1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch văn hóa ở Lạng Sơn

106 479 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía đông bắc của Việt Nam, có rất nhiều điều kiện thuận lợi, nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, với những vùng núi đá cao, khí hậu quanh năm mát mẻ, dễ

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội

tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trang 2

Đại học quốc gia hà nội

tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

DƯƠNG THị HạNH

Phát triển du lịch văn hóa

ở lạng sơn

Chuyên ngành: Du lịch (Ch-ơng trình đào tạo thí điểm)

luận văn thạc sĩ du lịch

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS Trần Thúy Anh

Hà Nội, 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Bố cục của luận văn 7

Chương 1: ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA CỦA TỈNH LẠNG SƠN 8

1.1 Tài nguyên du lịch 8

1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 8

1.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 8

1.1.1.2 Khí hậu, thủy văn 9

1.1.1.3 Hệ thống hang động và các cảnh quan tự nhiên 12

1.1.2 Đặc điểm dân cư, dân tộc 14

1.1.3.Tài nguyên du lịch văn hóa 17

1.1.3.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể 17

1.2 Cơ sở hạ tầng xã hội 28

1.2.1 Giao thông 28

1.2.2 Hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc 29

1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

1.4 Chiến lược phát triển, quy hoạch, chủ trương chính sách 33

1.4.1 Chiến lược phát triển 34

1.4.2 Quy hoạch phát triển du lịch 35 1.4.3 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước với phát triển du lịch 35

Trang 4

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ CỦA TỈNH LẠNG SƠN 39

2.1 Thị trường khách du lịch Lạng Sơn 39

2.1.1 Lượng khách du lịch 39

2.1.2 Đặc điểm và nhu cầu khách du lịch 42

2.1.2.1 Đặc điểm nguồn khách 42

2.1.2.2 Nhu cầu khách du lịch 43

2.2 Sản phẩm du lịch văn hóa tỉnh Lạng Sơn 44

2.2.1 Du lịch tôn giáo, tín ngưỡng 44

2.2.2 Du lịch phong tục 45

2.2.3 Du lịch lễ hội 45

2.2.4 Du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hóa, danh thắng 46

2.2.5 Du lịch ẩm thực 47

2.2.6 Du lịch biên mậu 47

2.3 Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 48

2.3.1 Cơ sở lưu trú 48

2.3.2 Cơ sở nhà hàng phục vụ ăn uống 49

2.3.3 Các khu vui chơi giải trí và dịch vụ khác 50

2.3.4 Vận chuyển 50

2.4 Nhân lực phục vụ du lịch văn hóa 51

2.4.1 Số lượng lao động 51

2.4.2 Lứa tuổi và giới tính 51

2.4.3 Trình độ lao động 51

2.4.4 Cơ cấu lao động trong các dịch vụ du lịch 52

2.5 Tổ chức quy hoạch, quản lý du lịch văn hóa 53

2.5.1 Tổ chức quy hoạch theo không gian lãnh thổ 53

Trang 5

2.5.2 Công tác quản lý nhà nước 53

2.6 Công tác xúc tiến, tuyên truyền và quảng bá cho du lịch văn hóa 55

2.6.1 Công tác tuyên truyền và quảng bá cho du lịch văn hóa 55

2.6.2 Công tác xúc tiến du lịch văn hóa 55

2.7 Tác động của du lịch đến các di sản văn hóa 56

2.7.1 Tác động tích cực 56

2.7.2 Tác động tiêu cực 57

2.8 Đánh giá chung về hiện trạng phát triển du lịch văn hóa 58

2.8.1 Những thành tựu đạt được 58

2.8.2 Những hạn chế và nguyên nhân 60

Tiểu kết chương 2 62

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ TỈNH LẠNG SƠN 63

3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 63

3.1.1 Căn cứ vào Chiến lược phát triển du lịch 63

3.1.2 Căn cứ vào việc Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch 63

3.1.3 Căn cứ vào thực trạng phát triển du lịch văn hóa 64

3.2 Những giải pháp phát triển du lịch văn hoá tỉnh Lạng Sơn 64

3.2.1 Giải pháp về thị trường du lịch văn hóa 64

3.2.2 Giải pháp về sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù 65

3.2.3 Giải pháp phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật 66

3.2.4 Giải pháp phát triển nhân lực du lịch văn hóa 68

3.2.5 Giải pháp về tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hóa 71

3.2.6 Giải pháp về công tác xúc tiến và quảng bá sản phẩm 73

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 6

PHỤ LỤC 86

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Ngày nay bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của nhiều người Việt Nam được coi là một trong 34 nền văn hoá lớn của thế giới với những giá trị văn hoá đặc sắc có một không hai chính là những tài nguyên du lịch quý giá góp phần làm phong phú thêm cho lĩnh vực du lịch nước nhà

1.2 Trong xu thế phát triển du lịch hiện nay, du lịch văn hoá đang ngày càng hấp dẫn khách du lịch Lượng khách đến với các di tích lịch sử văn hoá,

lễ hội, làng nghề truyền thống .của mỗi một vùng quê, mỗi một dân tộc khác nhau trên thế giới ngày càng tăng

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía đông bắc của Việt Nam, có rất nhiều điều kiện thuận lợi, nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, với những vùng núi đá cao, khí hậu quanh năm mát mẻ, dễ chịu, được coi là một địa điểm nghỉ mát lý tưởng chẳng kém Sa Pa hay Tam Đảo Trong đó quần thể các hang động tự nhiên lớn nhỏ đã được phát hiện là một kho tàng quý giá để

du khách thập phương tha hồ tham quan tìm hiểu, mỗi hang động đều mang một hình thù kỳ lạ với nhiều khối nhũ thạch có những đường nét, hình dáng đa dạng, phong phú thấm đậm chất huyền thoại và sự hình thành được gắn với một truyền thuyết đầy bí ẩn, linh thiêng Nhiều danh lam thắng cảnh của Lạng Sơn đã đi vào ca dao, lịch sử, tiếng hát, lời ru được nhiều người biết đến:

„„Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh ‟‟

Trang 7

Lạng Sơn cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử gắn với những sự kiện lịch sử như ải Mục Nam Quan, Ải Chi Lăng, thành Nhà Mạc Lạng Sơn còn

là căn cứ địa cách mạng với khu di tích khởi nghĩa Bắc Sơn, là quê hương của nhiều chiến sỹ cách mạng yêu nước như Hoàng văn Thụ, Lương Văn Tri Và đây còn là nơi cư trú của nhiều dân tộc cùng sinh sống : Kinh , Tày, Nùng, Dao, Hoa với nhiều nét đẹp mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc truyền thống trong tập quán sản xuất cũng như trong sinh hoạt đời thường

Với mong muốn để du lịch Lạng Sơn ngày càng phát triển, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Phát triển du lịch văn hoá ở Lạng Sơn” cho luận văn tốt nghiệp của mình, để đóng góp sức mình vào việc xây dựng và phát triển ngành du lịch Lạng Sơn nói riêng và xây dựng quê hương Lạng Sơn ngày càng giàu mạnh hơn

- Quyển “Lạng Sơn thiên nhiên và con người” của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn xuất bản năm 1995: chủ yếu nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và đặc điểm người dân xứ Lạng;

- Quyển “ Địa chí Lạng Sơn” do UBND tỉnh Lạng Sơn cho phép biên tập, do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 1999: nghiên cứu tổng quan về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục của tỉnh Lạng Sơn;

- Quyển “Xứ Lạng văn hoá và du lịch” của bảo tàng tổng hợp tỉnh Lạng Sơn do Nxb Văn hoá dân tộc xuất bản: tổng hợp các điều kiện tự nhiên và

Trang 8

nhân văn của Lạng Sơn; các thế mạnh về văn hóa, lịch sử để phát triển du lịch nói chung của tỉnh Lạng Sơn

- Luận văn thạc sĩ: “Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn thành phố Lạng Sơn với phát triển du lịch” của Nguyễn Thị Vân Anh đã bảo

vệ tại Hội đồng trường Đại Học Văn hoá Hà Nội năm 2011 Luận văn chỉ nghiên cứu về hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tuy nhiên thông tin về hệ thống di tích lịch sử văn hoá chỉ dừng lại ở mức độ liệt kê và khái quát để khai thác vào việc phát triển du lịch nói chung chứ chưa đi sâu vào loại hình du lịch văn hoá

