Có những tôn giáo, tín ngưỡng bản địa tín ngưỡng đa thần, tín ngưỡng thờ tổ tiên, đạo Cao Đài, Hòa Hảo… hòa nhập và chung sống với rất nhiều loại hình tôn giáo trên thế giới được du nhập
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
NGUYỄN THỊ THANH VÂN
TÍN NGƯỠNG THỜ PÔ NAGAR
Ở KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội – 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THANH VÂN
TÍN NGƯỠNG THỜ PÔ NAGAR
Trang 3MỤC LỤC
Dẫn luận 3
Ch-ơng 1: Các di tích Pô Nagar/thiên yana ở Khánh Hòa 12 1.1.Đôi nét về Khánh Hòa 12
1.1.1.Điều kiện tự nhiên - xã hội 12
1.1.2.Lịch sử hình thành vùng đất Khánh Hòa 14
1.2 Hệ thống di tích thờ Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa 18
1.2.1.Phân bố 18
1.2.2.Hình thức thờ tự 21
Ch-ơng 2 Pô Nagar/thiên yana trong đời sống tâm linh của ng-ời dân Khánh Hòa 44
2.1.Nguồn gốc của Pô Nagar/Thiên Yana 44
2.1.1.Nữ thần mẹ xứ sở Pô In- Nagar của ng-ời Chăm 44
2.1.2.Thánh Mẫu Thiên Y Ana của ng-ời Việt 47
2.2 Huyền thoại về Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa 51
2.2.1 Huyền thoại của ng-ời Chăm 51
2.2.2 Truyền thuyết của ng-ời Việt- Truyện bà Thiên Yana 54
2.3 Lễ hội Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa 56
2.4 Pô Nagar/Thiên Yana trong tín ng-ỡng của ng-ời dân Khánh Hòa 66
2.4.1 Tổng quan về tín ng-ỡng thờ Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa 66
2.4.2.Trong tín ng-ỡng của c- dân nông nghiệp 69
2.4.3.Đối với c- dân biển 75
2.4.4.Đối với c- dân lấy trầm 80
2.4.5 Đối với các c- dân các ngành nghề khác 85
Ch-ơng 3 Pô Nagar/Thiên Yana trong đời sống văn hóa dân gian Khánh Hòa 90
3.1.Trong văn học dân gian 90
3.2 Trong nghệ thuật âm nhạc dân gian truyền thống 95
Trang 4Ch-ơng 4 Giao thoa văn hóa Việt – Chăm nhìn từ tín
ng-ỡng thờ Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa 104
4.1.Giao thoa hóa Việt - Chăm qua tín ng-ỡng thờ Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa 104
4.1.1.Qua tên gọi 104
4.1.2.Qua huyền thoại 106
4.1.3.Qua di tích, di vật 110
4.1.4.Qua tín ng-ỡng và lễ hội 113
4.2 Sự tích hợp văn hóa ấn - Chăm - Việt trong tín ng-ỡng thờ Mẫu Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa 116
4.3 Một vài đề xuất bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của tín ng-ỡng thờ Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa 121
Kết luận 123
Tài liệu tham khảo 125
Phần Phụ lục Phụ lục 1: Danh sách ng-ời cung cấp thông tin………126
hụ lục 2: Ch-ơng trình lễ hội Tháp Bà năm 2004……… 129
Phụ lục 3: Một số truyền thuyết dân gian về Thiên Yana……… 131
Phụ lục 4: Một số nơi thờ tự Thiên Yana………139
Phụ lục 5: Thơ ca về Thiên Yana Thánh Mẫu……… 145
Phụ lục 6: Văn chầu Thiên Yana………160
Phụ lục 7: Những bài văn tế Thiên Yana………166
Phụ lục 8: ảnh minh họa……….177
Trang 5DẪN LUẬN
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tín ngưỡng, tôn giáo là một đề tài đã được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tín ngưỡng tôn giáo Có những tôn giáo, tín ngưỡng bản địa (tín ngưỡng đa thần, tín ngưỡng thờ tổ tiên, đạo Cao Đài, Hòa Hảo…) hòa nhập và chung sống với rất nhiều loại hình tôn giáo trên thế giới được du nhập vào Việt Nam như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo… Từ quá khứ cho đến hiện nay, tôn giáo tín ngưỡng có vai trò
to lớn trong đời sống tâm linh, văn hóa của nhân dân và đó cũng là một phần quan trọng kiến tạo nên văn hóa truyền thống nước ta
Các tôn giáo, tín ngưỡng được du nhập vào nước ta dù xuất phát từ phương Đông hay phương Tây đều được bản địa hóa và tích hợp yếu tố của tôn giáo và tín ngưỡng bản địa Trong quá trình tồn tại và phát triển, tự bản thân mỗi loại hình tôn giáo, tín ngưỡng lại giao thoa với nhau tạo nên sự hỗn dung tôn giáo trên mảnh đất Việt Nam
Ngày nay, tôn giáo tín ngưỡng không chỉ có ảnh hưởng đến sự phát triển văn hóa- xã hội mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh và chính trị quốc gia Về cơ bản, các tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam chung sống hòa bình, cùng hướng tới mục tiêu giúp con người sống tốt đời đẹp đạo để phát triển đất nước Trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, trong từng khu vực cụ thể, đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo nước ta cũng khác nhau, ảnh hưởng dung hòa lẫn nhau trong quá trình cộng cư trên mảnh đất đó Tiêu biểu nhất là sự cộng cư về tôn giáo giữa người Việt và người Chăm ở Khánh Hòa thông qua tín ngưỡng thờ Pô Nagar/Thiên Yana
Qua khảo sát tư liệu tôi chọn đề tài Tín ngưỡng thờ Pô Nagar ở Khánh Hòa vì:
Ý nghĩa khoa học của đề tài: Nghiên cứu tín ngưỡng thờ Pô Nagar ở Khánh Hòa góp phần làm sáng tỏ một loại hình tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam
Đồng thời góp phần làm rõ quá trình cộng sinh và đan xen văn hóa - tôn giáo của cộng đồng các dân tộc sinh sống gần nhau, tộc người đến sau thừa hưởng và phát triển thành tựu của các tộc người đã định cư trước để hình thành nên đặc trưng văn hóa của riêng mình
Trang 6Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Trong quá trình sinh sống ở Khánh Hòa, người Chăm đã để lại hệ thống di sản tôn giáo tín ngưỡng với những đền tháp, lễ hội và tín ngưỡng thờ tự Trên con đường Nam tiến và cộng cư ở đây, người Việt đã tiếp thu,
kế thừa và biến đổi tôn giáo, tín ngưỡng của người Chăm để trở thành một loại hình tín ngưỡng mang phong cách của mình Tuy vậy, nền tảng Chăm vẫn còn in đậm như tục thờ Cá Ông, thờ Pô Nagar bên cạnh những vị thần trong tín ngưỡng truyền thống Bắc Bộ Điều này đã làm cho tín ngưỡng của người Việt miền Trung có những nét tương đồng và khác biệt với người Việt ở miền Bắc
Tín ngưỡng thờ Pô Nagar ở Khánh Hòa là một điển hình cho sự tiếp biến và giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc Chăm - Việt Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các tên gọi khác nhau như Thiên Yana, Thiên Y, Thiên Y Thánh Mẫu, Pô Nagar Thiên Yana, Thiên Y Thánh Mẫu… là tên gọi phổ biến trong dân gian, còn tên gọi Pô Nagar được phiên âm từ tên Pu Inu Nugar của người Chăm Các tên gọi này đều được nhân dân trong vùng cũng như giới khoa học chấp nhận để chỉ một vị
nữ thần mà chúng tôi đề cập đến trong luận văn này
Quá trình nam tiến của người Việt và lịch sử hình thành vùng đất Khánh Hoà được nhắc đến nhiều trong các thư tịch cổ như: Đại Nam nhất thống chí, Đại
Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam thực lục chính biên, Phủ biên tạp lục, Ô châu cận lục… Sau đó, về vấn đề này được đề cập đến trong các
công trình nghiên cứu tiêu biểu của các nhà nghiên cứu như: Lương Ninh (Lịch sử
vương quốc Chămpa, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2004), Ngô Văn Doanh (Văn hóa cổ Chămpa, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002), Li Tana (Lịch sử vương quốc Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 1999), Lê Đình Phụng
Trang 7(Tìm hiểu lịch sử kiến trúc tháp Chămpa, Nxb Văn hóa-Thông tin và Viện Văn hóa,
Hà Nội, 2005), Vũ Công Quý (Văn hoá Sa Huỳnh, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 1991), Nhiều tác giả (Diện mạo văn hóa Khánh Hòa - kỷ yếu kỷ niệm 350 năm vùng
đất Khánh Hòa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005), Phan Lạc Tuyên (Góp phần tìm hiểu người Kinh Cựu ở vùng Chàm Thuận Hải, tạp chí Dân tộc học, số 3/1977)
Kỷ yếu hội thảo Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế
kỷ XVI đến thế kỷ XIX (sắp xuất bản) Những công trình này đã khái quát khá đầy
đủ về lịch sử vương quốc Chămpa, mối quan hệ giữa hai quốc gia Chămpa - Đại Việt và quá trình người Việt di cư vào vùng đất phía Nam từng bước nhảy theo thời gian Cùng với sự lớn mạnh của người Việt thì vương quốc Chămpa ngày càng thu hẹp dần và bị biến mất vào thế kỷ XVII Người Chăm đã để lại nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo mà ngày nay người Việt thừa hưởng và tiếp tục sử dụng Qua nguồn tư liệu trong các công trình đó cho ta hình dung một cách khái quát lịch sử hình thành vùng đất Khánh Hòa và quá trình người Việt định cư tại đây
Về tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam: Có thế khẳng định Thánh
Mẫu tối thượng ở miền Trung là Bà Thiên Yana - vị Thần Mẫu có xuất xứ từ Nữ thần Mẹ xứ sở Pô Nagar của người Chăm Đây chính là nét riêng biệt trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở miền Trung, với cực bắc là tín ngưỡng thờ Thiên Yana ở Huế và cực Nam là tín ngưỡng thờ Thiên Yana/Pô Nagar ở Khánh Hòa Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Miền Trung đã có nhiều tác giả với những công trình nghiên cứu hay chuyên khảo khác nhau Có thể đơn cử các tác giả và các
công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Ngô Đức Thịnh (Đạo Mẫu Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2009), Nguyễn Hữu Thông (chủ biên) (Tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền
Trung Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2001), Nhiều tác giả (Văn hóa Nghệ thuật Trung Bộ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 1998), Sakaya (Lễ hội của người Chăm,
Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2003), Ngô Đức Thịnh (Bản sắc văn hóa vùng ở
Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009), Tạ Chí Đại Trường (Thần, người và đất Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004), Nhiều tác giả (trong Kỷ yếu Hội thảo
