1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định

146 1,6K 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 4,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Việt Nam, văn hóa dân tộc gắn liền với nền văn minh lúa nước đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử, vì thế tâm linh của người Việt trong tôn giáo, tín ngưỡng mang những nét đặc trưng

Trang 1

Đại học Quốc gia Hà Nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

………

NGUYỄN THỊ THU DUYấN

NGHIấN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HểA

TÂM LINH TỈNH NAM ĐỊNH

Luận văn thạc sỹ du lịch

Hà Nội, 2014

Trang 2

Đại học Quốc gia Hà Nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

NGUYỄN THỊ THU DUYấN

NGHIấN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HểA

TÂM LINH TỈNH NAM ĐỊNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi và không sao chép dưới bất kỳ hình thức nào Số liệu trong luận văn này được điều tra trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Trang 4

Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn

Hà Nội, tháng năm 2014

Học viên

Nguyễn Thị Thu Duyên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Bố cục luận văn 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH 11

1.1 Những vấn đề lý luận về văn hóa tâm linh 11

1.1.1 Khái niệm văn ho ́ a 11

1.1.2 Tâm linh 12

1.1.3 Văn ho ́ a tâm linh 16

1.1.4 Một số biểu hiện của văn hóa tâm linh 17

1.2 Những vấn đề lý luận về du li ̣ch văn hóa tâm linh 20

1.2.1 Quan niê ̣m về du li ̣ch văn hóa 20

1.2.2 Quan niê ̣m về du li ̣ch văn hóa tâm linh 21

1.2.3 Điểm đến cu ̉a du li ̣ch văn hóa tâm linh 26

1.2.4 Cơ sở vật chất, kỹ thuật của du lịch văn hóa tâm linh 27

1.2.5 Sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh 27

1.2.6 Khách du lịch với mục đích văn hóa tâm linh 28

1.2.7 Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch văn hóa tâm linh 28

1.3 Du lịch văn hóa tâm linh ở Việt Nam và kinh nghiệm rút ra cho Nam Định 31

1.3.1 Đặc điểm và xu hướng phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam 31

1.3.2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam 33 1.3.3 Một số kinh nghiệm rút ra cho du lịch văn hóa tâm linh Nam Định 36

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TÂM

LINH TỈNH NAM ĐỊNH 39

2.1 Giới thiệu chung về Nam Định 39

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 39

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 41

2.1.3 Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo của người Nam Định 45

2.2 Giới thiệu chung về di sản văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định 53

2.2.1 Các di sản văn hóa tâm linh vật thể 53

2.2.2 Các di sản văn hóa tâm linh phi vật thể 58

2.2.3 Đánh giá chung về nguồn lực phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định 62

2.3 Hiện trạng về du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định 63

2.3.1 Cơ sở vật chất, kỹ thuật 63

2.3.2 Đội ngũ nhân lực 68

2.3.3 Thị trường và khách du lịch 69

2.3.4 Doanh thu du lịch 78

2.3.5 Sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh 81

2.3.6 Công tác tổ chức, quản lý 87

2.3.7 Hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch 90

2.4 Đánh giá chung về hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định 93

2.4.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 93

2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 95

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LI ̣CH VĂN HÓA TÂM LINH TỈNH NAM ĐI ̣NH 99

3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 99

3.1.1 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định 99

Trang 7

3.1.2 Quan điểm phát triển du lịch tỉnh Nam Định 103

3.1.3 Các định hướng phát triển 105

3.2 Những giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định 108

3.2.1 Giải pháp về tổ chức, quản lý 108

3.2.2 Giải pháp phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật 111

3.2.3 Giải pháp phát triển nhân lực 112

3.2.4 Giải pháp thị trường du lịch 113

3.2.5 Giải pháp sản phẩm du lịch 115

3.2.6 Giải pháp quảng bá, xúc tiến và liên kết phát triển du lịch 118

3.2.7 Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch 120

3.3 Đề xuất một số kiến nghị 122

3.3.1 Kiến nghị với tỉnh Nam Định và Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Nam Định 122

3.3.2 Kiến nghị với chính quyền địa phương 123

3.3.3 Kiến nghị với các công ty du lịch 124

KẾT LUẬN 125

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 127 PHỤ LỤC

Trang 8

ICOMOS Hội đồng Quốc tế về di tích và di chỉ

(International Council On Monuments and Sites) UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

(United Nations Educational Scientific and Cultural Organization) UBND Ủy ban nhân dân

UNWTO Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization)

USD Đô la Mỹ

VNĐ Việt Nam đồng

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 1.1: Số lượng khách tại một số điểm du lịch tâm linh tiêu biểu 32

Bảng 1.2: Thời gian lưu trú của KDL tại các điểm 32

du lịch tâm linh tiêu biểu năm 2012 32

Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế tỉnh Nam Định thời kỳ 2000 – 2012 41

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu dân số, nguồn nhân lực tỉnh Nam Định 42

thời kỳ 2000 - 2012 42

Bảng 2.3: Bảng thống kê các di tích thờ Mẫu tại Nam Định 48

Bảng 2.4 Tính thời vụ trong du lịch tâm linh Nam Định qua các điểm du lịch 62

Bảng 2.5 Thống kê các cơ sở kinh doanh du lịch Nam Định 63

Bảng 2.6: Số liệu hiện trạng về cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Nam Định 64

Bảng 2.7: Hiện trạng chất lượng lao động du lịch Nam Định 68

Bảng 2.8: Hiện trạng khách du lịch đến Nam Định 2000 – 2012 70

Bảng 2.9: Tỷ lệ khách du lịch Nam Định so với vùng đồng bằng sông Hồng 71

Bảng 2.10: So sánh khách du lịch đến Nam Định với các tỉnh lân cận và vùng đồng bằng sông Hồng (khách có lưu trú) 72

Biểu đồ 2.1 Hiện trạng khách du lịch đến Nam Định giai đoạn 2000 – 201273 Bảng 2.11: Cơ cấu khách du lịch đến các điểm du lịch ở Nam Định 74

Bảng 2.13: Thu nhập của ngành du lịch Nam Định giai đoạn 2002 – 2012 78

Bảng 2.14: So sánh thu nhập từ hoạt động du lịch của Nam Định 79

với các tỉnh lân cận trong vùng đồng bằng sông Hồng 79

Hình 2.1: Tác phẩm đạt giải nhất cuộc thi thiết kế mẫu biểu tượng logo du lịch Nam Định lần thứ II – 2010, tác giả Lương Văn Phương 92

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, thị trường châu Á đã và đang trở thành một thị trường du lịch hấp dẫn thu hút các quốc gia của các châu lục khác Phát triển du lịch tạo điều kiện cho du khách hiểu biết nhiều hơn về các địa điểm du lịch, các nền văn minh, các đặc trưng văn hóa, các công trình tuyệt tác không chỉ của thiên nhiên mà

có sự góp sức của bàn tay con người và những nghệ nhân qua các thời đại Với nhu cầu ham hiểu biết, con người ngày càng tập trung vào các vấn đề không thuộc phạm

vi vật chất, mà là những hoạt động mang tính chất tôn giáo, tinh thần đặc biệt là hoạt động mang tính triết lý, trải nghiệm

Cùng với sự thay đổi nhận thức thế giới quan và sự phát triển của những tôn giáo, các loại hình thức du lịch văn hóa tâm linh và du lịch hành hương ngày càng phát triển Với tiềm năng tài nguyên nhân văn và truyền thống tôn giáo, tín ngưỡng, tại các quốc gia như Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc…loại hình du lịch văn hóa tâm linh đã trở thành một hình thức du lịch đem lại hiệu quả cho đất nước Hàng năm, các cơ quan tôn giáo của các quốc gia này kết hợp với các công ty lữ hành tổ chức các chuyến du lịch văn hóa tâm linh cho du khách đến các thánh tích của nhau Ở châu Âu, đặc biệt là nước Ý cũng tổ chức nhiều đoàn khách tham gia các lễ hội tôn giáo, các khóa tìm hiểu và nghiên cứu tôn giáo, các khóa tu thiền tại các quốc gia cùng châu lục và sang các quốc gia châu Á Đối với Việt Nam, văn hóa dân tộc gắn liền với nền văn minh lúa nước đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử, vì thế tâm linh của người Việt trong tôn giáo, tín ngưỡng mang những nét đặc trưng ghi dấu ấn riêng của dân tộc với rất nhiều hệ thống các di tích tôn giáo, tín ngưỡng gắn với các lễ hội tôn giáo, văn hóa đa dạng và phong phú kéo dài suốt cả năm trên khắp 3 miền Tuy cũng có rất nhiều điều kiện để phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh nhưng chưa được các cấp, ngành và đơn vị tổ chức du lịch quan tâm, khai thác

Nam Đi ̣nh là mô ̣t tỉnh phía Nam đồng bằng sông Hồng, là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, nơi sinh ra nhiều danh nhân của đất nước, nơi phát tích vương triều Trần – một triều đại hưng thịnh vào bậc nhất trong lịch sử phong kiến Trên địa bàn tỉnh

Trang 11

hiện có gần 2000 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có gần 300 di tích đã được Nhà nước xếp hạng Tài nguyên du lịch Nam Định rất đa dạng, phong phú, nhiều các quần thể di tích có giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc gắn liền với các lễ hội truyền thống, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc có sức hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế như: Khu di tích lịch sử văn hóa đền Trần, Phủ Dầy, chùa Cổ

Lễ, chùa Keo Hành Thiện…; các làng nghề truyền thống nổi tiếng được nhiều người biết đến như làng nghề chạm khảm gỗ La Xuyên, sơn mài Cát Đằng, đúc đồng Tống Xá, mây tre đan Vĩnh Hào, dệt lụa ươm tơ Cổ Chất, cây cảnh Vị Khê…; hay các loại hình văn hóa phi vật thể mang nét đặc trưng riêng gắn liền với cuộc sống lao động của cộng đồng cư dân nơi đây: các điệu chèo cổ, hầu đồng, hát văn, nghệ thuật đi cà kheo, múa rối nước, kéo chữ… Những yếu tố đó là tiền đề để Nam Định phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn và tạo điều kiện nâng cao sức cạnh tranh cho du lịch của tỉnh

