1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI BÁO CÁO KHẢO SÁT-NHẬN THỨC NHU CẦU CÁC BÊN LIÊN QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN SÔNG HỒNG

37 564 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO KHẢO SÁTNHẬN THỨC VÀ NHU CẦU CÁC BÊN LIÊN QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN SÔNG HỒNG Báo cáo được thực hiện trong khuôn khổ Dự án “Hỗ trợ cộng đồng nghèo ven

Trang 1

BÁO CÁO KHẢO SÁT

NHẬN THỨC VÀ NHU CẦU CÁC BÊN LIÊN QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN

SÔNG HỒNG

Trang 2

BÁO CÁO KHẢO SÁT

NHẬN THỨC VÀ NHU CẦU CÁC BÊN LIÊN QUAN VỀ QUẢN LÝ

VÀ PHÁT TRIỂN KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN SÔNG HỒNG

Báo cáo được thực hiện trong khuôn khổ Dự án “Hỗ trợ cộng đồng nghèo ven biển Việt Nam tạo dựng sinh kế bền vững và bảo vệ môi trường”

Nguồn tài trợ: Liên minh Châu Âu và Oxfam Novib (Hà Lan)

Taì trợ trong nước: Vườn quốc gia Xuân Thuỷ, Các Sở Tài nguyên

&môi trường tỉnh nam Định, tỉnh Thái Bình, tỉnh Ninh Bình và Khubảo tồn TNĐNN Tiền hải

Trang 3

Chữ viết tắt

Trang 4

Tóm tắt báo cáo

Từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 05 năm 2010, BQL Khu DTSQ SH đã phối hợp với Trung tâm MCD và Ủy ban MAB tổ chức 01 đợt khảo sát đánh giá nhận thức và nhu cầu quản lý Khu DTSQ SH trên địa bàn 03 tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình Cuộc khảo sát nhằm: i) Đánh giá nhận thức và sự quan tâm các bên liên quan đối với Khu dự trữ sinh quyển sông Hồng; ii) Xác định nhu cầu, năng lực quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên trong Khu DTSQ SH và iii) Đề xuất các giải pháp khả thi nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý và phát triển bền vững danh hiệu Khu DTSQ SH

Phương pháp khảo sát, đánh giá được nhóm điều tra áp dụng bao gồm việc kết hợp thu thập các thông tin thứ cấp (tài liệu, báo cáo) và thông tin sơ cấp gồm: sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn (bảng hỏi) các đối tượng liên quan và tổ chức đối thoại, thảo luận trực tiếp với các cơ quan ban ngành cấp tỉnh, huyện và xã ở cả 03 tỉnh được khảo sát

Kết quả khảo sát cho thấy:

cập, phạm vi và nội dung tuyên truyền chưa đầy đủ, điều đó đã dẫn đến việc hạn chế hiểu biết về Khu DTSQ SH của cả người dân và cán bộ, thậm chí cả cấp lãnh đạo thuộc cơ quan quản lý chuyên ngành

giữa các tỉnh trong Khu DTSQ SH Vấn đề ô nhiễm môi trường được các người trả lời phỏng vấn ở cả 03 tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình coi là mối đe dọa nghiêm trọng nhất và việc phát triển các khu du lịch nghỉ dưỡng lại được cho là gây

đe dọa ít nghiêm trọng nhất

yếu tố then chốt trong công tác quản lý Khu DTSQ SH, ý kiến cho rằng vai trò của chính quyền địa phương và cộng đồng người dân địa phương là rất cần thiết lần lượt

là 93% và 81%, phần nào đã thể hiện rõ tính tự chủ của cán bộ, người dân địa phương trong việc giữ gìn và phát triển các giá trị của Khu DTSQ SH Vai trò của người dân địa phương được đánh giá cao cũng khẳng định sự tham gia của người dân đã, đang và sẽ là cần thiết trong các hoạt động quản lý Đây cũng là một điểm khá tiến bộ so với các nơi khác, khi mà cách tiếp cận từ trên xuống với vai trò quản lý hầu như chỉ thuộc về chính quyền

DTSQ SH còn thấp, đặc biệt có sự khác nhau tương đối về sự tham gia vào các hoạt động Khu DTSQ SH giữa các tỉnh liên quan, tỉnh Nam Định đã thể hiện tốt vai trò trưởng ban BQL Khu DTSQ SH, tích cực triển khai nhiều hoạt động cũng như hỗ trợ, điều phối các địa phương khác trong công tác liên quan đến quản lý Khu DTSQ SH.Các kiến nghị của người dân và cán bộ tập trung vào 07 nội dung chính, gồm:

địa VQG, Khu BTNT…)

các tài liệu tập huấn; các phương tiện truyền thông như truyền hình, truyền thanh, báo chí địa phương…)

dài hạn; xây dựng các mô hình đồng quản lý; phân cấp quản lý; có hành lang pháp lý

rõ ràng cho các cơ quan đầu mối (Sở TNMT) ở các tỉnh…)

Trang 5

• Phát triển thương hiệu sản phẩm địa phương (gắn thương hiệu Khu DTSQ SH cho sản phẩm “ngao Giao Thủy”; quảng bá sản phẩm du lịch sông Hồng…)

rừng trồng mới; thu hồi các diện tích đầm/ao để trồng rừng; kiên quyết xử lý các hoạt động phá hoại môi trường, săn bắt động vật cấm; giao đất giao rừng để quản lý…)

• Phát triển sinh kế (nhân rộng các mô hình sinh kế bền vững; duy trì và phát triển các

mô hình bổ trợ sinh kế của các dự án đang triển khai; tổ chức các lớp dạy nghề…)

