ta đi ! Lời thơ ta đầy những điệu sầu bi Đầy hơi thịt, yêu ma cùng xác chết.

(Tiết trinh)

Trang 16

Và ông nghi ngờ chính sự tồn tại, hiện hữu của mình Ai bảo dùm: Ta

có, có ta không?

Cũng chính quan niệm “làm thơ là làm sự phi thường”, quyết không đi

lại những con đường của các nhà Thơ mới thời ấy đã khiến cho Điêu tàn trở

thành hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử thơ ca dân tộc Ngay từ lúc

ấy, chính Chế Lan Viên đã ý thức được sự cô đơn trên nẻo đường riêng củathơ mình:

Đường về thu trước xa lắm lắm

Mà kẻ đi về chỉ một tôi.

Điêu tàn là tập thơ đầu tay của Chế Lan Viên, những sáng tác đầu tay

bao giờ cũng rất quan trọng đối với nhà thơ, tuy mới bước vào làng thơ nhưngChế Lan Viên đã tạo nên một thế giới nghệ thuật khác lạ Đó là thế giới u linhđầy những hồn ma, bóng quế, hư hư, ảo ảo, cùng với sự suy tàn của đất nướcChiêm thành Có thể cảm nhận chung về cái tôi trữ tình trong sáng tác củaChế Lan Viên giai đoạn này là cái tôi siêu hình mang màu sắc triết lý, chối bỏthực tại ca ngợi cái buồn, cái hư vô Ông thốt lên:

Với tôi tất cả điều vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau.

(Xuân)

1.1.2 Giai đoạn sáng từ năm 1945 đến 1980

Cách mạng tháng Tám thành công, cùng với Xuân Diệu, Huy Cận…Chế Lan Viên hòa mình vào cuộc sống chung của dân tộc, một khung trờimới mở ra cho thơ ca nói chung và thơ của Chế Lan Viên nói riêng Thơ củaChế Lan Viên hồi sinh mạnh mẽ Ông có những bài thơ thể hiện rung cảm vềcuộc sống, con người trong kháng chiến cũng như trong đấu tranh thống nhất

và xây dựng chủ nghĩa xã hội Giai đoạn này sáng tác của Chế Lan Viên rất

phong phú, ông cho ra đời 7 tập thơ gồm Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa,

Hoa ngày thường - chim báo bão, Đối thoại mới, Hoa trước lăng Người, Hái

Trang 17

theo mùa, Hoa trên đá với hơn 300 bài thơ và 7 bài tập văn xuôi lý luận

(Thăm Trung Quốc, Những ngày nổi giận, Nói chuyện văn thơ, Phê bình văn

học, Vào nghề, Suy nghĩ và bình luận, Bay theo đường dân tộc đang bay) Mở

đầu giai đoạn sáng tác này là tập thơ Gửi các anh được tác giả sáng tác trong

thời kỳ kháng chiến cống Pháp, tập thơ này thể hiện sự băn khoăn, chuyển đổitâm hồn thơ của Chế Lan Viên:

Xóm nghèo đôi mắt rung rinh, Nhìn ra non nước thấy mình nằm trong.

Xóm nghèo nằm giữa núi sông, Bao la đất mẹ bọc lòng xóm con.

Mẹ đau con cũng chung buồn, Khi vui mẹ hát lòng con cũng cười

Chế Lan Viên xúc động trước tình cảm của người mẹ, tiễn con lên

đường đi kháng chiến, Đưa con ra trận, Gửi mẹ trong vùng giặc chiếm Nếu như ở Điêu tàn, ông thể hiện cái tôi siêu hình mang màu sắc triết lý, thì ở Gửi

các anh tác giả hòa mình vào cuộc sống của nhân dân cảm nhận vẻ đẹp,

những hy sinh to lớn và tình cảm cao quý của nhân dân Từ đây, thơ Chế LanViên bước đầu đã hình thành một cái tôi trữ tình kiểu mới đó là cái tôi trữ tình

chính trị, mang khuynh hướng sử thi Tiếp theo Gửi các anh là tập thơ Ánh

sáng và phù sa bao gồm 69 bài thơ được sáng tác trong giai đoạn 1955-1960

Trang 18

tác giả thể hiện rõ lòng tin yêu vào Đảng, biết ơn Bác Hồ và hòa cùng vàocuộc đấu tranh chung của dân tộc:

Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào Thấy nghìn núi, trăm sông diễm lệ.

(Chim lượn trăm vòng)

Cuộc sống mới trên miền Bắc sau 1954 đã làm thay đổi mạnh mẽ tâmhồn thơ của Chế Lan Viên, ông bắt đầu ca ngợi đất nước bằng một bức họanhiều màu sắc và thấm đượm tình người:

Thêm một ngày cho rừng biến thành than Cho lớp đất phù sa thành sữa luá

Cho lá dâu non dệt thành tơ lụa Cho lưỡi liềm cong mặt nguyệt căng tròn.

Giải quyết được vấn đề riêng, chung ở tập thơ Ánh sáng phù sa, Chế Lan Viên đưa thơ mình xông ra mặt trận Các tập thơ Hoa ngày thường -

chim báo bão, Đối thoại mới, Hoa trước lăng Người thể hiện tinh thần tiến

lên phía trước của một nhà thơ Cách mạng Trước tiên, ông thể hiện tình yêu

Tổ quốc bằng tình cảm biết ơn Bác:

Ôi! Giữa lòng ta, Bác đến đến tự hồi nào?

Bác vĩ đại mà chẳng làm ai kinh ngạc Mỗi buổi sáng, nhìn lòng ta, ta thấy Bác, Nước mắt giàn, ta cảm hết ơn sâu.

(Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi)

Vì tình yêu Tổ quốc thiêng liêng cao cả, nhà thơ sẵn sàng hy sinh tất cả:

Ôi! Tổ quốc ta, yêu như máu thịt, Như mẹ cha ta, như vợ như chồng!

Ôi Tổ quốc ! nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông.

(Sao chiến thắng)

Trang 19

Yêu Tổ quốc, gắn liền với tình yêu quê hương, ca ngợi quê hương.

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương - tình yêu quê hương đã được ông nâng

tầm thành triết lý:

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.

(Tiếng hát con tàu)

Chế Lan Viên nâng tầm vóc người làm thơ lên một tầm cao mới:

Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng,

và hạ trực thăng rơi.

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng ?)

