Mối quan hệ giữa Phật giáo với tín ngưỡng Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ được thể hiện rất đa dạng và phong phú trong suốt tiến trình lịch sử tồn tại và phát triển của tôn giáo này.. Ngo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN THỊ KIM
(Thích Đàm Kiên)
TÌM HIỂU MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẬT GIÁO VỚI
TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở KHU VỰC
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU i
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠO PHẬT VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 8
1.1 Khái lược chung về đạo Phật 8
1.1.1 Sự ra đời của đạo Phật 8
1.1.2 Giáo lý cơ bản của đạo Phật 12
1.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ trước thời kỳ Phật giáo du nhập vào Việt Nam 23
1.2.1 Nguồn gốc ra đời và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu 23
1.2.2 Nghi lễ, tổ chức, nơi thờ cúng của tín ngưỡng thờ Mẫu 28
Chương 2: MỘT SỐ BIỂU HIỆN CƠ BẢN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẬT GIÁO VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 39
2.1 Mối quan hệ giữa Phật giáo thời kỳ du nhập với tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ 39
2.1.1 Mối quan hệ giữa Phật giáo thời kỳ du nhập với tín ngưỡng thờ Mẫu thông qua tục thờ Nữ Thần và nguyên lý Mẹ 39
2.1.2 Mối quan hệ giữa Phật giáo thời kỳ du nhập với tín ngưỡng thờ Mẫu thông qua việc hình thành tín ngưỡng Tam Phủ, Tứ Phủ 48
2.2 Mối quan hệ giữa tín ngưỡng thờ Mẫu với quá trình phát triển của Phật giáo Việt Nam ở đồng bằng Bắc Bộ 56
2.2.1 Mối quan hệ giữ tín ngưỡng Mẫu với quá trình phát triển của Phật giáo Việt Nam qua không gian thờ cúng 56
2.2.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu trong tâm thức người dân đồng bằng Bắc Bộ qua thực hành nghi lễ thờ cúng 66
Trang 32.3 Xu hướng biểu hiện và giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa của Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ 75
2.3.1 Xu hướng biểu hiện mối quan hệ giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ 75 2.3.2 Một số giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa của mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ 82
KẾT LUẬN 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu hóa không chỉ diễn ra trên lĩnh vực kinh tế chính trị mà còn diễn ra trên lĩnh vực văn hóa nói chung và tôn giáo nói riêng Việt Nam là một quốc gia có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo hết sức phong phú và đa dạng Ngoài các thức tôn giáo thế giới được
du nhập vào như Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo thì ở Việt Nam cũng đã hình thành hàng loạt các tôn giáo, tín ngưỡng bản địa của mình như: Đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ Mẫu…
Như vậy, từ xa xưa người Việt Nam đã thực hiện việc thờ cúng của mình trước khi có các tôn giáo ngoại nhập Tất cả các tôn giáo khác từ bên ngoài du nhập vào đều không thể nào xóa bỏ được đạo gốc của dân tộc, mà rút cuộc đều phải chung sống với nó, nếu muốn thu phục được tín đồ Đối với người Việt Nam, đạo nào cũng được coi trọng, miễn là giáo lý không đi ngược với đạo đức của dân tộc, trái với thuần phong mỹ tục của nhân dân, không phản lại lợi ích của cộng đồng, của đất nước
Tính bao dung trong tín ngưỡng, tư tưởng, tự do tín ngưỡng thuộc nếp sống bình thường của người Việt Nam, là cơ sở của sự đoàn kết tôn giáo ngoại lai và tín ngưỡng bản địa trong sự nghiệp xây dựng và giữ nước của dân tộc
Đúng như vậy, lịch sử đã chứng minh xu hướng chủ yếu của các tôn giáo ở nước ta là hướng về dân tộc Trong các tôn giáo hiện có mặt ở Việt Nam, Phật giáo mặc dù là một tôn giáo ngoại nhập nhưng rất gần gũi và hầu như đã trở thành một lĩnh vực tinh thần không thể thiếu của người Việt Nam Phật giáo đã nhanh chóng hòa mình cùng văn hóa dân tộc, hòa mình
Trang 5cùng những phong tục tập quán, tín ngưỡng dân tộc, đặc biệt là tín ngưỡng Mẫu để trở thành Phật giáo riêng có, mang đậm tinh thần đặc sắc của Việt Nam Mối quan hệ giữa Phật giáo với tín ngưỡng Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ được thể hiện rất đa dạng và phong phú trong suốt tiến trình lịch sử tồn tại và phát triển của tôn giáo này
Nghiên cứu “Tìm hiểu mối quan hệ giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng bắc bộ” là khai thác giá trị văn hóa dân tộc,
khẳng định căn tính của Phật giáo Việt Nam, nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân Đảng và Nhà nước khẳng định: Tôn giáo, tín ngưỡng là một hiện tượng xã hội còn tồn tại lâu dài, nó còn chứa đựng những giá trị văn hóa và đạo đức nhất định, nó còn là một trong những động lực góp phần thúc đẩy
sự phát triển của xã hội
2 Tình hình nghiên cứu
Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt và nhiều dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu đời Tín ngưỡng thờ Mẫu lấy việc tôn thờ người phụ nữ, người Mẹ làm đấng sáng tạo và bảo trì cho sự tồn tại và sinh thành của vũ trụ, đất nước và con người Bởi vậy, thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian khá tiêu biểu, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam Và khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam để tìm chỗ đứng cho mình trong văn hóa người Việt, nó đã nhanh chóng dung hợp với tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam
Đến nay, vấn đề đạo Phật và tín ngưỡng thờ Mẫu luôn được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, mỗi công trình nghiên cứu đều làm sáng tỏ, sâu sắc và phát hiện thêm nhiều giá trị mới trong Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu
ở Việt Nam
Trang 6Nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam và tín ngưỡng thờ Mẫu có các công trình tiêu biểu cho các mảng đề tài sau:
1 Các công trình thuộc mảng đề tài lịch sử nói về quá trình hình thành và phát triển của đạo Phật ở Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên cho đến nay là:
- “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Tài Thư (chủ biên) [61];
“Việt Nam Phật giáo sử luận” (2 tập) của Nguyễn Lang [39]; “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” của Lê Mạnh Thát (2 tập) [54] Các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến những vấn đề về sử học Phật giáo như: Phật giáo truyền vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu Công nguyên đến nay đã hơn 2000 năm Trong thời gian dài này, Phật giáo đã để lại cho dân tộc ta nhiều dấu ấn, có thể thấy từ tín ngưỡng cho đến văn hóa, phong tục tập quán, từ thế giới quan cho đến nhân sinh quan, từ tư tưởng cho đến tình cảm Nhiều vấn đề lịch sử dân tộc, của văn hóa dân tộc sẽ không sáng tỏ nếu không hiểu được Phật giáo dân tộc, trong đó có lịch sử Phật giáo dân tộc
2 Các công trình tổng hợp có liên quan về tình hình, thực trạng, đặc trưng của tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay dưới tác động của các
tư tưởng cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Có thể kể đến một số các công trình tiêu biểu: “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của Đặng Nghiêm Vạn [63]; “Về vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam Lý luận và thực tiễn” của tác giả Đỗ Quang Hưng [30]; “Nghiên cứu Tôn giáo, tín ngưỡng chặng đường 20 năm (1991-2011) của Viện Nghiên cứu Tôn giáo [65] Các công trình này, theo chúng tôi, là sự tổng hợp đã khái quát hoá các nội dung cơ bản liên quan đến lĩnh vực lý luận chung, cũng như các vấn đề cụ thể của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và trên thế giới, qua đó tạo dựng bức tranh tương đối phong phú, hoàn chỉnh về sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng trong quá khứ và
Trang 7đương đại Điểm đáng chú ý là các tôn giáo, tín ngưỡng đều được minh họa
cụ thể, chi tiết từ cuộc điều tra xã hội học về tôn giáo, tín ngưỡng ở ba thành phố lớn là Hà Nội, Huế và TP Hồ Chí Minh Ngoài ra, các tác giả công trình nghiên cứu cũng đã phân tích và làm rõ một số vấn đề sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng Việt Nam trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
3 Liên quan trực tiếp đến nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu có các công trình lớn sau: Các công trình của tác giả Ngô Đức Thịnh (chủ biên),
“Đạo Mẫu ở Việt Nam” [58]; “Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á” [59]; “Đạo Thánh ở Việt Nam” của
Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên) [37]; “Văn hóa Thánh Mẫu” của tác giả Đặng Văn Lung [44] Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này đã cung cấp những hiểu biết khá đầy đủ về những vấn đề cơ bản nhất không chỉ tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam mà cả ở một số nước châu Á khác như Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia… Đó là cơ hội thuận lợi để chúng tôi so sánh các hình thức thuộc tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam và các nước trong khu vực
Điểm đáng quan tâm và liên quan nhiều đến đề tài chúng tôi nghiên cứu là các công trình này cũng đã vẽ ra một bức tranh toàn cảnh về tín ngưỡng thờ Mẫu như: Nghi lễ lên đồng, các nghi lễ Shaman, các vấn đề về
36 giá đồng, âm nhạc trong khi lên đồng Qua đó đã làm sáng rõ hơn các vấn đề về nguồn gốc, bản chất và các đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu trong suốt chiều dài lịch sử đến nay đồng thời cũng là biểu tượng cho sức mạnh cộng đồng cho sự sáng tạo và phát triển không ngừng của dân tộc Việt Nam Trong truyền thống văn hóa của dân tộc, Mẫu đã trở thành biểu tượng cho ý chí dựng nước và giữ nước, cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Trang 8Bên cạnh các công trình này, chúng tôi nhận thấy một số tác giả khác cũng có xu hướng nghiên cứu Phật giáo và Đạo Mẫu ở Việt Nam Song, hầu hết các công trình của họ được trình bày dưới dạng bài viết nhỏ, đăng trên các tạp chí, hoặc các bài phát biểu tại các hội thảo khoa học Tiêu biểu như các bài viết được tập hợp trong cuốn kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế
“Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội Phủ Giầy”, từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 2 tháng 4 năm 2001 tại Hà Nội Hội thảo khoa học Quốc tế “Quốc sư Khuông Việt và Phật giáo Việt Nam đầu kỷ nguyên độc lập”, tổ chức tháng 3 năm
2011 tại Học viện Phật giáo Việt Nam ở Sóc Sơn, Hà Nội Hoặc trên các tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Văn hóa, Tạp chí Triết học, Tạp chí Nghiên cứu lý luận… Mỗi bài viết đề cập đến các góc độ khác nhau của vấn đề, song hầu hết các tác giả đều tìm những điểm mới hoặc sự dung hợp mới trong Phật giáo cũng như tín ngưỡng dân gian của người Việt
Do vậy, khi nghiên cứu đề tài này, từ góc độ tiếp cận tôn giáo học, chúng tôi đã tham khảo các công trình nghiên cứu nói trên với các gọi ý quan trọng để chúng tôi kế thừa và triển khai những phần mà các tác giả nghiên cứu chưa chú ý hoặc có chú ý thì vẫn còn bỏ ngỏ nhiều vấn đề
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
và tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ trước khi Phật giáo du nhập, đồng thời chỉ rõ mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu
từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm bảo lưu giá trị văn hóa của mối quan hệ Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam
* Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau: Thứ nhất: Phân tích khái quát những nội dung chủ yếu của đạo Phật
và tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ
Trang 9Thứ hai: Trình bày và phân tích những biểu hiện cơ bản của mối
quan hệ biện chứng giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ qua hai thời kỳ: thời kỳ Phật giáo du nhập; thời kỳ Phật giáo phát triển
Thứ ba, Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa của
mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa Phật
giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ
* Phạm vi: Luận văn tìm hiểu mối quan hệ giữa Phật giáo với tín
ngưỡng Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ từ khi Phật giáo du nhập cho đến nay qua hai thời kỳ cơ bản:
- Thời kỳ du nhập của Phật giáo vào Việt Nam;
- Thời kỳ phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa của mối quan hệ Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu đối với đời sống xã hội Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn dưa trên cơ sở lý luận là những quan điểm
của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc Đồng thời, luận văn cũng kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó
* Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng phương pháp luận của
triết học Mác – Lênin trong nghiên cứu các vấn đề xã hội, có kết hợp một
số phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và biện chứng như: Tôn giáo
Trang 10học, thống nhất lôgíc và lịch sử, phân tích - tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa…
6 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở trình bày khái quát chung về Phật giáo và tín ngưỡng Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, luận văn chỉ ra mối quan hệ giữa Phật giáo với tín ngưỡng Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ trên một số khía cạnh cơ bản: Mối quan hệ giữa Phật giáo thời kỳ du nhập với tín ngưỡng Mẫu; Tín ngưỡng Mẫu trong tâm thức người dân đồng bằng Bắc Bộ qua thực hành nghi lễ ở chùa; Mối quan hệ giữa tín ngưỡng Mẫu với quá trình phát triển của Phật giáo Việt Nam
7 Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã góp phần soi tỏ rõ thêm về mối quan hệ
giữa các hình thái ý thức xã hội với nhau và với tồn tại xẫ hội trong những điều kiện lịhc sử cụ thể xác định Cụ thể ở đây là mối quan hệ giữa một tôn giáo ngoại nhập với một hình thái tín ngưỡng dân gian Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử khác nhau của dân tộc
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công
tác nghiên cứu và giảng dạy Phật giáo và tín ngưỡng Mẫu, cho việc hoạch định chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục
lục, nội dung chính của luận văn gồm 02 chương 05 tiết
Trang 11Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠO PHẬT VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở KHU VỰC ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
1.1 Khái lược chung về đạo Phật
1.1.1 Sự ra đời của đạo Phật
Phật giáo là một tôn giáo lớn của thế giới, đồng thời cũng là một học thuyết mang đậm tính triết lý sâu sắc Với tư cách là một bộ phận của ý thức xã hội, đạo Phật ra đời trên cơ sở kinh tế - xã hội Ấn Độ và chịu sự quy định của tồn tại xã hội Ấn Độ thời kỳ mà nó ra đời
Phật giáo ra đời vào thế kỷ thứ VI TCN trong bối cảnh Ấn Độ là một nước lớn, đất rộng người đông ở miền Nam châu Á, là nước có lịch sử từ lâu đời, một trong những cái nôi của nền văn minh sớm nhất và rực rỡ nhất trên thế giới
Về điều kiện kinh tế xã hội ở Ấn Độ, do lực lượng sản xuất phát triển khá mạnh dẫn đến sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội ngày càng gay gắt Đạo Bà la môn sau một thời gian củng cố đã đi vào giai đoạn phát triển cực thịnh cả về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị trong xã hội
Xã hội Ấn Độ phân chia thành bốn đẳng cấp với quyền lợi, địa vị và nghĩa
Trang 12Thủ đà la (Soudras), chiếm đa số, là con cháu của những bộ lạc bại trận, những người bị phá sản, không có tư liệu sản xuất – những người nô lệ
Sự phân biệt giữa các đẳng cấp được thể hiện ở nhiều mặt, không những chỉ về quyền lợi kinh tế, địa vị xã hội, mà cả trong quan hệ giao tiếp,
đi lại, ăn mặc, sinh hoạt tôn giáo Hai đẳng cấp trên trở thành giai cấp bóc lột và thống trị trong xã hội, trong đó nổi bật là những đặc quyền đặc lợi của đẳng cấp Bà la môn, đẳng cấp được coi là cao quý, trong sạch nhất, sánh vai với thần thánh Đẳng cấp Thủ đà la ở địa vị tận cùng của xã hội, làm nô lệ cho các đẳng cấp trên Mâu thuẫn giữa các đẳng cấp ở Ấn Độ ngày càng trở nên gay gắt, đã làm xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau Các trào lưu tư tưởng đó đều gặp nhau ở chỗ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp và đạo Bà la môn Học thuyết Phật giáo là một trong những trào lưu tư tưởng đó
Về tiền đề tư tưởng lý luận, Phật giáo bắt nguồn từ những cảm hứng, suy tư, khát vọng của những người Ấn Độ cổ được tập hợp lại trong Vê đa Đối với phái chính thống, Vê đa có nghĩa là những tri thức cao cả, thiêng liêng Trong nghĩa cụ thể, Vê đa là một khối lượng tác phẩm văn học được sáng tác trong khoảng thời gian trên dưới 2000 năm, không đồng nhất về văn phong và nội dung Các tác phẩm truyền miệng này, gọi theo truyền thống là Mantra, làm thành một bộ phận lớn của Vê đa Man tra còn lại đến ngày nay dưới dạng bốn tập
Rigveda là bộ phận cổ nhất thể hiện những nguyện vọng của người dân thường như ước mong có thức ăn, có gia súc, ước vọng mưa xuống, mong an cư, mạnh khỏe, nhiều con cháu…