Trang 6

Mục lục

2 Mục tiêu 7

3 Nội dung đánh giá và khảo sát 7

4 Phương pháp đánh giá và công cụ khảo sát 8

4.2.1 Thu thập và nghiên cứu tài liệu sẵn có 8

4.2.2 Bảng câu hỏi (phiếu điều tra) 8

4.2.3 Thảo luận hỏi&đáp 8

4.2.4 Công tác chuẩn bị và khảo sát thực địa 8

5 Kết quả đánh giá và khảo sát 9

5.1.1 Tỉnh Thái Bình: 9

5.1.2 Tỉnh Nam Định: 10

5.1.3 Tỉnh Ninh Bình (huyện Kim Sơn) 15

6 Kết luận 27

Trang 7

1 Giới thiệu chung

Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng có tổng diện tích là 137.261 ha trong đó vùng lõi là 14.842 ha và nằm trên địa bàn của 5 huyện (Nghĩa Hưng, Giao Thủy, Tiền Hải, Thái Thụy và Kim Sơn) thuộc 3 tỉnh (Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình) Vùng lõi nằm trên địa bàn 2 huyện Giao Thủy và Tiền Hải nơi có 2 Khu bảo tån đất ngập nước là Vườn quốc gia Xuân Thủy và Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải Đây là khu dự trữ sinh quyển liên tỉnh đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á thực hiện dựa trên cơ chế Đồng quản lý, có giá trị cao về bảo tồn đa dạng sinh học và mang lại nhiều cơ hội to lớn đối với phát triển kinh tế địa phương

Hiện nay, Khu dự trữ đã có Ban quản lý gồm đại diện các lãnh đạo UBND tỉnh và Sở Tài nguyên môi trường 3 tỉnh Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình, Ban thư ký là Giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy và các cán bộ quản lý môi trường ở cấp tỉnh gồm: Trưởng phòng biển tỉnh Nam Định & Thái Bình, Chi cục trưởng chi cục môi trường tỉnh Ninh Bình, Trưởng ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, Ban cố vấn gồm Ủy ban con người và sinh quyển quốc gia (MAB), Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) và Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái rừng ngập mặn (MERC) Từ khi thành lập (năm 2008) đến nay, công tác quản lý Khu DTSQ đã bước đầu có những thay đổi tiếp cận quản lý hiệu quả và có sự phối hợp liên kết trong quản lý

Nhằm nâng cao nhận thức về giá trị và ý nghĩa của Khu dự trữ sinh quyển sông Hồng, đồng thời tìm hiểu về nhu cầu của các bên liên quan trong công tác quản lý Khu dự trữ sinh quyển, làm cơ sở xây dựng Kế hoạch quản lý, Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển cùng với Ban thư ký và Ban cố vấn tổ chức khảo sát lập kế hoạch quản lý Khu dự trữ sinh quyển sông Hồng trong tháng 5 năm 2010

2 Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát: Đánh giá nhu cầu quản lý và phát triển Khu DTSQ châu thổ sông Hồng

của cán bộ và người dân thông qua khảo sát thực tế ở các cấp tỉnh, huyện, xã làm cơ sở để cung cấp thông tin đầu vào xây dựng kế hoạch quản lý dài hạn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và phát triển văn hóa của cộng đồng dân

cư địa phương trong Khu DTSQ châu thổ sông Hồng

bền vững danh hiệu Khu DTSQ SH

3 Nội dung đánh giá và khảo sát

Đợt điều tra được tiến hành với những nội dung đánh giá sau:

Trang 8

Thực trạng hiểu biết về các Khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam: Đánh giá sơ

bộ hiểu biết về các chức năng của Khu DTSQ thế giới và các Khu DTSQ thế giới của Việt Nam đã được UNESCO công nhận

Thực trạng hiểu biết về Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng: Đánh giá sơ bộ

về các kênh thông tin, tuyên truyền về Khu DTSQ SH; phạm vi và đặc điểm đặc trưng của Khu DTSQ SH; các áp lực và mối đe dọa đối với các tài nguyên thiên nhiên trong Khu DTSQ SH

Thực trạng hiểu biết và nhu cầu tham gia của các bên liên quan trong quản lý Khu DTSQ SH: Rà soát các hoạt động liên quan đến Khu DTSQ SH đã được tổ chức từ

trước đến nay và đánh giá sự tham gia của các bên liên quan trong các hoạt động đó

Nhu cầu sử dụng danh hiệu Khu DTSQ thế giới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương: Đánh giá sự hiểu biết về lợi ích của danh hiệu Khu DTSQ thế giới

đối với công tác phát triển kinh tế - xã hội và các giải pháp đề xuất nâng cao hiệu quả quản lý Khu DTSQ SH

4 Phương pháp đánh giá và công cụ khảo sát

4.1 Địa điểm khảo sát là các địa phương nằm trên địa bàn 03 tỉnh: Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình, đều thuộc trong phạm vi Khu DTSQ SH Mỗi tỉnh bao gồm 01 thành phố,

01 huyện, 01 xã, tổng cộng là 09 điểm khảo sát

4.2 Công cụ khảo sát:

4.2.1 Thu thập và nghiên cứu tài liệu sẵn có

Nhóm khảo sát và đánh giá đã thu thập các báo cáo, nghiên cứu liên quan đến kinh tế,

xã hội, quản lý tài nguyên thiên nhiên của các địa phương nằm trong phạm vi Khu DTSQ SH; tham khảo các tài liệu dự án; các tài liệu, báo cáo do UBQG Con người & Sinh quyển (MAB) cung cấp; các tài liệu tham khảo trên internet để xác định nội dung đánh giá, khảo sát

và xây dựng bảng hỏi

4.2.2 Bảng câu hỏi (phiếu điều tra)

Bảng hỏi (Phụ lục 3) được xây dựng chung cho cả 02 đối tượng cán bộ và người dân địa phương và được gửi tới cho các đối tượng ngay trong quá trình đoàn khảo sát tiến hành đi thực địa Tổng số phiếu khảo sát được phát là: 119 phiếu, nhận về 99 phiếu (Phụ lục 2)

4.2.3 Thảo luận hỏi&đáp

Thảo luận hỏi & đáp được tiến hành với 02 nhóm đối tượng: cán bộ quản lý và người dân địa phương tương ứng với 02 hình thức tổ chức là Hội thảo cấp tỉnh và Đối thoại cộng đồng cấp xã

4.2.4 Công tác chuẩn bị và khảo sát thực địa

Trang 9

việc hỗ trợ thúc đẩy quá trình cung cấp thông tin (xây dựng bảng hỏi; thúc đẩy thảo luận) Thành viên trong nhóm thường xuyên trao đổi và thảo luận về chuyên môn và nội dung khảo sát cũng như đưa ra những điều chỉnh về phương pháp, bổ sung thông tin để đảm bảo cho quá trình khảo sát được hiệu quả nhất.