Giai đoạn sáng tác này Chế Lan Viên thể hiện rõ nét nhất cái tôi trữ tình

chính trị, mang đậm tính sử thi và tính triết lý Hai tập thơ Hái theo mùa, Hoa

trên đá được sáng tác sau năm 1975 khi đất nước hòa bình thống nhất, lịch sử,

xã hội có nhiều biến động lớn Thơ ca thời kỳ này chưa có những điểm mới màvẫn còn mang dư âm của hai cuộc chiến tranh, vẫn còn bị gò bó theo khuynhhướng sáng tác sử thi, mặc khác chế độ bao cấp, khuynh hướng bảo thủ trì trệkìm hãm sự phát triển của thơ ca Thơ Chế Lan Viên thời kỳ này vẫn còn mangđậm âm hưởng của chiến thắng, chất trữ tình tiếp tục được thể hiện, tuy nhiênChế Lan Viên bắt đầu ý thức được giới hạn của chính mình:

Đời ngoài tuổi năm mươi Mong gì hương sắc lạ Mọc chùm hoa trên đá Mùa xuân đâu chịu lùi.

(Mùa xuân đâu chịu lùi)

Chính những vần thơ trên báo hiệu cho sự cảm nhận về qui luật cuộcsống, tạo ra mạch cảm xúc mới, nguồn cảm hứng mới mà Chế Lan Viên thể

hiện qua những trang Di cảo.

Trang 20

1.1.3 Giai đoạn sáng tác cuối đời

Từ năm 1980 đến cuối đời, Chế Lan Viên sáng tác rất nhiều bao gồm

tập thơ Ta gửi cho mình, 3 tập Di cảo do Vũ Thị Thường tập hợp với hơn 569 bài thơ và 3 tập văn xuôi, tiểu luận, phê bình (Từ gác Khuyê văn các đến

quán Trung tân, Nghĩ cạnh dòng thơ, Ngoại vi thơ) Có lẽ giai đoạn này ông

đã ý thức được qui luật nghiệt ngã của cuộc đời đó là quy luật “sinh, lão,bệnh, tử” cho nên những sáng tác của Chế Lan Viên thường bộc lộ sự giãibày, tự vấn một cách chân tình Chế Lan Viên luôn ý thức được vai trò quantrọng của nghệ thuật đối với cuộc sống và qui luật muôn đời của tạo hóa mà

bản thân ông không nằm ngoài nó Vì lẽ đó, đến 3 tập Di cảo giọng điệu thơ

ông đã thay đổi, chất sử thi nhạt dần, nhường chỗ cho chất đời tư thế sự

Giọng cao bao nhiêu năm, giờ anh hát giọng trầm, Tiếng hát lẫn với im lìm của đất,

Vườn lặng im mà thơm mùi mít mật Còn hơn anh rồ giọng hát vang ngân

Cho người theo sau không cô đơn.

(Sau anh)

Chế Lan viên băn khoăn suy nghĩ nhiều về “sự sống” và “cái chết”,Ông không tuyệt vọng mà luôn nghĩ những ngày còn sống là những ngày cóích cho mai sau Ông sáng tác rất nhiều, những sáng tác của ông luôn trăn trở

về đời, về thơ nên những trang thơ của ông càng da diết

Trang 21

Tôi tiếp cận trang giấy ngày mười sáu tuổi Bây giờ đã sáu ba

Cái trang mơ ước một đời chưa với tới Dần xa

Ôi tuổi trẻ ngây thơ và khờ dại Một chút biếc ở đầu câu tôi ngỡ là tài.

Sức lực bé mà ham nói điều vĩ đại

(Hồi ký bên trang giấy) Phần lớn những sáng tác của Chế Lan Viên trong 3 tập thơ Di cảo là

ông viết cho riêng mình Chế Lan Viên nhìn thẳng sự thật đời mình, thơ mình

mà trăn trở, tự vấn, không né tránh bất cứ điều gì, ông tự tổng kết cái tôi đíchthực của đời mình:

Anh là tháp Bay-on bốn mặt Giấu đi ba, còn lại đấy là anh Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình

(Tháp Bay-on bốn mặt)

Như vậy, sáng tác của Chế Lan Viên từ sau 1980 đến cuối đời đã cómột bước chuyển biến mạnh mẽ Từ chỗ viết những dòng thơ mang tính trữtình chính trị và đậm chất sử thi, nhà thơ chuyển mạnh sang sáng tác nhữngbài mang chủ đề thế sự đời tư và đậm chất triết lý

1.2 Những cảm hứng trong thơ Chế Lan Viên

1.2.1 Cảm hứng về thế giới phi thường, về cõi siêu hình

Trong lời tựa Điêu tàn, Chế Lan Viên viết: "Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ

tức là điên Tôi thêm: Làm thơ là làm sự phi thường Thi sĩ không phải người

Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh,

Trang 22

là Yêu Nó thoát hiện tại, nó xối trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tương lai ( ) Với

nó, cái gì nó nói đều có cả” [17, 13] Là một trong nhà thơ trưởng thành trongphong trào Thơ mới, chịu ảnh hưởng thơ ca hiện đại Pháp, nhưng Chế LanViên không chấp nhận đi theo những lối mòn, mà ông luôn có những sáng tạomới, luôn có ý thức tìm cái độc đáo với cảm hứng hướng về cái phi thường,

về cõi siêu hình, mà tập thơ Điêu tàn là một minh chứng Năm 1937 Điêu tàn

của Chế Lan Viên ra đời lập tức làm sửng sốt thi đàn Việt Nam, "như mộtniềm kinh dị" theo chữ của Hoài Thanh Có lẽ, tuổi trẻ của Chế Lan Viên gắnliền với quê hương Quy Nhơn, Bình Định nên nhà thơ đã cảm nhận đượcnhững dấu tích điêu tàn của Chiêm quốc Chính mảnh đất này đã khiến ChếLan Viên rung động mạnh mẽ với những câu chuyện linh thiêng, truyềnthuyết về một đất nước xa xưa, để rồi suy tưởng, nuối tiếc Thơ Chế Lan Viên

là một thế giới đúng nghĩa "trường thơ loạn": kinh dị, thần bí với xương, máu,

sọ người, với những cảnh đổ nát, với tháp Chàm Những tháp Chàm là mộtnguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên Qua những phế tích đổnát và không kém phần kinh dị đó, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vươngquốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ

Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi

… Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận Muôn cô hồn tử sĩ hét ầm vang

(Trên đường về)

Ông mường tượng đến cảnh khốc liệt của đất Chàm, tự nhiên bùng lửa

đỏ, tiếng vàng ngọc tan chảy với tiếng đền đài đổ nát:

Máu đào tuôn tràn ngập cả lòng ta

Cả thân ta dần tan trong hơi thở…

Trang 23

Nhìn thời gian tàn phá những cảnh tráng lệ nguy nga trước, trên đường

về hôm nay ông chỉ còn gặp những dấu điêu tàn:

Đây, những tháp gầy mòn vì mong đợi, Những đền xưa đổ nát dưới thời gian, Những sông vắng lê mình trong đêm tối Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn, Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.