Samaveda là tuyển tập các đoạn hát trong khi tiến hành nghi lễ Atharvaveda là tuyển tập các bài thần chú ma thuật dùng cho sự khẩn cầu khác nhau
Trang 13Yajurveda gồm hai bộ phận: Yajurveda trắng chỉ các bài thần chú và công thức sử dụng; Yajurveda đen thì nêu những ý kiến về nghi lễ và thảo luận những ý kiến đó
Ba bộ phận văn học Vê đa muộn hơn là Bràhamana, Aranyaka và Upanisad Tiền đề tư tưởng lý luận của Phật giáo mang đặc trưng của hệ thống lý luận tôn giáo phương Đông Phật giáo tiếp thu Vê đa, Bà la môn
và một số hệ thống khác mang ý nghĩa truyền thống nối tiếp, mọi tư tưởng đều xoay xung quanh việc giải quyết các vấn đề nhân sinh quan và thế giới quan, trong sự đan xen, vay mượn giữa tôn giáo và triết học, giữa phái này
và phái kia Đặc biệt, Phật giáo đã khai thác triệt để mối quan hệ của Atman và Bràhma (trong Upanisad), cái mà sau này Nêru gọi là trục tung thế giới quan tư tưởng của người Ấn Độ
Sự ra đời của đạo Phật còn gắn liền với vai trò của người sáng lập Theo truyền thuyết, người sáng lập ra Phật giáo là Thái tử Cô Đàm – Tất Đạt Đa (Gautama Siddhattha), sinh năm 563 TCN, con vua Tịnh Phạn (Shuddhodana) thuộc bộ tộc Thích Ca (Sa Kya), trị vì một vương quốc nhỏ
là Ca tỳ la vệ (Kapilavaxtu) ở trung lưu sông Hằng, bao gồm một phần phía Nam Neepan và một phần các bang Uttarơ, Prađezơ, Bihe của Ấn Độ ngày nay Được sinh ra trong hoàn cảnh đặc biệt, hơn nữa lại là người con độc nhất, do đó Thái tử được vua cha và hoàng hậu rất yêu quý Ngay từ nhỏ Tất Đạt Đa đã được sống trong môi trường giàu sang nhung lụa và được mọi người tránh cho những nỗi ưu lo phiền não Tuổi trẻ Tất Đạt Đa không được rời khỏi hoàng cung, chỉ sử dụng thời gian vào việc giải trí, vui chơi, yến tiệc, học hành, lễ bái tế tự Thái tử không hề thấy và cũng không hề biết những gì là đen tối, cực nhọc, xấu xa, bất hạnh đang xảy ra xung quanh mình, thậm chí cũng không ngờ rằng trong cuộc đời lại có cảnh đói khát, bệnh tật, già yếu và chết chóc bi thương
Trang 14Năm 17 tuổi, Người đã được đức Vua cha cho sớm kết duyên cùng công chúa Da Du Đà La, sau đó sinh hạ được người con trai đặt tên là La Hầu
La Kể từ đó, Tất Đạt Đa mới có điều kiện tiếp xúc với xã hội hiện thực
Theo truyền thuyết, lý do dẫn đến bước ngoặt trong tâm hồn trí tuệ đầy nhạy cảm của Tất Đạt Đa là những cảnh tượng gặp bất ngờ tại bốn cửa
ra vào hoàng cung Tất Đạt Đa tận mặt nhìn thấy một cụ già còm cõi, một người bị bệnh tật giày vò, và sau đó là cảnh của một người chết đau thương Lần đầu tiên Tất Đạt Đa nhận ra rằng bệnh tật, già yếu và cái chết
là những điều bất hạnh, bi kịch cho tất cả mọi người Cuối cùng Tất Đạt Đa gặp một tu sĩ nghèo với nét mặt dung dị, thanh thản khác thường (một người chối bỏ hưởng thụ xa hoa để đi tìm sự bình yên của tâm hồn trong khổ hạnh), và rồi Người quyết định noi theo vị tu sĩ ấy
Năm 19 tuổi (có sách viết là năm 29 tuổi), nhân lúc vợ con, vua cha ngủ say, Người đã rời bỏ hoàng cung, từ chối giàu sang và quyền lực vào ở
ẩn trong núi Tuyết Sơn để tu tập thiền định Trong sáu năm trời kiên trì tu khổ hạnh, nhưng Người vẫn chưa đạt chính quả Qua thực tế tu hành, Tất Đạt Đa hiểu ra rằng từ cuộc sống giàu sang tràn đầy vật chất, thỏa mãn dục vọng, lẫn cuộc sống khổ hạnh ép xác đều đi chệch khỏi con đường đúng đắn Cuộc sống thứ nhất là cuộc sống tầm thường vô ích; cuộc sống thứ hai cũng tối tăm, không xứng đáng và vô nghĩa như cuộc sống thứ nhất Con đường đúng đắn phải là “con đường trung đạo”, con đường tự mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lý, con đường dẫn tới yên tĩnh và sự bừng sáng của tâm hồn trí tuệ Sau đó, Tất Đạt Đa từ bỏ tu khổ hạnh đi vào tư duy trí tuệ Sau 49 ngày thiền định dưới gốc Bồ Đề (pippala), cuối cùng Người đã giác ngộ được chân lý, thấu hiểu được bản chất của tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và con đường giải thoát cho chúng sinh Từ đó, Người chu du khắp lưu vực sông Hằng truyền bá đạo của mình Tôn giáo mới gắn liền với tên
Trang 15tuổi của Người đã hình thành và dần dần lan rộng ra nhiều vùng của Ấn Độ đương thời Người đời gọi nó là Phật giáo (giáo lý giác ngộ)
Phật thọ 80 tuổi và tịch diệt vào ngày rằm tháng hai, trong một vườn cây gần thành Câu thi la (Kusinagara)
1.1.2 Giáo lý cơ bản của đạo Phật
Nội dung giáo lý cơ bản của đạo Phật được tập trung trong kinh sách Phật giáo Sinh thời đức Phật không viết sách Người chỉ giảng dạy và bàn luận với học trò mình bằng lời nói Sau khi đức Phật nhập Niết bàn, các học trò của Người đã tiếp tục phát triển tư tưởng của Người, trải qua bốn lần kết tập kinh điển để xây dựng thành một học thuyết tôn giáo hoàn chỉnh
Kinh sách của Phật giáo rất đồ sộ, được chia làm ba bộ phận gọi là Tam tạng (Tripitaka) gồm kinh, luật, luận
Kinh (sutra) gồm năm bộ lớn là những sách ghi lời Phật giảng về giáo lý
Luật (vinaya) là sách ghi những giới luật do Phật chế định làm khuôn phép cho việc sinh hoạt, tu học của các đệ tử, nhất là đối với những người xuất gia tu hành
Luận (sástra) là các tác phẩm luận bàn chú giải các vấn đề Phật giáo của các học giả cao tăng về sau
Cũng như các tôn giáo khác, đối tượng phản ánh của Phật giáo là thế giới và con người Song quan niệm về thế giới và con người của Phật giáo
có hệ thống chặt chẽ và mang tính triết học sâu sắc, trên cơ sở tiếp thu nhiều yếu tố của đạo Bà la môn và các trào lưu triết học Ấn Độ cổ đại
Quan niệm về thế giới, theo Phật giáo các sự vật hiện tượng trong vũ trụ không phải do một đấng siêu nhiên nào tạo tác ra (vô tạo giả), mà nó được tạo nên bởi những yếu tố “pháp” (dharma)
Trang 16Các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ không đứng im mà luôn luôn chuyển động, biến đổi (vô thường) theo một chu trình thành – trụ - hoại – không (đối với loài vô tình) hay sinh – trụ - dị - diệt (đối với loài hữu tình) Với quan niệm này, Phật giáo cho rằng không phải sự vật, hiện tượng sinh
ra mới gọi là sinh, mất (chết) đi mới gọi là diệt, mà trong sự sống có sự chết, chết không phải là hết, chết là điều kiện của một sinh thành mới Sinh – diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trong sự vật, hiện tượng, cũng như trong toàn thể vũ trụ rộng lớn Hay nói cách khác, sự thành – trụ của pháp này, thế giới này là sự hoại – không của thế giới khác, pháp khác, cứ như vậy mà tiếp diễn không dứt
Các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ chuyển động, biến đổi đều bị quy định bởi luật nhân duyên (nhân là mầm tạo quả, duyên là điều kiện, phương tiện đảm bảo cho nhân thành quả), tức là sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều do nhân duyên mà thành
Tùy theo nhân duyên kết hợp mà thành các sự vật, hiện tượng khác nhau Tuy nhiên, một sự vật, hiện tượng không phải do một nguyên nhân
mà do nhiều nguyên nhân đã có từ trước hợp lại Vũ trụ là hệ thống nhân duyên vô tận, sách Phật gọi là tính “trùng trùng duyên khởi” của vũ trụ Do
đó, các sự vật hiện tượng thống nhất và đa dạng với nhau, nương nhờ, tác động và chi phối lẫn nhau
Trong nhận thức thế giới, Phật giáo còn đưa ra thuyết “sắc – không”
“Sắc” là danh từ Phật học chỉ sự vật hiện tượng ở trạng thái có hình tướng trong không gian mà con người nhận biết được, gọi là có, “không” chỉ sự vật, hiện tượng ở trạng thái không có hình tướng mà con người không nhận biết được Theo thuyết “sắc – không”, thế giới luôn chuyển động, biến đổi nhưng không phải khi sự vật tồn tại ở trạng thái có hình tướng (gọi là sắc) mới là có, ở trạng thái không (diệt) mới là không Thực ra cái gọi là không
Trang 17đã là có và cũng là có, cái gọi là có đã là không và cũng là không Sắc – sắc, không – không, có đấy mà không đấy, không đấy mà có đấy
Khi bàn về không gian và thời gian, Phật giáo cho rằng thời gian là
vô cùng, không gian là vô tận, thế giới nhiều nhiều như cát của sông Hằng Tuy nhiên, Phật giáo cũng đưa ra những khái niệm đo lường cụ thể: về không gian có “tam thiên thế giới” (đại thiên thế giới, trung thiên thế giới
và tiểu thiên thế giới); về thời gian có “tam kiếp” (đại kiếp, trung kiếp và tiểu kiếp) Khi xét riêng từng sự vật, hiện tượng, Phật giáo cũng nhìn nhận giới hạn thời gian, không gian, tức là có khởi đầu và có kết thúc
Như vậy, Phật giáo cho rằng thế giới luôn chuyển động và biến đổi không ngừng “vô thủy, vô chung” (không có bắt đầu, không có kết thúc)
Sự biến đổi của thế giới, sinh – diệt của sự vật, hiện tượng không phải do ý muốn chủ quan của bất kỳ ai, mà là tự nó (tự kỷ nhân quả) Sự vật, hiện tượng mà con người nhận biết được chỉ là giả tạo, không có thực tướng, hay nói một cách khác, đối với con người thế giới khách quan đang tồn tại