khoa học Nhận thức về miền Trung Việt Nam hành trình 10 năm nghiên cứu, Huế, tháng 7-2009), Văn Đình Hy (Từ thần thoại Pô Inu Nưgar đến Thiên Yana trong
Trang 8Những vấn đề Dân tộc học miền Nam Việt Nam, tập 2, Tp Hồ Chí Minh, 1978), Lê
Văn Hảo (Tìm hiểu quan hệ giao lưu văn hóa Việt - Chàm qua kho tàng văn học
dân gian của người Việt và người Chàm, Tạp chí Dân tộc học, số 1/1960)… Những
nghiên cứu trên phần nào đã khai quát được tín ngưỡng thờ Mẫu ở Miền Trung Việt
Nam Cuốn sách Đạo Mẫu Việt Nam của GS Ngô Đức Thịnh đã tái bản 4 lần, có bổ
xung, chỉnh lý (chúng tôi sử dụng cuốn sách xuất bản năm 2009 để cập nhật với
tình hình nghiên cứu hiện nay) đã dành trọn phần 3 để trình bày về tục Thờ Mẫu ở
miền Trung Phần này, tác giả trình bầy những dạng thức thờ Mẫu và những thần
Mẫu được thờ ở trong vùng Ngoài Thiên Yana của người Việt và Po Inu Nưgar của người Chăm là hai chủ thể thờ phụng chính của người Chăm và người Việt, mẫu ở miền trung còn thờ phụng Ngũ vị Thánh Bà (Kim , Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) , bà Thiên Hậu, bà Hậu Thổ, Tứ vị thánh nương, bà Thu Bồn (Bô Bô/Pô Pô phu nhân)… Những vị thần này có nguồn gốc khác nhau: Chăm, Hoa, Việt… nhưng xâu chuỗi những cứ liệu liên quan thì tác giả cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung được bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Nữ thần của người Chăm, đặc biệt là các nữ thần biển
Tiếp đến là công trình tiêu biểu khác nghiên cứu về Tín ngưỡng thờ Mẫu ở
miền Trung Việt Nam do Nguyễn Hữu Thông chủ biên Cuốn sách này tác giả đã đề
cập khá đầy đủ về hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung, khẳng định Thánh Mẫu Thiên Yana là tối thượng ở miền Trung và có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ Nữ thần Mẹ xứ sở Pu Inu Nugar của người Chăm Trong cuốn sách này tác giả đi sâu vào trình bày tín ngưỡng thờ Mẫu ở Trung Trung Bộ, mà điển hình là ở Huế với các hiện tượng hầu đồng và hệ thống văn chầu liên quan Mặc dù Huế là điểm cực Bắc thờ Thiên Yana nhưng Thiên Yana trong tín ngưỡng của người Việt ở đây mang tính chuyển tiếp của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam, giữa tín ngưỡng Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ của người Việt ở Bắc Bộ và tín ngưỡng thờ Mẹ xứ sở Po Inu Nugar của người Chăm Do vậy, có thể nói rằng cuốn sách này nghiên cứu tín ngưỡng thờ Thiên Yana của người Việt ở khu vực Trung Trung Bộ, điển hình là ở Huế chứ không phải là đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam nói chung
Cuốn sách Thần, người và đất Việt của tác giả Tạ Chí Đại Trường cũng đề
cập nhiều đến tín ngưỡng thờ Mẫu Thiên Yana ở miền Trung, đặc biệt là chương 7
Trang 9(Những chân trời mới cho thần linh Đại Việt) và chương VIII (Sự phối hợp thần
linh ở Đàng Trong) Cuốn sách này đề cập đến hệ thống thần linh Đại Việt, trong
đó có các thần linh Chiêm Thành trong đời sống văn hóa - tôn giáo - chính trị của
xã hội người Việt Tác giả đưa ra lý thuyết cho những chiều hướng hội tụ, tiếp biến
và phát sinh của thần linh Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Tác giả cho rằng việc thờ phụng Thiên Yana ở Đàng Trong được các chúa Nguyễn rất coi trọng là vì buổi đầu sự nghiệp chúa Nguyễn cần một sự bảo trợ của các vị thần linh bản xứ phương nam chứ không phải là sự thờ vọng của các thần linh đất Bắc ở Thăng Long
xa xôi, đồng thời cũng là phương thức hữu hiệu nhất để an ủi và thu phục những cư dân là chủ nhân của vùng đất đó Không chỉ tầng lớp vua chúa, những lưu dân Việt
ở Bắc Bộ vào đây lập nghiệp, họ cần một sự bảo trợ mới, gần gũi mà chắc chắn và
đó chính là lý do làm cho vị thần chủ của mảnh đất phương Nam Pô Inư Nưgar của người Chăm trở thành Thiên Yana của người Việt, được cả triều đình và nhân dân sùng kính, đền tháp của người Chăm trở thành cơ sở thờ tự Thánh Mẫu của người Việt với sự Việt hóa cao độ trên nền tảng Chăm bản địa Đây là một công trình rất
có giá trị để tìm hiểu về quá trình tiếp biến, giao thoa văn hóa, đặc biệt là tôn giáo, tín ngưỡng giữa người Việt và người Chăm ở miền Trung Việt Nam
Một công trình khác góp phần khắc họa tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung là
cuốn sách Lễ hội của người Chăm của tác giả Sakaya (Trương Văn Món) Công
trình này tác giả trình bày hệ thống lại những lễ hội chính của người Chăm Điểm đặc biệt trong các lễ hội lớn của người Chăm ở vùng Nam Trung Bộ hiện nay đều được tổ chức tại 3 đền tháp: đền Pô Inư Nưgar ở Hữu Đức, tháp Pô Klong Girai ở
Đô Vinh (Phan Rang) và tháp Pô Rame ở Hậu Sanh Có thể nói tín ngưỡng thờ Pô Inư Nưgar (Nữ thần mẹ xứ sở) bao trùm tất cả các lễ hội của người Chăm hiện nay qua các bài thánh ca và các nghi lễ Tuy cuốn sách này không trực tiếp nghiên cứu
về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở miền Trung nhưng có mối quan hệ mật thiết vì Thánh Mẫu Thiên Yana của người Việt có nguồn gốc từ Nữ thần Mẹ xứ sở của người Chăm Và qua đó giúp chúng ta hiểu về tín ngưỡng thờ Thiên Yana của người Việt ở vùng Nam Trung Bộ, đặc biệt là ở Khánh Hòa - nơi có ngôi đền của
Nữ thần Pô Inư Nưgar của người Chăm ở thánh địa Kauthara trước đây Điều đó tạo
Trang 10nên bản sắc văn hóa của vùng/tiểu vùng Trung và Nam Trung Bộ như cuốn sách
“Bản sắc văn hóa vùng” của GS Ngô Đức Thịnh đã đề cập
Cuộc hội thảo khoa học gần đây nhất do Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam,
phân viện tại Huế tổ chức vào tháng 7-2009 với chủ đề “Nhận thức về miền Trung
Việt Nam - hành trình 10 năm nghiên cứu” có nhiều bài viết về tín ngưỡng thờ Mẫu
ở miền Trung, sự tiếp biến văn hóa Việt - Chăm qua tín ngưỡng, tôn giáo Tiêu biểu
là bài viết của các tác giả như Lê Đình Hùng (Tiếp biến văn hoá Việt - Chiêm trên
vùng Thuận Hóa qua dấu ấn danh xưng của một vị nữ thần), Nguyễn Hữu Thông -
Lê Đình Hùng (Cư dân vùng Thuận Hóa đầu thế kỷ XV qua văn bản Thủy Thiên), Trần Đình Hằng (Của người, của ta: Thần điện làng Việt miền Trung)… Qua
những bài viết trên, các tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu quá trình di cư của người Việt vào phương nam và quá trình Việt hóa các thần linh, linh vật và cơ sở thờ tự của người Chàm, đặc biệt là nữ thần Pô Inư Nưgar với nhiều danh xưng khác nhau,
mà cho đến hiện nay người Việt vẫn đang thờ phụng như Bà Lồi, Bà Dàng, Man Nương, Thai Dương…) nhưng thống nhất và xuyên suốt với tên gọi là Thiên Yana Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là những bài nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Thiên Yana ở vùng Trung Trung Bộ, mà đó chỉ là một tiểu vùng thờ Thiên Yana với những đặc trưng riêng trên mẫu số chung là tín ngưỡng thờ Thiên Yana ở miền Trung Việt Nam
Về tín ngưỡng thờ Pô Nagar ở Khánh Hòa: Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ
Pô Nagar ở Khánh Hòa cũng đã được đề cập trên nhiều phương diện với các công
trình tiêu biểu của các tác giả như: H Pamentier (Thống kê khảo ta các di tích
Chàm ở Trung Kỳ trong đó có bài Đền thờ Pô Nagar ở Nha Trang công bố năm
1902), Lê Quang Nghiêm (Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa, giải nhất biên khảo 1069, Trung tâm Văn bút Việt Nam, 1970), Quách Tấn (Xứ Trầm hương, Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa, Nha Trang, 2002), Lê Đình Chi (Lễ hội Tháp Bà
Nha Trang, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1998), Nguyễn Công Bằng (Tháp Bà Nha Trang, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005), Sở Văn hóa Thông tin Khánh
Hòa (Tục thờ Thiên Y Thánh Mẫu ở Khánh Hòa, Đề tài khoa học năm 2004), Sở Văn hóa Thông tin Khánh Hòa (Những tục thờ và lễ hội tiêu biểu của Khánh Hòa,
Trang 11Nha Trang xuất bản, 2005), Nhiều tác giả Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn hóa truyền
thống Khánh Hòa 350 năm, Nxb Chính trị Quốc gia, 2005), Nguyễn Đình Tư (Non nước Khánh Hòa, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2003), Ngô Văn Doanh (Tháp bà Thiên Yana - Hành trình của một nữ thần, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2009,) và một số
công trình nghiên cứu đã xuất bản, các bài tạp chí khác…
Các công trình nghiên cứu, biên khảo trên đã phần nào khắc họa được tín ngưỡng thờ Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa và cũng là đặc trưng của tín
ngưỡng thờ Thiên Yana ở vùng Nam Trung Bộ Việt Nam Cuốn sách Tục thờ cúng
của ngư phủ Khánh Hòa của tác giả Lê Quang Nghiêm đã khắc họa chi tiết về tục
thờ cúng của ngư dân Khánh Hòa khi hoạt động mưu sinh trên biển, đặc biệt là tín ngưỡng của họ đối với những thần linh của người Chàm mà Pô Nagar với hiện thân
là Bà Chúa Đảo/ Bà Chúa Xứ/Bà Lỗ Lường, … Trong công trình này, tác giả còn biên khảo những tập tục của ngư phủ Khánh Hòa đã từng tồn tại nhưng được bãi bỏ
từ lâu và những tập tục mà hiện tại ngư phủ còn thực hành nhằm khắc họa quá trình thờ phụng nữ thần Thiên Yana của ngư phủ nơi đây
Một công trình biên khảo khác cũng đề cập đến đặc trưng tín ngưỡng thờ
Thiên Yana là cuốn “Xứ trầm hương” của tác giả Quách Tấn Tuy không nhiều
nhưng tác giả cũng khắc họa những nét đặc trưng nhất của tín ngưỡng thờ Thiên Yana ở đây có nguồn gốc từ người Chiêm Thành với biểu hiện rõ nét nhất còn truyền lại là tục múa bóng trong lễ hội Tháp Bà ở Nha Trang Và nghệ thuật múa bóng đó cũng là do người Chiêm Thành truyền lại
Cuốn sách Tháp Bà Nha Trang của tác giả Nguyễn Công Bằng và Lễ hội
Tháp Bà Nha Trang của Lê Đình Chi là hai công trình chuyên khảo và nghiên cứu
