Khái quát về đô thị Hải Phòng trên những khía cạnh lịch sử, địa lý, dân cư, kinh tế, văn hóa để thấy được môi trường địa văn hóa hình thành nên tín ngưỡng Trình bày thân thế sự nghiệp của Ngô Quyền, vai trò của ông trong lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử thành phố Hải Phòng để có một cái nhìn rõ nhất về nhân vật trung tâm của tín ngưỡng Khảo cứu hệ thống tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng, tín ngưỡng thờ những vị thần liên quan đến Ngô Quyền và tín ngưỡng thờ Lê Chân, qua đó đặt tín ngưỡng thờ Ngô Quyền trong sự đối sánh để thấy được vị trí của tín ngưỡng đối với người dân thành phố Hải Phòng Từ những phân tích trên cùng với diễn tiến của tín ngưỡng trong giai đoạn hiện nay để thấy được sự biến đổi trong đời sống văn hóa, tâm linh của cư dân thành phố Hải Phòng.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Hoài Phương
Các số liệu, những đánh giá, phân tích, nhận xét, nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và khách quan, chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Phùng Ngọc Trung
Trang 4Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong khoa Lịch sử – Trường Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia Hà Nội) Các thầy cô đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các anh/chị, các bạn đồng nghiệp và gia đình đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Phùng Ngọc Trung
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng, phạm vi, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 10
6 Bố cục của luận văn 10
CHƯƠNG 1: NGÔ QUYỀN VÀ SỰ HÌNH THÀNH TÍN NGƯỠNG THỜ NGÔ QUYỀN Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 11
1.1 Ngô Quyền và vị trí, vai trò với vùng đất Hải Phòng 11
1.1.1 Thân thế của Ngô Quyền 11
1.1.2 Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 12
1.1.3 Ý nghĩa chiến thắng Bạch Đằng và vai trò của Ngô Quyền 15
1.2 Truyền thuyết, thần tích và thần sắc về Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng 17
1.2.1 Truyền thuyết về Ngô Quyền 17
1.2.2 Thần tích về Ngô Quyền 18
1.2.3 Thần sắc cho Ngô Quyền 21
1.3 Sự hình thành tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng 22
1.3.1 Cơ sở hình thành 22
1.3.2 Thời điểm hình thành 24
Tiểu kết chương 1 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN NGƯỠNG THỜ NGÔ QUYỀN Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 27
2.1 Không gian thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng 27
2.1.1 Các làng thờ Ngô Quyền 29
2.1.2 Sự mở rộng tín ngưỡng thờ Ngô Quyền 36
2.1.3 Sự thu hẹp tín ngưỡng thờ Ngô Quyền 39
2.2 Hoạt động thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng 45
Trang 62.2.1 Các ngày lễ kỷ niệm Ngô Quyền 45
2.2.3 Vị trí của Ngô Quyền trong thần điện 48
2.3 Việc phụng thờ các vị tướng của Ngô Quyền 55
Tiểu kết chương 2 57
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ NGÔ QUYỀN Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 58
3.1 Đặc điểm tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng 58
3.1.1 Số lượng làng xã và di tích thờ Ngô Quyền nhiều nhất 58
3.1.2 Mang đặc trưng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng 59
3.1.3 Hoạt động thờ tự riêng lẻ 62
3.1.4 Thờ/ phối thờ các vị tướng liên quan tới Ngô Quyền 64
3.2 Giá trị của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng 66
3.2.1 Giá trị lịch sử, giáo dục 66
3.2.2 Giá trị cố kết cộng đồng 67
3.2.3 Giá trị tín ngưỡng, tâm linh 69
Tiểu kết chương 3 70
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 79
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND: Ủy ban nhân dân HĐND: Hội đồng nhân dân TBKT: Trưởng ban khánh tiết PBKT: Phó ban khánh tiết P.: Phường
Q.: Quận PGS.: Phó giáo sư
GS : Giáo sư
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi cho việc tiếp xúc và giao lưu văn hóa khu vực và thế giới, chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh lớn là Trung Hoa và Ấn Độ, thêm vào đó người Việt có bản tính cởi mở, khoan dung, không kỳ thị, khép kín nên đã tiếp nhận nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau tạo nên một nước Việt Nam có nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng cùng tồn tại Các tôn giáo, tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng trong lịch sử, đặc trưng văn hóa, đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Việt, có ảnh hưởng lớn đến đời sống, nếp nghĩ
và văn hóa của cả cộng đồng Đặc biệt, trong đời sống xã hội “phú quý sinh lễ nghĩa” hiện nay, tôn giáo, tín ngưỡng đóng vai trò không thể thiếu trong đời sống của người Việt
Trong các tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam thì tín ngưỡng thờ danh nhân, anh hùng dân tộc là một trong những đặc trưng tiêu biểu Tín ngưỡng thờ danh nhân
và anh hùng dân tộc có thể xuất hiện từ thời kỳ chiến tranh giữa các bộ lạc và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, trong đó có các vị anh hùng dân tộc tiêu biểu được tôn thờ như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… Người Việt tôn thờ các vị anh hùng thể hiện lòng nhớ ơn công lao của các vị và muốn noi gương các đức tính đặc biệt của các vị ấy Trải qua quá trình hình thành và phát triển cùng lịch sử dân tộc, tín ngưỡng thờ danh nhân, anh hùng đã được bồi đắp, phát triển, tích hợp với các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác tạo nên nét đặc trưng trong văn hóa Việt Nam
Ngô Quyền là một vị vua, vị anh hùng dân tộc, ông sinh năm 898 tại thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Nội Ông là vị vua sáng lập nhà Ngô – triều đại đầu tiên đặt nền móng cho nền độc lập, tự chủ của Việt Nam sau hơn 1000 năm Bắc thuộc Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với chiến công lừng lẫy trên sông Bạch Đằng năm 938, đánh bại quân xâm lược Nam Hán, chấm dứt hơn
1000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập, tự do lâu dài của dân tộc Với công lao
đó, ông được tôn vinh là vị tổ trung hưng thứ nhất của dân tộc và được nhiều nơi tôn thờ trong đó có Đường Lâm, Hưng Yên, Hải Phòng
Trang 9Hải Phòng là thành phố có nhiều làng xã thờ Ngô Quyền nhất cả nước Qua khảo cứu chúng tôi nhận thấy ở Hải Phòng hiện nay có 28 làng xã và 1 danh thắng thờ Ngô Quyền tại 36 công trình thờ và trong quá khứ có thể đã có 37 làng xã thờ Ngô Quyền cả ở nội thành và ngoại thành, tập trung ở lưu vực sông Bạch Đằng như Gia Viên, Lương Xâm, Đông Khê… Tuy nhiên, đến nay, tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng chưa được khảo cứu, phân tích cụ thể để thấy sự biến động và vai trò của tín ngưỡng đối với đời sống văn hóa, tâm linh của người dân
Hải Phòng Từ thực tế đó, tôi chọn đề tài “Tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các tư liệu, thư tịch cổ chép về Ngô Quyền (nhân vật nghiên cứu) có thể kể
như Việt sử lược, Đại Việt sử ký tiền biên, Đại Việt sử ký tục biên, Đại Việt sử ký toàn thư Ngoài ra có các nghiên cứu về Ngô Quyền như Danh tướng Việt Nam (Nguyễn Khắc Thuần), Ngô Quyền: truyện lịch sử (Nguyễn Anh), Kỷ yếu hội thảo chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã khắc họa thân thế và sự nghiệp của Ngô Quyền
– vị tổ trung hưng của dân tộc Việt Nam và vai trò, vị trí của ông trong lịch sử dân tộc nói chung và tín ngưỡng ngưỡng nói riêng
Với những nghiên cứu về thành phố Hải Phòng (không gian nghiên cứu), đầu
tiên phải kể đến các công trình nghiên cứu về thành phố Hải Phòng như Thành phố hoa phượng đỏ (Trần Quang Liêm, Nguyễn Viết Lãm, Trịnh Minh Hiên), Quá trình hình thành, phát triển thành phố và đặc tính của người Hải Phòng (Ban Nghiên cứu Lịch sử Hải Phòng), Hải Phòng bước ngoặt lịch sử đầu thế kỷ XX (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thành ủy Hải Phòng), Địa chí Hải Phòng (Hội đồng Lịch sử thành phố Hải Phòng) và Từ điển Bách khoa địa danh Hải Phòng (Hội đồng Nghiên cứu Lịch sử Hải Phòng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn), Thành phố Hải Phòng 1888-1945 (Nguyễn Thị Hoài Phương), đã cung cấp cho tác giả những hiểu
biết cơ bản về đặc điểm thành phố Hải Phòng từ lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội, quá trình hình thành phát triển thành phố và đặc tính con người Hải Phòng
Tiếp theo là các công trình nghiên cứu đại cương về lịch sử, văn hóa, tín
ngưỡng: Việt Nam văn hóa sử cương (Đào Duy Anh), Văn hóa Việt Nam truyền
Trang 10thống – một góc nhìn (Nguyễn Thừa Hỷ) đã cung cấp tư liệu tổng quát về tín
ngưỡng thờ cúng của người Việt trong đó có tín ngưỡng thờ Thành hoàng là một hiện tượng của sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa với Trung Quốc từ thời Bắc thuộc, sau này được các triều đại phong kiến độc lập tôn lên và sử dụng như một công cụ quản lý gián tiếp của chính quyền trung ương với làng xã
Cùng với đó là hệ thống tài liệu viết về tín ngưỡng như: Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam (Nguyễn Duy Hinh) nói sâu về nguồn gốc, quan niệm, đặc điểm,
tục thờ cũng như một số vị Thành hoàng trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở nước
ta, chủ yếu ở Bắc Bộ Hay Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam (GS Ngô
Đức Thịnh) thì nghiên cứu về vấn đề nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, nghi lễ và lễ
hội của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng chủ yếu tại Bắc Bộ Trong cuốn Thần, người và đất Việt (Tạ Chí Đại Trường) đã đưa ra lịch sử đại cương về thần linh đất
