1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài báo cáo LSA và NETWORK TYPES

73 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Kiểu 5: autonomous system external link entry, được tạo ra bởi ASBR Router: * Miêu tả tuyến đường của các AS khác muốn đến AS khác thì phải đi qua ASBR, gửi đến toàn bộ OSPF Router tro

Trang 1

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 1

MỤC LỤC

1 LSA 4

1.1 Giới Thiệu Về OSPF 4

1.2 Metric Của OSPF 4

1.3 Môi Trường Của OSPF 4

1.4 Các Gói Của OSPF 4

1.5 Multi-Area 4

1.6 Nguyên Tắc Hoạt Động Cáu OSPF 5

1.7 Sơ Lược Về LSA 6

1.8 Hoạt Động Của LSA 6

1.9 Các Loại Thông Điệp LSA 7

1.9.1 Type 1 Router LSA 7

1.9.2 Type 2 Network LSA 11

1.9.3 Type 3 Summary Network 13

1.9.4 Type 4 & Type 5 16

1.9.5 Type 6 Group Membership 23

1.9.6 Type 7 NSSA 25

1.10 Quá Trình Chọn DR Và BDR 29

1.11 Router ID 30

1.12 Link State 30

1.13 Mô Hình 31

1.14 Các Type của OSPF 31

1.14.1 R1 31

1.14.2 R2 32

1.14.3 R3 32

Trang 2

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 2

1.15 Show Ip OSPF Neighbor 33

1.15.1 R1 33

1.15.2 R2 34

1.15.3 R3 34

1.16 Show Ip OSPF Border-routers 35

1.16.1 R1 35

1.16.2 R2 35

1.16.3 R3 36

1.17 Show Ip OSPF 1 36

1.17.1 R1 36

1.17.2 R2 37

1.17.3 R3 37

1.18 Config 38

1.18.1 R1 38

1.18.2 R2 41

1.18.3 R3 44

1.18.4 R4 47

2 NETWORK TYPES 50

2.1 Giới Thiệu Về Network Types Trong OSPF 50

2.2 Multicaccess 50

2.3 Point-To-Point 51

2.4 Broadcast 52

2.5 Non-Broadcast 52

Trang 3

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 3

2.6 OSPF Broadcast Network 53

2.7 Designated Router and Backup Designated Router 55

2.8 Election Of DR/BDR 56

2.9 Point-To-Multipoint 57

2.10 Môi Trường Truyền Dẫn Như Framerelay, ATM,X.25 58

2.11 Mo Hình 59

2.12 Config 59

2.12.1 R1 59

2.12.2 R2 62

2.12.3 R3 65

2.12.4 R4 67

2.12.5 R5 70

Trang 4

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 4

LSA & NETWORK TYPES

1 LSA

1.1 Giới Thiệu Về OSPF

OSPF (Open Shortest Path First) là một giao thức định tuyến dạng link-state, sử dụng thuật toán Dijkstra “ Shortest Path First (SPF)” để xây dựng bảng định tuyến

OSPF mang những đặc điểm của giao thức link-state Nó có ưu điểm là hội tụ nhanh, hỗ trợ được mạng có kích thước lớn và không xảy ra routing loop Là giao thức định tuyến dạng classless nên hỗ trợ VLSM và mạng không liên tục (discontigous network)

Bên cạnh đó OSPF còn sử dụng area để giảm yêu cầu về CPU, memory của OSPF router cũng như lưu lượng định tuyến OSPF còn có khả năng hỗ trợ chứng thực dạng plain-text

và dạng MD5

1.2 Metric Của OSPF

OSPF sử dụng metric là cost Cost của toàn tuyến được tính theo cách cộng dồn cost dọc theo tuyến đường đi của packet Cách tính cost được IETF đưa ra trong RFC 2328

Cost được tính dựa trên băng thông sao cho tốc độ kết nối của đường link càng cao thì cost càng thấp dựa trên công thức 108/bandwidth với giá trị bandwidth được cấu hình trên mỗi interface và đơn vị tính là bps

1.3 Môi Trường Của OSPF

Multiple access (ethernet)

Point-to-point

NBMA (Non-Broadcast Multiple Access)

1.4 Các Gói Của OSPF

1.Hello

2.Link State Database Description (LSDB)

3 Link State Request(LSR)

4 Link State Update (LSU)

5 Link State Acknownledgement (LSA)

1.5 Multi-Area

Link State Update được chia làm 7 kiểu

+ Kiểu 1: router link entry

+ Kiểu 2: network link entry (được tạo ra bởi DR)

Kiểu 1, 2: chỉ được tạo và gửi giữa các router trong một area, trong bảng định tuyến là chữ “O”

+ Kiểu 3: ABR Router gửi thông tin summary về link state của area này cho area khác thông qua backbone area (area 0)

Trang 5

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 5

+ Kiểu 4: ABR Router gửi thông tin về ASBR (nếu có) của area này cho area khác thông qua backbone area (area 0) nhưng lưu ý Stubby Area và Totally Stubby Area không nhận kiểu 4 này

* Thông tin về ASBR: Router ID của ASBR Router chứ không phải về các thông tin network mà ASBR Router biết

