Mặc dầu cả hai đều là nhũng nghiên cứu tron” phòng thí nghiệm, xem xét những mỏ hình đời sỏYiíi dưới tác động của nhiều điều kiện văn hoá, xã hội khác nhau, nhưng nhũng 2Ì mà các nghiên
Trang 1ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU c ơ BẢN KHXHNV
MỘT số LÝ THUYẾT XÃ HỘI HỌC VE LỨA TUổl
Chủ trì để tài: Th.s Lê Văn Phú
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TẨM THÕNG TIN THƯ VIỆN
Hà Nội - 2003 ■
Trang 2MỤC LỤC
Phần 1: Mở đẩu - 4
1 Ý nghĩa của nghiên cứu xã hội học lứa t u ổ i 4
2 M ột sô vấn đề vể phương pháp trong nghiên cứu xã hội học về lứa tu ổ i 5
3 M ột s ố hưóng tiếp cận trong nghiên cứu xã hội học lứa tuổi trên thê g iớ i 9
~'3.1 Tiếp cận Nhóm: Lứa tuổi và quá trình già h ó a -9
3.2 Tiếp cận Biến đổi xã h ộ i -11
3.3.Tiếp cận vai trò - - 12
3.3.1 Thời điểm chuyển tiếp trong quá trình già h ó a - 12
3.3.2 Sự kéo dài của cuộc s ố n g - 13
3.4 Tiếp cận so sánh cấu tr ú c -14
3.4.1 Quá trình già hóa và sức k h ỏ e - 14
3.4.2 Quá trình chuyển tiếp các nhóm lứa tuổi và cấu trúc t u ổ i - - 15
3.4.3 Quy mô nhóm lứa tuổi và cấu trúc tuổi của con người 16 Phẩn 2: N ộ i dung c h ín h 20
Chương 1 : 20
Tổng thuật m ột sô lý thuyết x ã hội học v ề lứa tu ổ i 20
1 Lý th u yết cơ câu chức n ă n g 20
1.1 Vị trí của thuyết cơ cấu chức năng trong xã hội h ọ c -20
1.2 Nội dung chính của thuyết cơ cấu chức năng - 21
1.3 Vai trò của thuyết cơ cấu chức năng trong nghiên cứu lứa t u ổ i - - - 22
Để tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV l
Trang 3< 2 Lý thuyết xung đ ộ t 23
2.1 Vị trí thuyết xung đột trong xã hội h ọ c -23
2.2 Nội dung chính của thuyết xung đột - 23
2.3 Vai trò của lý thuyết xung đột trong nghiên cứu lứa tuổi - 24 3 Lý thuyết tương tác biểu trư ng 25
3.1 Vị trí của thuyết tương tác biểu trưng trong xã hội học -— 25 3.2 Nội dung chính của thuyết tương tác biểu trưng - 26
3.3 Vai trò của thuyết tương tác biểu trưng trong nghiên cứu lứa t u ổ i - - - 28
4 Quá trình xã hội hóa cá n h â n 29
4.1 Bản chất con người - - 29
4.2 Các môi trường của xã hội hóa cá nhân [3 :2 6 0 -2 6 2 ] -33
4.3 Các giai đoạn của quá trình xã hội hóa cá n h â n -34
Chương 2 : 37
Lứa tuổi dưới góc độ tâm lý học - M ột sô đặc trung co bản - — 37 1 v ể đối tượng nghiên cứ u : 37
2 Một sô nội dung nghiên cứu của tâm lý học lứa tu ổ i 38
2.1 Tâm lý học lứa tuổi sơ s in h : - 38
2.2 Tâm lý học lứa tuổi nhà t r ẻ : - 39
2.3 Tâm lý học lứa tuổi Mẩu g iá o -40
2.4 Tâm lý học lứa tuổi nhi đ ồ n g -42
2.5 Tâm lý lứa tuổi thiếu n iê n - 43
2.6 Tâm lý học lứa tuổi Thanh niên. - 44
2.7 Tâm lý học về Người cao tu ổ i -47
Đê tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 2
Trang 4Chương 3 : -49
x'M ộ t s ố n ộ i dung nghiên cứu x ã h ộ i học v ề lứa tuổi — 49
1 Giai tầng tuổi tác 49
1.1 Sự phân chia các nhóm tuổi trong xã h ộ i - 49
1.2 Vai trò Lứa tu ổ i - - 51
