1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất trí tuệ và chính luận trong thơ chế lan viên

85 241 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục Lục MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 3 CHƯƠNG 1:VỊ TRÍ CỦA NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN VĂN HỌC 1945 – 1975 ............................................................................................. 4 1.1. BỐI CẢNH VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945–1975 ............... 4 1.1.1.Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa ............................................ 4 1.1.2. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam giai đoạn 1945–1975: .......................................................................................... 6 1.1.3. Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 19945–1975 ... 8 1.2. GIỚI THIỆU NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN ............................................13 1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp: .........................................................................13 1.2.2. Quan niệm và phong cách sáng tác của Chế Lan Viên ........................17 1.1.2.1. Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên ................................................17 1.1.2.2 Phong cách sáng tác thơ của Chế Lan Viên .......................................18 1.3. NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ ĐIỂM NỔI BẬT CỦA NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN VĂN HỌC 1945–1975 .............................18 1.3.1 Những đóng góp của nhà thơ chế lan viên trong giai đoạn văn học 1945– 1975 ...................................................................................................................18 1.3.2. Điểm nổi bật của nhà thơ chế lan viên trong giai đoạn văn học 1945– 1975 ...................................................................................................................22 CHƯƠNG 2: CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN (GIAI ĐOẠN 1945 – 1975) ............................................................................................................26 2.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ VẬN ĐỘNG CỦA CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN .......................................................................................27 2.2. NỘI DUNG THỂ HIỆN CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN .....................................................................................................................32 2.2.1. Sức mạnh trí tuệ biểu hiện trong khuynh hướng thơ suy tưởng, triết lý .32 2 2.2.2. Trí tuệ thông qua cảm xúc, tình cảm của nhà thơ ...................................37 2.3. NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN .....................................................................................................................43 2.3.1. Khai thác triệt để các tương quan đối lập ...............................................43 2.3.2 .Sáng tạo phong phú về giọng điệu và hình ảnh ......................................47 2.4. ĐIỂM KHÁC BIỆT VỀ CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SO VỚI CÁC TÁC GIẢ TRONG GIAI ĐOẠN 1945 – 1975 ..............50 CHƯƠNG 3: CHẤT CHÍNH LUẬN TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN ...........53 (GIAI ĐOẠN 1945 – 1975) ....................................................................................53 3.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ VẬN ĐỘNG CỦA YẾU TỐ CHÍNH LUẬN TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN ........................................................................53 3.2. NỘI DUNG THỂ HIỆN CHẤT CHÍNH LUẬN TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN ...........................................................................................................59 3.2.1. Cảm hứng dân tộc, thời đại .....................................................................59 3.2.2. Cái tôi hòa nhập ......................................................................................64 3.3. NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CHẤT CHÍNH LUẬN TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN ...........................................................................................................70 3.3.1. Ngôn từ ..................................................................................................70 3.3.2. Thể thơ ...................................................................................................74 3.3.3. Hình ảnh thơ .........................................................................................78 3.4. ĐIỂM KHÁC BIỆT VỀ CHẤT CHÍNH LUẬN TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SO VỚI CÁC TÁC GIẢ TRONG GIAI ĐOẠN 1945 – 1975 ....80 KẾT LUẬN: .............................................................................................................83 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................84

Trang 1

Mục Lục

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1:VỊ TRÍ CỦA NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN VĂN HỌC 1945 – 1975 4

1.1 BỐI CẢNH VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945–1975 4

1.1.1.Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa 4

1.1.2 Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam giai đoạn 1945–1975: 6

1.1.3 Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 19945–1975 8

1.2 GIỚI THIỆU NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN 13

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp: 13

1.2.2 Quan niệm và phong cách sáng tác của Chế Lan Viên 17

1.1.2.1 Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên 17

1.1.2.2 Phong cách sáng tác thơ của Chế Lan Viên 18

1.3 NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ ĐIỂM NỔI BẬT CỦA NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN VĂN HỌC 1945–1975 18

1.3.1 Những đóng góp của nhà thơ chế lan viên trong giai đoạn văn học 1945– 1975 18

1.3.2 Điểm nổi bật của nhà thơ chế lan viên trong giai đoạn văn học 1945– 1975 22

CHƯƠNG 2: CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN (GIAI ĐOẠN 1945 – 1975) 26

2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ VẬN ĐỘNG CỦA CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN 27

2.2 NỘI DUNG THỂ HIỆN CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN 32

2.2.1 Sức mạnh trí tuệ biểu hiện trong khuynh hướng thơ suy tưởng, triết lý 32

Trang 2

2.2.2 Trí tuệ thông qua cảm xúc, tình cảm của nhà thơ 37

2.3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN 43

2.3.1 Khai thác triệt để các tương quan đối lập 43

2.3.2 Sáng tạo phong phú về giọng điệu và hình ảnh 47

2.4 ĐIỂM KHÁC BIỆT VỀ CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SO VỚI CÁC TÁC GIẢ TRONG GIAI ĐOẠN 1945 – 1975 50

CHƯƠNG 3: CHẤT CHÍNH LUẬN TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN 53

(GIAI ĐOẠN 1945 – 1975) 53

3.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ VẬN ĐỘNG CỦA YẾU TỐ CHÍNH LUẬN TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN 53

3.2 NỘI DUNG THỂ HIỆN CHẤT CHÍNH LUẬN TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN 59

3.2.1 Cảm hứng dân tộc, thời đại 59

3.2.2 Cái tôi hòa nhập 64

3.3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CHẤT CHÍNH LUẬN TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN 70

3.3.1 Ngôn từ 70

3.3.2 Thể thơ 74

3.3.3 Hình ảnh thơ 78

3.4 ĐIỂM KHÁC BIỆT VỀ CHẤT CHÍNH LUẬN TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SO VỚI CÁC TÁC GIẢ TRONG GIAI ĐOẠN 1945 – 1975 80

KẾT LUẬN: 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 3

MỞ ĐẦU:

Chế Lan Viên là một trong những gương mặt tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam Thơ ông đi vào người bằng những câu chữ triết lí hết sức duyên dáng và đằm thắm Từng dòng cảm xúc cứ tuôn trào và chiếm lĩnh tâm hồn đọc giả

Đối với nền văn học nước nhà, Chế Lan Viên đã góp phần tạo nên diện mạo phong phú, đa dạng Hơn thế, độc giả khi nhắc đến ông dường như ai cũng ghi nhận rằng ông là một nhà thơ có ý thức tìm hiểu nghệ thuật thơ Cũng chính từ bước ý thức đầy trách nhiệm ấy mà màu sắc chính luận đã phát triển trong thơ ông sau 1945 Ông còn là một nhà thơ có ý thức đổi mới thơ, sự nỗ lực đổi mới và thay đổi vai trò trách nhiệm trong thơ ca của ông là một tinh thần đáng quý và đáng ghi nhận Chính thơ ca đã góp phần làm nên cuộc đời và sự sống mãi của ông giữa dòng đời bởi liệu rằng cuộc đời của ông sẽ còn lại gì nếu người ta không chú trọng, không đăm chiêu, tìm tòi và yêu mến thơ ông Đi ra từ “ thung lũng đau thương” đến “cánh đồng vui”, thơ Chế Lan Viên mang đến cho văn học Việt Nam một hương sắc mới Chất trí tuệ của một con người tài hoa kết hợp với chất chính luận khởi nguồn từ những cột mốc lịch sử quê hương đã đưa bạn đọc cùng biết bao tâm hồn say mê thơ mãi khắc ghi tên ông trong lòng Với mong muốn tìm hiểu sâu kĩ hơn một phong cách thơ đặc sắc như Chế Lan Viên, đó chính là nguồn cảm hứng để chúng tôi thực hiện tiểu luận này Thông qua tiểu luận, chúng tôi rất mong giúp các bạn đọc hứng thú với nhà thơ

sẽ có cái nhìn cận hơn về chất trí tuệ và chất chính luận trong thơ Chế Lan Viên (giai đoạn 1945 – 1975)

Trang 4

CHƯƠNG 1:VỊ TRÍ CỦA NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN

VĂN HỌC 1945 – 1975

1.1 BỐI CẢNH VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945–1975:

1.1.1.Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa

Thứ nhất, hoàn cảnh nổi bật giai đoạn này chính sự lãnh đạo của Đảng với đường lối văn nghệ xuyên suốt (Bản đề cương văn hóa năm 1943): Xã hội Việt Nam

1945 – 1975 có nhiều biến động ảnh hưởng đến sự phát triển của nền văn học dân tộc Điều đầu tiên cần phải nhắc đến là nền văn học được sự lãnh đạo của Đảng với đường lối văn nghệ nhất quán, xuyên suốt Có thể nói, Đảng lãnh đạo toàn diện trên mọi mặt trận, và cụ thể với văn nghệ là bằng tổ chức (từ Nhóm văn hóa cứu quốc trước 1945 đến các hội như: Liên hiệp văn học nghệ thuật, Hội nhà văn, Hội sân khấu, Hội âm nhạc… sau này) và bằng đường lối Đường lối này được thể hiện trong các văn kiện của Đảng về văn hóa nghệ thuật và các bài phát biểu của các lãnh tụ tại các đại hội, hội nghị về văn hóa, văn nghệ Đó là “Đề cương văn hóa Việt Nam” (1943), “Mấy nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hóa mới Việt Nam hiện nay” (1944), “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc phong phú dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội” (1957), “Tăng cường tính Đảng, đi sâu vào cuộc sống mới để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa” (1962) của Trường Chinh Nội dung cơ bản của đường lối ấy là coi văn hóa như một mặt trận, người nghệ sĩ là người chiến sĩ trên mặt trận ấy Văn nghệ mang tính dân tộc, khoa học và đại chúng Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa yêu cầu phải phản ánh chân thật, hùng hồn cuộc sống mới, con người mới và phản ánh cuộc sống trong quá trình cách mạng Văn nghệ phải phục vụ chính trị, còn chính trị thì lãnh đạo văn nghệ Những nội dung trên là nhất quán, xuyên suốt trong quá trình tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ và chi phối trực tiếp hoạt động văn hóa, văn nghệ

Từ đường lối văn nghệ của Đảng dẫn đến tính thống nhất về tư tưởng của của văn học sau 1945, chấm dứt sự phân hóa phức tạp của văn học Việt Nam trước Cách

