DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂUBIỂU ĐỒ: Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam qua các nămError: Reference source not found BẢNG: Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa trình độ văn hóa của người chủ gia đ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài chuyên đề là do tôi tự viết, không sao chộp cỏc tài liệu khỏc Cỏc số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà nội, ngày 15 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà
Trang 2MỤC LỤCLỜI CAM ĐOAN
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 Bộ VHTTDL Bộ Văn Hóa Thể Thao & Du lịch
3 WEF Diễn đàn Kinh tế thế giới
4 ADB Ngân hàng phát triển châu Á
5 JICA Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
6 Bộ GD – ĐT Bộ Giáo dục & Đào tạo
8 ĐH – CĐ Đại học – Cao đẳng
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam qua các nămError: Reference source
not found
BẢNG:
Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa trình độ văn hóa của người chủ gia đình và tỷ
lệ đi du lịch Error: Reference source not foundBảng 1.2: Một số nhà nhà nghỉ và khách sạn ở chùa Hương Error:
Reference source not foundBảng 1.3: Số lượt khách đến chùa Hương các nămError: Reference source
not found
HèNH:
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm gần đây, du lịch văn hóa đã trở thành xu hướng phát triển của du lịch thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Việt Nam vốn là nước có nhiều di sản văn hóa, trong đó có 10 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận (cả di sản văn hóa vật thể và
di sản văn hóa phi vật thể), hơn 3000 di tích cấp quốc gia cùng với nhiều lễ hội và làng nghề truyền thống Đây là điểm rất thuận lợi để phát triển du lịch văn hóa Nắm bắt được cơ hội đó, nước ta đang tập trung vào phát triển loại hình du lịch này và đang từng bước đưa nó trở thành mũi nhọn của du lịch Việt Nam
Nhưng khi du lịch phát triển quá nhanh cùng với quản lý yếu kém thì sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, xâm hại đến di sản đồng thời làm đảo lộn cuộc sống của người dân địa phương, mà rõ ràng nhất là ô nhiễm môi trường
Vấn đề đặt ra là phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng một cách bền vững, tức là phát triển mà không làm tổn hại đến sự phát triển của thế hệ sau
Chùa Hương chưa được công nhận là di sản thế giới nhưng giá trị cảnh quan, giá trị văn hóa của nó đã và đang thu hút đông đảo du khách gần xa, kể
cả người nước ngoài Theo con số thống kê về số lượt khách và doanh thu thì
du lịch văn hóa chùa Hương đang ngày càng phát triển Nhưng song song với việc phát triển thì những bất cập đã tồn tại nhiều năm nay chưa được giải quyết triệt để đã tác động xấu đến di tích cũng như cuộc sống của người dân Đây là vấn đề đang làm đau đầu các nhà quản lý
Trang 6Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài “ Phát triển du lịch văn hóa ở chùa Hương theo hướng bền vững” Với đề tài này, tác giả muốn đi sâu
phân tích thực trạng phát triển du lịch ở một điểm đến cụ thể
Mục tiêu của đề tài
Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả có cơ hội tiếp xúc với nhiều tài liệu giúp tăng vốn hiểu biết về thực tế phát triển du lịch văn hóa ở một địa phương, sau khi đã nắm được lý thuyết khi học tại trường
Hơn nữa, đứng trên giác độ một người làm du lịch, tác giả mong muốn đưa ra được những giải pháp hiệu quả nhằm phát triển du lịch văn hóa chùa Hương theo hướng bền vững
Nghiên cứu đề tài này, tác giả sẽ đi trả lời câu hỏi: “ Mức độ phát triển bền vững của du lịch văn hóa chùa Hương như thế nào? Có những giải pháp nào để thục hiện phát triển du lịch văn há ở chùa Hương một cách bền vững?”
Để trả lời câu hỏi trên, tác giả nghiên cứu đề tài theo kết cấu 2 chương:
Chương 1: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở chùa Hương.
Chương 2: Giải pháp phát triển du lịch văn hóa ở chùa Hương theo
hướng bền vững.
Trang 7CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH VĂN HÓA Ở CHÙA HƯƠNG
1.1 Xu hướng phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Trên thế giới
Từ trước tới nay, văn hóa là một phần không thể thiếu đối với hoạt động
du lịch và trong xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra khắp nơi trên thế giới thì văn hóa lại càng là yếu tố cần thiết cho sự phát triển du lịch Hay nói cách khác, văn hóa và du lịch đang trong tiến trình hội tụ một cách tự nhiên, như một quy luật phát triển tất yếu Từ đó, du lịch văn hóa ngày càng phát triển
Có thể định nghĩa du lịch văn hóa như sau : “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” (theo Tổng cục
du lịch – Bộ VHTTDL)
Ngày nay, khi kinh tế ngày càng phát triển, cuộc sống của con người ngày càng tốt hơn thì nhu cầu tìm hiểu về những giá trị văn hóa của nhân loại càng tăng lên Vì vậy bên cạnh du lịch tham quan, du lịch mạo hiểm…
du lịch văn hóa hiện trở thành xu hướng của nhiều nước, đặc biệt đối với các nước đang phát triển
Như đó nờu ở trên thì du lịch văn hóa giúp du khách hiểu hơn về những giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc của cộng đồng địa phương tại điểm đến Nên
du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng
Những di tích, di sản, lễ hội truyền thống độc đáo đang ngày càng thu hút du khách đặc biệt là những khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, trong đú có bộ phận không nhỏ
Trang 8là giới trẻ Có thể thấy du lịch văn hóa đang ngày càng chiếm ưu thế và có chỗ đứng vững trong du lịch thế giới.
