ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ LOAN ĐỜI SỐNG, VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ TỪ NÔNG THÔN TỚI KHU CÔNG NGHIỆP Nghiên cứu tại khu công nghiệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LOAN
ĐỜI SỐNG, VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ TỪ
NÔNG THÔN TỚI KHU CÔNG NGHIỆP
(Nghiên cứu tại khu công nghiệp Sông Công, Thị Xã Sông Công,
Tỉnh Thái Nguyên)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Xã hội học
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LOAN
ĐỜI SỐNG, VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ TỪ
NÔNG THÔN TỚI KHU CÔNG NGHIỆP
(Nghiên cứu tại khu công nghiệp Sông Công, Thị Xã Sông Công,
Trang 3MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 18
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 19
6 Câu hỏi nghiên cứu 20
7 Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích 20
8 Phương pháp nghiên cứu 22
9 Cấu trúc của luận văn 24
NỘI DUNG 25
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 25
1.1 Các khái niệm 25
1.1.1 Đời sống 25
1.1.2 Lao động 26
1.1.3 Việc làm 27
1.1.4 Di cư 27
1.1.5 Lao động di cư 28
1.1.6 Nông thôn 29
1.1.7 Khu công nghiệp 30
1.2 Các lý thuyết áp dụng 31
1.2.1 Lý thuyết mạng lưới xã hội 31
1.2.2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý 33
1.2.3 Lý thuyết lực “đẩy – hút” 34
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
Trang 4Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ TỪ NÔNG THÔN TỚI KHU CÔNG NGHIỆP SÔNG CÔNG, TỈNH
THÁI NGUYÊN 41
2.1 Tình trạng việc làm ở nông thôn, trước khi di cư 42
2.2 Đặc điểm công việc hiện tại 45
2.2.1 Số giờ làm việc trung bình mỗi tuần 45
2.2.2 Việc học thêm kỹ năng/nghiệp vụ để làm quen với công việc 47
2.2.3 Tính chất công việc 49
2.2.4 Thu nhập và sử dụng thu nhập 52
2.2.5 Vấn đề hợp đồng lao động 56
2.2.6 Tham gia các loại bảo hiểm 59
2.3 So sánh chung về công việc hiện tại với công việc ở nông thôn trước khi di cư 61
2.4 Dự định về mức độ gắn bó của người lao động đối với công việc hiện tại 64
2.5 Khác biệt trong sử dụng lao động thường trú và lao động di cư trong doanh nghiệp 69
Chương 3 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ TỪ NÔNG THÔN TỚI KHU CÔNG NGHIỆP SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN 72
3.1 Đời sống vật chất 72
3.1.1 Điều kiện nhà ở 73
3.1.2 Chi tiêu 78
3.1.3 Vấn đề chăm sóc về y tế 81
3.1.4 Vấn đề ô nhiễm môi trường 83
3.2 Đời sống tinh thần 84
3.2.1 Tiếp cận giáo dục của con em người di cư 85
3.2.2 Tình hình an ninh trật tự tại địa phương 86
3.2.3 Tham gia các hoạt động cộng đồng 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
4 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
8 UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tình trạng việc làm ở nông thôn trước khi di cư của NTL 43
Biểu đồ 2.2: Việc học thêm kỹ năng, nghiệp vụ để làm quen với công việc hiện tại của NTL 48
Biểu đồ 2.3: Tính chất công việc hiện tại của NTL 50
Biểu đồ 2.4: Những nguồn thu nhập thông thường hàng tháng người lao động di cư nhận được 53
Biểu đồ 2.5: Thực trạng tham gia các loại bảo hiểm 60
Biểu đồ 2.6: Ý định gắn bó với công việc hiện tại của người lao động 65
Biểu đồ 3.1: Loại hình nhà ở của NTL 73
Biểu đồ 3.2: Tình trạng sở hữu nhà 74
Biểu đồ 3.3: Tình trạng nhà bếp của lao động di cư 76
Biểu đồ 3.4: Tình trạng nhà vệ sinh của lao động di cư 77
Biểu đồ 3.5: Cách điều trị của lao động di cư khi bị đau ốm 81
Biểu đồ 3.6: Vấn đề ô nhiễm môi trường 84
Biểu đồ 3.7: Tình hình an ninh trật tự tại địa phương 87
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu khảo sát 23
Bảng 2.1: So sánh công việc hiện tại với công việc ở nông thôntrước khi di cư 62
Bảng 2.2: Cách thức sử dụng các khoản thu nhập của NTL 55
Bảng 2.3: Việc ký hợp đồng lao động theo giới tính của NTL 57
Bảng 2.4: Ý định gắn bó lâu dài với công việc hiện tại của NTLtheo giới tính 66
Bảng 2.5: Lý do muốn/không muốn gắn bó với công việc hiện tại 67
Bảng 2.6: So sánh lao động thường trú với lao động di cư trong doanh nghiệp 70
Bảng 3.1: Người ở cùng nhà của lao động di cư từ nông thôntới KCN Sông Công 75
Bảng 3.2: Một số khoản chi của lao động di cư từ nông thôn tới KCN Sông Công 79
Bảng 3.3: Nơi khám chữa bệnh của NTL 82
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gần 30 năm sau đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên hầu hết các lĩnh vực và đang phấn đấu đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp hiện đại Sự biến đổi này diễn ra với tốc độ mạnh mẽ và có thể
dễ dàng nhận thấy thay đổi đó chính là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thay vì trước đây là một nước nông nghiệp lạc hậu, Việt Nam đã chú trọng phát triển công nghiệp và dịch vụ Cùng với sự thúc đẩy về công nghiệp và quá trình công nghiệp hóa đã tạo ra việc làm dồi dào và năng suất cao trong lao động, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp ở Việt Nam Sự dịch chuyển các dòng lao động giữa các địa phương, vùng miền góp phần điều tiết lao động giữa các khu vực
Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2009 có 6,6 triệu người (tương đương với khoảng 7,7% dân số) từ 5 tuổi trở lên thay đổi nơi cư trú tới địa điểm khác Con số này thể hiện sự gia tăng đáng kể so với 4,5 triệu người di cư trong nước ghi nhận từ cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 [13]
Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) kể từ năm 2007, có sự sự bùng nổ về hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cùng với đó là sự phát triển chóng mặt của hệ thống các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) ở Việt Nam Cả nước hiện có 283 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 76.000 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 46.000 ha, chiếm khoảng 61% tổng diện tích đất tự nhiên Các KCN được thành lập trên 58 tỉnh, thành phố trên cả nước Đến cuối tháng 12/2011, trong số 283 KCN đã thành lập, có 180 KCN đã đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng đăng ký là 5,3
Trang 9tỷ USD, vốn thực hiện đạt gần 3,2 tỷ USD; còn lại 103 KCN đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản [56] Riêng trong năm
2011, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đăng ký vào các KCN, KCX đạt 6,47 tỷ USD; tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 7,28 tỷ USD; tương đương 44% và 67% tổng vốn FDI đăng ký và thực hiện được của cả nước trong năm 2011
Cùng với sự phát triển của hệ thống các KCN là quá trình dịch chuyển lao động và các dòng di cư từ nông thôn tới các KCN Lao động di cư đến các KCN – nơi có nhiều cơ hội việc làm, chẳng hạn như thành phố Hồ Chí Minh với tỷ suất di cư thuần (tỷ số của tổng số người nhập cư trừ đi tổng số người
di cư trên tổng số dân địa phương) là 116%, Đà Nẵng là 77,9%, Đồng Nai là 64,4% và Hà Nội là 50% Đsặc biệt nhất là tỉnh Bình Dương với tỷ suất di cư thuần lên tới 341,7% do có một số lượng lớn các KCN đóng ở đây [12]
Sự dịch chuyển của người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu lao động trong các KCN và các khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời, đóng góp vào sự phát triển kinh tế gia đình của số lượng lớn các gia đình có người di cư thể hiện ở số tiền gửi về Bên cạnh những tác động không thể phủ nhận, thì quá trình chuyển dịch lao động từ nông thôn tới các KCN tại Việt Nam khoảng 5 năm trở lại đây bộc lộ rất nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm Mặc