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Lạng Sơn

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về không gian: Hoạt động du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

+ Phạm vi về thời gian: trong giai đoạn năm 2008 - 2013

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Xác định cơ sở khoa học cho việc phát triển du lịc văn hóa của tỉnh Lạng Sơn

- Nhiệm vụ: Nghiên cứu tổng quan những vấn đề về điều kiện phát triển du lịch văn hóa; khảo sát thực trạng của hoạt động du lịch văn hóa và đề xuất những giải pháp để phát triển du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu luận văn là:

- Phương pháp liên ngành: không chỉ sử dụng riêng kiến thức của ngành du lịch mà còn sử dụng những kiến thức của nhiều ngành khác như: địa

lý, lịch sử, văn hóa, xã hội trong quá trình nghiên cứu

Trang 9

- Phương pháp thu thập xử lý tài liệu: có sự phân loại, chia nhỏ các tài liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau và xử lý theo nội dung các chương trong luận văn

- Phương pháp điền dã: đi khảo sát thực địa một số di tích tiêu biểu ở từng loại hình di tích để cập nhật những thông tin mới nhất về các di tích trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

- Phương pháp mô tả, thống kê: Sử dụng các bảng biểu, bảng hỏi để thống kê và khái quát những vấn đề, những số liệu cơ bản của luận văn

6 Đóng góp của đề tài

Luận văn nêu lên những điều kiện phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Lạng Sơn; khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển

du lịch văn hóa của tỉnh Lạng Sơn

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Điều kiện phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Lạng Sơn

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch văn hoá của tỉnh Lạng Sơn

Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá ở tỉnh Lạng Sơn

Trang 10

Chương 1 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA CỦA TỈNH

LẠNG SƠN 1.1 Tài nguyên du lịch

1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Lạng sơn là tỉnh miền núi phía Đông Bắc của Việt Nam, có đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với chiều dài 253 km Phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía tây giáp tỉnh Bắc Cạn

Lạng Sơn có 1 thành phố và 10 huyện là các huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, Văn Lãng, Tràng Định, Hữu Lũng, Chi Lăng, Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập và thành phố Lạng Sơn, với tổng diện tích tự nhiên là 8.187,25 km2

trong đó diện tích đồi núi, rừng chiếm gần 80% Nằm trong hệ sơn khối Hoa Nam Bắc Sơn, Ngân Sơn Lạng Sơn, hệ thống sơn khối đá vôi nằm ở các huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, Chi Lăng và Hữu Lũng với tổng diện tích ước tính 1500 km2, còn lại các huyện khác chủ yếu là địa hình núi đất xen

kẽ là các thung lũng nhỏ hẹp

Địa hình Lạng Sơn tương đối phức tạp do nằm ở khu vực có nhiều biến đổi qua các đợt vận động về địa lý, địa chất Hướng chính của địa hình là hướng Tây Bắc – Đông Nam, ngoài ra còn có hai hướng phụ nữa là Đông Bắc – Tây Nam, và hướng vòng cung phía Đông Dạng địa hình phổ biến ở Lạng Sơn là núi thấp và đồi, ít núi trung bình và không có núi cao Độ cao dưới 700m chiếm 96,27% diện tích của tỉnh Độ cao trung bình là 251m so với mặt

Trang 11

nước biển Nơi thấp nhất là 20m ở phía nam huyện Hữu Lũng, trên thung lũng sông Thương Nơi cao nhất là đỉnh Phia Mè (thuộc khối núi Mẫu Sơn) cao 1541m so với mực nước biển

1.1.1.2 Khí hậu, thủy văn

Khí hậu Lạng Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang đặc trưng của vùng núi phía Bắc và là một trong những ví dụ tiêu biểu của khí hậu miền Bắc Việt Nam Đó là sự hạ thấp nền nhiệt độ trung bình cũng như các giá trị nhiệt độ thấp đến mức kỷ lục trong các tháng mùa đông

Không có nơi nào ở Việt Nam như Lạng Sơn chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của khối khí gió mùa cực đại Nền địa hình cao trung bình là 251 m do vậy, tuy nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa nhưng khí hậu ở Lạng Sơn có nét đặc thù của khí hậu á nhiệt đới

Nền nhiệt không quá cao là nét đặc trưng của khí hậu Lạng Sơn Nhiệt

độ trung bình lạnh nhất là 12,40C (tháng 1) và tháng nóng nhất từ 26,80C đến 27,60C (tháng 7) Biên độ gia động giữa ngày và đêm cũng như các tháng trong năm khá lớn

Mùa đông tương đối dài và khá lạnh Lượng mưa trung bình hàng năm phổ biến từ 1.200 - 1.600 mm, với số ngày mưa là 135 ngày trong năm kéo dài 5 tháng từ tháng 5 đến tháng 9 Mẫu Sơn là nơi duy nhất có lượng mưa trên 1.600 mm

Độ ẩm không khí trung bình tương đối phổ biến từ 80 - 85% và ít có sự chênh lệc giữa các vùng và các độ cao trong tỉnh

Độ ẩm cao nhất trên dưới 85% (vào tháng 8) và thấp nhất khoảng 77 - 78% (vào tháng 1)

Luợng mây trung bình năm khoảng 7,5/10 bầu trời Số giờ nắng trung bình khoảng 1600 giờ

Trang 12

Huớng gió và tốc độ gió của Lạng Sơn vừa chịu sự chi phối của yếu tố hoàn lưu, vừa bị biến dạng bởi địa hình Mùa lạnh thịnh hành gió Bắc, mùa nóng thịnh hành gió Nam và Đông Nam Tốc độ gió nói chung không lớn,

trung bình 0,8 - 2 m/s song phân hoá không đều giữa các vùng trong tỉnh

Là tỉnh miền núi có độ cao khá lớn nhưng nhìn chung về khí hậu thì căn bản không khác các tỉnh Bắc Bộ, vẫn có mùa mưa, mùa khô, mùa nóng và mùa lạnh, có thể phân ra ba vùng khí hậu đặc trưng là:

- Vùng khí hậu núi cao Mẫu Sơn

- Vùng khí hậu núi vừa và thấp ở phía Bắc và phía Đông

- Vùng khí hậu núi thấp ở phía Nam

Lạng Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 170

C –

220C Mùa đông ở đây tương đối dài và khá lạnh, có thể kéo dài tới 5 tháng hoặc hơn Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.400 – 1.450 mm, với tổng số ngày mưa là 135 ngày Nền địa hình cao trung bình là 251 m, độ ẩm 82% và dải đều trong năm Chế độ khí hậu này rất thích hợp với các loại cây trồng ôn đới và nhiệt đới, nhất là cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày như: quýt,

mơ, trám, đào, hồng, lê, cây thông, chè….số giờ nắng bình quân trong năm là 1.592 giờ

Về thuỷ văn ở Lạng Sơn: Mật độ sông suối ở Lạng Sơn khá dày với tổng chiều dài hơn 400 km, chia ra hai hệ thống sông chính là hệ thống sông

Kỳ Cùng ở phía bắc tỉnh, và hệ thống sông Thương ở phía nam tỉnh Ngoài ra

ở khắp các huyện thị còn có vô số các suối, ngòi, khe rạch chảy ra sông

Sông Kỳ Cùng là con sông lớn nhất của Lạng Sơn, có chiều dài 243km, diện tích lưu vực là 6.660 km2, trong đó phần nội tỉnh là 6.532 km2, chiếm 79,8% diện tích tự nhiên của tỉnh Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ vùng núi Bắc

Xa cao 1166m ở huyện Đình Lập, chảy theo hướng từ đông nam lên tây bắc, theo hướng dốc của địa hình qua Lộc Bình, Điềm He, Na Sầm đến Thất Khê