Tại mỗi địa phương khi đoàn đến làm việc đều có các cán bộ đầu mối của Sở Tài nguyên môi trường phụ trách việc tổ chức, điều phối các hoạt động diễn ra tại địa phương đó

• Lịch khảo sát thực địa:

Khảo sát thực địa được tiến hành từ ngày 26/5 đến 28/5/2010 lần lượt qua các tỉnh Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình

Lịch làm việc tại mỗi tỉnh được lập như sau:

o Buổi sáng làm việc tại Sở TNTM tỉnh: Họp với cán bộ các cơ quan quản lý cấp tỉnh và đại diện UBND các huyện của tỉnh liên quan đến Khu DTSQ SH

o Buổi chiều làm việc tại 01 trong các UBND xã liên quan đến Khu DTSQ SH thuộc tỉnh đó

5 Kết quả đánh giá và khảo sát

5.1 Thông tin chung về các địa phương nằm trong Khu DTSQ SH

5.1.1 Tỉnh Thái Bình:

Tỉnh Thái Bình có 52 km bờ biển thuộc 02 huyện Thái Thuỵ và Tiền Hải; 05 cửa sông (Cửa Thái Bình, Diêm Điền, Trà lý, Lân, Ba Lạt); 05 cồn biển (cồn Đen, cồn Vành, cồn Thủ, cồn Đồng Bào) và nhiều bãi ngang rộng hàng chục ngàn hecta (ha);

Diện tích đất ngập nước ven biển của tỉnh là 25.600 ha trong đó có 7.500 ha rừng ngập mặn và rừng thông

Diện tích đất mặt nước ven biển nuôi trồng thuỷ sản: 621,80ha;

Diện tích đất mặt nước ven biển có mục đích khác: 5883,75ha

Hàng năm trung bình tỉnh Thái Bình phải hứng chịu ảnh hưởng của khoảng 3 cơn bão và 01

áp thấp nhiệt đới

Tài nguyên sinh vật biển của tỉnh gồm có:

- Các loài hải sản gồm hệ cá tự nhiên: 102 loài có xương sống, 4 loài cá sụn thuộc 51 họ của 13 bộ cá (cá trích, cá mòi…); 40 loài cá nước lợ (cá thủ, cá vợc…); các loài giáp xác (tôm rảo, tôm sú, tôm thẻ, cua xanh…);

- Thực vật biển gồm rong biển, rau câu chỉ vàng…

số lượng loài;

- Động vật nổi: phát hiện tại cửa sông Thái Bình, sông Trà Lý từ tháng 5- 10 với mật độ dao động 104-105 con/m3

Trang 10

-Động vật đáy có 49 loài trong đó Polychacte có 13 loài, chiếm 26,5%; Gastropoda có 3 loài, chiếm 6,1%; Bivalvia có 12 loài, chiếm 24,5%; Decapoda có 20 loài, chiếm 40,1%; Amphipoda có 1 loài, chiếm 2%.

Số lượng hải sản đánh bắt năm 2008 là 32.106 tấn gồm:

Kết quả quan trắc, giám sát chất lượng môi trường nước, không khí, đất tỉnh Thái Bình năm 2008 cho thấy các mẫu phân tích đều đạt tiêu chuẩn cho phép TCVN 7209-2002; TCVN 5941-1995

Kinh tế xã hội

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất trên địa bàn vùng bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 đạt 15,2%; trong đó ngành công nghiệp và xây dựng tăng 26,3%/năm, dịch vụ tăng 14,8%/ năm, nông lâm thuỷ sản tăng 7,8%/ năm

5.1.2 Tỉnh Nam Định:

Vùng ven biển tỉnh Nam Định nằm ở vị trí khoảng 19050’ đến 20020’ độ vĩ Bắc; 10600’

trấn trong đó có 21 xã và 3 thị trấn giáp biển Diện tích tự nhiên của ba huyện 712,72 km2 chiếm 45,5% diện tích của tỉnh và 21,4% diện tích của toàn dải ven biển sông Hồng

Hàng năm vùng ven bờ tỉnh Nam Định được hàng triệu tấn phù sa bồi đắp hình thành và mở rộng các vùng bãi bồi nh: Cồn Lu, Cồn Ngạn, Cồn Xanh, Cồn Mờ, Cồn Tròn với tổng diện tích là 20.800ha Có sự lắng đọng phù sa lớn (khoảng 50 triệu tấn/năm)

Do quá trình bồi lắng diễn ra hàng năm, diện tích một số bãi bồi được mở rộng Tài nguyên đất được sử dụng chủ yếu cho các mục đích sản xuất gồm: nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, sản xuất vật liệu xây dựng

Hiện tại diện tích đất nông nghiệp toàn vùng là: 39.443ha; đất lâm nghiệp là 6.152

ha, đất chuyên dùng 11.131 ha còn 16.992 ha đất chưa sử dụng Lớp đất phủ trên bãi triều ngập nước ở huyện Giao Thuỷ và Nghĩa Hưng với độ sâu từ trên mặt xuống tới 2m

Tài nguyên sinh vật:

Theo tài liệu một số kết quả nghiên cứu, vùng biển Nam Định có khoảng 156 loài cá, trong đó 40 loài cá có ý nghĩa kinh tế Trữ lượng cá có khoảng 157.700 tấn Khoảng 95.150 tấn cá nổi (chiếm 60,4%); 62.350 tấn cá đáy (chiếm 39,6%); hàng năm khai thác khoảng 20.000 tấn Về tôm: có khoảng 45 loài tôm, trong đó có 9 loài có giá trị kinh tế cao nh tôm

He, Bộp, Sắt, Nơng, tôm Rảo,… trữ lượng tôm khoảng 30.000 tấn, khai thác khoảng 1.000 tấn Về mực: có 20 loài, trong đó 9 loài có giá trị kinh tế cao, trữ lượng khoảng 2.000 tấn, khai thác khoảng 600 tấn Về cua biển: có 4 loài trong đó cua biển Scylla sereta có giá trị kinh tế cao

Ngoài ra, các loài động vật như: chim, bò sát, nhuyễn thể, ngao, vạng đặc biệt là chim di cư quý hiếm, tập trung ở khu vực Cồn Lu, Cồn Ngạn với 250 loài trong đó có 9 loài

Trang 11

quý hiếm có nguy cơ tiệt chủng và các loài thuỷ hải sản phong phú về chủng loại đã tạo nên một vùng đa dạng sinh học điển hình của vùng sinh thái cửa sông Năm 1989 khi Việt Nam tham gia công ước Ramsar, vùng cửa sông huyện Giao Thuỷ được công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên vùng sinh thái đất ngập nước (nay là Vườn quốc gia Xuân Thuỷ).

Hệ thực vật trên cạn khu vực ven biển không phong phú, đa dạng như hệ động vật Các loài thực vật chủ yếu là nhân tạo phù hợp với khí hậu ven biển như phi lao, Tuy nhiên,

hệ thực vật nước lợ lại đặc biệt quan trọng (hệ sinh thái rừng ngập mặn) Tại khu vực bãi bồi, cửa sông của các huyện Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng đều có tập đoàn cây rừng ngập mặn

tự nhiên và rừng trồng bảo vệ đê biển tạo môi trờng cảnh quan sinh thái, đa dạng sinh học

Hiện có 101 loài thực vật bậc cao, thuộc 85 chi và 34 họ Trong đó có 5 loài, 5 chi và

3 họ thuộc ngành ráng, số còn lại thuộc ngành hạt kín, trong đó có 25 họ, 57 chi và 68 loài thuộc lớp 2 lá mầm và 6 họ, 23 chi và 29 loài thuộc lớp 1 lá mầm Thành phần thực vật nổi

có 2 loài rong biển có giá trị kinh tế cao là: rau câu thắt và rau câu chỉ vàng, ngoài ra còn có các loại tảo

Diện tích rừng ngập mặn trồng được 5.149,9 ha, trồng cải tạo 267,4 ha, trồng xen 2.924,4 ha, giai đoạn III của dự án sẽ trồng mới 200 ha rừng ở huyện Giao Thuỷ và trồng xen 2.500 ha rừng ở huyện Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ, đồng thời trồng các loại cây như: phi lao, tre để bảo vệ 300 km đê sông lớn và 2.000 đất bãi bồi ven sông

Dân số

Dân số trung bình vùng ven biển tính đến năm 2000 là 680.200 người, chiếm 33,6% dân số của tỉnh và chiếm 21,3% dân số của cả đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,1% Dân cư phân bố không đồng đều tập trung đông đúc ở các xã, thị trấn có thu nhập cao Nguồn lao động chính vẫn tập trung trong sản xuất nông nghiệp Mức thu nhập bình quân từ nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản tăng đáng kể trong tổng thu nhập hàng năm của nguời dân ven biển Lao động nghề cá là 25.847 người, lao động làm muối là 12.936 ng-ười, chiếm ≈ 11% số lao động

Theo số liệu điều tra xã hội các xã khu vực ven biển năm 2006, tất cả các xã đều có trạm y tế Trung bình mỗi xã có từ 2 – 6 y bác sỹ Tuy nhiên về phương tiện y tế cũng như

cơ sở hạ tầng của các trạm y tế địa phương đều thiếu thốn và đang xuống cấp

Cơ sở hạ tầng

Hệ thống giao thông liên tỉnh, huyện đang được đầu tư mới, nâng cấp, cải tạo những đoạn đường xuống cấp phục vụ phát triển giao thông, du lịch, phục vụ an ninh quốc phòng, phòng ngừa sự cố thiên tai Hệ thống giao thông vùng ven biển thường xuyên chịu tàn phá của thời tiết, hàng năm nhà nước phải đầu tư để cải tạo, sửa chữa

Huyện Nghĩa Hưng có tổng chiều dài đường bộ các loại trên địa bàn khoảng 1091km Trong đó, đường tỉnh có hai tuyến là 55 và 56 với tổng chiều dài 47,7km, đã rải nhựa 46,2km Đường huyện có 9 tuyến với tổng chiều dài 47,8km Trong đó, đã rải nhựa

Trang 12

35km Đường xã, liên xã tổng chiều dài 222km, rải nhựa và bê tông được 129,6km Đường thôn, xóm có tổng chiều dài 773,3km, rải nhựa, bê tông được 336km, mặt đường đá 437km

Hệ thống cầu cống trên tỉnh lộ có 11 cái dài 209,6m; 16 cống dài 91,9m Trên tuyến huyện lộ

có 7 cầu dài 147,4m; 29 cống dài 165,5m; đường liên xã và đường xã có 83 cầu dài 209,6m;