dù các khu vực này phát triển nhanh chóng, nhưng quy hoạch cho các khu vực này lại chưa có sự phối hợp giữa các bộ ngành của Chính phủ, các đơn vị chịu trách nhiệm chuẩn bị và thực thi kế hoạch đồng thời chưa có sự phối hợp với các chủ thể của khu vực tư nhân Kết quả là các kế hoạch được soạn thảo thiếu đi các nỗ lực đồng bộ nhằm đảm bảo đầy đủ nhà ở an toàn cho công nhân làm việc trong các nhà máy, không đảm bảo đủ các điều dịch vụ y tế và không có các địa điểm cho công nhân vui chơi Do vậy, cần phải thay đổi, hoàn thiện hơn nữa các chính sách đối với lao động di cư từ nông thôn tới các KCN Việc tìm hiểu đời sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới
Trang 10các KCN là cần thiết, được coi là cơ sở để thay đổi chính sách liên quan đến lao động di cư Tác giả nhận thấy, Thái Nguyên là một trong những tỉnh có nhiều KCN đang hoạt động hiệu quả, là nơi đến làm việc lý tưởng của lao
động nông thôn Vì vậy, đề tài “Đời sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới khu công nghiệp” (Nghiên cứu tại khu công nghiệp Sông Công,
thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên) được tiến hành với hy vọng sẽ đưa ra những khuyến nghị, giải pháp góp phần nâng cao đời sống, điều kiện làm việc cho lao động di cư tới KCN Sông Công
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
đề tài nghiên cứu sâu hơn về chủ đề lao động di cư
- Vận dụng một số lý thuyết xã hội học vào phân tích, giải thích các vấn
đề trong việc nghiên cứu di cư
3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Vấn đề di cư là vấn đề có tính toàn cầu, ngày càng trở nên quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi đất nước Những nghiên cứu về di
cư khá nhiều Thông qua việc tổng quan tài liệu, tác giả nhận thấy đã có các
Trang 11công trình nghiên cứu khoa học, các sách, các báo cáo, các bài báo trên tạp chí chuyên ngành như tạp chí Xã hội học đề cập đến vấn đề di cư Nhưng đó mới chỉ tập trung vào việc tổng quan tình hình di cư, xem xét di cư trong mối liên hệ với các vấn đề khác, và mới chỉ tập trung vào vấn đề di cư từ nông thôn ra thành thị, còn những đề tài lớn, nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề đời sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới KCN thì chưa có
Trong cuốn sách “Từ nông thôn ra thành phố - Tác động kinh tế - xã
hội của di cư ở Việt Nam”, chủ biên: Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh
Liêm – Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (2011), đã tập trung phân tích quá trình di cư nông thôn – đô thị; tác động của di cư đối với khu vực nông thôn thể hiện qua tác động đến người di cư và hộ gia đình ở quê hương, qua vấn đề tiền gửi về nhà; tác động của di cư đối với khu vực thành thị qua việc phân tích những tương đồng và khác biệt giữa người di cư và không di cư, tình trạng sức khỏe và các hành vi liên quan, mạng lưới xã hội nông thôn – đô thị
và dòng tiền gửi, đánh giá tác động của di cư đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành thị Những khoảng trống chính sách đã được đề cập đến trong cuốn sách này, cụ thể là việc thiếu khung pháp lý trong việc bảo trợ xã hội cho người di cư; những rào cản thể chế về bảo trợ xã hội và chính sách xã hội cho người di cư từ vấn đệ hộ khẩu
Sách “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Những kết quả chủ yếu”,
Nhà xuất bản Thống kê (2005) giới thiệu kết quả của cuộc điều tra về di cư của Việt Nam năm 2004, trong đó đề cập tới những khó khăn mà rất nhiều người di cư gặp phải Kết quả điều tra cho thấy 42% những người được điều tra cho biết họ gặp khó khăn do tình trạng hộ khẩu không phải thường trú của
họ Phần lớn người di cư trong nước được thống kê trong cuộc điều tra Di cư
ở Việt Nam năm 2004 là di cư vì lý do kinh tế, cụ thể là vì lý do việc làm và cải thiện đời sống Số liệu điều tra cho thấy người dân di cư thường có thu
Trang 12nhập thấp hơn người không di cư, trong đó người di cư là phụ nữ hoặc là người dân tộc thiểu số là nhóm đặc biệt thiệt thòi Người di cư thường làm tập trung trong các khu vực phi chính thức, làm các công việc được trả lương thấp
và ít được bảo vệ hơn so với người dân không di cư
Báo cáo “Tình trạng dân số thế giới năm 2011” của Quỹ dân số Liên
hợp quốc (UNFPA) đã cung cấp hệ dữ liệu khá đầy đủ về tình trạng dân số thế giới, sự phân bố, sự gia tăng cũng như tác động tích cực, tiêu cực của tình trạng dân số hiện nay đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới Báo cáo đề cập đến tác động của di cư quốc tế và di cư nội địa Di cư quốc tế có đóng góp tích cực với người di cư, cũng như với gia đình và quốc gia có người di cư thông qua khoản tiền gửi về Báo cáo cũng chỉ ra rằng có sự tăng đáng kể về số lượng và loại hình di cư trong nước
Báo cáo “Xu thế tị nạn toàn cầu 2011” của Cao ủy Liên hợp quốc về
người tị nạn (UNHCR) đề cập đến vấn đề đời sống của người tị nạn cũng như
xu hướng tị nạn toàn cầu trong tương lai Báo cáo đã cung cấp nhiều số liệu
và phân tích quan trọng về tình trạng tị nạn trên thế giới hiện nay cũng như đưa ra những con số cảnh báo đối với các nhà lập pháp
Báo cáo “Giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và di cư ở châu Á – Thái
Bình Dương” do Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) thực hiện, các tác giả
đã chỉ ra những nguy cơ tiềm ẩn của tình trạng di cư xuyên biên giới sẽ có khả năng xảy ra trong tương lai trước các tác động của tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu Đồng thời, ADB cũng đưa ra khuyến cáo về tình trạng di cư xuyên biên giới có khả năng gia tăng mạnh trong thời gian tới dưới tác động của biến đổi khí hậu, và các khuyến nghị về giải pháp tới các quốc gia
Báo cáo “Lưu động di cư và nghèo khó ở Đông Nam Á” của Micheal
Bruneau, CNRS – Đại học tổng hợp Bordeaux, những kết quả và phân tích rút
Trang 13ra từ nghiên cứu này đã cho thấy một bức tranh về thực trạng di cư tại khu vực Đông Nam Á, những đặc thù cũng như tác động của tình trạng di cư ở khu vực Đông Nam Á đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trong khu vực
Báo cáo “Giới và tiền chuyển về của lao động di cư (2012) dựa trên
kết quả của nghiên cứu thuộc Chương trình chung về Bình đẳng giới, được phối hợp thực hiện bởi Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, với sự hỗ trợ tài chính từ Quỹ Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Tây Ban Nha, do Tổng cục Thống kê và Tổ chức Di cư Quốc Tế (IOM) Việt Nam thực hiện Báo cáo nghiên cứu dựa trên thông tin thu thập được từ 600 bảng hỏi dành cho nam nữ lao động di cư vào thành phố, 42 cuộc phỏng vấn sâu, 12 cuộc thảo luận nhóm Quá trình thu thập thông tin được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2010 tại ba phường thuộc ba quận nội thành Hà Nội Xuất phát từ cách tiếp cận giới, nghiên cứu hướng vào tìm hiểu khác biệt giới trong khả năng gửi tiền, khác biệt giới trong thu nhập
và quản lý nguồn tiền tiết kiệm của lao động di cư, khác biệt giới trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chuyển tiền, mối quan hệ giới trong việc quản
lý và sử dụng nguồn tiền chuyển về tại hộ gia đình nơi đi
Báo cáo “Các mô hình di cư và phát triển kinh tế ở Việt Nam”