Kiểu 3, 4 – summary link entry: được tạo ra bởi ABR Router, trong bảng định tuyến là chữ “O IA”

+ Kiểu 5: autonomous system external link entry, được tạo ra bởi ASBR Router:

* Miêu tả tuyến đường của các AS khác (muốn đến AS khác thì phải đi qua ASBR), gửi đến toàn bộ OSPF Router trong area có ASBR Router, sau đó được chuyển đến các area khác thông qua ABR Router (Nhớ là các ABR Router khi biết thông tin về ASBR Router

sẽ gửi kiểu

* Lưu ý Stubby Area và Totally Stubby Area không nhận kiểu 5

* Trong bảng định tuyến là chữ “O E1” – có giá trị cost được cấu hình hoặc “O E2” – mặc định có giá trị cost bằng 20

Một vấn đề cần lưu ý ở đây là các router thuộc Stubby Area hay Totally Stubby Area không cần nhận thông tin kiểu 4 và kiểu 5, chỉ cần cấu hình đường default route -> giảm database cho router Các router thuộc các area khác phải nhận được cả kiểu 4 và kiểu 5 mới có đủ thông tin để đến được các network thuộc các AS khác

+ Kiểu 6: multicast OSPF, Cisco không hỗ trợ

+ Kiểu 7: autonomous system external link entry, được tạo bởi ASBR Router, trong bảng định tuyến là chữ “N1” hoặc “N2”:

* Chính là kiểu 5 “đặc biệt” khi ASBR thuộc NSSA (Not So Stubby Area),

* Kiểu 7 chỉ có trong NSSA, miêu tả tuyến đường kết nối đến AS khác và khi chuyển sang area khác thì phải qua ABR và được ABR chuyển đổi thành kiểu 5

1.6 Nguyên Tắc Hoạt Động Cáu OSPF

Trong OSPF có 5 loại gói tin: Hello, Database Description, Link State Request, Link State Update và Link State Acknowledge

- Hello: dùng để phát hiện, trao đổi thông tin với các router kế cận (neighbor)

- Database Description: dùng để chọn lựa router nào sẽ được quyền trao đổi thông tin trước

- Link State Request: dùng để chỉ định loại LSA dùng trong tiến trình trao đổi các gói tin DBD (Database Description)

- Link State Update: dùng để gửi các gói tin LSA đến router kế cận yêu cầu khi nhận được thông điệp Request

- Link State Acknowledge: dùng để báo hiệu đã nhận được gói tin Update

Trang 6

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 6

1.7 Sơ Lược Về LSA

LSA (Link-State Advertisements) là thông điệp (message) mà router quảng bá về trạng thái các links

Khi một thay đổi xảy ra trong hệ thống mạng, router cảm nhận được sự thay đổi sẽ tạo ra một LSA để thông báo về sự thay đổi đó

Sau khi được tạo ra, LSA sẽ được gửi qua địa chỉ multicast đến các neighbor router Hai địa chỉ được sử dụng là 224.0.0.5 và 224.0.0.6

Mỗi router sau khi nhận được LSA sẽ ngay lập tức forward đến các neighbor router của

nó nhờ vậy sẽ đảm bảo việc đồng bộ thông tin giữa các router

1.8 Hoạt Động Của LSA

Mỗi một LSA được đánh số theo thứ tự (sequence number), đồng thời một bộ đếm sẽ được kích hoạt để xác định xem LSA đã đến lúc "time out" hay chưa Việc này nhằm loại

bỏ bớt các thông tin của các LSAs cũ Mặc định của Cisco là 30 phút (đối với JUNIPER mặc định là 50 phút)

Khi nhận được một LSA, router sẽ so sánh với LSDB hiện tại của nó Nếu LSA này chứa thông tin mới, nó sẽ thêm vào DB, sau đó chạy thuật toán SPF để cập nhật thông tin mới Nếu LSA được gửi đến từ một Router ID sẵn có trong DB, sequence number sẽ được so sánh, LSA cũ hơn sẽ bị loại bỏ Nếu là một LSA mới sẽ được thêm vào DB, SPF được chạy lại Nếu nhận được một LSA cũ hơn, LSA mới hơn sẽ được gửi ngược lại cho router

đã gửi LSA cũ

Sequence number thay đổi khi:

-LSA thay đổi vì một route được thêm vào hoặc bị xóa đi

-Thời gian sống của LSA đã hết (mặ định LSA updates được flood bên trong area sau mỗi 30 phút)

Trang 7

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 7

1.9 Các Loại Thông Điệp LSA

1.9.1 Type 1 Router LSA

Mô tả trạng thái, cost của kết nối đến router neighbor và IP prefix của các kết nối dạng point-to-point

+Type 1 Router LSA có nguồn gốc từ tất cả các bộ định tuyến đến các router khác trong cùng khu vực về thông tin trạng thái của các liên kết kết nối trực tiếp của nó (giao diện)