là ảo giả, do vô minh đem lại
Trong quan niệm về con người, cũng như các tôn giáo khác, Phật giáo cũng bàn đến những vấn đề sinh thành, sống chết, đặc biệt là nỗi khổ
và con đường thoát khổ của con người Phật giáo đã phủ nhận quan niệm
về sự “sáng thế” của các đấng tối cao (vô tạo giả) là tư tưởng chủ yếu trong các tôn giáo bấy giờ Con người là một pháp “đặc biệt” của thế giới Con người bao gồm phần sinh lý, phần tâm lý và là sự kết hợp của “ngũ uẩn” (sắc, thụ, tưởng, hành, thức)
Phần sinh lý “sắc uẩn” (Rupakaya) là thần sắc, hình tướng, được giới hạn trong không gian bằng xương, thịt, da được tạo thành bởi bốn yếu tố vật chất “tứ đại” (địa, thủy, hỏa, phong)
Trang 18Phần tâm lý hay tinh thần, ý thức gồm “thụ uẩn”, “tưởng uẩn”, “hành uẩn”, “thức uẩn” được biểu hiện bằng “thất tình” (ái, ố, nộ, hỷ, lạc, ai, dục)
Nói một cách khái quát, sự hình thành của con người là do “danh – sắc” tác hợp Con người mất đi chẳng qua chỉ là sự tan rã của “ngũ uẩn” theo quy luật “sinh – trụ - dị - diệt” mà thôi
Bên cạnh những yếu tố duy vật đó, thì Phật giáo lại quan niệm con người sau khi chết có thể đầu thai trở lại một trong sáu kiếp phàm là: người, tiên, súc sinh, địa ngục, atula, và quỷ, trong đó sự tái sinh trở lại kiếp người là rất khó khăn (nhất thất nhân thân vạn kiếp bất phục) Quá trình ấy cứ như chiếc bánh xe (luân) quay tròn (hồi) không dứt; “luân hồi nghiệp báo” là quy luật nhân quả của con người tồn tại trong vũ trụ
Phật giáo cho rằng vì “danh – sắc” dẫn con người tới “vô minh” (không nhận thức được bản thể), nên con người không thoát khỏi vòng luân hồi nghiệp báo Tái sinh ở kiếp nào (kết quả của nghiệp báo) là phụ thuộc vào nghiệp của mình (nguyên nhân) lúc còn sống ở kiếp trước Có thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp, bất động nghiệp, cực trọng nghiệp, cận
tử nghiệp Có nghiệp của bản thân, có nghiệp của cha mẹ, của gia đình
“Luân hồi” ở đây không phải là sự đầu thai của linh hồn, mà là sự kết tập mới của “ngũ uẩn” qua nghiệp lực Nó di chuyển vào trong “ngũ uẩn” dẫn dắt con người vào “luân hồi” Cũng xuất phát từ đây, Phật giáo đưa ra quan điểm “vô ngã”, tức là khẳng định “cái tôi” không thường tồn tại “Cái tôi” chỉ tồn tại trong thời gian thoáng qua, như cơn gió thoảng, như ánh sao băng… theo luật luân hồi “vô thủy, vô chung”
Vậy sự sống cũng như cái chết của con người luôn tuân theo luật
“luân hồi nghiệp báo” một cách “tự nhiên nhi nhiên”, không có bất cứ sự can thiệp nào của các “đấng sáng thế” hay các thần linh Đồng thời, cũng xuất phát từ những quan điểm này, Phật giáo đi tới phủ nhận linh hồn bất
Trang 19tử Bên cạnh đó, Phật giáo cũng đã thấy được vị trí, vai trò của con người trong vũ trụ; con người là loài thông minh và hùng mạnh nhất; con người là chúa tể của muôn loài; con người có thể chế ngự được tất cả (nhân thị tối thắng)
Bản chất con người ai cũng như ai Phật đã từng nói: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn Mỗi người sinh ra không phải mang sẵn trong bào thai dây chuyền hay dấu tin – ka (dấu hiệu quý phái của dòng Bà la môn) giữa trán” [trích theo: 11;115]
Trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ, người phụ nữ bị xã hội khinh rẻ, ruồng bỏ, thường bị bắt cóc, cưỡng ép, buôn bán để làm những món đồ tiêu khiển cho giới mày râu quyền quý, chồng chết phải chịu thiêu sống để đi theo người đã chết… Phật giáo đã chống lại những tập tục hủ bại ấy và đã nêu lên tư tưởng bình đẳng về nam nữ Trên thực tế, đức Phật đã cho phép thành lập giáo hội tỳ khiêu ni (nữ tu sĩ) – tổ chức đầu tiên của phụ nữ trong lịch sử
Phật giáo chủ trương kêu gọi con người phải biết yêu thương nhau trên tinh thần “từ bi hỉ xả”, với tấm lòng quên mình để cứu độ chúng sinh (vô ngã vị tha) Trong kinh Uđàna, đức Phật đã khẳng định: “Cũng như nước của đại dương hùng dũng chỉ có một vị là vị mặn của muối Giáo pháp chỉ có một vị là vị giải thoát” [trích theo: 51;262] Những tư tưởng này thể hiện bản chất đạo đức khuyến thiện trong tính nhân văn của Phật giáo
Giáo lý nền tảng cơ bản nhất của đạo Phật được tập trung trong “Tứ diệu đế” (Catvariàrya satyani), nghĩa là bốn chân lý tuyệt diệu Đồng thời qua “Tứ diệu đế”, quan điểm về con người cũng được thể hiện một cách tập trung và sâu sắc nhất
Trang 20Chân lý thứ nhất là “khổ đế” (Duhkha – Satya) Phật giáo đã khái quát toàn bộ cuộc sống của cả đời người trong bốn chữ “đời là bể khổ” Phật từng nói: “nước của bốn biển không nhiều bằng nước mắt của chúng sinh” Toàn bộ bể khổ của đời người được Phật giáo tổng kết, quy lại thành nhiều nỗi khổ khác nhau, song tiêu biểu nhất là “bát khổ” (tám cái khổ) gồm sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, thủ ngũ uẩn Khổ đau là vô tận và tuyệt đối Nhìn chung trong Phật giáo, cuộc đời ngoài khổ đau không tồn tại điều gì khác Ngay cả cái chết cũng không thể chấm dứt sự khổ đau, mà là tiếp tục sự khổ mới
Chân lý thứ hai là “Nhân đế” (Samudaya – Satya) hay còn gọi là tập
đế Nếu như chân lý thứ nhất khẳng định “đời là bể khổ”, thì chân lý thứ hai của Phật giáo lại chỉ ra nguyên nhân của mọi sự khổ đau đó Có nhiều nguyên nhân dẫn con người ta tới “bể khổ trầm luân”, song tựu trung lại có
ba nguyên nhân cơ bản (tam độc) nằm ngay trong bản thân con người đó là:
“tham, sân, si” Những nguyên nhân ấy kết hợp với “duyên khởi” hình thành thuyết “thập nhị nhân duyên” Mười hai cái vừa là nhân vừa là duyên nguồn gốc của sự khổ (vô minh, hành, thức, danh - sắc, lục nhập, xúc, thụ,
ái, thủ, hữu, sinh, lão – tử) Mọi nguyên nhân của sự khổ đều bắt nguồn từ con người, do con người hiện diện ra trong mỗi một hành vi của mình
“Vô minh” (avidya) có nghĩa là mê hoặc, tối tăm, không sáng suốt, là trạng thái trí tuệ không đúng đắn Do “vô minh” con người không nhận thức được thực tướng, bản chất của thế giới và của chính con người, cho nên sinh ra vọng tưởng, chấp ngã, từ đó sinh ra vị kỷ tham lam, dục vọng
và có những hành động tương ứng Những hành động đó tạo ra “tam nghiệp” (thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp) Do tạo nghiệp, đặc biệt là nghiệp ác, mà con người phải chịu đau khổ, không dứt ra khỏi vòng luân hồi sinh tử
Trang 21Chân lý thứ ba là “diệt đế” (Nirodha – Satya) Phật giáo khẳng định cái khổ có thể tiêu diệt được, có thể chấm dứt được luân hồi Muốn chấm dứt mọi đau khổ thì chỉ có cách tiêu diệt nguyên nhân gây ra sự đau khổ ấy Như trên đã nêu, Phật giáo quan niệm nguồn gốc của mọi sự khổ đau là do
sự vận hành của “thập nhị nhân duyên”, trong đó gốc rễ sâu xa là “vô minh” Vì vậy, muốn diệt khổ phải đi ngược lại sự vận động của mười hai nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ “vô minh” “Vô minh” bị tiêu diệt, trí tuệ được bừng sáng, hiểu rõ được bản chất của tồn tại, thực tướng của vũ trụ và con người, không còn tham dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa Tức là thoát khỏi vòng luân hồi sinh – tử
Chân lý thứ tư là “đạo đế” (Màrga – Satya) Đó là con đường lên cõi Niết Bàn (Nirvana), hay cách thức, giải pháp diệt khổ, giải thoát khỏi vòng luân hồi Cách thức ấy cần có ba cái phải học (Tam học) là giới học, định học và tuệ học Có tám giải pháp chính (bát chính đạo) để trở thành chính quả là: chính kiến, chính tư duy, chính nghiệp, chính ngữ, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm và chính định Ngoài ra, còn một số phương pháp tu luyện bổ trợ khác Thực hành tu luyện đạo tốt để có thể giác ngộ chân lý nhà Phật, chứng quả Niết Bàn, giải thoát khỏi bể khổ trầm luân
Như vậy, Phật giáo với tư tưởng vô thần luận, phủ nhận đấng sáng thế (vô tạo giả) và có tư tưởng biện chứng (vô thường, thuyết duyên khởi…) Phật giáo là tiếng nói chống chế độ phân biệt đẳng cấp, tố cáo bất công, đòi tự do và bình đẳng xã hội, nói lên khát vọng giải thoát của con người khỏi những bi kịch của cuộc đời Đồng thời, Phật giáo cũng nêu cao thiện tâm, từ bi, bác ái như là những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sống xã hội Chính những chân giá trị cao đẹp đó, Phật giáo ra đời đã đáp ứng được nguyện vọng mong mỏi của quần chúng nhân dân, nhanh chóng
Trang 22được truyền bá rộng rãi ở Ấn Độ và vượt ra khỏi phạm vi của đất nước này lan rộng đến nhiều nước trên toàn thế giới như hiện nay
Đạo Phật được truyền vào Việt Nam từ những năm đầu Công Nguyên, cái nôi truyền bá đạo Phật đầu tiên là vùng Bắc Bộ mà trung tâm
là Luy Lâu, Thuận Thành, Bắc Ninh Từ trung tâm Luy Lâu Phật giáo đã có