Vì dựa vào các sản phẩm văn hóa, lễ hội truyền thống nên phần lớn hoạt động du lịch văn hóa diễn ra ở các địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và sản phẩm văn hóa Khi xã hội ngày càng phát triển thì một phần truyền thống xa xưa bị mai một theo thời gian Những nơi còn lưu giữ lại được những giá trị đú thỡ cũng là nơi tồn tại đúi nghốo và lạc hậu Du lịch văn hóa phát triển có tác động tích cực trong việc cải thiện cuộc sống người dân nơi đó Như vậy, vai trò của du lịch văn hóa là góp phần thu ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo, cân bằng xã hội
Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phần lớn thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch, nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội Những quốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa chủ yếu là các nước châu Á: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ
1.1.2 Ở Việt Nam
Việt Nam là một đất nước đang phát triển, nền kinh tế còn yếu GDP năm
2011 của Việt Nam đạt 122 tỷ USD tương đương 1.300 USD/người/năm1
, với con số này Việt Nam đang bước vào ngưỡng thu nhập trung bình của thế giới Cũng theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2011 – 2012 của WEF, Việt Nam xếp thứ 65 trong tổng số 142 nước khảo sát, tụt 6 bậc so với năm 2010 Tình hình lạm phát tăng cao đạt mức 2 con số Bên cạnh đó, theo số liệu của Tổng cục Thống kê CPI năm 2011 của Việt Nam cũng tăng 18,13%
1 http://tamnhin.net/Diemnhin/17344/2011-Tang-truong-GDP-Viet-Nam-kha-cao-so-voi-toan-cau.html
Trang 9Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam qua các năm
Nguồn: ADB
Kinh tế Việt Nam đang từng bước phát triển, tuy nhiên vẫn chỉ là một nền kinh tế nhỏ và tồn tại nhiều yếu kém Mặc dù vậy, Việt Nam lại là một đất nước giàu truyền thống văn hóa nên rất thích hợp phát triển du lịch văn hóa, một xu hướng du lịch hiện nay vì phát triển du lịch văn hóa không yêu cầu vốn đầu tư lớn
Anh Kenneth Messer, một du khách người Hà Lan nói: “Đến Việt Nam, chúng tôi không muốn nghe lại những bản nhạc hay ăn những món ăn của đất nước mình Khi đi du lịch, chúng tôi muốn tìm hiểu, được nghe, được tận mắt nhìn thấy, nếm thử, được trải nghiệm những gì chúng tôi chưa biết Chúng tôi muốn được hòa mình trong một không gian đậm chất Việt, của cảnh sắc và văn hóa Việt Nam”.2 Có thể thấy loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của nước ta, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia Vì vậy đây được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam
2
Trang 10Việt Nam là một đất nước không những giàu truyền thống văn hóa lâu đời mà các di sản văn hóa cũng nhiều vô kể, trong đú có 10 di sản văn hóa thế giới (5 di sản văn hóa vật thể và 5 di sản văn hóa phi vật thể):
+ Quần thể di tích cố đô Huế Cố đô Huế là kinh đô của Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802 – 1945), tọa lạc ngay bên bờ bắc dòng sông Hương thơ mộng, lấy núi Ngự Bình làm tiền án và hai đảo nỏ trên sông Hương là cồn Hến và cồn Dó Viờn làm thành thế “rồng chầu hổ phục” Nơi đõy cũn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, sự kết tinh của trí tuệ và tâm hồn người Việt Nét nổi bật của kinh thành Huế là về kiến trúc Sự kết hợp giữa thuyết âm dương ngũ hành của phương Đông với kiến trúc phương Tây kiểu Vauban đã tạo điểm nhấn khác biệt so với các kinh thành khác của Việt Nam Kinh thành Huế giống như một thành lũy có khả năng phòng ngự tốt Bên trong là một hệ thống các công trình kiến trúc liên quan chặt chẽ Các công trình trong kinh thành Huế đều có điểm chung là mái thẳng, đường nét thanh nhã, không nặng
nề Sự hài hòa giữa kiến trúc và tạo hình thời Nguyễn phản ánh mối giao hòa tâm lý “Thiờn - Địa - Nhõn” sâu sắc của người Huế Đến với kinh thành Huế,