(Trên đường về)

Chế Lan Viên nghiệm rằng những cảnh ấy là hình ảnh của thảm hoạmất nước, nên càng nghĩ đến cuộc binh đao, nhà thơ càng hoảng hốt:

Mà vì đâu những đêm mờ vắng vẻ, Bên tai ta xào xạc tiếng chân người

Mà rộn ràng loa vang và ngựa hí,

Mà đao thương xoang xoảng dân Chiêm ơi!

Trước vẻ hoang tàn, những đêm không một mối trăng ngà rung muôn

lá - mà bóng đêm đầy đặc khí u buồn, chập chờn theo lửa đóm:

Ta hãy nghe trong mồ sâu lạnh lẽo, Tiếng thịt người nẩy nở, tiếng xương rên.

Ta hãy nghe mơ màng trong cỏ héo, Tiếng cô hồn lặng thở khí giời đêm.

Trang 24

Trước sự Điêu tàn của đất nước Chiêm Thành, Chế Lan Viên xót xa,

đau khổ Càng xót xa, đau khổ, ông càng rơi vào tuyệt vọng Chế Lan Viên đã

gào thét lên một cách đau đớn Ai bảo dùm: Ta có, có Ta không? Ông chán

ghét cuộc sống thực tại:

Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết Những sắc màu hình ảnh của Trần gian.

(Tạo lập)

Chế Lan Viên thoát ly hiện thực để đi vào thế giới siêu hình, ảo ảnh, hư

vô Chế Lan Viên tìm đến vũ trụ, xem vũ trụ là nơi an ủi cho tấm lòng đauthương của nhà thơ, là chốn nương náu cho linh hồn cô đơn sầu tủi:

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo.

(Những sợi tơ lòng)

Khát vọng được hòa nhập, tan chảy vào ánh sáng huyền ảo của đất trời

là khát vọng luôn thường trực trong tâm thức của nhà thơ

Khát lắm rồi! hãy cho tôi uống Cho nguôi đi nuối tiếc với trông mong.

Chính ý thức về vấn đề làm thơ đã khiến Chế Lan Viên tạo được chomình một con đường thơ hoàn toàn khác lạ so với các nhà thơ đương thời.Tuy nhiên, con đường thơ của Chế Lan Viên là một con đường có nhiều bướcngoặt, biến đổi, tự phủ định với nhiều trăn trở, tìm kiếm ráo riết không lúcnào yên ổn Chính ý thức về việc "làm sự phi thường", “đi vào cõi siêu hình”

đã thúc đẩy nhà thơ không ngừng tìm kiếm và chiếm lĩnh được những đỉnhcao trên hành trình thơ đầy gian khổ Luôn luôn trăn trở với nghề, có ý thức tựgiác và thường trực về nghề thơ, Chế Lan Viên suy nghĩ nhiều về thơ, ngườilàm thơ, nghệ thuật làm thơ Những suy nghĩ ấy bắt nguồn từ một ý thức

Trang 25

trách nhiệm rất cao của người cầm bút, từ ý hướng cách tân, nỗ lực tìm tòi đổimới thơ.

1.2.2 Cảm hứng sử thi, lãng mạn

Cách mạng tháng Tám thành công, lịch sử dân tộc đã sang trang Cùngvới những thay đổi lớn lao và mạnh mẽ của đời sống dân tộc, cuộc đời và thơChế Lan Viên đã thoát khỏi “thung lũng đau thương” và sự cô đơn, bế tắc.Chế Lan Viên hạnh phúc đón chào cách mạng, nhiệt thành tham gia khángchiến, nhưng con người nghệ sĩ trong ông không ít những nỗi băn khoăn, trăntrở về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cách mạng, để rồi ngày một nhận thứcthấm thía hơn về ý nghĩa thiêng liêng của nghệ thuật khi gắn liền với cuộcsống cách mạng của dân tộc, nghệ thuật phục vụ cho cuộc sống và cách mạng.Nhà thơ đã “đoạn tuyệt với cái tôi siêu hình mang màu sắc triết lý”, từ cảmhứng phi thường, siêu hình, các sáng tác của Chế Lan Viên chuyển sang cảmhứng sử thi, lãng mạn Từ quan niệm thi sĩ “Không phải là người, là Người

Mơ, Người Say, Người Điên” giờ đây ông có quan niệm hoàn toàn trái ngược:

“Trước hết chúng ta làm văn nghệ là để tả sự thật Vả chăng sau này muốntruyền cảm cho người đọc, cố nhiên không phải chỉ nói cái cảm xúc của ta mànói cả sự việc Nghe cảm xúc chưa hẳn độc giả đã hình dung lại sự việc.Nhưng nghe sự việc nhất định độc giả sẽ nhờ đó mà cùng ta cảm xúc” [63, 86].Chế Lan Viên bắt đầu cuộc sống mới, cuộc sống gắn bó với đời sống kháng

chiến, hiểu hơn về Tổ quốc và nhân dân Tập thơ Gửi các anh ra đời đã đánh

dấu một bước chuyển trong mới sự nghiệp thơ của Chế Lan Viên Tuy nhiên,

đến Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường - chim báo bão, Đối thoại mới,

Hoa trước lăng Người, Hái theo mùa thơ Chế Lan Viên mang đậm cảm hứng

sử thi, lãng mạn. Chế Lan Viên luôn nghiền ngẫm, tìm tòi về phương thức thểthiện để phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của cuộc đời mới Ông đã trải quanhững gian truân vất vả và cảm nhận được không khí hào hùng, sôi động củadân tộc trong kháng chiến Trước nhất, Chế Lan Viên nghĩ về Tổ quốc:

Trang 26

Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào Thấy nghìn núi trăm sông diễm lệ Con ngọc trai đêm hè đáy bể Uống thủy triều bỗng sáng hạt châu.

(Chim lượn trăm vòng)

Tâm hồn thơ Chế Lan Viên như cánh chim trời bắt đầu bay lượn trênmình Tổ quốc, từ núi rừng Việt Bắc xa xôi đến núi rừng Điện Biên đã xanhmàu cuộc sống, từ màu xanh bát ngát của rừng Trường Sơn đến màu xanh vôtận của biển trời hải đảo Hình ảnh Tổ quốc trong thơ Chế Lan Viên muônmàu muôn vẻ Từ lúc đất nước hòa bình chuyển mình đi lên cuộc sống xã hộichủ nghĩa, hình ảnh của đất nước hiện lên với vẻ đẹp tự nhiên, như một bứctranh thiên nhiên lộng lẫy

Vịnh Hạ Long…Không một bóng rồng lên Sóng vươn trăm dặm mình xanh biếc Trời tháng sáu cười từng bể bạc Từng bể hoa vỗ trắng thân thuyền

(Qua Hạ Long)

Chế Lan viên cảm nhận vẻ đẹp của Tổ quốc qua việc so sánh hiện tại

và quá khứ:

Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm

Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng ?

… Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn cả

Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)

Ca ngợi lãnh tụ, Chế Lan Viên ca ngợi công lao trời biển của Bác đốivới dân tộc, với tổ quốc “Ca ngợi Người không phải là để sùng bái một conngười vĩ đại, mà là ca ngợi một lý tưởng cao đẹp mà xã hội loài người ngày

Trang 27

nay đang vươn tới, là ca ngợi một dân tộc anh hùng, một nhân dân anh hùng

và một đảng anh hùng được biểu hiện tập trung qua cuộc đời Bác” [63, 133]

Ca ngợi Bác, Chế Lan Viên đã sáng tạo nhiều hình ảnh đặc sắc về Bác Đó là

hình ảnh con người vĩ đại, Người thay đổi đời tôi -Người thay đổi thơ tôi,

Người đi tìm hình của nước, Di chúc của Người, Ta nhận vào ta phẩm chất của Người… Những bài thơ viết về Bác của Chế Lan Viên thể hiện một khả

năng mới đó là việc kết hợp phản ánh cái riêng và cái chung

Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi, Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác, Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất,

Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre.

(Người đi tìm hình của nước)

Ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi lãnh tụ, Chế Lan Viên không quên ca ngợinhững người mẹ, những người chiến sĩ, những con người sẵn sàng hy sinhcho hai cuộc kháng chiến Chế Lan Viên khi viết về người mẹ trong vùng giặc

chiếm với tình cảm chân thành Đó là lòng yêu thương mẹ của đứa con nghĩ

đến mẹ nhiều nước mắt rưng rưng Nghĩ về mẹ, nhà thơ đã cảm nhận tình

thương của mẹ là gió dịu đưa hương, và mẹ thương con như sữa nồng, như

nước mắt… Chế Lan Viên còn ghi lại những niềm vui bình dị của đời sống

kháng chiến ở Một bữa cơm thường trong bản nhỏ Nhà thơ xúc động viết về

sự ngã xuống của các anh bộ đội ở nơi biên giới Việt - Lào, bên bờ suối Vạn

Mai, hay dưới một gốc cây sung chín đỏ mùa hè Hình ảnh của những người dân công gánh bom gập người, đường dài đứt hơi mà vẫn luôn yêu đời cũng

đã đi vào thơ Chế Lan Viên trong niềm tự hào trân trọng Ông xót xa đau đớn

trước cảnh quê hương chìm trong khói lửa chiến tranh, máu đã hòa nước mắt,

ngút trời đồng bốc lửa và đồi sim lầy máu tươi Chế Lan Viên những mong

mọi người hãy luôn nhớ lấy để trả thù cho quê hương, Tổ quốc Có thể nói,sống chân thành, sâu sắc với hiện thực đời sống kháng chiến chống Pháp của

Trang 28

dân tộc, Chế Lan Viên đã đưa thơ mình thoát khỏi dĩ vãng buồn thương để trở

về với cuộc đời hiện tại trong niềm tin yêu Cuộc sống cách mạng và khángchiến đã tạo điều kiện thuận lợi, chắp cánh cho tâm hồn thơ Chế Lan Viên

vươn tới những đỉnh cao nghệ thuật và bay theo đường dân tộc đang bay.

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Tổ quốc và dân tộc kiêu hãnh tiếnbước trên một chặng đường lịch sử mới Chế Lan Viên hòa mình với cuộcsống xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong niềm vui và hạnh phúc.Trong hoàn cảnh cuộc đời mới, hơn lúc nào hết, Chế Lan Viên càng nhận rõhơn ý nghĩa lớn lao mà ông đã có được ở những tháng năm ông sống gắn bóvới cuộc sống kháng chiến của dân tộc Ông đã khẳng định:

Ôi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường.

(Tiếng hát con tàu)

Nỗi đau về cuộc sống quá khứ khiến tâm hồn thơ của Chế Lan Viên giờđây như ngập tràn niềm vui trước cuộc đời rực rỡ phù sa Nhà thơ quan niệm

lấy cái vui của đời đánh bạt mọi thương đau Càng gắn bó với cuộc đời, nhà

thơ càng thấm thía hơn bao niềm hạnh phúc đang đến với mình Nhà thơ đã

cảm nhận hạnh phúc như đào ngon chín tới, hạnh phúc nào không hạnh phúc

đầu tiên và mỗi bước đời ta ghép một vần thương Niềm vui càng trở nên rạo

rực và càng nhân lên khi Chế Lan Viên nhận thức về cuộc sống ngày càng sâusắc hơn

Cái sống ngọt ngào trong từng sợi cỏ Một cành hoa cũng muốn giục môi hôn.

(Tàu đến)

Sống giữa niềm vui của cuộc đời mới, Chế Lan Viên đã có quan niệmmới mẻ về quê hương Quê hương không chỉ là nơi chôn nhau, cắt rốn, màquê hương còn là nơi ta gắn bó và biết sống hết mình vì nó Trong bài thơ

Tiếng hát con tàu, nhà thơ viết:

Trang 29

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn.

(Tiếng hát con tàu)

Nghĩ về cuộc sống hiện tại trong sự so sánh với quá khứ đau thươngcủa dân tộc, Chế Lan Viên càng tự hào khi hiểu rằng cuộc đời ngày thêm rực

rỡ phù sa, ngày một thêm ý nghĩa, và ông thốt lên trong niềm hạnh phúc:

Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả

Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn.

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)

Cuộc đời mới là nguồn sức mạnh tinh thần giúp nhà thơ đi thực tế, gặp

lại nhân dân và hiểu cuộc sống bao la rung cả những lòng đang riêng lẻ, nhà

thơ khát vọng:

Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc Nơi bốn mùa đã hóa thành thu Nơi đáy bể những rừng san hô vờ thức ngủ Những rừng rong tóc xõa lược trăng cài Nơi những đàn mây trắng xóa cá bay đi …

(Cành phong lan bể) Cuộc sống mới chứa chan Ánh sáng và phù sa đã thực sự giúp Chế Lan Viên lấn từng nỗi đau như mùa chiêm lấn vành đai trắng và nay trở về ta lấy

lại vàng ta Khi đã có hướng rồi, nhà thơ không ngần ngại Đi ra với sông, đi

ra với trời, đi ra với đời để cảm nhận được:

Tôi yêu quá cuộc đời như con đẻ Như đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng Tôi nối với bạn bè như với bể

Cả lòng tôi là một giải sông Hồng.

(Chim lượn trăm vòng)

Trang 30

Cuộc sống mới được nhà thơ cảm nhận với niềm tin yêu chân thành và

đó chính là nguồn thi hứng lớn lao, mạnh mẽ, luôn trỗi dậy trong tâm hồn nhàthơ Những đổi thay kì diệu của cuộc sống đã tạo tâm hồn thơ Chế Lan Viêncàng thêm dạt dào cảm xúc Trong những năm kháng chiến chống Mĩ, Tổquốc tươi đẹp và dân tộc anh hùng là cảm hứng chủ đạo của Chế Lan Viên

Khi ta muốn thơ ta thành hầm chông giết giặc Thành một nhành hoa mát mắt cho đời.