sự phát triển mạnh mẽ, dần hội nhập với tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn hóa dân tộc để trở thành Phật giáo dân tộc Việt Nam và phát triển lan rộng trên toàn cõi Việt Nam
Đồng bằng Bắc Bộ luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của
cả nước Cũng nơi đây vào thế kỷ thứ II, một trung tâm Phật giáo lớn được xây dựng ở Luy Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh) trở thành vùng đất tổ của Phật giáo Việt Nam Từ nơi này, Phật giáo Việt Nam xuất hiện và phát triển trải qua những thăng trầm hòa quyện cùng dòng chảy của lịch sử dân tộc Bởi vậy, Phật giáo ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay đã từng có lịch sử truyền thống lâu đời gắn liền với lịch sử Phật giáo Việt Nam Nó tiêu biểu cho lịch sử Phật giáo Việt Nam truyền thống đồng thời cũng mang những đặc điểm phong phú và đa dạng gắn liền với tập quán, phong tục văn hóa, tín ngưỡng dân gian của vùng này
Phật giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ rất phát triển, với những trung tâm Phật giáo ở các tỉnh thành như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định… đây là những tỉnh trung tâm của đồng bằng Bắc
Bộ với cư dân đông đúc và kinh tế - xã hội phát triển trong đó có thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội của cả nước Hơn nữa, các tỉnh thành trên lại là những địa phương có ảnh hưởng nhiều và thể hiện tập trung, tiêu biểu cho Phật giáo ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay Cho đến nay, Phật giáo ở đây về cơ bản vẫn mang đậm nét của Phật giáo Bắc tông, với các yếu tố tông phái cơ bản là: Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông Cho
Trang 23dù sự phân định và ảnh hưởng cụ thể của nó là khó xác định một cách rạch ròi, bởi các tông phái đó có sự giao thoa, hòa quyện vào nhau Song có thể nêu khái quát, giới tăng ni chịu ảnh hưởng nhiều của Thiền tông, còn đại đa
số tín đồ Phật tử lại chịu ảnh hưởng nhiều của Tịnh Độ tông và Mật tông
Có thể thấy rõ điều này khi ở vùng Bắc Bộ người dân hay đồng nhất chùa chiền với chốn “Thiền môn” Còn đại đa số Phật tử khi ở chùa cũng như khi ở nhà họ vẫn tụng niệm kinh chủ yếu phổ biến là Cứu khổ chân kinh với mục đích cơ bản là cầu mong sự “phù hộ độ trì”, sự “cứu khổ cứu nạn” của Phật Tổ, của Quan Thế Âm Bồ Tát đối với cuộc sống hiện tại ở trên
“dương thế” của họ và gia đình, cùng với sự cầu mong cho người thân của
họ ở nơi “chín suối” được siêu thoát Đương nhiên, Phật giáo ở các địa phương này cũng mang đậm tính hỗn dung và lai tạp của Phật giáo Việt Nam nói chung Nó hòa đồng vào phong tục tập quán và văn hóa dân gian rất đỗi tự nhiên của người dân nơi đây
Nằm trong xu thế phát triển của Phật giáo Việt Nam hiện nay, Phật giáo ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ cũng có sự phát triển nhanh chóng
Theo báo cáo tổng kết công tác Phật giáo, ở đồng bằng Bắc Bộ số lượng và chất lượng Tăng Ni không ngừng tăng
Nếu như, trong Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ III của các địa phương, tính đến cuối năm 1997 có tới hàng ngàn tăng ni, chưa kể hàng trăm tiểu đang chờ thụ giới Trong số đó, sư ni chiếm đa số, chẳng hạn như ở Hải Phòng sư tăng có 17 vị, còn lại là sư ni có tới 135 vị Riêng tỉnh Thái Bình
“tính từ 1992 đến 1996 tăng gần 50% số tăng ni” [4;15] Thành hội Phật giáo Hà Nội trong nhiệm kỳ III (1992 – 1997) đã tổ chức giới đàn, truyền giới phẩm cho “tổng số giới Tỷ Khiêu Tỷ Khiêu ni là 156 vị, giới tử Sa di
Sa di ni là 213 vị…” [5;12] Tỉnh Hải Dương “từ năm 1992 đến 1997 toàn tỉnh đã tổ chức truyền giới cho 206 vị” [6;4]
Trang 24Đến năm 2009, ở Hải Phòng có tới khoảng 300 tăng ni (trong đó có
50 vị là sư tăng còn đến 250 vị sư ni), vậy là sau 12 năm số lượng tăng ni ở đây tăng lên gấp đôi Hà Nội tới thời điểm này khi sát nhập với Hà Tây cũng đã có 2.031 tăng ni
Hiện nay, trong cả nước có hơn 45.000 [xem 68] tăng, ni, thì đồng bằng Bắc Bộ có khoảng hơn 4.925 tăng ni chiếm 11% của cả nước (Hà Nội: 2.031; Hải Phòng: 306; Vĩnh Phúc 235; Bắc Ninh 207; Hà Nam 280; Hưng Yên hơn 200; Hải Dương 277; Thái Bình 393; Nam Định 712; Ninh Bình 284) [xem 69]
Đặc biệt, nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ đã có trường Phật học cơ bản nhằm đào tạo đội ngũ tăng ni kế cận có trình độ sơ cấp và trung cấp về Phật học Ngoài ra, các tỉnh còn gửi hàng chục tăng ni đi đào tạo ở Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, cùng một số tăng ni đang du học ở nước ngoài
Về số lượng chùa Phật ở Bắc Bộ, số lượng chùa ở đồng bằng Bắc Bộ không ngừng tăng trong một khoảng thời gian ngắn, nếu như năm 1998, các tỉnh thành ở đồng bằng Bắc Bộ có tới trên 3.907 ngôi chùa (đều là chùa Bắc tông) Với tổng diện tích các tỉnh thành trên 8.545,8 km2, chỉ bằng 2,58% diện tích cả nước (330.991km2), với tổng dân số bằng 14,38% dân
số cả nước, nhưng số chùa chiếm tới 27,81% tổng số chùa trong cả nước (14.048 ngôi chùa) Thì đến Tính trung bình cứ 2,18 km2 thì có một ngôi chùa Thì đến nay hiện nay vùng đồng bằng Bắc Bộ có 6.573 cơ sở thờ tự (cả nước có có 17.000)[xem 61], cơ sở chiếm 38,7% của cả nước (Hà Nội: 1.792; Hải Phòng: 539; Vĩnh Phúc 302; Bắc Ninh 584; Hà Nam 505; Hưng Yên hơn 450; Hải Dương 483; Thái Bình 770; Nam Định 818; Ninh Bình 330) [xem 69]
Trang 25Hầu như làng quê nào ở Bắc Bộ cũng có chùa, thậm chí có những làng có tới hai đến ba ngôi chùa như ở Hà Tây, Hải Dương (chùa Thượng, chùa Trung, chùa Hạ) Đặc biệt, hầu hết các chùa đều có gian riêng, điện thờ Mẫu riêng (theo số liệu thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ tỉnh Hà Tây cũ thì 95% số chùa trong tỉnh có điện thờ Mẫu) Ở đây thường diễn ra nghi lễ lên đồng, kèm theo hát chầu văn – một loại hình sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu của Bắc Bộ Có rất nhiều ngôi chùa ở Bắc Bộ được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Hà Tây có 157 chùa, Hải Phòng có 150 chùa, Bắc Ninh có 50 chùa,… và nhiều ngôi chùa được xây mới
Về số lượng Phật tử ở các địa phương đồng bằng Bắc Bộ, tuy khó xác định một cách chính xác, song có thể khái quát ở một số đặc điểm như sau: Tín đồ Phật tử ở các địa phương này tương đối thuần nhất, không có tổ chức Gia đình Phật tử, các Phật tử sinh hoạt với nhau trong tình hòa hợp một cách tự nguyện theo từng tổ, nhóm, hội quy Số lượng Phật tử ở các địa phương này chiếm số lượng lớn và gia tăng nhanh trong thời gian gần đây
Số lượng các đạo tràng không ngừng tăng, tập trung ở các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình…
Tất cả những điều đó cho thấy, sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ, tính thích ứng và quá trình hội nhập của Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật giáo đồng bằng Bắc Bộ nói riêng Thấy được sự thích ứng và biến đổi hòa nhập của Phật giáo với văn hóa, tín ngưỡng và phong tục tập quán của dân tộc trong mọi thời đại lịch sử, đặc biệt là đối với tín ngưỡng thờ Mẫu Ngày nay, có thể khẳng định rằng, hầu hết các chùa ở đồng bằng Bắc Bộ đều có điện thờ Mẫu hoặc ít nhiều mang màu sắc của tín ngưỡng Mẫu trong không gian thờ cúng và sự thực hành các lễ nghi thờ cúng trong chùa Điều này cho thấy một xu thế tích hợp văn hóa trong đời sống tín ngưỡng tâm linh của người dân Bắc Bộ trước bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển đang diễn ra mạnh mẽ
Trang 261.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ trước thời kỳ Phật giáo du nhập vào Việt Nam
1.2.1 Nguồn gốc ra đời và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu
Danh từ “Mẫu” có gốc từ Hán – Việt, được hiểu là Mẹ (hay Mụ, Mạ, Mế) Nghĩa ban đầu, Mẫu hay Mẹ đều chỉ người phụ nữ đã sinh ra một người nào đó, là tiếng xưng hô của người con đối với người sinh ra mình
Mở rộng ra, người ta còn dùng danh từ “Mẫu” để chỉ sự sinh sôi nảy nở, sinh hoá không ngừng Ngoài ra, trong cuộc sống danh từ này còn dùng để biểu thị sự tôn vinh, tôn quý một nhân vật nữ nào đó, chẳng hạn như: Mẫu
Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Nghi Thiên Hạ
Tín ngưỡng Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian được tích hợp bởi các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần và thờ Tam phủ - Tứ phủ với niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu – đấng sáng tạo, bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của tự nhiên, xã hội và con người
Trong tín ngưỡng của người Việt, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất
Đạo Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ,
là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến
Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ được hình thành trên cơ sở những tiền đề kinh tế, xã hội và văn hoá tín ngưỡng của người Việt cổ có
Trang 27những bước chuyển biến và đặc thù nhất định, thể hiện một lối tư duy nông nghiệp lúa nước và mong ước có được sự che chở, giúp đỡ của các bậc thánh thần trong cuộc sống
Đồng bằng Bắc Bộ là một trong sáu vùng văn hóa của cả nước Đây
là vùng văn hóa độc đáo và đặc sắc trong sự phong phú đa dạng của văn hóa Việt Nam Đồng bằng Bắc Bộ được kiến tạo bởi hệ thống sông Hồng
và sông Thái Bình bao gồm phần bằng, trũng của các tỉnh thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, một phần Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh và Vĩnh Phúc
Đây là vùng đồng bằng nền kinh tế thuộc hệ văn minh nông nghiệp lúa nước, khởi thủy là chế độ Mẫu hệ nên người phụ nữ được đề cao, tôn trọng, thậm chí là tôn thờ Bởi, người phụ nữ là người sinh con đẻ cái, nuôi con bằng dòng sữa chảy ra từ hai bầu ngực, người phụ nữ là người chủ gia đình, và trong tâm thức dân gian người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ thì họ là những người có uy lực vũ trụ và vạn vật cũng là một vị Nữ thần, và sản vật
mà họ lấy được từ thiên nhiên cũng tựa như dòng sữa chảy ra từ bầu ngực của bà Mẹ lớn thiêng liêng đó
Nền văn minh lúa nước rất coi trọng bàn tay khéo léo của người phụ
nữ, và từ xa xưa người mẹ đã trở thành thân thuộc với con người Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ là sự tôn vinh thờ phụng gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ như trời, đất, mưa, gió… ngoài ra còn thờ phụng những vị nữ anh hùng dân tộc
Theo Nguyễn Đăng Duy, tín ngưỡng Mẫu của người Việt (kinh) hay ở Việt Nam khởi đầu gắn với chế độ xã hội nguyên thuỷ mẫu hệ, và nền kinh tế nông nghiệp lúa nước từ đầu gắn với con người cư trú trên các miền rừng núi Có nghĩa là tín ngưỡng thờ Mẫu khởi nguyên từ vùng rùng núi, thờ Mẹ Cây (sau này gọi là Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Sơn lâm),
Trang 28rồi theo dòng lịch sử, dần đi xuống trung du đồng bằng, bổ sung thêm những Mẫu khác
Khi con người xuống trung du, đồng bằng sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước, cây lúa hạt gạo là là yếu tố quan trọng hàng đầu nuôi sống con người, rồi các cây hoa màu, cây ăn quả Mẹ Cây vẫn gắn bó chặt chẽ với đời sống con người Và con người làm nông nghiệp lúa nước, thì đất và nước là hai đối tượng quan trọng tiếp theo được tôn thờ Đất và Nước được tôn vinh thành Mẹ Đất, Mẹ Nước (Mẫu Địa, Mẫu Thuỷ)
Thế nhưng quyết định có nước lại là do mưa trên trời rơi xuống, con người chưa hiểu được quy luật của mưa là nước bốc hơi lên thành mây mưa, mà cho đó do trời quyết định, Mẹ Trời được tôn vinh, Mẫu Thiên gia nhập vào hàng ngũ Mẫu Tín ngưỡng là từ thực tế cuộc sống kinh tế, xã hội, con người đặt ra những lực lượng tôn vinh, tôn thờ phù hợp với cuộc sống của mình là thế Mẹ Cây, Mẹ Rừng (sau này gọi là Mẫu Thượng ngàn hay Mẫu sơn lâm) Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Trời (thời tiết khí hậu) hay gọi theo tiếng Hán là Mẫu Thượng Ngàn (Mẫu Nhạc), Mẫu Địa, Mẫu Thoải (Thuỷ), Mẫu Thượng Thiên là hệ thống Mẫu cơ bản ban đầu của tín ngưỡng Mẫu và dần hình thành lên hệ thống Mẫu Tam phủ - Tứ Phủ
Trong quá trình biến đổi, phát triển từ thờ Mẫu đến Mẫu Tam phủ –
Tứ phủ, đặc biệt giai đoạn từ thế kỷ XVI trở đi – giai đoạn xuất hiện Mẫu Liễu – quan niệm dân gian thường coi Bà là hóa thân, thậm chí đồng nhất với Mẫu Thượng Thiên, trở thành một vị thần chủ của Đạo Mẫu Tam phủ –
Trang 29trò của người phụ nữ; xã hội rối loạn, nhân tâm ly tán, mà một trong biểu hiện của nó là các cuộc khởi nghĩa nông dân triền miên Với vị Thần chủ này, Đạo Mẫu vốn là một tín ngưỡng gần với thiên nhiên, trời đất, nay được “đời thường hóa”, gắn liền và đáp ứng những khát vọng của con người, thân phận của con người nhất là người phụ nữ trong đời sống hàng ngày, tài lộc, chữa bệnh, ban phúc, giáng họa và chính từ đây, Đạo Mẫu Tam phủ – Tứ phủ có được bộ mặt mới, vừa rất dân tộc, rất truyền thống lại vừa rất cập thời, làm cho nó nhanh chóng phát triển, lan tỏa khắp mọi miền đất nước, theo gót người Việt để “Mẫu hóa” các tín ngưỡng bản địa khác, vừa có cơ hội tập trung thành trung tâm thờ Mẫu lớn, như Phủ Dầy (Nam Định), Phủ Tây Hồ (Hà Nội) Và cùng với sự xuất hiện vị thần chủ này, thì
hệ thống điện thần, quan niệm nhân sinh và vũ trụ, đặc biệt là các nghi lễ –
lễ hội càng thể hiện tính hệ thống hơn
Để từ tục thờ Nữ thần, Mẫu thần phát triển lên thành Đạo Mẫu Tam phủ – Tứ phủ thì ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc có vai trò quan trọng Theo nhiều nhà nghiên cứu, Đạo giáo Trung Quốc du nhập vào nước
ta khá sớm, ít nhất là từ thời Bắc thuộc Thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần thì Lão giáo là một trong “Tam giáo đồng nguyên” Nhà vua đã từng đứng ra phong cho các đạo sĩ, trong các trường thi cũng có các đề nói về Đạo giáo, nhiều người trong Hoàng tộc cũng là Đạo sĩ Lý thuyết Lão gia đã ăn sâu vào ý thức của nhiều trí thức đương thời, nhiều phương thuật, ma thuật của Đạo Lão lan truyền trong nhân dân Đến đời Lê Nho giáo thịnh hành, Lão giáo không được coi trọng, nhưng triết lý cũng như pháp thuật của nó không phải không lưu hành rộng rãi Điển hình là việc vua Lê Thần Tông cho phép Trần Lộc lập ra Nội Đạo Tràng Như vậy trên cơ sở tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian, với những ảnh hưởng đạo giáo Trung Quốc đã hình thành và định hình Đạo Mẫu Tam phủ – Tứ phủ (Tam tòa Thánh Mẫu), một thứ Đạo giáo dân gian đặc thù của Việt Nam, và có thể gọi một cách ngắn gọn hơn và thực chất hơn – Đạo Mẫu
Trang 30Như vậy, trong tâm thức người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ luôn hướng trọn về Mẫu - người Mẹ lớn linh thiêng của vũ trụ và muôn loài, của giống nòi và xứ sở Tâm thức ấy tồn tại xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành yếu tố bản chất trong tâm linh dân tộc Đồng thời bước chuyển từ chế
độ Mẫu hệ sang phụ hệ vốn là bước chuyển tất yếu của nhân loại ban đầu là cưỡng bức ở dân tộc ta nhưng dần dần nó được chuyển hóa theo hướng nhân văn nhất Trên điện thờ (tức là ở bình diện tâm thức), Nữ thần không những không bị hạ bệ mà qua mỗi thời kỳ lại được bổ sung thêm những gương mặt mới Việc thờ Nam thần Nữ thần cân bằng nhau và Nữ thần làm chủ giới siêu nhiên; vai trò nam giới được coi trọng đồng thời vai trò của
nữ giới không hề bị hạ thấp có căn nguyên là do sức mạnh của người đàn ông, vai trò trụ cột của họ ở dân tộc ta, trước khi người Trung Quốc xâm chiếm không khẳng định bằng áp chế mà khẳng định tự thân trong cuộc đấu tranh chống thiên tai địch họa, là chỗ dựa vững chắc của nữ giới đồng thời một cách tự nhiên, họ rất cần sự chăm sóc, yên ủi của người vợ, người mẹ
Tín ngưỡng thờ Nữ thần , thờ Mẫu định hình thành Đạo Tam Phủ và kiện toàn hơn khi trở thành Đạo Tứ Phủ Tín ngưỡng thờ Nữ thần , thờ Mẫu tất yếu trở thành Đạo Mẫu khi nhân dân ta quan niệm cai quản bốn cõi
(Trời, Rừng núi, Sông nước, Nhân gian) là các Thánh Mẫu Họ xác lập thần
chủ, kiện toàn điện thờ (dù chưa thống nhất trong cả nước) và tạo nên các nghi lễ đặc trưng (hầu đồng, hát văn, múa bóng) để hầu các Thánh Mẫu của
họ Và không phải ở vào một thời đại nào khác mà ở vào chính thời cực thịnh của Nho giáo, Mẫu Liễu bước lên đài cao uy nghiêm của điện thờ
Sự thắng thế của tín ngưỡng thờ Mẫu đã khẳng định chiến thắng tinh thần tuyệt đối của tinh thần trọng Mẫu Việt Nam, một tinh thần giàu tính nhân bản, nhân đạo và nhân văn Thời khởi thủy, cai quản ba cõi đều là các bà thần: Bà Trời , Bà Đất , Bà Nước Sự xuất hiện của các Nữ thần ở điện thờ ngày một nhiều Nữ thần được hiểu là người vợ, người mẹ và chủ
Trang 31yếu là các Mẹ, các Mẫu Đến khi các ông thần góp mặt vào điện thờ, các bà chẳng những không lui vào hậu điện mà càng ngày càng phô trương thanh thế, công tích nhiều thêm lên và danh xưng cũng oai linh hơn Các “ông thần” chiếm lĩnh ba miền: trời có ông trời, “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá” nhưng cũng song hành tồn tại Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thoải và Mẫu Địa Đó là sự hòa hợp của các dòng văn hóa khi du nhập vào Việt Nam Dưới quan điểm sống của mỗi người khác nhau đã chọn cho mình những tín ngưỡng tâm linh khác nhau Bởi vậy, có sự tồn tại song song Thánh Mẫu và Thánh Cha