Việt trong đó nhìn nhận tín ngưỡng Thành hoàng là một sự áp đặt của chính quyền trung ương lên làng xã, chồng chéo lên những tín ngưỡng thờ cúng của làng xã trước đây Đưa ra những giai đoạn chuyển tiếp và những chuyển hóa trong tín ngưỡng thờ cúng các vị thần ở Việt Nam, rằng Thành hoàng làng thực chất là vỏ bọc Nho giáo mà làng xã mặc cho vị thần làng của họ
Bên cạnh đó những nguồn tài liệu liên quan tới tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở
thành phố Hải Phòng cũng ít ỏi Trong Chiến thắng Bạch Đằng 938 và 1288, nhóm
tác giả Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc đã đưa ra những dẫn chứng, lập luận về hoạt động của Ngô Quyền trong chiến thắng Bạch Đằng năm
938 đã khẳng định vai trò, vị trí của vị chủ thần Ngô Quyền với vùng đất Hải
Phòng Trong bài nghiên cứu Phải chăng Gia Viên là làng gốc của Hải Phòng, các tác giả Nguyễn Quang Ngọc, Đặng Thị Vân Chi đã bước đầu đưa ra kết luận “Ngô Quyền là chủ thần làng Gia Viên, sau đó mở rộng ra vùng đất cảng” Ngoài ra,
chúng ta chỉ có thể bắt gặp những bài viết, những tư liệu về tiểu sử (thân thế, sự nghiệp) của các vị Thành hoàng nơi đây; những tài liệu giới thiệu khái quát về di
tích, lễ hội liên quan đến Thành hoàng làng tại xã như: Lễ hội truyền thống tiêu biểu Hải Phòng (Trịnh Minh Hiên) đã thống kê các lễ hội trong năm ở Hải Phòng trong
đó dẫn ra lễ hội ở đình Hàng Kênh: mô tả khái lược lễ hội tưởng nhớ Ngô Quyền,
Trang 11trích dẫn Tự Đức sắc phong, truyền thuyết, tục lệ các làng nghĩa binh thần tử Trong
Hải Phòng Thành hoàng và lễ phẩm (Ngô Đăng Lợi) có nhắc tới một số làng thờ
Ngô Quyền và tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở làng Gia Viên, làng Lương Xâm, làng
Xâm Bồ… Trong Thành hoàng làng Hải Phòng (Nguyễn Đức Giang, Trịnh Minh
Hiên) đã tập hợp 203 đình làng tiêu biểu ở Hải Phòng, giới thiệu công trạng các vị Thành hoàng làng được nhân dân thờ phụng, thời gian và các nghi thức tổ chức lễ hội tại đình làng, trong đó chỉ ra rằng Ngô Quyền được thờ cúng rộng rãi ở các làng trong nội thành Hải Phòng
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hương trong luận văn thạc sỹ văn hóa học với đề
tài Việc phùng thờ Ngô Quyền ở phường Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã tổng hợp, trình bày nguồn gốc, đặc điểm, tình hình phát triển và giá trị, ý
nghĩa của việc phụng thờ Ngô Quyền ở hai xã Lương Xâm và Xâm Bồ xưa Tác giả kết luận việc phụng thờ Ngô Quyền có giá trị lịch sử, giá trị tâm linh, giá trị cố kết cộng đồng quan trọng trong đời sống cư dân ở phường Nam Hải Tuy nhiên, luận văn mới chỉ tập trung vào một phường mà chưa đặt trong không gian thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
Từ những nghiên cứu sơ bộ các kết quả của những tác giả đi trước, cho đến nay thấy rằng vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về biến đổi tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng Những tư liệu trên sẽ là những tư liệu bước đầu giúp cho tác giả tham khảo, kế thừa, tiếp thu và phát triển đề tài của mình
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về sự hình thành và biến đổi của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng, từ đó bước đầu nhận xét về vai trò, vị trí của tín ngưỡng này trong đời sống văn hóa, tâm linh của cư dân thành phố Hải Phòng từ cuối thế kỉ XIX đến nay Để làm được mục đích này thì cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Khái quát về đô thị Hải Phòng trên những khía cạnh lịch sử, địa lý, dân cư, kinh tế, văn hóa để thấy được môi trường địa văn hóa hình thành nên tín ngưỡng
Trang 12- Trình bày thân thế sự nghiệp của Ngô Quyền, vai trò của ông trong lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử thành phố Hải Phòng để có một cái nhìn rõ nhất về nhân vật trung tâm của tín ngưỡng
- Khảo cứu hệ thống tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng, tín ngưỡng thờ những vị thần liên quan đến Ngô Quyền và tín ngưỡng thờ Lê Chân, qua đó đặt tín ngưỡng thờ Ngô Quyền trong sự đối sánh để thấy được vị trí của tín ngưỡng đối với người dân thành phố Hải Phòng
4 Đối tượng, phạm vi, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn Tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng tập trung
nghiên cứu về nguồn gốc, sự phát triển, những biến đổi và vai trò đối của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
4.2.1 Không gian: Luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu ở các quận nội
thành của thành phố Hải Phòng (Dương Kinh, Đồ Sơn, Hải An, Hồng Bàng, Kiến
An, Ngô Quyền, Lê Chân) Song, cũng có những nội dung nghiên cứu, để đảm bảo tính toàn diện cũng như cái nhìn tổng thể, luận văn có thể mở rộng không gian nghiên cứu tới một số quận, huyện, tỉnh xung quanh
4.2.2 Thời gian: Luận văn tập trung chủ yếu vào việc mô tả tín ngưỡng thờ
Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng từ năm 1853 (năm Vua Tự Đức sắc phong cho
17 làng xã ở Hài Phòng thời Ngô Quyền) cho đến hiện nay Nhưng để đảm bảo tính liên tục cũng như tổng thể, luận văn có những nội dung mở rộng về phía trước (như năm 938 đánh dấu việc Ngô Quyền lập chiến công trên sông Bạch Đằng) hoặc sau (dự đoán xu hướng phát triển trong thời gian tới)
4.3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Đề tài Tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng là một đề tài rộng,
nguồn tư liệu rất đa dạng được chia làm ba loại tư liệu chính:
Thứ nhất là nguồn tư liệu chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn) cùng các tư liệu thành văn như Việt Nam Quốc sử khảo (Phan Bội Châu), Kỷ yếu hội thảo chiến thắng Bạch Đằng
Trang 13năm 938, Chiến thắng Bạch Đằng 938 và 1288 (Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc), luận án Tiến sĩ Thành phố Hải Phòng 1888-1945 (Nguyễn
Thị Hoài Phương) đã cung cấp cho tác giả những thông tin về lịch sử vùng đất Hải Phòng, về Ngô Quyền và trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 938 là cơ sở tiền đề cho sự hình thành tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
Thứ hai là nguồn tư liệu thần tích, thần sắc của các triều đại phong kiến ban cho các làng xã thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng được lưu trữ tại Bảo tàng thành phố Hải Phòng, viện nghiên cứu Hán Nôm và tại các công trình thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng đã cung cấp cho tác giả những thông tin về vai trò của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền đối với các triều đại phong kiến, sự công nhận và can thiệp của các triều đại phong kiến tới đời sống văn hóa, chính trị của các làng xã
và truyền thống của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
Thứ ba là nguồn tư liệu khảo sát là một phần quan trọng nhất trong luận văn Nguồn tư liệu khảo sát thực tế tại các làng xã thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng cung cấp cho tác giả về sự biến đổi, hiện trạng và cách thức thực hành tín ngưỡng thờ Ngô Quyền của các làng ở thành phố Hải Phòng và vị trí, vai trò của tín ngưỡng đối với đời sống văn hóa của một bộ phân cư dân thành phố Cảng
Với nguồn tư liệu phong phú và đa dạng nên đề tài cần sử dụng hiệu quả phương pháp lịch sử, phương pháp logic để khai thác triệt để những tư liệu gốc (như tài liệu lưu trữ, tư liệu Hán Nôm) kết hợp với việc phân tích, đối chiếu, so sánh, bổ sung, phỏng vấn, kiểm chứng những tư liệu thành văn khác để tìm ra những thông tin sát thực nhất
Việc nghiên cứu phân tích, bóc tách vấn đề theo chiều sâu luôn đặt bên cạnh
sự tổng hợp, mở rộng vấn đề theo chiều rộng để có được cái nhìn sâu sắc và toàn diện về đề tài nghiên cứu Với những nguồn tư liệu dạng Hán Nôm, hồ sơ lưu trữ,
hồ sơ di tích , qua đó rút ra những kết luận khách quan, chân thực Ngoài ra, việc phân loại, đối chiếu, so sánh các thông tin, kiểm chứng các nguồn tư liệu luôn là môt yêu cầu cần thiết, được tác giả thận trọng khi sử dụng
Cuối cùng, phương pháp điều tra khảo sát tại thực địa là một việc thực sự cần thiết, không chỉ với những vấn đề thiếu hoặc không có tư liệu mà còn là một cơ hội
Trang 14để tác giả hiểu rõ đối tượng nghiên cứu của mình hơn Dù không gian nghiên cứu chính của luận án là nội thành của thành phố Hải Phòng, song việc khảo sát được thực hiện mở rộng ở các quận lân cận với mục đích đặt đối tượng nghiên cứu trong một không gian chỉnh thể, trong mối liên hệ với các không gian văn hóa xung quanh.
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn tập trung tìm hiểu về hệ thống tín ngưỡng thờ cúng thần linh ở làng xã (từ nguồn gốc, mục đích, đến ý nghĩa, vai trò của tín ngưỡng trong đời sống văn hóa, tâm linh)
- Luận văn là công trình khảo cứu đầy đủ, toàn diện về tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng trên các phương diện địa lý, lịch sử, văn hóa và biến đổi, thông qua đó có cái nhìn rõ hơn về Ngô Quyền và vị trí của ông trong lịch sử Hải Phòng nói riêng và trong văn hóa Việt Nam nói chung
- Luận văn tập trung nghiên cứu tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thời điểm hiện tại, đặt nó trong sự đối sánh với quá khứ so sánh với những tín ngưỡng thờ thần khác ở thành phố Hải Phòng để thấy được sự biến đổi trong lựa chọn và tâm thức
của người Việt trong giai đoạn hiện nay
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục luận văn được chia thành 3 chương như sau
Chương 1: Ngô Quyền và sự hình thành tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