1.3 Quá trình chuyển tiếp các vai t r ò - - 59
2 Bất bình đẳng về t u ổ i 62
3 Già h ó a 66
3.1 Khái n iệ m - -66
3.2 Một số nghiên cứu xã hội học về quá trình già h ó a - 69
4 Xã hội hoá Đời sống và trật tự Đời s ố n g 75
5 Trật tự hóa đời sống theo tu ổ i 76
6 Lứa tuổi và việc sử dụng các biện pháp tránh th a i 77
7 Lứa tuổi và Sự tham gia của phụ nữ vào thị trường lao đ ộ n g 80
8 Một s ố chủ để nghiên cứu của xã hội học lứa tuổi ỏ Việt Nam 82
8.1 Xã hội học về tuổi thanh n iê n - 82
8.2 Xã hội học về người cao tu ổ i -84
8.3 Xã hội học về trẻ e m - 88
K ết l u ậ n 90
Tài liệu tham k h ả o 91
Đê tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 3
Trang 5PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Về mặt sinh học, sự tăng lên của độ tuổi là quá trình tất yếu và không thể
đảo ngược Còn về mặt xã hội, độ tuổi có ý nghĩa rất lớn Nó là cái thước
xác đinh vi trí của mỗi người trong xã hội: đó là một đứa trẻ, một thanh
niên hay một người già Trên cơ sở đó, độ tuổi cũng xác định những hành
vi phù hợp hay không phù hợp của con người Chẳng hạn, một cậu bé 3 tuổi không thể ở nhà Irông em khi bố mẹ đi vắng, một bà già không thê tham gia vào cuộc thi hoa hậu Đồng thời, tuổi cũng là một chuẩn mực xác định cách
thức cư xử của mọi thành viên trong xã hội như kính già, xêu trẻ Do đó,
tuổi được coi là yếu tố quan trọng để trả lời câu hỏi “ Chúng la là ai?”
Tuổi còn là một chỉ báo quan trọng trong cơ cấu dân số xã hội Mội xã hội
được xác định có cơ cấu dân số già hay cơ cấu dân số trẻ phụ thuộc vào tỷ
lệ các nhóm tuổi của xã hội đó
Chính vì nhữne lý do trên, lứa tuổi trỏ' thành đối tượng nchiên cứu của một
số ngành khoa học xã hội như tâm lý học xã hội học Trong các imhién cứu
xã hội học thực nghiệm, tuổi được coi là mộl biến số độc lập eần như không thế thiếu được khi phán tích Nhưng đồng thời lứa tuổi cũng là một
đối tượng nghiên cứu của xã hội học Dưới góc độ xã hội học naliién cứu
vổ lứa tuổi nhằm xác định vị trí, vai trò của các nhóm tuổi trons cư cáu xã hội cũng như sự phân tầna tuổi tác trona xã hội có tác động như thế nào tới
sự phái triển của xã hội
Để định hướnu cho các nghiên cứu xã hội học thực rmhiệm vé lứa tuổi không thê thiếu di vai trò của các lý thuyết xã hội học vé lứa tuổi Xã hội học vc lứa tuổi không phái là một chu vón nuành mới nhưníi ớ Việt Nam chưa được chú ý nhiều Do đó, lý thuvcì xã hôi học vé lứa tuổi hiện nav
Đê tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 4
Trang 6còn phân tán, thiếu tính hệ thống Vì thế, việc nghiên cứu l ý thuyết xã hội học về lứa tuổi là một đề tài nghiên cứu cơ bản hoàn toàn mới, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
Về mặt lý luận, đề tài sẽ cung cấp nguồn tư liệu xây dựng và hoàn thiện cơ
sở lý luận cho mòn xã hội học về lứa tuổi nói riêng và xã hội học nói chun°