về tín ngưỡng thờ Pô Nagar/Thiên Yana trên lĩnh vực di tích và lễ hội một cách chi tiết với những giá trị văn hóa lễ hội, kiến trúc, điêu khắc tiêu biểu tại cụm di tích Tháp Bà ở Nha Trang Tuy nhiên, đây chỉ là một địa điểm tiêu biểu của tín ngưỡng thờ Pô Nagar ở Khánh Hòa
Tín ngưỡng thờ Pô Nagar ở Khánh Hòa còn được trình bày trong Tục thờ
Thiên Y Thánh Mẫu ở Khánh Hòa, Những tục thờ và lễ hội tiêu biểu của Khánh Hòa, Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống Khánh Hòa 350 năm… Trong
Trang 12những công trình này các tác giả tập trung vào trình bày tín ngưỡng thờ Pô Nagar ở Khánh Hòa trên những phương diện khác nhau Tuy nhiên, đây chỉ là những bài viết ngắn, lẻ tẻ, chủ yếu đi sâu vào phần khảo tả từng di tích và lễ hội cụ thể, chưa
đi sâu nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Pô Nagar của người Việt ở Khánh Hòa và mối quan hệ với các dân tộc khác ở vùng phụ cận (đặc biệt là về tín ngưỡng, lễ hội của người Chăm) để thấy được quá trình kế thừa, tiếp biến và giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc Việt - Chăm ở Khánh Hòa nói riêng và ở Việt Nam nói chung
Một công trình xuất bản gần đây nhất về tín ngưỡng thờ Pô Nagar ở Khánh
Hòa là cuốn sách Tháp bà Thiên Yana - Hành trình của một nữ thần của tác giả Ngô
Văn Doanh Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu, biên khảo về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật múa bóng dân gian ở Tháp Bà, những tư liệu bia ký cổ về hành trạng của vị nữ thần chủ của xứ Kauthara ở Nha Trang, hành trình tiếp biến của một vị nữ thần từ nữ thần mẹ Devi của Hindu giáo đên Pô Nagar của người Chăm rồi Thiên Yana của người Việt Tác giả cũng đề cập đến những truyền thuyết
về Pô Nagar của người Chăm và người Việt, một số cơ sở thờ tự Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa và tín ngưỡng thờ phụng của cư dân ở Khánh Hòa Đây là một công trình nghiên cứu rất có giá trị để tìm hiểu về nghệ thuật Champa và tín ngưỡng thờ Pô Nagar ở Khánh Hòa nhưng đó chỉ là một vài địa điểm tiêu biểu mà chưa phải
là công trình khái quát một cách đầy đủ tín ngưỡng thờ Bà ở Khánh Hòa
Đề tài Tín ngưỡng thờ Pô Nagar ở Khánh Hòa sẽ góp thêm phần tư liệu
nhằm làm rõ hơn và toàn diện hơn tín ngưỡng thờ Thiên Yana trong vùng, đồng thời làm rõ những ảnh hưởng của văn hóa Chăm đối với người Việt ở Khánh Hòa
và dải đất miền Trung hiện nay trên lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng
Trang 13tộc và những tinh hoa văn hóa truyền thống để phát triển đất nước đa dạng và bền vững hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Tỉnh Khánh Hòa và liên hệ với một số vùng lân cận
+ Thời gian: Quá khứ và hiện tại (chủ yếu là hiện tại)
5 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận:
- Tiếp cận nhân học: Nghiên cứu tín ngưỡng thờ Pô Nagar với tư cách là tín ngưỡng chủ đạo trong mối quan hệ với các loại hình tôn giáo, tín ngưỡng ở Khánh Hòa
- Tiếp cận sử học
Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các lý thuyết nghiên cứu tôn giáo tín ngưỡng, giao thoa và tiếp biến tôn giáo, tín ngưỡng, lý thuyết nghiên cứu về vùng văn hóa và hội tụ, giao thoa văn hóa
- Phương pháp điền dã dân tộc học: phỏng vấn, điều tra hồi cố, thu thập thông tin và điền dã thực địa
Nguồn tư liệu thực hiện đề tài
- Chủ yếu là tư liệu thu được trong quá trình điền dã tại Khánh Hòa
- Thu thập, sử lý các tư liệu lịch sử, văn hoá, xã hội có liên quan
6 Đóng góp của đề tài
- Nghiên cứu hệ thống về tín ngưỡng thờ Pô Nagar góp thêm tư liệu để nghiên cứu một loại hình tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam
- Góp thêm tư liệu về quá trình giao thoa và tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc
ở Việt Nam, đặc biệt là hai dân tộc Việt - Chăm
- Phác họa và góp thêm ý kiến, đề xuất khoa học cho việc sưu tầm, nghiên cứu, giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân gian được biểu hiện qua tín ngưỡng thờ Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa trong sự nghiệp phát triển
Trang 14chung của tỉnh và định hướng phát triển bền vững khối đại đoàn kết các dân
tộc Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG 1: CÁC DI TÍCH PÔ NAGAR/THIÊN YANA Ở KHÁNH HÕA 1.1.Đôi nét về Khánh Hòa
1.1.1.Điều kiện tự nhiên - xã hội
Khánh Hoà là một tỉnh nằm ở cực Nam Trung Bộ, có diện tích 4626km2 Nằm
ở vị trí giữa vĩ tuyến 11 và 13 vĩ độ Bắc, có phần đất nhô ra biển Đông xa nhất nước
ta Phía Đông giáp biển Thái Bình Dương, điểm cực Đông phần đất liền 109
027’55’’ Phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, điểm cực Nam 11 042’55’’ Phía Tây giáp Đắc Lắc, Lâm Đồng, dựa vào dãy Trường Sơn trùng điệp, điểm cực Tây
108040’33’’ độ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên 12052’vĩ độ Bắc Nằm ở vị trí cửa ngõ của các tỉnh Tây Nguyên, án ngữ trên trục đường Quốc lộ 1A, cùng với bán đảo Cam Ranh và quần đảo Trường Sa, Khánh Hoà có một vị trí chiến lược đặc biệt về kinh tế cũng như quốc phòng của Việt Nam
Nằm trong vùng nội chí tuyến nên Khánh Hoà có khí hậu nhiệt đới gió mùa Trời nắng gắt nhưng có gió nồm mang hơi nước từ biển nên không khí khá dễ chịu Thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 2209 đến 3203; mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 12, nhiệt độ trung bình từ
2205 đến 2906 Do đó số ngày nắng trong năm rất lớn (khoảng 2.600 giờ)
Khánh Hoà nằm ở đoạn cuối của dải Trường Sơn Nam, có chiều nghiêng theo hướng Tây - Đông Địa hình núi và bán sơn địa chiếm 3/4 diện tích và được chia làm 3 vùng chính: vùng núi, vùng đồng bằng, vùng ven biển và các đảo Cấu tạo địa chất chủ yếu là đá Granit và Rionit, Đaxit có nguồn gốc Mắcma xâm nhập hoặc phún xuất kiểu mới Ngoài ra còn một số loại đá cát, đá trầm tích ở một số nơi
Trang 15Về địa hình kiến tạo, đất Khánh Hoà được hình thành rất sớm, là một bộ phận thuộc rìa phía Đông - Nam của địa khối cổ Kon Tum, nổi lên khỏi mặt nước biển từ cách đây khoảng 570 triệu năm Do quá trình phong hoá vật lý học diễn ra trên nền đá Granit, Rionit đã tạo thành những hình dạng độc đáo, rất đa dạng, phong phú, tạo cho thiên nhiên Khánh Hoà có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng
Sông ngòi ở Khánh Hoà nhìn chung ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40 con sông dài từ 10km trở lên, tạo thành một mạng lưới sông phân bố khá dày Hầu hết các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía Tây trong tỉnh và chảy xuống biển Đông Dọc bờ biển, cách khoảng 5 - 7km có một cửa sông Rừng ờ đây chiếm 75% diện tích tự nhiên toàn tỉnh với 274.000ha thuộc nhiều loại: rừng nhiệt đới, rừng á đới, rừng thưa… có trữ lượng lớn, trong đó có những loại cây quý hiếm có giá trị kinh tế cao
Do bị một số dãy núi phân cắt nên địa hình đồng bằng Khánh Hoà chia làm 3 vùng rõ rệt: Đồng bằng Vạn Ninh - Ninh Hoà có diện tích khoảng 200km2, độ cao tuyệt đối 5 - 15m, bề mặt địa hình nghiêng về phía Đông Nam Đồng bằng Diên Khánh - Nha Trang có diện tích gần 300km2, phần phía Tây dọc sông Chò từ Khánh Bình đến Diên Đồng bị bóc mòn, độ cao tuyệt đối 10 - 20m, phần phía đông là địa hình tích tụ, có độ cao tuyệt đối dưới 10m, bề mặt địa hình bị phân cắt mạnh bởi các dòng chảy Đồng bằng Cam Ranh có diện tích khoảng 200km2, bằng phẳng, ít phân cách, độ cao tăng dần về phía Tây từ 20 - 30m
Biển Khánh Hoà có độ cao và khúc khuỷu nhất Việt Nam Bờ biển Khánh Hoà thuộc dạng bờ biển trẻ, quá trình xâm thực, mài mòn và bồi đắp tự nhiên phát triển mạnh Bờ biển có nhiều dạng khác nhau: bờ biển cát, bờ biển đá, bờ biển vùng vịnh và quanh các đảo Dọc bờ biển có nhiều vũng, vịnh, bãi triều, bãi cát trắng, tạo điều kiện thuận lợi để thiết lập các cảng biển, nuôi trồng thuỷ sản và phát triển du lịch
Nhìn chung Khánh Hoà là vùng đất có địa hình đa dạng, điều kiện tự nhiên phong phú thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và các hoạt động về ngư nghiệp cũng như chế biến hải sản, cho nên trong lịch sử phát triển của mình, các nhóm người cổ đã sớm có mặt và sinh sống ở đây Điều kiện đó đã có những tác
Trang 16động tích cực trong việc tạo cho Khánh Hoà có những nét văn hoá mang sắc thái riêng trong diễn trình lịch sử văn hoá dân tộc
Khánh Hoà cũng như các tỉnh miền Nam Trung Bộ khác, có nhiều tộc người
và đa dạng văn hoá Các tộc người ở Khánh Hoà thuộc hai ngữ hệ: Mã Lai - Đa Đảo (Indonexia) hay Nam Đảo gốc biển và Nam Á gốc đồi núi
Dựa trên những đặc điểm về địa lý tự nhiên, từ lâu mảnh đất này luôn được coi là một tiểu vùng của vùng văn hoá duyên hải nước ta, với những đặc trưng của văn hoá rừng núi, văn hoá đồng bằng văn hoá biển - đảo, vừa có nét chung của nền văn hoá Việt Nam, vừa mang bản sắc riêng biệt độc đáo của từng vùng đất Hiện nay, dân số ở Khánh Hoà xấp xỉ một triệu người, bao gồm người Kinh và các dân tộc anh em là Raglai, Ê đê, Trins… cùng đoàn kết chung sống từ nhiều đời nay và chính họ là chủ nhân đích thực của các nền văn hoá tiêu biểu (Nguyễn Văn Khánh, 2003)
Do đặc điểm cấu tạo địa hình rừng núi - đồng bằng nên các tộc người phân bố cũng theo đặc điểm đó Người Raglai, Giẻ Triêng, Ê đê…đại bộ phận phân bố ở các huyện miền núi, người Kinh, người Hoa chủ yếu sống ở đồng bằng, thành phố và thị trấn Tuy ngôn ngữ, tiếng nói có khác nhau song họ đã tạo nên một nền văn hoá vật thể (tangible) và phi vật thể (intangible) hết sức đa dang, tiêu biểu và đặc sắc