Tuy nhiên, hiện nay du lịch tâm linh Nam Định vẫn chưa có những bước phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có Hoạt động du lịch tại các khu, tuyến, điểm đang diễn ra tự phát, thiếu định hướng, chỉ tập trung vào các lợi ích kinh tế trước mắt nên phần nào đã làm suy giảm các giá trị của tài nguyên Sản phẩm du lịch đơn điệu, rời rạc, dịch vụ du lịch nghèo nàn, thiếu thốn, đặc biệt là các dịch vụ

bổ sung Các hoạt động du lịch văn hóa tâm linh còn mang tính bô ̣t phát, thiếu quy

củ, chưa thể tạo ra sự thu hút đối với du khách quốc tế, và cũng là nguyên nhân khiến du khách đến đây thường lưu trú ngắn và chi tiêu rất ít

Trong bố i cảnh trên , viê ̣c lựa cho ̣n mô ̣t phương thức tiếp câ ̣n mới sao cho vừa khai thác đươ ̣c những tiềm năng du li ̣ch văn hóa tâm linh đa da ̣ng và phong phú vừa ha ̣n chế những tác đô ̣ng xấu tới viê ̣c bảo tồn các di sản văn hóa là rất cần thiết

Đề tài: “Nghiên cứu phát triển du li ̣ch văn hóa tâm linh t ỉnh Nam Đi ̣nh” sẽ

góp phần khơi dậy tiềm năng văn hóa tâm linh , đồng thời hướng tới mu ̣c tiêu bảo tồn các giá tri ̣ di sản văn hóa vâ ̣t thể và phi vâ ̣t thể của tỉnh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về vấn đề văn hóa và văn hóa tâm linh, đã có rất nhiều công trình nghiên

cứu như: Trần Ngọc Thêm với Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (2006), Lê Văn

Trang 12

Quán với Nguồn văn hóa truyền thống Việt Nam (2007), Hoàng Quốc Hải với Văn

hóa phong tục (2007), Nguyễn Đăng Duy với Văn hóa tâm linh (2001), Văn hóa tâm linh Nam Bộ (1997), Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam (2001),

Văn Quảng với Văn hóa tâm linh Thăng Long – Hà Nội (2009), Nguyễn Duy Hinh với Tâm linh Việt Nam (2001), Hồ Văn Khánh với Tâm hồn – khởi nguồn cuộc sống

văn hóa tâm linh (2011)… Các công trình nghiên cứu trên tuy chưa trực tiếp đề cập

đến vấn đề du lịch văn hóa tâm linh, song đây là nguồn tài liệu rất bổ ích để người viết kế thừa phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này

Đề cập trực tiếp tới hoạt động du lịch văn hóa tâm linh, đề tài luận văn cao

học của Đoàn Thị Thùy Trang trường Đại học KHXH và NV “Tìm hiểu hoạt động

du lịch văn hóa tâm linh của người Hà Nội (khảo sát trên địa bàn quận Đống Đa)”

đã hệ thống các cơ sở lý luận về du lịch văn hóa tâm linh và đánh giá nhu cầu du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn Hà Nội, đồng thời khảo sát tài nguyên và các hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tiêu biểu trên địa bàn quận Đống Đa

Các nghiên cứu về văn hóa, lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo tại Nam Định cũng

rất nhiều, tiêu biểu là 2 tác giả: Nguyễn Xuân Năm với Nam Định đậm đà bản sắc

văn hóa dân tộc (2007), Hồ Đức Thọ với Huyền tích thánh mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hóa – lễ hội Phủ Dầy (2003), Trần triều Hưng Đạo Đại Vương trong tâm thức dân tộc Việt (2000)… Bên cạnh đó, có một số bài báo đăng tải trên các tạp chí

trong nước viết về du lịch Nam Định, một số đề tài luận văn cao học của trường Đại học KHXH và NV cũng đã đi sâu nghiên cứu về du lịch Nam Định ở nhiều góc độ

khác nhau: Học viên Trần Thị Lan với đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch dựa

vào cộng đồng dải ven biển Nam Định”, học viên Nguyễn Thị Thu Thủy “Nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch văn hóa tỉnh Nam Định” Các bài viết, nghiên cứu

này chủ yếu tập trung vào phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa, lễ hội nói riêng tại Nam Định và những tác động tích cực và tiêu cực của nó đối với đời sống

Trang 13

tiếp câ ̣n cu ̣ thể mô ̣t lĩnh vực chưa được đề câ ̣p mô ̣t cách hoàn chỉnh , là một hướng

đi mới nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong được các tác giả khác quan tâm, hoàn thiện trong các công trình nghiên cứu lần sau

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là góp phần phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định cũng như góp phần bảo tồn di sản văn hóa trong kinh doanh du lịch của tỉnh

Để đạt được mục đích trên người viết sẽ tiến hành giải quyết các nhiệm vụ chính là:

- Nghiên cứu cơ sở lý luâ ̣n về du li ̣ch văn hóa tâm linh

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định Du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh đã phát triển tương xứng với tiềm năng chưa? Nguyên nhân của hiện trạng trên?

- Nêu ra một số giải pháp nhằm góp phần phát triển du li ̣ ch văn hóa tâm lin h và bảo tồn các di sản văn hóa tỉnh Nam Định

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn:

- Nguồn lực phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định

- Hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định, cụ thể các vấn đề: cơ sở vật chất, nhân lực du lịch, sản phẩm du lịch, thị trường khách du lịch, công tác tổ chức, quản lý, hoạt động xúc tiến, quảng bá…

- Sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh đặc trưng của tỉnh

- Những yếu tố tác động, cơ hội và thách thức phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định

Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

- Phạm vi nội dung: Nghiên cứ u hoạt động du li ̣ch văn hóa tâm linh ta ̣i Nam Đi ̣nh

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn thành phố Nam Định và một số huyện: Mỹ Lộc, Vụ Bản, Trực Ninh, Xuân Trường, Hải Hậu, Giao Thủy

- Phạm vi thời gian: Số liệu, tài liệu được thu thập từ năm 2000 đến nay

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Tổng hợp, phân tích các tài liệu thu thập được về loại hình du lịch đang nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân loại, so sánh: Trong khuôn khổ đề tài này, những thống kê về số liệu có liên quan đến các hoạt động du lịch ở tỉnh Nam Định

sẽ được thu thập, thống kê trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2012 theo quy chuẩn chung của ngành Du lịch làm cơ sở cho việc xử lý, phân tích, đánh giá nhằm thực hiện những mục tiêu đã đề ra

- Phương pháp khảo sát thực địa: Nhằm nắm bắt được hiện trạng hoạt động tại các điểm du lịch văn hóa tâm linh, qua đó đánh giá tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh Nam Định

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đi sâu vào nghiên cứu tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh và từ đó đưa ra các giải pháp mang tính thực tế nhằm khai thác tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh một cách hiệu quả

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luâ ̣n, kiến nghi ̣, danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo và trích dẫn, danh mu ̣c từ viết tắt , danh mu ̣c bảng, biểu, hình, phụ lục, phần nghiên cứu của luâ ̣n văn chia làm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luâ ̣n về du li ̣ch văn hóa tâm linh

Chương 2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định

Chương 3 Một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH

1.1 Những vấn đề lý luận về văn hóa tâm linh

Văn hóa tâm linh là một khái niệm hợp bởi 2 yếu tố văn hóa và tâm linh Chính vì vậy, trước khi nghiên cứu về văn hóa tâm linh thì cần phải hiểu được 2 khái niệm văn hóa và tâm linh

1.1.1 Khái niệm văn ho ́a

Ở phương Đông, danh từ văn hóa đầu tiên xuất hiện trong thư tịch Trung Quốc Sách Thuyết Uyển, thiên Chi Vũ, Lưu Hướng (khoảng năm 77 đến năm 6

trước Công Nguyên) đời Tây Hán đã đề xuất đến văn hóa: Phàm vũ chi hưng, vị bất

phục dã, văn hóa bất cải, nhiên hậu gia tru (Phàm dùng vũ lực là để đối phó với kẻ

không phục tùng; dùng văn hóa mà không thay đổi được thì sau mới giết (trừng phạt) Văn hóa ở đây là để chỉ văn trị và giáo hóa của nhà nước Từ đời Hán, Đổng Trọng Thư “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” trải qua các vương triều phong kiến đều đề xướng văn trị giáo hóa, để hưng nước yên dân Đó có lẽ là nguyên nhân quan trọng để xã hội phong kiến Trung Quốc tồn tại lâu dài, văn hóa Trung Quốc phồn vinh, hưng thịnh đã đồng hóa rất nhiều dân tộc khác và đặc biệt là có ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa của một số nước phương Đông [26, tr 9]

Ở nước ta, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm “văn hiến” Từ đời Lý (1010) người Việt đã tự hào mình là một “văn hiến chi bang” Đến đời Lê (thế kỷ XV),

trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã viết “Duy ngã Đại Việt chi quốc,

thực vi văn hiến chi bang” (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến) Từ

văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ý chỉ một nền văn hóa cao trong đó nếp sống tinh

thần, đạo đức được chú trọng

Ngày nay, danh từ văn hóa có nhiều cách giải thích khác nhau Mỗi học giả ở mỗi quốc gia ở mỗi thời kỳ khác nhau đều có những lý giải không hoàn toàn giống nhau Nhưng mọi người đều thừa nhận văn hóa là một hiện tượng xã hội và có phạm trù lịch sử

Trang 16

Trong ghi chép của mình, Hồ Chí Minh đã dẫn một định nghĩa về văn hóa

như sau: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo

và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, phát luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hóa là

sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [21, tr 431]

Theo E.B.Tylor (1871) thì văn hóa được hiểu như là: “một sự văn minh mà

trong đó chứa đựng cả tri thức, luật lệ, nghệ thuật, nhân bản, niềm tin và tất cả những khả năng và thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên trong xã hội” [38, tr 3]

Mới đây nhân dịp phát động thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988-1997),

tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO đã đưa ra định

nghĩa mới về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt

tình cảm, trí thức, vật chất, tinh thần của xã hội Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền con người cơ

Nhƣ vậy, văn hóa được hiểu là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần

do con người sáng tạo ra và được lưu truyền từ đời này sang đời khác Bản chất của văn hóa chính là sự khác biệt

Các đặc trưng cơ bản của văn hóa là: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử

và tính nhân sinh

1.1.2 Tâm linh

1.1.2.1 Khái niệm

Trong Từ điển Tiếng Việt, tâm linh được giải thích theo 2 nghĩa: “1 – Khả

năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm

2 – Tâm hồn, tinh thần, thế giới tâm linh”

Nhà tâm lý học người Đức, Sigmund Freud cho rằng con người là một thực thể đa chiều Trong đó có 3 mặt bản chất cơ bản: Bản chất sinh học, bản chất xã hội

Trang 17

và bản chất tâm linh Ba bản chất này được tạo thành chiều sâu, chiều rộng và chiều cao của con người

Trong sách Văn hóa gia đình Việt Nam và sự phát triển viết: “Trong đời

sống con người, ngoài mặt hiện hữu còn có mặt tâm linh Về mặt cá nhân đã như vậy, về mặt cộng đồng (gia đình, làng xã, dân tộc) cũng như vậy Nếu mặt hiện hữu của đời sống con người có thể nhận thức qua những tiêu chuẩn cụ thể sờ mó được, thì về mặt tâm linh bao giờ cũng gắn với cái gì đó rất trìu tượng, rất mông lung nhưng lại không thể thiếu được ở con người Con người sở dĩ trở thành con người, một phần căn bản là do nó có đời sống tâm linh Nghĩa là tuân theo những giá trị bắt nguồn từ cái thiêng liêng, cái bí ẩn, những giá trị tạo thành đời sống tâm linh của nó.” [22, tr 36]

Trong sách “Tâm linh Việt Nam”, tác giả Nguyễn Duy Hinh quan niệm:

“Tâm linh là thể nghiệm của con người (tâm) về cái Thiêng (linh) trong tự nhiên và

xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức tiền lôgíc không phân biệt thiện ác.”