để các bộ định tuyến và các mạng khác Loại 1 LSA bị ngập nước trong khu vực có nguồn gốc và không bao giờ đi qua một khu vực ranh giới ID Link-State của Type-1 Router LSA là Router ID của router nguồn gốc ID liên kết nhà nước và các lĩnh vực Router quảng cáo trong tiêu đề LSA là tương tự cho Router-LSA

Trang 8

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 8

+ Các trường trong OSPF Type-1 Router LSA:

+Các liên kết ID, liên kết dữ liệu, liên kết Loại, Số TOS, Metric, TOS, và TOS lĩnh vực mét xuất hiện một hoặc nhiều lần trong một Router LSA tương ứng với số Liên kết trường

+Lưu ý: Cisco chỉ hỗ trợ TOS = 0 ToS và ToS lĩnh vực Metric xuất hiện tương ứng với

số lĩnh vực TOS Ví dụ: Nếu số TOS là 2, sẽ có 2 từ 32-bit có 2 trường hợp của các lĩnh vực này Nếu số TOS là 0, sẽ không có trường hợp của các lĩnh vực này Dưới đây liệt kê các ID liên kết và liên kết dữ liệu giá trị cho các khác nhau Type-1 Router LSA loại liên kết:

Trang 9

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 9

+ [1] - Giá trị này thường bắt đầu bằng 0 Khi đối tượng kết nối là router khác, các liên kết ID là giống như ID Link-State trong tiêu đề Router LSA của các bộ định tuyến lân cận Các liên kết ID được sử dụng để tìm ra Router LSA của các bộ định tuyến lân cận trong quá trình tính toán tuyến đường Một giao diện quá cảnh là một phát sóng hoặc giao diện NBMA có ít nhất một người hàng xóm OSPF Một mạng lưới vận chuyển được mô

tả bằng một loại 2 mạng-LSA Một giao diện còn sơ khai có thể là một loopback, phát sóng, điểm-điểm, hoặc giao diện đa điểm trên mà không có hàng xóm OSPF Một router OSPF quảng cáo một giao diện đa truy cập như một liên kết còn sơ khai miễn là nó không có hàng xóm của OSPF có thể truy cập thông qua giao diện Khi kề với OSPF hàng xóm mới đến nhà nước đầy đủ, các bộ định tuyến OSPF thay thế liên kết còn sơ khai như một liên kết vận chuyển và quảng cáo của nó Router LSA với một số thứ tự tăng lên Một router OSPF tạo ra một đơn Type-1 Router LSA cho mỗi khu vực mà nó thuộc về Lưu ý: Một gói OSPF Router-LSA là bị phân mảnh khi có hơn 119 LSA mục trong một gói tin OSPF không được thẩm định duy nhất trên một liên kết Ethernet với

1500 byte MTU

Trang 10

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 10 Shows the interfaces trên RT1, RT2 và RT3:

Trang 11

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 11

1.9.2 Type 2 Network LSA

Mô tả số lượng router và subnet mask trên segment mạng

+ Loại OSPF LSA 2, còn được gọi là LSA mạng, được sử dụng để mô tả tất cả các mạng quá cảnh, cả hai phát sóng hoặc không phát sóng Một mạng lưới giao thông được định nghĩa là bất kỳ liên kết mà có hai hoặc nhiều hơn các bộ định tuyến gắn liền với nó Type

2 LSA là nguồn gốc bởi các Router (có DR) của liên kết, và Type 2 LSA liệt kê tất cả các

bộ định tuyến được gắn liền với nó, bao gồm cả DR chính nó

Trang 12

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 12

+ Type-2 Network-LSA có nguồn gốc từ các DR trên một mạng lưới phát sóng hoặc đa truy cập (ví dụ: Ethernet) để liệt kê tất cả các bộ định tuyến mà gắn liền với mạng lưới vận chuyển LSA type 2 bị ngập nước trong khu vực có nguồn gốc chỉ ID Link-State của một loại 2 mạng-LSA là giao diện địa chỉ IP vật lý của DR kết nối vào mạng và quảng bá LSA

+ Các trường trong OSPF loại 2 Network-LSA:

+ Type 2 Network-LSA có nguồn gốc từ GTNT2:

Trang 13

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 13

Lưu ý: Type 2 Network-LSA là không cần thiết được tạo ra cho các giao diện mạng

LAN Type 2 LSA được tạo ra chỉ khi cần thiết, trong đó có nhiều hơn một bộ định tuyến gắn vào mạng LAN

1.9.3 Type 3 Summary Network

Mô tả đích đến ở ngoài area nhưng cùng OSPF domain Thông tin tóm tắt của một area sẽ được gửi đến area khác

+ Type-3 Network-Summary-LSA có nguồn gốc từ một ABR để quảng cáo cho các mạng con trong một khu vực (bỏ qua các thông tin của Type-1 và loại 2 LSA) để các bộ định tuyến lân cận bên ngoài khu vực Loại 1 và loại 2 LSA ở trong một khu vực, khi một ABR nhận Type-1 hoặc loại 2 LSA, nó sẽ tạo ra một type-3 LSA cho học mạng thông qua các Loại-1 hoặc loại 2 LSA khác khu vực