(2011), thuộc Kỷ yếu Việt Nam học: Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ nhất – Tập 3, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia, Hà Nội, tác giả Đặng Nguyên Anh tập trung xem xét bốn mô hình cơ bản của di chuyển lao động trong mối liên
hệ với phát triển kinh tế ở Việt Nam: di cư nông thôn – nông thôn, di cư nông thôn – thành thị, di cư từ thành thị về nông thôn và di cư từ thành thị đến thành thị Theo đó, di cư là một khía cạnh then chốt của biến đổi dân số gắn liền với kinh tế và hiện đại hóa đất nước
Trang 14Báo cáo “Di cư trong nước – cơ hội và thách thức đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của Việt Nam” (2010) do Tổ chức Liên Hợp Quốc tại
Việt Nam biên soạn trình bày tổng quan về di cư trong nước vì lý do kinh tế ở Việt Nam, tổng quan về di cư trong nước ở Việt Nam, mối quan hệ giữa di cư
và phát triển Theo báo cáo, phần lớn những người di cư trong nước vì lý do kinh tế, không nằm trong chương trình di cư của Chính phủ vì thế họ được gọi
là “người di cư tự do” Với phương thức tiếp cận dựa trên vấn đề giới và quyền, nghiên cứu này sử dụng ba lăng kính nhằm xem xét tác động của phát triển lên vấn đề di cư, cụ thể là (1) lên bản thân người di cư, (2) lên nơi đến và (3) nơi đi của người di cư Đặc biệt, đối với người di cư, họ thường tập trung
ở một số ngành nghề nhất định và ít được đảm bảo cong việc hơn hoặc phải làm các công việc với mức lương thấp và thường không được hưởng trợ cấp
xã hội, bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm thất nghiệp nếu họ không được ký hợp đồng lao động So với người không di cư, người di cư gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận với các dịch vụ xã hội bởi thực trạng đăng ký hộ khẩu của họ Báo cáo đưa ra các khuyến nghị nhằm giải quyết những thách thức đặt ra đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội dưới tác động của di cư
Báo cáo “Xu hướng lao động và xã hội Việt Nam 2009/2010” do Viện
Khoa học Lao động và Xã hội soạn thảo với sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của Tổ chức Lao động Quốc tế Báo cáo khái quát và nêu ra nhiều phát hiện liên quan đến hoạt động di cư Đặc biệt là các tác động của khủng hoảng kinh
tế đến dòng di chuyển của người dân di cư ở các vùng nông thôn hiện nay, thể hiện ở xu hướng gia tăng số dân di cư quay trở về nông thôn do bị mất việc làm ở khu công nghiệp, đô thị Cùng với đó, báo cáo nêu ra những định hướng cơ bản cho việc hoạch định chính sách đối với lao động di cư trong thời gian tới
Trang 15Báo cáo “Ảnh hưởng của suy giảm kinh tế lên lao động việc làm và
đời sống người dân nông thôn”, Viện Chính sách và phát triển nông
nghiệp nông thôn đề cập tới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế đến đời sống của người lao động, đặc biệt là lao động di cư; những thách thức đối với lao động di cư trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế Báo cáo nêu ra vấn đề liên quan đến đời sống việc làm của lao động di cư cũng như những rủi ro đối với họ song chưa có sự phân tích sâu sắc Tuy nhiên, nó giúp định hướng cho việc nghiên cứu sâu hơn về lao động di cư
Báo cáo “Tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra
nước ngoài” (2011) do Liên minh Châu Âu, Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại
giao) và Tổ chức di cư quốc tế thực hiện Trên cơ sở xác định, thu thập,
xử lý và phân tích các số liệu di cư từ nhiều nguồn khác nhau, báo cáo đã dựng lên bức tranh tổng quan về di cư, phân tích, đánh giá các loại hình di
cư chủ yếu của công dân Việt Nam ra nước ngoài, từ đó thúc đẩy quá trình xây dựng, phát triển, tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính sách pháp luật của Việt Nam về di cư Báo cáo đưa ra một số bài học kinh nghiệm, một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của di cư quốc tế vì mục tiêu hội nhập và phát triển, hạn chế, giảm thiểu tác động tiêu cực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài
Báo cáo “Nghiên cứu tác động phát triển của di cư quốc tế tại Việt
Nam” (2011) của Đặng Nguyên Anh và nhóm nghiên cứu Trung tâm kinh tế
Châu Á – Thái Bình Dương Hà Nội (VAPEC) – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dựa trên kết quả nghiên cứu đối với 1500 hộ gia đình (cả di cư và không
di cư) trên 6 tỉnh/thành phố lớn của cả nước Về tác động của di cư quốc tế, báo cáo đã chỉ ra các tác động tích cực của di cư quốc tế đối với hộ gia đình cũng như những thách thức liên quan đến vấn đề di cư của người Việt Nam ra nước ngoài
Trang 16Báo cáo “Theo dõi nghèo đô thị theo phương pháp tham gia” (2010)
của Tổ chức ActionAid Việt Nam, Oxfam Anh và Oxfam Hồng Kông cùng thực hiện, trình bày kết quả nghiên cứu trong vòng 3 năm từ 2007 – 2010 tại một số phường/xã của Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh Báo cáo đưa ra những phân tích, đánh giá về nhóm nghèo nhập cư; các đặc trưng của nhóm này; vấn đề đời sống – việc làm cũng như khó khăn, rủi ro họ phải đối mặt như chi phí cuộc sống cao, việc làm bấp bênh, hạn chế trong tiếp cận dịch vụ công
Báo cáo “Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam: thực trạng, xu hướng và
khác biệt” (2011) do Tổng cục Thống kê thực hiện dựa trên kết quả của Cuộc
Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, phân tích vấn đề di cư ở khu vực
đô thị hiện nay, xu hướng của quá trình di cư cũng như những đóng góp của hoạt động di cư đối với quá trình phát triển Về xu hướng di cư tại Việt Nam trong vòng 20 năm từ 1989 đến 2009, báo cáo chỉ ra rằng, số dân di cư, đặc biệt là di cư giữa các tỉnh có chiều hướng gia tăng mạnh mẽ, xu hướng nữ hóa
và trẻ hóa di cư ngày càng rõ rệt Báo cáo cũng chỉ ra những khác biệt di cư giữa các khu vực kinh tế, các tỉnh/thành phố và giữa đô thị với nông thôn
Báo cáo “Thị trường lao động, Việc làm và Đô thị hóa ở Việt Nam
đến năm 2020: Học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế” (2009), các tác giả Ian
Coxhead, Diệp Phan, Đinh Vũ Ngân Trang, Kim N B Ninh, thuộc dự án hỗ trợ xây dựng Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội Việt Nam, giai đoạn 2011 – 2020, do Chính phủ Việt Nam và Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc thực hiện Các tác giả đã quan sát thấy những mô hình chung về chính sách và kết quả đạt được tại các nền kinh tế Châu Á thành công, trong đó có các chính sách về thị trường lao động đã khuyến khích dự dịch chuyển lao động giữa các vùng và ngành và duy trì tính linh hoạt của thị trường lao động Ở Trung Quốc và Ấn Độ có nhiều rào cản khác nhau đối với dịch chuyển lao động; kết
Trang 17quả là, họ đang gặp nhiều khó khăn trong việc hấp thụ lao động dư thừa và tình trạng bất bình đẳng đang tăng lên
Báo cáo kết quả “Khảo sát nghèo đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ
Chí Minh năm 2009” (UPS-09) thuộc dự án: “Hỗ trợ đánh giá sâu về tình
trạng nghèo đô thị ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh” do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ đã nêu ra đặc điểm về đời sống, việc làm và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội của người nghèo tại vùng đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; những thông tin về đời sống, lao động, việc làm của người di cư tại các khu vực này Theo đó, cuộc sống khắc nghiệt; thu nhập thấp, bấp bênh; hạn chế trong việc tiếp cận với các dịch vụ