314 cống dài 1285,3m

Huyện Giao Thuỷ còn nhiều đoạn đường có chất lượng xuống cấp nghiêm trọng, nhất là các đoạn đường 56 (Cồn Nhất - đò Hà Lạn) dài 17,5km, đường 4489 (thị trấn Ngô Đồng – Giao An) dài 18,5km, đường huyện đoạn Giao Tiến – Giao Hải; đường 51B từ cầu Thức Hoá (Giao Thịnh) đến bãi tắm Quất Lâm dài 5,7km và một số đường trục xã có một số đoạn còn là đường đất Trong vài năm gần đây nhà nước đã tập trung đầu tư các công trình ven biển đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng như: cải tạo, xây dựng, mở rộng các tuyến đư-ờng giao thông phát triển du lịch xuống khu nghỉ mát Quất Lâm, TT Thịnh Long, nâng cấp cải tạo đường đến khu du lịch sinh thái Vườn Quốc Gia Xuân Thuỷ… Đầu tư xây dựng và củng cố đê biển đặc biệt các đoạn đê, kè bị tàn phá sau bão số 6, số 7 năm 2005

Nghĩa Hưng có 3 tuyến lớn là sông Đào, sông Đáy, sông Ninh Cơ với tổng chiều dài 70km, có cửa Đáy là nơi tàu 1.000 tấn có thể vào được cảng Ninh Phúc Cửa Lạch Giang tầu 1000 tấn có thể vào đợc tới cảng Hải Thịnh, sông Ninh Cơ Giữa huyện có kênh Quần Liêu dài 3,5km, rộng 30m nối giữa sông Đáy và sông Ninh Cơ, ngoài ra còn có 135 km kênh cấp 1 đảm bảo cho tàu thuyền có trọng tải 30 – 50 tấn đi lại phục vụ cho vận chuyển hàng hoá

Hệ thống điện:

Huyện Giao Thuỷ có hai trạm trung gian 35/10KV đặt tại vị trí hai xã Giao Tiến và Giao Thanh với hai trục đường 10KV, tổng chiều dài đường dây 50km, 64 trạm biến áp 35/0,4KV và 10/0,4KV Tổng dung lượng 15.290KVA, hiện đang thực hiện nâng cấp hệ thống điện theo tiêu chuẩn quốc gia đồng bộ tại xã Giao Lâm và thị trấn Ngô Đồng

Huyện Nghĩa Hưng trong toàn huyện có 3 trạm trung gian, 74 trạm hạ thế, tổng công suất 13.890KVA Mạng đường dây dẫn điện với 44km đường 35KV, 110km đường 10KV, 339km đường 0,4KV, 998km đường xương cá theo thôn xóm

N

ước sạch:

Nguồn nước được sử trong sinh hoạt của người dân ven biển gồm nước mưa và

n-ớc giếng khoan UNICEF, một số dùng nưn-ớc mặt (ao, hồ, sông) Chất lượng nưn-ớc giếng khoan vẫn đảm bảo về mặt hoá lý, tuy nhiên công việc khử trùng nước trước khi sử dụng chưa được chú ý quan tâm Hiện nay, huyện Giao Thuỷ có hai nhà máy cấp nước tập trung cho thị trấn Ngô Đồng và xã Giao Tiến đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng cho 3.500 hộ

Huyện Nghĩa Hng có 40.542 hộ dùng nước sạch, đạt tỷ lệ 78,5%

B

ưu chính viễn thông:

Huyện Giao Thuỷ xây dựng được hai trạm bưu điện khu vực, 16 điểm bưu điện văn hoá xã.Huyện Nghĩa Hưng tính đến năm 2002, 25 xã và thị trấn trang bị điện thoại

Trang 13

Giáo dục

Chất lượng giáo dục và quy mô đào tạo giáo dục của các huyện ven biển ngày một tăng Những năm gần đây Giao Thuỷ và Nghĩa hưng đều là những huyện hàng đầu về số và chất lượng giáo dục đào tạo của tỉnh Nam Định

Tình hình phát triển kinh tế.

Thu nhậ p bình quân đầu ng ười theo năm

Trong những năm qua, phát triển kinh tế ba huyện ven biển (Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng) đã có sự chuyển biến tích cực Nhịp độ tăng trưởng bình quân mỗi năm đạt trên 7% Giá trị sản xuất nông-lâm-công nghiệp tăng 8,2%/năm, các ngành dịch vụ tăng 7,3%/năm Thu nhập bình quân theo đầu người có tăng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu chi tiêu của người dân

Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế các xã thị trấn ven biển nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng và chiếm tỷ lệ khá cao Theo số liệu điều tra kinh tế xã hội các xã thị trấn ven biển năm 2006 cho thấy tỷ trọng ngành nông nghiệp vẫn chiếm đa số ở tất cả các xã, thị trấn, một số xã như Hải Tây, Giao Lạc tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 90%

Kết quả điều tra cho thấy diêm nghiệp và nông nghiệp tập trung phần lớn ở các xã Giao Phong, Bạch Long, Nghĩa Phúc, Hải Đông, Hải Chính, Hải Triều Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn ở nhiều xã như Hải Phúc, Giao Lạc, Giao Long nông nghiệp vẫn chiếm trên 90% Ngành dịch vụ phát triển mạnh ở xã có khu nghỉ mát, khu du lịch, nơi tập trung đông dân cư như: thị trấn Cồn, Thịnh Long, Giao An, Rạng Đông Công nghiệp mới phát triển ở một số xã, thị trấn trung tâm những khu vực có đường giao thông thuận lợi như: Hải Lý, Rạng Đông, Giao Hải, Giao Xuân…

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực ven biển theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – thương mại – dịch vụ – thuỷ sản và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp

Nông nghiệp:

Cơ cấu ngành nông nghiệp đã có chuyển biến tích cực theo tỷ trọng ngành trồng trọt giảm và tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng lên Dịch vụ nông nghiệp phát triển mạnh, theo các hình thức tư nhân, nhóm hộ, HTX … Tính chuyên môn hoá thể hiện cao hơn Tập trung vào các khâu sản xuất quan trọng: Làm đất, bơm tát nớc, vò lúa, phòng trừ sâu bệnh… Hoạt động dịch vụ đã góp phần tích cực vào việc phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp Sản lượng lương thực ổn định, bình quân 2000 tấn/năm Đàn lợn bình quân 58.000 con/năm, đàn gia cầm và gia súc ăn cỏ có xu hướng tăng, hoạt động dịch vụ có nhiều tiến bộ

Tổng diện tích gieo trồng bình quân 19.700ha Trong đó, cây lương thực 83% chủ yếu là lúa; rau và đậu 7,6%; cây công nghiệp 5%; ngoài ra còn có các cây cói, lạc, đậu Vụ

Trang 14

đông tuy được quan tâm nhưng phát triển chậm, năm 2002 giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 82,6% tổng giá trị sản xuất nông- lâm – ngư nghiệp, thuỷ sản chiếm 17,4%.