Chương 2: Thực trạng tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng Chương 3: Đặc điểm và ý nghĩa của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
Trang 15CHƯƠNG 1: NGÔ QUYỀN VÀ SỰ HÌNH THÀNH TÍN NGƯỠNG THỜ
NGÔ QUYỀN Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
1.1 Ngô Quyền và vị trí, vai trò với vùng đất Hải Phòng
1.1.1 Thân thế của Ngô Quyền
Ngô Quyền người làng Đường Lâm (xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Nội [12, tr.203], ông sinh ra trong gia đình quý tộc có truyền thống yêu nước chống giặc, tương truyền, ông tổ bốn đời của Ngô Quyền là Ngô Xuân, người từng chiêu mộ hàng trăm thủ hạ theo Triệu Quang Phục tiếp tục sự nghiệp của Lý Bí chống quân Lương [33, tr.28] Cha Ngô Quyền là Ngô Mân, làm châu mục châu Đường Lâm
Ngô Quyền sinh năm 898 Theo sử cũ mô tả, ngay từ nhỏ ông đã tỏ ra là
người trí dũng song toàn, “khi Vua mới sinh có ánh sang lạ đầy nhà, trang mạo khác thường, có 3 nốt ruồi ở lưng, thầy tướng cho là lạ, bảo có thể làm chủ một phương, nên mới đặt tên là Quyền Đến khi lớn lên, khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí dũng, sức có thể nâng được vạc.” [12, tr.204] Ngô
Quyền sinh ra và lớn lên trong giai đoạn lịch sử đầy biến động: đầu thế kỉ thứ X (SCN), nhà Đường (618 – 907) rơi vào giai đoạn suy thoái trầm trọng, nhân cơ hội
đó, năm 905, hào trưởng người Việt ở Hồng Châu là Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ cho người Việt, xưng là Tiết độ sứ, đặt nền móng cho thời kỳ độc lập, tự chủ Năm 907, Khúc Thừa Dụ qua đời, con ông là Khúc Hạo nối nghiệp, và sau đó là Khúc Thừa Mỹ cũng tự xưng là Tiết độ sứ, tiếp tục công cuộc xây dựng nền tự chủ Công cuộc xây dựng nền tự chủ thì đến năm 930, Vua Nam Hán là Lưu Cung sai quân sang chiếm Giao Châu, Khúc Thừa Mỹ thua, bị bắt đem về Quảng Châu Với vận nước đang lên, Ngô Quyền đã tiếp nối chí khí của cha ông, đứng ra tập hợp lực lượng và dần dần có thế lực lớn ở vùng Đường Lâm [33, tr.28] Năm 931, Ngô Quyền làm nha tướng cho Dương Đình Nghệ (Tiết độ sứ người Việt), được Dương Đình Nghệ gả con gái và cho quyền quản Ái Châu [12, tr.204] Ngô Quyền trưởng thành trong những năm đất nước vươn lên mạnh mẽ, khẳng định quyền tự chủ, kiên quyết giành và giữ độc lập dân tộc Ông sớm bộc lộ tài năng kiệt xuất và trở thành một vị tướng nổi tiếng được nhân dân kính mến, quân sĩ khâm phục Tài năng và
Trang 16danh tiếng của Ngô Quyền không chỉ lẫy lừng khắp nước, mà cả đến triều đình Nam Hán cũng phải thừa nhận ông là “người kiệt hiệt” không thể coi thường [33, tr.29]
1.1.2 Chiến thắng Bạch Đằng năm 938
Năm 937, Dương Đình Nghệ bị một nha tướng là Kiều Công Tiễn giết để thay chức Cuối năm đó, Ngô Quyền đem quân từ Ái Châu đánh Công Tiễn Công Tiễn cầu cứu vua Nam Hán, nhân cơ hội đó, vua Nam Hán là Lưu Cung phong cho con là Vạn Vương Hoằng Tháo làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, đổi tước phong là Giao Vương, đem quân sang cứu Công Tiễn [12, tr.203]
Được tin quân Nam Hán chuẩn bị kéo quân sang xâm lược, Ngô Quyền tổ chức kế hoạch kháng chiến Việc đầu tiên là tiêu diệt nội phản bên trong, Ngô Quyền đem quân vây thành Đại La, bắt được Kiều Công Tiễn và giết đi Dự đoán đường tiến quân của quân Nam Hán sẽ phải đi vào cửa sông Bạch Đằng, Ngô
Quyền bảo với các tướng tá rằng: “Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm trước ở cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hang cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát” [12, tr.203]
Hải Phòng ở đầu thế kỉ thứ X là một vùng đất thuộc tỉnh Hải Dương, là nơi
có liên quan trực tiếp đến trận chiến Bạch Đằng năm 938 Hải Phòng là môt vùng đất hình thành tương đối muộn, địa hình Hải Phòng có lịch sử hình thành khá đặc biệt, đó là sự kết hợp giữa đồi núi, đồng bằng, biển và lục địa Hệ thống núi là kết quả của thời kỳ tạo núi cách ngày nay khoảng 200 triệu năm tạo nên dãy núi đá xen
kẽ với núi đồi đất chạy dọc ra biển như núi Tràng Kênh (huyện Thủy Nguyên) chạy song song trên sông Bạch Đằng, dãy núi đảo Cát Bà, núi Voi (huyện Kiến An) Hệ thống núi xen kẽ trùng điệp tạo ra những bức tường phòng thủ, bảo vệ tổ quốc Ở khu vực nội thành Hải Phòng mang đặc trưng của địa hình đồng bằng thấp ven biển với lịch sử kiến tạo gắn liền với hoạt động tích tụ của các dòng sông và quá trình khai phá của con người với tốc độ lấn biển ở vùng đồng bằng duyên hải Bắc Bộ đạt
Trang 17khoảng 100m/năm, vùng đồng bằng Hải Phòng là sản phẩm trực tiếp của quá trình bồi đắp phù sa từ hệ thống sông Thái Bình mà trực tiếp là các con sông nhánh cấp 2, cấp 3 của nó như sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Lạch Tray… Hoạt động của biển (tiến và thoái) cùng với sự bồi đắp của các dòng sông đóng vai trò quyết định trong việc hình thành vùng đồng bằng thấp ven biển của Hải Phòng bao gồm cả phần nội thành thành phố Hải Phòng [36, tr.23]
Hải Phòng có hệ thống sông ngòi lớn chia ra làm ba loại là hệ thống sông chính, hệ thống sông nhánh và hệ thống kênh rạch, hồ ao Các sông chính của Hải Phòng là nhánh cấp 1, cấp 2 của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình với hướng chảy chủ yếu là Tây Bắc - Đông Nam gồm có sông Bạch Đằng, sông, Cấm, sông Lạch Tray, sông Văn Úc, sông Thái Bình và sông Luộc Hệ thống sông nhánh gồm sông Hóa, sông Mới, sông Mía, sông Tam Bạc cùng với hệ kênh rạch hồ ao góp phần tạo thành vùng đất Hải Phòng Mạng lưới sông ngòi chằng chịt tạo lên liên kết thống nhất không chỉ mang giá trị kinh tế: cung cấp phù sa cho nông nghiệp, cung cấp hải sản, cho phép thuyền bè đi lại thông thương trong vùng một cách thuận tiện… mà còn mang giá trị quốc phòng quan trọng: những trận chiến thắng trên sông Bạch Đằng gắn liền với những vị anh hùng Ngô Quyền, Lê Hoàn, Trần Hưng Đạo
Trong giai đoạn đầu tiên của lịch sử hình thành vùng đất Hải Phòng, các nhà khảo cổ học đã chứng minh được sự tồn tại và phát triển ở nơi đây một cuộc sống phong phú của cư dân Việt cổ-như những chủ nhân đầu tiên của vùng đất này Trên đất Hải Phòng, các nhà khảo cổ học đã phát hiện bốn di chỉ tiêu biểu xuyên suốt thời kỳ tiền sử, minh chứng cho sự có mặt liên tục của người Việt cổ là di chỉ Cái Bèo (huyện Cát Hải) thuộc văn hóa tiền Hạ Long, di chỉ Tràng Kênh (huyện Thủy Nguyên) thuộc văn hóa Phùng Nguyên, di chỉ Việt Khê (huyện Thủy Nguyên) và di chỉ núi Voi (huyện An Lão) thuộc văn hóa Đông Sơn Sang thời kỳ Bắc thuộc, Hải Phòng ngày nay thuộc đất của châu Giao Chỉ, nằm ở khoảng giữa của sông Hồng và sông Thái Bình mà học giả Đào Duy Anh đã lý giải vùng đất đó ở miền Hải Dương [2, tr.9] Trong thời kỳ Bắc thuộc, ở vùng nội thành Hải Phòng có thể đã xuất hiện hai làng cổ là Gia Viên và An Biên Làng Gia Viên có tên nôm là làng Cấm do nằm ven sông Cấm, ở vị trí trung tâm của thành phố Hải Phòng hiện nay, các tác giả
Trang 18Nguyễn Quang Ngọc và Đặng Thị Vân Chi đã khẳng định đây là làng gốc của thành phố Hải Phòng Làng An Biên cũng được coi là cái nôi của thành phố gắn liền với
sự tích nữ tướng Lê Chân Theo truyền thuyết, bà Lê Chân là người làng An Biên, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Bà đã cùng một số dân làng đến vùng đất ven biển này khai hoang lập ấp, lấy tên làng mới theo tên xưa gọi là trang An Biên Trong tâm thức một số người dân Hải Phòng, nữ tướng Lê Chân được coi là người khai thiên lập địa, đặt nền móng cho thành phố Hải Phòng [31, tr.56] Trong thời kỳ phong kiến, Hải Phòng gắn liền với những chiến thắng quân sự oanh liệt trên sông Bạch Đằng năm 938, năm 981 và năm 1288 với những người dân khí phách, trọng dũng, trọng nghĩa Bước sang thời kỳ Pháp thuộc, Hải Phòng trở thành nhượng địa của Pháp, thời kỳ này chứng kiến những thay đổi lớn từ diên cách hành chính, quy
mô dân số, kinh tế, văn hóa… tác động đến sự phát triển của thành phố sau này
Trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền đã nhận được sự trợ giúp, tham gia đắc lực của nhân dân địa phương Theo thần tích đền Gia Viên (Hải Phòng): ở Kinh Môn có nhiều người đã hăng hái theo giúp Ngô Quyền trong đó nhân dân huyện An Dương đã theo giúp đông nhất [33, tr.38] Tại làng Gia Viên có hàng chục thanh niên tình nguyện tham gia chiến đấu dưới quyền chỉ huy của Đào Nhuận, ở Lâm Động (Thủy Nguyên) có chàng trai họ Nguyễn khi nghe tin quân Nam Hán sang xâm lược đã cũng nhân dân địa phương đến quân doanh của Ngô Quyền xin được tham gia chiến đấu; ở Hoàng Động (Thủy Nguyên) có ba anh
em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả; ở xã Đằng Giang (An Hải) có ông tổ của dòng họ Phạm, theo truyền thuyết của dòng họ cũng đã sớm theo Ngô Quyền về đây đánh trận [33, tr.40] Hoạt động chuẩn bị cho trận chiến của Ngô Quyền không được ghi chép cụ thể trong chính sử nhưng qua thần tích của các làng xã phụng thờ ông ở Hải Phòng cho chúng ta biết được một phần: trong thời gian chuẩn bị chiến trường, Ngô Quyền và bộ chỉ huy đóng đại bản doanh tại thôn Lương Xâm (xã Nam Hải, quận Hải An) [33, tr.41] Thần tích đền Gia Viên soạn năm 1572 có nói việc Ngô Quyền
về đắp thành Lương Xâm từ những ngày ông chuẩn bị lực lượng bao vây và tiêu
diệt Kiều Công Tiễn ở Đại La [33, tr.42] Trong Chiến thắng Bạch Đằng 938 và
1288, nhóm tác giả Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc đã khẳng
Trang 19định vai trò quan trọng của các làng xã ở Hải Phòng xưa trong cuộc chiến, trong đó nổi lên là làng Lương Xâm là đại bản doanh thứ nhất, làng Gia Viên (lúc đó ở vị trí