Nó được biểu hiện và bảo tồn dưới nhiều dạng trong đời sống xã hội như: nghệ thuật, tín ngưỡng, tôn giáo, ngành nghề truyền thống, lễ hội Đặc biệt, những di vật khảo cổ trong các di tích, di chỉ khảo cổ học thể hiện rõ những văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, tồn tại trong suốt thời gian và không gian của lịch sử
1.1.2.Lịch sử hình thành vùng đất Khánh Hòa
Theo lịch đại, vùng đất Khánh Hòa phát triển qua ba giai đoạn với ba nền văn hóa tiêu biểu nối tiếp nhau: Văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chămpa và văn hóa Việt
* Thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh:
Theo kết quả nghiên cứu của ngành Khảo cổ học thì vùng Duyên hải Trung
và Nam Trung Bộ là địa bàn phân bố của nền văn hóa cổ Sa Huỳnh phát triển từ
Trang 17giai đoạn Xóm Cồn (Sơ kỳ kim khí) đến giai đoạn Hòa Diêm (Sơ kỳ sắt) Đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh (ở Khánh Hòa và Nam Trung Bộ nói chung) là phát triển của
mộ chum hình cầu với nhiều dạng táng thức khác nhau (hung táng, hỏa táng…), đồ gốm, đồ trang sức… Vào thời kỳ này, vùng đất Khánh Hòa rất thuận lợi cho các tộc người cổ sinh sống với nhiều hình thức kinh tế Với lịch sử cả ngàn năm, các nhóm cư dân cổ nói trên đã có những đóng góp quan trọng cho diễn trình phát triển của lịch sử, văn hóa trong các giai đoạn về sau, cụ thể và trực tiếp là nền văn hóa Chămpa
*Thời kỳ Chămpa:
Qua những tư liệu về Khảo cổ học, Lịch sử, Dân tộc học … cho thấy trên địa bàn phân bố của văn hóa Sa Huỳnh có các bộ tộc, mà trong truyền thuyết của người Chăm còn nhắc đến là bộ tộc Cau và Dừa là hai bộ tộc chủ yếu lập nên vương quốc Chămpa sau này Bộ lạc Cau (Kramuka - Vamsa) cư trú ở vùng Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và bộ tộc Dừa (Narikela-Vamsa) cư trú từ vùng Quảng Bình đến Phú Yên hiện nay Bên cạnh đó, họ cũng có quan hệ với các cư dân vùng đồng bằng ven biển phía Bắc, phía Nam và cả Tây Nguyên Do địa hình miền Trung bị chia cắt nên ban đầu trong vùng đã hình thành các tiểu quốc nhỏ
Tên gọi quốc gia là Chămpa chính thức được xuất hiện trong bia của một ông vua có tên gọi là Sambhuvarman (595-629) Vương quốc cổ Chămpa được hình thành và phát triển trên cơ sở sáp nhập một số tiểu quốc thân tộc, song chủ yếu về mặt chính trị Toàn bộ đất nước được chia làm 4 quận lớn: Amaravati ở phía Bắc, Vijaya ở giữa, tiếp theo là Kauthara và Panduraga ở phía Nam Theo ý kiến của giáo sư Trần Quốc Vượng thì “Nha Trang-Khánh Hòa là vương quốc mẫu hệ Kauthara với huyền thoại nổi tiếng Nàng Trầm Hương trên núi Thiên An nay là hệ thống Tháp Bà thế kỷ XI-XIII gần cầu Bóng Nha Trang Bà theo phiên âm và phiên dịch một từ Chăm cổ sang Hán Việt tức Thiên Yana thật ra là Yangsri Po Negara -
Bà Mẹ Xứ Sở”[67, tr 27]
Ngày đầu lập quốc, trung tâm kinh tế, chính trị của vương quốc Chămpa ở miền Bắc với kinh đô là Trà Kiệu ở Quảng Nam Đến cuối thế kỷ VIII với sự ra đời của nước Hoàn Vương) và việc xây dựng Pô Nagar thì trung tâm kinh tế chính trị
Trang 18của vương quốc Chămpa chuyển dần vào phía Nam Đây là một bước chuyển biến lớn trong đời sống chính trị của vương quốc Chămpa Cuối thế kỷ IX, ưu thế chính trị lại thuộc về miền Bắc Chăm, với trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế, tôn giáo được thiết lập ở Đồng Dương (Duy Xuyên, Quảng Nam), được sử Việt và Trung Quốc gọi tên quốc gia là Chiêm Thành Đây là thời kỳ đạo Phật thịnh hành ở Chămpa nhưng các tôn giáo khác, đặc biệt là Ấn Độ giáo vẫn phát triển
Vào đầu thế kỷ XI, một vương triều mới ra đời, kinh đô được xác lập ở Bình Định (Vương triều Vijaya) và tồn tại đến thế kỷ XV Trong quá trình tồn tại, vương triều Vijaya cũng đạt được nhiều thành tựu về văn hóa nghệ thuật nhưng cũng là giai đoạn thăng trầm của lịch sử Chămpa Đặc biệt, sau năm 1971 sau khi vua Lê Thánh Tông chiếm được kinh thành Vijaya (Phật Thệ) thì vương quốc Chămpa đến đây chấm dứt trên thực tế [44, tr 182] Lúc này, người Chăm chỉ còn sinh sống trong khu vực từ Đèo Cù Mông đến Phan Rang Đến năm 1653, trong một lần đánh nhau với quân của chúa Nguyễn đang đóng ở Phú Yên, người Chămpa lại thất bại
và họ bị mất luôn vùng đất Kauthara Kể từ năm 1653 vùng đất Kauthara đã trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam hiện nay
Nguời Chăm ra đi nhưng đã để lại cho vùng đất Khánh Hòa những di sản văn hóa vô cùng quý giá Đó là những di tich đền tháp, những kinh nghiệm ngành nghề,
hệ thống tín ngưỡng dân gian và lễ hội đặc sắc
*Khánh Hòa dưới chủ quyền của người Việt
Đến năm Canh Ngọ thứ ba (1690) phủ Thái Khang được đổi thành phủ Bình Khang, đến năm Nhâm Tuất (1742) phủ Diên Ninh được đổi thành phủ Diên Khánh Đến năm Giáp Tý (1744) tổ chức hành chính trong nước được xắp xếp lại, đúc ấn quốc vương, phủ chúa gọi là điện, truy tôn vương hiệu các đời, đổi các cơ quan trực thuộc phủ chúa thành lục bộ, chia lãnh thổ thành 12 dinh, trong đó có dinh Bình Khang bao gồm hai phủ Diên Khánh và Bình Khang
Đến năm 1771, sau cuộc khởi nghĩa Tây Sơn thì đất Khánh Hòa thuộc nhà Tây Sơn Được ít lâu chúa Nguyễn sai Lê Văn Quân đem binh từ nam ra chiếm lấy thành Bình Thuận và Diên Khánh, đất Khánh Hòa lại trở về với chúa Nguyễn Sau khi thống nhất đất nước, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế đã cho thay đổi một số đơn
Trang 19vị hành chính Năm 1803, dinh Bình Khang được đổi tên là dinh Bình Hòa, phủ Bình Khang được đổi thành phủ Bình Hòa Năm Gia Long thứ 7 (1808) một cuộc cải cách hành chính rộng lớn diễn ra trên phạm vi toàn quốc, các dinh đều được đổi thành trấn, dinh Bình Hòa được đổi thành trấn Bình Hòa, quan đứng đầu dinh là Lưu thủ đổi thành Trấn thủ, có cai bộ và ký lục phụ tá
Đến năm 1831 dưới thời Minh Mạng thứ 12 phủ Bình Hòa đổi tên thành phủ Ninh Hòa Năm sau 1832 sau cuộc cải cách hành chính trong toàn quốc, các trấn đổi thành tỉnh, trấn Bình Hòa đổi thành tỉnh Khánh Hòa, đứng đầu tỉnh là viên Tổng đốc, các tỉnh nhỏ ở gần nhau thì đặt dưới sự cai quản của viên Tuần phủ Thuận Khánh Lại sáp nhập huyện Hoa Châu vào huyện Phước Điền, hạ tỉnh Khánh Hòa xuống còn 2 phủ, 4 huyện
Cũng dưới triều Minh Mạng, 12 tỉnh miền Trung được chia thành các trực kỳ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh thuộc Hữu trực kỳ; Quảng Bình, Quảng Trị thuộc Bắc trực kỳ; Phủ Thừa Thiên là kinh đô thuộc Trực Lệ; Quảng Nam, Quảng Ngãi thuộc Nam trực kỳ; Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận thuộc Tả trực kỳ Đến đầu thời Thiệu Trị và Tự Đức các thuộc của tỉnh Khánh Hòa được nâng lên thành tổng (thuộc Hạ Bạc của huyện Vĩnh Xương đổi thành tổng Xương Hạ), các thôn xóm nhỏ được kết hợp thành những thôn xã lớn Sau khi thực dân Pháp chiếm các tỉnh Nam Kỳ, triều đình Tự Đức cho đẩy mạnh công cuộc chiêu dân lập ấp, khai thác đất hoang trong các tỉnh, trong đó có tỉnh Khánh Hòa Tháng 3-1864, triều đình nhà Nguyễn cho phép tỉnh Khánh Hòa thành lập đội quân Thiên thiện (gồm những
tù phạm trong tỉnh và các nơi phát vãng vào Khánh Hòa cho vào các thôn xã để làm
ăn sinh sống) với nhiều chính sách ưu đãi trong việc khai khẩn đất hoang
Năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) địa bàn tỉnh Khánh Hòa được mở rộng bằng cách nhập thêm huyện An Phước của phủ Ninh Thuận bị giải thể, 7 xã của huyện Tuy Phong, 2 tổng của huyện Hòa Đa tỉnh Bình Thuận sáp nhập vào huyện Vĩnh Xương Đến năm Thành Thái thứ 13 (1901) phủ Ninh Thuận được đặt thành đạo Ninh Thuận, các phần đất bị cắt trước đây được trả về cho Ninh Thuận, tỉnh Khánh Hòa chỉ còn 2 phủ và 4 huyện là phủ Diên Khánh (gồm 2 huyện Phước Điền và Vĩnh Xương), phủ Ninh Hòa (gồm hai huyện Quảng Phước và Tân Định) Dưới
Trang 20thời Duy Tân (1907-1916), một phần đất Vĩnh Xương được lập thành tổng Cam Ranh, bỏ huyện Phước Điền giao cho phủ Diên Khánh kiêm lý, bỏ huyện Ninh Phước giao cho phủ Ninh Hòa kiêm lý Lúc này Khánh Hòa chỉ còn lại 4 phủ huyện (phủ Ninh Hòa, huyện Tân Định, phủ Diên Khánh, huyện Vĩnh Xương) với 18 tổng,
247 làng, 13.578 đinh [63, tr 86]
Năm 1924 thị xã Nha Trang được thành lập Vào năm 1930-1931 chính quyền Pháp đổi huyện Tân Định thành phủ Ninh Hòa (huyện Ninh Hòa ngày nay), phủ Ninh Hòa cũ thì đổi thành huyện Vạn Ninh Năm 1944 chuyển thị xã Nha Trang lên thành thành phố Nha Trang Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính nội tỉnh, đến
1976 tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên sáp nhập vào nhau thành tỉnh Phú Khánh Quyết định của kỳ họp thứ 4 quốc hội khóa VII sáp nhập huyện Trường Sa của tỉnh Đồng Nai vào tỉnh Phú Khánh Đến kỳ họp thứ 5 quốc hội khóa VIII chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa Địa danh Khánh Hòa được tái lập, bao gồm các đơn vị hành chính: thành phố Nha Trang, các huyện Cam Ranh, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Diên Khánh, Ninh Hòa, Vạn Ninh và Trường Sa
Người Việt vào Khánh Hòa đã dần hình thành những làng mạc, lấp đầy những khoảng trống do người Chăm để lại và mang theo những giá trị văn hóa truyền thống của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ Khi đến vùng đất mới họ đã tiếp nhận văn hóa của cư dân bản địa để hình thành nên những giá trị văn hóa đặc trưng của người Việt ở vùng Nam Trung Bộ
1.2 Hệ thống di tích thờ Pô Nagar/Thiên Yana ở Khánh Hòa
1.2.1.Phân bố
Theo Danh mục thống kê di tích năm 2002 của Trung tâm quản lý di tích và