Về mặt thực tiễn/đề tài này góp phần vào việc xây dựng giáo trình môn xã hội học về lứa tuổi, cung cấp tài liệu Iham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu xã hội học về lứa tuổi hiện nay
XÃ HỘI HỌC VỀ LỬA TUỔI
Có hai cách thức tiến hành ntĩhicn cứu về lứa tuổi, thứ nhất liến hành nghiên cứu nhóm người về sự hình thành cấu trúc tuổi và thứ hai là nghiên cứu theo lát cắt ngang Mặc dầu cả hai đều là nhũng nghiên cứu tron” phòng thí nghiệm, xem xét những mỏ hình đời sỏYiíi dưới tác động của nhiều điều kiện văn hoá, xã hội khác nhau, nhưng nhũng 2Ì mà các nghiên
cứu k h ô n g thề’ làm được (nếu k h ô n g có n h ũ n g so sánh lớp naười trong CÙI1"
một xã hội) đó là chỉ ra việc những mô hình đời sône khác nhau kết hợp với nhau như thế nào tại nhữns thời điểm nhất định nào đó để có thế tác độna đến, hay chịu tác độns của cấu trúc xã hội và biến đổi xã hội
Mặc dầu nghiên cứu theo lát cắt rất hữu ích nhưng vần còn nhiều vấn đẻ hóc búa mà người ta đã tìm nhiều cách ciái quyết trái neưực nhau Các dữ liệu rất phức tạp và nhữns kết luận khái quát hoá quá eián dơn hoặc nhữnẹ
c á c h v ậ n d ụ 11 Sĩ s ố l i ệ u t h ố n g k ẽ d ỗ d ã i s ẽ l à m c u ộ c n e h i ê n c ứ u đi l ầ m hướníi Tron í: khi trọiiii tám nuhiên cứu cua phươne pháp nhóm lứa tuổi là quá trình íiià hóa của cá nhãn sẽ làm đánh mát cái cá tính cua cá nhan Ví
Đê tài nghiên cứu cơ bắn KHXHNV 5
Trang 7dụ, những thay đổi trons đời sống có tương tác với nhau sẽ thể hiện một cách mờ nhạt trong những “biến đổi chuẩn” (“net shiíts”) trong các tư liệu nhóm lứa tuổi Những thay đổi cá nhân có thể khống phát hiện được nếu như người ta sử dụng các phương pháp tính toán không liên tục theo thời gian; hoặc những thay đổi thành phần ngay trong một nhóm người (do di cư hay tử vong) có thể bị lý giải một cách sai lệch như là những thay đổi của
cá nhân Những trở neại như thế trong nghiên cứu có thể được giảm bớt phần nào khi người ta tập trung vào nghiên cứu đóng góp của nhóm vào cấu trúc; luy nhiên ở đây cũna cần có nhũng nỗ lực đặc biệt để tránh làm lu mờ thông tin về đời sống cá nhân trong toàn bộ thông tin về nhóm (xem Dannefei\ 1987; Hasestad và Neugarten, 1985), hoặc để tránh khái quát hoá thông tin từ các cá nhân còn lại được lựa chọn từ những nhóm lúc đầu.Uhlenberg (1969) dã minh hoạ một phương pháp nhóm lứa tuổi nghiên cứu quá trình già hóa dế giải quyết được những vấn đề như: do kếl hợp nhiều dữ liệu cho nên khônơ thấy được rõ ràng những khác biệt của nhóm về mô hình đời sống; và sự ihay đổi thành phần trong nhóm thông qua tỷ lệ tứ vong Đối với những nhóm phụ nữ sinh trong khoảng từ 1830 đến 1920, Uhlenberg đã sử dụng số liệu diều tra dân số về tuổi kết hôn, sinh con, goá chồng hoặc vợ, hoặc tuổi chết để phân loại những mô hình đời sống của cá nhân thành một số loại Tính độc đáo của phương pháp này là ớ chõ nó có tính đến tỷ lệ tử vong bằng cách lần theo số liệu thông tin về cuộc