trung tâm thành phố Hải Phòng ngày nay) là đại bản doanh chính thứ hai: “làng Gia Viên ở vào vị trí trung tâm thuận lợi nhất để chỉ huy toàn bộ trận đánh và tiếp ứng cho chiến trường khi cần thiết… Ngô Quyền đã bố trí ở đây cả lực lượng thủy binh
và bộ binh, trong đó thủy binh là chủ yếu, có lẽ vào lúc gần trận đánh, để tiện chỉ huy chiến đấu, ông đã chuyển sở chỉ huy từ Lương Xâm lên Gia Viên” [33, tr.57]
Cuối tháng 12 năm 938, đoàn binh thuyền quân Nám Hán do Hoằng Tháo chủ huy từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang xâm lược nước ta Khi những chiếc thuyền đi đầu của quân Nam Hán vừa đến vùng cửa biển Bạch Đằng thì đội quân khiếu chiến của ta với những chiếc thuyền nhẹ bỗng xuất hiện Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tất Tố (người làng Gia Viên), quân ta chiến đấu, kìm chân địch chờ nước triều lên thật cao, sau đó giả vờ thua chạy, dụ địch vào sâu trong bãi cọc ngầm, quân địch đuổi theo lọt vào trận địa ta đã bố trí mai phục từ trước, đến lúc nước triều rút xuống mạnh, quân ta phản công dồn chiến thuyền của địch về phía trước hàng cọc, Ngô Quyền dẫn đội quân tiếp ứng và đại phá chúng trong trận chiến này, quân của Hoằng Tháo không kịp sửa thuyền mà nước triều rút xuống rất gấp, thuyền đều mắc vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết đuối quá nửa, Ngô Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Tháo giết đi Vua Hán thương khóc, thu nhặt quân lính còn sót thu về [12, tr.203,204]
1.1.3 Ý nghĩa chiến thắng Bạch Đằng và vai trò của Ngô Quyền
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 trước quân Nam Hán dưới sự chỉ huy của Ngô Quyền đã chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập lâu dài cho dân tộc Sau sự kiện này, Ngô Quyền xưng Vương, đóng đô ở Cổ Loa, lập Dương Thị
làm Hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục [12, tr.204]
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là chiến công chung của cả dân tộc, trong
đó nổi lên với vai trò của Ngô Quyền, ông không chỉ nổi bật là một thiên tài quân
sự, bố trí trận Bạch Đằng một cách tài tình, khéo léo, tiêu diệt quân Nam Hán chỉ trong một nước triều mà quan trọng hơn là ông đã tập hợp được sức mạnh dân tộc trong trận chiến này, quy trăm họ về một mối, thứ sức mạnh mà các triều đại về sau
Trang 20này vẫn còn dựa vào chiến công đó mà noi theo Ngô Quyền là một thiên tài quân
sự, biểu tượng của chiến thắng nghìn năm Bắc thuộc, biểu tượng của sự đoàn kết toàn dân tộc Sử gia Lê Văn Hưu bàn:
“Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa, có thể nói là một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu nhưng chính thống của nước Việt ta, ngõ hầu
đã nối lại được.” [12, tr.204,205]
Về thắng lợi trên sông Bạch Đằng, sử gia Ngô Thì Sĩ bàn:
“Trận thắng lợi trên sông Bạch Đằng là cơ sở sau này cho việc phục lại quốc thống Những chiến công các đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn nhờ vào uy danh lẫm liệt để lại ấy Trận Bạch Đằng này là vũ công cao cả, vang đội đến nghìn thu, há phải chỉ lững lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu?” [39, tr.222]
Với chiến thắng này, Ngô Quyền được Phan Bội Châu trong Việt Nam quốc
sử khảo đã tôn vinh là vị tổ trung hưng thứ nhất của dân tộc, sau thủy tổ dựng nước
là Hùng Vương và xếp trước Lê Lợi là vị tổ trung hưng thứ hai:
“Mưa sầu gió thảm, Giao Chỉ đâu còn thấy anh hùng! Biển non tủi hờn, Việt- thường vắng không nghe tên họ! Bỗng có người biết xắn tay áo vùng dậy, mạnh mẽ chấn chỉnh cơ đồ, đứng lên giành lại quốc quyền thì chính gọi
là vị tổ trung hung nước ta đó! Vị tổ ấy là Ngô Vương Quyền.” [9, tr.21-22] Những đánh giá, nhận xét của các sử gia về sự nghiệp của Ngô Quyền, vị tổ trung hưng thứ nhất của dân tộc đã phản ánh công lao to lớn và vai trò quan trọng của ông đối với lịch sử dân tộc, góp phần tạo dựng nền móng vững chắc cho nước Đại Việt độc lập sau này Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 như một trận chung kết của lịch sử hơn 1000 năm chống bắc thuộc của dân tộc trải từ thời Hai Bà Trưng,
Bà Triệu, Lý Bý… Trong đó Ngô Quyền đã lãnh đạo trận chiến cuối cùng, đánh bại mưu đồ xâm lược của quân Nam Hán, mở ra một thời kỳ độc lập tự do lâu dài cho dân tộc
Trang 211.2 Truyền thuyết, thần tích và thần sắc về Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
1.2.1 Truyền thuyết về Ngô Quyền
Trong các truyền thuyết về Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng thì đặc biệt nhất là truyền thuyết dân gian về cọc gỗ trôi sông Theo đó, vùng Đông Hải, Nam Hải và Đằng Hải (quận Hải An) cho rằng Ngô Quyền cắm cọc từ vùng Lương Xâm đến vùng cửa Nam Triệu và ở vùng cửa Nam Triệu thỉnh thoảng vẫn còn đào được cọc gỗ thời Ngô Quyền Nhân dân vùng này còn lưu truyền khá phổ biến câu chuyện cọc gỗ trôi trên sông Bạch Đằng
“Dân làng Bình Kiều, Hạ Đoạn, Lương Xâm và Xâm Bồ kéo nhau ra vớt cây
gỗ và cắt ra làm 3 đoạn đem về tạc tượng Ngô Quyền Làng Lương Xâm được chia đoạn gốc nên tạc tượng Ngô Quyền to và đẹp hơn Vì thế tượng Ngô Quyền ở Lương Xâm là tượng chính trong vùng Dân làng Bình Kiều được chia khúc thừa ở ngọn chỉ đủ để tạc mũ nên làng Bình Kiều xưa nay
không thờ tượng mà chỉ thờ mũ Ngô Quyền.” [33, tr.49]
Truyền thuyết này nói lên mối quan hệ giữa bốn làng thờ Ngô Quyền, theo
đó Lương Xâm có vai trò lớn nhất và còn phần nào phản ánh trận địa cọc của Ngô Quyền trải từ cửa sông Bạch Đằng đến hạ lưu sông Cấm
Ngoài ra còn một số truyền thuyết khác về Ngô Quyền nhưng ít phổ biến hơn như truyền thuyết của làng An Trì:
“Làng An Trì xưa có một miếu thờ Ngô Quyền nhưng đến nay không còn, năm xưa Ngô Vương đóng quân ở đó, sau khi đánh thắng quân Nam Hán,
Ngài hội họp quần thần, chiêu dân lập ấp, thành lập làng An Trì.” (phỏng vấn ông Phạm Hữu Bền, trưởng ban khánh tiết đình An Trì)
Truyền thuyết của các làng xã về Ngô Quyền phản ánh sự hiện diện và hoạt động của ông ở Hải Phòng đầu thế kỉ thứ X trên quan niệm tín ngưỡng dân gian Truyền thuyết đã góp phần khẳng định cơ sở lịch sử cho sự hình thành tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
Trang 221.2.2 Thần tích về Ngô Quyền
Thần tích là sự tích của các vị thần thánh được ghi chép, lưu truyền lại Mỗi làng xã thờ các vị thần khác nhau thì có thần tích khác nhau, tuy nhiên có trường hợp các làng xã cùng thờ một vị thần nhưng thần tích về vị thần ấy lại có thể khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và thần gốc của làng xã ấy
Ở thành phố Hải Phòng hiện nay còn 28 làng xã thờ Ngô Quyền (thuộc 37 làng xã thờ Ngô Vương trước đây) nhưng không có 28 thần tích khác nhau về Ngô Vương mà thần tích của các làng xã được sao chép từ một thần tích gốc Tác giả
Nguyễn Quang Ngọc và Đặng Thị Vân Chi trong bài viết Phải chăng Gia Viên là làng gốc của Hải Phòng đã phân tích thần tích Ngô Quyền ở Hải Phòng và đi đến
kết luận:
“Bản thần tích được mệnh danh là thần tích đền Lương Xâm đã trở thành quen thuộc và tưởng như không cần phải bàn thêm nữa Thế nhưng càng nghiên cứu kỹ văn bản thì lại nhận ra điều không hợp lý Và sau khi được đọc bản “Tiền Ngô Vương thiên tử ngọc phả lục” ở nhà cụ Nguyễn Tri Luyến phố Ngõ Cấm, cùng nhiều dị bản, chúng tôi có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng bản thần tích được mệnh danh là thần tích đền Lương Xâm đó lại chính là thần tích đền Gia Viên Nếu như tiến hành lập phả hệ văn bản thần tích các đền thờ Ngô Quyền ở vùng nội thành Hải Phòng và đông nam huyện An Hải thì chúng ta dễ dàng nhận thấy tất cả các văn bản đó đều sao từ một bản gốc ở đền Gia Viên.” [35, tr.61]
Trong quá trình khảo cứu thần tích Ngô Quyền ở Hải Phòng, tác giả không tiếp cận được bản thần tích gốc “Tiền Ngô Vương thiên tử ngọc phả lục” của đền Gia Viên Thay vào đó, tác giả tiếp cận được bản Ngọc phả của Tiền Ngô Vương của Từ Lương Xâm (xã Nam Hải, quận Hải An) thuộc về bộ Càn, sắc phong thượng đẳng thần do Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính biên soạn năm 1572, hiện đang lưu trữ tại bảo tàng thành phố Hải Phòng, và viện nghiên cứu Hán Nôm, tác giả tóm lược nội dung thần tích như sau:
Ngô Quyền là người xã Đường Lâm, ông được sinh ra trong thời kỳ Bắc thuộc Ông tổ của Ngô Quyền trước kia từng đem quân theo Triệu Quang Phục, có
Trang 23công lớn giúp dẹp loạn Tiêu Tư nên được truyền đời là tù trưởng trong vùng Mẹ Ngô Quyền là người họ Phạm, trước ngày sinh Ngô Quyền đã có mộng lạ về cây cau xanh tốt, cha ông đoán mộng cho rằng cau là thứ cây cao và có quả tươi, tức là điềm làm cột trị thiên hạ
Khi lớn lên, ông có cặp mắt sáng như chớp, tiếng nói to như sấm, điệu đi uyển chuyển như rồng, bước chân vững chắc như hổ, hiền lành như phượng, oai hùng như gấu; thao lược, mưu trí, sức khỏe có thể mang nổi đỉnh lớn; rộng lượng như nước biển mùa xuân, có tấm lòng quảng đại và dung thứ, ông có khí tướng của một bậc đế vương Sau này Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ gả con gái cho
Khoảng niên hiệu Đồng Quang (923 – 925), nhà Đường bổ quan thứ mục sang khai trị nước ta, là Khắc Chính và Lý Tiến Tất cả đều tham tàn, bạo ngược, trăm họ không được ngơi chân, ngơi tay, phải chịu những hình phạt nghiêm khắc, thuế nặng, sưu cao, đời dân không đủ sống Trước tình đó, Ngô Quyền bàn với vợ xây dựng lực lượng đánh giặc Rồi từ đó, ông bà chăm làm việc thiện, bênh kẻ nghèo hèn, thương người côi cút, bỏ của ra giúp người, nuôi dân bị lưu lạc, nên trong vùng có nhiều người theo phục