[9, tr 52]

Một quan niệm khác của tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn “Văn hóa tâm

linh” về tâm linh như sau: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời

thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” Cái thiêng

liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm [4, tr 14]

Nhƣ vậy, từ các quan niệm trên đây, ta có thể tạm hiểu về tâm linh như sau:

- Tâm linh là một hình thái ý thức của con người

- Tâm linh là những gì trìu tượng, cao cả, vượt quá cảm nhận của tư duy thông thường và gắn liền với niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng hay tôn giáo của mỗi người Những nhận thức của con người về thế giới xung quanh (vũ trụ, xã hội, v v ) có thể phân thành hai loại: Một loại có thể kiểm nghiệm, chứng minh bằng thực nghiệm, bằng lý trí, bằng lô gích, đó là loại gọi là thuộc lĩnh vực khoa học Loại thứ hai chỉ có thể nhận thức được bằng trực giác của từng người chứ không thể chứng minh bằng thực nghiệm hoặc bằng lý trí, đó là lĩnh vực tâm linh

Trang 18

- Tâm linh là ngưỡng vọng của con người về những biểu tượng, hình ảnh thiêng liêng

1.1.2.2 Bản chất của tâm linh

- Thứ nhất, tâm linh là một hình thái ý thức của con người, tâm linh gắn liền

với ý thức con người và chỉ có ở con người Trong cuộc sống của các loài vật không

có sự tồn tại của tâm linh

- Thứ hai, nói đến tâm linh là nói đến những gì trìu tượng, cao cả, vượt quá

cảm nhận của tư duy thông thường Trong cuộc sống có những sự vượt quá khả năng cảm nhận của tư duy thông thường, những điều khác thường mà không gì giải thích nổi với nhận thức của trí não Song, chúng ta cũng không nên “thần bí hóa” khái niệm tâm linh, gán cho nó những đặc tính cao siêu phi thường Tâm linh huyền

bí một phần được thêu dệt nên từ những sự vật hiện tượng đó

- Thứ ba, tâm linh gắn liền với niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống Niềm

tin là sự tín nhiệm, khâm phục ở con người với một con người, một sự việc, một học thuyết, một tôn giáo,…được thể hiện ra bằng hành động theo một lẽ sống Niềm tin là hạt nhân quyết định trong việc xác lập các mối quan hệ xã hội

- Thứ tư, tâm linh có sức truyền cảm, truyền lệnh, tập hợp ghê gớm Do con

người có là sinh vật có linh hồn, có ý thức, có trái tim biết rung động trước những giá trị thẩm mỹ, trước cái anh hùng, cái cao cả Sự nhận biết ý thức đó tạo nên niềm tin thiêng liêng của con người, và chính niềm tin thiêng liêng đó nuôi sống “tâm linh” con người Đó chính là sức mạnh truyền lệnh kỳ diệu của niềm tin tâm thức hay tâm linh

Trước đây, nói đến tâm linh người ta hay nghĩ đến tín ngưỡng và tôn giáo và đồng nhất nó với tín ngưỡng và tôn giáo Trong chuyên luận viết về các tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, giáo sư Đặng Nghiêm Vạn nhiều lần nhắc tới chữ tâm linh tôn

giáo Và khi viết về thời kỳ phong kiến đế quốc “Tầng lớp quý tộc tiếp nhận tôn

giáo như là một công cụ để trị nước, trị dân Nhân dân lao động lại xem tôn giáo

Trang 19

Thực ra khái niệm tâm linh vừa hẹp hơn nhưng lại vừa rộng hơn khái niệm tín ngưỡng tôn giáo Hẹp hơn vì tín ngưỡng tôn giáo ngoài phần tâm linh còn có phần mê tín dị đoan và sự cuồng tín tôn giáo Bởi tôn giáo vừa là một lĩnh vực của đời sống tinh thần vừa là một thiết chế xã hội, mà đã là thiết chế xã hội thì không tránh khỏi sự thế tục hóa, sự tha hóa do việc lợi dụng của giai cấp thống trị Rộng hơn vì tâm linh gắn liền với những khái niệm thiêng liêng, cái cao cả, cái siêu việt…không chỉ có ở đời sống tôn giáo, mà có cả ở đời sống tinh thần, đời sống xã hội Không chỉ có ở Thượng đế, Chúa Trời, Thần, Phật mới linh thiêng mà cả Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật, công lý cũng linh thiêng không kém Có như vậy, con người mới đạt đến chiều cao của con người

1.1.2.4 Phân biệt tâm linh với mê tín dị đoan

Mê tín dị đoan được hiểu là là “tin một cách mê muội, kỳ dị, lạ thường”, tin

không lý trí và đến mức không cần cả mạng sống của mình Khi con người ta tin rằng một hiện tượng xảy ra là hậu quả của một hiện tượng khác, trong khi thật ra không có mối liên hệ nguyên nhân hệ quả nào giữa các hiện tượng này Trong thực

tế cuộc sống, có rất nhiều khi người ta cố gắng làm hoặc tránh làm một hành động

gì đó với niềm tin để một sự việc gì đó khác sẽ xảy ra hoặc không xảy ra Lâu dần, người đó trở nên bị lệ thuộc bởi chính những lối suy nghĩ, những niềm tin mà bản thân họ gây dựng Theo Voltare (1694 - 1778), một nhà văn, nhà triết học người

Pháp: “Một người mê tín cũng như một kẻ nô lệ bị trói buộc bởi những nỗi lo sợ vô

Trang 20

để có thể cảm thấy “an toàn” hơn, hay “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” Với

nhiều hình thái khác nhau, mê tín dị đoan đang hàng ngày ràng buộc chi phối ý nghĩ

và hành động của con người, đó là nguyên nhân dẫn đến sự lãng phí, phiền toái, tốn kém, đi ngược lại với tiến trình của xã hội

Còn tâm linh là niềm tin thiêng liêng có ở trong nhiều mặt của đời sống tinh thần Ví dụ như những người tin vào Phật vào Chúa, đi tu, theo đạo suốt cuộc đời tâm niệm vào Phật, vào Chúa có thể giải thoát về cái chết cho mình Hoặc những người không theo tôn giáo nào, nhưng vẫn tin vào Thần Phật thiêng liêng, tự đến đình chùa thắp hương khấn lễ, cầu mong sự phù hộ bình yên, mạnh khỏe, gặp nhiều may mắn Còn xuất phát từ một số người muốn kiếm lợi bằng dựa vào Thần Phật, thương mại hóa niềm tin, đặt ra phán bảo nhiều điều kỳ dị khác thường, cúng lễ cho người khác, khiến cho người khác tin theo mê muội, hành động theo sự tin ấy, gây tốn kém sức khỏe, tiền bạc vô ích, thậm chí nguy hại đến tính mệnh…đó chính là

mê tín dị đoan

Nhƣ vậy, cả mê tín dị đoan và tâm linh tồn tại được đều dựa trên cơ sở niềm

tin của con người nhưng với tâm linh thì đó là niềm tin thiêng liêng có ở trong nhiều mặt của đời sống tinh thần Còn với mê tín dị đoan thì đó là niềm tin mù quáng

Ranh giới giữa tâm linh và mê tín dị đoan là rất mong manh

1.1.3 Văn ho ́a tâm linh

“Văn hóa tâm linh là một mặt hoạt động văn hóa xã hội của con người, được

biểu hiện ra những khía cạnh vật chất hoặc tinh thần, mang những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo, thể hiện nhận thức, thái độ (e dè, sợ hãi hay huyền diệu) của con người” [4, tr 27]

Trong cuộc sống đời thường không ai là không có một niềm tin linh thiêng nào đó Đó là những ý niệm thiêng liêng về chùa, đền, đình, phủ…về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, về sự cầu cúng, là niềm tin thiêng liêng về cuộc sống con người

Niềm tin thiêng liêng trong tín ngưỡng tôn giáo được biểu hiện:

- Thứ nhất là niềm tin của những người không theo đạo Phật nhưng vẫn đến chùa lễ Phật, cầu bình yên, mạnh khỏe… hay là niềm tin của những người không

Trang 21

theo Gia tô giáo nhưng ngày lễ Nôen vẫn đến nhà thờ xem lễ, theo các tôn giáo, niềm tin của các tín đồ tôn giáo…

- Thứ hai là niềm tin của các tín đồ tôn giáo, họ suốt ngày, suốt đời mang theo niềm tin thiêng liêng về Chúa, về Phật Họ tôn thờ tất cả những gì thuộc về tôn giáo mà họ đi theo: người sáng lập, giáo lý, hệ thống thờ tự, nơi cử hành các nghi lễ…

Văn hóa tâm linh bao gồm cả văn hóa hữu hình, văn hóa vô hình và văn hóa hành động:

Văn hóa hữu hình là những giá trị văn hóa vật chất, đó là những kiến trúc nghệ thuật, những không gian thiêng liêng (đền đài, nhà thờ, đình chùa…), hay những biểu tượng thiêng liêng (những pho tượng Phật…)

Văn hóa vô hình là những giá trị được biểu hiện thông qua những nghi lễ, lễ thức, ý niệm thiêng liêng của con người về tôn giáo, tín ngưỡng