Trang 13

tại đây sông Kỳ Cùng uốn khúc và chảy theo hướng tây bắc – đông nam tới biên giới Trung Quốc, đổ vào lưu vực sông Tây Giang Tổng chiều dài hệ thống sông Kỳ Cùng là 1.583 km, sông có 26 nhánh cấp 1 trong đó sông có chiều dài trên 10 km là 77 và gồm 17 sông có diện tích lưu vực lớn hơn 100

km2, số sông còn lại có diện tích lưu vực nhỏ hơn 100 km2

Sông Thương là sông lớn thứ hai của Lạng Sơn, chảy trong máng trũng Mai Sao thuộc huyện Chi Lăng Lạng Sơn chiếm phần thượng lưu và trung lưu của sông Thương, phần còn lại của sông chảy trên địa phận tỉnh Bắc Giang Sông Thương bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước, cao 600m gần Ba Thín thuộc huyện Chi Lăng Sông chảy theo hướng đông bắc – tây nam, rồi chảy vào tỉnh Bắc Giang tại xã Hoà Thắng, huyện Hữu Lũng Sông Thương

có chiều dài 157 km, phần dòng chảy ở lạng Sơn dài 70 km Ở địa phận Lạng Sơn, sông Thương có hai phụ lưu chính là sông Hoá và sông Trung

Thổ nhưỡng ở Lạng Sơn: Vùng đất Lạng Sơn chịu sự tác động của những kiến tạo khác nhau, do vậy có khá nhiều loại đá gốc phong hoá để tạo thành đất đai Những vận động kiến tạo trung sinh cách đây 225 triệu năm đã tạo nên hàng loạt những núi thấp, đồi cao ở Văn Lãng, Bình Gia và phía đông Tràng Định Từ các trầm tích lục nguyên là chủ yếu, đôi chỗ xuất hiện hoạt động mắc ma Tiếp sau đó, những vùng hồ lớn Bản Ngà, Thất Khê…được bồi đắp bởi trầm tích đệ tam cách đây hơn một triệu năm tạo thành những cánh đồng màu mỡ, rộng lớn

Các loại đá ở Lạng Sơn như đá vôi, phiến thanh sét, cát kết, riolít…bị phong hoá tạo nên đất có thành phần cơ giới yếu, tỷ lệ đạm, lân, kali, độ PH

và khả năng trao đổi chất khoáng khác nhau phụ thuộc sâu sắc vào sản phẩm phong hoá đá mẹ

Trang 14

Trên cơ sở những quá trình hình thành đất đã diễn ra và đang tác động tới đất đai, trên cơ sở của những mẫu chất hình thành đất thì đất đai của Lạng Sơn chia ra làm ba loại chính:

- Đất feralít của các miền đồi và núi thấp (dưới 700 m);

- Đất feralít mùn trên núi cao (700 đến 1.500 m);

- Đất phù sa

1.1.1.3 Hệ thống hang động và các cảnh quan tự nhiên

- Hệ thống hang động: Hang động là một dạng tài nguyên du lịch tự

nhiên đặc sắc ở địa hình cácxtơ thuộc vùng núi đá vôi Trên địa phận Lạng Sơn, quá trình cácxtơ nhiệt đới đã tạo nên nhiều hang động kỳ vĩ Trong số các hang động đã được phát hiện ở địa bàn tỉnh có rất nhiều hang đẹp, rộng có khả năng khai thác phục vụ mục đích du lịch

Trước hết trong lĩnh vực khảo cổ học, các nhà khoa học đã phát hiện một

số hang động có giá trị khảo cổ thời kỳ đồ đá như hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, hang Kéo Lèng thuộc huyện Bình Gia

Có nhiều hang động ngoài giá trị nhiên còn gắn với các sự tích truyên thuyết như các động Nhất, Nhị, Tam Thanh ở TP Lạng Sơn hoặc gắn với các

di tích lịch sử như hang Cốc Mười huyện Tràng Định

Các hang động ở Lạng Sơn rất đa dạng, ở các bậc độ cao khác nhau và

có độ dài khác nhau, trên các trần hang, vòm hang là một thế giới kỳ ảo những măng đá, vú đá, cột đá với những dáng hình thiên tạo vô cùng sinh động và đẹp mắt, khi phản chiếu ánh sáng rất lộng lẫy, khi gõ vào phát ra các

âm thanh như tiếng nhạc cụ trong một không gian tĩnh mịch, hư ảo Hệ thống hang động là một trong những tài nguyên du lịch rất đặc trưng ở tỉnh Lạng Sơn, hấp dẫn khách du lịch

Trang 15

- Cảnh quan tự nhiên: Lạng Sơn có những nét rất riêng không hề gặp lại

ở các vùng lãnh thổ khác trên đất nước ta, đất “Trấn doanh bát cảnh” có thể so sánh với Hà Tiên (Kiên Giang) ở miền Nam, Nghi Xuân (Hà Tĩnh) ở miền Trung Lạng Sơn là nơi hội tụ của 21 ngọn núi và 7 con sông

Trong số 21 ngọn núi, có những núi sau đây được đánh giá là danh thắng:

- Núi Công Mẫu (nay còn gọi là núi Mẫu Sơn): Núi Mẫu Sơn được bao bọc bởi hàng trăm quả núi nhỏ Khí hậu ôn hoà, mùa đông, Mẫu Sơn luôn bị mây mù bao phủ, mùa hạ rực rỡ nắng vàng, khi vào xuân cả vùng Mẫu Sơn rực rỡ sắc hoa đào

- Núi Lộc Mã: Lộc Mã là núi đất ở phía Tây tỉnh Lạng Sơn, có sông Kỳ Cùng chảy quanh phía trước và các núi hộ vệ phía sau tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình

- Núi Đại Tượng: Dãy núi Đại Tượng giống hình con voi, trong núi có động và giếng Tiên

- Núi Pha Trang: Pha Trang hay còn gọi là Long Sơn Núi có động chứa được hơn nghìn người, trước cửa động có núi nhỏ, trong vách đá có thạch nhũ như hoa sen Dân thường gọi là Động Tiên

- Núi Mã Yên: Núi Mã Yên hình yên ngựa, là di tích thuộc huyện Chi Lăng

- Núi Tam Thanh: Núi ở bờ phía bắc sông Kỳ Cùng, lưng chừng có động rộng, có chùa, hai bên động có hình như rồng nằm Trong núi có hang sâu chảy thông ra sông Kỳ Cùng Phía Nam lưng chừng núi trông xa về phía Tây Bắc có nàng Tô Thị vọng phu

- Núi Nhị Thanh: Núi nằm bên phải núi Tam Thanh Tam Thanh cùng với Nhị Thanh là một trong “Trấn doanh bát cảnh” của Lạng Sơn

Trang 16

- Núi Khau Cấp: Khau Cấp nằm ở phía Đông núi Nhị Thanh Đây là nơi năm 1282 Hưng Đạo Vương đưa quân trấn giữ

- Sông Kỳ Cùng: Kỳ Cùng là con sông quan trọng nhất của Lạng Sơn, chảy quanh co qua 7 châu gồm 218 dặm, “chảy ngược” theo hướng đặc biệt Đông Nam – Tây Bắc, là danh thắng của tỉnh Lạng Sơn

Có thể nhận thấy, Lạng Sơn với vẻ hùng vĩ và không gian khoáng đạt, với cảnh tĩnh mịch, êm đềm và môi trường trong lành đã tạo nên những ấn tượng mạnh mẽ và cảm xúc sâu đậm với mọi du khách

1.1.2 Đặc điểm dân cư, dân tộc

Theo Giáo sư Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Giai thoại Xứ Lạng “ Lạng Sơn đã từ lâu là một vùng đất quan trọng, là phên dậu của tổ quốc tiếp giáp với Trung Quốc, và là một địa bàn quần cư thống nhất của nhiều dân tộc anh

em mà chủ yếu là người Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Sán Chỉ, Cao Lan, Hoa Các dân tộc cùng chung sống đoàn kết với nhau và mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán khác nhau, có bản sắc riêng của mình, tạo nên sắc thái riêng biệt của các dân tộc tỉnh Lạng Sơn” [15, tr.27]

Trong lịch sử phát triển của mình các dân tộc ở Lạng Sơn ngày càng xích lại gần nhau, hòa đồng với nhau, tạo thành một khối đoàn kết cùng nhau xây dựng quê hương Xứ Lạng Mối liên hệ giữa các thành viên các dân tộc ngày xưa chỉ được giới hạn trong phạm vi các bản, chợ phiên, hội hè thì ngày nay càng được mở rộng, thể hiện trong sự đoàn kết cùng nhau chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước Mối quan hệ đó còn được thể hiện

rõ hơn trong hoạt động kinh tế Các dân tộc đã cùng nhau, đồng sức đồng lòng cùng khắc phục khó khăn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh

Trang 17

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đi đến các thôn bản giúp cho sự giao lưu liên kết ngày càng chặt chẽ, các dân tộc ở Lạng Sơn ngày càng đoàn kết và giúp