du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp kiến trúc của các công trình ở đây mà còn được nghe, được thấy, được cảm nhận sâu sắc về tư tưởng của triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, một thời đại chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây
Trang 11Hình 1.1: Cổng Ngọ Môn - Kinh thành Huế
Nguồn: http://tintuc.codo.info
Năm 1993, quần thể di tích Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là
Di sản văn hóa thế giới
+ Khu di tích đền tháp Mỹ Sơn Khu di tích Mỹ Sơn được một học giả người Pháp tên M.C Paris khám phá ra năm 1898 tại thung lung Mỹ Sơn, xã Duy Phú, Duy Xuyên, Quảng Nam Đây là khu vực đền tháp của người Chăm
cổ, là một quần thể gồm hơn 70 ngôi đền tháp và giống như một bảo tàng ngoài trời về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của dân tộc Chăm Hệ thống đền đài được kiờn trỳc rất độc đáo, đặc biệt là nghệ thuật điêu khắc trên gạch đã đạt đến độ tinh tế Mặt ngoài của cỏc ngụi đền tháp được quét lên một lớp chất bảo vệ đặc biệt nên đã trải qua hơn chục thế kỷ mà vẫn sáng đẹp, không
hề bị rêu mốc Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra đó là chất gì Có thể thấy người Chăm cổ sống cách chúng ta mười mấy thế kỷ đã rất hiểu biết
về kiến trúc, điêu khắc, xây dựng mà giờ đây chúng ta vẫn cần tìm hiểu và học hỏi Đến với Mỹ Sơn, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc tuyệt đẹp mà còn được khám phá những quan niệm, tư tưởng của người Chăm xa xưa về vũ trụ, về các đấng thần linh, về con người, trong đó nổi bật là tín ngưỡng phồn thực, thờ Linga và Yoni Đây được coi là
Trang 12một trong những trung tâm đền đài chính của đạo Hindu (Ấn Độ giáo) ở khu vực Đông Nam Á Ở Việt Nam không có di sản thứ 2 thuộc thể loại này Vì vậy, chúng ta cần bảo tồn, lưu giữ và phát triển để di tích mãi tồn tại cho đời sau
18 đã từng là một thương cảng rất thịnh vương, trung tâm buôn bán lớn của khu vực Đông Nam Á, thu hút nhiều thương nhân các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hà Lan… Đường giao thông ngang dọc cắt nhau tạo thành các ô vuông giống như bàn cờ, thuận tiện cho việc đi lại, chuyên chở hàng húa Cỏc đô thị thương nghiệp ở phương Đông thời Trung đại rất ưa chuộng kiểu kiến trúc đường xá này
Trang 13Hình 1.3: Phong cảnh phố cổ Hội An
Nguồn: http://y ourhoian.com/
Đã từng là trung tâm Phật giáo của đàng Trong nên tuy là thương cảng nhưng ở đây có nhiều đền, chùa, miếu Các công trình này có kiến trúc khá đơn giả, thường là ba gian, gian chính giữa là nơi thờ cúng Nhà thờ họ cũng
là nét văn hóa phổ biến ở khu đô thị này Nhà thờ họ có bố cục, kết cấu chặt
Trang 14chẽ gồm sân, tường rào, nhà chính, nhà phụ Nhà ở lại được kiến trúc theo kiểu nhà ống đô thị, chia ba phần: không gian buôn bán, không gian sinh hoạt
Năm 1999, phố cổ Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới
+ Hoàng thành Thăng Long Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long -
Hà Nội bao gồm Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và Thành cổ Hà Nội Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội chứa đựng những giá trị nổi bật toàn cầu thông qua ba điểm: “Chiều dài lịch sử văn hóa; Tính liên tục với tư cách là một trung tâm quyền lực, và Các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú” 3 Đây là kinh thành được xây dựng với sự kết hợp hài hòa giữa
cá giá trị nhân văn, kiến trúc, điêu khắc, xây dựng, quy hoạch tạo nên một công trình hết sức độc đáo
Hình 1.4: Hoàng thành Thăng Long
3 the-gioi.htm
Trang 15Hà Nội, Hoàng thành Thăng Long hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp cổ kính và bề dày truyền thống văn hóa của cư dân vùng châu thổ sông Hồng.