xã hội là những khó khăn đối với người di cư Báo cáo là cơ sở để xây dựng các chính sách quản lý, hỗ trợ đối với người lao động di cư tại đô thị nước ta hiện nay
Báo cáo “Thực trạng tuyển dụng và việc làm của lao động nữ di cư
tới các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam” (2009) do Tổ chức lao
động quốc tế (ILO) và Viện Khoa học lao động xã hội (ILSSA) thuộc Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội (MOLISA) thực hiện đã phân tích quá trình tuyển dụng và sử dụng lao động di cư nữ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam; những khó khăn, rủi ro khi xin việc, làm việc của lao động
di cư nữ
Báo cáo “Người lao động di cư đến các khu công nghiệp: điều kiện
sống, sinh hoạt và tình hình sử dụng dịch vụ y tế”, nhóm tác giả Lê Thị Kim
Ánh, Phạm Thị Lan Liên, Nguyễn Tuấn Hưng dựa trên kết quả nghiên cứu định tính với nhóm cán bộ cơ quan công lập và người di cư tại các khu công nghiệp tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh đã mô tả khó khăn về điều kiện sống, sinh hoạt và hạn chế trong việc tiếp cận dịch vụ y tế của lao động di cư tại các địa bàn này
Trang 18Báo cáo “Phát triển con người” (2009) do UNDP thực hiện đã phân
tích những tác động tích cực của di cư qua các vấn đề: quyền tự do và di cư, con người trong tình trạng di cư, cuộc sống của người di cư, tác động tới nơi
đi và nơi đến, chính sách phát huy kết quả phát triển con người Báo cáo cũng chỉ ra một số đặc thù trong hoạt động di cư trên toàn cầu hiện nay
Báo cáo “Tình trạng dân số thế giới năm 2006” do Quỹ dân số Liên
Hợp Quốc thực hiện chỉ ra rằng phụ nữ di cư đóng góp đáng kể thông qua việc gửi tiền về quê nhà song đóng góp của họ không được thừa nhận Nhóm
nữ lao động di cư phải đối mặt với nguy cơ lớn của tệ buôn bán người và lây nhiễm HIV
Báo cáo “Lao động nữ di cư giúp việc nhà từ đồng bằng sông Cửu
Long”, nghiên cứu tại phường 9 thị xã Trà Vinh, do tác giả Nguyễn Thị Hòa
– Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ thực hiện Tác giả chọn nghiên cứu ngành nghề phổ biến của lao động nữ di cư đó là nghề giúp việc gia đình Báo cáo chỉ ra đặc thù của vấn đề lao động nữ di cư giúp việc gia đình và những rủi ro liên quan đến đối tượng này
Báo cáo “Phụ nữ và lao động di cư” của TS Lê Thị Kim Lan, nằm
trong khuôn khổ của Dự án Lao dộng di cư ở miền Trung Việt Nam trong thời
kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện từ
2009 đến 2011 do nhóm nghiên cứu trường Đại học Khoa học Huế thực hiện Báo cáo phân tích hoạt động di cư của phụ nữ và trẻ em ở cả nơi đi và nơi đến, chỉ ra đặc điểm về ngành nghề của lao động di cư, nguyên nhân di cư, những thách thức mà lao động di cư nữ phải đối mặt cũng như những rủi ro liên quan đến bệnh tật, tệ nạn xã hội, nạn buôn bán người
Báo cáo “Di cư lao động từ nông thôn ra thành phố: Những khía
cạnh tâm lý xã hội của người phụ nữ bán hàng rong” của PGS.TS Trần
Trang 19binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê về di cư lao động nữ cũng như kết quả phỏng vấn bán cấu trúc với một số lao động nữ di cư theo mùa (năm 2000 và 2004), tác giả đã có sự phân tích tâm lý của những người phụ nữ bán hàng rong di cư về đời sống – công việc của họ Từ đó, tác giả chỉ ra khó khăn, vất
vả trong đời sống, việc làm của những lao động di cư nữ bán hàng rong
Báo cáo “Tóm tắt một số chỉ số phân tích theo giới tính từ số liệu của
tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009”, UNFPA, (2011), dựa
trên bộ số liệu của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, đã tập trung vào vấn đề nữ hóa di cư Báo cáo phân tích những khác biệt về giới tính trong các vấn đề như tình trạng hôn nhân, học vấn, giáo dục Đồng thời, báo cáo phân tích xu hướng nữ hóa di cư và khẳng định sự gia tăng của dòng
di cư nữ ngày càng rõ rệt hơn
Báo cáo “Rủi ro của lao động di cư và một số kiến nghị” của tác giả
Nguyễn Huyền Lê – Viện Khoa học Lao động và Xã hội nêu bật những rủi ro
mà lao động di cư phải đối mặt hiện nay Tác giả chỉ ra 6 nhóm nguy cơ phổ biến là bị lạm dụng, lừa gạt; khó khăn về nhà ở; nguy cơ dễ bị tiêm nhiễm các
tệ nạn xã hội; rủi ro trong suy giảm sức khỏe; khó khăn trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản và an sinh việc làm thấp Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý và hỗ trợ cho người lao động di cư
Báo cáo “Sống con lắc, tình dục có là con lắc” dựa trên kết quả
nghiên cứu định tính về nhận thức, thái độ và đời sống tình dục của người lao động di cư tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh của nhóm tác giả: Nguyễn Ngọc Hường, Khuất Thu Hồng, Đinh Thái Sơn Nghiên cứu được thực hiện với 35 người lao động di cư trong nhóm tuổi từ 15 đến 55, là những người cư trú ngắn hạn và thường xuyên trở về quê Các tác giả đã có những phát hiện khá quan trọng về đời sống tình dục của những người di cư con lắc tại hai
Trang 20thành phố lớn cũng như những nguy cơ từ hoạt động tình dục của các nhóm đối tượng này
Báo cáo “Sức khỏe sinh sản cho lao động nhập cư” nghiên cứu định
tính tại Quy Nhơn, Bình Định do UNFPA phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Định thực hiện năm 2008 cũng đề cập đến vấn đề tình dục cũng như những nguy cơ xung quanh vấn đề này, báo cáo đã cho thấy những cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh khác nhau trong hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản của lao động nhập cư tại Bình Định
Nghiên cứu của Cục phòng, chống Tệ nạn xã hội (Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội) về “Mại dâm và di biến động nhìn từ góc độ giới”
(2012) đã đưa ra những phát hiện về vai trò giới trong việc đưa ra quyết định
di cư và tham gia hoạt động mại dâm Bên cạnh đó báo cáo cũng giúp người đọc hiểu sâu hơn về các khuôn mẫu và tính dễ bị tổn thương liên quan đến tính di biến động của những người hoạt động mại dâm nhìn từ góc độ giới
Năm 2004, cuộc tổng điều tra di cư Việt Nam đã được thực hiện bởi Tổng cục thống kê – đây là cuộc tổng điều tra về di cư có quy mô lớn nhất tại
Việt Nam từ trước tới nay Từ kết quả của cuộc khảo sát này, báo cáo “Di cư
trong nước và mối liên hệ với các sự kiện cuộc sống” (2006) với sự hỗ trợ
kỹ thuật của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, do nhóm cán bộ phân tích và
nghiên cứu của Viện Xã hội học thực hiện và trình lên Tổng Cục Thống kê
Báo cáo cung cấp những phân tích sâu hơn về mối quan hệ giữa di cư và các
sự kiện quan trọng khác trong chu trình sống của người di cư Trong đó, nêu bật những ảnh hưởng của các sự kiện như giáo dục, hôn nhân, nghề nghiệp, sinh đẻ đối với cuộc sống của người dân di cư cũng như sự khác biệt về bản chất của các sự kiện này ở từng nhóm người di cư
Trang 21Báo cáo “Chất lượng cuộc sống của người di cư ở Việt Nam”, cũng sử
dụng bộ số liệu của cuộc điều tra di cư năm 2004 song báo cáo này lại khai thác khía cạnh khác về di cư đó là vấn đề chất lượng cuộc sống của người di cư
Bài báo “Di cư và phát triển trong bối cảnh đổi mới kinh tế - xã hội
của đất nước”, đăng trên Tạp chí Xã hội học, số 1(61) năm 1998, tác giả
Đặng Nguyên Anh tìm hiểu kinh nghiệm di cư mà các quốc gia Châu Á đã trải qua những năm trước đây Tác giả cho rằng nếu so sánh Việt Nam với các quốc gia Châu Á trên lĩnh vực di cư, có thể thấy nhiều điểm khác biệt cũng như tương đồng Quá trình di cư ở Việt Nam có những nét đặc thù, chủ yếu