đỡ lẫn nhau

Sự phân bố các dân tộc: Đặc điểm chung của các tỉnh miền núi phía Bắc

là các dân tộc phân bố rất không đồng đều giữa các địa phương, trong khi có huyện chỉ có 4 - 5dân tộc thì có huyện lên tới 15 - 16 dân tộc cùng sinh sống Đối với Lạng Sơn, là tỉnh có ít thành phần dân tộc (7 dân tộc chính) nên sự chênh lệch không nhiều Các huyện có ít dân tộc sinh sống nhất là Văn Quan, Văn Lãng, Chi Lăng số lượng dân tộc không dưới 4, trong khi đó các huyện Tràng Định, Lộc Bình, Hữu Lũng, Bắc Sơn và thành phố Lạng Sơn có đủ các thành phần dân tộc

Dân tộc Nùng ở Lạng Sơn chiếm một tỷ lệ khá lớn 43,86% dân số toàn tỉnh Nùng (Nồng) vốn là tên gọi của một dòng họ trong bốn dòng họ lớn ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), trở thành tên gọi dân tộc vào khoảng thế kỷ

XV Những người Nùng sống ở Việt Nam trước kia đã hoà vào người Tày, còn những người Nùng đang sinh sống hiện nay mới di cư vào Việt Nam khoảng 200 năm nay

Dân tộc Tày ở Lạng Sơn chiếm 35,6% trong cơ cấu dân tộc của tỉnh

Họ cư trú tập trung ở các huyện Lộc Bình, Bắc Sơn, Tràng Định, Bình Gia Người Tày Lạng Sơn thường sống quần tụ thành từng bản, ít thì vài chục nóc nhà, nhiều gồm hơn 100 nóc nhà Bản của người Tày phổ biến được cấu thành

từ những gia đình thuộc các dòng họ khác nhau

Người Kinh ở Lạng Sơn tính đến năm 1995 có 105.772 nhân khẩu, chiếm 15% dân số cả tỉnh Do thời gian tới định cư khác nhau nên người Kinh

ở Lạng Sơn cũng chia thành hai nhóm: người Kinh đến trước và người Kinh đến sau (khai hoang) Tuy số người chỉ đứng thứ ba (sau Nùng, Tày), nhưng người Kinh có mặt ở hầu hết cá huyện trong tỉnh Với nhiệt huyết sẵn có, vừa

Trang 18

có trình độ văn hoá, có kinh nghiệm sống, am hiểu phong tục tập quán địa phương, các cán bộ của người Kinh cùng với gia đình của họ sống hoà đồng với các dân tộc, giúp đỡ các dân tộc, họ thường được nể trọng trong cộng đồng làng bản

Dân tộc Dao hay còn gọi là dân tộc Mán sinh sống ở các xã Công Sơn (Cao Lộc), Mẫu Sơn (Lộc Bình), và một số xã ở Bắc Sơn, Bình Gia…Người địa phương còn gọi là Cần Đông vì họ sinh sống ở những vùng núi cao nên đã

tự gọi mình như vậy, nhưng tên này thường ít được gọi và có vẻ xa lạ với nhiều người Trong tiến trình đi lên của đất nước , người Dao tiếp thu được nhiều nét tiến bộ của các dân tộc cùng chung sống, họ chuyển dần sang sông định canh định cư, nguy cơ giảm số dân do cuộc sông du canh, du cư dần dần được xoá bỏ, đời sống của người dân ngày càng được nâng lên rõ rệt

Người Sán Chỉ, chủ yếu sống ở xã Minh Phát và Nhượng Bạn của huyện Lộc Bình Sán Chỉ có nghĩa là Sơn Từ (người núi) Ngoài ra còn có người Cao Lan sống ở xã Thiện Kỳ, huyện Hữu Lũng

Dân tộc Hoa (Trung Quốc) tập trung đông nhất là ở các thị trấn Đồng Đăng (Cao Lộc), Na Sầm (Văn Lãng), Thất Khê (Tràng Định) Kỳ Lừa ( Thành phố Lạng Sơn)…với số lượng khá lớn Đại đa số họ di cư từ các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây tới Người Hoa hoạt động kinh doanh buôn bán là chủ yếu, đặc biệt trong những năm kinh tế mở cửa hình thức buôn bán qua biên giới của người Hoa chiếm ưu thế Nhiều hộ gia đình của người Hoa giàu lên nhanh chóng, tuy vậy còn một sô hộ gia đình của người Hoa không tham gia kinh doanh buôn bán mà họ phát triển kinh tế gia đình bằng các nghề khác như làm vườn, nghề rèn hay chế biến bánh kẹo…

Dân tộc Mông (còn gọi là Mèo) Ở Lạng Sơn, tính đến năm 1995, người H‟mông có 1.198 người Ngôn ngữ H‟mông được xếp trong nhóm các dân tộc ngôn ngữ Mèo – Dao Dựa vào sự khác nhau của các y phục và tiếng

Trang 19

nói của các dân tộc để phân biệt ra các nhóm chính sau: H‟mông Trắng, H‟mông Hoa (H‟mông Đỏ), H‟mông Đen, H‟mông Hán Người H‟mông ở Lạng Sơn thuộc nhóm H‟mông Đen

Có thể nói, dân cư dân tộc Lạng Sơn tương đối đa dạng phong phú, ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói và phong tục tập quán là do sinh sống quần cư tạo nên, nên bên cạnh những điểm khác nhau của từng dân tộc thì hầu như họ đều

có những nét đặc trưng chung Trong bối cảnh hiện nay với đường lối chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và nhà nước, các dân tộc sinh sống ở Lạng Sơn đều đoàn kết một lòng xây dựng quê hương đất nước, để đạt được một cuộc sống ấm no, hạnh phúc

1.1.3.Tài nguyên du lịch văn hóa

1.1.3.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể

- Những công trình kiến trúc, điêu khắc: bao gồm các di tích kiến trúc nghệ

thuật, các di tích khảo cổ học, các di tích lịch sử - cách mạng và các danh lam thắng cảnh

Lạng Sơn là nơi tập trung khá nhiều di tích lịch sử văn hóa, hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng trên 118 di tích được xếp hạng, gồm 23 di tích danh thắng được xếp hạng quốc gia, 95 di tích được xếp hạng cấp tỉnh

Trong số các di tích xếp hạng cấp quốc gia, có nhiều di tích rất quan trọng, có giá trị cao đối với du lịch như hệ thống di tích Nhất, Nhị, Tam, Thanh thuộc TP Lạng Sơn; cụm di tích ải Chi Lăng huyện Chi Lăng; cụm di tích Bắc Sơn huyện Bắc Sơn; khu di tích Hoàng Văn Thụ huyện Văn Lãng; cụm di tích gắn với chiến thắng đường số 4 ở huyện Tràng Định; cụm di tích khảo cổ Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Kéo Lèng ở huyện Bình Gia v.v

Trang 20

Bảng 1: Danh mục di tích trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

I Di tích kiến trúc nghệ thuật

Trang 21

24 Đền Bắc Lệ Huyện Hữu Lũng Cấp tỉnh

II Di tích Khảo cổ

Trang 22

13 Hang Bản Pó Huyện Tràng Định Cấp tỉnh

III Di tích Lịch sử - Cách mạng

1 Khu di tích khởi nghĩa Bắc Sơn Huyện Bắc Sơn Cấp quốc gia

10 Cụm di tích Khau Kham-Rọ

Xã-Nà Mặn

Huyện Bình Gia Cấp tỉnh

Trang 23

12 Hang Thẳm Cảo-Thắm Học Huyện Bình Gia Cấp tỉnh

13 Đèo Pác Nàng-Hang Pác Sào Huyện Bình Gia Cấp tỉnh

17 Di tích Lương Văn Tri Huyện Văn Quan Cấp quốc gia

23 Khu di tích Đường số 4 Huyện Tràng Định Cấp quốc gia

29 Di tích lưu niệm Hoàng Văn

Thụ

Huyện Văn Lãng Cấp quốc gia

Trang 24

35 Cây đa phố Phổng Huyện Hữu Lũng Cấp tỉnh

36 Khu căn cứ khởi nghĩa Hoàng

Đình Kinh

Huyện Hữu Lũng Cấp tỉnh

37 Khu di tích Ải Chi Lăng Huyện Chi Lăng Cấp quốc gia

39 Nhà bia Thủy Môn Đình và địa

điểm nhà Sứ

Huyện Cao Lộc Cấp tỉnh

43 Khu đền cổ, linh địa Mẫu Sơn Huyện Lộc Bình Cấp tỉnh

46 Di tích nhà số 8 Chính Cai TP Lạng Sơn Cấp quốc gia

IV Danh lam thắng cảnh

1 Khu di tích Nhị Tam Thanh TP Lạng Sơn Cấp quốc gia

Nguồn: Ban quản lý di tích tỉnh Lạng Sơn

Trang 25

đó là áo để người chết trở về với tổ tiên Hiện nay áo cánh ngắn được may phổ biến bằng loại vải công nghiệp được mua ở chợ với nhiều màu sắc khác nhau Quần của phụ nữ Tày ở Lạng Sơn may bằng vải nhuộm chàm, dài chấm gót, khi mặc với áo dài thì vạt áo phủ gần kín quần Cạp quần không buộc nút