Với Chế Lan Viên, chưa bao giờ Tổ quốc lại đẹp như những tháng nămkháng chiến chống Mĩ Nhà thơ không ngần ngại khẳng định đó là “nhữngngày đẹp hơn tất cả”, “ngày vĩ đại” Trong hoàn cảnh đó, vẻ đẹp tâm hồn vàtính cách của dân tộc Việt Nam càng ngời sáng hơn Nhà thơ tự hào, kiêuhãnh viết:

Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng

Ta mọc dậy trước mắt nghìn nhân loại Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng

(Thời sự hè 72, bình luận)

Hiện thực đời sống thời kì kháng chiến chống Mĩ đã tỏa nắng cho thơChế Lan Viên để nhà thơ có thêm nhiều vần thơ tràn đầy sức sống và sức hấpdẫn Tâm hồn thơ Chế Lan Viên rộng mở hướng tới khắp mọi miền của Tổquốc để thu nhận chất thơ của đời sống và hòa nhịp sống của mình với nhịpsống của dân tộc Cũng chính trong những năm tháng nước sôi lửa bỏng, nhàthơ cảm nhận trọn vẹn hơn về vai trò to lớn của nhân dân:

Nhân dân không có một thanh gươm vung một cái đến trời mây

Nhưng họ gánh lịch sử đến nghìn lần lớn hơn đời họ.

(Thơ bổ sung)

Càng yêu Tổ quốc, càng nhận thức sâu sắc bản chất của kẻ thù vànhững nỗi đau thương dân tộc phải trải qua, những khát khao về cuộc sống

Trang 31

yên bình hạnh phúc, Chế Lan Viên đã sáng tạo nên những nhành hoa mát mắt

cho đời Cuộc sống không chỉ đòi hỏi Chế Lan Viên suy ngẫm, triết lí, mà còn

giúp cho nhà thơ có được sự cảm xúc sâu lắng trước vẻ đẹp giản dị của đờicuộc sống hàng ngày qua những vần thơ viết về các loài hoa, về tình yêu đằmthắm thiết tha và sự ngọt ngào của cuộc sống hạnh phúc gia đình Với tìnhcảm nồng nàn, trí tuệ sắc sảo và sự gắn bó sâu sắc với hiên thực đời sốngchiến tranh, Chế Lan Viên đã sáng tạo được nhiều vần thơ xúc động đậm đàchất trữ tình, hùng ca về vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của dân tộc Việt Namtrong kháng chiến chống Mỹ Có thể nói cùng với Tố Hữu, Chế Lan Viên đãđưa thơ mình hòa vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, phục vụ đắclực cho hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu nước, nhà thơ đãnâng vị trí nhà thơ lên một tầm cao mới

Tự nguyện làm nhà thơ chiến sĩ, Chế Lan Viên không thấy có gì bóbuộc khi viết những bài thơ suy tưởng về thơ, về tình yêu Chính cái nhìn mới

mẻ đối với cuộc sống làm cho thơ tình yêu trữ tình đằm thắm hơn:

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương

(Tiếng hát con tàu)

Thơ tình của Chế Lan Viên thường có cảm xúc trong trẻo hiền hòa, có

Trang 32

Tình yêu trong thơ Chế Lan Viên gắn liền với cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc Chính tình yêu đã đã cải biến những khó khăn gian khổ, tạothành niềm vui, sức mạnh cho bản thân:

Anh đã biến đau thương thành sức mạnh Biến cái cúi đầu thành trận đánh

Nỗi lặng im thành sóng vỗ muôn trùng.

(Giữa tết trồng cây)

Có thể nói, chính những mạch thơ tình yêu xuất hiện bên những chủ đềlớn như thơ phục vụ cách mạng làm cho thơ Chế Lan Viên càng phong phúhơn và cái tôi trữ tình và cái tôi sử thi được tác giả thể hiện đa dạng, phong

phú tô đậm cảm hứng sử thi, lãng mạn trong thơ Chế Lan Viên.

1.2.3 Cảm hứng thế sự

Nói đến cảm hứng thế sự là nói đến cảm hứng về cuộc sống đờithường, về con người của thực tại Những tác phẩm mang cảm hứng thế sựthường hướng đến sinh hoạt hàng ngày của con người, chú ý khẳng định giátrị thẩm mĩ của cái đời thường, khám phá mọi phức tạp, éo le và cả cái caoquí trên hành trình đi tìm sự sống và hạnh phúc của con người Sau30/4/1975, đất nước ta thống nhất, lịch sử sang trang nhưng văn học vẫn trượttheo quán tính một thời gian nữa Đề tài chiến tranh cách mạng vẫn là đề tài

ưa thích của văn nghệ sĩ Cảm hứng ca ngợi vẫn là cảm hứng chủ đạo củaphần lớn tác phẩm ra đời trước 1980 Nhà văn vẫn say sưa ca ngợi chủ nghĩaanh hùng cách mạng nhưng độc giả đột nhiên lạnh nhạt, thờ ơ với văn học

“Người đọc mới hôm qua còn mặn mà thế bỗng dưng bây giờ quay lưng lạivới anh” Đến thập kỷ 80, đặc biệt sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), khôngkhí đổi mới - dân chủ tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học nghệ thuật.Văn nghệ sĩ được “cởi trói” tự do sáng tác Họ có nhiều trăn trở về tráchnhiệm của người cầm bút trong sự nghiệp đổi mới nền văn học nước nhà.Khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn trong văn học 1945 - 1975 được

Trang 33

thay thế bằng cảm hứng thế sự Con người "sử thi” trong văn học trước 1975

được thay thế bằng con người "nếm trải” Vấn đề đời tư, bản thể, tự do luyến

ái, đời sống tình dục được đề cao Đề tài, chủ đề không còn bó hẹp, thiên vềkhai thác các vấn đề liên quan đến những nhiệm vụ chính trị trước mắt màđược mở rộng từ đề tài gia đình, thân phận tình yêu, số phận con người đếnchiến tranh cách mạng, sản xuất xây dựng Các nhà văn nhà thơ không nétránh, ngại ngùng khi khai thác các mặt trái, góc khuất, phần chìm của hiện

thực cuộc sống Chế Lan Viên là một nhà thơ thể hiện mạnh mẽ nhất cảm

hứng thế sự Đặc biệt là những năm cuối đời, khi hoàn cảnh sống gặp không

ít khó khăn, Chế Lan Viên vẫn không ngừng sáng tạo Mạch thơ về cuộcsống chống Mĩ vẫn tiếp tục vận động và phát triển với tầm nhận thức caohơn, tầm nhìn xa rộng hơn Mặt khác, cũng trong thời gian này, Chế LanViên trăn trở và suy ngẫm nhiều về cuộc sống đời thường, về bản thân để

khẳng định chiều sâu thẳm trong tâm hồn mình, “tự tìm mình” Trong Di

cảo thơ, nhất là ở những bài thơ viết vào khoảng thời gian 1987, 1988, người

đọc nhận thấy sự giãi bày, tự vấn chân tình của Chế Lan Viên Đã bao nhiêunăm hát “giọng cao”, giờ đây “anh hát giọng trầm” Đây không phải là sự