Năm 2010, Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới
+ Thành nhà Hồ Thành nhà Hồ là kinh đô nước Đại Ngu (quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ), nằm trên địa phận nay thuộc tỉnh Thanh Hóa Khác với những kinh thành khác của Việt Nam, thành nhà Hồ có kiến trúc vô cùng độc đáo với nguyên tắc xõy đỏ bên ngoài đắp đát bên trong Thành nhà Hồ cũng không xây dựng với các đường nét cầu kỳ mà được tạo nên bởi các tảng
Trang 16đá xanh vuông vức Các tảng đá được xếp chồng lên nhau mà không cần bất
kỳ chất kết dính nào vẫn vững chắc tồn tại đến ngày nay chứng tỏ nghệ thuật ghộp đỏ thời này đã đạt trình độ cao Đây là tòa thành kiên cố vì được xây dựng bằng đá và có quy mô lớn, có giá trị và kiến trúc độc đáo nhất, duy nhất còn lại đến ngày nay ở Đông Nam Á Trên thế giới, hiện nay cũng không còn lại nhiều những công trình thành lũy bằng đá như thành nhà Hồ Đến đây, du khách có một cái nhỡn khỏc về kiến trúc thành lũy ở Viờt Nam Đường nét vuông vức tạo cảm giác chắc chắn và thành lũy này mang tính phòng thủ cao
Trang 17Hình 1.5: Thành nhà Hồ
Nguồn: http://www.vinabooking.vn
Năm 2011, thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới
+ Nhã nhạc cung đình Huế Đây được coi như một kiệt tác âm nhạc cung đình Nhã nhạc cung đình Huế yêu cầu sự hòa hợp của nhạc, hát và múa một cách tối đa đạt đến độ tinh tế Là thể loại nhạc cung đình nờn cỏc quy định rất chặt chẽ, phản ánh tính quy củ chứ không tự do như những thể loại âm nhạc khác, nội dung phản ánh tư tưởng của chế độ quân chủ Người hát nhã nhạc
ăn mặc rất lộng lẫy, sân khấu nguy nga, tráng lệ, mỗi tiết mục có rất nhiều người hát múa phụ họa cho nhau
Trang 18Hình 1.6: Một tiết mục nhã nhạc cung đình Huế
Nguồn:http://doanhnhan360.com
Nhã nhạc cung đình Huế được coi là quốc nhạc của âm nhạc Việt Nam,
có giá trị văn hóa to lớn, phản ánh tư tưởng các thời đại phong kiến Việt Nam Năm 2003, nhã nhạc cung đình Huế di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại + Không gian văn hóa cụng chiờng Tõy Nguyờn
Văn hóa cồng chiêng là đặc trưng trong sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc ở Tây Nguyờn, thể hiện tài hoa của người Tõy Nguyờn
Hình 1.7: Buổi sinh hoạt cộng đồng của người Tõy Nguyờn
Nguồn: http://doanhnhan360.com
Với tài hoa và sự khéo léo của mình, người chơi cồng chiêng tự chỉnh chiêng, tự diễn thành một dàn nhạc, tự dàn dựng cách chơi, cách trình diễn mà không qua một trường lớp nào Mỗi dàn nhạc cồng chiêng bao gồm nhiều
Trang 19người, mỗi người sử dụng một chiếc cồng hoặc chiêng nhưng phối hợp rất nhịp nhàng, nhuần nhuyễn và chuyên nghiệp tạo nên một bản nhạc đa âm, đa sắc nghe thật thú vị Người Tõy Nguyờn rất coi trọng cồng chiờng vỡ họ cho rằng mỗi chiếc cồng chiêng đều ẩn chứa một vị thần linh Cồng chiờng dựng
để giao tiếp với các đấng siêu nhiên cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu Trên đất Tõy Nguyờn, tiếng cồng chiêng vang lên báo hiệu niềm vui (lễ hội, cưới hỏi, ngày tết…) và cả nỗi buồn (ma chay) Đây là nét văn hóa không thể thiếu đối với người Tõy Nguyờn Nú phản ánh suy nghĩ, tư tưởng, quan niệm của họ về thần linh, về trời đất, cuộc sống sinh hoạt
Năm 2005, không gian văn hóa cồng chiờng Tõy Nguyờn được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại
+ Ca trù Ca trù được cho là loại hình hát đầu tiên của Việt Nam và tồn tại lâu nhất trong lịch sử Hát ca trù đòi hỏi kỹ thuật và tính chuyên nghiệp nên người hát phải được đào tạo bài bản Ca trù là loại hình mà không gian biểu diễn cần những đặc trưng riêng Người hát ca trù luôn là nữ, ngoài ra có hai người khác chơi đàn đáy và đánh trống Ca trù có nhiều thể loại từ đằm thắm trữ tình đến sử thi anh hùng, triết lý giáo huấn… Ca trù không phải là văn hóa bình dân mà lời lẽ trong bài ca thường uyên bác, mang nhiều ý nghĩa, trầm ngâm, sâu lắng Hát ca trù là nét văn hóa độc đáo riêng của Việt Nam mà không nơi nào khác có được