mà may kiểu lá toạ, khi mặc dùng dây vải thắt phủ ra ngoài như quần nam giới Thắt lưng thường cùng màu với sống áo Thắt lưng không phải cắt khâu

từ bất cứ mảnh vải nào , mà được phụ nữ Tày dệt nguyên từ sợi bông hay bằng vải tơ nhuộm chàm Khi dùng, thắt lưng được buộc ra ngoài áo dài, để xoã mối ra phía sau

Nam giới người Tày thường mặc áo ngắn được may bằng cách ghép bốn thân, hai thân trước và hai thân sau, xẻ ngực, hai bên nẹp áo đính hàng cúc vải, cổ tròn dựng cao, tay áo dài, hẹp ống Trước kia nam giới còn mặc áo dài năm thân may bằng vải chàm hay vải lụa đen, gấu áo phủ quá đầu gối, áo cài cúc bên ngực trái Khi mặc người ta dùng thắt lưng buộc ra ngoài mang tính chất trang trí Quần của nam giới người Tày cũng được may bằng vải bông nhuộm chàm, hình dáng quần là đũng chéo chân què, gấu quần phủ tới mắt cá chân Cạp quần may rộng kiểu lá toạ

Trang 26

Người Nùng có nhiều trang phục giữa các nhóm Nùng Phụ nữ Nùng mặc cả áo cánh ngắn năm thân và bốn thân, trong đó loại áo ngắn bốn thân được may tương tự như áo bốn thân của người phụ nữ Tày: cổ áo tròn, xẻ ngực, nẹp và gấu áo rộng, cài hàng cúc ở nẹp áo, ít hoặc không trang trí hoa văn Phụ nữ Nùng dùng nhiều loại trang sức hơn phụ nữ Tày, đó là các loại vòng cổ, vòng tay, trâm cài tóc, dây chuyền, bịt răng vàng, các loại vòng tay hay hoa tai

Trang phục nam giới của người Nùng gần giống như trang phục nam giới của người Tày Sự khác biệt có chăng chỉ ở một vài chi tiết nhỏ như nam giới Nùng mặc áo cánh bốn thân, xẻ ngực và quần may hơi khít vào người, ngắn hơn so với quần của nam giới người Tày

1.1.3.2 Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể

- Tôn giáo, tín ngưỡng: Tôn giáo tín ngưỡng ở Lạng Sơn cũng giống như các

địa phương khác trong cả nước với sự có mặt của các tôn giáo lớn như Phật giáo, Thiên chúa giáo, đạo tin lành…và các tín ngưỡng dân gian bản địa khác, Người Tày, Nùng Lạng Sơn với tín ngưỡng thờ đa thần gắn với các lễ hội dân gian, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được coi trọng Người Tày, Nùng tin là có

ma, và phân biệt ma lành với ma dữ Ngày giáp tết nguyên đán, người Tày

Trang 27

trồng trước nhà một cây nêu để xua đuổi ma dữ Con gái Nùng sinh con đầu lòng (dù trai hay gái), thì khi được báo tin, cha mẹ đẻ thường giết lợn mang đến nhà con rể để ăn mừng Khi đó người ta còn mời thầy mo đến để cúng “bà mụ”

- Phong tục, tập quán: Người Tày – Nùng ở Lạng Sơn đều có tục làm

lễ mừng sinh nhật cho người già Riêng đồng bào Nùng khi sống làm lễ sinh nhật, sau khi qua đời không làm lễ cúng giỗ Người Tày thì vẫn có tục cúng giỗ người chết Khi ông bà, cha mẹ đến tuổi “ngũ tuần” bắt đầu vào cái tuổi

49, 61, 73, 85 gia đình con cháu sẽ làm lễ mừng thọ thay cho lễ sinh nhật Lễ mừng thọ được tổ chức vào ngày đầu năm tháng giêng âm lịch Lễ mừng thọ được tiến hành linh đình với đầy đủ con cái, cháu, chắt tới dự Những người được mời tới dự đều chuẩn bị câu đối viết trên vải chúc những điều tốt lành

Các nghi thức tang lễ dân tộc được phổ biến gần như nhau Suốt ba hoặc năm ngày sau khi chôn cất người chết, người ta đều phải mời thầy mo đến làm lễ cúng và người nhà phải ăn chay Nếu người chết còn trẻ hay có điều u uất thì sau phải làm then giải oan Suốt ba năm để tang, hàng ngày phải dọn hai bữa cúng linh hồn người quá cố (có gì cúng nấy) Hàng năm đi tảo mộ vào ngày tết thanh minh mùng 3 tháng 3 âm lịch

Trong tình nghĩa làng xóm, từ lâu nhân dân còn tự nguyện lập thành

“phe” hay “phường” để trợ giúp nhau những lúc có việc hiếu, việc hỉ Với tính thật thà, chân thành, người ta thích kết bạn “tồng” (cùng tên, cùng họ, hoặc cùng tuổi) Trong quan hệ gia đình người Nùng, ai hơn tuổi là anh, là chị, không như người Tày giống người Kinh, chia ngành trưởng, ngành thứ

- Lễ hội: Cũng như di tích lịch sử văn hóa, Lạng Sơn là tỉnh có nhiều dân tộc

ít người sinh sống nên có nhiều hoạt động lễ hội trong năm với những bản sắc khác nhau Tuỳ vào nội dung hoạt động có thể phân ra các loại hình lễ hội lịch

sử, lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội dân gian

Trang 28

Đến với các lễ hội này du khách có thể hình dung được quá khứ hào hùng của dân tộc Việt Nam trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, tiêu biểu là lễ hội Bắc Sơn, Chi Lăng…Các lễ hội này cũng phản ánh khá đầy đủ đời sống tâm linh, tư tưởng triết học và mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, văn hóa các dân tộc ít người vùng Đông Bắc Đây chính là một trong những điểm chủ yếu hấp dẫn du khách đến với Lạng Sơn như các lễ hội Lồng Tồng, Kỳ Cùng

Tuy nhiên, dưới góc độ du lịch cần thiết phải nghiên cứu chọn lọc, có kế hoạch khôi phục hay phát triển một số hình thức lễ hội có giá trị phục vụ du lịch

Bảng 2: Một số lễ hội quan trọng ở Lạng Sơn (Thời gian theo âm lịch)

T

T Tên lễ hội Thời

TP Lạng Sơn Cúng Thần Nông cầu mưa

thuận gió hòa, hạnh phúc Có các trò chơi dân gian như cờ người, múa lân…

3 Lễ hội Tam

Thanh

15 tháng Giêng

TP Lạng Sơn Còn có tên gọi là Hội chúng

sinh Đến với ngày hội người

ta thắp hương ở chùa cầu trời phật ban phước lành được sống bình an, làm ăn được tài được lộc

Trang 29

4 Hội đền Kỳ

Cùng

22- 27 tháng Giêng

TP Lạng Sơn Hoạt động quan trọng nhất là

rước kiệu Trong lễ hội còn diễn ra các trò chơi dân gian như múa sư tử, múa lân…Đặc biệt cờ người rất hấp dẫn du khách

5 Lễ hội Lồng

Tồng

18 tháng Giêng

Các huyện trong tỉnh

Hội xuống đồng của các dân tộc miền núi phía Bắc để cầu mưa thuận gió hòa, cuộc sống