Đến năm 2002, trồng trọt chiếm tỷ trọng 74,6%; chăn nuôi chiếm 23,3%; dịch vụ nông nghiệp chiếm 2,1% Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch cơ cấu vẫn còn chậm, thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi không ổn định, giá sản phẩm chăn nuôi còn thấp Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha đất canh tác tăng từ 28 triệu đồng đến 30 triệu đồng vào năm

2002 Tốc độ tăng trởng tương đối ổn định, bình quân 3,01%/năm

Thuỷ sản

Diện tích nuôi trồng mặn, lợ tương đối ổn định khoảng 2000 ha Trong đó, khoảng

800 ha nuôi nước ngọt Sản phẩm chủ yếu là tôm, cua, cá, rau câu, vạng Công nghệ nuôi trồng kiểu quảng canh cải tiến, số ít theo phương thức bán thâm canh cấp thấp Sản lượng bình quân 5 năm như sau: Tôm các loại: 305 tấn; cá: 950 tấn; cua: 90 tấn; rau câu: 250 tấn; vạng: 3000 tấn

Về khai thác, tổng năng lực đánh bắt 14.500 CV trên 560 loại phương tiện, sản phẩm

có khả năng suất khẩu Tuy nhiên trình độ kỹ nghệ hạn chế chưa đủ sức làm chủ phương tiện và ngư trường Công tác quản lý còn lúng túng, sự phối kết hợp giữa khai thác với dịch

vụ thu mua, chế biến thiếu đồng bộ

Chế biến thuỷ sản và dịch vụ thuỷ sản: trên địa bàn các huyện đã xây dựng mới 3 cơ

sở chế biến nước mắm theo phương pháp cổ truyền kết hợp với phương pháp rút ngắn ngày tạo công suất 1.200 tấn chợp/năm và 1 cơ sở chế biến thuỷ sản đông lạnh công suất

50 tấn sản phẩm/ngày Có 6 cơ sở sản xuất nước đá phục vụ khai thác thuỷ sản xa bờ với công suất 85 tấn/ngày và 1 cơ sở sản xuất thức ăn gia súc và thức ăn nuôi tôm công suất

1000 tấn/năm

Công nghiệp – xây dựng:

Các nhóm ngành nghề chính khu vực các xã ven biển chủ yếu gồm:

- Ngư nghiệp: đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản, trong đó phát triển chính vẫn là hoạt động nuôi trồng, khai thác thuỷ sản ven bờ

- Diêm nghiệp: làm muối

- Công nghiệp cơ khí: phát triển trên cơ sở làm mới, sửa chữa máy móc, tàu thuyền, gia công đồ sắt, nhôm… phục vụ các ngành nông nghiệp, xây dựng, vận tải…

- Đóng, sửa chữa tàu: do có hệ thống sông, cửa sông lớn, việc phát triển ngành nghề đóng, sửa chữa tàu sông biển phát triển từ lâu, tuy nhiên quy mô còn nhỏ, chưa được đầu t-

ư công nghiệp

- Chế biến gỗ và mộc dân dụng: các sản phẩm chủ yếu là gỗ sơ chế, các đồ dùng phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân như giường tủ , bàn ghế… Bên cạnh đó còn sản xuất các đồ mộc cao cấp như: sập gụ, tủ kính, tràng kỷ… được trạm trổ hoặc khảm trai với các đường nét hoa văn tinh tế Các cơ sở sản xuất phân bố ở khắp các xã, thị trấn trong huyện,

Trang 15

- Công nghiệp dệt may: các huyện có hàng nghìn hộ gia đình tham gia sản xuất dệt sợi PE, thêu ren, đồ mây tre đan, chiếu cói, thảm cói, làn cói, giầy da, cặp học sinh, may gia công…

Dịch vụ- du lịch:

Thương nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ chủ đạo trong việc kinh doanh các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, lương thực phân bón, thuốc trừ sâu… lưu thông hàng hoá thuận tiện, đa dạng và phong phú Các khâu dịch vụ: Năng lực vận tải, điện thoại, điện sáng, nước, bưu chính viễn thông, phát thanh truyền hình, tài chính,… tuy còn hạn chế nhưng đã

có những tiến bộ vượt bậc, góp phần khai thác tiềm năng thế mạnh của huyện, thúc đẩy sản xuất phát triển đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư

* Về du lịch: huyện Giao Thuỷ đang tiếp tục đầu tư khu nghỉ mát Quất Lâm, phát triển

du lịch sinh thái, đầu tư cơ sở hạ tầng gồm 3 km đường nhựa, 1 km kè, điện nước đủ đáp ứng nhu cầu cho 24 nhà nghỉ và 98 kiốt, hàng năm thu hút 50 ngàn khách du lịch, tạo việc làm cho hơn 500 lao động Tuy nhiên, trong năm 2000-2001 tốc độ đầu tư còn chậm, vệ sinh môi trường chưa đáp ứng yêu cầu du lịch, khách về nghỉ, thăm quan còn ít