sống cứa tất cả phụ nữ sinh nhữne năm đầu trong nhóm; phương pháp này tương phán với nhũng quv trình ihôns thường dựa trên nhóm những phụ nữ còn sốns đc lấy số liệu tuổi kết hôn trung bình hay tuổi truns bình của những sự kiện khác mà thỏi Phân tích cũng cho thấy rằng một mõ hình thườna lệ nhất của nhữim neười sinh năm 1830 là những phụ nữ chết Irưức luổi 20: trong khi đó theo mô hình “liêu biểu” của nhữri!Z rmròi sinh năm 1 <S90 hoặc
Để tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 6
Trang 8muộn hơn thì phụ nữ sống đến tuổi 20, lấy chồng, sinh con và sống CÙI1S
chồng cho đến tận năm 55 tuổi
Những nghiên cứu khác cũna tìm ra nhiều cách khác nhau để giái quyết những khó khăn khúc mắc của phương pháp nhóm lứa tuổi thôns qua việc
sử dụng các mô hình tính thòi gian liên tục (Liu và Manton, 1984); thông qua các phân tích thành phẩn, đối với mọi nhóm lứa tuổi những phân tích này đều nhất quán dựa trên các yếu tô' được biết có tác động chọn lọc đến tử vong hay di cư (xem Maddox, 1963); hoặc ihông qua các nghiên cứu dọc về các nhóm kế tiếp nhau (xem Schaie, 1983)- mặc dầu những rmhiên cứu loại này cũng tạo ra một chuỗi nhũng vấn đề của chính nó về mẫu thống kê số người chết và tính điển hình của mẫu (xem Streib, 1966) Nếu như số liệu thống kê không sẵn có hay bị hạn chế trong phạm vi thời gian xã hội, hoặc nếu số liệu không cung cấp được nhũng chi tiết cấn thiết theo hướníi chủ quan thì nhũng nghiên cứu khác lại dựa vào các tài liệu, các ahi chép, thư từ
và các sự kiện lịch sứ (xem Hareven, 1982; Kohli, 1985; Smelser, 1968; Vinovsskis, 1982) Như Ryder đã nói (1965) sự đầu tư nghiên cứu công phu
là cực kỳ cần thiết cho để có thể “nghiên cứu được nhữns 2Ĩốna loài cỗ tuổi thọ dài đã và đang irái qua những chuyên đổi cấu trúc.”
Một trong những cái khó sây tranh cãi nhiều nhất khi tiến hành I i í i h i ê n cứu theo nhóm đó là “vấn đề nhóm- ciai đoạn- lứa tuổi," một vấn để tuy khôna
cơ bán đối với phân tích theo nhóm mà chí nehiêm trọng dối với một dạng nghiên cứu nào đó có sử dụnơ dữ liệu Đó hì một tron SI nhữns nshiên cứu
có bicn được tính toán theo hai chỉ số: ngàv thánsi và tuổi, ơ dạn2 nahicn cứu này phàn tích phái đối phó với “vấn đé nhận diện" (Blalock 1967) một vấn để vốn quen thuộc với các imhién cứu xã hội học YC lính hiến độns của xã hội hay thời íiian hỏn nhân, sứ dụntỉ hai thước do đó xác định nhữnn lác độiiíi riẽnu rẽ của ba khái niệm khác nhau Tron í: khi nhiêu các quá trình khác nhau (xem Feinbersi \à Mason 1979; Máson \à Fcinhcrt! 19X5)
Để tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 7
Trang 9được bổ sung nâng cao để lý giải những tư liệu như thế thì những quá trình này lại đòi hỏi những nhận biết hay giả định cho rằng “tính chắc chắn của những thước đo như thế là bằng không” (hoặc là của những aiá trị khác), như Blaclock nói (1967, p 799; cũng xem Cohn, 1972).