Trang 5

mạng tháng Tám năm 1945 Nghĩa là chấm dứt hai bộ phận phân biệt về ý thức hệ, thái độ chính trị của nhà văn đối với cuộc đấu tranh dân tộc: văn học công khai và văn học không công khai; chấm dứt ba xu hướng văn học chính cùng tồn tại, phát triển vừa đấu tranh vừa bổ sung cho nhau: văn học lãng mạn, văn học hiện thực phê phán và văn học cách mạng Nhưng đến đây, tư tưởng của văn học thống nhất với tư tưởng chính trị yêu nước, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Tư tưởng ấy tạo nên một nền văn học sáng tác theo khuynh hướng sử thi và tràn đầy cảm hứng lãng mạn Diện mạo văn học dân tộc không còn phân hóa phức tạp, lắm hướng nhiều dòng như trước cách mạng tháng Tám 1945 Về cơ bản chỉ còn một dòng văn học duy nhất có

tư tưởng thống nhất với tư tưởng chính trị nói trên

Đây chính là yếu tố quan trọng tạo nên bước ngoặc chấm dứt sự phân hóa phức tạp của văn hóa văn học nước ta dưới ách thực dân, tạo nên một nền văn nghệ thống nhất sau 1945

Thứ hai phải kể đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc

Mĩ trường kí suốt 30 năm đã tác động sâu sắc, toàn diện tới đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc, trong đó có văn nghệ, tạo nên những đặc điểm riêng biệt của một nền văn học hình thành và phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, ác liệt Chiến tranh là hoàn cảnh không bình thường trong đời sống của một dân tộc, một đất nước Chiến tranh đã ảnh hưởng đến toàn diện nền kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đến nếp sống, sinh hoạt của mỗi người và của cả cộng đồng, đòi hỏi cả dân tộc và mỗi người muốn tồn tại phải tổ chức đời sống thích ứng với hoàn cảnh ấy Chiến tranh cũng ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện đến đời sống tinh thần nói chung và đời sống văn học nói riêng Trong hoàn cảnh đó, giá trị sống cao nhất là độc lập tự

do cho cả dân tộc và cho mỗi con người Do vậy, nó là sự lựa chọn duy nhất của dân tộc và của mỗi người Việt Nam, nó trở thành mục tiêu, lý tưởng của thời đại và quy

tụ được lòng người

Trang 6

Đặc điểm nổi bật cuối cùng của tình hình đất nước lúc này là nền kinh tế nghèo nàn và chậm phát triển, điều kiện giao lưu văn hóa bị hạn chế (chủ yếu tiếp xúc và chịu ảnh hưởng văn hóa các nước xã hội chủ nghĩa, cụ thể là Liên Xô và Trung Quốc…) Nguyên nhân làm chậm phát triển kinh tế là do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài Cơ chế này không giải phóng được sức sản xuất, không tạo động lực khuyến khích người lao động sáng tạo, tăng năng xuất lao động, thậm chí còn dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc” và tham quyền, tham nhũng trong bộ máy quan liêu Điều đó làm cho kinh tế chậm phát triển, ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống nhân dân Điều đáng nói hơn nữa, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn ở cả các lĩnh vực khác như văn hóa, xã hội, trong đó có văn học Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, cục diện thế giới chia làm hai phe rõ rệt, một phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu, một phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu Trong hoàn cảnh chính trị thế giới, tâm lý xã hội trong nước như thế và điều kiện chiến tranh ác liệt, liên tục 30 năm, việc giao lưu văn hóa với bên ngoài, nhất là phương Tây tư bản bị hạn chế là điều không tránh khỏi Sự giao lưu hạn hẹp đó đã ảnh hưởng đến văn học Việt Nam cả trên bình diện lý luận, cả trên bình diện sáng tác

Tóm lại, ba nhân tố trên đây đã tác động trực tiếp và ảnh hưởng quyết định đến đời sống văn học dân tộc giai đoạn 1945 – 1975

1.1.2 Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam giai đoạn 1945–1975:

 1945– 1954:

1945– 1946: Các sáng tác phản ánh không khí hồ hởi mê say khi mới dành độc lập,

ca ngợi “ cuộc tái sinh màu nhiệm” của dân tộc (Tình sông núi – Mai Ninh, Ngọn quốc kì– Xuân Diệu, Vui bất tuyệt – Tố Hữu…)

Từ cuối 1946: Trong giai đoạn này, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến; hướng

Trang 7

tới khám phá sức mạnh và phẩm chất tốt đẹp của quần chúng công nông binh; thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của kháng chiến

Một số tác phẩm tiêu biểu:

+ Truyện và kí: “Một lần tới thủ đô”, “Trận phố” Ràng của Trần Đăng, Truyện ngắn

“Đôi mắt” và “Nhật kí ở rừng” của Nam Cao, truyện ngắn “Làng” của Kim Lân…),

“Vùng mỏ” của Võ Huy Tâm, “Đất nứớc đứng lên” của Nguyên Ngọc, “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài,…

+ Thơ: “Cảnh khuya”, “Rằm tháng giêng” của Hồ Chí Minh, “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, “Tây Tiên” của Quang Dũng,…

+ Kịch: “Bắc Sơn”, “Những người ở lại” của Nguyễn Huy Tưởng,…)

 1955 – 1964: Nội dung bao trùm của nền văn học lúc này là hình ảnh người lao động, những đổi thay của con người trong bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội với cảm hứng lãng mạn, lạc quan với một số tác phẩm tiêu biểu như: “Sống mãi với thủ đô”,“Cao điểm cuối cùng”, “Trứớc giờ nổ súng”, “Vợ nhặt”,…

 1965 – 1975: Đây là cao trào sáng tác viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ trong cả nước với chủ đề bao trùm: tinh thần yêu nước, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng

+ Văn xuôi: Những tác phẩm truyện, kí ra đời ngay trên tiền tuyến đầy máu lửa đã phản ánh nhanh nhạy và kịp thời cuộc chiến đấu của nhân dân khắp mọi miền anh dũng: “Người mẹ cầm súng”, “Rừng xà nu”, “Hòn đất”,“Dấu chân người lính”, “Bão biển”,…

+ Thơ: Mở rộng và đào sâu chất liệu hiện thực, tăng cường sức khái quát, chất suy tưởng, chính luận, ghi nhận một thế hệ nhà thơ trẻ chống Mĩ tài năng như Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Bằng Việt…và hàng loạt các tác phẩm gây tiếng vang (Tập thơ

“Ra trận”, “Máu và hoa” của Tố Hữu, “Hoa ngày thường – Chim báo bão “của Chế Lan Viên,…)

Trang 8

1.1.3 Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 19945–1975:

– Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước: Bước ngoặc Cách mạng Tháng Tám khiến cả nước được cuốn vào một không khí chính trị sôi nổi với niềm vui của những người lần đầu tiên được làm chủ đất nước mình Họp đoàn thể Tập tự vệ Chào cờ đỏ sao vàng Hát

“Tiến quân ca”, “Diệt phát xít” Con người được hâm mộ nhất lúc bấy giờ là người

ở chiến khu về, là cán bộ Việt Minh, chiến sĩ giải phóng quân

Độc lập tự do vừa giành được chưa bao lâu, giặc Pháp lại trở lại, rồi giặc Mỹ kéo vào Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, cái huyệt thần kinh nhạy cảm nhất của người Việt Nam bị chạm mạnh Lúc đó Đảng đề ra văn nghệ sĩ phải đứng trên lập trường kháng chiến, phải tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu, thì những cây bút chân chính đều thấy là hết sức hợp lý Và họ nhập cuộc với tinh thần ấy Nghĩa vụ công dân là cao cả nhất, thiêng liêng nhất

Thơ ca từ năm 1945 đến 1975 là những tình cảm công dân, tình cảm chính trị tình đồng chí, tình đồng bào, tình quân dân, tình với Đảng với Bác Hồ, với Miền Nam còn trong tay giặc hay miền Bắc xã hội chủ nghĩa v.v… Những tình cảm khác không phải không được nói đến, nhưng đều được nâng lên thành tình cảm chính trị, được đánh giá theo tiêu chuẩn chính trị (tình vợ chồng của chị Út Tịch chẳng hạn), hoặc phải có tác dụng tô đậm thêm, tình cảm chính trị ở người anh hùng (Hòn đất, Sống như anh v.v…)

Con người của đời sống cũng như trong truyện ký đều được nhìn nhận và đánh giá chủ yếu ở phẩm chất chính trị Trước hết phải xác định ta hay địch, bạn hay thù? Nếu là ta thì trình độ giác ngộ chính trị đến mức nào? Người anh hùng hay con người mới có nghĩa là người giác ngộ lý tưởng chính trị cao nhất Trong truyện ngắn, tiểu thuyết, có một hình tượng trở thành mô típ phổ biến: nhân vật người Đảng (A Châu trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, anh Thế trong “Đất nước đứng lên” của Nguyên Ngọc, chị Ba Dương trong “Một chuyện chép ở bệnh viện” của Bùi Đức Ái

Trang 9

v.v…) Đó là nhân vật cần thiết phải có mặt để nâng sự giác ngộ chính trị của người anh hùng lên trình độ cao nhất…

Trong giới phê bình văn học chủ yếu tiêu chuẩn chính trị muốn trở thành một tiêu chuẩn mỹ học cao nhất Nhiều nhà phê bình coi tiêu chẩn chính trị như tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá các tác phẩm văn học

Văn học phục vụ chính trị nên quá trình vận động phát triển hoàn toàn ăn nhịp với từng bước đi của cách mạng, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước: ca ngợi Cách mạng và cuộc sống mới (1945–1946); cổ vũ kháng chiến, théo sát từng chiến dịch, biểu dương các chiến công, phục vụ cải cách ruộng đất (1946–1954); ca ngợi thành tựu khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (hợp tác hoá nông nghiệp, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa); phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954–1965); cổ vũ cao trào chống Mỹ cứu nước của toàn dân tộc (1964–1975)

- Nền văn học hướng về đại chúng:

Cách mạng và kháng chiến phải dựa hẳn vào công nông và trước hết nhằm giải phóng công nông Cho nên văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu tất phải hướng về công nông binh Đây là đối tượng phản ánh, là công chúng văn học, là lực lượng sáng tác Đó là phương hướng cơ bản xác định nội dung và hình thức của văn học giai đoạn 1945–1975

Có thể nói,trước sự nghiệp to lớn của Cách mạng, trước vai trò vĩ đại của nhân dân lao động, các nhà văn sẵn sàng từ bỏ nghiệp văn chương cũ như những “đứa con hoang”, thậm chí những “đứa con tội lỗi” để “lột xác” và làm lại cuộc đời nghệ thuật mới của mình vì kháng chiến, vì đại chúng công nông Con người trong sạch nhất, đang tin cậy nhất và vì thế cũng đáng tự nào nhất là con người xuất thân từ bần cố nông và giai cấp vô sản