ấm no…Tại lễ hội có các trò chơi dân gian và các món ăn làng quê

6 Lễ hội Đồng

Đăng

10 tháng Giêng

Huyện Cao Lộc

Cầu mong sự an bình, thịnh vượng, cùng các hoạt động văn hóa cổ truyền như múa sư

tử, võ dân tộc, thi đấu thể dục thể thao

7 Lễ hội Bắc

Nga

15 tháng Giêng

Huyện Cao Lộc

Ngày hội có cúng tế trong chùa mời Tiên, mời Phật về phù hộ cho dân làng được bình an, hạnh phúc

8 Lễ hội đền Bắc

Lệ

2 - 15 tháng Giêng

Huyện Hữu Lũng

Là lễ đầu năm mới, cầu thần linh phù hộ cho một năm mới bình an hạnh phúc

Trang 30

11 Hội đền vua Lê 23-24

tháng giêng

TP.Lạng Sơn Tưởng nhớ anh hùng dân tộc

* Ca múa nhạc dân tộc: Đối với phát triển du lịch, ca múa nhạc dân tộc

cũng là một loại hình sản phẩm du lịch đang được chú ý phát triển Ở Lạng Sơn tiêu biểu là hội hát then, hát sli lượn của các dân tộc miền núi phía Bắc Hát then: Hát then ở Lạng Sơn được phổ biến trên diện rộng và có nhiều

vẻ phong phú, khác nhau về các mặt ở các miền, hoặc mỗi huyện Hát then sử dụng đàn tính làm nhạc cụ đệm Đàn tính là một loại nhạc cụ dân gian độc đáo của người Tày có âm thanh ngọt ngào, mượt mà và ấm áp, có sức hấp dẫn

kỳ diệu bởi nó gắn chặt với đời sống tinh thần của một dân tộc đã bao đời nay như một phương tiện giao tiếp đậm đà bản sắc Hộp đàn làm bằng vỏ quả bầu, mặt đàn làm bằng gỗ vông, cán bằng gỗ cây khảo quang hay cây dâu tằm Hát sli, lượn: Đặc điểm cơ bản giống nhau nhưng sli lượn của mỗi nhánh Nùng lại có những nét độc đáo riêng Mỗi hình thức, mỗi làn điệu đều có cách thể hiện thế giới tâm hồn riêng, có những khả năng chuyển tải và gợi cảm riêng thông qua những lời sli lượn, độ trầm bổng luyến láy của nhạc điệu và tiết tấu riêng Sli lượn được thể hiện trong văn tế, hát mừng đám cưới, mừng nhà mới, hát ru, mừng sinh nhật…

Nhìn chung ca múa nhạc dân tộc thường gắn với lễ hội truyền thống và các di tích lịch sử văn hóa Tất cả đã gắn bó với nhau tạo nên sắc thái văn hóa

1.2 Cơ sở hạ tầng xã hội

1.2.1 Giao thông

Trang 31

Mạng lưới giao thông ở Lạng Sơn hiện nay chủ yếu là giao thông đường bộ và đường sắt Mặc dù có sông, tuy nhiên giao thông đường thủy không có điều kiện phát triển mạnh do có nhiều gềnh thác và mực nước không đủ sâu

Tuy Lạng Sơn không có sân bay có thể khai thác dân dụng nhưng khoảng cách không quá xa tới sân bay Nội Bài, lại được kết nối thuận tiện bằng tuyến quốc lộ nên khách du lịch có thể tiếp cận tỉnh một cách thuận tiện, trực tiếp

- Mạng lưới đường bộ: Hệ thống giao thông đường bộ bao gồm các

tuyến đường quốc lộ, tuyến tỉnh lộ, huyện lộ và các tuyến đường xã với tổng chiều dài 3.657 km, đạt tỷ lệ 4,95 km/1000 dân và 0,45 km/1km2 cao hơn mức trung bình cả nước là 0,33 km/km2

- Đường sắt: Hai tuyến đường sắt trên địa bàn tỉnh có tổng chiều dài 123

km, trong đó tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Đồng Đăng dài 92 km

và tuyến Mai Pha - Na Dương dài 31 km Các tuyến đường này đều do ngành đường sắt quản lý và khai thác, hàng hoá vận chuyển của đường sắt chủ yếu là hàng xuất nhập khẩu và vận chuyển than, vật liệu xây dựng trong vùng

Tuyến đường sắt Hà Nội – Đồng Đăng giữ vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động du lịch Lạng Sơn, đây là một phần của tuyến du lịch xuyên Việt

và cùng là một phần của tuyến du lịch xuyên Á

1.2.2 Hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc

- Hệ thống điện

Hệ thống điện lưới quốc gia ngày càng mở rộng Hiện nay điện lưới quốc gia đã rải tới 11 huyện, thành phố, cửa khẩu, cặp chợ đường biên Đã có

Trang 32

195 trên tổng số 207 xã vùng nông thôn được dùng điện lưới quốc gia đạt 94,2% số xã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ dùng điện đạt trên 85%

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 2 trạm 110 KV là: trạm Đồng Mỏ (Chi Lăng) 110/35/10 KV-1x25 MVA và trạm Thành phố Lạng Sơn 110/35/20 KV- 1x25 MVA; có 71 km đường dây 110 KV, 641,94 km đường dây 35 KV, 154,25 km đường dây 10 KV, 70,58 km đường dây 6 KV và 976,17 km đường dây 0,4 KV

Ngoài ra, đối với một số xã ở vùng xa, nơi gần sông, suối, nhân dân sử dụng thuỷ điện nhỏ phục vụ đời sống khoảng 8.700 hộ

- Hệ thống cung cấp nước

Về cung cấp nước sạch và xử lý nước thải của tỉnh chưa đặt ra bức xúc như các thành phố khác, các trung tâm công nghiệp lớn của đất nước, nhưng cũng đang được tỉnh quan tâm đầu tư Đến nay, tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch ở nông thôn là 50%, thành thị là 90% theo phương án quy hoạch phát triển đến năm 2010, tỉnh sẽ cải tạo nâng cấp hiện đại hoá hệ thống cấp nước, đảm bảo cung cấp đủ nước cho người dân trong tỉnh Các cửa khẩu, thị trấn KCN, khu vực dân cư tập chung, trung tâm các nông, lâm trường cũng đang được đầu tư cải tạo và đang được đầu tư cải tạo và xây dựng mới hệ thống cung cấp nước sạch

Nguồn nước chủ yếu hiện nay:

- Nhà máy nước TP Lạng Sơn: cung cấp nước cho 180 nghìn hộ dân

- Giếng đào, cáp nước tự chảy, giếng khoan: tại các trung tâm huyện Chi Lăng, Văn Lãng, Đình Lập, Bắc Sơn, Bình Gia

Toàn tỉnh có 44 giếng khoan, trong đó 25 giếng có chất lượng tốt do thường xuyên được bảo dưỡng và vận hành đúng quy trình Ngoài ra tỉnh có

Trang 33

trên 38 nghìn giếng đào, gần 1/2 có chất lượng tốt Hiện nay lại hình cấp nước chủ yếu cho nhu cầu sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt của các thị trấn, khu dân

cư tập trung là các hệ thống tự chảy (292 hệ thống), trong đó chỉ có 135 hệ thống được đánh giá là có chất lượng tốt Toàn tỉnh còn có 1.242 bể chứa nước mưa, chu yếu được xây dựng ven sườn núi Toàn tỉnh còn trên 18 nghìn

hệ thống máng lần cấp nước cho người dân, phổ biến ở các huyện Tràng Định, Bình Gia Văn Lãng

- Thông tin liên lạc:

Mạng lưới bưu chính - viễn thông được đầu tư đồng bộ và ngày càng

mở rộng là cơ sở để triển khai cung cấp các loại hình dịch vụ đa dạng, tiện ích tới người dân, đặc biệt là đồng bào các xã vùng xa, vùng biên giới Đến cuối năm 2005, có 100% số xã, phường, thị trấn có điện thoại, thuê bao điện thoại

cố định đạt 5,8 máy/100 dân, 138/207 xã có điểm bưu điện văn hoá, chiếm 66,7% tổng số xã, 206/207 xã có báo đọc trong ngày, chiếm 99,5%, 11/11 huyện, thành phố đã được phủ sóng điện thoại di động và được cung cấp dịch

vụ Internet tốc độ cao

Trong thời gian qua, nhiều dịch vụ mới được triển khai có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh như: dịch vụ điện thoại IP, dịch vụ điện thoại di động, dịch vụ MegaVNN, dịch vụ chuyển phát nhanh, Chất lượng dịch vụ viễn thông nông thôn được nâng cao thông qua việc cáp quang hoá các tuyến truyền dẫn xuống xã và cụm xã, thay thế dần phương thức truyền dẫn hiện có như phương thức máy kéo dài với chất lượng liên lạc thấp Tốc độ tăng trưởng doanh thu dịch vụ bưu chính - viễn thông của Bưu điện tỉnh giai đoạn