Danh lam thắng cảnh Khánh Hòa, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có trên 600 di tích, trong đó có trên 200 di tích thờ Pô Nagar/Thiên Yana Qua các di tích có thể thấy tín ngưỡng thờ Pô Nagar/Thiên Yana là tín ngưỡng tiêu biểu nhất ở Khánh Hòa hiện nay Đây là một tín ngưỡng dân gian, bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Thần Mẹ Xứ Sở của người Chăm trên mảnh đất Kauthara xưa kia Khi người Việt sinh sống trên mảnh đất này đã tiếp thu một cách tự nguyện và thành kính tín ngưỡng thờ Mẹ Xứ
Trang 21Sở Pô Nagar của người Chăm, Việt hóa thành tín ngưỡng thờ Thiên Yana (hay Thiên Y Thánh Mẫu) của mình
Các di tích thờ Thiên Yana của người Việt được phân bố rộng khắp các huyện lỵ, đến tận các xóm làng của người Việt trên địa bàn toàn tỉnh Khánh Hòa nhưng phân bố đậm đặc nhất là ở các huyện Diên Khánh, Ninh Hòa và Thành phố Nha Trang, tiếp đến huyện Vạn Ninh, Cam Lâm và Thị xã Cam Ranh Hai huyện miền núi là Khánh Sơn và Khánh Vĩnh là địa bàn cư trú chủ yếu của các tộc người thiểu số bản địa nên mật độ phân bố các di tích thờ Thiên Yana Thánh Mẫu rất thưa thớt, chỉ tồn tại trong các làng xóm của người Việt
Ở các huyện lỵ, mật độ phân bố các cơ sở thờ tự Thiên Yana Thánh Mẫu cũng không giống nhau Tập trung đông nhất ở những địa điểm sinh sống của cư dân nông nghiệp (hầu hết các làng nông nghiệp thường có cơ sở thờ Bà), sau đó là khu vực phân bố của ngư dân, diêm dân, dân đi điệu (lấy trầm hương) và người làm nghề buôn bán Theo truyền thuyết vùng đất Diên Khánh được coi là nơi Bà giáng thế (tại Am Chúa, xã Diên Điền) nên tín ngưỡng thờ Thiên Yana tập trung với mật
độ dày đặc, hầu như làng nào cũng có miếu riêng thờ Bà hoặc phối thờ trong các
đình, chùa làng (theo Danh mục các di tích kiểm kê năm 2002 của Ban Quản lý di
tích và Danh lam thắng cảnh Khánh Hòa Ninh Hòa có 9 miếu riêng, Diên Khánh có
7 miếu riêng thờ Bà) Người dân ở đây coi Bà là Mẹ Xứ Sở - người dạy dân khai khẩn ruộng vườn, dạy phép tắc nghề nghiệp để nuôi nhau, xây dựng vùng đất này trở thành một vùng nông nghiệp trù phú Bà thường hiển linh, ai cầu gì được nấy, phù hộ dân lành, trừng phạt kẻ ác đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân trong vùng
Khánh Hòa là một tỉnh có lợi thế tự nhiên và rất phát triển nghề khai thác biển, ngư dân ở đây có tín ngưỡng thờ cá Voi, thường gọi với tên kính trọng là Cá Ông hoặc Ông Nam Hải Không chỉ ngư dân mà cả triều đình phong kiến cũng tôn thờ và sắc phong cho Ông là “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần” Tuy nhiên, Thiên Yana được coi là phúc thần của vùng đất Khánh Hòa nên các cơ
sở tín ngưỡng thờ tự của ngư dân đều phối thờ Bà ở các đền, miếu, lăng thờ ông Nam Hải hoặc thờ riêng tại các vạn lạch Hầu hết các cơ sở thờ tự hoặc phối thờ Bà
Trang 22của ngư dân đều được bố trí ở cửa sông, cửa biển, các vạn lạch (làng chài) như đình Hiền Lương (thôn Hiền Lương, huyện Vạn Ninh) hoặc như đền Bà Chúa Nguộc (Thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh), miếu Cỏ Mây (xã Ninh Diêm, huyện Ninh Hòa), Vạn lạch Đại Lãnh (xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh)… Trong tín ngưỡng của ngư dân Bà được thể hiện dưới hai dạng phúc thần và hung thần Bà luôn phù hộ cho ngư dân trong quá trình khai thác, đánh bắt, đặc biệt là đánh bắt ở các sở đầm
và đánh bắt xa bờ nhưng ngư dân cũng phải cúng tế, cung phụng Bà hàng mùa, hàng năm với lòng kính sợ, lễ vật hậu hĩnh với những nghi thức kỳ quái (tục thờ cúng ở hang Lỗ Lường trên đảo Hòn Đỏ, huyện Ninh Hòa, tín ngưỡng thờ cúng của ngư dân ở các sở đầm đăng, các làng vạn chài cửa sông, cửa biển)
Khánh Hòa là một tỉnh có diện tích rừng khá lớn (chiếm 9/11 diện tích toàn tỉnh) Rừng Khánh Hòa có rất nhiều lâm sản quý, đặc biệt là trầm hương và kỳ nam được sinh ra từ cây dó - một loại cây có rất nhiều trong vùng Kỳ nam và Trầm hương của vùng từ xưa đến nay đã khẳng định được giá trị vô cùng quý hiếm của
nó Không ai rõ người Việt ở đây biết khai thác trầm hương từ khi nào nhưng Khánh Hòa là vùng đất của người Chăm trước kia, trầm hương của Chămpa cũng
được cổ sử Trung Quốc như Lương thư (quyển 54), Liệt truyện (quyển 48) nhắc đến
trong danh mục các sản vật của quốc gia Tây Quốc Di, mà quốc gia này sau đó trở thành bộ phận của Chiêm Thành và cũng chính là vùng đất Khánh Hòa ngày nay
Do vậy, có thể người Việt đã tiếp nhận cách khai thác trầm hương của người Chiêm Thành
Bà Mẹ Xứ Sở Pô Nagar của người Chăm và Thiên Yana của người Việt ở Khánh Hòa đều được gắn với sự tích trầm hương Các tỉnh lân cận cũng có trầm hương nhưng trầm hương ở Khánh Hòa là loại tốt nhất, đặc biệt là vùng Vạn Giã, như câu ca dao:
Cây quế Thiên Thai mọc ngoài khe đá Trầm nơi Vạn Giã hương tỏa sơn lâm
Kinh nghiệm tìm trầm hương của người Việt ở Khánh Hòa từ xưa đến nay có một vài thay đổi nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên những kinh nghiệm, kiêng kỵ và tín ngưỡng ngành nghề Trước khi đi tìm trầm, người đi điệu (đi tìm trầm hương)
Trang 23phải chọn ngày tốt, ăn chay ba ngày, tránh quan hệ vợ chồng và đặc biệt là phải sắm sửa đủ lễ vật vào rừng dâng lễ cầu khấn Bà Thiên Yana - Bà Chúa Trầm hương ở các khu rừng Khánh Hòa để xin Bà phù hộ Họ tin là tất cả kỳ nam và trầm hương trong rừng là của Bà, Bà cho thì được, còn không cho thì đứng trước trầm kỳ cũng không nhìn thấy mà lấy Hầu hết các đền miếu thờ Bà của cư dân đi điệu thường được dựng ngay ở cửa rừng hay trên núi - nơi mà người ta tin rằng Bà thường giáng
ở đó và có rất nhiều trầm hương như Hòn Bà (phía nam huyện Ninh Hòa) có núi mà người ta cho là của Bà nên gọi là Núi Bà, trên núi có miếu thờ Bà Hay địa danh núi Hòn Dữ (nằm sát Ninh Hòa và Diên Khánh), Suối Đổ trên dãy núi Hoàng Ngưu (phía nam thành phố Nha Trang), Suối Cát (Ninh Hòa), Suối Ngổ (Diên Khánh), Đại Lãnh (Vạn Giã) … đều có miếu thờ Bà Các cơ sở thờ tự Bà chúa Trầm hương thường được dựng với quy mô nhỏ nhưng đối với cư dân đi điệu thì đó là những chỗ vô cùng linh thiêng mà họ phải đến làm lễ cầu Bà phù hộ trước khi đi tìm trầm Thậm chí, dân đi điệu trước khi đi tìm trầm phải sắm lễ vật cúng Bà không chỉ ở các đền miếu thờ Bà Chúa Trầm hương mà họ còn sắm lễ vật dâng lên Bà và tổ chức cúng lễ ngay tại nơi hạ trại đầu tiên của đoàn trong hành trình tìm trầm Sau mỗi chuyến tìm trầm thành công họ không quên tổ chức lễ cúng tại miếu Bà và tại nhà
để tạ ơn Bà đã phù hộ Hiện nay, dù việc tìm trầm đã khác trước về cách thức tổ chức, lối khai thác cũng như phạm vi khai thác trầm hương nhưng dân đi điệu vẫn giữ nguyên những tín ngưỡng truyền thống ngành nghề, niềm tin vào sự phù hộ của
Bà khi “ngậm ngải tìm trầm”
1.2.2.Hình thức thờ tự
Pô Nagar/ Thiên Yana được coi là Phúc thần của cả vùng nên được thờ phụng với nhiều hình thức và quy mô khác nhau như ở các đền tháp, đình làng, miếu, am Có những cơ sở thờ tự Bà có quy mô lớn ảnh hưởng đến toàn vùng nhưng cũng có những am, miếu nhỏ có quy mô trong làng xóm hoặc được phối thờ với các vị thần linh khác của làng
Bảng 1: Danh mục các di tích xếp hạng cấp Quốc gia tỉnh Khánh Hòa
TT Tên di tích Địa điểm Số ký hiệu Ngày ký Người ký QĐ
Trang 24Số 1288 – VH/QĐ
16/11/1988 Thứ trưởng
Nông Quốc Chấn
Số 04/1998 –
QĐ - BVHTT
15/10/1998 Thứ Trưởng
Lưu Trần Tiêu
07 Danh thắng
Hòn chồng –
Hòn Đỏ
Xã Vĩnh Phước, Vĩnh Thọ
TP Nha Trang
Số 04/1998 –
QĐ - BVHTT
15/10/1998 Thứ Trưởng
Lưu Trần Tiêu
15/10/1998 Thứ Trưởng
Lưu Trần Tiêu
12/02/1999 Thứ Trưởng
Lưu Trần Tiêu
12/02/1999 Thứ Trưởng
Lưu Trần Tiêu
11 Di tích Phủ
đường Ninh
Hòa
TT Ninh Hòa – huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa
Số 16/2000/
QĐ - BVHTT
21/8/2000 Thứ Trưởng
Lưu Trần Tiêu
12 Danh thắng
Mũi Đôi – Hòn
Đầu
Xã Vạn Thạnh – huyện VạnNinh - tỉnh Khánh Hòa
Số 13/2005/
QĐ - BVHTT
25/3/2005 Bộ trưởng
Phạm Quang Nghị
13 Danh thắng
Vịnh Nha
Trang
Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh
Hòa
Số 14/2005/
QĐ - BVHTT
25/3/2005 Bộ trưởng
Phạm Quang Nghị (NGUỒN: TRUNG TÂM QUẢN LÝ DI TÍCH KHÁNH HÒA)
Trong 13 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp Quốc gia của tỉnh Khánh Hòa có 02 di tích là nơi thờ tự Thiên Yana (Tháp Bà Pô Nagar ở Nha Trang và Am
Trang 25Chúa ở Diên Khánh) và 02 di tích có liên quan đến những truyền thuyết về Bà (Di tích Phủ đường Ninh Hòa - nơi Bà hiển linh và di tích Đình Phú Cang - nơi thờ Bà
Trang 2614 Miếu Tam Tòa TT Diên Khánh - h Diên
Khánh
SỐ 517/QĐ – UBND
24/03/2006
15 Đình Bình Tân P Vĩnh Trường – TP Nha
Trang
SỐ 515/QĐ – UBND
06/11/2006
20 Đình Phước Thạnh TT Diên Khánh - h Diên
Khánh
SỐ 1885/QĐ – UBND
Trang 27X Ninh Đa – h Ninh Hòa SỐ 703/QĐ-UBND 19/03/2008
41 Đình Thanh Châu X Ninh Giang – h Ninh Hòa SỐ 706/QĐ-UBND 19/03/2008
42 Đình Phước Đa TT Ninh Hòa – h Ninh Hòa SỐ 704/QĐ-UBND 19/03/2008
43 Đình An Ninh X Diên An – h Diên Khánh SỐ 707/QĐ –
45 Đình Phú Ân Nam X Diên An – h Diên Khánh SỐ 708/QĐ-UBND 19/03/2008
46 Chùa Bảo Long X Ninh Quang – h Ninh Hòa SỐ 704/QĐ-UBND 19/03/2008
47 Đình Ngọc Hội P Ngọc Hiệp – tp Nha Trang SỐ
2501/QĐ-UBND
10/10/2008
48 Chùa Phước Huệ X Ninh Quang – h Ninh Hòa SỐ 2502/QĐ- 10/10/2008
Trang 28SỐ UBND
(Nguồn: Trung tâm Quản lý di tích – Danh lam thắng cảnh Khánh Hòa)
Trong 56 di tích được xếp hạng cấp tỉnh có 28 di tích thờ Bà hoặc liên quan
ít nhiều đến Thiên Yana (Bà được thờ chính hoặc phối thờ trong di tích hoặc không được thờ nhưng trong văn tế có thỉnh Bà về cùng dự mỗi khi tổ chức cúng tế với tư cách là một vị Thánh Mẫu tối thượng/Phúc thần của cả vùng) Qua hai bảng thống
kê cho thấy tín ngưỡng thờ Thiên Yana hiện diện khắp các cơ sở thờ tự trong vùng
Cơ sở thờ tự Bà ở Khánh Hòa cũng rất đa dạng, có cả của người Chăm để lại và người Việt xây dựng khi đến định cư ở đây