Tư tưởng nói trên, trong văn học, thường được phát biểu qua hai loại chủ đề với những dạng cấu tạo hình tượng phổ biến sau:

Trang 10

Thứ nhất, phê phán cách nhìn có định kiến sai trái đối với quần chúng bằng cách, hoặc đối lập những nhân vật có quan điểm khác nhau và đề cao quan điểm đúng (Đôi mắt của Nam Cao), hoặc mô tả sự chuyển biến của một nhân vật nào đấy

từ chỗ hiểu sai mà xem thường quần chúng, đến chỗ hiểu đúng và khâm phục (nhiều truyện ngắn “Hoa và thép” của Bùi Hiển, “Mẫn và tôi” của Phan Tứ, “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu,…)

Thứ hai, trực tiếp ca ngợi quần chúng, hoặc bằng cách xây dựng hình tượng đám đông sôi động của công nhân, nông dân, bộ đội, dân công… đầy khí thế và sức mạnh (“Kí sự” của Trần Đăng, “Đuốc dân công tiếp vận” của Nguyễn Tuân, “Xung kích”, “Vỡ bờ” của Nguyễn Đình Thi); hoặc xây dựng những nhân vật anh hùng kết tinh những phẩm chất cao đẹp của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc (“Đất nước đứng lên”, “Rừng xà nu” của Nguyên Ngọc, “Người mẹ cầm súng”, “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi, “Hòn đất” của Anh Đức,…)

Đại chúng công nông binh, như đã nói không phải chỉ là đối tượng phản ánh, ngợi ca của văn học mà còn là nguồn cung cấp lực lượng sáng tác cho nó Đảng rất chú ý phát động phong trào văn nghệ quần chúng để từ đấy phát hiện và bồi dưỡng những cây bút nổi lên từ các phong trào ấy, đặc biệt là trong quân đội

– Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:

Khuynh hướng sử thi là những tình cảm, cảm xúc tự hào , ngợi ca của tác giả

về những vấn đề lớn lao quyết định vận mệnh chung của cộng đồng Đây là cảm hứng chi phối mạnh mẽ đến các sáng tác của các thi nhân trong thời kỳ kháng chiến, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ Sử thi thì mang ý nghĩa lịch sử còn cảm hứng lãng mạn lại mang nội dung trữ tình sôi nổi, dạt dào và hướng về lý tưởng, hướng về tương lai

Cảm hứng lãng mạn đó là cách nhìn thế giới mang đậm dấu ấn chủ quan, đầy

mơ ước.Có khi đó là sự mơ ước bay bổng hướng tới cái chưa có trong thực tế bằng niềm tin,sự lạc quan Văn học 1945–1975 đã thể hiện những cảm xúc lãng mạn tích

Trang 11

cực đó Hiện thực chiến tranh khốc liệt, phải đương đầu với hai kẻ thù hùng mạnh,một nửa đất nước tiến lên con đường Chủ nghĩa xã hội từ đôi tay trắng, phải

"Dọn tí phân rơi nhặt từng mẩu lá" để "dựng cơ đồ" (Tố Hữu)

Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được biểu hiện ở các phương diện sau:

Thứ nhất, cảm hứng sử thi trong việc lựa chọn đề tài, chủ đề và tư tưởng tác phẩm Tác phẩm thường đề cập đến những vấn đề chung của cộng đồng, của xã hội, của đất nước Ví như cuộc đối đầu quyết liệt của đồng bào Tây Nguyên với Đế quốc

và tay sai trong truyện ngắn “Rừng xà nu” Các tác phẩm mang cảm hứng sử thi luôn lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước, vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc

Thứ hai là trong việc xây dựng hình tượng Các nhân vật, hình tượng trong các tác phẩm mang cả hứng sử thi, dù là những con người bình dị, thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, thành phần dân tộc đều mang trong mình những phẩm chất anh hùng, thể hiện tầm vóc lớn lao, kết tụ sức mạnh, ý chí chung của cả cộng đồng Đó là những Tnú, cụ Mết và dân làng Xô man, là hình ảnh đoàn quân hừng hực khí thế trong

“Việt Bắc”: "Những đường Việt Bắc của ta Đèn pha bật sáng như ngày mai lên" Cảm hứng chủ đạo khi xây dựng những hình tượng, nhân vật này là cảm hứng khẳng định, ngợi ca, tự hào thường kết hợp với thủ pháp cường điệu hóa.Các nhân vật thường được đặt trong bối cảnh không gian rộng lớn, kì vĩ để tôn nổi tấm vóc của nhân vật

Tiếp nữa là thể hiện thông qua một số thủ pháp nghệ thuật.Các thủ pháp nghệ thuật thường được tác giả sử dụng là thủ pháp cường điệu, so sánh nhằm khắc họa nổi bật hình ảnh những nhân vật tượng trưng cho phẩm chất cao đẹp và ý chí, khát vọng của cả cộng đồng Trong truyện “Rừng xà nu”, cách tổ chức kết cấu kiểu truyện trong truyện, đầu cuối tương ứng (kết cấu vòng tròn) cũng góp phần chuyển tải tư tưởng và cảm hứng sử thi của tác phẩm

Trang 12

Văn học gắn liền với khuynh hướng sử thi, tập trung phản ánh không khí hồ hởi, vui sướng khi đất nước giành độc lập và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Văn học gắn bó với cuộc sống kháng chiến Cho nên mới có những lời mừng vui:

"Mẹ ! Cao – Lạng hoàn toàn giải phóng Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn

Vệ quốc quân chiếm lại các đồn Người đông như kiến, súng đầy như củi"

( “Dọn về làng”- Nông Quốc Chấn) Hơn nửa văn học còn ngợi ca những đổi thay của đất nước và con người trong bước đầu xây dựng Xã hội chủ nghĩa với cảm hứng lãng mạn Đó là sự đổi đời của con người, miêu tả sự biến đổi số phận và tính cách nhân vật trong môi trường xã hội mới qua bài thơ "Đất nước":

"Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa"

(“Đất nước”– Nguyễn Đình Thi) Khuynh hướng sử thi giai đoạn này là khuynh hướng vươn tới những cái lớn lao, phi thường qua những hình ảnh tráng lệ Ở Tố Hữu, cái tôi trữ tình ban đầu là cái tôi chiến sĩ, về sau là cái tôi nhân danh cộng đồng, nhân dân Đảng và đất nước

Trang 13

Tuy đứng giữa thực tại đầy đau khổ, mất mát, đau thương nhưng tâm hồn họ luôn hướng về tương lai, về lí tưởng

"Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai"

(“Theo chân Bác”– Tố Hữu) Đối tượng thể hiện chủ yếu trong thơ Tố Hữu là những sự kiện lớn của dân tộc, những vấn đề có ý nghĩa lịch sử, có tình chất toàn dân, những biến cố quan trọng tác động đến vận mệnh dân tộc cảm hứng chủ đạo trong thơ là cảm hứng lịch sử dân tộc, là vận mệnh của cộng đồng Các nhân vật trữ tình thường mang phẩm chất tiêu biểu cho dân tộc: anh vệ quốc quân, anh giải phóng quân, người mẹ Việt Nam anh hùng

Sống giữa chiến tranh khốc liệt,luôn phải đối mặt với hy sinh mất mát song những người chiến sĩ vẫn ngời sáng phẩm chất anh hùng cách mạng,họ tuyệt đối tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng và tìm thấy niềm vui,sự lạc quan từ chính thực tại cuộc sống như nhà văn Anh Đức đã nói:"nơi dòng đời chảy xiết, nơi máu đổ, nơi tình huống khó khăn gian khổ nhưng lại là nơi có thể viết nên những trang đẹp nhất" Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan và đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển của cách mạng Suốt ba mươi năm văn họcluôn là tiếng kèn xung trận, tiếng trống thúc quân góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu nước

1.2 GIỚI THIỆU NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN:

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp:

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 9 tháng 9 năm Canh Thân) tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung (THCS hay cấp II hiện nay) thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê

Trang 14

hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn" Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là "Bàn thành tứ hữu" của Bình Định

Sinh ra ở vùng đất Hoan Châu nên được cha mẹ đặt tên là Phan Ngọc Hoan Nhưng vùng đất gắn bó với nhà thơ nhất lại là Bình Định Thành Đồ Bàn xưa được Chế Lan Viên xem là quê hương thứ hai của mình Bởi ngay từ khi 7 tuổi, cậu bé Hoan đã theo gia đình vào Bình Định và từ đó đã gắn bó với vùng đất ấy suốt cả thời gian cấp sách đến trường Bình Định cũng là nơi mà Chế Lan Viên bắt đầu làm thơ

và bắt đầu tham gia Cách mạng tháng Tám Có lẽ vì vậy mà trong một lần trả lời phỏng vấn của một người bạn Đức, Chế Lan Viên nói rằng: “Quê tôi là nơi có nhiều tháp Chàm, gần bể.”