Trang 20Hình 1.8 Hát ca trù
Nguồn: http://doanhnhan360.com Năm 2009, ca trù được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể cuat nhân loại
+ Dân ca quan họ Bắc Ninh
Hình 1.9: Hát quan họ
Nguồn: http://www.vietnamtourism.com
Quan họ Bắc Ninh là nét văn hóa tiêu biểu của người dân vùng kinh Bắc,
là sự hòa hợp giữa nhạc, lời ca, trang phục Khác với ca trù, quan họ là hình
Trang 21thức sinh hoạt tập thể của tầng lớp người dân lao động Trong quan họ nổi bật
cú hỏt mời trầu, hát giao duyên, hát mừng bạn đến chơi nhà Hình thức của quan họ là hát đối đáp giữa các “liền anh”, “liền chị”, khi hát họ tập trung thành các “bọn nam”, “bọn nữ” Hát quan họ gắn liền với tục “kết chạ”, tức là
“bọn nam” của làng này kết bạn với “bọn nữ” của làng kia và ngược lại Dân
ca quan họ thương ca ngợi tình yêu đôi lứa hay phản ánh cuộc sống hàng ngày của người dân lao động
Năm 2009, dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
+ Hội Gióng
Hình 1.10: Hội Gióng
Nguồn: http://www.phapluatvn.vn
Hội Gióng là lễ hội tổ chức ở đền Phù Đổng, xó Phù Đổng, Gia Lâm và ở đền Súc, xó Phự Linh, Sóc Sơn, Hà Nội nhằm mô phỏng lại công cuộc đánh đuổi giặc Ân của Thỏnh Giúng và nhân dân Văn Lang Từ đó, giúp người dân hiểu thêm về hình thức chiến tranh bộ lạc thời cổ xưa, cuộc chiến với naysức mạnh toàn dân, toàn diện tất sẽ dành chiến thắng Hội Gióng được hình thành
từ xa xưa trờn vựng đồng bằng châu thổ sông Hồng và được nhân dân ở đây
Trang 22lưu truyền đến tận ngày Đây là lễ hội chứa đựng sự sáng tạo mang tầm nhân loại, thể hiện khát khao cuộc sống hòa bình, ăm no.
Năm 2010, Hội Gióng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
Việt Nam cũn cú hơn 3000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn
5000 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh, 70% trong số đó tập trung ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng 4 Riờng các di sản văn hóa phi vật thể thì không được xếp hạng (cấp quốc gia hay cấp tỉnh) mà chỉ được cấp Giấy chứng nhận
di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia
Hơn nữa cũn cú rất nhiều lễ hội, làng nghề truyền thống đậm đà bản sắc Theo thống kê của ngành văn hóa thì Việt Nam có khoảng hơn 500 lễ hội truyền thống Cũng theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam thì cả nước có 240 làng nghề truyền thống Các lễ hội và làng nghề này thể hiện truyền thống văn hóa lâu đời của Việt Nam, có lễ hội đã tồn tại hàng nghìn năm Đây là thuận lợi rất lớn để phát triển du lịch văn hóa
Nắm bắt được lợi thế này, du lịch Việt Nam đã và đang đưa ra những chiến lược nhằm phát triển du lịch văn hóa theo hướng bền vững Nhiều hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức nhằm quảng bá văn hóa cũng như du lịch Việt Nam ra thế giới: Chương trình “Con đường Di sản miền Trung” hay “Lễ hội Đất Phương Nam” Trong đó nổi bật là Festival Huế Đây là hoạt động văn hóa đặc sắc được tổ chức 2 năm 1 lần nhằm giới thiệu với du khách về những lễ hội dân gian truyền thống của miền Trung, đặc biệt là giới thiệu về Nhã nhạc cung đình Huế - một di sản phi vật thể hay là một kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đã được UNESCO công nhận
Năm 2011, JICA và Tổng cục Du lịch Việt Nam đã đồng tổ chức hội thảo xây dựng các phương pháp tiếp cận phát triển du lịch, thông qua phát huy tối đa những giá trị văn hóa và tài nguyên cộng đồng ở Việt Nam Hội thảo quan tâm đến vấn đề làng nghề truyền thống đang dần bị mai một trong
4 http://vi.wikipedia.org
Trang 23thời kỳ kinh tế thị trường và nhận thấy cần áp dụng mô hình quản lý phù hợp