+Các type-3 network-summary-LSA và Type-4-ASBR Tóm tắt LSA có định dạng tương

tự, với sự khác biệt về nội dung của các lĩnh vực ID Link-State Loại LS và trong tiêu đề LSA Cho Type-3 LSA, ID Link-State là địa chỉ IP của mạng đang được quảng cáo, trong khi cho Type-4 LSA, ID Link-State là Router ID của ASBR đang được quảng cáo

Trang 14

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 14

+ Trường trong OSPF Summary-LSA

+ Type-3 Network-Summary-LSA không được tóm tắt và do đó không chứa các tuyến đường tóm tắt theo mặc định

+Tất cả các mạng con trong một khu vực sẽ được quảng cáo theo mặc định OSPF không thực hiện autosummarization như RIPv2 và EIGRP

+ Tổng kết tuyến đường trong OSPF yêu cầu cấu hình thủ công Tổng kết tuyến đường và lọc ở ABRs luôn luôn cần được xem xét do bản chất là một type-3 LSA sẽ được quảng bá vào khu vực xương sống cho tất cả các mạng trong khu vực có nguồn gốc, có thể gây ra vấn đề lũ lụt đáng kể Tổng kết tuyến đường và lọc trên ABRs cung cấp khả năng mở rộng lớn hơn cho OSPF

+ Lưu ý: Type-3 và Type 4 summary-LSA không mang thông tin mô hình, họ mang tiền

tố chỉ IP hoặc mạng con Bản tóm tắt LSA là có nguồn gốc bởi ABR với các quy tắc sau đây:

Từ một khu vực không xương sống cho các khu vực xương sống, Summary-LSA được

tạo ra cho các tuyến đường kết nốivà các tuyến đường nội bộ khu vực Chỉ có các

tuyến đường nội bộ khu vực được quảng cáo vào khu vực xương sống để tránh việc định

Trang 15

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 15

tuyến vòng Nếu có bất kỳ tuyến đường liên khu vực đến từ một khu vực không xương sống có nghĩa là xương sống là không liên tục, và OSPF không cho phép xương sống kề

Từ khu vực xương sống trong một khu vực không xương sống, Summary-LSA được

tạo ra cho kết nối các tuyến đường, các tuyến đường nội bộ khu vực, và các tuyến đường liên khu vực

+Trường Route quảng cáo trong tiêu đề LSA của một Summary-LSA chứa các Router ID của ABR mà tạo ra các summary-LSA

+ Bảng định tuyến và type 3 Network -summary-LSA nhận được trên RT4:

Trang 16

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 16

+ OSPF router phải thực hiện tính toán SPF trên những thay đổi trong nội bộ khu vực cấu trúc liên kết (Type-1 và Type 2 LSA), như những thay đổi này tác động việc lựa chọn con đường tốt nhất đối với điểm đến trong khu vực Thay đổi trên Type-3 LSA không kích hoạt một tính toán SPF, như các thay đổi này không ảnh hưởng đến cấu trúc liên kết giữa một bộ định tuyến OSPF và ABR

1.9.4 Type 4 & Type 5

Summary ASBR : Mô tả thông tin của ASBR Không có summary LSA type 4 trong một single area.External LSA : Mô tả các tuyến đường đi đến các đích ở ngoài OSPF domain

Mỗi External LSA biểu diễn cho một subnet

Trang 17

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 17

+Type-4 ASBR-Summary-LSA có nguồn gốc từ một ABR mà nằm trong cùng khu vực như ASBR để xác định các ASBR và mô tả các tuyến đường đến ASBR Type-5 LSA bị ngập nước cho tất cả các khu vực nhưng các thông tin chi tiết để đạt được ASBR có thể không có mặt ở tất cả các khu vực Vấn đề này được giải quyết bằng cách có một ABR để

mô tả các tuyến đường đến ASBR có nguồn gốc Type-5 LSA ID Link-State của Type-4 LSA là Router ID của ASBR

+Type-5 AS-External-LSA có nguồn gốc từ một ASBR và chứa thông tin nhập khẩu vào một OSPF miền từ các quá trình định tuyến khác Type-5 LSAs được flooded thông qua tất cả các lĩnh vực ngoại trừ khu vực còn sơ khai, khu vực hoàn toàn mụ, và NSSAs Khi một router còn sơ khai nhận Type-5 LSA từ một bộ định tuyến trong khu vực còn sơ khai, các LSA sẽ bị từ chối ID Link-State của Type-5 LSA là địa chỉ IP của mạng bên ngoài đang được quảng cáo

Lưu ý : các tuyến đường nội bộ luôn được ưa thích hơn các tuyến đường bên ngoài

Không có Type-4 và Type 5 LSA khi không có ASBR trong một miền định tuyến OSPF

Tất cả các router OSPF trong một lĩnh vực định tuyến duy trì cùng một Type-5 LSA trong LSDBs của họ

Tất cả các loại LSA có phạm vi ngập lụt khu vực (không bị ngập lụt qua biên giới khu vực); mong đợi Type-5 LSA có AS lũ lụt phạm vi (tràn ngập khắp mọi lĩnh vực)

Trang 18

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 18

+ Các trường trong OSPF AS-External-LSA:

+Dưới đây liệt kê các tiêu chí để một bộ định tuyến OSPF để cài đặt một LSA vào bảng định tuyến của nó:

Trang 19

AS-External-SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 19

++Các bộ định tuyến phải có khả năng để đạt được ASBR thông qua một con đường nội

bộ khu vực, liên khu vực, có nghĩa là phải có một Type 1 Router LSA hoặc Type-4

ASBR-Summary-LSA tạo ra cho ASBR

++Chuyển tiếp Địa chỉ phải được biết đến thông qua một khu vực trong nội bộ hoặc liên khu vực tuyến đường Một số liệu của 1 hạt giống mặc định sẽ được sử dụng để phân phối lại các tuyến đường BGP, trong khi một số liệu của 20 hạt giống mặc định sẽ được

sử dụng cho các tuyến đường phân phối lại từ các giao thức định tuyến khác, bao gồm các tuyến đường tĩnh và giao diện kết nối trực tiếp

+Các số liệu hạt là một thước đo cho các tuyến đường bắt đầu phân phối lại Dưới đây cho thấy các bảng định tuyến, cũng như Type-4 ASBR-Summary-LSA và Type-5 AS-External-LSA nhận được trên RT4:

Trang 20

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 20

+Lưu ý: Type-4 LSA không được dịch trực tiếp từ cơ sở dữ liệu trạng thái kết nối vào

bảng định tuyến

Lưu ý: Giá trị số liệu trong một Type-4 LSA cho thấy chi phí từ ABR để đạt được

ASBR Giá trị này được sử dụng bởi bộ định tuyến trong một khu vực để xác định ABR gần nhất để một con đường bên ngoài

+Các định tuyến định danh bảng cho OSPF:

+Sự khác biệt giữa bên ngoài Type-1 (E1) và bên ngoài Type 2 tuyến đường bên ngoài

(E2) là các số liệu của một đường E1 cũng tương tự như các số liệu OSPF trong đó các số liệu bên ngoài đang được tích lũy với các số liệu nội bộ của tất cả các liên kết trên con

Trang 21

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 21

đường chuyển tiếp hướng tới ASBR, trong khi các số liệu của một tuyến đường E2 vẫn giữ nguyên như các số liệu bên ngoài trong suốt một miền định tuyến OSPF E2 là loại tuyến đường mặc định cho các tuyến đường học được thông qua con đường phân phối lại +Các thực tiễn tốt nhất được đề nghị là thực hiện các tuyến đường E1 khi nhiều ASBRs đang quảng cáo một tuyến đường bên ngoài vào lĩnh vực định tuyến cùng để tránh định tuyến tối ưu, thực hiện các tuyến đường E2 khi chỉ có 1 ASBR là quảng cáo một tuyến đường bên ngoài vào lĩnh vực định tuyến

+Các bảng định tuyến trên RT1 và GTNT2 cho OSPF E1 và E2 tuyến quảng cáo của RT3:

Trang 22

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 22

+Bên ngoài Type-1 (E1) các tuyến đường luôn được ưa thích hơn loại 2 (E2) các tuyến đường bên ngoài Khi có nhiều (E2) các tuyến đường bên ngoài 2 Type-cho mạng bên ngoài tương tự trong OSPF LSDB, LSA với các số liệu E2 quảng cáo thấp nhất sẽ được lựa chọn và cài đặt vào bảng định tuyến

+Các số liệu về phía trước (chi phí để đạt được một ASBR) sẽ được xem xét khi nhiều tuyến đường E2 có giá trị metric giống nhau Các show ip ospf br-router lệnh hiển thị

các chi phí cho một ASBR

+Lưu ý: Các số liệu nội bộ hoặc chi phí đối với các ASBR không được xem xét khi so

sánh các tuyến đường E2

+ Các bảng định tuyến và OSPF LSDB trên RT1 cho các tuyến đường bên ngoài OSPF:

Trang 23

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 23

1.9.5 Type 6 Group Membership

Mô tả quan hệ thành viên nhóm multicast OSPF

+MOSPF Multicast Link State Routing bảng định tuyến là một bản dịch của cây đường đi ngắn nhất Multicast liên kết nhà nước định tuyến là một phần mở rộng trực tiếp của unicast định tuyến và sử dụng một cách tiếp cận cây dựa trên nguồn Mặc dù unicast định tuyến là khá tham gia, phần mở rộng để định tuyến multicast là rất đơn giản và dễ hiểu +Multicast mở đường đi ngắn nhất đầu tiên giao thức (MOSPF) là một phần mở rộng của giao thức OSPF sử dụng liên kết nhà nước đa định tuyến để tạo ra cây dựa trên nguồn Giao thức đòi hỏi một liên kết gói cập nhật trạng thái mới để liên kết các địa chỉ unicast của một máy chủ với địa chỉ nhóm hoặc địa chỉ máy chủ được tài trợ Gói này được gọi là nhóm thành viên LSA Bằng cách này, chúng ta có thể bao gồm trong các cây chỉ có máy chủ (sử dụng địa chỉ unicast của họ) mà thuộc về một nhóm cụ thể Nói cách khác, chúng tôi thực hiện một cây có chứa tất cả các host thuộc về một nhóm, nhưng chúng tôi sử dụng các địa chỉ unicast của máy chủ trong việc tính toán Cho hiệu quả, các

bộ định tuyến tính cây đường đi ngắn nhất theo yêu cầu (khi nó nhận được các gói tin multicast đầu tiên) Ngoài ra, cây có thể được lưu trong bộ nhớ cache để sử dụng trong tương lai bởi cùng một nguồn / cặp nhóm MOSPF là một giao thức hướng dữ liệu, lần