Năm 1939, ông ra học tại Hà Nội Sau đó Chế Lan Viên vào Sài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa dạy học Năm 1942, ông cho ra đời tập văn Vàng sao, tập thơ triết luận về đời với màu sắc siêu hình, huyền bí

Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy Nhơn, rồi ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh Thời kỳ này, Chế Lan Viên viết bài và làm biên tập cho các báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực Tháng 7 năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn–đường 9 (Quảng Trị), Chế Lan Viên gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương

Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn học Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn trung ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học (sau là báo Văn nghệ) Từ năm 1963 ông là ủy viên thường vụ Hội nhà văn Việt Nam, ủy viên ban

Trang 15

thư kí Hội nhà văn Việt Nam Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa IV, V và VI, ủy viên Ban văn hóa – giáo dục của quốc hội

Từ năm 1959 đến năm 1963, trong thời gian làm biên tập báo Văn học, phụ trách chuyên mục Nói chuyện văn thơ, trả lời bạn đọc, ông ký bút danh Chàng Văn Năm

1961, Nhà xuất bản Văn học đã cho xuất bản hai tập Vào nghề và Nói chuyện văn thơ của tác giả Chàng Văn

Trong mục “Nụ cười xuân” trên báo Văn học, Chế Lan Viên có hai bài viết ngắn là “Ngô bói Kiều” và “Lý luận Đờ Gôn ký tên Oanh” (tức Hoan)

Cái bút danh Chế Lan Viên gắn bó với đời thơ của thi sĩ có vẻ như một sự ngẫu nhiên Họ Chế được Hàn Mặc Tử đặt khi viết bài Thi sĩ Chàm tặng Chế Bồng Hoan, chữ Lan Viên là lấy tên người bạn xưa của Yến Lan và ấn tượng vườn lan nhiều hoa nhà bạn (có thể hiểu tác giả tự nhận mình là bông hoa lan trong khu vườn nhà họ Chế – dòng họ vua chúa của dân tộc Chàm ở nước Chiêm Thành xưa) Bút danh Chế Lan Viên đã theo nhà thơ suốt sự nghiệp sáng tác của mình, làm nên tên tuổi của nhà thơ ở cả hai thời đại: nổi tiếng trước cách mạng và sau cách mạng càng trưởng thành hơn Ngoài ra, trong bài giới thiệu tập tiểu luận Những bước đường tư tưởng của tôi của Xuân Diệu, đăng trên báo Văn học tháng 9 năm 1958, ông ký bút danh Thạch Hãn (tên một con sông tỉnh Quảng Trị quê ông) Nhiều bài báo in trên báo Thống Nhất, xuất bản ở Hà Nội trước tháng 5 năm 1975, ông cũng ký bằng bút danh này Sau 1975, ông vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh Ông mất ngày 19 tháng 6 năm

1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại Bệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh phổi nặng, thọ 69 tuổi Ấy thế mà, con đường thơ của ông vẫn được tiếp tục Người bạn đời của ông – nhà văn Vũ Thị Thường và con gái thứ hai của ông – nhà văn Phan Thị Vàng Anh đã tập hợp những bài thơ chưa công bố của nhà thơ làm thành ba tập Di cảo và cho xuất bản trong các năm 1992, 1993,1994 Những băn khoan, day dứt về cái “tôi” thi sĩ, về nghề thơ, về bản ngã trong Di cảo thơ càng

Trang 16

cho phép chúng ta nhìn nhận rõ hơn chân dung một con người đã suốt đời “trận mạc với thơ ca” như cách nói của Trúc Thông

Ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996) Ông có người con gái là bà Phan Thị Vàng Anh, cũng là một nhà văn nổi tiếng

 Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967)

 Những bài thơ đánh giặc (1972)

 Đối thoại mới (1973)

 Thăm Trung Quốc (bút ký, 1963)

 Những ngày nổi giận (bút ký, 1966)

Trang 17

1.2.2 Quan niệm và phong cách sáng tác của Chế Lan Viên:

1.1.2.1 Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên

Quan niệm về thơ của Chế Lan Viên được thể hiện ở các bài viết, bài nói chuyện, đặc biệt là trong rất nhiều bài thơ Ông là nhà thơ luôn có sự tìm tòi, khám phá và sáng tạo Ông luôn biết kế thừa, phát huy những tinh hoa của nền văn chương

và nhân loại để mang lại cho tác phẩm của mình một vẻ đẹp riêng Ông có sự nhận thức sâu sắc về chức năng của văn chương và sứ mệnh thiêng liêng của người nghệ

sĩ đối với cuộc sống

Ông quan niệm sáng tạo thơ là một nghề cao quý trong xã hội, nhà thơ phải

có vị trí, sứ mệnh cao cả đối với đời Nghề thơ không phải ai cũng làm được, bởi nhà thơ phải có hồn thi sĩ Nhà thơ không chỉ biết tin yêu cuộc đời, có khát vọng vươn tới cái chân, thiện, mỹ của cuộc sống mà còn phải thật sự khổ luyện để vượt

Trang 18

lên tất cả Nhà thơ cần phải nhìn, nghe và suy ngẫm để góp phần lý giải, khám phá những vấn đề trong đời sống Nghề thơ đòi hỏi nhà thơ phải có tài năng thơ mới có thể cảm nhận, khám phá, thể hiện cuộc sống một cách tinh tế, nhạy bén Ông đòi hỏi thợ thơ phải nắm bắt được một số kỉ thuật và phương pháp cần thiết cho việc sáng tạo thơ Ông cho rằng: Làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữ, và ngôn ngữ trong thơ có lúc mộc mạc, hồn nhiên, nhưng lại có lúc mang vẻ đẹp kì diệu

lạ thường

1.1.2.2 Phong cách sáng tác thơ của Chế Lan Viên

Phong cách thơ Chế Lan Viên trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ, thậm chí, có một thời gian dài dường như im lặng (1945 – 1958)

- Trước cách mạng tháng Tám đề tài ông hướng đến đó là trường thơ loạn, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa “trường thơ loạn”: kinh dị, thần bí, bế tắc của thời Điêu tàn với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát, với tháp Chàm

- Sau cách mạng tháng Tám: thơ ông đã đến với cuộc sống và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng, và có những đổi thay rõ rệt Trong thời kì 1960 –

1975, thơ Chế Lan Viên vươn tới khuynh hướng sử thi hào hùng, chất chính luận, đậm tính thời sự Sau chiến tranh, thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và những trăn trở của cái “tôi” trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống

1.3 NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ ĐIỂM NỔI BẬT CỦA NHÀ THƠ CHẾ LAN VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN VĂN HỌC 1945–1975

1.3.1 Những đóng góp của nhà thơ chế lan viên trong giai đoạn văn học 1945– 1975:

Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn, một nhà văn hóa tiêu biểu – mà cuộc đời và

sự nghiệp thi ca gắn bó chặt chẽ với đời sống dân tộc và sự nghiệp cách mạng Các sáng tác thơ và trước tác phê bình, tiểu luận trên nhiều phạm vi của ông có ảnh hưởng rộng rãi và có tác động tích cực đến đời sống văn học và văn hóa Việt Nam hiện đại

Trang 19

nhưng đóng góp nổi bật nhất có lẽ vẫn ở mảng thơ ca Luôn sống hết mình với thời đại, Chế Lan Viên chính là người ca sĩ hào hùng hàng đầu của một thời lịch sử Tiếng thơ của ông thật xứng đáng là tiếng nói nhân danh dân tộc, cách mạng và chân lý còn vang vọng mãi với thời gian

Con đường thơ của Chế Lan Viên được mệnh danh là một cuộc hành trình đi

từ những tháp ngà thi ca mang cái tôi u sầu dấn thân mạnh mẽ để bước tới quảng trường xã hội nhân quần, “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” Bản thân nhà thơ đã vượt thoát cái thế giới huyền bí, có những “ma hời sờ soạng dắt nhau đi”

để nhận ra cuộc đời hiện hữu, có thực của nhân dân Cuộc tìm đường ấy đầy nhọc nhằn và dũng cảm như nhà thơ tự bạch: “đi xa về hóa chậm/ biết bao là nhiêu khê” Ánh sáng của cách mạng đến đã thay da đổi thit, đổi hồn thơ của cả đội ngũ các văn nghệ sĩ, tất cả cùng đi trên một chuyến tàu hướng về cuộc sống mới Chế Lan Viên cũng không ngoại lệ, ông đã mạnh dạn dấn thân bước lên những toa tàu đi đầu Phải nói con người và hồn thơ của ông đã qua những cơn đau đớn để lột xác để thay da đổi thịt đầy sức sống và khỏe khoắn Do đó đóng góp lớn nhất của thơ Chế Lan Viên

ở giai đoạn này thơ mang khuynh hướng chính trị nổi bật bao trùm lên sáng tác với: hình tượng con người thời đại mới, hình tượng vẹn toàn vẹn về vị lãnh tụ kính mến

Hồ Chí Minh và đặc biệt nổi bật là hình tượng tổ quốc… và tất cả những đóng góp

đó đều được thể hiện qua từng tập thơ sáng tác trong giai đoạn 1945– 1975

“Ánh sáng và phù sa” là dấu ấn rõ rệt về sự sống lại của một hồn thơ trong chế độ mới Cuộc lên đường đầy hứng thú và hào hùng Qua tập thơ Chế Lan Viên nhanh chóng đi vào đội ngũ những người mở đường mạnh mẽ, táo bạo, tạo ra một thời đại thi ca mới cách mạng

Đặc biệt các tác phẩm những năm chống Mỹ đã nâng nhà thơ lên một tầm cao mới Với những nỗ lực đổi mới và sáng tạo nghệ thuật, Chế Lan Viên đã vượt lên tuyến đầu, trở thành một trong những người dẫn đường xuất sắc cho thi ca đương

Trang 20

thời Đó là hành trình mở đường và dẫn đường bền bỉ, quả cảm và sáng tạo của nhà

văn – chiến sĩ cách mạng, một hành trình vẻ vang rất đáng tự hào

Ba mươi năm ( 1945 – 1975) là một cuộc thử thách gay go, quyết liệt để bảo

vệ nền độc lập, thống nhất Đây cũng chính là thời kỳ mà Dân tộc nhịp bước cùng

Thời đại Đồng thời, thời đại mới cũng tạo nên nhân cách cao đẹp cho văn nghệ sĩ

và chắp cánh ước mơ sáng tạo của họ.Chế Lan Viên đã trở thành một nhân cách lớn

mang tầm vóc vượt trội trong hoàn cảnh lịch sử thời đại

“Hoa trước lăng Người” gồm một số bài thơ viết về Bác từ 1954 – 1976, là

tiếng thơ xuất sắc, rất tiêu biểu như một thể tụng ca mới cách mạng sáng tạo của Chế

Lan Viên

Đó là một số tập thơ rất nổi bật và đánh đấu mốc cho sự nghiệp của Chế Lan

Viên cũng như đóng góp rất lớn cho nền thi ca giai đoạn 1945– 1975

Ngoài ra, một đóng góp rất lớn của Chế Lan Viên đó là vẽ nên chân dung chân

thực về Bác Chế Lan Viên được mệnh danh là một trong những người xây dựng

thành công nhất hình tượng toàn vẹn tuyệt vời Hồ Chí Minh – một con người đã trở

thành huyền thoại của nhân loại

Chế Lan Viên đã quan sát, chiêm nghiệm lãnh tụ ở mọi vị thế, tư cách để tìm ra

những nét phẩm cách đặc trưng ở rất rất nhiều bài thơ của mình, tiêu biểu là“Người

đi tìm hình của Nước”:

“Đất nước đẹp vô cùng Nhưng Bác phải ra đi Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất

Bốn phía nhìn không một bóng hàng tre

Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở

Trang 21

Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương…”