Giải pháp hữu hiệu nhất là phải chỉ rõ và tính toán trực tiếp được các biến lý thuyết mà người ta sử dụng tuổi, giai đoạn và nhóm lứa tuổi làm chí số gián tiếp cho chúng trong các nghiên cứu đặc biệt nào đó (Rodgers, 1982) Ví
dụ, lừ hồi năm 1955, Samuel Stoufer đã khám phá thấy rằng người lớn tuổi hơn thì khó chấp nhận lối sống không tuân theo quy tắc hơn là người nhỏ tuổi hơn Ông đã dùng trình độ học lực như một chỉ số thành viên nhóm để tách biệt ảnh hưởng của quá trình già hóa riêng rẽ khỏi ảnh hưởng của sự khác biệt nhóm trong điều kiện xã hội hoá giai đoạn đầu (Dowd, 1980) Gần đây hơn, Hoge và Hoge (1984) đã quan tâm đến việc xác định rõ những tác động lứa tuổi dặc biệt đến quan niệm giá trị của nam sinh viên là những tác động có liên quan nahề nghiệp hay có liên quan gia dinh Gay và Campell (1985) đã đi tìm nguồn gốc của trạng thái tinh thần con người ớ nhũng yếu tố quy mô nhóm như Easterlin (1980) đưa ra hoặc ớ trong lý thuyết của Levison (1978) và hai ông đã chọn ngày tháng là cái thể hiện những íiiai đoạn bùng nổ trong công trình của Easterlin và chọn tuổi là cái phản ảnh hộ thống của Levison Ryder lập luận (1979) rằng với khi quan sát
kỹ lưỡng bất cứ hành vi nào trong những nghiên cứu trên thì nsười ta đcu thấy rằng các thành viên tập thể trong “nhóm” đều tạo ra nhữne chinh thô ứng xử và “siai đoạn” là cái đồna nhất với thôns tin vé hối canh xã hội tại thời điếm quan sát và “tuổi” là chí số thôns tin vé nhóm
Đê tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 8
Trang 103 MỘT SÔ HƯỚNG TIẾP CẬN TRONG NGHIÊN c ứ u XÃ HỘI HỌC LỨA TUỔI TRÊN T H Ế GIỚI
3.1 Tiếp cận Nhóm: Lứa tuổi và quá trình già hóa
Phần lớn các công trình dòng chuyển tiếp các nhóm lứa tuổi đều nghiên cứu mối quan hệ giữa thay đổi xã hội và những khác biệt theo nhóm về kiểu
hình già hóa của cá nhân M ục đích nghiên cứu là xem xét phương thức
và thời gian mà môi trường văn hoá, x ã hội cùng nhữ ng thay đôi diễn ra trong m ôi trường ấy tác động lén quá trình già hóa Bằng cách so sánh
kinh nghiệm già hóa của các ihành viên của nhũng nhóm kế tiếp người ta đã mỏ' rộng ihêm cách tiếp cận qua quá trình cuộc sống Kết quả là thành viên nhóm được coi là một đặc điểm bối cảnh của các cá nhân đang trai qua quá trình già hóa
Sự tìm kiếm nhữns khác biệt theo nhóm cũng có thế dẫn đến sự khám phá nhũng điểm giống nhau của nhóm, làm bộc lộ những kiêu hành vi cũng như quá trình già hóa sinh học tồn lại một cách tương đối bền vững Tính ổn định dó lất nhiên có thể là một đặc tính phát triển sinh học của cá thế nhưne cũna có thể do nhũng đặc tính bền vững của cấu trúc xã hội hình thành nên
Ví dụ irons nửa cuối thế kỷ qua tại Hoa Kỳ đã có một sự ổn định đána kế
vé tuổi tham sia lao động và tuổi về hưu phán ánh một mỏi trường phân loại theo luổi khá ổn ciịnh về mặt xã hội (Danncícr 1984; Kallcbcre và Loscoco 1983) Khi neười ta quan sát được những lương đổng trons mỏ hình sỏYiíí hất kể môi trường sốriíỉ có khác nhau vé nhiều mặt- như troníi ví