* Đền tháp Hindu giáo
Các ngôi đền tháp Chămpa hiện nay còn tồn tại rải rác khắp các tỉnh duyên hải miền Trung nhưng có lẽ nổi tiếng, nguyên vẹn và duy nhất ở Khánh Hòa là ngôi đền Pô Nagar ở Nha Trang (còn được gọi là Tháp Bà Pô Nagar hay tháp Thiên
Trang 29Yana Thánh Mẫu) Không có nhiều cụm di tích đền tháp như ở Mỹ Sơn (Quảng Nam), hay ở Bình Định mà ở Khánh Hòa chỉ có duy nhất một cụm tháp được xây dựng trên núi Cù Lao (Thành phố Nha Trang) Từ rất sớm cho đến hiện nay, ngôi đền này vẫn đang được sử dụng như là một trung tâm văn hóa, tín ngưỡng lớn của
cư dân trong vùng và các khu vực lân cận, tạo nên một sắc thái riêng biệt về tín ngưỡng truyền thống của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Khởi thủy của ngôi đền này không phải là thờ bà Pô Nagar (hay Thiên Yana)
mà là đền thờ Siva dưới dạng một Mukhalinga (Linh vật thờ Siva dưới dạng một hình sinh thực khí mặt thần) Những tư liệu thành văn đầu tiên (minh văn) viết về ngôi đền này do vua Satyavarman khắc năm 706 Saka (tức năm 784) trên mặt một tấm bia đá ở Tháp Bà Pô Nagar Bài minh văn gồm 5 khổ thơ với 18 dòng cho biết
đã từ rất lâu tại khu vực này có một ngôi đền bằng gỗ thờ Siva (dưới dạng Mukhalinga) do vị vua huyền thoại Vicitrasagara dựng lên hàng ngàn năm trước Ngôi đền do vua Satyavarman - vị vua thứ hai của vương triều Hoàn Vương (758-859), dựng năm 784 cũng bằng gỗ nhưng ở Tháp Bà xuất hiện hiện tượng thờ Sivalinga với Bhagarvati - tính nữ của thần Siva1 Trải qua thời gian, tượng nữ thần
ở đây bị mất và làm lại đến 3 lần (lần cuối cùng được tạc bằng đá, và có lẽ là tượng
nữ thần ở ngôi đền chính hiện nay) Điều quan trọng là đến năm 817 nữ thần Bhagavati được tôn làm đại nữ thần Mahàbhagavati và trở thành đối tượng thờ cúng chính của ngôi đền quan trọng nhất phía nam Chămpa
Đồng thời, qua bài minh văn của Vikrantavarman (con vua Harivarman) để lại ở đền Pô Nagar năm 854 lại càng khẳng định vị trí cũng như vai trò của nữ thần
Bhagarvati ở ngôi đền xứ biển Kauthara: “Nữ thần của Kauthara, người có tấm
thân đẹp lộng lẫy và ngời sáng lên nhờ tấm choàng tuyệt vời bằng vàng và có khuôn mặt rực rỡ, lộng lẫy và xinh đẹp như đóa hoa sen, luôn ban thưởng hào phóng cho tất cả ước nguyện của những ai cúi đầu cầu khẩn người Vị nữ thần tôn
1
Các vợ hay đúng ra là các trinh nữ (Sakti) của thần Siva thường được gọi chung là Devi Việc thờ phụng nữ thần Devi có nguồn gốc từ tục thờ Nữ Thần Mẹ phổ biến ở Ấn Độ vào thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên Trong số các Devi có Bhagarvati (có nghĩa là phì nhiêu, trù phú, năm vận mệnh) là nữ thần phá hủy (cũng là chức năng chính của thần Siva), nữ thần bảo trợ cho mọi sinh linh khỏi bị bệnh tật làm hại Tất cả chức năng trên, chủ yếu là chức năng nữ thần Mẹ của Devi được nhập vào những chức năng chính của nữ
Trang 30kính, người có mái tóc vàng rực sáng nhờ những viên châu ngọc ở trên đầu ngự ngay sát biển Kauthara, người mà đôi tai dài được trang điểm bằng những viên ngọc ngời sáng không tỳ vết, luôn tỏa sáng ở cả ba thế giới” Khu đền tháp Pô
Nagar ở Kauthara nhanh chóng trở thành trung tâm tôn giáo không chỉ ở khu vực phía nam Chăm mà của cả vương quốc Chămpa cổ Cũng chính từ trung tâm tôn giáo này, trên cơ sở thờ phụng nữ thần Bhagarvati của Hindu giáo đã bắt đầu xuất hiện tín ngưỡng thờ Nữ thần Mẹ Yan Pô Nagar của cư dân Chămpa xưa
Từ cuối thế kỷ XIII trở đi không thấy một bia ký nào được dựng lên ở Pô Nanagar để ghi lại sự kiện lịch sử của vương quốc cũng như lịch sử của ngôi đền này Có lẽ, do những khó khăn về mọi mặt của đất nước (chủ yếu là các cuộc chiến tranh của Chămpa với Đại Việt, Mông Nguyên, Java, Campuchia…) là nguyên nhân chính làm cho các trung tâm tôn giáo ít được quan tâm đầu tư để xây dựng và
mở rộng Những tư liệu lịch sử và những dấu vết vật chất cho thấy khu đền tháp Pô Nagar được các vua Chăm cho xây dựng liên tục trong suốt nhiều thế kỷ, đặc biệt là vương triều Vijaya (hầu hết những kiến trúc của Tháp Bà còn tồn tại đến hiện nay thuộc về giai đoạn này) Ngoài việc xây dựng, các vua Chăm còn cúng dường cho các vị thần ở đây rất nhiều đồ vật quý
Vị thần chủ được thờ ở đây là những vị thần tối cao trong Hindu giáo (Siva/Bhagavati) Điều đặc biệt ở thánh địa này, nữ thần Mẹ xứ sở của người Chăm
là Yan Pu Nagar ở Kauthara luôn chiếm vị trí đặc biệt trong hệ thống thờ cũng như trong đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của dân tộc, được đồng nhất và trở thành vị thần chủ của ngôi đền
Năm 1653 là mốc người Việt tiếp thu và sử dụng công trình kiến trúc tôn giáo này Tuy nhiên, người Việt gần như không có những xây dựng gì đáng kể trong khu vực này, chỉ có một con đường phụ ở rìa phía tây của kiến trúc vòm cửa dẫn và một số công trình phụ gần các ngôi tháp chính
Dấu tích vật chất rõ nhất của người Việt trong giai đoạn này còn tồn tại đến ngày nay ở khu tháp này là 3 tấm bia đá Bia thứ nhất kể vê sự tích Thiên Yana do Thượng thư Phan Thanh Giản cho dựng năm 1856 Bia đá thứ hai là bia dịch ra tiếng Việt bia thứ nhất của văn sĩ Quách Tấn dựng năm 1972 Bia thứ ba do quan
Trang 31tỉnh Khánh Hòa cho dựng năm 1881 với nội dung ca ngợi phong cảnh hữu tình của địa điểm này cùng với những lời cầu nguyện đối với Thiên Yana Thánh Mẫu Bên cạnh đó, người Việt còn bố trí lại các tượng thờ trong tháp, trang hoàng và sơn sửa lại một số tượng thờ cho phù hợp với tín ngưỡng truyền thống của mình Từ đầu thế
kỷ XX đến nay các nhà khảo cổ, mỹ thuật Pháp, Việt tiến hành nghiên cứu, bảo tồn
và trùng tu lại những phần hư hại của tháp Tuy còn có một số hạn chế về kỹ thuật
và phương thức trùng tu nhưng đây cũng là những việc làm quan trọng nhằm bảo tồn và tái tạo những giá trị nghệ thuật vô giá của khu đền tháp này
* Đình
Đình làng ở vùng đất Nam Trung Bộ nói chung và ở Khánh Hòa nói chung thường có niên đại muộn (khoảng thế kỷ XVII), quy mô không lớn, xây dựng đơn giản, hầu hết được tu sửa trong những năm gần đây nên ít giữ được những kiến trúc
cổ kính xưa kia mà mang dáng dấp những ngôi đình hiện đại Theo thống kê “Danh
mục các di tích kiểm kê năm 2002” của Ban Quản lý Di tích và Danh lam thắng
cảnh Khánh Hòa, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa hiện nay có 208 ngôi đình Đình được xây ở thế đất đẹp nhất làng, đình của cư dân nông nghiệp có hướng thường quay về phía nam hoặc phía dòng sông chảy qua gần đó, phía trước có đồng lúa tươi tốt, lưng tựa vào gò cao, đình của ngư dân thì thường hướng ra biển hoặc cửa sông Đình làng thường xây ba gian hai chái, lợp ngói âm dương hoặc ngói thường (với những ngôi đình được xây dựng hoặc tu sửa những năm gần đây) Đình thờ các vị Bổn cảnh thành hoàng Trong phạm vi khuôn viên đình thường có:
- Miếu thờ Thiên Yana Thánh Mẫu ở bên phải (phía Tây đình)
- Nhà tiền hiền ở bên trái (hay phía Đông đình) hoặc ở phía sau đình Cũng
có làng xây nhà tiền hiền riêng, không đưa vào khuôn viên đình và là nơi giữ sắc phong thần của làng
- Trong khuôn viên đình của ngư dân luôn có lăng thờ Ông Nam Hải và miếu thờ Thiên Yana Đình ở đây thường có sân rộng và có mái che gọi là võ ca dành cho hát bả trạo và hát bội khi làng tổ chức lễ hội
- Trong sân đình ở hai bên sát tường rào thường lập hai miếu nhỏ Một bên thờ thần Hậu thổ (thần long mạch) hoặc Ngũ hành nương nương (Năm Mẹ: Kim,
Trang 32Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) bên trái đình, còn bên phải đình thờ Chúa Sơn Lâm (ông Hổ) Đây là tín ngưỡng tạo niềm tin bình an cho những lớp người đầu tiên khai phá vùng đất, lập làng, lập ấp ở vùng này
Qua khảo sát thực tế các đình làng ở Khánh Hòa cho thấy hệ thống thần linh được thờ ở các đình làng thường là Bổn cảnh Thành Hoàng, Thiên Yana Thượng đẳng Thần, Đại Càn quốc gia Cự tộc Ngọc Lân tôn thần, Nam Hải Tứ vị Thánh Nương Thượng Đẳng Thần, Cao Các tôn thần, Bạch Mã Trung Đẳng Thần… Đặc biệt, hầu hết các đình đều thờ Thiên Yana [9, tr 296] Việc thờ Thiên Yana trong các ngôi đình là một đặc điểm riêng biệt và quan trọng khi tìm hiểu về đình làng nói riêng và tín ngưỡng dân gian Khánh Hòa nói chung Người Việt khi đến đây sinh sống vẫn coi Bà là chủ đất, là Phúc thần, là Thánh Mẫu nên thường thờ Bà trong các ngôi đình hoặc khuôn viên của đình Hiện tượng này còn thể hiện rõ nhất trong lễ
Tá thổ - lễ mượn đất của người Việt ở nông thôn Phú Yên, Khánh Hòa hiện nay
Trước đây, Thiên Yana thường được thờ riêng ở một ngôi miếu nhỏ, đến khoảng năm 1839 (Minh Mệnh thứ 20) khi nhà vua chuẩn y lời tâu của bộ Lễ xin lập thêm thần Bổ cảnh đối với các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ thì để tiện cho việc cúng lễ, một số nơi người dân làng đã đưa Bà vào phối thờ và phối hưởng với các vị Thành hoàng trong đình làng Thậm chí, nhiều đình không có miếu hay khám riêng thờ Bà nhưng khi tổ chức tế lễ hay lễ hội vẫn có nghi thức thỉnh và rước Bà về cùng phối hưởng với các vị thần trong đình Đó cũng là một nét đặc trưng của vùng đất Khánh Hòa - nơi Bà được coi là vị Phúc thần của vùng
Những ngôi đình có niên đại sớm ở Khánh Hòa thường được ban đạo sắc phong nhiều lần dưới các triều vua khác nhau (chủ yếu từ thời Gia Long đến Bảo Đại) hoặc dưới một triều vua nhưng nhiều lần ở nhiều năm khác nhau (dưới thời vua Tự Đức) Điều đặc biệt của hệ thống đình làng của Khánh Hòa là việc bên cạnh việc sắc phong cho Bổn cảnh Thành Hoàng luôn gắn liền với sắc phong cho Thiên Yana được phối thờ trong đình hay thờ ở miếu trong khuôn viên của đình Tiêu biểu