Tổ quốc là hình tượng nổi bật và bao trùm trong thơ Chế Lan Viên Hình tượng ấy thường được vẽ nên bằng cảnh tượng mỹ lệ, kỳ vỹ và hào hùng: “Buổi đất nước của Hùng Vương có Đảng” Vẻ đẹp của tổ quốc được Chế Lan Viên dành hẳn một bài thơ để thỏa lòng ngơi ca “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” Tổ quốc trong lòng Chế Lan Viên ánh lên vẻ đẹp của sự độc lập, tự do, tự mình lớn mạnh:

“Như Hồng Lĩnh tự mình xây núi lớn Cửu Long dài đảm nhiệm lấy phù sa”

(Con mắt Bạch Đằng – Con mắt Đống Đa) Nổi lên trên bình diện cuộc kháng chiến chống Mỹ thần thánh là hình ảnh nhân dân anh hùng, chiến sĩ anh hùng Thơ mang khuynh hướng chính trị nổi bật và bao trùm sáng tác Đó là thơ lấy cảm hứng sáng tạo trực tiếp từ những sự kiện chính trị, đặc biệt là nổi lên trong thời đánh Mỹ Chế Lan Viên cũng đã cho ta thấy được

lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” ngời sáng qua những dòng thơ Chủ nghĩa anh hùng như một hào khí mới của dân tộc trong thời đại:

Lịch sử“gọi “có mặt” thì Việt Nam có mặt”

(Đường sáng tuyệt vời)

Lý tưởng chiến đấu rực sáng trong mỗi hồn người:

“Ta xé mình ra ngang dọc chiến hào Cho Tổ quốc liền sông núi vạn đời sau”

Người lính đánh giặc không chút phân vân Lòng quả cảm hy sinh bất chấp cả

Trang 22

Thơ Chế Lan Viên như vượt qua thời gian, đã thể hiện được chân thật bộ mặt tinh thần con người Việt Nam yêu thương và chiến đấu một thời cho mãi mãi Chế Lan Viên là một ngọn cờ cách tân của thơ ca hiện đại Việt Nam Cuộc đấu tranh, vận động tự thân của Chế Lan Viên là một quá trình đầy quả cảm Khi đã tìm được hướng đi đúng đắn rồi, nhà thơ bước hẳn vào quỹ đạo nghệ thuật mới và trang bị cho mình những quan niệm mới như vũ khí hiệu nghiệm để vào cuộc đấu tranh cho thắng lợi nghệ thuật cách mạng

Nhìn chung lại, có thể ghi nhận công lao và vai trò Chế Lan Viên cho nền thi

ca trong giai đoạn 1945– 1975 trên một số phương diện nổi trội như: khuynh hướng trữ tình chính trị – trữ tình công dân ngày càng trở nên phổ biến là do có đóng góp tích cực của Chế Lan Viên Khuynh hướng chính luận, triết luận đặc biệt nổi bật thời chống Mỹ là công lao dẫn đầu của nhà thơ trí tuệ giàu suy tưởng.Thêm nữa, sự nghiệp thơ còn gắn liền với văn trước tác nghiên cứu, lý luận, phê bình đã khẳng định vị trí chắc chắn của nhà thơ lớn trong lịch sử văn học dân tộc

Chế Lan Viên là nhà thơ tiêu biểu của thế kỷ – thế kỷ XX bi tráng, anh dũng của dân tộc cũng là nhà thơ của những thế kỷ tương lai

1.3.2 Điểm nổi bật của nhà thơ chế lan viên trong giai đoạn văn học 1945–1975:

“Mỗi công dân đều có một dạng vân tay Mỗi nhà thơ tứ thiệt đều có một dạng vân chữ”

(Lê Đạt) Quan niệm về điểm riêng, điểm nổi bật của các nhà thơ văn chương đã được

đề cao và bàn luận từ lâu trong văn học dân tộc Và với nhà thơ Chế Lan Viên thì có

lẽ điều làm cho thơ ông trong giai đoạn 1945– 1975 trở nên thật sự nổi bật đó là sự chuyển mình đầy ấn tượng và mạnh mẽ trong phong cách sáng tác so với thời kì trước Có thể nhận định về sự vận động trong thơ ông không phải là một sự chuyển đổi nhẹ nhàng, chậm rãi, từng ít một mà là một sự đổi thay tuôn trào, mạnh mẽ Nói

Trang 23

một cách thậm xưng, cách mạng là chất xúc tác mạnh mẽ cho nhà thơ trải qua một cuộc lột xác

Đầu tiên phải nói đến là sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan ViênTheo dõi quá trình sáng tác trong đời thơ Chế Lan Viên đến 1975, có thể phân chia theo hai mốc thời gian trên đại thể như sau: Cái tôi trữ tình trong thơ trước Cách mạng Tháng 8 và Cái tôi trữ tình trong thơ giai đoạn 1945 – 1975

Trước cách mạng là một tâm hồn thơ ảm đạm u sầu, luôn vấn vương hoài niệm

về thời xưa cũ, với những hình tượng đến rợn người (óc phọt, đầu lâu, xương sọ,máu trào, xương vỡ, từ yêu ma, quỷ quái…), với những nổi buồn, với giọt lệ và cái chết:

“Khi cây chết, ta làm chim bơ vơ Khi không gian đã hết những đợi chờ Khi trưa xuống khóc trên lòng sông bể

Ta muốn ta mai sau là hạt lệ Khóc trên lòng hậu thế cũng đau thương.”

( Khi cây chết) Sau năm 1945 đến 1975 Chế Lan Viên đã tự xây dựng được cái tôi công dân – tức cái tôi trữ tình yêu nước Sự chuyển biến này cũng mang dấu ấn riêng của nhà thơ –thực chất mang tính cách mạng rất quyết liệt Cái tôi ca hát về cuộc sống mới, cuộc sống có Đảng, có nhân dân, có lãnh tụ kính yêu, có tổ quốc tươi đẹp đầy hào hùng:

“Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm!

Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?

– Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,

Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn, Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc

Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng

Trang 24

Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả…”

(“Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”)

Kèm theo sự vận động của cái tôi trữ tình thì giọng điệu thơ cũng có sự vận động, chuyển biến rõ rệt Rất khó để có thể khái quát và định danh một giọng điệu chung cho một thời kỳ sáng tác trải dài và đầy biến động phức tạp.Tuy nhiên với thơ

ca của Chế Lan Viên ta có thể thấy so với thời kì đầu một giọng điệu sầu hận, kinh hoàng, gay gắt thì ở giai đoạn sau( 1945– 1975) là một giọng điệu khác hẳn: giọng điệu oai nghiêm, tha thiết, hào sảng Ta chứng kiến những giọng điệu say sưa, hào hứng, hoà hợp trong: Tiếng chim, Tiếng hát con tàu, Tuy nhiên, giọng điệu trong thơ Chế Lan Viên chỉ thực sự cất cao từ Hoa ngày thường Chim báo bão Ngay lập tức, nó đã trở thành giọng điệu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ sử thi một thời: một giọng điệu tha thiết, trang nghiêm, hào sảng

Chất giọng mới này là của con người gắn bó với cuộc sống hiện tại trong niềm vui giữa muôn người Cái tôi từ chỉ hướng nội trong thế giới tưởng tượng của riêng mình đã chuyển sang hướng ngoại với đất nước, với cuộc đời chung rộng lớn, tạo nên giọng đa thanh trong thơ Chế Lan Viên, kể cả màu sắc và triết lý nhân sinh mới:

"Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương"

Cũng viết về đất nước đổi mới, cũng viết về những điều tươi đẹp của tổ quốc, cũng hào sảng mảnh liệt, cũng là một nhà thi sĩ– chiến sĩ nhưng ở Chế Lan Viên có điểm đặt biệt so với các nhà thơ khác đó là sự sống dậy mạnh mẽ Tố Hữu một cây bút chuyên dõi theo những bước đi của lịch sử và đã có những bài ca nức lòng về tổ quốc nhưng đó là một mạch đường xuyên suốt Còn Chế Lan Viên đã có quảng thời gian đi lạc trong những mê cung huyền bí và giờ đây khi được trở về, khi tìm đúng đường thì sức sống ấy mạnh mẽ hơn bao giờ hết, giọng điệu càng có chút gì ăn năn hối hận về một thời đã qua thì lại càng thêm say đắm ở chặng đường thơ kế tiếp– chặng thơ 1945– 1975 Cái tôi khép kín đã bung ra, hướng thẳng vào những vấn đề trọng tâm của dân tộc và thời đại Đã có sự hòa hợp hai con người riêng – chung

Trang 25

trong tâm hồn thơ Thơ Chế Lan Viên đã vượt lên nhiều thơ đương thời chính vì đã

có sự cân bằng cần thiết của cả tình cảm và lý trí, giữa cái rực lửa và cái tươi xanh Hồn thơ phong phú Chế Lan Viên đã nhập vào cơn bão lớn của thời cuộc Tuy nhiên, hồn thơ ấy cũng rung động thiết tha sâu đằm với đời thường, với vẻ đẹp của thiên nhiên và tình người Quan niệm thơ của ông cũng là ước nguyện chính đáng: thơ phải vừa là hầm chông giết giặc, lại vừa là cành hoa mát mắt cho đời Có những xúc động trong tình cảm gia đình, tình yêu đằm thắm, thủy chung, thiết tha, xao xuyến, thâm trầm trên những dòng thơ Hùng ca phải xen lẫn với tình ca, vừa trí tuệ vừa trữ tình, tỉnh táo mà mê say…Đó là lý do dấu ấn của ông để lại rất mạnh mẽ ở giai đoạn này, nhắc đến giai đoạn này thì không thể không nhắc đến Chế Lan Viên

Trang 26

CHƯƠNG 2: CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN (GIAI ĐOẠN

1945 – 1975)

Thuật ngữ tính trí tuệ hay tính triết lý xuất hiện từ rất sớm Theo Từ điển tiếng Việt thì “trí tuệ” là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định, chỉ khả năng lý tính để nhận thức đối tượng

Khái niệm "thơ trữ tình triết học" gắn liền với tên tuổi các nhà thơ lớn trên thế giới như: Block, Schiller, Bretch, Rilke, Baudelaire, Valéry, Claudel , đến thời của chủ nghĩa lãng mạn, Arnaudov cho biết cũng có một số nhà thơ sáng tác theo khuynh hướng này mà người Đức gọi là "trữ tình trí tuệ", thơ ca gắn với cuộc sống và có sự thâm nhập lẫn nhau giữa một bên là nghệ thuật, một bên là khoa học, triết học Và