để lưu giữ và phát huy các làng nghề này Dự án mà hội thảo đưa ra nhằm góp phần thiết lập mộthệ thống quản lý du lịch cộng đồng, từ đó cũng đưa ra các giải pháp khắc phục khó khăn và hạn chế sự suy thoái của môi trường du lịch Buổi hội thảo cũng đã khởi động Dự án Hỗ trợ phát huy vai trò của cộng đồng trong phát triển bền vững tại Việt Nam qua du lịch di sản
Với nền kinh tế đang phát triển, còn nhiều hạn chế như Việt Nam thì quảng bá du lịch nên dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống chứ không nên dựa vào sự sang trọng và tiện nghi,vì so về điều đó chúng
ta không thể sánh được với nhiều nước khác, ngay cả các nước trong khu vực châu Á (Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapo ).Điều hấp dẫn du khách, gây hứng thú tìm hiểu chính là sự khác biệt về văn hóa, tín ngưỡng, phong tục tập quán
1.2 Điều kiện phát triển du lịch văn hóa ở chùa Hương
1.2.1 Khái quát về khu danh thắng Hương Sơn (chùa Hương)
Chùa Hương cách Hà Nội 62km về phía tây nam, thuộc địa bàn xã Hương Sơn - huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Theo truyền thuyết thì vùng núi này được tìm thấy cách đây hơn hai thiên niên kỷ và được đặt tên là Hương Sơn, lấy tên của một ngọn núi trong dãy núi Himalaya (Ấn Độ) Chùa Hương bắt đầu được xây dựng từ thời vua
Lê Huy Tông, niên hiệu Chớnh Hũa (1680 – 1705)
Hương Sơn (hay du khách quen gọi là chùa Hương) là một quần thể danh lam thắng cảnh và di tích nằm trên dãy núi chạy từ dãy Hoàng Liên Sơn qua Chương Mỹ (Hà Tây cũ) xuống đến Nho Quan, Ninh Bình Nơi đây, những cảnh đẹp như suối Yến, suối Giải Oan, động Tiên Sơn, động Hương Tớch…kết hợp với các công trình kiến trúc nghệ thuật do bàn tay con người xây dựng như đền Trỡnh, chựa Thiờn Trự, chựa Hương… đã tạo nên một quần thể danh thắng tuyệt đẹp Sự hòa quyện của vẻ đẹp thiên tạo cùng bàn tay xây dựng của con người là nét độc đáo, hấp dẫn du khách gần xa
Đi trẩy hội chùa Hương, du khách như đang hòa mình trong vẻ đẹp của tiên cảnh nhưng vẫn thấy vô cùng quen thuộc vì những khung cảnh ở đây gắn
Trang 24liền với nền văn hóa nông nghiệp (đàn lợn, ao bèo, nong tằm…) và còn phảng phất chút văn hóa phồn thực (nỳi Cụ, nỳi Cậu, Bầu Sữa Mẹ…).
Chùa Hương không chỉ là một danh thắng tuyệt đẹp mà còn là nét đẹp văn hóa tín ngưỡng đạo Phật của người Việt Thiên nhiên ưu ái tạo cho nơi đây phong cảnh “Sơn thủy hữu tỡnh”, để rồi con người thổi vào đó những điều linh thiêng làm cho nó trở lên huyền bí và mang đậm tính dân gian Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, du khách lại nô nức đổ về trẩy hội chùa Hương, mong muốn được thắp nén hương nên đấng siêu phàm cầu mong mọi điều tốt đẹp
Ngày nay, lễ hội chùa Hương đã trở thành một lễ hội lớn mang tầm quốc gia mà người dân Việt Nam ai ai cũng biết đến Hàng năm, nơi đây thu hút hàng triệu lượt du khách trẩy hội làm cho lễ hội chùa Hương trở thành lễ hội tâm linh diễn ra lâu nhất và có lượng khách về trẩy hội đông nhất cả nước Từ xưa đến nay, trẩy hội chùa Hương vẫn là một nét đẹp văn hóa tâm linh của người dân Việt Nam và không những nó không bị mất đi theo thời gian mà còn ngày một phát triển cùng xã hội
Chùa Hương giờ đây không là giá trị riêng của vùng miền mà nó là di tích quốc gia và cũng là tài sản của cả dân tộc Nó là nét đẹp văn hóa mà ông cha ta để lại và đã tồn tại cùng với sự phát triển tín ngưỡng đạo Phật của người dân Việt Chính vì vậy, chúng ta cần phải giữ gìn và phát huy để những giá trị này cũn mói cho muôn đời sau
1.2.2 Điều kiện chung
1.2.2.1 Thời gian rỗi
Quỹ thời gian của con người nói chung bao gồm:
- Thời gian làm việc
- Thời gian ngoài giờ làm việc: Thời gian liên quan tới thời gian làm việc (thời gian chuẩn bị quần áo, trang điểm, thời gian đi từ nhà đến nơi làm việc
và thời gian từ nơi làm việc về nhà…), thời gian làm công việc gia đình và nhu cầu sinh hoạt, thời gian thỏa mãn nhu cầu sinh lý, thời gian rỗi
(GS.TS Nguyễn Văn Đính, PGS.TS Trần Thị Minh Hoà, 2008.)