Năm Quý Mùi (923), Dương Đình Nghệ dấy binh đánh lại nhà Hán, phong cho Ngô Quyền làm nha tướng Năm Đinh Dậu (937), Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ và cướp lấy ngôi Ngô Quyền biết chuyện liền chuẩn bị lực lượng giành lại cơ đồ
Tháng Chạp mùa đông năm Mậu Tuất (938), Ngô Quyền đem quân vây thành Đại La, Kiều Công Tiễn sợ hãi cầu cứu vua Nam Hán Nhà Hán muốn nhân cơ hội loạn lạc chiếm lấy nước ta, liền phong cho con là Vạn Vương Hoàng Thao làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, rồi lại phong làm Giao Châu vương đem quân cứu Công Tiễn, còn vua Hán đem quân đóng ở cửa Thạch Hải để giương thanh thế tiếp viện
Lúc ấy, Ngô Quyền đã cho quân đóng giữ, canh phòng tại phần sông thuộc đồn Gia Viên và đã giết Kiều Công Tiễn Khi được tin báo Hoằng Thao đến, Ngô Quyền họp các tướng bàn rằng “Hoàng Thao là một đứa trẻ còn thơ dại từ xa đến, quân tướng đang mệt mỏi, lại nghe Tiễn đã bị ta diệt, tất nhiên lòng cứu ứng đã bị nao núng Ta kịp thời lấy sức mình đang khỏe mạnh, địch với kẻ thù mỏi mệt, tất
Trang 24nhiên là phá được giặc” Chợt trong quân có người bước lên nói: “Quân giặc hung hăng, cậy thế đưa thuyền bè đang tiến vào, nếu không kịp phòng bị trước thì việc hơn thua chưa thể lường trước được Nay xin đem cọc đóng ở hai bên cửa sông, khi nước triều dâng cao, cho người đem những chiếc thuyền nhỏ, gặp giặc thì ra thách đánh rồi giả thua chạy, như thế thì quân Hoằng Thao chẳng khác gì ngói tan vậy”
Ngô Quyền cho là phải liền sai người cắm cọc nhọn ở cửa sông Bạch Đằng, sai con là Ngô Xương Ngập đem một vạn cấm binh cùng thần thuộc từ cửa bể Đại Nha đánh tới Tam Kha đem quân theo Đào Nhuận, người làng Gia Viên từ cửa Hàm Tử đánh tới Nguyễn Tất Tố chỉ đạo hai mươi thuyền nhỏ lướt thẳng đến sông Bạch Đằng đánh phá giặc Khi Hoằng Thao dẫn quân tới Ngô Quyền ở trên bờ ra hiệu, quân ta giả thua chạy Quân Hán đốc quân đuổi theo, khi thuyền vào qua giàn cọc và nước triều rút mạnh thì quân ta lập tức phản công: Ngô Xương Ngập, Dương Tam Kha ở hai bên ập ra đánh giặc Hoằng Thao bị giết ngay tại trận, quân Hán bị chết quá nửa, vua Nam Hán buồn thương thu nhặt tàn quân về nước Trận chiến trên sông Bạch Đằng giành thắng lợi chỉ trong một nước thủy triều
Ngô Quyền đã thống nhất non sông, đóng đô ở Loa thành và lên ngôi được sáu năm Ngài mất ngày mười tám giáng giêng năm Giáp Thìn (944), thọ 47 tuổi Đền thờ Ngô Vương Thiên Tử chính ở làng Lương Xâm, ngày giỗ 18 tháng giêng, ngày sinh 12 tháng 3 Chữ Quyền cấm không gọi đến, chữ Ngô phải kiêng hoặc gọi tránh sang tiếng gần đúng
Bản dịch do Hoàng Khắc Nhượng dịch ngày 1/7/1977, lưu trữ trong hồ sơ di tích Từ Lương Xâm tại Bảo tàng thành phố Hải Phòng
Thông qua bản thần tích trên, chúng ta thấy quan niệm của một bộ phận người dân thành phố Hải Phòng xưa về Ngô Quyền là một nhân vật kiệt xuất, trí dũng song toàn, và có lòng yêu nước Ông sinh ra vào thời điểm nước nhà bị đô hộ
và sớm bộc lộ tài trí, mưu đồ giành lại đất nước Trong trận chiến Bạch Đằng năm
938, ông là chỉ huy chính đã đưa ra những quyết định sáng suốt: nhận định đúng đắn về lực lượng của địch và đánh giá khả năng chiến thắng của quân ta đồng thời quyết địch kế sách cắm cọc trên sông Bạch Đằng và tổ chức trận chiến vô cùng tài tình, khéo léo từ việc sắp xếp những đội quân nhử địch vào trận địa cọc đến các mũi
Trang 25tấn công chính, các đội quân chặn đường rút của địch… Sự lãnh đạo của Ngô Quyền là nhân tố quyết định cho chiến thắng trên sồng Bạch Đằng năm 938 trước quân Nam Hán
Trong thần tích còn nhắc đến vai trò của Hải Phòng và một số làng xã đã có công góp sức cùng Ngô Quyền trong trận chiến trên sông Bạch Đằng đó là làng Gia Viên, làng Lương Xâm Làng Lương Xâm ban đầu là đại bản doanh chính của Ngô Quyền nên sau Từ Lương Xâm được suy tôn là Từ Cả Sau đó Ngô Quyền chuyển địa bản doanh lên làng Gia Viên và trực tiếp chỉ huy quá trình chuẩn bị cho trận chiến nên bản thần tích tại làng Gia Viên được coi là bản thần tích gốc của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng Thông qua thần tích, chúng ta còn thấy vai trò, hình ảnh của những hương binh địa phương trong trận chiến Bạch Đằng như Đào Nhuận, Nguyễn Tất Tố là người làng Gia Viên đã chỉ huy đội quân nhử quân địch vào trận địa cọc ngầm… Tài chỉ huy, lãnh đạo của Ngô Quyền là nhân tố chính cùng với sự trợ giúp của các làng xã cổ ở thành phố Hải Phòng đã góp phần làm nên chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938, chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài cho dân tộc
1.2.3 Thần sắc cho Ngô Quyền
Quá trình phát triển của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng song hành với quá trình các triều đại phong kiến độc lập ở Việt Nam phát triển, thâu tóm quyền lực và tinh khi quốc gia vào tay vương triều và Thành hoàng làng như một thế lực tinh thần, một công cụ thay Vua cai quản đời sống tâm linh của các làng xã Ngô Quyền ban đầu được thờ là danh nhân anh hùng đảm nhiệm chức năng thần linh của làng xã, đóng vai trò bảo trợ cộng đồng đã trở thành Thành hoàng làng và được các triều đại sắc phong
- Sắc phong đầu tiên cho Ngô Vương Thiên Tử vào năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), ban cho xã Lương Xâm
- Sắc phong cho nhiều làng xã nhất, trên quy mô lớn nhất thờ Ngô Quyền là sắc ngày 10 tháng 11 niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853) cho 17 xã và 6 tổng ở huyện
An Dương thờ Ngô Quyền Sau đó, ngày 24 tháng 11 niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880) cũng sắc cho 17 làng xã và 6 tổng ở huyện An Dương thờ Ngô Quyền
Trang 26- Sắc phong muộn nhất là sắc ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) ban cho các làng xã thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng
Trong các sắc phong của các triều đại cho Ngô Quyền thì xuất hiện trường hợp sắc phong và thờ cúng không giống nhau đó là nội dung sắc phong ban cho Ngô Vương Thái Tử (Ngô Xương Ngập) nhưng nhân vật được thờ là Ngô Vương Thiên Tử (Ngô Quyền) Ví dụ miếu Hạ Đoạn (Đông Hải) có 39 đạo sắc phong cho Ngô Vương trong đó có 23 đạo sắc (từ năm Quang Thiệu thứ 7 năm 1522 đến năm Vĩnh Thịnh thứ 6 năm 1710) phong cho Ngô Vương Thái Tử 16 đạo sắc còn lại (từ năm Vĩnh Khánh thứ 2, năm 1730 đến năm Khải Định thứ 9 năm 1924) phong cho
Tiền Ngô Vương Thiên Tử Ở một số di tích khác cũng có chung hiện tượng này
Lý giải về vấn đề này, các tác giả Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang
Ngọc trong Chiến thắng Bạch Đằng 938 và 1288 cho rằng: “Những di tích này lúc đầu thờ Ngô Xương Ngập, sau đó thờ Ngô Vương rồi cuối cùng chuyển thành Ngô Vương Thiên Tử (tức Ngô Quyền)” [33, tr.54]
Hiện nay, tín ngưỡng thờ Ngô Quyền bao trùm lên tín ngưỡng thờ Ngô Xương Ngập ở Hải Phòng, trong đó Ngô Xương Ngập được phối thờ cùng Ngô Quyền nhưng ở địa vị thấp hơn, và không có làng xã nào thờ Ngô Xương Ngập mà lại không thờ Ngô Quyền nhưng không phải làng xã nào thờ Ngô Quyền cũng thờ Ngô Xương Ngập Điều đó cho thấy sự chuyển biến trong tâm thức của người dân và chính quyền phong kiến về vị trí và vai trò của Ngô Quyền đối với lịch sử dân tộc
1.3 Sự hình thành tín ngƣỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
1.3.1 Cơ sở hình thành
Ngô Quyền là một nhân vật có thật trong lịch sử với những chiến công hiển hách Các làng xã thờ phụng Ngô Quyền với vị trí là vua, Thành hoàng làng đã đưa Ngô Quyền thành nhân thần trong các thần linh của làng xã Tín ngưỡng thờ Ngô Quyền có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ nhân thần và tín ngưỡng thờ các danh nhân anh hùng Vì vậy, tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng là có nguồn gốc văn hóa, tín ngưỡng, nguồn gốc lịch sử và đảm bảo các chức năng tín ngưỡng, chức năng lịch sử và chức năng chính trị
Trang 27Nguồn gốc về tín ngưỡng, tâm linh: Ngô Quyền là một nhân vật có thật trong
lịch sử, việc phụng thờ Ngô Quyền đã đưa một nhận vật lịch sử trở thành một trong bách thần của đất Việt Tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ban đầu là biểu hiện của tín ngưỡng thờ danh nhân anh hùng của làng xã Sau này, dưới tác động của chính quyền phong kiến, Ngô Quyền trở thành Thành hoàng làng Tuy danh xưng thay đổi nhưng mục đích văn hóa, tín ngưỡng của việc thờ vẫn giữ nguyên bản chất của tín ngưỡng totem cổ là cầu mong sự che chở của thần linh
Nguồn gốc về lịch sử: xuất phát từ những hoạt động có thật của Ngô Quyền ở
Hải Phòng trong lịch sử Ngô Quyền với vai trò là một vị tướng lập lên đại công đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, là vị tổ trung hưng thứ nhất của dân tộc với việc lập ra nhà Ngô, chấm dứt giai đoạn hơn một nghìn năm Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam Các hoạt động của Ngô Quyền ở Hải Phòng có thật trong lịch sử như xây thành Vành Kiệu, luyện quân, bố trí trận địa cọc được lịch
sử ghi lại và các làng xã ghi nhận bằng những câu truyện, ký ức dân gian… và các
lễ hội với các hình thức phụng thờ Vì thế tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng còn là một biểu hiện của tín ngưỡng thờ danh nhân anh hùng trong đó Ngô Quyền là nhân vật trung tâm Các làng xã thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng thể hiện sự tri ân công lao của ngài đối với vùng đất này và đối với cả dân tộc
Nguồn gốc về chính trị: nguồn gốc này ra đời gắn liền với quá trình các triều
đại phong kiến ở Việt Nam tập trung quyền lực về tay vương triều, các triều đại phong kiến phong thần, phong Thành hoàng để thu tóm "tinh khí" đất nước vào tay vương triều, Ngô Quyền trở thành Thành hoàng làng, là đại diện, biểu tượng cho quyền lực tinh thần, để các vương triều quản lý đời sống tâm linh của làng xã Việc chính trị hóa tín ngưỡng thờ Ngô Quyền được đẩy mạnh từ thời Lê Sơ và được các