dụ về lý lệ tội phạm đạt đến đinh cao trone eia đoạn 2Ĩữa tuổi thanh thicu niên và tuổi irưởns thành (Hirschi và Gotlíredson, 1983; Grecnbersì 1985 )- thì I1ỈĨƯỜÌ t a CŨIIÍI c ó thê c h í r a được tính q u a n t r ọ n u t ưcí ní i d ố i c u a n l u ì n u cách lý <ziái lâm lý học \'à sinh học (như do sự thiếu chín chăn) so với cách
lý giái xã hội học (do khoànsĩ cách aiữa nhu cẩu và khá nănu cua lứa Uiôi
Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV y
Trang 11thanh thiếu niên) Trona khi không có một quá trình già hóa nào là thuần tuý (con người không lớn lên trong môi trường phòng thí nghiệm mà là trong những môi trường phức tạp và xã hội biến đổi), thì nhữns điếm tương đồng của nhiều nền văn hoá cho phép suy luận rằng những đặc điểm già hóa này gần như là mang tính phổ biến toàn cầu.
Tuy nhiên, hầu hết các phân tích nhóm đều chú trọng đến những khác biệt giữa các nhóm và những khác biệt này có thể được lý giải là những biến đổi trong quá trình già hóa được dàn xếp trong những điều kiện xã hội chiếm
ưu thế: ví dụ, thời điểm lần đầu hành kinh dường như có liên quan với tình trạng dưỡng chất đầy đủ dành cho những nhóm kế tiếp; khả năng đọc nhanh chịu ảnh hưởng của nhữn2 học thuyết giáo dục mà các nhóm trẻ con khác nhau được liếp thu; hoặc vai trò của một người về hưu có thế sẽ không còn nữa đối với các nhóm do yêu cẩu của tổng động viên hoặc sẽ xuất hiện vào siai đoạn thanh xuân của thành viên trong nhóm, những người dã trái qua chuyện phải dè xẻn chi tiêu
Những nghiên cứu khác về khác biệl nhóm ngày càng kháng dinh và bắt đầu làm rõ nguyên tắc tổng quát của quá trình già hóa cho rằn2 quá trinh
già hóa khô ng phải là không thẻ bị tác động và hoàn toàn cố định theo quy tắc sinh học mà có th ể thay đổi theo cùng những biến đổi x ã hội và răn htìá Ví dụ, các thành viên của nhóm đang ở tuổi thiếu niên và nhữns
người trước đây đã từna là thiếu niên thì sẽ khác nhau ứ nhiêu khía cạnh nhu' số bố mẹ còn sống hoặc sống CÙI12 nhau, số anh chị em chuyện được chăm sóc hàng neàv chuyện bệnh lật kinh niên v.v Thành viên của các lớp người bây giờ sià đi khác kiểu với naười sià neày trước vé nhiéu mặt như trình độ íiiáo dục, lịch sử íiia đình, lịch sử còng túc việc ăn Uỏn2 kiêntỉ khem và 1 uvện lập mức sốníi số năm imhí hưu và mộl khác biệt V imhĩa nhất là số năm iháns họ hy vọng còn dược sôYiíi cùng với con cháu Là thành viên của một nhóm lứa tuổi là một dạc điếm cua một con 11” ười lừ khi
Đê tài nghiên cứu cơ bàn KHXHNV 1 í )
Trang 12sinh ra và còn là những kết quả ở mỗi lứa tuổi khác nhau Những hướng nghiên cứu khác nhau về quá trình già hóa có thể được minh họa t r o n g công trình nghiên cứu tác động của các sự kiện lịch sử, cốno trình về thời điểm chuyển tiếp, và về những hậu quả của đời sống kéo dài.