đổi giọng đến bất ngờ như cảm nghĩ của một số người khi đến với Di cảo

thơ Sự tự nhận thức, nghiền ngẫm về bản thân đã giúp cho Chế Lan Viên

không rơi vào sự “ảo tưởng”, ông quan niệm mỗi câu thơ đều phải vượt lênmình và ông sống với sức mạnh của tấm lòng nhân hậu, sự yêu đời, vì thế,tâm hồn nhà thơ càng trở nên thanh cao hơn trong cuộc sống hiện tại Thậtxúc động khi ông cảm nhận:

Sau anh còn mênh mông nhân loại Đừng nghĩ mình là người đi cuối Phải để lại dấu chân, nhành cây, viên sỏi … Cho người theo sau không cô đơn.

(Sau anh)

Trang 34

Chế Lan Viên nghĩ nhiều về cái chết để “đừng tuyệt vọng”, để sốngnhững ngày còn lại có ích cho mai sau Đó cũng là sự biểu hiện tâm thế và lẽsống cao quý của nhà thơ đã để lại cho người đời bằng những lời thơ tâmhuyết giàu chất triết lí:

Những bạn bè yêu anh sẽ gặp anh trong cỏ Trong hạt sương, trong đá

Trong những gì không phải anh

Anh tồn tại mãi Không bằng tuổi tên, mà như tro bụi, Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên

(Từ thế chi ca)

Có thể nói, trên từng chặng đường sáng tác, ngay cả khi nằm trêngiường bệnh Chế Lan Viên vẫn luôn sống hết mình cho đời và cho thơ Ôngtìm tòi, sáng tạo với khát vọng để lại cho người đọc những vần thơ mới mẻ,đặc sắc, và ông đã làm được điều đó Sau 1975 Chế Lan Viên trực tiếp bộc lộnhững suy tư về bản thân, về cuộc đời bằng việc thể hiện lòng chân thành hếtmực của mình qua niềm vui nỗi buồn, cô đơn, có khi là băn khoăn, có lúc nhẹnhàn thanh thản, thậm chí có lúc bi quan hụt hẫng, nhưng cuối cùng vẫn làmột tình yêu sâu nặng với đời, da diết với cuộc sống, và niềm tin bất diệt vàocuộc sống Cảm giác cô đơn, suy nghĩ về số phận về nỗi đau cuộc đời trong

Di cảo thơ là hoàn toàn hợp lý Bởi giai đoạn đời sống - kinh tế xã hội nước ta

gặp rất nhiều khó khăn phức tạp Chế Lan Viên gặp khó khăn về kinh tế, lạimang trọng bệnh Chính hoàn cảnh xã hội và bản thân làm cho Chế Lan Viênsuy nghĩ nhiều về cuộc sống và con người, cho nên những tâm sự của ông qua

hàng loạt bài thơ trong Di cảo thơ giúp người đọc hình dung toàn diện hơn về

tâm hồn thơ của ông

Ai không hóa đá Vọng phu một phút giây

nào đó trong đời:

Trang 35

cô đơn nhưng Chế Lan Viên thể hiện ở một khía cạnh khác: Hiện hữu cùng ta

hóa thành đôi (Non bộ) Hoàn cảnh khó khăn, tuổi cao, căn bệnh ung thư phổi

dày vò Thể xác Chế Lan Viên càng đau đớn mỗi khi thời tiết thay đổi, ôngbuồn hơn vì bản thân chưa làm được nhiều cho đời và càng băn khoăn khimình vắng bóng Nỗi lo của nhà thơ là cảm nghĩ của biểu hiện ý thức tráchnhiệm của người cầm bút trước những đứa con tinh thần của mình:

Trời vào thu anh ê ẩm khớp xương Anh bải hoải thân mình với gió mùa bên cửa Một nghìn câu thơ thì chín trăm câu dang dở

Và ai đón thơ anh ở cuối con đường

(Câu thơ dang dở) Chế Lan Viên đôi lúc khóc lặng lẽ, khóc không thành lệ: Nhớ sắc hoa

một ngày/ Khôn giang tay nắm bắt/ Chiều xuân nằm úp mặt/ Gối đầu vào cánh tay (Chiều xuân) Chế Lan Viên đã cảm nhận được góc khuất của đời

mình Để giải thích vì sao Chế Lan Viên dấu mặt, chúng ta quay về tìm hiểuquá khứ Khi Cánh mạng tháng Tám thành công, các nhà thơ, nhà văn hay nóichung là nghệ sĩ hào hứng đi theo cách mạng bỏ lại sau lưng quá khứ đaubuồn Ở đó Chế Lan Viên bộc lộ sự đoạn tuyệt một cách cương quyết và

mãnh liệt với quá khứ Ông bằng lòng chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc Giờ đây trong Di cảo thơ người ta biết ông còn ba mặt nữa Nhưng tất cả đều là

mặt thật tuy ông chỉ chọn một mặt, các mặt khác ẩn chìm và mặt ngoài mangnhiều cung bậc, âm sắc Nghĩ về cuộc đời, Chế Lan Viên xem đó là trò chơi

Trang 36

trong sự tồn tại ngắn ngủi của số phận Tuy nhiên lúc nào tác giả cũng suynghĩ và xác định thái độ ứng xử và hành động Bằng suy nghĩ nghiêm túc vềcuộc đời, bằng niềm lạc quan vào hồi kết thúc của số phận tác giả dặn người,dặn mình.

Cuộc đời chả ba lơn như một chú hề Vui cuối cùng sẽ đẹp tan tiếng khóc Hạnh phúc không đến hồi đầu thì đến hồi kết thúc Tất cả sẽ đoàn viên, xin bạn chớ ra về!

(Kịch)

Con người không thể ngồi chờ đón hồi kết thúc để có hạnh phúc màphải liên tục phấn đấu sáng tạo, làm việc để đem kết quả cho mình và cốnghiến cho đời Nỗi niềm riêng tư của Chế Lan Viên được thể hiện khá tinh tế,nhạy cảm và đắm say trước vẻ đẹp của cuộc sống

Cánh đồng bình yên ngộn ngộn cỏ non tơ Hoa như môi nghiên xuống cỏ như chờ.