Arnauđốp thêm: “Vào thời cận đại, chúng ta ngày càng bắt gặp nhiều hơn trong trữ tình những mô tip dắt dẫn ta vào vương quốc của các tư tưởng Như Ghugô nói, ở những chỗ lý tính thường không được thỏa mãn thì cảm xúc ngày càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm sự thỏa mãn, để tìm ra được khoái cảm trong một điều gì đó chúng ta nhất thiết phải suy nghĩ tạo ra một trong những nguyên nhân của tiến bộ đạo đức và thẩm mỹ” Như vậy, tính triết lý trong văn chương không phải là những

gì khô khan; vì nếu thế, các lĩnh vực khác như triết học, tư tưởng sẽ đắc địa hơn nhiều Tính triết lý ở đây được thăng hoa từ cảm xúc và suy nghĩ trên cái nền hiện thực cụ thể mà chủ thể sống qua Thơ ca từ xưa đến nay đều vươn lên thể hiện sự hài hòa này Không phải chỉ câu thơ, bài thơ mà ngay cả những gì trong đầu óc nhà thơ đã bao hàm một ẩn tàng triết lý Và khi đươc thể hiện ra, lập tức nó làm giàu, nâng cao hiệu quả thơ Nhà thơ nào có vốn văn hóa, vốn triết học cao và biết vận dụng chúng trong sáng tạo để hình thành kiểu tư duy độc đáo, đậm đặc mang cá tính, giọng điệu riêng khi bình giá cuộc sống thì được xem như nhà thơ trí tuệ, nhà thơ triết lý

Trang 27

Nghiên cứu những sáng tác thơ của Chế Lan Viên cùng với tìm hiểu nhận định của các nhà lý luận phê bình văn học, có thể thấy: Thơ Chế Lan Viên lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ, thể hiện khuynh hướng tư duy sắc sảo mang tính triết luận sâu sắc Từ cậu bé Chế Lan Viên 17 tuổi xuất hiện trên thi đàn như một hiện tượng lạ lùng với

tập thơ“Điêu tàn được Hoài Thanh nhận định: “Cậu bé ấy đã khiến bao người ngạc nhiên Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ XX, nó sừng sững như một tháp Chàm chắc chắn vừa lẻ loi vừa bí mật”, cho đến tập thơ cuối “Di cảo” Chế Lan

Viên vẫn lặng lẽ gieo gặt những bài thơ lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ sắc sảo

2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ VẬN ĐỘNG CỦA CHẤT TRÍ TUỆ TRONG

THƠ CHẾ LAN VIÊN

Cách Mạng tháng Tám 1945 không chỉ là một cột mốc quan trọng trong lịch

sử dân tộc mà còn là dấu mốc để đánh dấu chặng đường thơ Chế Lan Viên Thơ trí tuệ của ông trước Cách Mạng đã mang đậm dấu ấn và được phát triển dần về sau Đọc những vần thơ được Chế Lan Viên sáng tác trước Cách Mạng, ta dễ dàng nhận thấy, thơ ông in rõ những dấu ấn của thực tại cuộc sống và chất chứa những suy tưởng về quá khứ đau thương của dân tộc Khám phá những giá trị của thơ Chế Lan Viên trước Cách Mạng, một trong những điều khiến chúng ta phải ngẫm nghĩ đó là cái thế giới đầy nỗi đau xót được tạo nên bởi tâm hồn thơ tuổi trẻ có trí tưởng tượng phong phú Ở ông bật lên bao điều suy nghĩ và bao nỗi xót xa, buồn tủi về những gì đang diễn ra trong cuộc sống hiện tại Ông cay đắng khi nhận ra cái thế giới xung quanh mình đầy rẫy những trò gian trá, bịp bợm Chế Lan Viên tìm đến thơ để gửi gắm và giãi bày sự suy ngẫm của mình về cuộc sống, ông đã thốt lên :

“Với tôi tất cả đều vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau !”

( Xuân – Tập thơ Điêu tàn )

Trang 28

Cả hai câu thơ gợi nên một sự tuyệt vọng cùng cực về hiện thực cuộc sống Cuộc sống hiện tại được Chế Lan Viên cảm nhận với niềm uất hận, đau thương, không có ý nghĩa gì khác ngoài sự khổ đau

Chế Lan Viên phủ nhận thực tại xã hội đương thời và thất vọng, chán nản trước “những sắc màu, hình ảnh của trần gian” để hướng đến “một tinh cầu giá lạnh”,

“một vì sao trơ trọi cuối trời xa”.… Ông đã đi tìm mình, tìm Cõi Ta trong sự cô đơn

và bơ vơ giữa cái mênh mông xa vắng của cuộc đời để rồi xót xa nhận ra mình chỉ

là “một cánh chim thu lạc cuối ngàn”, ông thốt lên :

“Đường về thu trước xa lắm lắm

Mà kẻ đi về chỉ một tôi !”

Trước thực tại của xã hội, nhà thơ Chế Lan Viên đã tìm được cách nói độc đáo để thể hiện một cách thấm thía, sâu sắc những nỗi đau đời của ông Thơ ông thấm đẫm những triết lí suy tư sâu sắc, những bề chìm của sự vật, những ý nghĩa ẩn giấu sâu xa đằng sau những bề mặt đơn giản Tất cả đều là những chiêm nghiệm bản thân của riêng nhà thơ Ông trăn trở, suy tư để rồi bật ra những vần thơ, những câu

từ chứa đựng chất trí tuệ thâm thúy nhất

Thành công của Cách Mạng Tháng Tám đã đưa lịch sử dân tộc sang trang mới Ở trang mới của lịch sử, bên cạnh sự đổi mới của đất nước cũng chính là sự đổi mới trong tâm hồn nhà thơ Ông hạnh phúc đón chào Cách Mạng, nhưng con người nghệ sĩ trong ông không ít những nỗi băn khoăn, trăn trở về mối quan hệ giữa nghệ thuật và Cách Mạng, để rồi nhận thức thấm thía hơn về ý nghĩa thiêng liêng của nghệ thuật khi gắn liền với cuộc sống Cách Mạng của dân tộc

Chế Lan Viên sống gắn bó với đời sống kháng chiến, hiểu hơn về Tổ quốc và nhân dân Trong thời gian kháng chiến, thơ của Chế Lan Viên có tập Gửi các anh gồm 14 bài Những tháng năm đó, con người nghệ sĩ ở Chế Lan Viên chủ yếu nghiền ngẫm, tìm tòi về phương thức thể thiện để phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của cuộc đời mới Ông đã trải qua những gian truân vất vả và cảm nhận được không khí hào

Trang 29

hùng, sôi động của dân tộc trong kháng chiến Ông xúc động mãnh liệt trước bao nhiêu tấm gương hi sinh anh dũng của những con người bình thường giản dị để làm nên chiến thắng Giờ đây cái trí tuệ mà nhà thơ nung nấu ấy là tình cảm yêu đất nước, yêu nhân dân và lên án tội ác của thực dân Pháp xâm lược Những tình cảm sâu sắc mà ông luôn trân trọng trao cho những người chiến sĩ Cách Mạng, được cất lên đầy tự hào, như những gì thiêng liêng nhất Đó là lòng yêu thương mẹ của đứa con“nghĩ đến mẹ nhiều nước mắt rưng rưng” Chế Lan Viên ghi lại những niềm vui bình dị của đời sống kháng chiến Ông còn thể hiện sự xót xa đau đớn trước cảnh quê hương chìm trong khói lửa chiến tranh Những tưởng trong thơ ông chỉ thấy ông

ca ngợi những con người phi thường, nhưng thật ra ẩn giấu đằng sau ấy là sự lên án giặc ngoại xâm sâu sắc Chế Lan Viên đã đưa thơ mình thoát khỏi dĩ vãng buồn thương để trở về với cuộc đời hiện tại trong niềm tin yêu Cuộc sống Cách Mạng và kháng chiến đã tạo điều kiện thuận lợi cho hồn thơ Chế Lan Viên vươn tới những đỉnh cao nghệ thuật

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Tổ quốc và dân tộc kiêu hãnh tiến bước trên một chặng đường lịch sử mới Chế Lan Viên hòa mình với cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong niềm vui và hạnh phúc Trong hoàn cảnh mới, Chế Lan Viên càng nhận rõ hơn ý nghĩa lớn lao mà ông đã có được ở những tháng năm ông sống gắn bó với cuộc sống kháng chiến và khẳng định :

“Ôi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa Nghìn năm sau vẫn đủ sức soi đường.”

( “Tiếng hát con tàu” – Tập thơ “Ánh sáng và phù sa”) Nỗi đau về cuộc sống quá khứ đã qua và niềm vui giữa cuộc sống hiện tại ngày một dâng đầy, tâm hồn thơ của Chế Lan Viên giờ đây như ngập tràn niềm vui trước cuộc đời rực rỡ phù sa Nhà thơ cảm nhận:

“Cái sống ngọt ngào trong từng sợi cỏ Một cành hoa cũng muốn giục môi hôn.”

Trang 30

( “Tàu đến” – Tập thơ “Ánh sáng và phù sa” ) Sống giữa niềm vui của cuộc đời mới, Chế Lan Viên đã có quan niệm mới

mẻ về quê hương Quê hương không chỉ là nơi chôn nhau, cắt rốn, mà quê hương còn là nơi ta gắn bó và biết sống hết mình vì nó:

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”

Hay là :

“Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.”

( “Tiếng hát con tàu” – Tập thơ “Ánh sáng và phù sa”) Nghĩ về cuộc sống hiện tại trong sự so sánh với quá khứ đau thương của dân tộc, Chế Lan Viên càng tự hào khi hiểu rằng cuộc đời ngày thêm rực rỡ phù sa, ngày một thêm ý nghĩa, và ông thốt lên trong niềm hạnh phúc :

“Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả

Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn”

và:

“Dẫu có bay giữa trăng sao cũng tiếc không được sống phút bây giờ ”

(“Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” – Tập thơ “Hoa ngày thường, chim báo bão”)

Càng đến với cuộc sống , những vần thơ của Chế Lan Viên càng chan chứa niềm tin yêu cuộc sống và có quan niệm đúng đắn về con người công dân trong cuộc đời mới, nhà thơ càng nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trước cuộc đời mới :

“Ta là ai ? Như ngọn gió siêu hình Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt

Ta vì ai ?Khẽ xoay chiều ngọn bấc Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh.”