Trang 25Như vậy, con người chỉ có thể đi du lịch vào thời gian rỗi Xét một cách khái quát thì thời gian rỗi tỷ lệ thuận với nhu cầu du lịch Thời gian rỗi của con người càng nhiều thì nhu cầu đi du lịch càng cao
Từ khi luật lao động Việt Nam quy định làm việc theo ngày, 1 ngày làm việc 8 giờ đồng hồ và nghỉ 2 ngày cuối tuần thứ bảy và chủ nhật (ngày 2 – 9 – 1999), người Việt Nam có nhiều thời gian rỗi hơn để đi du lịch vào cuối tuần
Du lịch văn hóa chùa Hương là hoạt động du lịch ngắn ngày (1 hoặc 2 ngày) nờn thớch hợp vào các ngày cuối tuần Đây là một điểm khá thuận lợi của du lịch văn hóa chùa Hương nói riêng và du lịch văn hóa nói chung
Thực tế cũng cho thấy lượng khách trẩy hội chùa Hương vào các ngày cuối tuần thường đông hơn các ngày trong tuần
1.2.2.2 Mức sống về vật chất và trình độ văn hoá chung của người dân
Tương tự thời gian rỗi, yếu tố này cũng có quan hệ tỷ lệ thuận với nhu cầu
du lịch Con người muốn đi du lịch thì không chỉ cẫn có thời gian mà còn cần
có tiền Khả năng thanh toán cùng với thời gian rỗi là hai yếu tố có tiên quyết cho một quyết định đi du lịch, dù là đi xa hay gần, ngắn ngày hay dài ngày Kinh tế thế giới ngày một phát triển, mức sống của con người cũng ngày một được cải thiện, biểu hiện rõ nhất là thu nhập bình quân đầu người Theo đó, thu nhập bình quân đầu người/năm ở Việt Nam đang tăng lên và đạt 1300 USD năm 2011 (tương đương 27 triệu/năm), đang ở mức thu nhập trung bình của thế giới
Nói về du lịch văn hóa chùa Hương thỡ đõy không phải là một chương trình du lịch tốn kém Thường kéo dài 2 ngày và chi phí không cao nên không
bị ảnh hưởng nhiều bởi khả năng thanh toán
Trình độ văn hóa của một dân tộc càng cao thì động cơ đi du lịch của người dân tăng lên rõ rệt Đồng thời, có trình độ văn hóa cao thì sẽ có lòng ham hiểu biết, ham học hỏi dần dần sẽ hình thành thói quen du lịch
Theo Robert W Meintosh thì trình độ văn hóa của người chủ gia đình và
tỷ lệ đi du lịch có mối quan hệ nhất định:
Trang 26Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa trình độ văn hóa của người chủ gia đình và tỷ
(Nguồn: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hoà, Giáo trình Kinh tế du lịch - NXB
Đại học Kinh tế Quốc dân, 2008)
Mặt khác, một đất nước mà người dân có trình độ văn hóa sẽ là một điểm đến lý tưởng bởi phong cách phục vụ văn minh
Ở Việt Nam, trình độ văn hóa chung cũn khá thấp Theo thông tin của
Bộ GD – ĐT, tháng 6/ 2010 cả nước mới hoàn thành phổ cập THCS Tuy nhiên, số học sinh THCS ngày càng giảm Ông Trần Hữu Trù – nguyên chuyên viên cao cấp của Bộ GD – ĐT cho biết từ năm học 2004 – 2005 đến năm học 2009 – 2010, cả nước giảm khoảng 1,5 triệu học sinh, trong khi dân
số nước ta vẫn tăng 1 triệu người/năm (theo báo tuổi trẻ online, chuyên mục giáo dục) Điều này chứng tỏ việc phổ cập giáo dục THCS vẫn còn nhiều lỗ hổng, chưa thực sự triệt để Hiện tại, có 200 sinh viên ĐH – CĐ/10.000 dân 5, tức là sinh viên chỉ chiếm 2% trong tổng dân số cả nước, trong khi có gần 70% dân số trong độ tuổi lao động (tuổi từ 15 – 64) 6 Theo bảng xếp hạng của Legatum Institute (một tổ chức nghiên cứu ở London), năm 2010 Việt Nam đứng thứ 82/110 nước được nghiên cứu về giáo dục Đứng ở vị trí ẳ cuối cho thấy nền giáo dục của Việt Nam còn nhiều hạn chế
5 http://www.baomoi.com/9-nam-de-nguoi-Viet-cao-them-4cm/59/6115406.epi
6 http://www.tinkinhte.com
Trang 27Ở khu di tích chùa Hương, trình độ văn hóa của người dân còn thấp, ý thức chưa cao nên ở đây thường xuyên xảy ra tình trạng mời chào, chèo kéo khách, đặc biệt là ở khu vực du khách xuống thuyền đi qua dòng suối Yến gây mất mỹ quan của khu di tích cũng như là du khách khó chịu Điều này cũng là nỗi lo ngại của nhiều người khi có ý định đi du lịch chùa Hương.