do sự tác động liên tục của chiến tranh và vai trò chủ đạo của nhà nước đối với công tác di dân, nhưng đồng thời Việt Nam cũng tìm thấy sự tương đồng với các quốc gia trong khu vực về hình thái, nguyên nhân và bản chất của di
cư trong tiến trình hiện đại hóa đất nước
Bài báo “Vai trò của mạng lưới xã hội trong di cư”, đăng trên Tạp chí
Xã hội học số 2(62) năm 1998, tác giả Đặng Nguyên Anh tập trung phân tích ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với di cư nông thôn – đô thị, cụ thể là tìm hiểu vai trò của mạng lưới xã hội đến quyết định chuyển cư và lựa chọn nơi chuyển đến, quá trình thích ứng với cuộc sống ở thành thị cũng như thu nhập
và tiền chuyển về cho gia đình của người di cư
Bài báo “Đảm bảo cung cấp dịch vụ xã hội cho người lao động nhập
cư ở thành phố” đăng trên Tạp chí Xã hội học số 4(64), 1998, của hai tác giả
Đặng Nguyên Anh và Nguyễn Bình Minh sử dụng số liệu khảo sát “Di cư và Sức khỏe” do Viện Xã hội học (thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia Việt Nam) thực hiện năm 1997 Các tác giả tìm hiểu dịch vụ xã hội trên phương diện nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, dịch vụ tìm việc làm, điều kiện y tế và sức khỏe của đối tượng lao động phổ thông Kết quả khảo sát cho
Trang 22thấy lao động nhập cư tự phát vào thành phố không có đuợc điều kiện sinh hoạt đủ để tái tạo sức lao động Đa số có hoàn cảnh sống tạm bợ, nhà ở tồi tàn, điều kiện vệ sinh yếu kém Ngay cả những đối tượng làm việc tại các cơ
sở công nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài ở Bình Dương, Đà Nẵng cũng phải cư trú tại các nhà trọ tập thể, với diện tích ở tính trung bình không quá 6 m² một đầu người Thu nhập eo hẹp và đòi hỏi phải dành dụm trong chi tiêu không cho phép người lao động nhập cư có được nơi ăn ở đủ điều kiện Cuộc khảo sát Di cư và Sức khỏe còn tìm hiểu khả năng tiếp cận lao của lao động nhập cư đến các dịch vụ giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe Qua đó, các tác giả đã đưa ra một số định hướng chính sách đối với người di cư
Bài báo “Di dân và quản lý di dân trong giai đoạn phát triển mới:
Một số suy nghĩ từ góc độ nghiên cứu”, đăng trên Tạp chí Xã hội học số
3&4 (67&68), năm 1999 của Đặng Nguyên Anh lại tập trung xem xét quá trình di cư trên bình diện quản lý Bài báo đưa ra những ý kiến đóng góp cho công tác đổi mới chính sách di dân và quản lý dân cư ở Việt Nam Bài báo chỉ xem xét loại hình di cư tự phát, hoàn toàn do người lao động thực hiện Hình thái di dân này đặt ra những đòi hỏi mới về chính sách quản lý
Trong bài báo “Chính sách di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới ở
Việt Nam”, đăng trên Tạp chí Xã hội học số 1 (109), năm 2010, tác giả Đặng
Nguyên Anh nhìn nhận di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới ở Việt Nam là một trong nhiều chủ trương lớn nhằm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Quá trình di dân được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn 1961 – 1975, giai đoạn 1976 – 1985, giai đoạn 1986 – 1995 và giai đoạn 1996 đến nay Tác giả
đã chỉ rõ những thành tựu và hạn chế của di dân kinh tế mới và có những đề xuất, nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống chính sách phù hợp, đồng bộ đối với
di dân nói chung, di dân kinh tế mới nói riêng
Trang 23Bài báo “Vận dụng lý thuyết di động xã hội vào nghiên cứu chuyển
cư” đăng trên Tạp chí Xã hội học, số 1 (89), năm 2005 của Tống Văn Chung,
tác giả đã nêu ra một vài vấn đề lý luận về di động xã hội Việc vận dụng lý thuyết di động xã hội vào quá trình nghiên cứu chuyển cư cho phép xem xét khía cạnh khác nhau về sở hữu, uy tín (địa vị) xã hội của người di cư không chỉ về mặt sở hữu mà cả về vị thế của họ trong các mối tương tác với những người khác, nhóm khác mà nơi họ đến, kể cả cơ hội cũng như “khả năng tiếp cận” để chiếm lĩnh cơ hội của họ
Bài báo “Vài nét về tâm lý người dân chuyển cư ở vùng xây dựng
khu kinh tế trọng điểm” đăng trên Tạp chí Tâm lý học, số 3 (72), năm 2005
của tác giả Tống Văn Chung tập trung phân tích khía cạnh tâm lý của người dân chuyển cư ở vùng xây dựng khu kinh tế trọng điểm được ghi nhận bước đầu qua cuộc điều tra xã hội học Chuyển cư là một sự kiện lớn trong đời sống của người dân, tác động mạnh tới tâm lý của người dân nơi đây Theo đó, vấn
đề đặt ra đối với những nhà hoạch định chính sách kinh tế là phải lưu ý đúng mức tới những yếu tố tâm lý để có phương hướng giải quyết thỏa đáng, giúp cho quá trình chuyển cư diễn ra thuận lợi
Bài báo “Di chuyển lao động con lắc đến làng nghề”, đăng trên Tạp
chí Dân số và Phát triển, số 5 (50), năm 2005 của tác giả Tống Văn Chung, tác giả đưa ra kết luận việc phát triển làng nghề tạo ra thị trường lao động ở nông thôn dưới nhiều hình thức khác nhau, một hiện tượng đặc thù đó là “chợ lao động” Thị trường lao động này giải quyết một bộ phận lao động trong thời gian nông nhàn Làng nghề đã tạo ra hiện tượng xã hội di chuyển lao động và thu hút lao động không chỉ theo thời vụ mà thậm chí theo từng ngày, từng mùa vụ Sự đáp ứng nhu cầu lao động trong làng nghề cho thấy tác động
Trang 24của nhân tố thị trường vào dòng di động lao động ở nông thôn Từ đó, cần có các chính sách, các cơ chế phù hợp với những người lao động thời vụ này
Luận án Tiến sĩ “Những nhân tố kinh tế - xã hội tác động đến sự
chuyển cư của cư dân nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa” (2010) của Tống Văn Chung đã khái quát và đưa ra bức tranh đa
dạng về di chuyển của cư dân dưới những hình thức khác nhau trong giai đoạn 1986 - 2010 ở nông thôn Việt Nam, đóng góp vào việc nhận thức đúng
về động thái chuyển cư ở nông thôn Luận án lần đầu tiên hướng đến việc hệ thống hóa những nhân tố kinh tế - xã hội chính tác động lên sự chuyển cư nông thôn theo các hướng khác nhau dưới góc nhìn xã hội học trong giai đoạn đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Qua việc tổng quan tài liệu, có thể thấy, vấn đề di cư đã được chú ý đến
từ rất lâu và được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các sách, các báo cáo nghiên cứu, và các bài báo trên tạp chí , đặc biệt tạp chí chuyên ngành Xã hội học đề cập đến vấn đề di cư nói chung Cuộc điều tra Di cư tại Việt Nam năm 2004 và Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009 được coi là hai cuộc điều tra lớn, cung cấp những số liệu liên quan đến di cư Bên cạnh đó, còn có các chương trình, dự án có sự phối hợp giữa chính phủ Việt Nam với tổ chức phi chính phủ Từ các số liệu điều tra
đó các bài viết, bài báo tập trung phân tích các chiều cạnh khác nhau của di
cư Vấn đề đời sống, việc làm, rủi ro của lao động di cư đã phần nào được đề cập đến trong các bài báo, các báo cáo Về cơ bản báo cáo nghiên cứu về di dân tới các KCN chưa có sự tách biệt hẳn mà chủ yếu nằm xen kẽ trong các báo cáo tổng quát về di cư Thêm vào đó, các nghiên cứu về lao động KCN tuy nhiều, song lại chưa có sự tách biệt hẳn trong đánh giá về lao động di cư tới KCN Những thiếu hụt này đòi hỏi những nghiên cứu sâu
Trang 25hơn đưa ra các số liệu và dẫn chứng thuyết phục hơn về thực trạng đời sống – việc làm của người lao động di cư từ nông thôn đến đô thị và các KCN hiện nay