3.2 Tiếp cận Biến đổi xã hội
Tác dộng của những thaỵ dổi lịch sử tói quá trình già hỏa
Một số các nghiên cứu xem xét nhữna khía cạnh đặc biệt của thay đổi lịch
sử, những khía cạnh cùns đan xen vào những nhóm cùng tồn tại vào nhũng thời điểm đặc biệt nào đó, tạo ra những biến đổi trong cách thức diễn ra quá trình già hóa Ví dụ, Vinovski (1982) đã nghiên cứu cuộc sốne của 3 nhóm mục su' sống Irong xã hội Mỹ thê kỷ 17 và 18 để minh hoạ điều kiện sôYiíĩ
và chăm sóc của người lớn tuổi bị sa sút như thế nào không phái là do nguyên nhân tuổi tác mà là do tác dộng cua suy thoái láu dài về kinh tế và tinh Ihần Simkus (1982) thì tập trung vào nghiên cứu mối quan hệ iiiữa nghề nghiệp kinh tế xã hội của cá nhãn và những thay đổi cáp liến trong cấu trúc kinh tế, xã hội của Hungary trong suốt 50 năm trước đó và óng dã cho thấy sự chuyển tiếp nhanh chóng từ nền kinh tế nông nghiệp sansi kinh
tế công níĩhiệp cùng với sự can thiệp của sâu rộng của nhà nước dã mans lại nhiều biến đổi cơ bán như thế nào trong quá trình già hóa thông qua cá những dịch chuyên nshề nghiệp và những biến đổi giũa các nhóm (xem Featherman và Sorensen 1982) HolTerth (1985) đã sứ dụnsi nsihiên cứu panel về động cơ thu nhập (1960-1980) và bà đã không tìm ihấv nhữnii khác biệt nhóm khi xem xét lần theo nhữna kiếu hình đời sôYie chuẩn ỏ' nhữne nhóm trò em da đen và da trắng cho đốn tuổi 17 sỏìiíi tron" các iiia đình có cá bố lần mẹ Và bà dã chỉ ra sự tan vỡ troim hôn nhàn, mặc dáu luôn có tỷ lộ cao hơn doi với nmrời da đen dã xáy ra háu như ớ cùn” một thời điếm đối với tất cá các nhóm
Đê tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 1 1
Trang 13Những nghiên cứu khác đã xcm xét những sự kiện giai đoạn gây ảnh hưởng trưóc mắt đã có những tác động khác nhau như thế nào đến quá trình già hóa khi những sự kiện này xảy ra trong cuộc sống của những nhóm cùng tồn tại Elder (Elder và Rockvvell, 1979) đã xem xét những ảnh hưởns mà Cuộc Đại Suy thoái gây ra đối với đời sống của các thành viên thuộc các nhóm khác nhau Ông thấy rằng tại thời điểm Đại suy thoái xảy ra những cậu bé nhỏ tuổi hơn dễ bị tổn thương hơn so với các cậu bé lớn tuổi trước những tác động mà thay đổi xã hội sâu sắc gáy ra cho lối sống và nguồn sống của gia đình Handl và các đồng sự (1979) đã chỉ ra rằng việc chấp nhận phụ nữ đi làm tại Đức trong thời gian thế chiến thứ hai cộng với xu hướng tuyển chọn phụ nữ trẻ tuổi vào các ngành công nghiệp mới phát triển
có nghĩa dối với việc phụ nữ neày càng có xu hướng làm việc cá đời trong các ngành công nghiệp này
3.3.Tiếp cận vai trò
'í 'í / Thời diểín chuyển tiế p tro n g quá trinh ỹ iì hóa
Có một vài nhà khoa học đã nghiên cứu những khác biệt nhóm về thời điếm