Văn hóa hành động là sự thể hiện hữu hình hóa những ý niệm vô hình, đó là những chuyến hành hương, những lần đi đến đền lễ thần, đến chùa lễ Phật để cầu bình an trong cuộc sống

1.1.4 Một số biểu hiện của văn hóa tâm linh

1.1.4.1 Tâm linh trong đời sống cá nhân

Đời sống tâm linh không phải ở đâu xa lạ mà ở ngay trong niềm tin thiêng

liêng của mỗi con người Tuy nhiên đời sống tâm linh không phải lúc nào cũng bộc

lộ, mà đời sống tâm linh của con người chỉ xuất hiện khi hoàn cảnh thiêng, thời gian thiêng xuất hiện Ví như khi mùa xuân đến là thời gian thiêng cho những người đi lễ chùa Hương, đời sống tâm linh trong họ được tái hiện Khi đến quê Bác hay vào lăng viếng Bác, hoàn cảnh ấy dấy lên trong ta mãnh liệt hơn niềm tin thiêng liêng nhớ ơn Người Thời khắc chuyển giao một năm của đất trời cũng dễ khiến con người nảy sinh những cảm xúc huyền diệu Kiều bào xa xứ trước hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng cũng nảy sinh những ý niệm về Tổ quốc thiêng liêng…

1.1.4.2 Tâm linh trong đời sống gia đình

Văn hóa tâm linh có những biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng trong đời sống gia đình của người Việt Phổ biến nhất là phong tục thờ cúng tổ tiên, ông bà,

Trang 22

cha mẹ, người thân trong gia đình Trong đó, bàn thờ tổ tiên chính là biểu tượng thiêng liêng nhất, lôi cuốn người ta quây quần, đoàn tụ, nhớ về cội nguồn, duy trì những giá trị thiêng liêng chuyền giao cho con cháu Ngày xưa nhân dân ta có câu

“sống về mồ mả, ai sống về cả bát cơm” có nghĩa là cái cần cho sự tồn tại của con

người trong gia đình không phải chỉ có bát cơm mà còn phải có cả phần thiêng liêng nữa, đó là mồ mả, bát hương thờ cúng ông bà, tổ tiên Đó chính là những biểu tượng thiêng liêng có sức mạnh truyền lệnh, tập hợp to lớn trong mỗi gia đình, gia tộc xưa nay

1.1.4.3 Tâm linh trong đời sống cộng đồng làng xã

Ở phạm vi cộng đồng làng xã, văn hóa tâm linh người Việt thể hiện ở tục thờ cúng thành hoàng, các vị thần, các vị tổ sư, các vị anh hùng đã có công với nước, các danh nhân văn hóa… Do ảnh hưởng của các tôn giáo, người Việt tổ chức xây đền chùa, miếu mạo, nhà thờ, giáo đường…và thực hành các nghi lễ cầu cúng Nhiều công trình hiện vật liên quan đến văn hóa tâm linh đã trở thành những di sản văn hóa, lịch sử quý giá và trở thành những điểm du lịch hấp dẫn Nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền, dân tộc

1.1.4.4 Tâm linh với tổ quốc giang sơn

Trước đây, trong quan niệm phong kiến, biểu tượng về sự thống nhất đất nước được thể hiện thông qua việc đúc cửu đỉnh, trên đó trạm khắc đầy đủ hình sông núi của 3 miền đất nước, đặt thờ ở thái miếu nhà Nguyễn trong kinh thành Huế Trong cuộc kháng chiến đánh Mỹ, ta thường nói dân tộc Việt Nam đã chiến thắng bằng cả sức mạnh bốn ngàn năm lịch sử, sức mạnh truyền thống Ngày nay, trong mỗi cuộc lễ nghi, hội nghị ta kiến lập bàn thờ Tổ quốc Đó chẳng phải là cái

vô hình trìu tượng mà chính là hình ảnh thiêng liêng về giang sơn tổ quốc… Những năm gần đây giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành ngày hội lớn trong cả nước Thật hiếm có dân tộc nào trên thế giới có một ý niệm rõ rệt về Quốc tổ như Việt Nam

Đó là một truyền thống tốt đẹp rất đáng tự hào, là dịp nhắc nhở mỗi người Việt Nam về lòng tự hào và trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc Vấn đề đặt ra là làm sao đừng để kinh tế thị trường vô tình “gặm nhấm”, dần làm mất đi những hình ảnh, biểu tượng thiêng liêng đó trong ý thức con người hôm nay và các thế hệ tiếp theo

Trang 23

1.1.4.5 Tâm linh trong nghệ thuật

Tâm linh trong nghệ thuật là những hình ảnh biểu tượng thiêng liêng nào đó được thể hiện trong tác phẩm làm khơi dậy những cảm xúc cao quý của con người Muốn được như vậy nhà sáng tạo nghệ thuật phải thực sự có đời sống tâm linh, cảm thụ đối tượng muốn sáng tạo ra trong tác phẩm đến độ thiêng liêng nhất

Có rất nhiều tác phẩm nghệ thuật mà ở đó con người cảm nhận được những giá trị thiêng liêng mà tác giả muốn truyền tải như những bức tranh về phố cổ Hà Nội của họa sĩ Bùi Xuân Phái hay như tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du, Hịch Tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, chèo Quan Âm Thị Kính Hay như chính sự thăng hoa trong niềm tin thiêng liêng về Chúa, về thần Phật đã để lại biết bao giá trị kiến trúc nghệ thuật: nhà thờ Phát Diệm – Ninh Bình, nhà thờ Phú Nhai – Nam Định, gác chuông chùa Keo ở Thái Bình, các pho tượng Phật tổ ở chùa Tây Phương –

Hà Nội…

1.1.4.6 Về thế giới tâm linh

Chưa ai có thể chứng minh, cũng chưa ai có thể bác bỏ, thế giới tâm linh vẫn

là một câu hỏi lớn đối với nhân loại Nhưng với những ai tin vào sự tồn tại của thế giới khác thì thế giới tâm linh được hình dung như là nơi con người sẽ đến sau cái chết Thế giới tâm linh không biết có thật hay không, nhưng nó hiện hữu trong tâm hồn mỗi người Nó là niềm tin thiêng liêng của con người vào nơi mà người ta sẽ về sau cuộc đời “sống gửi” nơi trần thế

Hầu hết mọi người trên thế giới đều hình dung thế giới tâm linh dưới dạng thiên đường và địa ngục Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên vì thế giới tâm linh thực chất là âm bản của cuộc sống thực tại, phản ánh cuộc sống thực tại của con người nhưng không hỗn độn xen lẫn tốt xấu, thật giả mà chia ra làm hai thái cực với ranh giới rõ ràng Sự đối kháng thiên đường – địa ngục thể hiện chế độ thưởng phạt công minh, thể hiện khát khao công lí và sự công bằng tuyệt đối

Thế giới tâm linh của người Việt được xây dựng theo mô hình “dương sao,

âm vậy – trần sao, âm vậy” Vì vậy, nên coi đây là quan niệm xuất phát để tìm hiểu

về mô hình thế giới tâm linh của người Việt Vì quan niệm “trần sao, âm vậy” nên mới có những tục lệ như đốt tiền vàng cho thế giới bên kia

Trang 24

Nhƣ vậy, văn hóa tâm linh có những mặt tích cực không thể phủ nhận trong

đời sống cộng đồng Đó là sợi dây cố kết cộng đồng, lưu giữ truyền thống, giáo dục lòng nhân ái, vị tha, ý thức hướng thiện Các tôn giáo khác nhau về giáo lý song đều gặp nhau ở tinh thần bác ái, khoan dung, triết lý nhân bản Văn hóa tâm linh là chỗ dựa về mặt tinh thần, xoa dịu những đau thương mất mát, đem lại niềm tin vào những điều tốt đẹp, cao cả, thiêng liêng, giúp con người chiến thắng nỗi sợ hãi trước cái chết, đem lại sự thanh thản, cân bằng cho tâm hồn Chính yếu tố văn hóa tâm linh đã tạo nên chiều sâu, sức sống cho nền văn hóa cộng đồng, dân tộc

1.2 Những vấn đề lý luận về du li ̣ch văn hóa tâm linh

1.2.1 Quan niê ̣m về du li ̣ch văn hóa

Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch kết hợp giữa văn hóa và du lịch

Theo từ điển Tiếng Việt “du lịch văn hóa” nghĩa là “đi chơi để trải nghiệm cái đẹp”

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt

động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”

Theo Luật Du lịch Việt Nam (chương 1, điều 4) thì: “Du lịch văn hóa là

hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”

Theo TS Trần Thúy Anh: “Du lịch văn hóa là một loại hình chủ yếu hướng

vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim” [1, tr 22]

Nhƣ vậy, có thể hiểu du lịch văn hóa là một loại hình du lịch dựa vào việc

khai thác các tài nguyên nhân văn của một vùng, một quốc gia nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhận thức thẩm mỹ của con người khi đi du lịch

Dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch văn hóa, các loại hình du lịch văn hóa được chia thành: du lịch lễ hội; du lịch tôn giáo; du lịch tham quan di tích, danh thắng; du

Trang 25

lịch khai thác các loại hình nghệ thuật truyền thống; du lịch làng nghề; du lịch tham quan các bảo tàng, di tích lịch sử văn hóa…

1.2.2 Quan niê ̣m về du li ̣ch văn hóa tâm linh

Du lịch tâm linh không phải là một vấn đề mới mẻ mà thực chất hoạt động

du lịch tâm linh đã có mặt cách đây hàng trăm năm trên khắp thế giới Mọi người vẫn quen dùng từ hành hương để nói về chuyến đi của mình Trong các chuyến hành hương đó, ngoài mục đích tín ngưỡng tâm linh, người đi hành hương còn được thưởng ngoạn những cảnh đẹp kỳ thú của thiên nhiên, được tiếp cận với những phong tục tập quán của đời sống cư dân địa phương và được hưởng các tiện ích của dịch vụ

Tuy nhiên cho tới thời điểm này, vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào về

du lịch văn hóa tâm linh Nhưng trong thời gian gần đây, loại hình du lịch văn hóa – tín ngưỡng gắn với các tour hành hương trong và ngoài nước, được một số doanh nghiệp tổ chức ngày càng nhiều, điều đó cho thấy nhu cầu tâm linh trong cộng đồng

ngày càng đa dạng

Thượng tọa Thích Đạo Đạo trong đề tài tham luận Hoằng pháp với vấn đề

du lịch tâm linh cho rằng: “Du lịch tâm linh tìm hiểu văn hóa, giá trị truyền thống