Điểm mới của luận văn so với các nghiên cứu trước đó là các nghiên cứu trước mới chỉ tập trung vào đối tượng lao động di cư tự do mà chưa chú ý đến đối tượng lao động di cư từ nông thôn tới khu công nghiệp Đây là một xu hướng dịch chuyển lao động mới ở nước ta trong vài năm gần đây Chỉ những công nhân di cư từ nơi khác đến làm việc tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp mới là khách thể nghiên cứu của đề tài Trong đề tài này, tôi mong muốn sẽ tìm hiểu và đánh giá được đời sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới KCN Sông Công trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Hy vọng, bên cạnh những con số thống kê thu được, sẽ có sự lý giải, phân tích sâu hơn về những khó khăn mà lao động di cư gặp phải trong cuộc sống cũng như trong công việc
4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Phân tích một số khái niệm có liên quan đến tên đề tài
(2) Xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
(3) Chỉ rõ thực trạng việc làm hiện nay của người di cư từ nông thôn tới KCN Sông Công
Trang 26(4) Mô tả thực trạng đời sống của những người công nhân là nông dân
di cư từ nông thôn tới KCN Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
(5) Đề xuất những khuyến nghị, giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, điều kiện làm việc cho lao động di cư từ nông thôn tới KCN Sông Công
5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đời sống, việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới khu công nghiệp
Nội dung của đề tài bao gồm các thông tin chủ yếu sau:
(1) Đánh giá chung về tình trạng việc làm của lao động di cư trước khi đến KCN Sông Công
(2) Việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới KCN Sông Công (đặc điểm công việc hiện tại, so sánh công việc hiện tại với công việc ở nông thôn trước đây, dự định về mức độ gắn bó của người lao động với công việc hiện tại, sự khác biệt trong sử dụng giữa lao động di cư và lao động thường trú)
Trang 27(3) Đời sống của lao động di cư từ nông thôn tới KCN Sông Công (điều kiện nhà ở, chi tiêu, chăm sóc về y tế, vấn đề ô nhiễm môi trường, tiếp cận giáo dục của con cái, tình hình an ninh trật tự tại địa phương, sự tham gia các hoạt động cộng đồng
6 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới khu công nghiệp Sông Công hiện nay như thế nào?
(2) Đời sống của lao động di cư từ nông thôn tới khu công nghiệp Sông Công hiện nay ra sao?
7 Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
7.1 Giả thuyết nghiên cứu
* Giả thuyết 1: Thiếu việc làm, việc làm không ổn định, việc làm thu
nhập thấp là tình trạng phổ biến của công việc ở nông thôn trước khi di cư của người trả lời
* Giả thuyết 2: Lao động di cư từ nông thôn tới làm công nhân trong
các doanh nghiệp, công việc của họ với thu nhập thấp, cường độ làm việc vất
vả, công việc độc hại, công việc bấp bênh
* Giả thuyết 3: Đa số công nhân di cư phải thuê nhà để ở với diện tích
chật chội và không được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế
* Giả thuyết 4: Lao động di cư từ nông thôn tới KCN gặp khó khăn
trong việc xin cho con đi học; họ không có cơ hội tham gia các hoạt động cộng đồng
* Giả thuyết 5: Đời sống của lao động di cư được nâng cao hơn so với
trước đây nhưng mới chỉ đáp ứng một phần về vật chất còn đời sống tinh thần của họ chưa được chú ý đến, còn chưa phong phú
Trang 28- Lực hút của KCN
Việc làm
- Tình trạng việc làm ở nông
thôn trước di cư
- Đặc điểm công việc hiện tại
- So sánh công việc hiện tại với
công việc ở nông thôn
- Dự định về mức độ gắn bó với
công việc hiện tại
- Khác biệt trong sử dụng lao
Tinh thần
- Tiếp cận giáo dục của con cái
- Tình hình an ninh trật tự tại địa phương -Tham gia các hoạt động cộng đồng
Đời sống, việc làm của lao động di cƣ từ nông thôn tới khu công nghiệp
Trang 298 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận
Đề tài lấy quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ta phương pháp nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong trạng thái vận động và phát triển và trong mối quan hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau [15] Như vậy, đối với đề tài này, cần gắn vấn đề việc làm, đời sống với những mặt khác; gắn việc di cư trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế - xã hội, với lực đẩy nơi đi, lực hút nơi đến
8.2 Phương pháp thu thập thông tin
8.2.1 Phân tích tài liệu
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn là phân tích số liệu thứ cấp Các số liệu định lượng của luận văn được khai thác chủ yếu từ bộ số
liệu của dự án: “Tình hình di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị và các KCN trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO” do Chính phủ Việt Nam
đồng tài trợ với Chính phủ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai len, Chính phủ Australia Dự án do Trung tâm Phát triển Xã hội và Môi trường Vùng tiến hành trong thời gian từ tháng 8/2012 đến tháng 1/2013
Nghiên cứu được thực hiện tại 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh) Trong số đó chủ yếu là các tỉnh có nhiều lao động di
cư đến làm việc tại các KCX/KCN cũng như làm lao động tự do tại các khu vực thành thị gồm: (i) Vùng Trung du và Miền núi Bắc Bộ (Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Ninh), (ii) Vùng Đồng Bằng Sông Hồng (Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Vĩnh Phúc), (iii) Vùng Bắc và Nam Trung Bộ (Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Nam), (iiii) Vùng Tây Nguyên (Đắk Lắk, Lâm Đồng), (iiiii) Vùng Nam Bộ (Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ)
Số lượng đơn vị điều tra là 7800 lao động di cư, được phân bổ cho các tỉnh theo phương pháp tỷ lệ thuận với căn bậc 2 của số người nhập cư vào
Trang 30tỉnh thu được từ Tổng Điều tra Dân số 2009 Trong luận văn này, tác giả tập trung khai thác thông tin tại KCN Sông Công, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Cụ thể mẫu định lượng là 324 lao động di cư
Tác giả được sự đồng ý của Trung tâm Phát triển Xã hội và Môi trường Vùng về việc sử dụng số liệu, bản thân tác giả là nghiên cứu viên tham gia dự án
Các số liệu định lượng trong đề tài được tác giả xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5 Các bảng, các biểu đồ trong luận văn là kết quả xử lý các số liệu định lượng từ 324 phiếu khảo sát
Cơ cấu mẫu khảo sát cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu khảo sát
Sơ cấp nghề
Trung cấp nghề
Trung học chuyên nghiệp
Cao đẳng/cao đẳng nghề
Đại học/trên đại học
N %
160 49,4 22 6,8 16 4,9 70 21,6 16 4,9 36 11,1 4 1,2 324 100
Bên cạnh đó, các tài liệu thứ cấp khác bao gồm: kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc ban hành các chính sách quản lý và hỗ trợ lao động di cư, hệ thống văn bản, chính sách pháp luật có liên quan tới lao động,
Trang 31việc làm, hệ thống các số liệu thống kê hàng năm và trong các giai đoạn về lao động, việc làm, hệ thống các chương trình, chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia và ngành, lĩnh vực giai đoạn 2007 đến nay các báo cáo, nghiên
cứu của các tổ chức trong và ngoài nước về tình hình việc làm
8.2.2 Phỏng vấn sâu
Để bổ sung thông tin còn thiếu, tác giả sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc/ bản hướng dẫn phỏng vấn sâu cá nhân nhằm tìm hiểu đặc trưng của đối tượng
và khai thác các thông tin bổ trợ về tình trạng lao động việc làm của người di cư
Số lượng Phỏng vấn sâu: 16 lao động di cư