1.2.2 Nghi lễ, tổ chức, nơi thờ cúng của tín ngưỡng thờ Mẫu
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, hệ thống nghi lễ và lễ hội rất phong phú
và đa dạng, mang nhiều sắc thái độc đáo có thể phân biệt với tín ngưỡng, tôn giáo khác Tuy nhiên, tập trung và điển hình nhất vẫn là nghi lễ tôn nhang (lễ đội bát nhang) và lễ Hầu đồng (Hầu bóng)
Lễ hầu đồng: được coi là một nghi lễ chính, tiêu biểu và đặc trưng nhất của đạo Mẫu Đây là nghi lễ nhập hồn của các vị thánh vào thân xác của các ông Đồng, bà Đồng Thông qua thân xác của các ông Đồng, bà Đồng mà Thánh sẽ phán truyền, chữa bệnh, ban phúc lộc cho các tín đồ
Nghi lễ hầu đồng mang những sắc thái địa phương Theo nghĩa Hán Việt, Đồng là thuật ngữ dùng để chỉ người con trai dưới mười lăm tuổi với
tư chất trong trắng, ngây thơ, tự nhiên để thần linh có thể nhập vào Dần dần sau này người ta dùng các cô gái thay thế các thiếu niên Tuy nhiên, trong số các ông Đồng, bà Đồng thỉnh thoảng người ta thấy có các em nhỏ dưới 15 tuổi Lên đồng, tức là thần linh cưỡi lên thân xác đồng nhi ấy
Hầu bóng, trong đó từ “bóng” chỉ vị thần linh nào đó, chiếu, nhập cái bóng (hồn) của mình vào ông Đồng và ông bà Đồng này chỉ là người hầu
hạ cái bóng thần linh mà thôi
Trang 32Lên đồng là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của các vị thần linh, Trong đó thời gian mỗi lần một vị thần linh nhập hồn (giáng đồng, nhập đồng), rồi làm việc quan (tức thời gian thực hiện các nghi lễ nhảy múa, ban lộc, phán truyền) và xuất hồn (thăng đồng), được gọi là một giá đồng (tức thời gian thần linh ngự trị trên cái giá của mình là các ông Đồng, bà Đồng)
Trong một buỗi lễ, có thể thực hiện được nhiều giá đồng khác nhau, ứng với mỗi giá đồng là một loại đồ lễ, trang phục đặc biệt, trong nghi lễ hầu đồng người ta thường sử dụng kết hợp nhiều loại hình âm nhạc với múa hát, diễn xướng Nội dung của các bài hát, diễn xướng và âm nhạc trong nghi lễ thường nói về thần tích, sự mầu nhiệm, tính cách và ca ngợi công đức của các vị thánh đang giáng đồng
Trên nền nhạc diễn xướng, người lên đồng thường múa quạt, múa chèo đò, để biểu hiện tính cách, đặc điểm của các vị thánh Chẳng hạn, với các vị thánh hàng Quan thường có múa kiếm, long đao, kích với các
vị thánh hàng Chầu bà thường có múa mồi, múa quạt theo điệu Xá thượng,
Xá giây lệch, với các thánh hàng ông Hoàng thường múa cung, múa hèo theo nhịp lưu thuỷ, bát bộ, với các thánh hàng Cô thường múa mồi, múa quạt, múa chèo đò, múa thêu hoa, dệt gấm, hái quả, hái hoa với các thánh hàng Cậu thường múa hèo, múa lân theo điệu lưu thuỷ có đệm theo nhịp chống sư tử
Người hầu đồng phải chuẩn bị rất nhiều bộ quần áo để mỗi khi ngồi đồng ông Hoàng, Chầu bà nào giáng thì phải thay đồ cho phù hợp Thông qua bộ quần áo mà người hầu đồng đang mặc, cũng như điệu bộ và hành vi của người đó mà người ta có thể nhận biết được vị thánh nào đang giáng đồng Ví như, thánh Mẫu Thượng Ngàn giáng nhập thì phải thay mặc bộ quần áo dân tộc miền núi, hoặc quan Tuần Tranh giáng thì phải thay mặc
bộ võ phục có hai lá cờ lệnh cắm sau lưng Sau mỗi giá đồng, người lên đồng thường ban phát lộc thánh (bánh kẹo, hoa quả, thuốc lá, trầu cau, có khi là tiền) cho những người ngồi chầu đồng chung quanh
Trang 33Chính những yếu tố này đã làm cho những buổi lễ tôn giáo trở thành sinh hoạt văn hoá văn nghệ có sự cộng cảm của nhiều người, kéo mọi người đến gần nhau hơn, với sự mầu nhiệm của Mẫu
Tóm lại, trước hết là “ghi lễ nhập hồn nhiều lần Một ông Đồng hay
bà Đồng như trong một buổi lễ, tuỳ theo tính chất của buổi lễ trong năm hay tính cách đồng (căn đồng), theo nhu cầu của từng ông Đồng hay bà Đồng mà họ làm giá (ghế) để cho các vị thánh nào nhập”[16;93] Đánh dấu mỗi lần vị Thánh nào nhập và thăng là căn cứ vào nghi thức trùm khăn phủ diện đỏ lên đầu và ông Đồng, bà Đồng thay lễ phục cho phù hợp với vị trí
và tính chất của vị thánh ấy
Trong nghi lễ nhập đồng, các vị thánh nhập hồn bao giờ cũng là các
vị thánh làm những điều tốt đẹp phù hộ cho ông Đồng, bà Đồng và các con nhang đệ tử làm ăn may mắn, chữa khỏi bệnh tật, trừ đuổi rủi ro, ma quỷ quấy ám Hơn thế nữa, các vị thánh đó lúc sinh thời đều là những con người tài giỏi, có đức độ, có vị trí cao trong xã hội và đã từng mang lại danh tiếng, công ơn đối với dân nước
Trong nghi thức lên đồng, để cho thánh nhập, người hầu phải “thoát khỏi” trạng thái tâm sinh lý bình thường, họ không còn là họ nữa mà chỉ là cái xác để Thánh nhập vào Do vậy, tuỳ theo từng vị Thánh mà thanh đồng
có những hành động, tư thế, nét mặt sao cho phù hợp Để tạo nên trạng thái tâm lý như vậy, ông Đồng, bà Đồng phải tự thôi miên bản thân
Chức năng cơ bản của nghi thức nhập hồn của các Thánh vào các ông Đồng, bà Đồng là để chữa bệnh, đoán số và ban phước lộc Có không ít trường hợp những người phải đội bát nhang với tư cách là con nhang của các Thánh hay mức cao hơn phải làm lễ trình đồng là do họ bị bệnh tật lâu ngày mà chữa trị không khỏi
Trang 34Lễ tôn nhang: là lễ bốc và đặt bát nhang thờ những vị thần thánh là quân gia thị thần của Mẫu cho những người được coi là “cao căn, năng số”
Lễ được thực hiện tại điện Mẫu Người được bốc bát nhang được gọi là
“con nhang”
Trong tâm thức dân gian của người Việt, có rất nhiều vị thần linh khác nhau Mỗi vị thần linh lại chịu trách nhiệm về một khía cạnh nhất định chi phối đời sống con người Vì vậy, khi có bất kỳ một sự cố nào xảy
ra trong đời người như ốm đau, bệnh tật, mất của thì họ nghĩ ngay đến những vị thần cai quản vấn đề đó Họ cho rằng, sở dĩ mình mắc phải những
“hạn” đó là do mình hoặc người thân của mình đã phạm một lỗi gì đó đối với các vị thần thánh nên đã bị các vị đó “hành” Để thoát khỏi tình trạng
đó thì thường phải nhờ đến các vị thầy cúng để giải hạn
Đối với các tín đồ của tín ngưỡng Mẫu thì những vị thần thánh trên
là những quân gia thị thần của Thánh Mẫu Vì vậy, cần phải đến điện Mẫu
để cầu khấn mong được “giải hạn” Trong trường hợp tín đồ đã cầu khấn
mà vẫn chưa “tai qua, nạn khỏi”, chưa thoát khỏi “hạn” thì tín đồ bị coi là người có “căn số nặng”, cần phải thực hiện nghi lễ “đội bát nhang” thì mới
có thể hy vọng giải hạn được
Thông thường mỗi con nhang chỉ bốc một bát nhang, nhưng trong trường hợp đặc biệt, có thể bốc nhiều hơn, thậm chí có khi tới hơn 7 bát Những bát nhang này được đặt ngay tại điện Mẫu – nơi tiến hành việc bốc bát nhang Vào những ngày tháng rằm, mồng một, những ngày lễ lớn của tín ngưỡng Mẫu thì con nhang phải đến điện Mẫu thắp hương làm lễ cúng các Thánh Những con nhang này tin tưởng rằng, sau khi cầu cúng những
vị thần nắm bản mệnh của mình rồi thì các vị thần này sẽ không “hành” mình nữa mà ngược lại sẽ phù hộ và bảo vệ cho mình trong cuộc sống
Trang 35Trong trường hợp con nhang đã thực hiện lễ đội bát nhang một cách đầy đủ nhưng vẫn không đem lại kết quả như họ mong muốn, thì họ một lần nữa phải đến điện Mẫu để xin các vị thánh Mẫu xem xét thông qua một nghi lễ khác, quan trọng và linh thiêng hơn đó là lễ “lên mở phủ” Sau khi thực hiện nghi lễ mở phủ họ sẽ chính thức trở thành một đệ tử thực thụ của tín ngưỡng Mẫu Lúc này thay vì họ phải đến các điện Mẫu
để cầu cúng, thì họ sẽ rước Mẫu và các Thánh về nhà, mở phủ tại gia đình
để tiến hành cầu cúng Họ sẽ giao tiếp trực tiếp với các thần thánh thông qua nghi lễ lên đồng
Ngoài ra, trong đạo Mẫu còn có nghi lễ trả nợ tào quan: là một nghi
lễ mà tín đồ sau khi đội bát nhang hay khi lập điện phải thực hiện Nghi lễ này được tiến hành trên cơ sở kiếp trước của tín đồ, tức là tuỳ thuộc vào việc ăn ở kiếp trước của tín đồ như thế nào để quyết định trình tự và lễ vật phải dâng cúng Số lễ vật dâng cúng sẽ tỷ lệ thuận với những việc không tốt
đã làm trong kiếp trước Vì vậy, nếu một người mà càng có nhiều quả báo
từ kiếp trước thì càng phải gánh lễ lớn, và ngược lại, những người nào sống tốt ở kiếp trước thì kiếp này sẽ được hậu Việc tìm hiểu kiếp trước của tín
đồ ăn ở như thế nào được thực hiện bằng cách xem tuổi, xem ngày, giờ, tháng, năm sinh của tín đồ Có thể thấy quan niệm này có sự ảnh hưởng của quan niệm nhân quả, nghiệp báo trong đạo Phật
Cũng như một số các tôn giáo lớn hay một số loại hình tín ngưỡng dân gian khác ở Việt Nam, tín ngưỡng Mẫu cũng có nhiều lễ hội Lễ hội Điện Hòn Chén, lễ hội bà Chúa Xứ, lễ hội Phủ Giầy, Lễ hội Đền Sòng, lễ Hội Phủ Tây Hồ vào những thời điểm này người ta vừa tổ chức lễ vừa tổ chức hội với nhiều hoạt động văn hoá như múa hát, diễn trò tạp ký và các trò chơi dân gian Điều đặc biệt trong các lễ hội này là hình tượng Thánh Mẫu được thể hiện dưới nhiều hình thức hết sức phong phú và đa dạng, thể