vị vua, các triều đại kế tục đẩy mạnh bằng các thần sắc, Ngô Quyền trở thành Thành hoàng làng, một vị quan của vương triều Vì vậy, tín ngưỡng thờ Ngô Quyền mang đặc điểm của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng
Như vậy, tín ngưỡng thờ Ngô Quyền có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ các danh nhân anh hùng của người Việt, Ngô Quyền ban đầu được thờ như một nhân thần là danh nhân anh hùng và thần linh của làng xã, qua quá trình phong kiến hóa thần linh,
Trang 28Ngô Quyền trở thành biểu tượng cho quyền lực của chính quyền phong kiến quản lý đời sống tâm linh của người dân làng xã Với 3 nguồn gốc trên, tín ngưỡng thờ Ngô Quyền có các chức năng về tâm linh: đóng vai trò bảo trợ, che chở cho cộng đồng; chức năng lịch sử: gìn giữ truyền thống lịch sử của các làng xã về vị anh hùng dân
tộc; chức năng chính trị: thay vua cai quản đời sống tâm linh của làng xã
Trong tín ngưỡng thờ Bách thần ở Việt Nam, có hoạt động không thể thiếu là
“thờ/cúng” Thờ hoặc thờ cúng nói chung là hoạt động tỏ lòng tôn kính thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết bằng hình thức lễ nghi, cúng bái theo phong tục hoặc tín ngưỡng Như vậy, thờ là hoạt động trung tâm, là cầu nối để con người kết nối/ tôn kính/ tưởng nhớ/ cầu xin thần linh, vì thế một vị thần chỉ tồn tại khi còn được thờ, nếu không được thờ nữa thì vị thần đó đã biến mất khỏi tâm thức người dân
1.3.2 Thời điểm hình thành
Qua quá trình khảo cứu tư liệu thành văn và tư liệu dân gian về tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng để xác định thời điểm xuất hiện của tín ngưỡng, tác giả có những kết luận như sau:
Theo các tư liệu dân gian: dựa vào các câu truyện, truyền thuyết thì tín
ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng xuất hiện sớm nhất có thể vào năm
944 (sau khi Ngô Vương mất) tại một số làng xã đã cùng Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 như làng Gia Viên, làng Quang Đàm Do
có công lao và và cống hiến to lớn vào chiến công chung của dân tộc nên sau ngày chiến thắng, Ngô Quyền phong cho làng Gia Viên và làng Quang Đàm là “hộ nhi tạo lệ” (chuyên việc thờ vua), và miễn mọi thứ binh lương, thuế khóa cho dân làng Gia Viên và Quang Đàm, chế độ này được duy trì mãi về sau [33, tr.38]
Theo các tư liệu thành văn: gồm hai nguồn là thần tích và thần sắc Dựa theo
thần tích do Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính soạn năm 1572 về sự tích Ngô Quyền tại xã Lang Thâm1 (sau này đổi thành Lương Xâm) cùng với các thần sắc của các triều đại phong kiến ban cho các làng xã thờ Ngô Vương thì đạo sắc đầu tiên ban cho Ngô Vương Thiên Tử vào năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730)2
Trang 29Đạo dụ năm Tự Đức thứ 6 (1853) đánh dấu sự thay đổi lớn của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng đó là lần đầu tiên, triều đình phong kiến ban sắc phong trên quy mô rộng lớn cho 6 tổng và 17 làng xã ở huyện An Dương (Hải Phòng) thờ Ngô Quyền
Như vậy, thời điểm xuất hiện tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng có nhiều mốc thời gian khác nhau Dựa theo truyền thuyết dân gian thì tín ngưỡng thờ Ngô Quyền có thể đã xuất hiện từ năm 944 (năm Ngô Vương mất) Dựa theo thần tích thì tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng có thể đã xuất hiện trước năm 1572 (năm Nguyễn Bính biên soạn thần tích về Ngô Quyền của xã Lang Thâm) Như vậy, khi Nguyễn Bính soạn thần tích về Ngô Quyền vào năm
1572 thì tín ngưỡng thờ Ngô Quyền đã có thể xuất hiện sớm hơn thời điểm đó (Nguyễn Bính có thể đã dựa vào các tư liệu, truyền thuyết đó để biên soạn thần tích) hoặc sau khi Nguyễn Bính biên soạn thần tích thì tín ngưỡng thờ Ngô Quyền mới chính thức hình thành (trước năm 1572 đã thờ Ngô Vương Thái Tử) Còn theo các sắc phong còn lưu lại đến ngày nay thì năm 1730 (năm Vĩnh Khánh thứ 2) là năm bắt đầu có sắc phong của triều đình phong kiến ban cho Tiền Ngô Vương Thiên Tử Dựa theo những tư liệu truyền thuyết dân gian, tư liệu thành văn đến thời điểm hiện tại, tác giả tạm thời đưa ra kết luận về thời điểm ra đời tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng muộn nhất là năm 1730 Các tư liệu dân gian và thần tích chứng minh sự xuất hiện sớm hơn mang giá trị tham khảo
Tiểu kết chương 1
Nghiên cứu về thành phố Hải Phòng từ lịch sử hình thành, các yếu tố địa lý, dân cư, văn hóa cho thấy thành phố Hải Phòng trong thời kỳ cổ trung đại là phần đất thuộc tỉnh Hải Dương cách đây hàng ngàn năm đã có con người sinh sống, minh chứng ở những di chỉ Cái Bèo, Việt Khê…Thành phố Hải Phòng không chỉ là vùng đất có vị trí địa lý trọng yếu, là phên dậu phía đông nhìn ra biển đã có lịch sử quân sự với nhiều chiến công lừng lẫy mà còn là vùng đất của sự giao thoa văn hóa là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của các loại hình tôn giáo, tín ngưỡng
Ngô Quyền – vị tổ trung hưng thứ nhất của Việt Nam, người đã lập nên chiến công trên sông Bạch Đằng năm 938 đánh bại quân Nam Hán, chấm dứt hơn
Trang 301000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập, tự do lâu dài cho dân tộc Ngô Quyền không chỉ là một vị vua mà còn là một anh hùng dân tộc Những hoạt động và chiến công của ông ở thành phố Hải Phòng là nguyên nhân trực tiếp hình thành nên tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
Với các kết quả nghiên cứu và tư liệu điền dã về truyền thuyết, thần tích, thần sắc về Ngô Quyền, tác giả xác định được sự hình thành tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng dựa trên cơ sở về tín ngưỡng, cơ sở về lịch sử và dụng ý chính trị của các triều đại phong kiến Tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng ra đời muộn nhất vào khoảng đầu thế kỉ XVIII Với bề dày lịch sử
và cở sở hình thành vững chắc, tín ngưỡng thờ Ngô Quyền xuất hiện ở lượng lớn làng xã, tập trung chủ yếu ở khu vực nội thành thành phố Hải Phòng và lưu vực sông Cấm đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân thành phố Cảng
Trang 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN NGƯỠNG THỜ NGÔ QUYỀN
Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 Không gian thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
Để xác định vị thần ấy có được thờ/ tồn tại hay không, tác giả đưa ra những tiêu chí của hoạt động thờ cúng như sau
- Thứ nhất: gắn với một công trình thờ cụ thể (trả lời cho câu hỏi: thờ ở đâu) Với địa vị là một vị thần tức là mang tính cộng đồng (dù nhỏ hoặc lớn), thì công trình thờ được xác định ở đây phải mang tính cộng đồng, có thể là đình, đền, miếu, chùa Các công trình thờ mang tính tư gia (thờ tại nhà) không được tính là một công trình thờ chung của cộng đồng làng xã Thêm vào đó là công trình thờ đó phải còn tồn tại (có thể cảm nhận được bằng các giác quan), những công trình thờ từng tồn tại trong quá khứ mà đến nay không còn nữa chỉ có giá trị tham khảo Điều kiện có công trình thờ là điều kiện quan trọng nhất, chi phối các điều kiện khác vì nếu không có công trình thờ thì không có chỗ/ nơi cho đối tượng thờ và hoạt động thờ diễn ra
- Thứ hai: có hoạt động thờ cúng với đối tượng thờ cụ thể và vẫn được thờ Đối tượng thờ phải có vị trí và hiện hữu trong công trình thờ, sự hiện hữu có thể là tượng thờ, bài vị Điều kiện này gắn với yêu cầu là vị thần ấy vẫn được thờ, trường hợp làng xã từng thờ vị thần ấy trong quá khứ mà đến nay không thờ nữa thì vị thần
ấy không còn tồn tại
Hai điều kiện trên là hai điều kiện cần và đủ, quan trọng nhất để xác định vị thần ấy còn tồn tại (vẫn được thờ) hay không, nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì không đủ căn cứ xác định hoạt động thờ/ sự tồn tại của thần Ngoài ra, tác giả dựa vào các tư liệu thành văn như sắc phong, thần tích là cơ sở xác định các làng xã thờ Ngô Vương mà đến nay không còn công trình thờ nữa
Như vậy, để xác định giới hạn của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng thì phải thỏa mãn hai điều kiện cần và đủ của hoạt động thờ: Ngô Quyền được thờ ở công trình thờ cụ thể và còn tồn tại, hiện diện trong công trình thờ ấy và vẫn được thờ cho đến nay, đồng thời gắn với những phương thức thờ Các công
Trang 32trình thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng từng tồn tại trong quá khứ mà đến nay không còn nữa mang giá trị tham khảo
Dựa theo sắc phong của các triều đại phong kiến cho các làng xã thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng đặc biệt sắc phong năm 1853 và 1880 (sắc phong cho nhiều làng xã nhất, trên quy lớn của thuộc huyện An Dương, là phần đất hầu hết thuộc các quận nội thành thành phố Hải Phòng ngày nay) dưới thời Vua Tự Đức cho 17 xã ở vùng An Hải thờ Ngô Vương Đó là các làng xã Đông Khê, Phụng Pháp, Hạ Đoạn, Đoạn Xá, Vạn Mỹ, Trực Cát, Đồng Xá, Cát Bi, Gia Viên, Lạc Viên, Thượng Lý Hạ
Lý, An Chân Cũng trong năm 1853 và 1880, Vua Tự Đức còn sắc phong cho lục tổng ở huyện An Dương thờ Ngô Quyền, là các tổng: Lương Xâm, Trung Hành, Trực Cát, Đông Khê, Hạ Đoạn, Gia Viên Theo sách Đồng Khánh địa dư chí được biên soạn từ năm 1887 – 1889 (cách không quá xa với sắc phong năm 1880) thì tổng Lương Xâm gồm các xã Lương Xâm, Hạ Lũng, Lũng Bắc, Lương Khê, Xâm