2005 - 2010 bình quân hàng năm đạt trên 30%, trong đó dịch vụ bưu chính - phát hành báo chí tăng 35,7%, dịch vụ viễn thông tăng 29,6%

1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trang 34

Kinh tế Lạng Sơn những năm qua có mức độ tăng trưởng khá cao (năm

2008 khoảng 11,31%), đời sống người dân không ngừng được nâng cao Thu nhập bình quân đầu người khoảng 673.000 đồng/tháng tính theo giá thực tế, trong đó khu vực đô thị khoảng 1.113.000 đồng, khu vực nông thôn khoảng 565.000 đồng Lương thực bình quân đầu người đạt 363 kg/năm, lương thực

có hạt đạt bình quân đầu người cho một nhân khẩu nông nghiệp là 469 kg/năm

Nhìn chung, cùng với tiến trình phát triển của đất nước mức sống dân cư

ở Lạng Sơn đã được cải thiện đáng kể Tất các các xã đều đã có đường ô tô và điện thoại liên lạc đến trung tâm xã Số máy điện thoại cố định và di động đạt mức 13 máy/100 dân Tuy nhiên so với nhu cầu đời sống thì vẫn còn ở mức thấp Hiện mới có 214/226 xã, phường, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh có điện lưới quốc gia

Về giáo dục: Những năm gần đây, tỉnh đã chú trọng đầu tư cho sự nghiệp giáo dục đào tạo Cơ sở vật chất, trường học lớp học ngày càng được củng cố tăng cường Hiện trên địa bàn đã thanh toán được tình trạng lớp học

ca 3 và không còn phòng học tranh tre, nứa lá Tuy nhiên, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, chưa có nhiều trường học lớp học được kiên cố hóa và còn thiếu nhà công cụ cho giáo viên, số lượng giáo viện chỉ đạt 140 người/ 1 vạn dân

Về y tế: Mạng lưới y tế không ngừng củng cố phát triển, hiện có 14 bệnh viện, 84 phòng khám đa khoa, 226 trạm y tế cấp xã, phường và 7 cơ sở y tế khác Đội ngũ cán bộ y tế được nâng lên cả về số lượng và chất lượng, gồm

576 bác sĩ, 156 dược sĩ cao cấp và nhiều các bộ y sĩ, dược sĩ trung cấp, kỹ thuật viên khác Tuy nhiên, so với mặt bằng chung còn kém phát triển, tỷ lệ bác sỹ thấp (0,7 bác sỹ/1vạn dân), số gường bệnh chỉ đạt 26/ 1vạn dân

Trang 35

Nhìn chung, về kinh tế - xã hội, Lạng Sơn là tỉnh miền núi, nếu so với các tỉnh vùng núi phía Bắc đời sống có khá hơn nhưng so với các tỉnh đồng bằng vẫn còn ở mức khó khăn, trình độ dân trí còn thấp Đây là một trong những thách thức đối với phát triển du lịch

Có thể nhận thấy, sự phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam nói chung và Lạng Sơn nói riêng thời gian vừa qua đã dần dần làm thay đổi đời sống xã hội của tỉnh theo hai xu hướng trái ngược nhau:

Thứ nhất là nhịp độ đô thị hóa gia tăng cùng với sự xuất hiện nhiều điểm

đô thị mới, đặc biệt là ven các trục đường giao thông chính Hơn thế nữa, hiện tượng đô thị hóa nảy sinh ngay trong bản thân các vùng nông thôn, biểu hiện trong lối sống và trong hưởng thụ đã kéo theo sự xâm nhập của yếu tố văn hóa mới đan xen giữa tích cực và tiêu cực

Thứ hai, mức sống nhân dân được cải thiện cũng đã làm cho đời sống

văn hóa tinh thần của nhân dân phát triển theo Các nét đặc trưng của văn hóa nông nghiệp và văn hóa làng quê dường như đang được phục hồi

Như vậy, một mặt xã hội Lạng Sơn cũng như cả nước đang phát triển theo xu hướng đô thị hóa, mặt khác dường như sự trở về với cội nguồn, với những giá trị truyền thống với những nét sinh hoạt văn hóa xưa như tập tục, tín ngưỡng, hội hè đang trở nên một xu hướng mạnh mẽ Đấy chính là những nét đặc sắc, hấp dẫn của xứ Lạng và trở thành nguồn tài nguyên quý giá để phát triển du lịch

Nhìn chung, về kinh tế - xã hội, Lạng Sơn là tỉnh miền núi, nếu so với các tỉnh vùng núi phía Bắc đời sống có khá hơn nhưng so với các tỉnh đồng bằng vẫn còn ở mức khó khăn, trình độ dân trí còn thấp Đây là một trong những thách thức đối với phát triển du lịch

1.4 Chiến lược phát triển, quy hoạch, chủ trương chính sách

Trang 36

1.4.1 Chiến lược phát triển

Chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam 2010) xác định Lạng Sơn nằm trong không gian tiểu vùng du lịch miền núi Đông Bắc thuộc vùng du lịch Bắc Bộ với các tuyến, trục du lịch đường bộ, đường sắt nối liền với các trung tâm du lịch lớn trong nước Về phía Đông Nam Lạng Sơn kề liền với Hạ Long – Cát Bà là trung tâm du lịch biển của cả nước và cũn là một trong ba đỉnh của tam giác tăng trưởng du lịch phía Bắc

(1995-Về phía Nam Lạng Sơn nối liền với Hà Nội là trung tâm du lịch của cả nước

và trở thành cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Phía Tây và Bắc là các tỉnh của vùng Trung du miền núi phía Bắc có thế mạnh phát triển du lịch quốc tế trực

tiếp qua đường biên giới quốc gia

Ngoài ra, về phía Đông, Lạng Sơn còn là đầu mối du lịch quan trọng của Việt Nam với Quảng Tây (Trung Quốc) để phát triển thị trường với Trung Quốc trong khuôn khổ hợp tác kinh tế hai hành lang một vành đai; với các tỉnh Đông Bắc Á và Trung Á để phát triển thị trường quốc tế rộng lớn cho du lịch Lạng Sơn nói riêng và Việt Nam nói chung

Định hướng của Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020

và tầm nhìn đến năm 2030 xác định Lạng Sơn nằm trong vùng du lịch Trung

du miền núi phía Bắc và giữ vai trò quan trọng, là cửa ngõ Đông Bắc đối với phát triển du lịch chung toàn vùng

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du miền núi phía Bắc đến năm 2020 đã xác định thành phố Lạng Sơn là một trong những trọng tâm phát triển du lịch các tỉnh miền núi phía Bắc, khu du lịch Mẫu Sơn có ý nghĩa quốc gia và vùng Bắc Bộ

Với vị trí tiền đồn của Tổ quốc Việt Nam, với tiềm năng du lịch phong phú mà đặc biệt là các giá trị văn hoá đậm đà bản sắc các dân tộc Đông Bắc,

Trang 37

du lịch Lạng Sơn có thể khai thác phát triển các sản phẩm đặc thù, trở thành điểm đến hấp dẫn của khách trong và ngoài nước, là mắt xích quan trọng trong tuyến du lịch văn hoá - lịch sử “ Đường lên Xứ Lạng” của vùng du lịch Bắc Bộ và cả nước

1.4.2 Quy hoạch phát triển du lịch

Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn là bước cụ thể hoá các định hướng của Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Lạng Sơn nhiệm kỳ đến năm

2010, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020; nhằm:

+ Xây dựng được hệ thống quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch tỉnh

Lạng Sơn theo hướng bền vững một cách toàn diện về kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường;