Trang 24

đủ cấu trúc liên kết các hệ thống tự trị của Bằng cách thêm một loại mới của quảng cáo liên kết nhà nước, các nhóm thành viên-LSA, vị trí của tất cả các thành viên trong nhóm multicast được xác định chính xác trong cơ sở dữ liệu Con đường của một gói tin multicast có thể được tính bằng cách xây dựng một cây ngắn nhất-con đường có gốc là nguồn của gói tin Tất cả các ngành không có thành viên multicast được cắt tỉa từ cây Những cây ngắn nhất-con đường tỉa ban đầu được xây dựng khi gói tin đầu tiên được nhận Kết quả của việc tính toán đường đi ngắn nhất là sau đó lưu lại để sử dụng tiếp theo của gói có nguồn và đích giống nhau MOSPF được sử dụng trong một hệ thống

tự trị duy nhất Khi hỗ trợ IP multicast trên toàn bộ Internet, MOSPF sẽ phải được sử dụng với một giao thức định tuyến giữa các AS multicast như DVMRP Router chạy MOSPF chỉ hoạt động trong các mạng đang sử dụng MOSPF nhưng có thể được trộn lẫn với các router OSPF không multicast Cả hai loại router có thể hoạt động khi chuyển tiếp thường xuyên (unicast) IP lưu lượng dữ liệu Trong MOSPF, cũng giống như trong OSPF giao thức cơ bản, gói dữ liệu (multicast hay unicast) được định tuyến "như là", họ không tiếp tục đóng gói hoặc decapsulated như họ chuyển các hệ thống tự trị

+Hoạt động: ++ Trong OSPF, mỗi quản lý bộ định tuyến hoàn toàn cơ sở dữ liệu bao gồm hoàn chỉnh cấu trúc liên kết mạng mô tả Bằng cách giới thiệu một loại trạng thái kết nối kỷ lục mới - thành viên nhómLSA - có thể cho MOSPF, vị trí của tất cả các multicast các nút của một nhóm multicast phải được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu cấu trúc liên kết Kể từ khi một OSPF trạng thái kết nối giao thức, thông tin này do đó có sẵn trên tất

cả các router trong miền có sẵn Nhóm LSA thành viên được tạo ra bởi những thiết bị định tuyến, mà trong một subnet ( mạng LAN) thông qua IGMPxác định thành viên nhóm Những LSA vẫn còn, cũng như bộ định tuyến thông thường và LSA mạng chỉ trong vòng một khu vực OSPF, do đó, không được đến các khu vực khác hoặc thậm chí khác Hệ thống tự trị chuyển tiếp

++Kết hợp với các bộ định tuyến thông thường và LSA mạng ( cấu trúc liên kết cơ sở dữ liệu ) do đó có thể bắt đầu từ đó router, sau đó một nguồn multicast (source) cho mỗi nguồn một Sourcebase Tree ngầm - một con đường ngắn nhất cây , cây đường đi ngắn nhất (SPT ngắn), trong đó có các nguồn multicast như là người chủ - được tính bằng cách mạng Nó là bổ sung cho bất kỳ giao thức định tuyến multicast yêu cầu kể từ khi thông thường OSPF định tuyến unicast chia sẻ

+Khu vực định tuyến:

Trang 25

++ Do đó MOSPF hoạt động giữa hai khu vực, Router vùng biên giới phải có multicast bí hành vi của mạng lưới giao thông Bộ định tuyến như vậy được gọi là khu vực biên giới bộ định tuyến multicast (MABR) Một MABR sẽ tóm tắt tất cả các thông tin multicast và các LSA tương ứng trong vùng 0 gửi (Lưu ý: Diện tích 0 không được phân phối thông tin nhận được này lại cho các khu vực khác, rằng phương pháp này chỉ hữu ích nếu các nguồn multicast trong khu vực là 0) Nếu nguồn multicast nhưng cũng ngoài vùng 0, vấn đề này bằng cách thiết lập một ký tự đại diện -bit giải quyết trong các bộ định tuyến-LSA cho mỗi MABR Bit này gây ra bất kỳ MABR là thành viên của bất kỳ nhóm multicast, lưu lượng multicast, và do đó rút ra một nguồn mà không phải là trong các khu vực 0 Như vậy, lưu lượng multicast đến khu vực 0, và sau đó điều này có thể chuyển tiếp theo thành viên nhóm được biết đến trong vùng 0 multicast giao thông đến các khu vực bị ảnh hưởng Nhưng điều này có thể được lưu lượng mạng không mong muốn (giao thông) kết quả nếu không có nguồn multicast "thực sự" tồn tại