Bồ3, Xâm Đông; tổng Trung Hành gồm các xã Trung Hành, Lực Hành, An Khê, Thư Trung, Điều Sơn, Đông An; tổng Trực Cát gồm các xã Trực Cát, Hào Khê, Đồng Xá, Cát Bi, Cát Khê, Bình Kiều4; tổng Đông Khê gồm các xã Đông Khê, Dư Hàng, Phụng Pháp, Hàng Kênh, An Biên; tổng Hạ Đoạn gồm các xã Hạ Đoạn, Thượng Đoạn, Đoạn Xá, Phú Xá, Vạn Mỹ, Vĩnh Lưu, Định Vũ; tổng Gia Viên gồm các xã Gia Viên, Lạc Viên, An Trì, An Chân, Hạ Lý, Thượng Lý [13, tr.151,152]
Như vậy, khi kết hợp hai sắc phong năm 1853 và năm 1880 thì ít nhất đến năm 1880, có thể đã có 36 làng xã ở Hải Phòng thờ Ngô Vương và đến đầu thế kỉ
XX là 37 làng xã Sách Đồng Khánh địa dư chí chép “Miếu Tiền Ngô Vương: từ
huyện An Dương trở xuống đến xã Lương Xâm đều phụng thờ”
Với 37 làng xã thờ Ngô Vương ở vùng nội thành thành phố Hải Phòng xưa phản ánh vai trò của Ngô Quyền với vùng đất này, tuy nhiên số lượng các làng xã
3 Trong Đồng Khánh địa dư chí bản dịch chép Tổng Lương Xâm có xã Lương Bồ mà không chép xã Xâm
Bồ Trong quá trình khảo cứu tại địa phương và so sánh tư liệu sắc phong thì xã Lương Bồ không tồn tại mà
xã Xâm Bồ xuất hiện nhiều hơn Tác giả cho rằng đã in sai hai địa danh trên vì vậy trong nội dung luận văn, tác giả sử dụng xã Xâm Bồ thuộc Tổng Lương Xâm thay cho xã Lương Bồ
4 Tên làng xã và số lượng làng xã dựa theo sách Đồng Khánh địa dư chí, trong sách không chép xã Bình Kiều thuộc tổng Hà Đoạn nhưng Bình Kiều là một làng xã cổ thuộc tổng Hạ Đoạn, tác giả bổ sung thêm nên tổng
Hạ Đoạn có 6 xã thay vì 5 xã theo như Đồng Khánh địa dư chí
Trang 33thờ Ngô Quyền trên thực tế có những biến đổi, có khu vực được mở rộng hơn, cũng
có khu vực bị thu hẹp lại
2.1.1 Các làng thờ Ngô Quyền
Dựa theo sắc phong của vua Tự Đức năm 1853 và năm 1880 ban cho 6 tổng
ở huyện An Dương và 17 làng xã (thuộc 6 tổng trên) thờ Ngô Quyền, kết hợp với quá trình khảo cứu tại địa phương Tác giả thống kê được hiện nay còn 28 làng xã thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng như sau:
Tổng Lương Xâm còn 5 làng xã còn thờ Ngô Quyền gồm: làng Lương Xâm,
làng Hạ Lũng, làng Lũng Bắc, làng Lương Khê, làng Xâm Bồ
Làng Lương Xâm hiện nay thuộc phường Nam Hải, quận Hải An Lương Xâm được 9 làng miền Đông của quận Hải An tôn là làng chính thờ Ngô Quyền Làng Lương Xâm hiện nay còn 2 công trình thờ Ngô Quyền là Từ Lương Xâm (Từ Cả) và đình Lương Xâm Từ Lương Xâm được coi là Từ chính, là một trong ba từ linh thiêng của quận Hải An Làng Lương Xâm tổ chức lễ hội từ 16 tháng giêng đến
18 tháng giêng âm lịch hàng năm, lễ hội ở Từ Lương Xâm có tục rước kiệu thánh của 9 làng xã thờ Ngô Vương đến Từ Lương Xâm Đây là lễ hội thờ Ngô Quyền lớn nhất của quận Hải An và của cả thành phố Hải Phòng
Làng Hạ Lũng hiện nay thuộc xã Đằng Hải, quận Hải An Làng Hạ Lũng còn
2 công trình thờ Ngô Quyền là đình Hạ Lũng và miếu Hạ Lũng Đình là nơi thờ vọng, chính điện thờ mũ, y phục, hậu cung là nơi thờ bài vị Miếu là nơi thờ chính, trong hậu cung của miếu có tượng thờ Ngô Quyền Dân làng suy tôn Ngô Quyền tại đình là Thành hoàng, tại miếu là Thánh Làng Hạ Lũng tổ chức lễ hội thờ Ngô Vương từ ngày 16 đến ngày 18 tháng giêng âm lịch, lễ chính vào ngày 17 tháng giêng âm lịch hàng năm
Làng Lũng Bắc hiện nay thuộc phường Đằng Hải, quận Hải An Làng Lũng Bắc còn đình Lũng Bắc thờ Ngô Quyền Đình Lũng Bắc có tượng thờ Ngô Quyền tại hậu cung của đình Đình Lũng Bắc là ngôi đình cổ, trong khuôn viên đình có 2 cây Bàng cổ gần 300 năm tuổi Làng Lũng Bắc tổ chức lễ hội thờ Ngô Vương vào ngày 17 tháng giêng âm lịch hàng năm
Làng Lương Khê hiện nay thuộc phường Tràng Cát, quận Hải An Làng Lương Khê còn 1 di tích thờ Ngô Quyền là đình Lương Khê tại tổ dân phố Lương
Trang 34Khê 5, phường Tràng Cát Làng Lương Khê thờ 2 vị Thành hoàng là Ngô Quyền được thờ ở Đình, Phạm Tử Nghi được thờ ở miếu Đình Lương Khê có gian chính thờ Ngô Quyền và có gian thờ Mẫu mới được xây dựng bên phải gian thờ chính Làng Lương Khê hàng năm tổ chức lễ hội từ ngày 16 đến ngày 18 tháng giêng âm lịch, trong lễ hội có tục rước kiệu đến Từ Lương Xâm, trong đó lễ vật dâng cúng gồm trầu cau, rượu, hoa quả, xôi thịt và lợn quay
Làng Xâm Bồ hiện nay thuộc phường Nam Hải, quận Hải An Làng Xâm Bồ
có đình và miếu thờ Ngô Quyền và Phạm Tử Nghi trong đó Phạm Tử Nghi được thờ là Thành hoàng làng, Ngô Quyền được thờ là vua có vị trí quan trọng nhất Tại đình Xâm Bồ, Ngô Quyền có tượng, được thờ trong hậu cung của đình, Phạm Tử Nghi chỉ có bài vị Làng Xâm Bồ hiện vẫn giữ được truyền thống giao hiếu, dự lễ tế Ngô Vương với Từ Lương Xâm Lễ hội làng Xâm Bồ được tổ chức từ ngày 16 đến ngày 18 tháng giêng âm lịch hàng năm
Tổng Trực Cát có 5 làng xã thờ Ngô Quyền và vẫn giữ nguyên cho đến hiện
nay đó là các làng Trực Cát, làng Hào Khê, làng Đồng Xá, làng Cát Bi, làng Cát Khê
Làng Trực Cát hiện nay thuộc phường Tràng Cát, quận Hải An Làng Trực Cát còn 2 công trình thờ Ngô Quyền là đền Trực Cát nằm trên đường Thành Tô (gần chùa Trực Cát), đền Trực Cát còn có tên là miếu Cát Linh vẫn giữ nguyên kiến trúc và họa tiết trang trí cổ Đình Trực Cát nằm trên đường Cát Vũ, đình Trực Cát mới được xây dựng lại vào năm 2016 Làng Trực Cát thờ Ngô Quyền là Thành hoàng làng, tổ chức lễ giỗ kỵ vào ngày 16 tháng giêng âm lịch
Làng Hào Khê hiện nay thuộc phường Kênh Dương, quận Lê Chân Làng Hào Khê có đình Hào Khê nằm trên đường Hào Khê (phường Kênh Dương) Làng Hào Khê thờ Ngô Quyền là Thành hoàng làng, Ngô Quyền được phối thờ cùng Phạm Tử Nghi (ban đầu được thờ ở miếu, hiện nay đã chuyển Phạm Tử Nghi về thờ
ở đình) Đình Hào Khê có tượng Ngô Quyền được thờ tại hậu cung của đình Làng Hào Khê tổ chức lễ hóa kỵ Ngô Quyền vào ngày 16 tháng giêng âm lịch, tổ chức lễ chiến thắng Bạch Đằng vào ngày 15 tháng 8 âm lịch Đình Hào Khê chỉ mở cửa vào mùng 1 và ngày rằm hàng tháng
Làng Đồng Xá hiện nay còn miếu Đồng Xá nằm trên đường Thành Tô, phường Tràng Cát, quận Hải An (cách đền Trực Cát 1 kilomet) Miếu Đồng Xá là
Trang 35một ngôi miếu nhỏ, chỉ mở cửa cúng lễ vào mùng 1 và ngày rằm hàng tháng và không có khách thập phương đến chiêm bái Hiện nay, dân làng Đồng Xá không sống tập trung thành một làng như xưa mà tỏa đi các nơi vì vậy làng Đồng Xá không còn tổ chức lễ hội thờ Ngô Vương
Làng Cát Bi hiện nay thuộc phường Tràng Cát, quận Hải An Làng Cát Bi có đình Cát Bi nằm trên đường Tràng Cát, quận Hải An (đối diện chùa Quang Minh) Làng Cát Bi phối thờ Ngô Quyền cùng với Trần Hưng Đạo và Phạm Tử Nghi tại đình, trong đó chỉ Ngô Quyền có tượng thờ ở vị trí giữa trong cung cấm Làng Cát
Bi tổ chức lễ giỗ kỵ Ngô Vương vào ngày 17 tháng giêng âm lịch
Làng Cát Khê hiện nay thuộc phường Tràng Cát, quận Hải An Làng Cát Khê có đình Cát Khê thuộc tổ dân phố Cát Khê, đường Thành Tô (ngõ 228 đường Thành Tô) Làng Cát Khê thờ Phạm Tử Nghi là thần gốc của làng, Ngô Quyền là thần phụ trong đó Ngô Quyền được thờ vua, Phạm Tử Nghi được thờ là Thành hoàng làng Trong hậu cung của đình Cát Khê có tượng thờ Ngô Quyền và Phạm
Tử Nghi, tượng Ngô Quyền mặc áo vàng, có vị trí ngồi cao hơn so với tượng Phạm
Tử Nghi mặc áo đỏ Ngô Quyền tuy không phải là Thành hoàng làng nhưng vẫn được dân làng cúng lễ long trọng Trong văn khấn tại đình Cát Khê thì Phạm Tử Nghi được khấn trước, Ngô Vương được khấn sau Trong khuôn viên đình Cát Khê còn có miếu thờ bà chúa Nam Phương, hiện nay đã được nâng lên phủ chúa, thờ Tam phủ
Tổng Trung Hành hiện nay còn 5 làng xã thờ Ngô Quyền là các làng Trung
Hành, làng Lực Hành, làng An Khê (tên cũ là Tây Khê), làng Thư Trung, làng Kiều Sơn (tên cũ là Điều Sơn)
Làng Trung Hành hiện nay thuộc phường Đằng Lâm, quận Hải An, có đình
và miếu thờ Ngô Vương Đình và miếu Trung Hành nằm trên đường Trung Hành, phường Đằng Lâm Làng Trung Hành thờ Ngô Vương là vua tại miếu, còn tại đình thì Ngô Vương được thờ là Thành hoàng làng Lễ hội làng Trung Hành được tổ chức từ ngày 17 đến 18 tháng giêng âm lịch, trong lễ hội làng có tục rước kiệu thánh đến Từ Lương Xâm
Làng Lực Hành hiện nay thuộc phường Đằng Lâm, quận Hải An Làng Lực Hành có đình Lực Hành nằm trên ngõ 415 đường Ngô Gia Tự, phường Đằng Lâm
Trang 36Làng Lực Hành thờ Ngô Quyền là Thành hoàng làng duy nhất, tổ chức lễ hội từ ngày 10 đến 11 tháng giêng âm lịch Đình Lực Hành chỉ mở cửa vào mùng 1 và ngày rằm hàng tháng
Làng An Khê hiện nay thuộc phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, có đình
An Khê nằm trong ngõ 231 đường Văn Cao, phường Đằng Giang Đình An Khê nằm trong khuôn viên của chùa Vạn Phúc Quy mô đình An Khê không rộng lớn như các đình thờ Ngô Quyền khác trong vùng Làng An Khê thờ Ngô Quyền là Thành hoàng làng duy nhất, tổ chức lễ hội vào ngày 12 đến 13 tháng giêng âm lịch
Lễ hội làng An Khê có sự kết hợp, giao lưu với các làng khác trong khu vực (Lực Hành, Kiều Sơn)
Làng Thư Trung hiện nay thuộc phường Đằng Lâm, quận Hải An Làng Thư Trung có 2 công trình tôn giáo, tín ngưỡng là nhà thờ Thư Trung và đình Thư Trung Làng Thư Trung thờ Ngô Quyền là thần Thành hoàng duy nhất tại đình làng, đình Thư Trung có khuôn viên rộng lớn và mới được trùng tu, xây dựng lại, đình chỉ mở cửa vào mùng 1 và ngày rằm hàng tháng Làng Thư Trung tổ chức lễ hội vào ngày 14 đến 15 tháng giêng âm lịch
Làng Kiều Sơn (tên cũ là Điều Sơn) hiện nay thuộc phường Đằng Lâm, quận Hải An Làng Kiều Sơn có 3 công trình tôn giáo, tín ngưỡng là chùa Kiều Sơn, nhà thờ Kiều Sơn và đình Kiều Sơn Đình Kiều Sơn nằm trên đường Kiều Sơn, phường Đằng Lâm Đình Kiều Sơn hiện nay đã được xây dựng lại mới hoàn toàn trên nền đất của đình Kiều Sơn cũ Làng Kiều Sơn thờ là Ngô Quyền là thành hoàng làng duy nhất tại đình làng, tổ chức lễ hội vào ngày 16 đến 17 tháng giêng âm lịch Đình Kiều Sơn chỉ mở cửa vào mùng 1 và ngày rằm hàng tháng