+ Đề xuất được các chỉ tiêu cụ thể, các định hướng và giải pháp phát

triển du lịch tỉnh Lạng Sơn với tầm nhìn đến năm 2030 làm cơ sở lập các quy hoạch chi tiết, các dự án đầu tư, quản lý phát triển du lịch Lạng Sơn trở thành địa bàn trọng điểm phát triển du lịch các tỉnh vùng núi Đông Bắc, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, bảo tồn và phát huy các giá trị cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn tỉnh

1.4.3 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước với phát triển

Trang 38

Một trong những chính sách quan trọng có ảnh hưởng đến đối với phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng các tỉnh biên giới trong đó có Lạng Sơn là chính sách phát triển các khu kinh tế cửa khẩu

Năm 2001, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định về chính sách đối với Khu kinh tế cửa khẩu biên giới và Bộ Tài chính ra Thông tư hướng dẫn thi hành chính sách tài chính áp dụng cho các khu kinh tế cửa khẩu biên giới

Tháng 10 năm 2005, Chính phủ chính thức cho phép thành lập khu bảo thuế trong khu kinh tế cửa khẩu, cam kết sẽ hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách địa phương trong công tác phát triển cơ sở hạ tầng của khu kinh tế cửa khẩu Đầu năm 2008, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt "Quy hoạch phát triển các Khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam đến năm 2020" Theo đó, đến năm 2020, Việt Nam sẽ có 30 khu kinh tế cửa khẩu Trong đó

có khu Kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn

Ngày 3/4/2009, Ban thường vụ Tỉnh uỷ Lạng Sơn đã ban hành Nghị quyết số 22 - NQ/TU về lãnh đạo triển khai, thực hiện các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn Nghị quyết nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp thực hiện

kế hoạch phát triển khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn đến 2010 tầm nhìn 2020 trở thành vùng động lực, khu vực kinh tế năng động, trung tâm thương mại, dịch vụ và du lịch, điểm trung chuyển hàng hoá, giữ vai trò trọng yếu của hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh

Các chính sách văn hóa, tôn giáo, dân tộc, đối ngoại, phát triển kinh tế,

xã hội trên của Đảng và Nhà nước không những góp phần nâng cao đời sống

Trang 39

cho nhân dân khu vực biên giới mà còn tạo môi trường thuận lợi để phát triển

du lịch

Tiểu kết chương 1

Lạng Sơn là cửa ngõ phía bắc của Việt Nam, với những tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội của địa phương, Lạng Sơn không những có vị trí địa lý, đầu mối giao lưu thuận lợi của vùng biên giới phía bắc

mà còn là miền đất giàu đẹp có tài nguyên, sản vật phong phú

Lạng Sơn còn nổi danh với truyền thống chống giặc ngoại xâm, bảo vệ biên cương vùng đông bắc Tổ quốc Nhiều dấu ấn lịch sử đã được ghi lại như những mốc son của lịch sử như: Ải Chi Lăng, Thành nhà Mạc, ải Mục Nam Quan Ngoài các di tích lịch sử - văn hoá, tỉnh Lạng Sơn còn có rất nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch văn hóa như: các lễ hội dân gian truyền thống diễn ra trong suốt tháng giêng và ở đó thể hiện nhiều yếu tố bản sắc văn hoá của các dân tộc sinh sống tại Lạng Sơn; nét độc đáo trong các phong tục tập quán, nét văn hoá ẩm thực đặc sắc…

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của các ngành, các cấp; các địa điểm tham quan du lịch, các trung tâm mua sắm, và hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho ngành du lịch đã được đầu tư, nâng cấp và cải tạo, để góp phần làm nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch cũng như tạo thêm nhiều công

ăn việc làm cho người dân nơi đây

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy Anh, Tăng cường gắn kết giữa văn hoá với du lịch. Tạp chí Du lịch Việt Nam, 8/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường gắn kết giữa văn hoá với du lịch
2. Trần Thúy Anh, Khai thác di sản văn hoá phục vụ phát triển du lịch ở Việt Nam. Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 12/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác di sản văn hoá phục vụ phát triển du lịch ở Việt Nam
3. Nguyễn Duy Bắc ( 1997), Truyện Cổ Xứ Lạng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Cổ Xứ Lạng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
4. Nguyễn Cường (2002) Văn hóa Mai Pha, Sở Văn hóa thông tin Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Mai Pha
5. Nguyễn Cường, Hoàng Văn Nghiệm ( 2000), Xứ Lạng Văn Hóa và du lịch, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Lạng Văn Hóa và du lịch
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
6. Hội văn học nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn ( 1995), Lạng Sơn thiên nhiên con người, tiềm năng đầu tư và phát triển, Nxb Lạng Sơn, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạng Sơn thiên nhiên con người, tiềm năng đầu tư và phát triển
Nhà XB: Nxb Lạng Sơn
7. Hội văn học nghệ thuật tỉnh (1998), Lạng Sơn ngày nay, Nxb Lạng Sơn, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạng Sơn ngày nay
Tác giả: Hội văn học nghệ thuật tỉnh
Nhà XB: Nxb Lạng Sơn
Năm: 1998
9. Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình, Kinh tế du lịch & Du lịch học,NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch & Du lịch học
Nhà XB: NXB Trẻ
10. Đỗ Thị Hảo, Hoàng Tường, Vũ Ngọc Khánh (1989), Giai thoại Xứ Lạng, Nxb Lạng Sơn, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai thoại Xứ Lạng
Tác giả: Đỗ Thị Hảo, Hoàng Tường, Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Lạng Sơn
Năm: 1989
11. Hoàng Nam, Hồng Nhân, Hà Văn Thƣ (1994), Ai lên Xứ Lạng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ai lên Xứ Lạng
Tác giả: Hoàng Nam, Hồng Nhân, Hà Văn Thƣ
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1994
15. Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Lạng Sơn, Báo cáo công tác quản lý di sản gắn với phát triển du lịch, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác quản lý di sản gắn với phát triển du lịch
16. Sở văn hóa, thể thao và du lịch Lạng Sơn (2009), Lạng Sơn tiềm năng và cơ hội đầu tư, Nxb Lạng Sơn, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạng Sơn tiềm năng và cơ hội đầu tư
Tác giả: Sở văn hóa, thể thao và du lịch Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb Lạng Sơn
Năm: 2009
17. Sở văn hóa thể thao và du lịch Lạng Sơn (2008), Cẩm nang du lịch Lạng Sơn, Công ty in Tân Hƣng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang du lịch Lạng Sơn
Tác giả: Sở văn hóa thể thao và du lịch Lạng Sơn
Năm: 2008
18. Sở văn hóa thông tin tỉnh Lạng Sơn ( 2005), Lạng Sơn nơi địa đầu tổ quốc, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạng Sơn nơi địa đầu tổ quốc
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
19. Sở văn hoá thông tin tỉnh Lạng Sơn (2002), Lễ hội dân gian Xứ Lạng, Nxb Lạng Sơn, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội dân gian Xứ Lạng
Tác giả: Sở văn hoá thông tin tỉnh Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb Lạng Sơn
Năm: 2002
20. Tổng cục du lịch (2000), Non nước Việt Nam, Trung tâm công nghệ thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam
Tác giả: Tổng cục du lịch
Năm: 2000
21. Ủy ban nhân thị xã Lạng Sơn (1990), Thị xã Lạng Sơn xưa và nay, Nxb Lạng Sơn, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị xã Lạng Sơn xưa và nay
Tác giả: Ủy ban nhân thị xã Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb Lạng Sơn
Năm: 1990
22. Ủy ban nhân dân thị xã Lạng Sơn (1993), Văn bia Xứ Lạng, Xí nghiệp In 951, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bia Xứ Lạng
Tác giả: Ủy ban nhân dân thị xã Lạng Sơn
Năm: 1993
23. Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (1999), Địa chí Lạng Sơn, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Lạng Sơn
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
24. Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2003), Lạng Sơn thế và lực, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạng Sơn thế và lực
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Danh mục di tích trên địa bàn  tỉnh Lạng Sơn - Phát triển du lịch văn hóa ở Lạng Sơn
Bảng 1 Danh mục di tích trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (Trang 20)
Bảng 2: Một số lễ hội quan trọng ở Lạng Sơn (Thời gian theo âm lịch) - Phát triển du lịch văn hóa ở Lạng Sơn
Bảng 2 Một số lễ hội quan trọng ở Lạng Sơn (Thời gian theo âm lịch) (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w