là Đình Phương Sài ở phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang được xây dựng khoảng năm 1808 (năm Gia Long thứ 7) thờ Thành Hoàng làng và Thiên Yana, hiện nay còn lưu giữ 15 sắc phong của các đời vua triều Nguyễn: 7 sắc đời vua Tự
Trang 33Đức (5 sắc vào năm Tự Đức thứ 5 (1852), 2 sắc vào năm Tự Đức thứ 33 (1880), 2 sắc năm Đồng Khánh thứ 2 (1886), 1 sắc năm Thành Thái thứ 13 (1901), 2 sắc năm Duy Tân thứ 3 (1909), 1 sắc năm Duy Tân thứ 5 (1911), 2 sắc năm Khải Định thứ 9 (1924) Trong 15 sắc phong đó có 5 sắc phong dành cho Thiên Yana vào các năm
1852, 1880, 1886, 1909, 1924 Theo nguồn tư liệu cho biết trước đây đình Phương Sài và miếu Thiên Yana là hai nơi thờ tự độc lập nhau Đến năm 1891, miếu Thiên Yana được đưa về xây cạnh đình Phương Sài Từ đó, miếu Thiên Y luôn nằm bên trái, song song và ngang hàng với đình Hàng năm, cứ xuân thu nhị kỳ (tháng 3 và tháng 9 âm lịch) lễ cúng tế tại miếu Thiên Y được diễn ra cùng với lễ cúng đình
Đình Vĩnh Cát (làng Vĩnh Cát, xã Suối Hiệp, huyện Diên Khánh) cũng là một điển hình của việc thờ Thiên Yana trong hệ thống đình làng Căn cứ vào các tài liệu của đình còn lưu giữ thì đình làng được khởi dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Miếu Thiên Yana được xây bên tả của đình làng Hiện nay, trong đình còn lưu giữ 10 sắc phong có niên đại từ năm 1852 đến 1925, trong đó có
5 sắc phong dành cho Bổn cảnh thành hoàng và 5 sắc phong dành cho Thiên Yana vào cùng các năm{năm Tự Đức thứ 5 (1852), năm Tự Đức thứ 33 (1880), năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), năm Duy Tân thứ 3 (1909), năm Khải Định thứ 9 (1924)} Hàng năm, đình Vĩnh Cát mở hội 2 ngày, lễ hội được tổ chức vào tháng 2
âm lịch, ngày, giờ tổ chức được chọn hàng năm chứ không có lệ Các nghi lễ được diễn ra tuần tự: Lễ thỉnh sanh, Lễ tế miếu Bà, Lễ tế tiền hiền, Lễ tế Thần, Lễ tế tiền bối - âm hồn
Một ngôi đình khác trên địa phận tỉnh Khánh Hòa cũng là một tiêu biểu cho việc thờ Thiên Yana Đó là đình Ninh Thành ở thôn Hội Thành, xã Ninh Giang, huyện Ninh Hòa Kiến trúc của đình không lớn, chỉ gồm 3 gian: chính điện thờ thành hoàng, gian bên trái là nhà tiền hiền, còn gian bên phải dùng để thờ Thiên Yana Đình Ninh Thành hiện còn lưu giữ 2 đạo sắc phong của các vua triều Nguyễn ban tặng, đó là: Sắc phong ngày 08 tháng 06 nhuận triều vua Duy Tân năm thứ 05
(1911), sắc phong cho Thiên Yana Diễn Ngọc Phi tôn thần với mỹ hiệu “Hoằng
huệ phổ tế linh cảm diệu thông mặc tướng trang huy dực bảo trung hưng Thượng
đẳng thần” và sắc phong ngày 25 tháng 7 triều vua Khải Định năm thứ 09 (1924)
Trang 34sắc phong cho Thiên Yana Diễn Ngọc Phi Căn cứ trên đạo sắc phong sớm nhất mà đình Ninh Thành được vua Duy Tân ban tặng năm 1911, ta có thể đoán định niên đại khởi dựng của đình phải trước năm 1911 Hàng năm, nhân dân thôn Hội Thành
tổ chức lễ hội đình vào ngày 18/3 âm lịch (trong tháng lễ hội Vía Bà) Qua các hiện vật còn lưu giữ (các đạo sắc phong) và những sinh hoạt lễ hội dân gian tại đình làng
đã khẳng định tín ngưỡng thờ Thiên Yana đã bao trùm lên toàn bộ đời sống tín ngưỡng dân gian của nhân dân trong vùng
Bên cạnh đó, còn rất nhiều ngôi đình tiêu biểu (những ngôi đình được xếp hạng di tích cấp tỉnh hoặc cấp quốc gia) trên địa phận tỉnh Khánh Hòa có thờ Bà Thiên Yana Đình Cửu Lợi (xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm) cũng là một di tích thờ Thiên Yana Trong đình hiện nay còn giữ 4 đạo sắc phong thì có tới 3 đạo sắc phong cho Thiên Yana, bao gồm: 1 sắc phong năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), 1 sắc phong năm Duy Tân thứ 3 (1909), 1 sắc phong năm Khải Định thứ 9 (1924) và chỉ
có 1 sắc phong năm Khải Định thứ 9 (1924) cho Bổn cảnh Thành Hoàng Hàng năm đình Cửu Lợi tổ chức cúng xuân vào hai ngày 15, 16 tháng 3 âm lịch, cứ 3 năm một lần làng tổ chức mở hội to tại đình kéo dài 3 ngày (15, 16, 17 tháng 3 âm lịch), có tổ chức hát bội Những nghi lễ bắt buộc khi diễn ra lễ hội bao gồm: lễ thỉnh sanh, lễ tế thần, lễ cúng Thiên Yana Thánh Mẫu và Ngũ Hành tôn thần, hát thứ lễ và lễ tống khách Cũng tương tự, đình Vạn Thạnh (phường Vạn Thạnh, thành phố Nha Trang) cũng là một di tích tiêu biểu cho việc thờ Bà và thành hoàng làng tại đình Đây là một ngôi đình cổ có kiến trúc đẹp, đình thờ thành hoàng làng, các vị tiền hiền, hậu hiền, bên cạnh là miếu thờ Thiên Yana, miếu thờ liệt sĩ Tại đình hiện nay còn giữ 12 đạo sắc phong do các triều vua nhà Nguyễn ban tặng (từ đời vua Tự Đức đến vua Khải Định)
Với chức năng và phân bố đình làng ở Khánh Hòa cho thấy đình ở đây không chỉ mang màu sắc tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp mà còn có cả đình của
cư dân lâm nghiệp, ngư nghiệp Rất nhiều đình ở Khánh Hòa là cơ sở thờ tự của ngư dân, tiêu biểu là đình Phương Sài (Nha Trang), Việc thờ tự/ hay phối thờ Thiên Yana trong các đình làng càng khẳng định vị trí và vai trò chủ đạo của Thiên Yana trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng vùng đất Duyên hải Trung và Nam Trung Bộ
Trang 35* Chùa
Theo các nguồn tư liệu thì Phật Giáo có mặt ở Khánh Hòa vào những năm 80 của thế kỷ XVII sau khi chúa Nguyễn đã ổn định tình hình kinh tế - chính trị vùng đất mới khai phá phương Nam Một số nhà sư Trung Quốc và Việt Nam đã đến Khánh Hòa và lập ra những ngôi chùa đầu tiên như nhà sư Phật Ấn, sư Tịch Viễn lập chùa Phước An trên đồi Hoa Sơn (nay là núi Một, phường Phước Tiến, thành phố Nha Trang), tiếp theo là các chùa Sắc tứ Kim Sơn (thôn Ngọc Hội, thành phố Nha Trang), Chùa Hội Phước - còn gọi là chùa Cát (phường Phương Sài, thành phố Nha Trang) Sư Thích Phổ Quang lập chùa Nghĩa Phương (phường Vạn Thạnh, thành phố Nha Trang)… Cũng trong thời gian đó, ở Diên Khánh, Vạn Ninh, Ninh Hòa một số chùa cũng được xây dựng như chùa Linh Sơn (thôn Hiền Lương, huyện Vạn Ninh), chùa Thiên Bửu (thôn Mỹ Hiệp, huyện Ninh Hòa), chùa Vạn Thiện (thôn An Ninh, huyện Diên Khánh), chùa Thiên Lộc, chùa Hoa Tiên (thôn Phú Ân Nam, huyện Diên Khánh)…
Theo số liệu thống kê năm 2001, tỉnh Khánh Hòa có 306 ngôi chùa, tu viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm phật đường và các cơ sở thờ tự có liên quan đến Phật giáo Khánh Hòa có lẽ là tỉnh có nhiều chùa chiền nhất các tỉnh Nam Trung Bộ, được xây dựng ở khắp nơi, trên núi có, đồng bằng có, thôn quê có và thành thị cũng có Riêng
cổ tự ở Khánh Hòa cũng không thua Bình Định, Phú Yên- nơi mà Phật giáo được
truyền bá trước Trước đây ở Khánh Hòa “không có ngôi chùa nào đồ sộ nguy nga”
[55, tr 247] thì hiện nay đã có nhiều ngôi chùa được xây dựng nguy nga, tráng lệ, làm nơi thực hành tín ngưỡng của người dân như chùa Hải Đức, chùa Long Sơn (thành phố Nha Trang)…
Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo, trong chùa Chánh điện luôn
là nơi thờ Phật Chùa chiền ở Khánh Hòa chủ yếu là cơ sở thờ tự Phật giáo nhưng cũng có nhiều chùa có thờ bà Thiên Yana trong chùa hay khuôn viên của chùa, mặc
dù việc thờ phụng Bà ở chùa không nhiều và cũng không phổ biến như việc thờ hoặc phối thờ ở các đình làng, đền, miếu
Hoa Tiên tự là một ngôi chùa cổ nổi tiếng của huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Chùa ở ấp Phật Tỉnh, thôn Phú Ân Nam, phía Tây bắc chùa Thiên Lộc
Trang 36Chùa Hoa Tiên vốn là một quan tự, do tỉnh lập năm Gia Long thứ 10 (1811) Chùa thờ Quan Thánh tức Quan Vũ đời Tam Quốc ở gian giữa, thờ bà Thiên Y ở bên hữu, thờ Phật bên tả Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) tỉnh giao chùa cho làng Lúc còn thuộc quyền tỉnh cũng như lúc đã giao cho làng, mỗi năm đến ngày 13 tháng Giêng âm lịch, đều phải tổ chức hát bội ở chùa, tục gọi là “hát vía Ông” và ngày 13 tháng Giêng hàng năm trở thành ngày vui của người địa phương
Dưới triều vua Bảo Đại (1925-1945) hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo, làng bèn đổi chùa thờ Thánh thành chùa thờ Phật Ban đầu, một số hào mục không chịu, vị tiên chỉ mới nghĩ ra một kế cầu Quan Thánh thẩm định Quan Thánh giáng cơ, phán, đại ý rằng: Việc dùng chùa Ngài thờ Phật là việc chính đáng, bởi Phật là đấng chí tôn, huống hồ Ngài cũng quy y Tam bảo Thánh đã dạy thì còn ai dám không tuân Làng bèn thỉnh tượng Phật vào thờ gian giữa, rước tượng Thánh sang thờ gian tả, còn gian hữu vẫn thờ Thiên Yana
Trong chùa có cây Cốc trong vườn và ba tượng thần bằng đá là đáng lưu ý Truyền thuyết kể rằng dưới gốc cây Cốc có vàng Ban đêm người trong vùng thường thấy “vàng đi ăn”, ánh vàng sáng rực Thời Pháp thuộc, công sứ Bréda đòi đào gốc cây tìm vàng, người trong làng sợ tai họa xảy đến nên kịch liệt phản đối Phép vua thua lệ làng, viên công sứ đó đành nhượng bộ Gần đây nổi lên phong trào
đi tìm vàng, nhiều nơi cổ tích bị đào phá Có mấy người Hời (người Chăm) ở Phan Rang tìm đến chùa, trưng giấy tờ của ông bà để lại, xin phép được bới gốc cây Cốc
để tìm của Nhà chùa nhất định khước từ, nhờ vậy mà chùa vẫn giữ được cây cổ
Những tượng thần do người Chàm để lại cũng vừa kỳ vừa cổ, nhất là tượng
bà Thiên Yana thờ trong chùa Tượng là một viên đá xanh hình khối chữ nhật, cao chừng sáu tấc, dày chừng một tấc rưỡi, rộng hai tấc Đây không biết là một tác phẩm điêu khắc bị bỏ dở hay hình tướng của một vị quái thần của đạo Bàlamôn Tượng chỉ có khắc nửa thân phía trước: mặt có đủ mắt, mũi, miệng, hai tay chắp nơi ngực, đầu đội chiếc mũ nhọn như tháp Cao Miên, còn phía sau lưng và khúc mình thì để nguyên dạng đá Người trong ấp đã tìm được khi đào giếng xây chùa Trông nét mặt đàn bà, đồng bào cho là tượng bà Thiên Yana bèn đem vào chùa thờ phụng Nhân việc đào giếng được tượng, ấp lấy tên là Phật Tỉnh và tin rằng bà Thiên Y