(Hai câu hỏi – Tập thơ Ánh sáng và phù sa )

Trang 31

Cuộc sống mới được nhà thơ cảm nhận với niềm tin yêu chân thành và đó chính là nguồn thi hứng lớn lao, mạnh mẽ, luôn trỗi dậy trong tâm hồn nhà thơ Những đổi thay kì diệu của cuộc sống đã tạo tâm hồn thơ Chế Lan Viên càng thêm dạt dào cảm xúc Nhiều bài thơ của Chế Lan Viên trong thời kì này thể hiện sự nhận thức sâu sắc về vẻ đẹp của Tổ quốc và dân tộc, về vai trò của Đảng và Bác Hồ, tiêu biểu là : Tiếng hát con tàu, Cành phong lan bể, Tàu đến, Tàu đi, Kết nạp Đảng trên quê mẹ, Người đi tìm hình của nước …Đó là những vần thơ thể hiện sự trải nghiệm suy tư của tác giả về cuộc đời, về lẽ sống, về một đất nước hòa bình lập lại

Trong những năm kháng chiến chống Mĩ , Tổ quốc tươi đẹp và dân tộc anh hùng là cảm hứng chủ đạo của Chế Lan Viên, nhà thơ những muốn:

“ Khi ta muốn thơ ta thành hầm chông giết giặc Thành một nhành hoa mát mắt cho đời”

Với Chế Lan Viên, chưa bao giờ Tổ quốc lại cao đẹp như những tháng năm kháng chiến chống Mĩ Trong hoàn cảnh đó, vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của dân tộc Việt Nam càng ngời sáng hơn Nhà thơ tự hào, kiêu hãnh viết:

“Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng

Ta mọc dậy trước mắt nghìn nhân loại Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng.”

(Thời sự hè 72, bình luận – Tập thơ Những bài thơ đánh giặc) Hiện thực đời sống thời kì kháng chiến chống Mĩ đã tỏa nắng cho thơ Chế Lan Viên để nhà thơ có thêm nhiều vần thơ tràn đầy sức sống và sức hấp dẫn Hình ảnh của cuộc sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng đi vào thơ Chế Lan Viên ngày càng thêm đậm đà, sâu sắc Nhà thơ cảm nhận cuộc sống hôm nay “mỗi tấc núi sông thành thơ và hóa sử” và “các thế hệ nhìn chỗ ta đứng lúc này như những hải đăng” Tất cả những điều đó chính là chất vàng, chất ngọc của cuộc đời đã góp phần tạo cho Chế Lan Viên có được nhiều tứ thơ hay

Trang 32

Bên cạnh vẻ đẹp của đất nước, hình ảnh của những bà mẹ, người chị, người

vợ, “những chàng áo vải, những binh nhất, binh nhì mười tám tuổi”… , đã đi vào thơ Chế Lan Viên với vẻ đẹp chân chất, bình dị và thật đáng tự hào Cũng chính trong những năm tháng nước sôi lửa bỏng này, nhà thơ cảm nhận trọn vẹn hơn về vai trò to lớn của nhân dân:

“Nhân dân không có một thanh gươm vung một cái đến trời mây Nhưng họ gánh lịch sử đến nghìn lần lớn hơn đời họ.”

(Thơ bổ sung – Tập thơ Hái theo mùa) Với tình cảm nồng nàn, trí tuệ sắc sảo và sự gắn bó sâu sắc với hiên thực đời sống chiến tranh, Chế Lan Viên đã sáng tạo được nhiều vần thơ xúc động đậm đà chất trữ tình, hùng ca về vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ

2.2 NỘI DUNG THỂ HIỆN CHẤT TRÍ TUỆ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN

2.2.1 Sức mạnh trí tuệ biểu hiện trong khuynh hướng thơ suy tưởng, triết lý

Chất trí tuệ tức là cái nổi bật trong thơ Chế Lan Viên, đi cùng với mạch cảm xúc chứ không phải là chất trí tuệ đứng một cách độc lập Từ sau Cách Mạng Tháng Tám, chất trí tuệ trong thơ Chế Lan Viên được biểu hiện qua sự suy tưởng theo dòng cảm xúc và hình tượng

Giai đoạn này, chất trí tuệ trong thơ Chế Lan Viên không được thể hiện độc đáo và nổi bật như giai đoạn trước đó Nếu như trước Cách Mạng, chất trí tuệ trong thơ ông được thể hiện qua dòng suy tưởng về hiện thực đời sống, những cái ảo giác, những cái siêu thực (Từ thế chi ca, Màu, ) thì đến khi Cách Mạng thành công, những vần thơ trí tuệ của Chế Lan Viên cũng có khuynh hướng khác đi Ông viết nhiều về Cách mạng, về tương lai, về đất nước,…

Thể hiện cảm xúc được lên Tây Bắc, một niềm vui hân hoan trong lòng nhà thơ không chỉ là được lên Tây Bắc, mà còn mang chất suy tưởng trong đó:

“ Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Trang 33

Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”

(Tiếng hát con tàu – Tập thơ Ánh sáng và phù sa) Lên Tây Bắc, không chỉ đơn thuần là đến một vùng đất nào đó, mà nó còn mang ý nghĩa là trở về với cuộc sống chung rộn rã, hối hả của dân tộc, của đất nước

và đông đảo quần chúng nhân dân Nhà thơ khẳng định tâm hồn mình chính là“Tây Bắc chứ còn đâu”, câu nói cháy lên niềm tin mãnh liệt của nhà thơ về một tương lai của đất nước, của dân tộc

Chính vì có niềm tin vào tương lai ấy, con đường ấy, nên Chế Lan Viên đã khéo léo dùng lời thơ của mình như một lời kêu gọi đồng bào hãy đứng dậy, hãy giành lại những thứ vốn dĩ thuộc về dân tộc mình:

“Miền Bắc thân yêu trong tầm đạn Mĩ Hãy yêu! Hãy yêu! Hãy yêu và bảo vệ Mây nước, cửa nhà, văn học, ngôn ngữ…

Một đảo vắng Hòn Ngư còn chóp bể Một rặng núi Kỳ Sơn còn lắm lúc mưa nguồn…”

(Sao chiến thắng – Tập thơ Hoa ngày thường, chim báo bão)

“Yêu” không chỉ đơn thuần là tình cảm, là cảm xúc, mà yêu còn phải được thể hiện bằng hành động “bảo vệ” thứ mình yêu:

“Giữ hòa bình phải đâu bằng mọi giá Giá hòa bình là quật ngã bọn xăm lăng”

(Sao chiến thắng – Tập thơ Hoa ngày thường, chim báo bão)

Cảm xúc của nhà thơ được đẩy lên mức độ tuyệt đối, đó là tình yêu, sự căm thù và dẫn tới hành động đấu tranh, quyết tâm chống Mĩ Nhà thơ nhận định:

“Ai lại ghét hòa bình! Ai thích chiến tranh!

Nhưng con xem, chỉ còn hai thước đến hòa bình thì gặp máu

Trang 34

Ta muốn đi gần, đế quốc Mỹ đi quanh Chúng ta chỉ còn một con đường thôi: Chiến đấu”

(Tuyên bố của mỗi lòng người, khẩu súng, cành hoa – Tập thơ Đối thoại mới)

Có thể thấy, từ cảm xúc, nhà thơ đã nâng nó lên thành một chân lí: nếu thật

sự yêu Tổ quốc, yêu tự do thì hãy hành động, hãy chiến đấu, chỉ có chiến đấu mới

đã đến với tâm hồn trẻ thơ một cách vô thức, chỉ đơn giản là những âm điệu dịu dàng, sự quan tâm, chở che của người mẹ khi:

“Con còn bế trên tay Con chưa biết con cò Nhưng trong lời mẹ hát

Có cánh cò đang bay…”

(Con cò – Tập thơ Hoa ngày thường – chim báo bão)

Và hình ảnh con cò được tiếp tục sự sống trong nhận thức của con người nhờ vào những câu thơ giàu ý nghĩa liên tưởng của nhà thơ:

“Cò đứng ở quanh nôi Rồi cò vào trong tổ Con ngủ yên thì cò cũng ngủ Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi Mai con lớn, con theo cò đi học

Trang 35

Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân…”

Khi đã biết đến cò như một người thân, hình ảnh cò lại được nhấn mạnh ở ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng người mẹ lúc nào cũng ở bên con:

“Dù ở gần con

Dù ở xa con Lên rừng xuống bể

Cò sẽ tìm con

Cò mãi yêu con”

Đến khi đã thấu hiểu, nhà thơ khái quát thành một quy luật tình cảm có ý nghĩa bền vững, rộng lớn và sâu sắc:

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con”

Từ cảm xúc và hình ảnh con cò vô cùng thân thuộc mà nhà thơ đã mở ra những suy tưởng, khái quát thành những triết lý, đó là cách thường thấy trong thơ Chế Lan Viên, cũng là một ưu thế của ông Từ sự phân tích ở trên, ta thấy một bài thơ tưởng chừng như lặp lại âm điệu của lời ru, song con cò không phải là lời hát ru thật sự Hình ảnh trong ca dao chỉ là nơi xuất phát, là điểm tựa cho những liên tưởng, tưởng tượng của tác giả Nó không hướng người đọc đến âm điệu mà hướng tâm trí vào sự suy ngẫm, phát hiện

Từ hình ảnh máu và hoa, Chế Lan Viên đã nâng lên thành biểu tượng, biểu tượng của cái đẹp, cái thiện, của cuộc sống hòa bình, hạnh phúc và cái xấu, cái ác, cái bạo tàn mà bọn giặc mang đến Nhà thơ như khơi gợi cảm xúc qua hình ảnh, tố

cáo hiện thực qua những vần thơ trong bài Thành phố tuổi thơ:

“Chốn thương mến giờ đây quân giặc ở Thiết giáp Mỹ càn vườn hoa tuổi thơ Sân trường xưa, nay dây kẽm gai rào

Lỗ chơi khăng há toát những chiến hào

Trang 36

Bạn cũ làm thơ hóa thành lính chiến Quần áo rằn ri tâm hồn vằn vện Súng quân thù chỉa bắn tuổi thơ ta Nhìn lên cành chỉ có máu và hoa.”