… Ngọn cỏ cũng đầm đìa sắc dục

Và cành hoa tận hưởng sắc hương mình.

(Chiều châu Âu)

Trở về Huế, Chế Lan Viên đã cảm nhận được mùi hương ngan ngát củasen hồ xứ Huế, sự tĩnh lặng của đền chùa lăng mộ, nghe rõ âm thanh của cánhhoa dại rơi Nhà thơ dường như biến mất chỉ còn lại không gian Huế tuyệt đẹpnhưng đượm buồn:

Thơm ngát mùa sen trắng cổ thánh

Về thăm xứ Huế chỉ mình anh Lăng vua hoa dại rơi đầy lối Chen bóng cành hoa chỉ một mình.

(Về thăm xứ Huế)

Trang 37

Những ngày cuối đời khi mà cơn đau đang âm thầm cướp dần sự sống

trong người Chế Lan Viên cảm nhận được Tiếng ễnh ương trong đêm khuya

và ông liên tưởng đến màu khoai lúa, đến cơn mưa

Tiếng ễnh ương chiều lĩnh xướng cơn mưa muộn Tiếng ếch màu xanh lá khoai

Bản hợp xướng của những mây chiều dĩ vãng Đến tự lòng anh hay tự giọt mưa trời

(Tiếng ễnh ương)

Suy tư của Chế Lan Viên dù ở bất kỳ góc độ nào cuối cùng cũng toátlên một tấm lòng gắn bó sâu sắc với cuộc đời, một trách nhiệm lớn lao củangười nghệ sĩ chân chính Trong sáng tác Chế Lan Viên luôn tạo ra mọi tìnhhuống Ông quan niệm sự sống là sự đấu tranh giằng co quyết liệt giữa cáixấu và cái tốt, giữa hèn hạ và cao thượng, giữa cái sống và cái chết Điều đócàng diễn ra quyết liệt dữ đội, nhất là sau khi ông đang sống trong khoảngthời gian hiếm hoi của cuộc đời

Cuộc chiến tranh màu trắng của tâm hồn Tuyết nhắm tuyết chia phe mà đối chọi Tuyết này đòi tan tuyết kia tồn tại Phía chấp nhận hóa bùn, phía kỳ vọng cỏ xanh non.

(Cuộc chiến)

Càng về cuối đời, với những suy ngẫm, trăn trở về đời mình, giọng thơ

càng trở nên da điết Di cảo thơ chính là cuộc hành hình tìm lại chính mình

của Chế Lan Viên Ông tính sổ cuộc đời mình và để lại cho thế hệ sau nhữngbài học về cuộc sống thấm đượm tính triết lý:

Tro bao giờ cũng tồn tại lâu hơn lửa Lửa hoan lạc một giây tro cay đắng một mùa Anh thiêu tất cả quá khứ thành ra nắm tro là thơ anh đấy

Và thiêu hồn anh sau này không là lửa lại là tro.

(Tro và lửa)

Trang 38

Chế Lan Viên luôn trăn trở về cái chết, ông gọi đó là Xứ màu đen, Xứ

không màu, Xứ vô ảnh, vô hình, Lò thiêu, Chuyến xe, về quê cũ Những ngày

cuối cùng, Chế Lan Viên cùng vợ đi vào thăm lò thiêu Bình Hưng Hòa

Sáng đưa xác vào, trưa lấy xương ra Đều đặn như bánh vào lò

Một ngày hai xuất.

(Lò thiêu) Xác định rõ quan điểm về sự sống, cái chết, Chế Lan Viên hối hả: Viết

đi! Viết đi! Viết!Viết” và Viết thêm! Viết nữa! Viết vào, Rõ ràng, ông là người

luôn tìm tòi sáng tạo nghệ thuật đến giây phút cuối cuộc đời Đọc Di cảo thơ,

ta nhận thấy suy tư về bản thân, về thơ về cuộc đời của Chế Lan Viên đã giúp

ta hiểu thêm về ông ở chiều sâu tâm trạng Ông chân thành giãi bày nhữngđiều thầm kín của đời mình Tìm hiểu nỗi niềm, và tình cảm riêng tư của ChếLan Viên, chúng ta phải đặt trong hoàn cảnh đặc biệt, cụ thể của tác giả Đó làthời gian cuối đời và lúc ông đang lâm trọng bệnh Chế Lan Viên nói về nỗibuồn, sự cô đơn, về cái sự nhỏ bé hữu hạn của con người trước bao la vô tậncủa Vũ trụ Ông đã giãi bày cho ta thấy góc khuất của cuộc đời ông Trướclúc ra đi, Chế Lan Viên bộc bạch hết với đời, với thơ, với bạn đọc, cái đẹp đẽ

và lớn lao nhất mà ông để lại cho đời là những vần thơ, những bài thơ lunglinh như ngọc được kết tinh bằng hơi thở, những giọt máu cuối cùng của đờiông, là bài học quý giá về một tấm gương lao động, sáng tạo nghệ thuật, là sựtrân trọng và gắn bó sống chết với con người và cuộc sống

1.2.4 Cảm hứng triết luận, triết lý

Chế Lan Viên từng nhiều lần phát biểu quan niệm thơ của mình, trong

đó ông nhấn mạnh: "Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh, không chỉ ở lời

mà còn đập bàn, quát tháo, lo toan" (Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ ) Chế

Lan Viên có cách tiếp cận riêng với đời sống Không dừng lại ở xúc cảm, ở bề

ngoài của sự vật hiện tượng, nhà thơ muốn khám phá sự vật ở cái bề sâu, ở

Trang 39

cái bề sau, ở cái bề xa Nhà thơ hướng tới nắm bắt cái ý nghĩa triết lí hàm ẩn

trong mỗi hiện tượng, và bằng tưởng tượng, liên tưởng, mà liên kết các sự vật,hiện tượng trong nhiều mối tương quan từ đó làm bộc lộ những ý nghĩa sâusắc Cuộc sống hiện ra trong thơ Chế Lan Viên, không chỉ như nhà thơ xúccảm về nó, mà còn suy nghĩ về nó Cuộc sống đi vào trong thơ có thể ít điphần nào cái cụ thể, chi tiết, sinh động, cái "non tơ" tươi tắn của nó, nhưng lạiđược làm giàu thêm ở một phía khác, ở sức khái quát triết lý, ở sự hư ảo biếnhóa, ở sự đa diện và đa dạng của các điểm nhìn, của các quan hệ NguyễnLộc nhận định: “Đọc thơ Chế Lan Viên chúng ta thường gặp những câu thơ