Thăm viếng bằng tâm trí, trái tim Nuôi dưỡng và mở rộng sự hiểu biết hướng về cái thiện, hòa hợp với thiên nhiên, đồng loại, chúng sinh Nâng cao được giá trị tâm hồn, hiểu rõ hơn về tâm linh, cụ thể đối với Phật giáo chúng ta là hiểu hơn về chân

Cựu tổng thống Ấn Độ, tiến sĩ Abdul Kalam thì cho rằng: “Du lịch tâm linh

có nghĩa là thăm viếng bằng trái tim”

Trong bài phát biểu tại Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển

bền vững diễn ra tại Ninh Bình ngày 21 – 22/11/2013, ông Nguyễn Văn Tuấn, Tổng

cục trưởng, Tổng cục Du lịch Việt Nam cho rằng: “Xét về nội dung và tính chất

hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác

Trang 26

những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác”

Nhƣ vậy, du lịch văn hóa tâm linh là sự kết hợp giữa du lịch và tâm linh –

tín ngưỡng Đây là hai nhu cầu cần thiết trong đời sống của con người, nhằm mang lại nét đẹp cho cuộc sống đi đôi với sự thăng hoa trong tâm hồn Du lịch văn hóa

tâm linh phải lưu ý các điểm sau:

- Du lịch văn hóa tâm linh là loại hình du lịch văn hóa nhưng khai thác các đối tượng tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh vào hoạt động du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, tham quan, tìm hiểu và nâng cao nhận thức của du khách

- Hoạt động của du lịch văn hóa tâm linh phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng

và gìn giữ các giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần, thông qua hoạt động du lịch để bảo tồn các di tích có ý nghĩa tín ngưỡng tôn giáo như: chùa, đình, đền, nhà thờ…hay các nghi lễ truyền thống, các lễ hội và giá trị văn hóa nghệ thuật, ẩm thực… Vì đó là đối tượng chính tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn du khách

Mục đích của du lịch văn hóa tâm linh giúp du khách có thể thực hiện mục đích kết hợp du lịch và tâm linh, tức là ngoài những mục đích du lịch thuần túy là tham quan các di tích, danh lam thắng cảnh, nghỉ dưỡng trong thời gian du lịch, khách du lịch còn tham gia vào các lễ hội truyền thống, thỏa mãn nhu cầu về tâm linh, tín ngưỡng của mình

- Tham quan: Trong du lịch văn hóa tâm linh khách du lịch có thể trực tiếp chiêm nghiệm, tham quan, nghiên cứu cảnh quan, kiến trúc, mỹ thuật, hệ thống tượng thờ, phù điêu, các di vật gắn với điểm du lịch tâm linh… Tìm hiểu văn hóa gắn với lịch sử tôn giáo và lối sống bản địa, những giá trị di sản văn hóa gắn với điểm tâm linh

Trang 27

Các đối tượng tham quan của du lịch văn hóa tâm linh không phụ thuộc vào thời gian mà có thể tổ chức quanh năm Du khách có thể tham gia vào chuyến hành trình vào bất cứ thời điểm nào mà họ mong muốn

- Tham dự lễ hội: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra

trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một

sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên – thần thánh và con người trong xã hội”

[27, tr 35]

Đến với lễ hội khách du lịch được tham gia trực tiếp vào các hoạt động tôn giáo với không khí náo nhiệt và sống động Thông qua các thành tố cơ bản của lễ hội bao gồm các nghi lễ, nghi thức thờ cúng, tế lễ, trang phục, ẩm thực, tục hèm và trò diễn dân gian…mà du khách có thể cảm nhận được giá trị văn hóa một cách sống động, tăng thêm tình đoàn kết cộng đồng, hơn nữa du khách còn tìm thấy ở lễ hội bản thân mình, quên đi những áp lực của cuộc sống đời thường Một số lễ hội tín ngưỡng, dân gian nổi tiếng ở Việt Nam như: lễ hội đền Hùng, lễ hội Thánh Gióng, hội chùa Hương (Hà Nội), hội Phủ Dầy, hội đền Trần (Nam Định), lễ hội vía

Bà Tây Ninh, lễ hội Tế Cá Ông (Bình Thuận), lễ Vu Lan, lễ Nô en, lễ Phục Sinh…

Tuy nhiên, du lịch lễ hội có đặc trưng cố định về thời gian, hay nói cách khác

là có tính mùa vụ Du khách chỉ có thể tham gia vào loại hình du lịch này tại những thời điểm đã được ấn định

- Tôn giáo, tín ngưỡng: Để tổ chức chương trình du lịch văn hóa tâm linh phải hội tụ đủ những yếu tố như: địa điểm, con người và niềm tin Trong đó, địa điểm tâm linh được xem là yếu tố quan trọng nhất Du khách đi du lịch văn hóa tâm linh để thỏa mãn nhu cầu thực hiện các lễ nghi tôn giáo hay tìm hiểu nghiên cứu tôn giáo Một địa điểm du lịch tâm linh có xuất xứ từ cội nguồn dân tộc, mang yếu tố tín ngưỡng tôn giáo sẽ góp phần nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân đối với các giá trị của tôn giáo, tín ngưỡng Với hình thức du lịch văn hóa tâm linh, khách du lịch không chỉ đơn thuần để vui chơi, thăm thú các danh lam thắng cảnh mà như đang thực hiện một cuộc hành hương về vùng đất thiêng và tìm kiếm nơi trú ngụ bình yên, thanh thản cho tâm hồn Đa số du khách đến chùa, thắng cảnh, thắng tích

Trang 28

để cho tâm hồn mình được thanh thản và thoát tục Du lịch tâm linh mang lại giá trị của tình yêu thương con người thật sự cho chính bản thân cá nhân đó, đồng thời mỗi

cá nhân lại mang đến sự bình an, an lạc cho những người xung quanh Đó là mục đích cao nhất của hành trình du lịch văn hóa tâm linh

Căn cứ vào số lượng khách du lịch thì hình thức của du lịch văn hóa tâm linh

có 2 loại:

- Hình thức cá nhân: Là loại hình mà trong đó những du khách riêng lẻ đến

ký hợp đồng mua sản phẩm của cơ quan cung ứng du lịch hoặc khách du lịch tự tổ chức chuyến đi cho mình mà không cần phải thông qua các tổ chức du lịch Họ tự lựa chọn điểm đến, phương tiện, đến các dịch vụ khác Trong trường hợp này họ thường chỉ sử dụng các dịch vụ tại điểm đến: trông giữ xe, đồ đạc, thuê các vật dụng, ăn uống, nghỉ ngơi…

- Hình thức tập thể: Do du lịch là một trong các hoạt động của cá nhân nhằm mục đích hòa mình vào tập thể nên đại đa số các chuyến đi mang tính tập thể Sinh viên, học sinh đi theo lớp, cán bộ công nhân đi theo cơ quan, người dân đi theo hội đồng niên, hội phụ nữ, hội người cao tuổi… Đi theo hình thức này tập thể khách thường có người đại diện (trưởng đoàn) chịu trách nhiệm về tất cả các dịch vụ, hoạt động của chuyến đi Riêng đối với loại hình du lịch văn hóa tâm linh, người trưởng đoàn còn phải đại diện thực hiện các nghi lễ tại điểm du lịch: dâng hương, hoa quả… Các cá nhân trong đoàn đều ràng buộc mình vào tập thể Do vậy, đoàn khách

Trang 29

thường tổ chức đi du lịch về nguồn gốc xuất tích của đạo Phật như du lịch hành hương về xứ Ấn Độ, Nêpan nơi có di tích “tứ động tâm” của Phật Thích ca

Với bản chất của du lịch văn hóa tâm linh là khai thác các đối tượng tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh vào hoạt động du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, tham quan, tìm hiểu và nâng cao nhận thức của du khách, việc phát triển du lịch văn hóa tâm linh sẽ có những tác động tích cực:

- Về mặt tín ngưỡng, tôn giáo, du lịch văn hóa tâm linh mang đến cho du khách cái nhìn bao quát về bối cảnh lịch sử ra đời và phát triển của các tín ngưỡng tôn giáo, bên cạnh các giá trị thẩm mỹ về nghệ thuật, kiến trúc của các di tích, công trình, kiến trúc

Bên cạnh đó, hoạt động du lịch tâm linh giúp cho khách du lịch có cơ hội xác định niềm tin của mình đối với một tôn giáo tín ngưỡng cụ thể Niềm tin đó sẽ giúp cho du khách cảm nhận được giá trị thiêng liêng gắn với các biểu tượng cụ thể của các di tích, danh thắng

- Về mặt xã hội, khác với các loại hình du lịch khác, hoạt động du lịch văn hóa tâm linh không đơn giản chỉ là vãn cảnh hay tìm hiểu một nền văn hóa khác Triết lý đạo Phật cũng như các tôn giáo khác là sống tốt đời đẹp đạo Do đó, sau chuyến đi du lịch nhiều du khách có thể có những thay đổi về tư duy và hành xử trong cuộc sống, tháo gỡ được cảm xúc khổ đau, vun buồn, tâm thành hướng thiện

và phát triển tinh thần minh triết Du lịch văn hóa tâm linh mang lại những trải nghiệm thanh tao cho du khách, nhận thức và tận hưởng những giá trị về tinh thần giúp cho con người đạt tới sự cân bằng, cực lạc trong tâm hồn như theo triết lý từ,

bi, hỷ, xả của đạo Phật… Những giá trị ấy có được nhờ du lịch tâm linh và đóng góp quan trọng vào sự an lạc, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống cho dân sinh Làm trỗi dậy đời sống giác ngộ của khách du lịch tại những địa danh tâm linh là mục tiêu của các chuyến du lịch tâm linh

Tham gia vào hoạt động du lịch tâm linh, mọi người đều như nhau trong vai trò của một tín đồ, không phân biệt thành phần xã hội, giai cấp, không phân biệt sang hèn, giới tính, tuổi tác, địa vị xã hội… Du lịch văn hóa tâm linh có thể giúp

Trang 30

cho mỗi người gỡ bỏ đi “vai diễn kẻ lạ mặt” (L‟estranger – chữ của Albert Camus)

để sống hòa hợp tự nhiên như tất cả mọi chúng sinh trên mặt đất

- Về phương diện kinh tế du lịch, hoạt động du lịch văn hóa tâm linh góp phần tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương, đặc biệt ở vùng nông thôn nơi tỷ lệ đói nghèo còn cao, góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng dân cư, phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nghề truyền thống, vì vậy góp phần phát triển bền vững từ góc độ văn hóa và xã hội du lịch