Huyện Nghĩa Hưng cũng đang được đầu tư hình thành một số khu du lịch, bãi tắm mới

5.1.3 Tỉnh Ninh Bình (huyện Kim Sơn)

Kim Sơn là huyện đồng bằng ven biển nằm ở phái Tây nam Ninh Bình, Đông giáp huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định, phía tây giáp huyện Nga Sơn Thanh Hoá, năm 1829 huyện được thành lập do kết quả công cuộc khai hoang của nhà doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ Đây là vùng đất mở, hàng năm tốc độ bồi tụ tiến ra biển từ 80-100m Sau 170 năm thành lập đã tiến hành quai đê lấn biển 6 lần Kim Sơn có 24 xã, 2 Thị trấn, với số Dân

số tính đến năm 2006 là 172.399 người Số người theo đạo thiên chúa chiếm 42,93% dân

số Tổng số người trong độ tuổi lao động 70.405 người Kim Sơn có 23,8 km đê biển riêng

đê Bình Minh II dài 14,25km

Tổng diện tích đất của Kim Sơn là 20.747 ha Trong đó đất nông nghiệp là 12.529 ha

điểm bãi bồi Kim Sơn thoải dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây Bắc xuống Đông Nam Cao độ trung bình ở trong đê Bình Minh II là +0,3 đến + 1,38, phần lớn ở cao trình +0,8 đến 1m; cao trình ở ngoài đê Bình Minh II từ +0,2 đến +0,1m, phần lớn từ +0,3 đến 0,7m

Kim Sơn chủ yếu là đất thịt nặng và đất sét tính dẻo và dính tăng, đất luôn bị ngập mặn ( Vùng ngoài đê Bình Minh II) Về mùa mưa phía đông gần như ngọt hoá, phía Tây độ mặn cũng giảm dần, về mùa khô ít mưa toàn khu vực bị nhiễm mặn

Nhiệt độ trung bình năm 23,20C, cao nhất là 39 0C và thập nhất là 6 0C

Độ ẩm trung bình 83%, lớn nhất là 90% và nhỏ nhất 70%

Lượng mưa trung bình: 1865 mm trung bình có 1631 giờ nắng / năm

Trang 16

Hàng năm Kim Sơn thường chịu từ 2-6 cơn Bão biển với gió cấp 7-8 có khi đến cấp

12, thường đổ bộ vào gần như thẳng góc với đường bờ biển vì vậy ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất và đời sống

Kim Sơn có chế độ nhật triều, trong có 2 kỳ con nước, mỗi kỳ có 8-9 ngày nước lớn với biên độ từ 1,5 đến 2,2m, giữa 2 kỳ nước lớn là kỳ nước kém kéo dài 5 – 6 ngày Bãi

Tài nguyên sinh vật

Về thực vật, có 64 loài thuộc 28 họ thuộc ngành hạt kín, 47 loài thực vật thuộc lớp 2

lá mầm, 15 loài thuộc lớp một lá mầm

Các cây trồng được trồng với diện tích lớn: Vẹt, cói, và lúa chăm Ngoài ra còn có rau, quả, cây bóng mát, cây lấy gỗ Cây nguyên liệu làm chiếu, dệt thảm: Cói thân đứng, bông trắng có sản lượng lớn, giá trị kinh tế cao

Cây làm thuốc có 30 loài Cây làm thức ăn gia súc có 10 loài Cây có hoa cho nuôi ong mật như sú, trang

Thực vật nổi vùng cửa sông ven biển Kim Sơn chịu ảnh hưởng mạnh của dòng nước sông Đáy chẩy ra được xác định gồm 44 giống thuộc 4 ngành: Trong đó Tảo Khuê với 35 giống, Tảo Giáp, tảo Lam, tảo Lục với 3 giống Tảo Khuê chiếm 84,6%

Về động vật, các loài Tôm nước ngọt có mật độ lớn ở phía Đông nơi giáp cửa Đáy Riêng tôm và cá giống có các loài Tôm Rảo, tôm moi, tôm rui, tôm càng mùa mưa có thể lên tới 36,5 com/m2, Các loài tôm He phân bố nhiều ở phía Tây giáp cửa Càn

Động vật nổi có nhóm chân chèo (Copepoda), nhóm rêu ngành (Clodocera), nhóm lưỡng túc (Ampipoda), trùng bánh xe (Rotatoria), tôm bột và cá bột Trong đó 2 nhóm Copepoda và Clodocera xuất hiện nhiều, đặc biệt là nhóm Copepoda chiếm ưu thế kể cả màu khô và mùa mưa

Các loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao: Ngao (Meretric meretrix L), Vọp (Mactra quadromgularia D) hai loài này phân bố ở bãi triều từ độ cao 0m HĐ tới 1,5m/0mHĐ, trong chất đáy là cát pha bùn (Vọp) và bùn pha cát ( Ngao)

Các loài động vật khác có chim di cư về trú đông như Ngỗng trời, Vịt trời, Cò trắng, Vạc, Lele, Mòng, Két v.v

Kinh tế xã hội

cố số dân theo đạo thiên chúa chiếm 42,93%, tỷ lệ tăng dân số tựnhiên 1,15% Nguồn lao động tập trung chủ yếu vào nông nghiệp (chiếm 1/3 sản lượng lúa của Ninh Bình), Thủ công

mỹ nghệ chiếu cói, nuôi trồng thuỷ hải sản

Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhiều năm qua của Kim Sơn luôn giữ ở mức cao (trên 12%), bình quân lương thực năm 2009 đạt khoảng 600 kg/người ; công tác xóa đói, giảm nghèo có

Trang 17

những chuyển biến tích cực, hiện tỉ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm xuống còn khoảng trên 8%.