Các thông tin định tính được tác giả xử lý bằng phần mềm NVIVO 7.0
8.2.3 Quan sát
Chủ yếu được sử dụng để kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu nhằm làm sâu sắc thêm các thông tin nghiên cứu hoặc kiểm chứng thông tin Nội dung quan sát chủ yếu tập trung vào các khía cạnh về sinh hoạt, đời sống, công việc của người lao động di cư từ nông thôn tới KCN
9 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần:
Mở đầu
Nội dung chính
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Thực trạng việc làm của lao động di cư từ nông thôn tới KCN Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Thực trạng đời sống của lao động di cư từ nông thôn tới KCN Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
Kết luận và khuyến nghị
Trang 32NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Đời sống
Khái niệm đời sống là khái niệm khá rộng Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa đời sống tinh thần xã hội và đời sống vật chất xã hội Đời sống tinh thần xã hội phản ánh đời sống vật chất xã hội, chịu sự quy định, chi phối của đời sống vật chất xã hội Khi đời sống vật chất thay đổi thì cũng kéo theo sự thay đổi của đời sống tinh thần Nói một cách cụ thể hơn - như C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" khi sản xuất vật chất thay đổi thì nó sẽ kéo theo sự thay đổi của sản xuất tinh thần Nhu cầu và lợi ích tinh thần, xét cho cùng, thường xuyên chịu sự chi phối của nhu cầu và lợi ích vật chất Xét theo mặt bằng xã hội, con người thường có "mức sống" tinh thần tương ứng với mức sống kinh
tế Mặt khác, chủ nghĩa duy vật lịch sử còn vạch ra sự thống nhất giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần Sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ, đời sống tinh thần tồn tại thông qua đời sống vật chất Đời sống vật chất là phương tiện, phương thức thể hiện của đời sống tinh thần Nói cách khác, đời sống vật chất là phương tiện thể hiện mặt bản thể luận của đời sống tinh thần [15] Chẳng hạn, những giá trị tinh thần bao giờ cũng phải được tồn tại, phát triển thông qua một số cơ sở, phương tiện vật chất như nhà in, đài phát thanh, đài truyền hình, thư viện, viện bảo tàng… và được vật chất hoá dưới nhiều hình thức như sách báo, tranh ảnh, băng hình, băng nhạc, tượng đài, đình chùa…
Trong đề tài này, đời sống của lao động di cư được xem xét qua hai khía cạnh: đời sống vật chất (điều kiện nhà ở, chi tiêu, chăm sóc về y tế, vấn
đề ô nhiễm môi trường) và đời sống tinh thần (tiếp cận giáo dục của con em
Trang 33người lao động, tình hình an ninh trật tự tại địa phương, sự tham gia các hoạt động cộng đồng (văn nghệ, thể dục thể thao, từ thiện)
1.1.2 Lao động
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động, nhưng suy cho cùng lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với con vật và xã hội loài người và xã hội loài vật Bởi vì, khác với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người Theo C Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”[15]
Ph.Ăngghen viết: “Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải Nhưng lao động còn là một cái
gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn
bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người”[15]
Như vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người Trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình Nói cách khác, trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội
Trang 341.1.3 Việc làm
Ở Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể) Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp
Ngày nay, các quan niệm về việc làm đã được hiểu rộng hơn, đúng đắn
và khoa học hơn Điều 19, chương II Bộ luật Lao động 2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [34]
Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và các thành viên trong gia đình
Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị
pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm
Hai điều kiện này có quan hệ chặt với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm
Trang 35mong muốn thoát nghèo Nhân tố lực hút có thể được xem là điểm đến mong đợi của người dân di cư, đây thường là những nơi có cuộc sống hòa bình và
an toàn, có nhiều cơ hội việc làm, nền giáo dục tốt, an sinh xã hội, có những tiêu chuẩn sống tốt hơn, có sự tự do trong chính trị và tôn giáo Có nhiều định nghĩa về di cư được đưa ra, mỗi định nghĩa xuất phát từ những phương diện khác nhau
Theo Smith (2000), thuật ngữ di cư thường được sử dụng để đề cập đến mọi di chuyển lý học trong không gian với ngụ ý ít nhiều rõ rệt là sự thay đổi nơi cư trú hay nơi ở
Năm 1958, Liên Hợp Quốc đã đưa ra định nghĩa về di cư như sau: “Di
cư là một hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc sự di chuyển với khoảng cách tối thiểu quy định Sự di chuyển này diễn ra trong khoảng thời gian di cư xác định và đặc trưng bởi sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên” [42] Sự thay đổi nơi cư trú được thể hiện ở hai đặc điểm sau: Nơi xuất cư (nơi đi) là nơi người
di cư chuyển đi; Nơi nhập cư (nơi đến) là nơi người di cư chuyển đến Định nghĩa của Liên Hợp Quốc đã loại ra những nguời đang sống lang thang, dân
du mục và di dân theo kiểu con lắc (đi về hàng ngày)
1.1.5 Lao động di cư
Lao động di cư được xác định là người trong độ tuổi từ 15-59 đã di chuyển từ quận/huyện này sang quận/huyện khác trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra, và đã cư trú trên địa bàn điều tra từ một tháng trở lên Một người di cư từ quận này sang quận khác trong nội thành phố trong khoảng thời gian 5 năm trước điều tra được xem là người không di cư Những người 15-59 tuổi sống tại cùng quận/huyện trong ít nhất 5 năm trước điều tra được xem là người không di cư [40]
Trang 361.1.6 Nông thôn
Theo cách hiểu thông thường thì nông thôn là những vùng cư dân sinh sống bằng nông nghiệp, dựa vào tiềm năng của môi trường tự nhiên để sinh sống và tạo ra của cải mới trong môi trường tự nhiên đó, từ hái lượm những của cải tự nhiên sẵn có, dần dần tiến đến canh tác, tái tạo ra của cải để nuôi sống mình
Đặc trưng cơ bản của xã hội nông thôn [33]:
+ Môi trường gần gũi với tự nhiên (sự cân bằng về sinh thái tự nhiên của địa bàn nông thôn)
+ Kinh tế nông thôn: Nông nghiệp là cơ sở kinh tế chính của xã hội nông thôn, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, sản xuất nhỏ mang tính tự cung,
tự cấp và các hình thức tổ chức sản xuất trước đây như hợp tác xã, nông trại Hiện nay, kinh tế nông thôn đang phát triển hết sức đa dạng, theo xu hướng phát triển kinh tế hộ gia đình
+ Chính trị nông thôn: Hệ thống chính trị nông thôn là hệ thống tự quản, chủ yếu là xóm làng, lệ làng với sự tham gia của các thành viên vào bộ máy lãnh đạo ở xã như bí thư, chủ tịch Yếu tố dòng họ huyết thống rất mạnh, chi phối nhiều hoạt động của làng xã
+ Văn hóa nông thôn: Cơ sở chủ yếu là văn hóa dân gian, có tính chất truyền miệng Nét đặc trưng riêng của văn hóa nông thôn là các phong tục tập quán và các lễ hội riêng của mỗi làng, mỗi vùng
Ngoài ra, còn những đặc trưng riêng về con người nông thôn, gia đình nông thôn, tôn giáo ở nông thôn, dịch vụ ở nông thôn hiện nay Tuy nhiên, trong đề tài này, tác giả quan tâm đến những lao động di cư từ nông thôn đang làm việc tại các KCN Như vậy, nơi đi của lao động di cư chính là nông thôn,