Với những tác động tích cực trên, việc đẩy mạnh phát triển hoạt động du lịch văn hóa tâm linh sẽ có vai trò rất quan trọng trong phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam Ngoài việc thúc đẩy kinh tế du lịch, phát triển kinh tế dịch vụ, du lịch văn hóa tâm linh nếu được phát triển lành mạnh, đúng hướng còn mang lại nhiều giá trị truyền thống, những giá trị tinh thần, những giá trị văn hóa lịch sử Đặc biệt trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống càng xô bồ, thì con người càng hướng tới đức tin Những đức tin lành mạnh sẽ giúp con người hướng thiện, loại dần các ác, đem đến sự an lành của tâm hồn con người trong xã hội đầy biến động

1.2.3 Điểm đến cu ̉ a du li ̣ch văn hóa tâm linh

Theo M.Buchvarov, điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị du lịch gồm 5 cấp: điểm du lịch – hạt nhân du lịch – tiểu vùng du lịch – á vùng du lịch

– vùng du lịch Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ, “là nơi tập trung một

loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa, lịch sử hoặc kinh tế xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ”.[47, tr.113]

Theo quan điểm Marketing:“Điểm đến du lịch là một địa điểm mà chúng ta

có thể cảm nhận được bằng đường biên giới về địa lý, đường biên giới về chính trị hay đường biên giới về kinh tế, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút

và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” [20, tr.341]

Đối với loại hình du lịch văn hóa tâm linh, điểm đến du lịch là nơi tập trung một loại hình du lịch văn hóa tâm linh nào đó phục vụ du lịch Thông thường, điểm đến này thường gắn với các di tích gắn với tôn giáo (như văn miếu, chùa, nhà thờ…), và các di tích gắn với tín ngưỡng (đình, đền, miếu, phủ )

Trang 31

1.2.4 Cơ sở vật chất, kỹ thuật của du lịch văn hóa tâm linh

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm: cơ sở vật chất của ngành du lịch (hệ thống cơ sở ăn uống, vui chơi, giải trí…là yếu tố trực tiếp đối với việc đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ du lịch được tạo ra và cung ứng cho du khách; cơ sở vật chất

kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân khác tham gia phục vụ du lịch (giao thông, bưu chính, điện nước…) Những yếu tố này có ý nghĩa rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác tài nguyên, phục vụ khách du lịch, đồng thời góp phần quyết định độ dài thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách

Đối với khách du lịch văn hóa tâm linh thì cơ sở vật chất kỹ thuật phải có những điều kiện phục vụ đặc trưng riêng, với cơ sở ăn uống thì có thể đó là các nhà hàng ăn chay, ăn kiêng…, với cơ sở lưu trú thì cần trang trí, bày trí trang thiết bị trong phòng, buồng khách sạn sao cho phù hợp với từng đối tượng khách theo tín ngưỡng, tôn giáo…tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được 4 yêu cầu chính: mức độ tiện nghi, mức độ thẩm mỹ, mức độ vệ sinh và mức độ an toàn

1.2.5 Sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh

Theo Luật du lịch Việt Nam (điều l4 chương 1): “Sản phẩm du lịch là tập

hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi

du lịch”

Theo quan điểm Marketing: “Sản phẩm du lịch là những hàng hóa và dịch

vụ có thể thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra chào bán trên thị trường, với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng của khách du lịch” [20, tr 218]

Các yếu tố của sản phẩm du lịch bao gồm: điểm thu hút khách; khả năng tiếp cận của điểm đến; các tiện nghi và dịch vụ của điểm đến; hình ảnh của điểm đến; giá cả hàng hóa, dịch vụ của điểm đến

Sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh mang những đặc điểm của sản phẩm du lịch văn hóa: Có tính bền vững, bất biến cao; Mang nặng dấu ấn của cộng đồng dân

cư bản địa, nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt văn hóa, tinh thần của cư dân bản địa; Sản phẩm mang nặng định tính, khó xác định định lượng, giá trị của sản phẩm mang tính vô hình, thể hiện qua ấn tượng, cảm nhận

Trang 32

1.2.6 Khách du lịch với mục đích văn hóa tâm linh

Ngành du lịch muốn hoạt động và phát triển thì đối tượng khách du lịch là nhân tố quyết định Nếu không có khách du lịch thì các nhà kinh doanh du lịch không thể kinh doanh được Như vậy nếu nhìn trên góc độ thị trường thì khách du lịch chính là “cầu thị trường”, còn các nhà kinh doanh du lịch là “cung thị trường” Vậy khách du lịch là gì?

Theo Luật du lịch (Chương 1, điều 4): “Khách du lịch là người đi du lịch

hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để thu nhập ở nơi đến”

Theo PGS.TS Trần Đức Thanh thì: “Du khách là những người từ nơi khác

đến với/ hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần, hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và/ hoặc của cộng đồng xã hội Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch lữ hành, lưu trú, ăn uống…” [36, tr 20]

Nhƣ vậy, có thể khái quát khách du lịch văn hóa tâm linh là:

- Khách di du lịch với mục đích là văn hóa tâm linh và mang đầy đủ các yếu

tố của khách du lịch Khách có thể đi với động cơ là nghỉ ngơi, phục hồi tâm sinh

lý, hay đi với mục đích tham quan, nghiên cứu, học tập về văn hóa hoặc kết hợp với mục đích khác như công vụ, hội nghị, hội thảo

- Khách du lịch tâm linh ở Việt Nam thường hội tụ về các điểm du lịch tâm linh như: đền, chùa, đình, đài, lăng tẩm, tòa thánh, khu thờ tự, tưởng niệm và những vùng đất linh thiêng gắn với phong cảnh đặc sắc, gắn kết với văn hóa truyền thống, lối sống địa phương Ở đó, du khách tiến hành các hoạt động tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tri ân, báo hiếu, thiền, tham gia lễ hội…

1.2.7 Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch văn hóa tâm linh

Di sản văn hóa (bao gồm vật thể và phi vật thể) được xác định là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người Đó là tài sản quý giá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do các tác động của các yếu tố ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh; sự phát triển kinh tế một cách ồ ạt; sự khai thác không có kiểm soát chặt chẽ; sự buôn bán trái phép đồ

Trang 33

cổ; sự mai một truyền thống đạo đức do giao lưu, tiếp xúc và cuối cùng là việc bảo tồn, trùng tu thiếu chuyên nghiệp, không theo đúng những chuẩn mực khoa học…đang là mối nguy cơ đối với các di sản văn hóa Bởi vậy, việc bảo tồn, khôi phục, gìn giữ những tài sản quý báu đó vừa là nhu cầu tự thân, vừa là yêu cầu bắt buộc đối với hoạt động du lịch Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đang là mối quan tâm của tất cả các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và hội nhập như Việt Nam

Tuy nhiên, đây cũng lại là một vấn đề rất nhạy cảm vì tài nguyên di sản văn hóa mang những đặc điểm rất riêng biệt, đa dạng và dễ bị tổn thương, ở nhiều nơi

người ta đã và đang làm mất giá trị, thậm chí “giết chết” di tích trong quá trình

trung tu Nguyên nhân của mọi sự sai lầm đều xuất phát từ nhận thức lệch lạc, trong đại bộ phận các trường hợp là do quá coi trọng việc phát triển kinh tế, đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết Nguyên nhân thứ hai là sự thiếu hiểu biết về bảo tồn văn hóa, người ta nỗ lực làm lại mới hoàn toàn nhiều thành phần thậm chí cả một hạng mục công trình mà không hề biết rằng như thế di tích đã bị xóa sổ, thay vào đó là một

hình ảnh phỏng dựng “vô hồn” của di tích Do đó, quá trình bảo tồn di sản văn hóa

phải được thực hiện nghiêm túc, có bài bản, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu về

di tích đó một cách thấu đáo, đồng thời phải được giám sát một cách cẩn trọng Càng không nên coi công tác bảo tồn và trùng tu di tích là một loạt những công thức hay mô hình sẵn có mang tính vạn năng, cứng nhắc Ngược lại, trong công tác bảo tồn và trùng tu di tích, các chiến lược cụ thể, những mô hình, nguyên tắc mang tính chất lý thuyết phải được vận dụng linh hoạt tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử, nét đặc thù và các mặt giá trị tiêu biểu của những di tích cụ thể theo thứ tự ưu tiên như sau:

Thứ nhất, ưu tiên hàng đầu là bảo vệ và phát huy các mặt giá trị tiêu biểu của

di tích (giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học và những chức năng truyền thống cũng như công năng mới của di tích)

Thứ hai, áp dụng mọi biện pháp có thể để bảo tồn và trùng tu, tạo điều kiện

lưu giữ lâu dài và chuyển giao yếu tố nguyên gốc và tính chân xác lịch sử của di tích cho thế hệ tiếp theo – những người sẽ có các điều kiện vật chất và kỹ thuật chắc chắn là hơn hẳn chúng ta, có thể đưa ra những phương án bảo tồn thích hợp hơn

Trang 34

Thứ ba, việc bảo tồn và trùng tu còn phải đảm bảo duy trì được những chức

năng truyền thống của di tích Bởi vì, những chức năng truyền thống đó sẽ tạo cho

di tích khả năng đáp ứng được nhu cầu sử dụng của thời đại

Từ những điều trình bày ở trên, trong chiến lược bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cần thực hiện những nguyên tắc sau:

Thứ nhất, chỉ can thiệp tối thiểu tới di tích, nhưng cần thiết lập một cơ chế

duy tu, bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ để đảm bảo cho di tích được ổn định lâu dài

Thứ hai, di tích có thể sử dụng và phát huy phục vụ nhu cầu xã hội theo

những chuẩn mực khoa học đã được xác định Sử dụng và phát huy các mặt giá trị của di tích cũng chính là biện pháp bảo tồn có hiệu quả nhất

Thứ ba, bảo tồn di sản văn hóa phải triển khai song song và phục vụ cho sự

nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại, phát triển phải kết hợp với bảo tồn di sản văn hóa

Theo luật Di sản văn hóa (chương 1, điều 4) thì bảo tồn di sản văn hóa gồm các hoạt động sau:

1 Sưu tập: là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hoá

phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung

về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và

xã hội

2 Kiểm kê di sản văn hóa: là hoạt động nhận diện, xác định giá trị và lập danh mục

di sản văn hóa

3 Thăm dò, khai quật khảo cổ: là hoạt động khoa học nhằm phát hiện, thu thập,

nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ

4 Bảo quản di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật

quốc gia: là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng

mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

5 Tu bổ di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh: là hoạt động nhằm tu sửa,

gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh

Trang 35

6 Phục hồi di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh: là hoạt động nhằm phục

dựng lại di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đó

1.3 Du lịch văn hóa tâm linh ở Việt Nam và kinh nghiệm rút ra cho Nam Định

1.3.1 Đặc điểm và xu hướng phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam

là đối tượng của mục tiêu hướng tới của du lịch tâm linh

- Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với tín ngưỡng thờ cúng, tri ân những vị anh hùng dân tộc, những vị tiền bối có công với nước, dân tộc (Thành Hoàng) trở thành du lịch về cội nguồn dân tộc với đạo lý uống nước nhớ nguồn Mới đây, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện nhân loại

- Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng tộc, tri ân, báo hiếu đối với bậc sinh thành

- Du lịch tâm linh ở Việt Nam gắn với những hoạt động thể thao tinh thần như thiền, yoga hướng tới sự cân bằng, thanh tao, siêu thoát trong đời sống tinh thần Đặc trưng và tiêu biểu ở Việt Nam mà không nơi nào có đó là Thiền phái Trúc lâm Yên Tử

- Du lịch tâm linh ở Việt Nam còn có những hoạt động gắn với yếu tố linh thiêng và những điều huyền bí (tín ngưỡng thờ Mẫu)

*) Xu hướng phát triển du lịch văn hóa tâm linh ở Việt Nam

- Số lượng khách du lịch tâm linh ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong

cơ cấu khách du lịch, đặc biệt là khách nội địa Số khách du lịch đến các điểm tâm

Trang 36

linh tăng cho thấy du lịch tâm linh ngày càng giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội Trong số 32,5 triệu khách du lịch nội địa năm 2012 thì chỉ tính riêng só khách đến các điểm tâm linh (chùa, đền, phủ, tòa thánh) là 13,5 triệu lượt, tương đương 41,5% [46, tr.70]

Bảng 1.1: Số lượng khách tại một số điểm du lịch tâm linh tiêu biểu

Đơn vị: triệu lượt

Địa điểm 2008 2009 2010 2011 2012 Tăng TB

Nguồn: Báo cáo của các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Tuy số lượng khách du lịch tâm linh tăng qua hàng năm, song thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch ngắn Thông thường khách du lịch đi trong ngày và

ít nghỉ lại qua đêm, thậm chí có thể chỉ vài giờ trong ngày Thời gian lưu trú lâu dài nhất như ở Măng Đen gắn với các mục đích khách như nghỉ dưỡng, sinh thái Thời gian đi du lịch tâm linh thường tập trung vào dịp cuối năm và đầu năm âm lịch và các thời điểm lễ hội

Bảng 1.2: Thời gian lưu trú của KDL tại các điểm

du lịch tâm linh tiêu biểu năm 2012

Trang 37

- Nhu cầu về du lịch tâm linh ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong khuôn khổ hoạt động gắn với tôn giáo mà ngày càng mở rộng tới các hoạt động, sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc và những yếu tố linh thiêng khác Hoạt động du lịch tâm linh ngày càng chủ động, có chiều sâu và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đại bộ phận nhân dân

- Hoạt động kinh doanh, đầu tư vào du lịch tâm linh ngày càng đẩy mạnh thể hiện ở quy mô, tính chất hoạt động của các khu, điểm du lịch tâm linh Ra đời và phát triển ngày càng nhiều các điểm du lịch tâm linh ở hầu hết các địa phương, vùng, miền trên phạm vi cả nước, tiêu biểu như: đền Hùng (Phú Thọ), Yên Tử (Quảng Ninh), chùa Hương (Hà Nội), đền Trần, Phủ Dầy (Nam Định), Phát Diệm, Bái Đính (Ninh Bình), Núi Bà Đen, Thánh Thất Cao Đài (Tây Ninh), Đại Nam Văn Hiến (Bình Dương)…

- Du lịch tâm linh ngày càng được xã hội tiếp cận và nhìn nhận tích cực cả về khía cạnh kinh tế và xã hội Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đối với phát triển du lịch tâm linh và coi đó là một trong những giải pháp đáp ứng đời sống tinh thần cho nhân dân đồng thời với việc bảo tồn, tôn vinh những giá trị truyền thống, suy tôn những giá trị nhân văn cao cả

1.3.2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, du lịch tâm linh tại Việt Nam đã có bước phát triển, tuy nhiên phần lớn các tour du lịch đến các danh lam thắng cảnh, chùa chiền chỉ theo dạng hành hương vào mùa lễ hội Nói một cách khác, hình thức du lịch này chỉ dừng lại ở việc du lịch tín ngưỡng chứ chưa hoàn toàn là du lịch tâm linh Với

du lịch tâm linh, nó bao hàm cả hành trình tìm kiếm các giá trị văn hóa truyền thống lẫn tìm lại chính mình Với họ, các thánh tích, Phật tích là những nơi giác ngộ, nơi

có thể trao tặng cho họ các thông điệp tuyệt vời, chứa đựng sự hòa hợp giữa con người với thế giới Viếng một ngôi chùa, thắp một nén nhang thành tâm cầu nguyện

và nghe sư thầy giảng kinh trong không gian tĩnh tại giúp con người bình tâm và thanh thản, tạm quên đi những giờ làm việc căng thẳng và mệt mỏi, những sức ép trong cuộc sống thường nhật Du lịch thường phải đi lại, di chuyển từ điểm tham quan này đến các điểm khác, trong khi tâm linh, tín ngưỡng lại là những yếu tố tĩnh

Trang 38

tại, nằm sâu bên trong mỗi con người Du lịch tâm linh chính là sự kết hợp cả hai yếu tố này, như có âm có dương, có tĩnh có động

Mục đích của du lịch văn hóa tâm linh như đã trình bày ở trên là tham quan, tín ngưỡng tôn giáo và tham dự lễ hội Thời điểm lễ hội là thời gian thu hút khách

du lịch nhiều nhất Trên thế giới, có những lễ hội đã được quốc tế hóa, góp phần xây dựng thương hiệu du lịch và đưa hình ảnh quốc gia đó đi khắp nơi nhưng vẫn giữ được các giá trị nguyên bản của mình như lễ hội té nước trong dịp lễ cổ truyền Songkran ở Thái Lan hay trong lễ hội Chol Chnam ở Campuchia, lễ hội Carnaval ở Braxin, lễ hội bia ở Đức, lễ Phục sinh, lễ Nô en… Còn ở Việt Nam, trong nhiều năm trở lại đây, nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước thường xuyên tổ chức những lễ hội, những sự kiện văn hóa hoành tráng trong các dịp lễ, Tết hoặc trong các dịp kỷ niệm những sự kiện trọng đại của đất nước và địa phương, nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa, đời sống tín ngưỡng, tâm linh của người dân và để phục vụ phát triển du lịch Ðể phục vụ các lễ hội, nhiều di sản văn hóa phi vật thể, nhất là các lễ hội truyền thống, đã được phục dựng, tái hiện rất quy mô, góp phần làm cho

"bức tranh lễ hội" ở Việt Nam trở nên phong phú và đa dạng Tuy nhiên, không phải

ở đâu vàkhi nào việc phục dựng, tái hiện các lễ hội truyền thống; việc khai thác các

di sản văn hóa để phục vụ cho các sự kiện văn hóa, các "lễ hội đương đại" nói trên cũng mang tính tích cực Ngược lại, do thiếu hiểu biết về di sản văn hóa, do xu hướng thương mại hóa và chính trị hóa hoạt động lễ hội nên việc phục dựng, tái hiện các lễ hội truyền thống đã có những bất cập, tạo nên những hệ lụy không mong đợi, gây phản ứng xấu trong dư luận và cộng đồng Thực tế cho thấy ngoài một số ít thành công như Quảng Nam, Đà Nẵng còn lại hầu hết gây hiệu ứng ngược, không những không nâng cao sự chi tiêu của du khách mà còn gây mất an ninh trật tự, cuộc sống cộng đồng bị xáo trộn

Ví như lễ hội chùa Hương, một trong những địa chỉ quen thuộc trong tâm linh của du khách trong nước và quốc tế mỗi dịp xuân về, lễ hội kéo dài từ mùng 6 tháng giêng đến hết tháng ba âm lịch Ngay trong ngày đầu tiên khai hội, Chùa Hương đã đón khoảng 150.000 lượt du khách Với số lượng lớn du khách khắp nơi cùng đổ về trong một ngày như vậy lễ hội chùa Hương liên tiếp tục xảy ra những

Trang 39

bất cập đáng buồn Trên dòng suối Yến, hơn 4.800 con đò dùng để chuyên trở khách được đánh số thứ tự để sẵn sàng cho nhiệm vụ của mình Theo quy định của Ban tổ chức, vé thăm quan là danh thắng là 50.000đ/1 người và vé đi đò là 35.000đ/1 lượt, vậy nhưng do số lượng khách quá lớn gần 5.000 con đò cũng không

đủ phục vụ vậy nên đã xảy ra hiện tượng khách phải trả cho chủ đò 100.000đ/1 người mới được đi Bên cạnh đó, mặc dù Ban tổ chức quy định xả rác trên suối Yến

sẽ bị phạt 300.000đ nhưng có thể dễ dàng nhận thấy trên dòng suối thơ mộng vẫn đầy rác [14]

Tại lễ hội Yên Tử, những hình ảnh xấu lại xuất hiện theo hình thức khác Không biết từ bao giờ mà lời đồn đại về việc dùng tiền cọ và xoa vào chùa Đồng sẽ gặp được may mắn được lưu truyền, chỉ biết rằng người ta xô đẩy, chen lấn, ai cũng muốn tận tay xoa tiền vào chùa Không chỉ có vậy trên suốt hành trình từ suối Giải Oan lên đến đỉnh Phù Vân, cứ đâu có tượng phật, có ban thờ là người ta dải tiền, nhét cả tiền vào tay Phật, chân tượng Phật, khiến cho chốn linh thiêng mất đi vẻ trang nghiêm, thiền tịnh vốn có

Lễ hội đền Bà Chúa Kho năm nào cũng xảy ra tình trạng ùn tắc, chen chúc

do người dân kéo về “vay” lộc Người ta cho rằng, muốn có một năm làm ăn phát đạt thì phải đến vay “vốn” của Bà Cho nên ai cũng sắm mâm lễ hoành tráng với ước mong tài lộc dồi dào