Trang 36hiện sự sùng kính của người dân đối với các Thánh đồng thời thoả mãn đời sống tâm linh mỗi người Đặc biệt hơn cả là đã vẽ lên một bức tranh về tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam rất phong phú và đa dạng, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc
Không gian thời Mẫu rất đa dạng và phong phú tuỳ thuộc từng vùng nhưng luôn tuân theo chuẩn tắc chung Thờ Mẫu là sự phát triển từ thờ nữ thần, Mẫu thần đến Tam phủ - Tứ phủ Thờ Tam phủ, Tứ phủ chính là mức phát triển cao về nhiều mặt từ thờ Mẫu thần Ở tín ngưỡng Tam phủ - Tứ phủ đã có sự “chưng cất” (hay chắt lọc) từ tín ngưỡng đa nữ thần về một số
vị thần nữ cơ bản gọi là Mẹ, Mẫu Bao gồm: Mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải (Thuỷ) Mẫu Địa (Địa Tiên Thánh Mẫu) Bốn vị Mẫu trên đại diện cho bốn không gian địa lý khác nhau Trong đó Mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ cai quản ở vùng trời, Mẫu Thượng Ngàn cai quản vùng núi, Mẫu Thoải cai quản vùng sông nước, Mẫu Địa cai quản miền đất
Trên thế giới, tín ngưỡng thờ Nữ thần được thay thế bởi tín ngưỡng thờ Nam thần và tôn giáo độc thần nam Cho nên khái niệm Nữ thần được xác định và dừng lại ở nhân vật thần thoại “sáng tạo ra vũ trụ , ra loài người hoặc là những anh hùng văn hóa có kỳ tích rực rỡ” , nhất là ở phương Tây ,
hệ thống Nữ thần đang mai một dần Nữ thần của Việ t Nam mở rộng hơn nhiều, tất cả các bà sau khi mất , được nhân dân lập đền thờ và được triều đình sắc phong thì đều được gọi là Nữ thần Do vậy đã tồn tại thực tế Nữ thần áp đảo Nam thần trong hệ thống thần văn hóa, thần nghề nghiệp và trong hệ thống thần được thờ theo tín ngưỡng phồn thực
Trong đông đảo các Nữ thần không phải ai cũng được tôn xưng là Mẫu và càng ít Thánh Mẫu Tương ứng với ba miền Bắc, Trung, Nam sẽ lần lượt có các Nữ thần Mẹ là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thiên Y A Na Thánh
Trang 37Mẫu và Linh Sơn Thánh Mẫu Ngoài ra, ở Nam bộ, Linh Sơn Thánh Mẫu còn có chị em là Chúa Xứ Thánh Mẫu Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh không xếp Bà chúa Xứ núi Sam (Châu Đốc, An Giang) vào hệ thống Thánh Mẫu, trong khi nhiều nhà nghiên cứu không chỉ công nhận Bà chúa Xứ là Thánh Mẫu của An Giang mà còn của cả Nam Bộ Có quan niệm cho rằng
Bà chúa Xứ chính là Bà chúa hoa Sứ (tức hoa đại) một trong những loài cây bất tử (mía, đa, si, dâu) hay trồng nơi khuôn viên đền, phủ ở các tỉnh phía Bắc Có quan điểm khác cho rằng Bà chúa Xứ chính là vị Thần Mẹ xứ
sở - Đức Mẫu (Địa Mẫu) như quan niệm ngoài Bắc , nhưng trong Nam có thói quen gọi người phụ nữ tôn quí bằng Bà, vì thế vị Mẫu ở Nam được gọi
là Bà
Thờ cúng của tín ngưỡng Mẫu thường được tiến hành tại các phủ, điện hay đền và chùa Không gian thờ Mẫu rất đa dạng, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng văn hoá và nhu cầu tâm linh mỗi vùng mà khác nhau
Không gian thờ Mẫu đôi khi là am, miếu nhỏ cạnh một ngôi đền hay ngôi chùa theo kiểu tiền Phật hậu Mẫu hoặc tiền Mẫu hậu Phật, nhưng cũng
có khi được xây dựng thành những khu thờ tự riêng biệt với kiểu kiến trúc nguy nga tráng lệ như Phủ Giầy, Phủ Tây Hồ, Đền Sòng
Tuy không phổ biến thành thiết chế văn hoá như ở khắp các ngôi đình thờ thần làng, nhưng thờ Mẫu lại được phổ biến theo cách của nó, biểu hiện ra là những yếu tố được nhận biết như bộ ba: đất đá, cây cối và nước Điều này khẳng định, đặc trưng cho không gian thờ Mẫu chính là
“tính nữ”
Các điện thờ Mẫu thường được xây dựng bên cạnh các nguồn nước như sông suối, hồ, hoặc cửa biển Ví như, Điện Hòn Chén được xây dựng trên núi Ngọc Trảng cạnh sông Hương, Đền Bắc Lệ - Lạng Sơn xây cạnh suối; Phủ Tây Hồ xây cạnh Hồ Tây
Trang 38Nếu như địa lý nơi đặt các điện Mẫu không có nguồn nước tự nhiên (sông, suối, hồ ) thì người ta sẽ xây dựng những điểm “tụ thuỷ” nhân tạo như hồ, ao, bể, giếng trước của điện Bên cạnh các điểm tụ thuỷ thì những hòn giả sơn cũng được dựng lên Chúng có thể được dựng lên từ đất, cũng
có thể được dựng lên trong hồ nước, bể nước hoặc thậm chí nếu ở điện thờ Mẫu không tạo dựng được hòn đá giả sơn vì một lý do nào đó thì thay vào
đó là một bàn thờ Sơn trang với cảnh núi non, rừng, cây, suối như thủ phủ của Chúa Thượng Ngàn Trong tâm thức dân gian thì nước mang yếu
tố “âm”, núi mang yếu tố dương
Điện Mẫu có kết cấu ba tầng: Tầng trên không, tầng ngang trên ban thờ và tầng dưới gầm ban thờ (ban hạ) Tầng trên có bày trí một đôi mãng
xà (còn gọi là ông Lốt hay rắn thần), một con màu trắng, một con màu xanh sẫm quấn quanh xà, ngang phía trước bên trên ban thờ Rắn màu trắng là hiện thân của quan lớn Ba, rắn màu sẫm là hiện thân của quan lớn Năm
Tầng trên còn được trang trí bằng nhiều các loại nón, mũ, hài, quần
áo, đèn, thuyền rồng với đủ loại màu sắc sặc sỡ khác nhau đựơc treo thành nhiều tầng, nhiều lớp bên trên ban thờ chính
Ở tầng giữa là ban thờ chính điện Hệ thống các thần được thờ trong điện Mẫu được xếp theo tứ tự:
1 Tam toà Thánh Mẫu
Trang 39Trong các điện Mẫu, Tam toà Thánh Mẫu là bộ tượng phổ biến nhất
và thường được đặt ở nơi tôn nghiêm nhất, sâu nhất (hậu cung) Tam toà là tối thượng thần, vạn vật hoá thân thành Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Địa (Địa Tiên Thánh Mẫu)
Mẫu Thượng Thiên – Mẫu đệ nhất trùm khăn đỏ ngồi giữa với vai trò sáng tạo, tạo dựng và cai quản miền trời, làm chủ các hiện tượng tự nhiên như mây, mưa, sấm, chớp
Mẫu Thượng Ngàn – Mẫu đệ nhị trùm khăn xanh nõn chuối, với vai trò hoá thân của Thánh Mẫu sáng tạo và cai quản miền rừng núi Điện thờ Mẫu Thượng Ngàn được đặt nhiều ở các vùng rừng núi, nhưng có hai nơi thờ phượng chính là Suối Mỡ (Bắc Giang) và Bắc Lệ (Lạng Sơn)
Mẫu Thoải – Mẫu đệ tam, trùm khăn trắng, ngồi bên trái Mẫu Thượng Thiên, với vai trò sáng tạo và cai quản miền sông nước, xuất thân
từ dòng dõi Long Vương
Đến thế kỷ XVI, ngoài các vị Mẫu trên, người Việt đã sáng tạo ra một vị Mẫu mới – mẫu Liễu Hạnh để bổ sung vào tín ngưỡng Tam phủ
Tiếp theo ban thờ Tam toà là ban thờ Ngọc Hoàng Ngọc Hoàng vốn
dĩ không phải là vị thần xuất thân từ tín ngưỡng Mẫu mà là vị “thần chủ” của Đạo thờ Tiên ở Trung Quốc
Trong tâm thức dân gian cũng như trong quan niệm của Đạo giáo, Ngọc Hoàng là người đứng đầu “Thiên đình” cai quản toàn vũ trụ, có quyền lực rất lớn Nhưng khi xâm nhập vào tín ngưỡng Mẫu, vai trò và quyền lực của Ngọc Hoàng lại rất mờ nhạt so với các vị thánh Mẫu Thậm chí, để cho gần gũi và thân thiện hơn đối với người dân, Ngọc Hoàng đã được chuyển hoá thành “cha” – tương ứng với “mẹ” trong điện Mẫu Có nhiều nơi Đức vua cha (Ngọc Hoàng) đã hoá thân thành Tam vị đế thích
Trang 40ứng với Tam toà Thánh Mẫu như Vua cha Bát Hải (thuỷ phủ - nước); Vua cha Ngọc Hoàng (thiên phủ - trời); Vua cha Diêm vương (Địa phủ - đất)
Ngũ vị Tôn ông là những vị thánh được gọi tên từ quan đệ nhất đến quan đệ ngũ (tuy gọi là ngũ vị tôn ông nhưng số vị được thờ không chỉ dừng lại ở con số 5 mà có thể là 10) Trong số Ngũ vị tôn ông thì Quan Đệ Tam và Quan Đệ Ngũ là những vị thánh hay giáng đồng có thần tích, huyền thoại và đền thờ riêng
Tiếp đến là tứ vị Chầu bà (cũng giống như Ngũ vị tôn ông, số lượng các vị chầu bà không chỉ dừng lại ở con số 4 mà có thể tăng lên tới 12) Tứ
vị Chầu bà là những vị thánh tiếp nhận và thực hiện quyền lực của Thánh Mẫu trong việc cai quản vũ trụ
Hàng các ông Hoàng, được gọi tên theo thứ tự, từ ông Hoàng Đệ Nhất tới ông Hoàng Mười Các ông Hoàng chủ yếu là các danh tướng có công đánh giặc giữ nước, khai phá đất nước, mở mang bờ cõi, phù vua cứu dân
Hàng cô, hàng cậu, gồm những người làm nhiều điều tốt lành sau khi chết được hầu hạ Mẫu hay các Quan, ông Hoàng; hoặc là những người chết trẻ, sau hiển linh thành các bé thánh Có khoảng tử 10 đến 12 cô, cậu
Tầng dưới cùng trong điện thờ là Ban thờ quan Ngũ Hổ hay còn gọi
là quan Ngũ Dinh Ban thờ này thường được đặt dưới ban thờ Chúa Thượng Ngàn
Tóm lại, điện thờ Mẫu bao gồm những bộ phận như trên đã trình bày Song tuỳ thuộc vào vị thần chủ được tôn thờ trong điện, đặc điểm của từng địa phương mà sự bài trí bên trong hay bên ngoài của điện Mẫu có sự khác nhau Ngoài ra, trong quá trình phát triển, do sự ảnh hưởng của các luồng văn hoá tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau như: Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo mà không gian thờ cúng của tín ngưỡng Mẫu được bổ sung, mở