Tổng Đông Khê hiện nay còn 5 làng xã thờ Ngô Quyền là các làng Đông
Khê, làng Dư Hàng, làng Hàng Kênh, làng Phụng Pháp, làng Nam Pháp
Làng Đông Khê hiện nay thuộc phường Đông Khê, quận Ngô Quyền Làng Đông Khê có đình Đông Khê nằm trên đường Đông Khê, phường Đông Khê Làng Đông Khê thờ Ngô Quyền là vua, có tượng thờ trong hậu cung của đình, thờ ông Trần Công Tự là Thành hoàng làng Hàng năm làng Đông Khê tổ chức lễ hội làng vào ngày hóa kỵ của Ngô Vương và Thành hoàng làng nhưng chỉ có lễ hội của Ngô
Trang 37Vương là được tổ chức có quy mô lớn hơn Lễ hội làng Đông Khê được tổ chức từ ngày 13 đến 15 tháng giêng âm lịch
Làng Dư Hàng xưa thuộc làng Hàng Kênh, tổng Đông Khê nhưng đến thế kỉ XVI đã tách ra thành một làng mới có tên là làng Dư Hàng Kênh (gọi tắt là làng Dư Hàng) Làng Dư Hàng hiện nay thuộc phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, có đình Dư Hàng nằm trên đường Chùa Hàng Làng Dư Hàng thờ Ngô Quyền là thần Thành hoàng chính của làng, Ngô Vương có tượng thờ bên trong hậu cung của đình Ngoài ra làng Dư Hàng còn phối thờ Vũ Chí Thắng nhưng chỉ là thờ vọng, không có tượng hay bài vị trong đình Trong khuôn viên đình Dư Hàng bên cạnh gian chính thờ Ngô Vương còn có gian nhỏ hơn bên trái của đình thờ Tam phủ Đình Dư Hàng mở cửa đón khách chiêm bái quanh năm Làng Dư Hàng tổ chức lễ hội thờ Ngô Vương vào ngày 16 đến 18 tháng giêng âm lịch, trong lễ hội có tục rước kiệu thánh qua miếu Hai Xã (là miếu cổ của làng Hàng Kênh và làng Dư Hàng) và rước vọng Vũ Chí Thắng ở Từ Vũ
Làng Hàng Kênh hiện nay thuộc phường Hàng Kênh, quận Lê Chân Làng Hàng Kênh có đình Hàng Kênh thờ Ngô Quyền và miếu Hai Xã (là miếu chung của làng Hàng Kênh và làng Dư Hàng) Đình Hàng Kênh là một ngôi đình cổ, vẫn giữ nguyên kiến trúc và hiện trạng từ xưa và được coi là ngôi cổ lớn và đẹp nhất thành phố Hải Phòng, đình Hàng Kênh hiện nay thuộc sự quản lý của bảo tàng thành phố Hải Phòng Đình Hàng Kênh thờ Ngô Quyền là Thành hoàng làng, có tượng thờ ở gian giữa chính điện, bên trái thờ Tam tòa thánh Mẫu, bên phải thờ Nam Tào, Bắc Đẩu Trong khuôn viên của đình còn có một gian thờ 5 vị trạng nguyên là Khổng
Tử, Chu Văn An, Lê Ích Mặc, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Trần Tất Văn Lễ hội đình làng Hàng Kênh hiện nay không còn nữa, Vào các ngày lễ giỗ và ngày sinh của Ngô Vương chỉ thực hiện cúng tế đơn giản Đình Hàng Kênh mở cửa đón du khách quanh năm
Làng Phụng Pháp hiện nay thuộc phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền Làng Phụng Pháp còn đình Phụng Pháp (tên khác là đình xóm Trung) ở ngõ 193 đường Văn Cao, phường Đằng Giang Ngô Quyền được thờ là Thành hoàng của làng Phụng Pháp, có tượng thờ ở gian giữa chính điện, trong hậu cung của đình
Trang 38Làng Phụng Pháp tổ chức lễ hội làng vào ngày 16 tháng giêng âm lịch Trong khuôn viên đình Phụng Pháp còn có gian thờ bà Tân Nàng, hiện nay đã được nâng lên thành ban thờ Tam Phủ
Làng Nam Pháp là một làng mới thành lập đầu thế kỷ XX, làng có nguồn gốc từ làng Phụng Pháp, hiện nay làng thuộc phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền Làng Nam Pháp còn giữ được đình Nam Pháp thờ Ngô Quyền tại ngõ 281 đường Lạch Tray Đình Nam Pháp là ngôi đình mới được xây dựng lại trên nền đất của đình Nam Pháp xưa Làng Nam Pháp thờ Ngô Quyền là Thành hoàng làng, tổ chức lễ hội vào ngày 15 tháng giêng âm lịch hàng năm Bên cạnh đó, làng Nam Pháp còn thờ vua cha Bát Hải, Đức Trần Triều, công đồng Tứ phủ trong khuôn viên của đình
Tổng Hạ Đoạn còn 5 làng xã thờ Ngô Quyền là làng Hạ Đoạn, làng Thượng
Đoạn, làng Đoạn Xá, làng Phương Lưu (tên cũ là Vĩnh Lưu) và làng Bình Kiều
Làng Hạ Đoạn hiện nay thuộc phường Đông Hải 1, quận Hải An Làng Hạ Đoạn còn miếu Hạ Đoạn nằm trên đường Đông Hải Làng Hạ Đoạn phối thờ Ngô Quyền cùng Phạm Tử Nghi, Đoàn Thượng, Tây Quân và Quốc Mẫu trong đó chỉ Ngô Vương là có tượng thờ trong hậu cung của đình, các vị thần còn lại chỉ có bài
vị được thờ ở gian ngoài Lễ hội làng Hạ Đoạn được tổ chức từ ngày 16 đến 18 tháng giêng âm lịch, lễ hội làng hiện nay vẫn giữ được tục hợp tế tam dân với làng Lương Xâm và làng Xâm Bồ
Làng Thượng Đoạn và làng Đoạn Xá hiện nay thuộc phường Đông Hải, quận Hải An, hai làng có chung miếu Thượng Đoạn Xá (còn gọi là miếu liên xã) thờ Ngô Quyền Miếu Thượng Đoạn Xá ở số 259 đường Phủ Thượng Đoạn, phường Đông Hải, miếu có quy mô nhỏ, mới được xây dựng lại, Ngô Vương được thờ là thần Thành hoàng tại miếu Lễ hội miếu Thượng Đoạn Xá được tổ chức từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 3 âm lịch Miếu Thượng Đoạn Xá chỉ mở cửa vào mùng 1 và ngày rằm hàng tháng
Làng Phương Lưu hiện nay thuộc phường Đông Hải, quận Hải An Làng Phương Lưu còn 2 công trình thờ Ngô Quyền là đình Phương Lưu nằm trên đường
Trang 39Phương Lưu, phường Đông Hải và miếu Phương Lưu nằm trên đường Bùi Thị Từ Nhiên, phường Đông Hải Làng Phương Lưu phối thờ Ngô Quyền và Phạm Tử Nghi nhưng chỉ Ngô Quyền có tượng thờ ở cả đình và miếu, Phạm Tử Nghi chỉ có tượng thờ ở miếu Trong hậu cung của miếu thì tượng thờ của Ngô Quyền và Phạm
Tử Nghi có vị trí ngang hàng nhau, tượng Ngô Quyền bên trái, tượng Phạm Tử Nghi bên phải Làng Phương Lưu tổ chức lễ hội thờ Ngô Vương vào ngày 16 đến
17 tháng giêng âm lịch, đây là lễ hội lớn nhất trong năm của làng Ngày 14 tháng 9
âm lịch, làng làm lễ giỗ Phạm Tử Nghi nhưng không mở hội, chỉ cúng lễ đơn giản
Làng Bình Kiều hiện nay thuộc phường Đông Hải, quận Hải An Làng Bình Kiều có đình Bình Kiều thờ Ngô Quyền và Ngô Xương Ngập Đình Bình Kiều là ngôi đình mới được xây dựng lại năm 2017 trên nền đất của trạm xá Bình Kiều Trước đó làng Bình Kiều thờ Ngô Vương trong chùa Bình Kiều, đến nay đã tách ra thành hai công trình thờ riêng biệt Ngô Vương được thờ là thần Thành hoàng của làng Bình Kiều, và có tượng thờ trong hậu cung của đình Lễ hội làng Bình Kiều được tổ chức từ ngày 16 đến 17 tháng giêng âm lịch
Tổng Gia Viên hiện nay còn 3 làng xã thờ Ngô Quyền là làng Gia Viên, làng
Lạc Viên, làng An Trì
Làng Gia Viên hiện nay thuộc phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền Vị trí của làng Gia Viên xưa ở khu vực ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng hiện nay Do quá trình xây dựng thành phố Hải Phòng của thực dân Pháp, làng Gia Viên đã 3 lần đổi vị trí Làng Gia Viên là một trong những làng gốc và cổ nhất của thành phố Hải Phòng, có liên quan trực tiếp đến chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938 Nhờ công lao đó, làng Gia Viên được Ngô Vương phong làm “hộ nhi tạo lệ”, được miễn các khoản binh dịch, thuế khóa và chế độ này được duy trì mãi về sau Làng Gia Viên có đình Gia Viên (ở phố Cấm, đường Lê Lợi) phối thờ Ngô Quyền với Phạm Tử Nghi, Đoàn Thượng, Đào Nhuận, Nguyễn Tất Tố và Vũ Quận Quyến Hoa công chúa Ngô Vương có tượng thờ ở gian chính giữa trong hậu cung của đình, hai bên là tượng thờ của Phạm Tử Nghi và Đoàn Thượng, Đào Nhuận, Nguyễn Tất Tố và Vũ Quận Quyến Hoa công chúa được thờ ở gian ngoài của đình Đình Gia Viên hiện nay còn giữ được bản “Tiền Ngô Vương ngọc phả lục” là bản
Trang 40thần tích gốc về Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng Làng Gia Viên tổ chức lễ hội thờ Ngô Vương vào ngày từ ngày 17 đến 18 tháng giêng âm lịch, lễ chính vào ngày
18 tháng giêng
Làng Lạc Viên hiện nay thuộc phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền Làng Lạc Viên có đình Lạc Viên ở ngõ 165 đường Đà Nẵng, phường Lạc Viên Làng Lạc Viên có 6 vị Thành hoàng làng gồm Ngô Quyền, Đoàn Thượng, Phạm Tử Nghi, Quý Minh Đại Vương, Mạc Mậu Hợp, Quý Minh Vương Minh Diệu Trong đó Ngô Vương có tượng thờ ở vị trí giữa trong hậu cung, tượng Ngô Vương lớn và đặc sắc hơn 5 vị Thành hoàng còn lại Làng Lạc Viên tổ chức lễ hội thờ Ngô Vương vào ngày 17 đến 18 tháng giêng âm lịch
Làng An Trì hiện nay thuộc phường An Trì, quận Hồng Bàng Làng An Trì
có 2 công trình tín ngưỡng là đình An Trì (ở đường Hồng Bàng, ngõ đối diện bệnh viên giao thông vận tải) và miếu An Trì Đình An Trì thờ Ngô Quyền, Ngô Xương Ngập Va Nguyễn Trí Hòa Miếu An Trì thờ Phạm Tử Nghi Ngô Vương được thờ là vua, Nguyễn Trí Hòa được thờ là Thành hoàng làng Trong đình An Trì có tượng thờ Ngô Vương, Ngô Xương Ngập và Nguyễn Trí Hòa trong đó tượng Ngô Vương
ở vị trí giữa trong cung cấm, tượng thờ Nguyễn Trí Hòa và Ngô Xương Ngập ở hai bên Làng An Trì có 2 lễ hội lớn trong năm là lễ hội thờ Ngô Vương vào ngày 10 tháng 2 âm lịch và lễ hội thờ Thành hoàng làng vào ngày 18 tháng 4 âm lịch
Như vậy, với 28 làng xã còn thờ Ngô Quyền cho tới hiện nay đã phản ánh sức ảnh hưởng, vị trí quan trọng của việc phụng thờ Ngô Quyền trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của một bộ phân cư dân thành phố Hải Phòng Các làng xã thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng có những điểm chung về hình thức phụng thờ Ngô Quyền dưới dạng tín ngưỡng thờ danh nhân anh hùng, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, bên cạnh đó cũng có những khác biệt về truyền thuyết, vị trí của Ngô Quyền trong bách thần của mỗi làng xã Điều đó thể hiện sự không đồng bộ trong tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng
2.1.2 Sự mở rộng tín ngưỡng thờ Ngô Quyền
Quá trình mở rộng tín ngưỡng thờ Ngô Quyền ở thành phố Hải Phòng diễn ra theo 2 phương thức là tách lập tự nhiên và phương thức can thiệp từ trên xuống