là các vùng quê Đặc trưng kinh tế ở nông thôn, chủ yếu là sản xuất nông
Trang 37nghiệp nên đời sống người lao động còn khó khăn, nhất là những vùng quê đất xấu, thu hoạch từ nông nghiệp thấp kém Do đó, việc người dân di cư đến nơi khác làm ăn là rất phổ biến
1.1.7 Khu công nghiệp
Chủ trương phát triển các KCN, KCX tập trung được Đảng khởi xướng
từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VI Ban chấp hành Trung ương năm 1994 và được tiếp tục khẳng định tại văn kiện đại hội IX của Đảng về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 [17]
Khu công nghiệp, khu chế xuất ở nước ta hình thành và phát triển từ năm 1991, khởi đầu là KCN Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh Trong những năm qua, kết quả hoạt động của các KCN đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển, tăng trưởng kinh tế, hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát triển đô thị, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần giải quyết việc làm cho lao động, đặc biệt là lao động di cư từ nông thôn
Theo Nghị định số 192/CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ, các khu công nghiệp được định nghĩa là các khu vực công nghiệp tập trung, không có dân cư, được thành lập với các ranh giới được xác định nhằm cung ứng các dịch vụ để hỗ trợ sản xuất [17]
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Khu công nghiệp là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội – môi trường Khu công nghiệp được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống
hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng Những KCN có quy mô nhỏ thường được gọi là cụm công nghiệp [55]
Trang 38Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung là cần thiết và được Nhà nước khuyến khích
Lao động di cư từ nông thôn tới khu công nghiệp là người trong độ tuổi từ 15-59 đã di chuyển từ khu vực nông thôn (có đơn vị hành chính là xã) tới làm việc tại khu công nghiệp trong khoảng thời gian từ 2007 - 2012, và đã định cư tại đây từ một tháng trở lên
1.2 Các lý thuyết áp dụng
1.2.1 Lý thuyết mạng lưới xã hội
Có một số định nghĩa về mạng lưới xã hội như sau: Mạng lưới xã hội là một cấu trúc xã hội hình thành bởi những cá nhân (hay những tổ chức), các cá nhân được gắn kết bởi sự phụ thuộc lẫn nhau thông những nút thắt như tình bạn, quan hệ họ hàng, sở thích chung, trao đổi tài chính, quan hệ tình dục, những mối quan hệ về niềm tin, kiến thức và uy tín [55]
Đơn giản hơn, mạng lưới xã hội là đồ thị những mối quan hệ xác định,
ví dụ như tình bạn Các nút thắt gắn kết cá nhân với xã hội chính là những mối liên hệ xã hội của cá nhân đó Mạng lưới xã hội có thể dùng để kiểm tra vốn xã hội - giá trị mà cá nhân có được từ mạng lưới xã hội Những khái niệm này thường được biểu thị trong biểu đồ mạng xã hội, trong đó các nút thắt chính là các điểm và các mối quan hệ
Theo định nghĩa của Fitchter (1957), “mạng lưới xã hội (social network) bao gồm nhiều mối quan hệ đôi Mỗi người trong mạng lưới có liên
hệ với ít nhất 2 người khác nhưng không ai có liên hệ với tất cả những thành viên khác”
Theo Đặng Nguyên Anh: trên bình diện xã hội học, khái niệm mạng lưới xã hội dựa trên cơ sở lý thuyết hệ thống và tương tác xã hội Mạng lưới
xã hội là tập hợp liên kết giữa các cá nhân hay giữa các nhóm dân cư nhất
Trang 39định Thông qua sự tiềm ẩn trong những mối liên hệ cũng như quyền lợi và trách nhiệm chi phối các mối quan hệ đó, mạng lưới xã hội được sử dụng nhằm đạt được mục đích nhất định [4]
Một quan niệm xã hội học khác cho rằng: mạng lưới xã hội dùng để chỉ phức thể các mối quan hệ xã hội do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống thực của họ với tư cách là thành viên xã hội
Trong xã hội học, các quan điểm và tính chất của mạng lưới xã hội được nghiên cứu từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau Lý thuyết tương tác xã hội của Georg Simmel tập trung vào phân tích các kiểu , hình thức của mạng lưới xã hội gồm các mối quan hệ của các cá nhân đang tác động lẫn nhau Theo thuyết cấu trúc – chức năng, Emile Durkhiem phân biệt hai kiểu đoàn kết xã hội hữu cơ và máy móc trên cơ sở hai hình thức phân công lao động phức tạp và đơn giản tạo nên những kiểu quan hệ và liên hệ tương ứng giữa các cá nhân và nhóm người Mạng lưới quan hệ chức năng đặc trưng cho kiểu đoàn kết hữu cơ của xã hội hiện đại và mạng lưới quan hệ phi chức năng đặc trưng cho kiểu đoàn kết máy móc của xã họi truyền thống Theo lý thuyết hệ thống xã hội, một số tác giải tập trung vào giải quyết một nhiệm vụ trung tâm của xã hội học là nghiên cứu cốt lõi bên trong của xã hội Với tư cách là kiểu mối liên hệ và quan hệ giữa các thành tố xã hội, mạng lưới xã hội là biểu hiện
cụ thể, trực tiếp và rõ rệt nhất của cấu trúc xã hội Phân tích mạng lưới xã hội trở thành một phương pháp tiếp cận cấu trúc xã hội [54]
Vận dụng lý thuyết mạng lưới xã hội vào đề tài này, theo đó, mạng lưới
xã hội được xem như một nhân tố quan trọng quyết định toàn bộ quá trình di
cư Vai trò của mạng lưới xã hội đối với quá trình di cư là phù hợp trong việc tìm hiểu nguyên nhân, xu hướng di cư, giúp giải thích vấn đề tìm kiếm việc làm, cách tạo lập cuộc sống cũng như sự hòa nhập của cư dân tại nơi chuyển đến Có thể thấy, những người di chuyển có sự liên kết xã hội thành mạng lưới di cư Thông qua những quan hệ họ hàng, bạn bè, người thân, người di
Trang 40chuyển tiếp nhận được thông tin và sự trợ giúp cần thiết tại nơi mà họ sẽ chuyển đến Thông qua sự gắn kết chặt chẽ với nhau, người di chuyển tạo nên những liên kết thông qua gia đình, thân tộc tin cậy hơn nhiều so với những quan hệ người ngoài Gia đình, bạn bè, người thân tại nơi chuyển đến thường giữ vai trò cưu mang, cung cấp thông tin, giúp liên hệ việc làm cũng như vượt qua những khó khăn ban đầu Những quan hệ mà người nhập cư có được tại nơi nhập cư sẽ làm thuận lợi thêm quá trình hòa nhập của họ và môi trường sống mới Tuy nhiên, khả năng kết nết và hòa nhập vào mạng lưới di cư có được phát huy hay không còn tùy thuộc vào mức độ giao tiếp xã hội của người di chuyển
1.2.2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
Thuyết lựa chọn hợp lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh
tế học và nhân học thế kỷ XVIII- XIX Nhờ sự nỗ lực to lớn của James Coleman, thuyết lựa chọn hợp lý đã phát triển và trở thành một trong các lý thuyết “nóng” của xã hội học đương thời Định hướng chọn lựa hợp lý của Coleman rõ ràng trong ý tưởng của ông rằng hành động có mục đích của cá nhân hướng tới một mục tiêu; mục tiêu đó (và do đó cả hành động) định hình bởi các giá trị hay các sở thích Mọi người được xem là tối đa hóa các lợi ích của họ bằng cách từ bỏ một phần quyền kiểm soát chính bản thân họ và có được một phần kiểm soát đối với những người khác
Theo hướng tiếp cận của lý thuyết trên sẽ giúp cho việc giải thích nguyên dân di cư đi tìm việc làm của người lao động nông thôn Đó chính là
sự di chuyển của người dân từ những vùng có năng suất nông nghiệp thấp tới các thành phố lớn, các KCN tìm việc làm, mong muốn sẽ cải thiện đời sống của bản thân, gia đình Người lao động có thể trước khi di cư đã có định hướng về công việc sẽ làm tại nơi họ chuyển đến, hoặc đến nơi họ mới đi tìm việc Dù đời sống, việc làm có khó khăn, vất vả hay rủi ro đi chăng nữa, thì đối với họ, quyết định di cư vẫn tốt hơn là không di cư