có tính chất châm ngôn, tính chất triết lý, một châm ngôn độc đáo như cótính xác thực, một triết lý súc tích không xa lạ với mọi người, nhưng ở mọingười có khi còn cảm thấy lờ mờ thì nhà thơ nói lên sắc sảo như một pháthiện” [5, 151], Nguyễn Xuân Nam thì khẳng định “Trong thơ thời sự củamình Chế Lan Viên kết hợp được óc khái quát và phân tích”, [5, 151] ĐoànTrọng Huy nhận xét: “Nếu như trước đây một nét nổi bật trong thơ Chế LanViên là nét chính luận thì dần dà nó chuyển sang thành chính luận - triết

luận Ở 3 tập Di cảo gần như triết luận đã chiếm ưu thế” [5, 152] Ba nhận định trên hoàn toàn có cơ sở bởi ngay từ tập Điêu tàn, Chế Lan Viên đã chọn

cho mình một lối thơ giàu tính trí tuệ Tứ thơ Chế Lan Viên thường hướngtới nắm bắt ý nghĩa triết lí hàm ẩn trong mỗi hiện tượng và bằng tưởngtượng liên tưởng mà liên kết các sự vật hiện tượng trong nhiều mối tươngquan Cuộc sống hiện ra trong thơ Chế Lan Viên vì thế không chỉ như nhàthơ xúc cảm về nó mà còn suy nghĩ về nó Vì vậy, cuộc sống đi vào trongthơ có thể ít đi phần nào cái cụ thể sinh động, tươi tắn, nhưng bù lại, nó lại

được làm giàu thêm ở sức khái quát ở sự hư ảo biến hóa: Hạnh phúc màu

hoa huệ /Nhớ nhung màu hoa lau/ Biệt ly màu rách xé/ Lãng quên đâu có màu Khi nói về hạnh phúc, nhà thơ không định nghĩa một cách trừu tượng

mà lại đi vào lí giải theo nghĩa đời thường:

Trang 40

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp Giấc mơ con, đè nát cuộc đời con, Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp, Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn.

(Người đi tìm hình của nước)

Chế Lan Viên cũng thường dùng thủ pháp lạ hóa:

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

(Tiếng hát con tàu)

Với cách cảm nhận riêng về thế giới hiện thực, nhà thơ đã thực sự hòavào cơn bão lớn của thời đại và rung động trước những nét đẹp bình dị củathiên nhiên và tình người Những xúc cảm buồn vui, suy tư trước cuộc sốnggia đình, trước cái đời thường, trước thiên nhiên đã đi vào thơ ông một cách

tự nhiên, dung dị Trong bài thơ Con cò, Chế Lan Viên đã chỉ ra tính chất trí

tuệ của nhà thơ Ông đã khai thác và phát triển hình ảnh con cò trong nhữngcâu hát ru rất quen thuộc để ca ngợi tình mẫu tử và ý nghĩa của lời ru đối vớicuộc đời mỗi con người Bài thơ phát triển từ hình tượng trung tâm đó nhưnglại không phải là sự lặp lại giản đơn những hình ảnh và ý tứ có sẵn trong cadao Chất triết lý suy tưởng thấm vào trong hình tượng, nhưng biểu hiện tậptrung ở những câu thơ đúc kết sự suy ngẫm để đưa ra những triết lý cô đúc,những quy luật của đời sống con người Ở đây, những suy tưởng triết lýkhông cao xa mà vẫn gần gũi, dễ hiểu

Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân, Con chưa biết con cò, con vạc, Con chưa biết những cành mềm mẹ hát, Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân.

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (1995), "Chế Lan Viên, một bản lĩnh, một tâm hồn thơ phong phú, đa dạng, bí ẩn", Chế Lan Viên - Người làm vườn vĩnh cửu, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên, một bản lĩnh, một tâm hồn thơ phong phú, đa dạng, bí ẩn
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
2. Phan Thị Vàng Anh (1995), "Cha tôi", Chế Lan Viên - Người làm vườn vĩnh cửu, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha tôi
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
3. Vũ Tuấn Anh (1979), "Thơ chống Mỹ - tiếng nói thống nhất những phong cách đa dạng, giàu sức phát triển", Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ chống Mỹ - tiếng nói thống nhất những phong cách đa dạng, giàu sức phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1979
4. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
5. Vũ Tuấn Anh (biên soạn, 2007), Chế Lan Viên - Về tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên - Về tác gia tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
6. Lại Nguyên Ân (1993), "Cuộc cách mạng của phong trào Thơ mới và tiến trình thơ tiếng Việt", Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc cách mạng của phong trào Thơ mới và tiến trình thơ tiếng Việt
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
7. Bùi Văn Bổng (1995), "Sâu nặng với tình đời, trọn nghĩa với thơ”, Chế Lan Viên - Người làm vườn vĩnh cửu, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu nặng với tình đời, trọn nghĩa với thơ
Tác giả: Bùi Văn Bổng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
8. Nguyễn Phan Cảnh (2006), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 2006
9. Huy Cận, Hà Minh Đức (chủ biên, 1993), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10.Hoài Chân (1993), "Về cái buồn của thơ mới", Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cái buồn của thơ mới
Tác giả: Hoài Chân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
11.Xuân Diệu (1995), "Đọc Ánh sáng và phù sa", Chế Lan Viên người làm vườn vĩnh cửu, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc Ánh sáng và phù sa
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
12.Ngô Viết Dinh (2000), Đến với thơ Chế Lan Viên, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Ngô Viết Dinh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
13.Lê Tiến Dũng (1996), "Loại hình câu thơ của Thơ mới", Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình câu thơ của Thơ mới
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 1996
14.Phan Huy Dũng (1994), "Thiên nhiên như một biểu hiện của cái tôi trữ tình trong Thơ mới", Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên nhiên như một biểu hiện của cái tôi trữ tình trong Thơ mới
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1994
15.Phan Huy Dũng, Lê Huy Bắc (2008), Thơ mới trong nhà trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Phan Huy Dũng, Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
16.Trần Thanh Đạm (1993), “Những vần thơ triết lý của Chế Lan Viên qua những trang di cảo”, Văn nghệ, (36) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vần thơ triết lý của Chế Lan Viên qua những trang di cảo”, "Văn nghệ
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Năm: 1993
17.Nguyễn Lâm Điền (2010), Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, Nxb Văn học, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Nguyễn Lâm Điền
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2010
18.Hà Minh Đức (1979), “Chế Lan Viên”, Nhà văn Việt Nam (1945-1975) Tập 1, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên”," Nhà văn Việt Nam (1945-1975) Tập 1
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1979
19.Khổng Đức, “Đọc thơ Chế Lan Viên”, Kiến thức ngày nay, (53) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc thơ Chế Lan Viên”, "Kiến thức ngày nay
20.Hồ Thế Hà (1997), “Chế Lan Viên và những trang di cảo”, Tìm trong trang viết, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên và những trang di cảo”," Tìm trong trang viết
Tác giả: Hồ Thế Hà
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w