(Thành phố tuổi thơ – Tập thơ Hoa ngày thường – chim báo bão) Trong hình tượng đôi mắt, nhà thơ đã thể hiện:

“Mắt đã ngủ yên Máu chừng im lặng Nhưng anh nhìn thấy cả rồi…

Anh thấy rõ ngày mai

Ta về Hà Nội Bát ngát mênh mang, cờ ta đỏ chói Chảy như sông dài…

Pháo binh ta bắn mừng thắng lợi

Nổ vang Hòa Bình…”

(Mắt anh đã thấy cả rồi – Tập thơ Gửi các anh)

Ở câu đầu tiên, người đọc thấy được hình ảnh “mắt đã ngủ yên”, nghĩa là mắt

đã nhắm, vậy đã nhắm thì liệu còn nhìn thấy gì mà tựa bài thơ lại là “Mắt anh đã thấy cả rồi”? Từ câu hỏi đó, nhà thơ dẫn dắt người đọc đến những gì mà mắt thấy,

và đưa ra một nhận định: dù anh đã không còn, dù mắt anh đã ngủ yên nhưng anh vẫn dõi theo đồng đội, vẫn nhìn thấy được tất cả, thấy được ngày đất nước hòa bình Ngoài ra, ta thấy thơ của Chế Lan Viên được cho rằng ít chi tiết về đời sống, nhận xét này có lý Bởi vì, Chế Lan Viên không bao giờ miêu tả chỉ để miêu tả, thơ ông không phải sinh ra là để miêu tả Nếu như hình ảnh cuộc sống có phần ít đi, thì cần phải thấy cái giàu có, đa dạng mà không một nhà thơ nào sánh kịp, đó là thế giới của suy tưởng, tưởng tượng, của cái ảo giác, cả những cái siêu thực Hiện thực trong thơ

Trang 37

Chế Lan Viên không chỉ là cái nhìn thấy, mà là cái cảm thấy, nghĩ thấy Nghĩa là cái nhìn thấy đã trải qua giai đoạn nhận thức lý tính, nhận thức trừu tượng, không thể lấy kích thước thường mà đo được Tư duy của Chế Lan Viên có cách tiếp cận riêng với hiện thực bề bộn của cuộc sống Thơ ông không chỉ là tiếng nói của xúc cảm, của trí thức bề ngoài mà còn hướng tới phần nắm bắt phần ý nghĩa hàm ẩn

2.2.2 Trí tuệ thông qua cảm xúc, tình cảm của nhà thơ

Chế Lan Viên là một triết gia, một nhà tư tưởng trong thi ca.Thể hiện phẩm chất ấy là những trí tuệ rất đặc sắc trong rất nhiều câu thơ, bài thơ của Chế Lan Viên Trí tuệ là phương tiện để mài sắc, vót nhọn tư tưởng Nhưng trí tuệ trong thơ không phải trí tuệ suông, nó thông qua cảm xúc và tình cảm của nhà thơ Ý nghĩa trí tuệ, tư tưởng được tạo lập, được toát ra từ hình tượng, hình ảnh, từ ngôn ngữ của bài thơ Thơ Chế Lan Viên không chỉ là tiếng nói của xúc cảm, của tri thức bề ngoài sự vật hiện tượng mà cái nhìn nghệ thuật của ông còn muốn khám phá bên trong bề sau của

sự vật Trí tuệ của nhà thơ hướng tới nắm bắt phần ý nghĩa trí tuệ hàm ẩn trong mỗi hiện tượng và bằng sự liên tưởng, tưởng tượng mà liên kết các sự vật, hiện tượng trong nhiều mối liên quan

Tất cả những xúc cảm buồn vui, suy tư trước cuộc sống gia đình, đời thường hằng ngày, trước thiên nhiên đã đi vào trang thơ của ông một cách tự nhiên, dung dị, đầy cảm xúc và suy tưởng của nhà thơ Một gia đình đầm ấm, yêu thương nhau, dù trong lúc sơ tán nhưng cảm xúc vẫn đong đầy, tình cảm ấy khắc sâu vào tâm hồn của đứa con, thậm chí còn khơi gợi trong tâm trí của nhiều người – những người xa gia đình, những người muốn trải qua khoảnh khắc yêu thương ấy cũng không có:

“Nhớ buổi con ngủ trần Chân gác vào mặt cha Còn tay vòng cổ mẹ Đêm dài sao thở nhẹ Bình yên trên mái nhà

Trang 38

Thôi con được an toàn

Là cha sung sướng nhất…”

(Con đi xơ tán xa – Tập thơ Hoa ngày thường – chim báo bão) Chế Lan Viên còn thể hiện tình cảm đối với mẹ Người mẹ nơi hậu phương, người mẹ của những người con tham gia kháng chiến, người mẹ ở vùng giặc chiếm đóng:

“Mẹ thương con như sữa nồng như nước mắt Càng nhỏ xuống lòng con càng thắt chặt

Ôi buổi xưa kia biết mấy ngọt ngào Nhớ cho nhiều kỉ niệm cắt như dao…

“Nhưng mắt con không khóc nữa Chừ có khóc cũng khóc thành ra lửa

Có ngã đau cũng dậy cho mẹ cười Con sống hiên ngang và nếu chết sẽ nên đời Cho đến lúc bắn nát đầu bọn giặc

Độc lập hẳn hòi mẹ coi tận mắt”

(Gửi mẹ trong vùng giặc chiếm – Tập thơ Gửi các anh)

Ta có thể thấy, khi viết về mẹ, nhà thơ bộc lộ cảm xúc rất đỗi thiết tha, một thứ cảm xúc khiến cho độc giả vừa xúc động, vừa đồng cảm và suy nghĩ Tuy tình

Trang 39

cảm đối với mẹ là một thứ tình cảm thân thuộc mà ai cũng có thể nói được Song, đến lượt nhà thơ, ông viết về nó bằng tư duy trí tuệ và cảm xúc chân thành, khiến người đọc phải ngẫm nghĩ về nó Đó chính là tình cảm của nhà thơ, trí tuệ đây là trí tuệ dùng cảm xúc để bộc lộ cảm xúc

Bên cạnh tình cảm dành cho người mẹ, thì tình yêu đôi lứa cũng là một đề tài thể hiện được chất trí tuệ thông qua cảm xúc trong thơ Chế Lan Viên Cảm xúc trong thơ rất dễ thăng hoa khi ông viết về đề tài tình yêu Tình yêu vốn là mảnh đất màu

mỡ để các thi nhân thỏa sức khai phá Nhưng tình yêu thuộc về con tim, không thuộc

về lí trí và tưởng chừng như càng không thể là nơi để thể hiện chất trí tuệ Bởi tình yêu có lí lẽ riêng mà không tuân theo bất kì quy luật nào Nhưng đọc thơ tình yêu của Chế Lan Viên ta bắt gặp rất nhiều những cung bậc xúc cảm khi lắng đọng, trầm tĩnh, lúc ồn ào sôi nổi vang ngân nhưng tất thảy đều mang dấu ấn của một lý trí sắc

sảo và tinh tế Bởi có người nhận xét: Thơ tình của ông là thơ tình của người thích phân tích, ưa bình luận

“Cái rét đầu mùa anh rét xa em Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa Một nửa cho em ở vùng sóng bể Một nửa cho mình ở phía không em.”

(Rét đầu mùa nhớ người đi về phía bể – Tập thơ Đối thoại mới )

Trong bài thơ là hình ảnh hai người ở hai nơi xa nhau nhưng tưởng chừng như

ở gần nhau bởi một chiếc chăn chia hai nửa Tưởng xa mà gần, tưởng gần mà xa, tình thương và nỗi nhớ được gói ghém vào trong hình ảnh hai nửa chiếc chăn vô cùng độc đáo mà Chế Lan Viên đã sáng tạo nên Điều này cho thấy, cảm xúc của ông được thể hiện qua dòng suy nghĩ tư duy, tạo nên những điều đặc biệt

Có lúc, ông mượn hình ảnh thiên nhiên, mang tính biểu tượng để thể hiện cảm xúc trong tình yêu:

“Em đi như chiều đi

Trang 40

Gọi chim vườn bay hết

Em về tựa mai về Rừng non xanh lộc biếc

… Hạnh phúc trên đầu ta Mọc sao vàng chi chít Mai, hoa em lại về…”

(Tình ca ban mai –Tập thơ Ánh sáng và phù sa) Những hình ảnh thiên nhiên, những màu sắc xanh, vàng thể hiện tình yêu trong sáng, ngọt ngào, lãng mạn Đi từ tình em như “chiều đi”, như “sao khuya” sang tình ta như “lộc biếc, gọi ban mai lại về”, tình yêu có thể xóa tan đêm tối, xóa bỏ những đau thương, tuyệt vọng trong đời Hãy vững tin vào tình yêu của chúng ta cũng như vững tin vào tình yêu với đất nước, vì “hạnh phúc trên đầu ta” Có thể thấy, từ tình yêu lứa đôi, nhà thơ thể hiện rộng ta thành tình yêu lớn với quê hương, đất nước Tình yêu sẽ làm điểm tựa của niềm tin, của một tương lai tươi sáng, sẽ

“mọc sao vàng chi chít”

Khi Chế Lan Viên viết về nỗi nhớ trong tình yêu, thơ ông cũng lấp lánh, rực

rỡ màu sắc của cảnh vật Cảm xúc trong thơ ông cũng bồi hồi da diết, xôn xao những

dư vị tình yêu nồng nàn, say đắm:

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

(Tiếng hát con tàu – Tập thơ Ánh sáng và phù sau) Viết về tình yêu đôi lứa nhưng người đọc vẫn có thể nhận biết ở đây tình yêu không chỉ giới hạn trong tình yêu lứa đôi thông thường Đó là sự kết tinh sâu nặng với tình yêu quê hương đất nước Chính tình yêu đã biến những miền đất xa lạ trở

Ngày đăng: 16/04/2020, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đoàn Trọng Huy (2010), Chế Lan Viên: người một đời đi tìm cái tôi – bản lĩnh nghệ thuật, Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM số 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên: người một đời đi tìm cái tôi – bản lĩnh nghệ thuật
Tác giả: Đoàn Trọng Huy
Nhà XB: Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM
Năm: 2010
1. Lưu Thị Lan (2014), Luận văn thạc sĩ Thơ chính luận Chế Lan Viên từ góc nhìn tư duy nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
2. Nguyễn Diên Xướng (2005), Luận án tiến sỹ Sự chuyển biến của một số tác giả thơ mới trong thơ ca cách mạng, Trường đại học Sư phạm TP. HCM Khác
4. Vũ Quần Phương (2006), Kỷ niệm 20 năm ngày mất nhà thơ lớn Chế Lan Viên, Lễ tưởng niệm lần thứ 20 ngày mất Chế Lan Viên (19–6–1989 – 19–6–2009) Khác
5. Nguyễn Lâm Điền (2001), Luận án tiến sĩ Ngữ văn Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, Đại học Sư phạm TP.HCM Khác
6. Đoàn Trọng Huy (2011), Sự kết hợp tài hoa thi ca và Triết học trong thơ Chế Lan Viên, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM, Số 26 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w