++ Phân phối lại thành một khu vực NSSA tạo ra một loại đặc biệt của quảng cáo trạng thái kết nối (LSA) được biết đến như loại 7, mà chỉ có thể tồn tại trong một khu vực NSSA NSSA tự trị bộ định tuyến ranh giới hệ thống (ASBR) tạo ra LSA này và một bộ định tuyến biên giới khu vực NSSA (ABR) chuyển nó thành một loại 5 LSA, mà được truyền bá vào OSPF domain Các sơ đồ mạng thể hiện nguyên tắc này

Trang 26

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 26

+Mô hình:

Trong sơ đồ mạng, khu vực 1 được định nghĩa là một khu vực còn sơ khai Các tuyến đường IGRP không có thể được lan truyền đến các miền OSPF vì phân phối lại là không được phép vào khu vực còn sơ khai Tuy nhiên, nếu chúng ta định nghĩa khu vực 1 là NSSA, chúng ta có thể tiêm các tuyến đường IGRP vào OSPF NSSA miền với việc tạo ra loại 7 LSA Phân phối lại các tuyến RIP không được phép vào khu vực 1 vì NSSA là một phần mở rộng đến khu vực còn sơ khai Các đặc tính khu vực còn sơ khai vẫn còn tồn tại, trong đó bao gồm không có loại 5 LSA cho phép

+Một type 7 LSA là gì?Đây là một loại 7 LSA được tạo ra bởi một ASBR NSSA LSA Type 5 không được phép vào khu vực NSSA, vì vậy NSSA ASBR tạo ra một loại 7 LSA thay vào đó, mà vẫn nằm trong NSSA Loại 7 LSA được dịch trở lại vào một loại 5 bởi NSSA ABR

LS age: 36

Options: (No TOS-capability, No Type 7/5 translation, DC)

LS Type: AS External Link

Link State ID: 10.10.10.0 (External Network Number)

Trang 27

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 27

Forward Address: 9.9.9.9

External Route Tag: 0

+Sản lượng này trông giống như một LSA bên ngoài Đây là một số đặc điểm quan trọng

về kết quả này:

++ Bit P-Bit này được sử dụng để nói NSSA ABR liệu dịch loại 7 vào loại 5

++ Không Hình 7/5 dịch có nghĩa là bit P = 0

++ Loại 7/5 dịch có nghĩa là bit P = 1

++ Nếu bit P = 0, sau đó ABR NSSA phải không dịch LSA này vào Loại 5 Điều này xảy

ra khi NSSA ASBR cũng là một ABR NSSA

++ Nếu bit P = 1, sau đó NSSA ABR phải dịch kiểu này 7 LSA thành một loại 5 LSA Nếu có nhiều NSSA ABRs, là cao nhất với bộ định tuyến ID

+Nhiệm vụ cấu hình:

Có hai hương vị trong NSSA, giống như trong các lĩnh vực còn sơ khai Có NSSAs mà chặn loại 5 và loại 4 LSA, nhưng cho phép loại 3 LSA, và có NSSA hoàn toàn khu vực còn sơ khai, mà chỉ cho phép các tuyến đường mặc định tóm tắt và các bộ lọc tất cả mọi thứ khác

 Defining a Not-So-Stubby Area

Để làm cho một khu vực còn sơ khai thành một NSSA, lệnh này theo cấu hình OSPF: router ospf 1

Area 1 nssa

 Lệnh này phải được cấu hình trên tất cả các router duy nhất trong khu vực

1 Sau khi xác định khu vực 1 là NSSA, nó phải có những đặc điểm:

*Không LSA Type 5 được cho phép trong khu vực 1 Điều này có nghĩa là không có các tuyến RIP được phép trong khu vực 1

*Tất cả các tuyến IGRP được phân phối như loại 7 7 loại này chỉ có thể tồn tại trong NSSA

*Tất cả các loại 7 LSA được quy đổi sang loại 5 LSA bởi NSSA ABR và đang bị rò rỉ vào OSPF domain như loại 5 LSA

+Xác định một NSSA Hoàn toàn Diện tích còn sơ khai

Để cấu hình NSSA hoàn toàn khu vực còn sơ khai, thực hiện lệnh này theo cấu hình OSPF:

router ospf 1

Area 1 nssa no-summary

Cấu hình lệnh này trên NSSA chỉ ABRs Sau khi xác định các khu vực còn sơ khai NSSA hoàn toàn, khu vực 1 có những đặc điểm ngoài các đặc điểm NSSA:

*Không có loại 3 hoặc 4 tóm tắt LSA được cho phép trong khu vực 1 Điều này có nghĩa

là không có các tuyến đường liên khu vực được cho phép trong khu vực 1

Trang 28

router ospf 1

Area 1 nssa no-redistribution

*Trong sơ đồ mạng, khu vực 1 được cấu hình với không-phân phối lại tùy chọn Điều

này có nghĩa rằng tất cả các tuyến IGRP được phân phối vào vùng 0, nhưng không loại 7 LSA được tạo ra cho khu vực 1 Chỉ có cấu hình lệnh này trên một ASBR NSSA đó cũng

là một ABR

-Một trường hợp lọc là khi bạn cần phải ngăn chặn loại 7 LSA từ được dịch bên ngoài NSSA Nói cách khác, khi bạn muốn kiểm soát loại 7 LSA được dịch sang loại 5 Ví dụ, bạn có một RIP học đường 141.108.10.0/24 được tiêm vào OSPF NSSA Khu vực 1.Bạn không muốn tuyến đường này được tiết lộ vào phần còn lại của khu vực OSPF Sử dụng cấu hình này trên một trong hai NSSA ASBR hoặc NSSA ABR để thực hiện điều này: router ospf 1

summary-address 141.108.10.0 255.255.255.0 not-advertise

-Cấu hình này tạo ra một loại 7 LSA mà không dịch sang loại 5 bởi NSSA ABR

+Tuyến đường mặc định trong NSSA

*Có hai cách để có một tuyến đường mặc định trong NSSA Khi bạn cấu hình một khu vực NSSA, theo mặc định NSSA ABR không tạo ra một tuyến đường tóm tắt mặc

Trang 29

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 29

định Trong trường hợp của một khu vực còn sơ khai hoặc một khu vực còn sơ khai NSSA hoàn toàn, NSSA ABR không tạo ra một tuyến đường tóm tắt mặc định

+Default Summary Route

*Bằng việc xác định một khu vực như một khu vực còn sơ khai NSSA hoàn toàn, NSSA ABR tạo ra một tuyến đường tóm tắt mặc định Như đã đề cập, nếu khu vực NSSA không được định nghĩa là hoàn toàn còn sơ khai, sau đó một tuyến đường tóm tắt mặc định không được tạo ra bởi NSSA ABR Cấu hình này tạo ra một tuyến đường tóm tắt mặc định cho một khu vực còn sơ khai NSSA hoàn toàn

Area 1 nssa default-information-originate

-Type 8 Unused: không sử dụng

-Type 9, 10, 11: sử dụng để tính toán các tuyến, sử dụng trong kỹ thuật quản lý lưu lượng trong MPLS

1.10 Quá Trình Chọn DR Và BDR

Quá trình bầu chọn liên quan đến 2 tham số: độ ưu tiên (priority) và router ID Tham số priority được chọn trước tiên, giá trị priroity nằm trong khoảng từ 0 đến 255 Nếu priority đặt là 0 thì router này sẽ không tham gia vào quá trình bầu chọn DR/BDR Router nào có

có độ ưu tiên cao nhất sẽ được chọn là DR, cao thứ hai sẽ là BDR Mặc định giá trị priority OSPF là 1 Khi giá trị priority đề bằng nhau thì OSPF sẽ bầu chọn DR dựa vào tham số thứ hai là router ID

Trong hệ thống mạng dùng OSPF không cấu hình cổng interface loopback thì giá trị router ID được chọn là giá trị địa chỉ IP lớn nhất của các interface đang hoạt động (active

Trang 30

1.12 Link State

Một giao thức định tuyến trạng thái kết nối là một trong hai loại chính của giao thức định tuyến được sử dụng trong chuyển mạch gói mạng cho truyền thông máy tính (khác là khoảng cách vector giao thức định tuyến ) Ví dụ về các giao thức định tuyến trạng thái kết nối bao gồm mở con đường ngắn nhất đầu tiên (OSPF) và hệ thống trung gian đến hệ thống trung gian (IS-IS)

Các giao thức liên kết nhà nước được thực hiện bởi tất cả các nút chuyển mạch trong mạng (ví dụ như các nút được chuẩn bị để chuyển tiếp các gói tin, trong Internet , chúng được gọi là các bộ định tuyến ) Các khái niệm cơ bản của định tuyến trạng thái kết nối là mỗi nút xây dựng một bản đồ của các kết nối vào mạng, trong hình thức của một đồ thị , cho thấy những nút được kết nối mà các nút khác Mỗi nút sau đó một cách độc lập tính toán tiếp theo hợp lý tốt nhất con đường từ nó đến mọi địa điểm có thể trong mạng Bộ sưu tập các đường dẫn tốt nhất sau đó sẽ hình thành của nút bảng định tuyến

Điều này trái ngược với khoảng cách vector giao thức định tuyến , mà làm việc bằng cách mỗi cổ phần nút của nó bảng định tuyến với các nước láng giềng Trong một giao thức trạng thái kết nối thông tin duy nhất thông qua giữa các nút là kết nối liên quan

Trang 31

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 31

1.13 Mô Hình

1.14 Các Type của OSPF

1.14.1 R1

Trang 32

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 32

1.14.2 R2

1.14.3 R3

Trang 33

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 33

1.15 Show Ip OSPF Neighbor

1.15.1 R1

Trang 34

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 34

1.15.2 R2

1.15.3 R3

Trang 35

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 35

1.16 Show Ip OSPF Border-routers

1.16.1 R1

1.16.2 R2

Trang 36

SVTH: Phạm Văn Dũng _12201036_C12QM13 Page 36

1.16.3 R3

1.17 Show Ip OSPF 1

1.17.1 R1

Ngày đăng: 18/03/2015, 17:55

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w