Trong nông nghiệp đã hình thành những vùng lúa cao sản, vùng lúa có chất lượng cao, vùng nuôi trồng thủy hải sản… đưa giá trị canh tác đất nông nghiệp đạt gần 70 triệu đồng/ha/ năm

Đối với lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bên cạnh việc xuất hiện hàng loạt ngành nghề mới, Kim Sơn vẫn duy trì thế mạnh của ngành sản xuất chế biến cói, giá trị của ngành này đạt gần 250 tỷ đồng/năm

Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được các cấp đặc biệt quan tâm, nhất là xây dựng đường giao thông, trường học và các công trình thủy lợi Đến nay, trên 75% đường giao thông nông thôn của huyện đã được bê tông hóa, 682/738 phòng học được kiên cố, 38 trường học đạt chuẩn quốc gia, 25/27 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, các công trình thủy lợi

ở vùng bãi bồi tại các xã trong huyện được đầu tư xây dựng và cải tạo…

Kinh tế Kim Sơn có 3 thế mạnh về nông nghiệp (chiếm gần 1/3 sản lượng lúa của Ninh Bình), thủ công nghiệp truyền thống (sản xuất hàng chiếu cói) và nuôi trồng thủy sản (tổng diện tích NTTS khoảng 2.000 ha, hằng năm đạt giá trị sản phẩm thủy sản gần 200 tỷ đồng) Các loài thủy sản đươc nuôi gồm: tôm sú, cua biển, cá vược, cá rô phi đơn tính, tôm thẻ chân trắng, cá mú Để giúp nông dân nuôi trồng đạt hiệu quả kinh tế cao, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức 11 lớp huấn luyện kỹ thuật, bồi dưỡng nghiệp vụ chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh cho tôm sú, cua biển cho gần một nghìn lượt người ở các xã ven biển: Kim Trung, Kim Hải, Kim Đông Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Bình còn thực hiện các biện pháp vận động nhân dân trồng, chăm sóc rừng ngập mặn ven biển với diện tích 50 ha, trồng dặm 50 ha và 100 nghìn cây bao gồm phi lao, tai tượng

Nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân vùng ven biển tiếp tục được triển khai như dự án đường cứu hộ tránh bão phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh (dự án đường 481) dài hơn 20 km từ cầu Ruy Lộc (xã Yên Lộc) đến đê biển Bình Minh II (xã Kim Đông) được trải thảm bê-tông kiên cố với tổng mức đầu tư hơn

436 tỷ đồng Dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 10 đoạn từ Ninh Phúc (TP Ninh Bình) đến cầu Điền Hộ dài 27 km với tổng vốn đầu tư hơn hai nghìn tỷ đồng giúp cho tàu cá có chỗ neo đậu tránh bão và đường liên xã bãi ngang Dự án nâng cấp đê biển Bình Minh 2 đã bước sang giai đoạn II, tổng vốn đầu tư gần 70 tỷ đồng và tiếp tục nâng cấp đê Bình Minh III Ngoài ra, Sở Khoa học và Công nghệ còn thực hiện dự án "xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sản xuất ngao giống và cá chẽm tại xã Kim Hải" bước đầu thành công với 10,5 triệu con ngao giống và 2,05 triệu con cá chẽm giống Với tổng giá trị đầu tư hàng nghìn tỷ đồng Đáng chú ý là tỉnh ủy Ninh Bình đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương thực hiện đề án sửa chữa, xây mới nhà dột nát cho hộ nghèo, gia đình chính sách cấp đất cho hộ nghèo ở ba xã bãi ngang Kim Đông, Kim Hải, Kim Trung, giúp gần 100 gia đình có chỗ ở ổn định, bền vững hơn

Trang 18

Theo Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật và trung tâm nghiên cứu biển Hải Phòng thì quá trình lấn biển của Kim Sơn có tốc độ lớn nhất dải ven biển đồng bằng Sông Hồng (10-80m/năm) và được xác định là vùng đất mở Với phương châm lúa lấn cói, cói lấn sú vẹt, sú vẹt lấn biển Mặt khác khai thác biển là thế mạnh của Kim Sơn Vì vậy Kim Sơn đang quy hoạnh tổng thể cho kinh tế lấn biển để khai thác một cách hợp lý và bảo vệmôi trường sinh thái vùng bãi bồi ven biển.

Khai thác vùng bờ: Tổng diện tích bãi bồi ngoài đê Bình Minh II là 4.099ha trong đó diện tích ven đê Bình Minh II nhân dân tự bỏ tiền đắp đầm nuôi trồng thuỷ sản là 821,4ha chủ yếu vẫn khai thác tựnhieê chưa có sự quy hoạch, vì vận sản xuất hạn chế hiệu quả kinh

tế thấp Giá trị thu được bình quân hàng năm là 14 tỷ đồng

Kết hợp với khai thác vùng bờ hàng năm Kím Sơn tiến hành trồng rừng phòng hộ ven biển, tổng diện tích đất có thể trồng rừng 1700ha, hiện tại đã trồng được 620ha ngoài vùng đầm tôm với độ tuổi 1-5 tuổi

Khai thác xa bờ: Khai thác hải sản xa bờ của Kím Sơn là một nghề truyền thống nhưng do điều kiện kinh tế, cơ chế thay đổi mấy năm gần đây nghề này đang bị mai một Hiện tại Kím Sơn chỉ còn 2 HTX đánh cá với 10 tầu công suất từ 130-260 CV, chủ yếu ở ngư trường Hải Phòng đến Nghệ An, sản lượng bình quân hàng năm 600 tấn các loại Dự kiến tiếp tục tăng số tầu đánh cá, góp phần nâng cao sản lượng đánh bắt cá của các HTX

5.2 Thông tin chung về người được phỏng vấn

Tổng cộng đã có 99 người được phỏng vấn bằng bảng hỏi trong đó:

Ph ần tr ăm s ố ng ườ i đư ợ c p hỏ ng vấn th e o từ ng tỉn h

Nam Đ ịnh34%

Ninh Bình25%

Thái Bình41%

Ngày đăng: 17/05/2015, 11:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w