Trang 37cũng là một vị Bồ Tát như đức Quan Thế Âm Còn hai tượng khác thì ở dưới gốc cây Cốc lồi lên Hai tượng này rất cổ, một tượng cao chừng sáu tấc, một tượng cao chừng 5 tấc Cho là vật linh thiêng nên vị trụ trì đem vào chùa thờ, nhưng nửa đêm
tự nhiên tượng rơi xuống đất, một tượng bị gãy đầu Vị trụ trì sợ, liền đem tượng ra thờ dưới gốc cây nơi đã lồi lên nhưng nay đã bị lấy mất Tượng Thiên Yana bằng đá vẫn được thờ bên gian tả của Phật điện và đằng sau tượng Bà bằng đá là cốt tượng
Bà mới được làm sau này Trong chùa hiện nay còn lưu giữ ba sắc phong: 1 sắc năm Duy Tân thứ 5 (1911) cho xã Phú Ân phụng sự Thiên Yana, 1 sắc cùng năm Duy Tân thứ 5 cho xã Phú Ân phụng sự Ngũ Hành tôn thần và một sắc năm Khải Định thứ 9 (1924) cho xã Phú Ân phụng sự Thiên Yana
Một ngôi chùa khác của Khánh Hòa thờ Thiên Yana là chùa Linh Phong Chùa do người Trung Hoa lập từ thời Hậu Lê (năm Cảnh Hưng thứ 14, 1753 - niên đại trên quả đại hồng chung), ban đầu có tên là Bửu Phong tự Chùa thờ Quan Thánh Vì lâu không có người thờ phụng nên chùa trở thành chùa làng Phước Hải Làng vẫn thờ Quan Thánh nhưng gian bên cạnh thờ thêm bà Chúa Ngọc Thiên Yana-vị thần địa phương Dân làng thường gọi là chùa Quan Thánh hay chùa Núi Dưới triều Bảo Đại (1925-1945) cải chùa thờ Thánh thành chùa thờ Phật Thờ Phật
ở trước, thờ Thánh và Thần ở sau, đồng thời rước sư về trụ trì tại chùa Sau khi chùa Linh Phong trên Xuân Phong bị cháy và dời xuống Xuân Lạc đổi thành chùa Liên Hoa (Sắc Tứ Liên Hoa) thì có người được tấm biển Linh Phong cổ tự đem cúng cho chùa Bửu Phong Sau 1945 một nhà sư ở Huế vào trụ trì chùa Bửu Phong, thấy tấm biển Linh Phong cổ tự thì cho rằng tên chùa là Linh Phong, khi tu bổ lại chùa cho đắp ở cổng 4 chữ Linh Phong cổ tự Từ đó, ai cũng gọi chùa Bửu Phong là chùa Linh Phong Bên cạnh chùa Sắc Tứ Liên Hoa cũng có một ngôi miếu Thiên Y (Thiên Y Điện), tương truyền có từ thời Chiêm Thành Ban đầu nó chỉ là một ngôi miếu nhỏ, lâu dần bị cây cối mọc phủ lấp Khi dời chùa Liên Hoa về làng Xuân Lạc, một đêm, thầy trụ trì chùa lúc ấy là Thích Thiện Khánh thấy có người báo mộng về việc sửa sang lại ngôi miếu Thiên Y lâu nay bị khuất lấp mà không ai biết Thầy trụ trì và ông Lý trưởng trong làng lúc đó là Nguyễn Đình Hoành cùng nhân dân trong làng sửa sang lại ngôi miếu, nhang khói thờ cúng thường xuyên Dân làng Xuân Lạc
Trang 38trùng tu miếu lần đầu vào năm 1932, đến năm 1966 thấy miếu bị mục nát dân làng lại tiến hành sửa sang và quay mặt miếu về hướng Tây Nam như hiện nay (trước đây mặt chính của miếu hướng về phía Bắc) Trong nội thất chánh điện của miếu có cốt tượng của bà Thiên Yana, tả ban thờ Tứ vị Thái tử, hữu ban thờ Lục vị tiên cô, chính giữa điện là một bàn thờ Hội đồng Các bàn thờ hiện nay được xây bằng gạch
và tráng xi măng
Rất nhiều ngôi chùa cổ trên mảnh đất Khánh Hòa có thờ Thiên Yana Tại thôn Thanh Châu, xã Ninh Giang, huyện Ninh Hòa có ngôi chùa Minh Châu Chùa này do thiền sư Đại Minh đứng ra xây dựng năm 1872, trải qua 3 lần trùng tu (vào các năm 1941, 1961, 2004) Trong khuôn viên của chùa phía bên tay phải sau Tam Quan là miếu Thanh Châu/Miếu Thiên Y Chính Điện của miếu có 5 ban thờ: chính giữa là ban thờ Thiên Yana, bên trái là ban thờ Quan Thánh Đế Quân - Quan Bình - Châu Sương, bên phải là ban thờ Cửu Thiên Huyền Nữ Tường hồi phía bên trái là ban thờ Hoàng tử Trí – con trai Bà Tường hồi phía bên phải là ban thờ Công chúa Quý – con gái Bà Trong miếu còn có một bức tranh miêu tả cảnh 3 mẹ con bà Thiên Y cưỡi khúc trầm hương vượt biển Bắc Hải để trở về quê cũ
Sự phối thờ, phối tế trong các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo ở Khánh Hòa là một hiện tượng khá phổ biến Chùa là một cơ sở tôn giáo thờ Phật nhưng sự gần gũi giữa đạo Phật và tín ngưỡng thờ Mẫu của cư dân Việt đã làm cho ngôi chùa không đơn thuần là nơi thờ Phật mà là tiền Phật hậu Thánh/Mẫu Ngoài niềm tin vào sự từ
bi của Đức Phật, người dân nơi đây còn tin vào sự che chở của Thánh Mẫu như sự bao dung và che chở của người Mẹ trong cuộc sống thường ngày
* Lăng
Khánh Hòa là một tỉnh có bờ biển dài, khoảng 385km (từ xã Đại Lãnh (huyện Vạn Ninh) đến cuối Vịnh Cam Ranh) với nhiều cửa lạch, đầm vịnh cùng trên 200 đảo lớn nhỏ, sáu đầm vịnh lớn là Đại Lãnh, Vân Phong, Hòn Khói, Nha Phu,Nha Trang, Cam Ranh Với điều kiện như vậy, Khánh Hòa rất thuận lợi để phát triển ngành khai thác thủy hải sản với khoảng 30 nghề đánh bắt Quan trọng nhất là nghề lưới rê như cản lộng, cản ba lường, lưới cước, lưới chuồn, lưới tôm; thứ đến là
Trang 39nghề câu; tiếp theo là mành đèn, giã tôm, giã cá… Hàng năm, từ khoảng tháng Chạp đến tháng Năm âm lịch các loài cá ngoài khơi có giá trị kinh tế cao như cá thu, cá ngừ … từ vùng biển phía Nam di cư lên phía Bắc dọc theo chân các gành đảo trong lộng là điều kiện lý tưởng cho ngư dân Khánh Hòa đánh bắt bằng lưới đăng (không phải di chuyển lưới mà chỉ cắm đón lõng ở những nơi cố định chờ cá đến) Trước đây, nghề lưới đăng ở Khánh Hòa là một đại hải nghệ, nay chỉ còn trên dưới chục sở đầm hoạt động, chủ yếu là ở các làng đảo Khải Lương (Vạn Ninh) và Bích Đầm (Nha Trang) Khai thác cá bằng nghề lưới đăng thường có quy mô lớn lớn, lao động nhiều, năng xuất cao nhưng phải đi xa bờ, sự rủi ro cao, độ nguy hiểm cũng lớn hơn rất nhiều Do vậy, ngư dân Khánh Hòa ngoài những kinh nghiệm đi biển được tích lũy qua nhiều thế hệ họ còn dựa vào những thế lực thần linh để tiếp thêm sức mạnh và can đảm cho họ trên con đường mưu sinh đầy nguy hiểm Điển hình là tín ngưỡng thờ cá Voi (cá Ông), thờ bà Thiên Yana và bà Chúa Đảo Bên cạnh đó họ còn thờ các vị thần linh biển cả, các vong hồn chết ngoài biển vì nghề nghiệp và bão tố… như Hà Bá, Ngũ Vị Long vương, Bát Bửu công chúa, Bà chúa
Xứ, ông Sứa, Rái Cá, ông Nược, rùa biển, Bà Lạch (rắn biển)…
Tục thờ cá Voi được gọi thành kính là Ông Nam Hải (thường được gọi là Ông - Nam Hải đại vương) là tín ngưỡng dân gian phổ biến của ngư dân ven biển
nước ta, đặc biệt là ở khu vực miền Trung và miền Nam “dĩ Nam vi thần, dĩ Bắc vi
ngư” Hầu hết các làng chài ở Khánh Hòa đều có lăng, đền, miếu thờ Ông với
những nghi lễ trang trọng Đây là vùng đất chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình giao lưu văn hóa Việt - Chăm nên hầu hết các lăng Ông đều có các ban thờ
Thiên Yana với niềm kính tín sâu sắc Do vậy, “Bà và cá Ông đã là một trong tâm
trí người dân chài miền biển” [65, tr 177] Hàng năm, các làng chài ở Khánh Hòa
đều có lễ hội cầu ngư tập trung vào hai mùa: mùa xuân và mùa thu (lễ hội cầu ngư vào mùa thu được tổ chức lớn hơn nhằm tổ chức lễ tạ ơn thần linh sau một mùa cá)
Lễ hội cầu ngư ngoài việc nghinh Ông còn có lễ tế/rước sắc và cúng Bà Thiên Yana
Tín ngưỡng thờ cá Ông thường gắn với một loại hình di tích kiến trúc mà cư dân ven biển thường gọi là Lăng Tùy theo quy mô lớn nhỏ, ở mỗi địa phương lại có
Trang 40những tên gọi khác nhau: lăng, vạn, dinh, lạch, đình, điện, đền, miếu Ở Khánh Hòa các lăng Ông phân bố dày đặc, toàn tỉnh có khoảng 50 lăng dọc theo các huyện thị ven biển: Vạn Ninh (13 lăng), Ninh Hòa (15 lăng), thành phố Nha Trang (11 lăng), thị xã Cam Ranh (11 lăng), trong đó có 12 lăng phân bố trên các đảo Mỗi xã phường ven biển thường có một lăng, có nơi có đến hai, ba, bốn lăng, thậm chí như phường Vĩnh Nguyên (thành phố Nha Trang) có đến sáu lăng [36, số 4] Kiến trúc của lăng ông ở Khánh Hòa cơ bản mang dáng dấp của một ngôi đình, thường được xây gần sông, gần biển, mặt quay hướng đông (hướng ra biển) nằm trong các vạn chài và ở địa thế cao ráo Lăng thường gồm 3 gian: gian giữa là điện thờ, sau điện thờ là quách đựng xương “Ông” Bên tả thờ bà Thiên Y Thánh Mẫu, bên hữu thờ bà Vạn Lạch Xưa kia lăng riêng, đình riêng, nhưng hiện nay thường nhập đình và lăng trong một khuôn viên để tiện thờ cúng Một số lăng nằm trong cụm kiến trúc bao gồm đình - chùa làng - lăng ông (lăng Ông Cù Lao, phường Vĩnh Thọ, thành phố Nha Trang)
Thiên Yana được thờ khá phổ biến trong các lăng Ông ở Khánh Hòa Tại phường Cam Phúc Nam, thị xã Cam Ranh có cụm di tích Lăng Ông - Đền Bà Cam Xuân là một tiêu biểu cho việc thờ cúng Thiên Yana tại các lăng Lăng Ông - Đền
Bà được triều đình phong kiến nhà Nguyễn phong sắc 11 lần, trong số có 5 sắc dành cho Thiên Yana: 1 sắc phong đời vua Tự Đức năm thứ 3 (1850), 1 sắc phong đời vua Tự Đức năm thứ 33 (1880), 1 sắc phong đời vua Đồng Khánh năm thứ 2 (1886), 1 sắc phong đời vua Duy Tân năm thứ 3 (1909), 1 sắc phong đời vua Khải Định năm thứ 9 (1924) Kiến trúc chính của khu lăng Ông, đền Bà bao gồm: Chính giữa là Lăng Ông, bên phải là một khoảng sân có mái che dành cho việc họp hội dân làng và bày biệt lễ lạt khi cúng tế hoặc hội hè Tiếp đó là đến đền Bà, bên trái là nhà bếp Hàng năm, tại khu di tích này tổ chức lễ hội cầu ngư vào 18 tháng 3 âm lịch Mở đầu là lễ hội rước sắc của vua ban (sắc cho ông Nam Hải và bà Thiên Yana), sau đó mới là lễ nghinh thủy triều và rước ông Nam Hải từ ngoài biển về chánh điện chuẩn bị cho lễ chính Lễ hội cầu ngư tại đây là lời cầu xin Ông, Bà ban phát tài lộc, dân an cho cả vạn lạch Ngoài ra, trong năm lăng Ông- đền Bà còn các
lễ cúng vào các ngày: 12/2 (âm lịch) cúng ông Nam Hải; 24/3 (âm lịch) cúng ông