Chợ Viềng (Nam Định) nổi tiếng với nét đặc sắc là mua bán lấy may, nên hàng bán thường là đồ cũ Song những năm gần đây, do có đông người đến chợ Viềng, nên người ta làm giả đồ thành cũ để bán, bên cạnh đó các sòng bài, trò chơi sóc đĩa,…công khai hoạt động làm hủy hoại ý nghĩa tốt đẹp vốn có của phiên chợ này

Lễ khai ấn đền Trần được tổ chức vào đêm này 14, rạng sáng ngày 15 âm lịch mới thực sự là một chiến trường hỗn loạn Người ta giẫm đạp, xô xát với nhau

để giành ấn thiêng Không những thế, lực lượng an ninh hàng trăm người không cản nổi một cơn sóng người xô đổ hàng rào sắt, đu mình lên xà để vào trong đền vơ vét lộc thánh Người ta đánh nhau, giành giật thậm chí chửi bới văng tục để “cướp” lộc,

“cướp” ấn Một quang cảnh mà nhìn vào không thấy đâu sự linh thiêng, cao quý vốn có của một lễ hội truyền thống tồn tại hàng nghìn năm, chỉ thấy một sự hỗn

Trang 40

loạn, một cách thể hiện văn hóa và nhận thức vô cùng kém của những người đi trẩy hội Và đây cũng là nơi các hoạt động “buôn Thần, bán Thánh” diễn ra công khai

Những hiện tượng trên đang đi ngược lại với truyền thống văn hóa dân tộc (vốn coi trọng tinh thần hơn vật chất), mong khai thác uy lực thánh thần để mưu cầu lợi ích vật chất cho cá nhân mình

Nhìn chung, việc tổ chức lễ hội ở Việt Nam còn gặp phải những bất cập sau: Một là, nội dung và hình thức tổ chức của nhiều lễ hội đã bị làm sai lệch vì các lý do khác nhau, chẳng hạn, người ta sẵn sàng cắt bỏ những nội dung quan trọng của lễ hội truyền thống, sẵn sàng thay đổi không gian và hình thức tổ chức lễ hội vì lý do thương mại hay thay đổi thời gian tổ chức lễ hội chỉ vì lý do truyền hình trực tiếp;

Hai là, đặt quá nhiều mục tiêu cho việc phục hồi một lễ hội nên không đáp ứng được mục tiêu nào;

Ba là, nhiều hình thức diễn xướng dân gian đã bị tách khỏi môi trường nguyên thủy, bị sân khấu hóa, nên bị xơ cứng, giả tạo và thiếu sức sống; chủ thể của

lễ hội không nhất quán, thậm chí ngay trong cùng một cuộc lễ; nhiều nghi thức truyền thống bị loại bỏ hoặc được thay thế bằng những biến tướng; nhiều loại trang phục, đạo cụ truyền thống sử dụng trong lễ hội bị thay thế bởi trang phục, phương tiện, thiết bị hiện đại, không đúng với nguyên gốc Thêm vào đó, người tham dự lễ hội không còn đóng vai trò là chủ thể trong lễ hội, là đối tượng sáng tạo nên di sản văn hóa mà trở thành khách thể, là những người thưởng thức, sử dụng di sản văn hóa, thậm chí còn trở thành "những kẻ tước đoạt văn hóa" như việc "cướp ấn" trong

lễ hội đền Trần ở Nam Ðịnh

1.3.3 Một số kinh nghiệm rút ra cho du lịch văn hóa tâm linh Nam Định

Với cơ sở lý luận về du lịch văn hóa tâm linh như khái niệm, đặc điểm, xu hướng, thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam, có thể khái quát một số kinh nghiệm cho Nam Định khi phát triển loại hình du lịch này:

Một là, khi phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh tại Nam Định, cần có

các nghiên cứu cơ bản về từng điểm du lịch văn hóa tâm linh trong kế hoạch phát triển của tỉnh Xác định sức thu hút của tài nguyên du lịch trên địa bàn về tâm linh

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy Anh (2004), Ứng xử văn hóa trong du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử văn hóa trong du lịch
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
2. Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nam Định, Di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nam Định, Nxb Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Nam Định
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
3. Đinh Thị Vân Chi (2004), Nhu cầu của du khách trong quá trình du lịch, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu của du khách trong quá trình du lịch
Tác giả: Đinh Thị Vân Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2004
4. Nguyễn Đăng Duy (2001), Văn hóa tâm linh, NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 2001
5. Kiều Khắc Dư (2013), Sức sống mãnh liệt và sự lan tỏa rộng lớn của nghệ thuật hát văn – hát chầu văn, Tạp chí Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nam Định, số 2/2013, tr 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức sống mãnh liệt và sự lan tỏa rộng lớn của nghệ thuật hát văn – hát chầu văn
Tác giả: Kiều Khắc Dư
Năm: 2013
6. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định (2003), Địa chí Nam Định, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Nam Định
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
7. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2004), Giáo trình Kinh tế du lịch, Nxb Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2004
8. Hoàng Quốc Hải (2005), Văn hóa phong tục, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phong tục
Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
9. Nguyễn Duy Hinh (2007), Tâm linh Việt Nam, Nxb Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm linh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa
Năm: 2007
10. Lam Hồng (2013), Đặc sắc lễ hội mùa xuân ở huyện Vụ Bản, Tạp chí Văn hóa, Thể thao và Du lịch, số 2/2013, tr 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sắc lễ hội mùa xuân ở huyện Vụ Bản
Tác giả: Lam Hồng
Năm: 2013
11. Chu Huy (2008), Tâm thức người Việt qua lễ hội đền, chùa, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm thức người Việt qua lễ hội đền, chùa
Tác giả: Chu Huy
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2008
12. Nguyễn Phạm Hùng (1999), Du lịch tôn giáo và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch tôn giáo và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 1999
13. Nguyễn Phạm Hùng (2010), Đa dạng văn hóa và sự phát triển du lịch ở Việt Nam, Tạp chí Du lịch Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng văn hóa và sự phát triển du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 2010
14. Nguyễn Hương, Văn hóa đi lễ hội: Cần thay đổi từ nhận thức, Trang thông tin điện tử Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, ngày 27/2/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa đi lễ hội: Cần thay đổi từ nhận thức
15. Hồ Văn Khánh (2011), Tâm hồn – khởi nguồn cuộc sống văn hóa tâm linh, Nxb 16. Nguyễn Công Khương (2011), Thế mạnh để phát triển du lịch Nam Định trongthời kỳ mới, Tạp chí Văn hóa, Thể thao và Du lịch, số 2/2011, tr 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm hồn – khởi nguồn cuộc sống văn hóa tâm linh," Nxb 16. Nguyễn Công Khương (2011), "Thế mạnh để phát triển du lịch Nam Định trong "thời kỳ mới
Tác giả: Hồ Văn Khánh (2011), Tâm hồn – khởi nguồn cuộc sống văn hóa tâm linh, Nxb 16. Nguyễn Công Khương
Nhà XB: Nxb 16. Nguyễn Công Khương (2011)
Năm: 2011
17. Nguyễn Công Khương (2012), Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, động lực thúc đẩy du lịch phát triển, Tạp chí Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nam Định, số 4/2012, tr 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, động lực thúc đẩy du lịch phát triển
Tác giả: Nguyễn Công Khương
Năm: 2012
18. Nguyễn Công Khương (2013), Nam Định đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa, Tạp chí Văn hóa, Thể thao và Du lịch, số 3/2013, tr 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Định đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa
Tác giả: Nguyễn Công Khương
Năm: 2013
19. Trần Thị Lan, Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng dải ven biển Nam Định, ĐHKHXH & NV 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng dải ven biển Nam Định
20. Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Đình Hòa (2008), Marketing du lịch, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Đình Hòa
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
21. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tâ ̣p 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Thời gian lưu trú của KDL tại các điểm - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 1.2 Thời gian lưu trú của KDL tại các điểm (Trang 36)
Bảng 1.1: Số lƣợng khách tại một số điểm du lịch tâm linh tiêu biểu - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 1.1 Số lƣợng khách tại một số điểm du lịch tâm linh tiêu biểu (Trang 36)
Bảng 2.3: Bảng thống kê các di tích thờ Mẫu tại Nam Định - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 2.3 Bảng thống kê các di tích thờ Mẫu tại Nam Định (Trang 52)
Bảng 2.4. Tính thời vụ trong du lịch tâm linh Nam Định qua các điểm du lịch - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 2.4. Tính thời vụ trong du lịch tâm linh Nam Định qua các điểm du lịch (Trang 66)
Bảng 2.5. Thống kê các cơ sở kinh doanh du lịch Nam Định - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 2.5. Thống kê các cơ sở kinh doanh du lịch Nam Định (Trang 67)
Bảng 2.7:  Hiện trạng chất lƣợng lao động du lịch Nam Định - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 2.7 Hiện trạng chất lƣợng lao động du lịch Nam Định (Trang 72)
Bảng 2.8: Hiện trạng khách du lịch đến Nam Định 2000 – 2012 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 2.8 Hiện trạng khách du lịch đến Nam Định 2000 – 2012 (Trang 74)
Bảng 2.9: Tỷ lệ khách du lịch Nam Định so với vùng đồng bằng sông Hồng - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 2.9 Tỷ lệ khách du lịch Nam Định so với vùng đồng bằng sông Hồng (Trang 75)
Bảng 2.10: So sánh khách du lịch đến Nam Định với các tỉnh lân cận và vùng - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 2.10 So sánh khách du lịch đến Nam Định với các tỉnh lân cận và vùng (Trang 76)
Bảng 2.12: Số lƣợng khách du lịch đến đền Trần – chùa Tháp 2010 - 2012  Năm  Khách đi theo đoàn có nhu cầu - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 2.12 Số lƣợng khách du lịch đến đền Trần – chùa Tháp 2010 - 2012 Năm Khách đi theo đoàn có nhu cầu (Trang 80)
Bảng 2.13: Thu nhập của ngành du lịch Nam Định giai đoạn 2002 – 2012 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 2.13 Thu nhập của ngành du lịch Nam Định giai đoạn 2002 – 2012 (Trang 82)
Bảng 2.14: So sánh thu nhập từ hoạt động du lịch của Nam Định - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Bảng 2.14 So sánh thu nhập từ hoạt động du lịch của Nam Định (Trang 83)
Hình 2.1: Tác phẩm đạt giải nhất cuộc thi thiết kế mẫu biểu tượng logo du lịch - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định
Hình 2.1 Tác phẩm đạt giải nhất cuộc thi thiết kế mẫu biểu tượng logo du lịch (Trang 96)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w