1.2.2.3 Điều kiện giao thông và sự ổn định chính trị
Để phát triển du lịch nói chung thì giao thông là một yếu tố vô cùng quan trọng Đường xá sạch đẹp, đi lại dễ dàng thì du lịch phát triển là điều tất nhiên Hiện nay, hệ thống đường xá của Việt Nam được nâng cấp cải thiện nhiều, giúp cho việc đi lại dễ dàng hơn Điểm du lịch chùa Hương cách thủ đô
Hà Nội chỉ khoảng 60km, giao thông khá thuận lợi, chạy theo quốc lộ 1A Du khách có thể đến với chùa Hương bằng ô tô, xe máy hoặc xe khách đều rất dễ dàng
Không ai muốn đến thăm quan một nơi bất ổn về chính trị Vì điều đó mang lại mối nguy hiểm cho du khách Nên sự ổn định chính trị cũng là một điều kiện cần thiết cho phát triển du lịch Theo bảng xếp hạng về mức độ yên bình do Viện Hòa bình Kinh tế tại Australia phối hợp với Đơn vị tình báo kinh
tế thực hiện, Việt Nam đứng thứ 39 trên tổng số 144 nước, được đánh giá cao
về sự thân thiện với người nước ngoài và nguy cơ xảy ra khủng bố thấp Vì vậy, chùa Hương cũng là một điểm đến yên tâm của du khách quốc tế
1.2.3 Điều kiện đặc trưng
1.2.3.1 Điều kiện về tài nguyên du lịch
- Tài nguyên thiên nhiên
Nơi đây được thiên nhiên ban tặng cho khung cảnh “kỳ sơn tú thuỷ”, có núi, có suối, có hang động tạo nên vẻ đẹp hài hòa Khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc biệt là mùa xuân rất hợp với du lịch văn hóa, lễ hội
Núi ở chùa Hương không hùng vĩ bằng nhiều dãy núi khác ở Việt Nam như đỉnh Tõy Cụn Lĩnh cao 2.419m ở phía Tây tỉnh Hà Giang, Pu Xai Lai Leng 2.711m cao nhất dãy Trường Sơn, Bạch Mộc Lương Tử 2.998m trờn
Trang 28dóy Hoàng Liên Sơn 7 Nhưng những ngọn núi này lại có vẻ đẹp kỳ thú với những tên gọi mang tính bí ẩn của thuyết phong thuỷ như: Núi Long, Ly, Quy, Phượng Ngoài ra, dân gian còn đặt tên cho núi gắn liền với đời sống con người như: Núi Ba Đài Rượu, núi Con Trăn, núi Mâm Xôi, núi Con Gà, núi Voi, núi Đổi Chèo Rồi có những cái tên rất độc đáo: núi Ngũ Nhạc có Ðền Trình tiếp đến là núi Dẹo, nỳi Phũng Sư, hang Sơn Thuỷ Hữu Tình, hang Trâu, Cầu Hội, Thung Dâu, rừng Vài và núi Nhà Lang Lóo Tỏc… Những ngôi chùa nằm sâu trong núi, khiến cho du khách muốn vào lễ chùa phải vượt suối, băng rừng
Suối ở Chùa Hương quanh co uốn lượn Đặc biệt là suối Yến mang một
vẻ đẹp hiền hoà, buông thả giữa hai triền núi, nước không chảy siết mà lững
lờ trôi, khiến cho du khách có cảm giác thật yên bình, dễ chịu Suối dài khoảng 3km, khúc thẳng, khúc quanh, cho du khách cảm giác như dòng suối này dài vô tận Vào những ngày lễ hội, suối Yến tấp lập thuyền vào ra, dòng nước đưa du khách về với cõi Phật để được nguyện cầu những điều tốt đẹp nhất cho gia đình, người thân
Ở đây còn có hệ thống hang động nằm trong núi như động Hương Tích, động Long Vân, động Hương Đài, động Tuyết Sơn… Trong đó đáng nói đến nhất là động Hương Tích Hương Tích là một động đẹp, trọng tâm của khu danh thắng Hương Sơn Tháng ba năm Canh Dần (1770), Chúa Trịnh Sâm đến thăm quan động, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp huyền diệu và đặt tên cho động
là "Nam Thiên đệ nhất động", tức là động đẹp nhất trời Nam, không đâu sánh kịp Trong động, nổi bật nhất là pho tượng Phật Bà Quan Âm Pho tượng này làm bằng đá xanh, tạc thời Tây Sơn với những đường nét tinh sảo làm toỏt lờn phong thái ung dung của Phật gia Ngoài ra, cũn cú những khối thạch nhũ nhấp nhô với nhiều hình thù mang tín ngưỡng phồn thực: Bầu Sữa Mẹ, , Đụn Gạo, đụn Tiền, Cây Vàng, Cây Bạc, Hoa Phiền Não, núi Cụ, núi Cậu
7 http://thanhvdgt1.blogspot.com/2012/02/nhung-ngon-nui-hung-vi-nhat-viet-nam.html