và trật lự chuyển tiếp các ciaĩ đoạn của cuộc sống (Hogan và Astone 1987) Winsborough (1979) đã thấy rằng trong những nhóm nam íiiới sinh
từ năm 1911 cho đến 1941 thì nhũng người thuộc nhỏm trẻ nhất đã di
chuyển nhanh hơn những người thuộc lớp trước họ trong nhũng bước
chuyển liếp vai trò có liên quan đến giai đoạn trướng thành Bước đi nàv đã lăng tốc độ lên trong nhiều năm (xem Hareven 1982; Modell Furstenberg
và Hcrshherg, 1976) do độ tuổi thoát ly gia đình thườna xuvên giám xuỏYiíi Người ta đã phỏng đoán dược những vấn dề có licn quan đến sự chổim chéo các vai trò bới vì nam iíiới trong những nhóm lứa tuổi eần đây ihườníi đồne thời tham <zia vào VÌ1 rời bỏ khỏi nhữns vai trò vị trí chồng chéo nhau tron" các lĩnh vực eiáo dục cône việc, quán đội eia dinh bô mẹ và ma đình
Đề tài nghiên cứu cơ bàn KHXHNV 12
Trang 14riêng của mình Dù cho quá trình già hóa có mang lại hậu quả gì thì ranh giới cấu trúc tuổi với phân tầng tuổi vẫn càng ngày càna được phân biệt rõ ràng hơn trong suốt giai đoạn phát triển đó (xem Kohli, 1985).
,J> ,J>.2 Sự kéo dài của cuộc sống
Mộl trong những khác biệt quan trọng trong quá trình già hóa xuất hiện trong thế kỷ này là sự kéo dài tuổi thọ một cách đáng kể - ở những nước phát triển như Hoa Kỳ tuổi thọ trung bình kéo dài từ dưới 50 tuổi váo năm
1900 cho đcn mức 70 tuổi đối với nam giới và 80 đối với nữ giới vào những năm 1980 Việc những nhóm trẻ nhất sống cho đến khi già manii một ý nghĩa xã hội học đối với hình dạng của quãng đường đời và cách thức mà con người la đi trên những quãng đường ấy một cách chủ quan (Parsons,
1963; Preslon 1976) Nhiều vai trò cũng đã được kéo dài Vai trò kéo dùi
có ììíịIiĨci là kinh nghiệm được tích luỹ, là một khochnỊ thời lỊÍaii có (lự kiến
về m ặt x ã hội (M erton, 1984) cho pliép sắp xế p trật tự cu ộ c dời tlieo nliữiìiỊ
phươniị cách mới Nó cũ nạ có Iiiịhĩa lủ có thêm nhiêu cơ hội íỉé xâv lỉựnạ hoặc lììiỷ 1)0 nlìữiiiỉ cam kết và Iiliững mối quan hệ liên kết (Turner Í970;
Hagestađ, 1981) Quá trình sống kéo dài cho phép giáo dục được kéo dài (Parson và Platt, 1972) Trẻ em các nước thuộc địa ít khi học cao hơn bậc trung học nhưng phần trăm tốt nghiệp phổ thông trung học lăng lén đến 38%- đối với học sinh các nhóm bắt đầu trướng thành hồi đầu thê kỷ và tăna lên trên 70% dối với các em irưởng thành nhữns năm 70 và 80 v ề hưu một việc ít có trong đầu thế kỷ nàv giờ đây chiếm 1/4 cuộc SÔÌ12 trướna thành Các mối quan hệ vai trò được kéo dài: trons nhữna cặp cưới nhau cách đâv một thế kv thì bố hoặc mẹ thườne qua dời trước khi con cái trương thành; imàv nay hai thế hệ có thổ sốnu cùns nhau t run tỉ hình được 40-50 năm (Uhlenbcrg, 1969 1980) N«ày nay bố mẹ và con cái cù nu chia sc với nhau nhiều phần của đời sôníi ó'thế cân bằnc tuổi tác hon so \'ới nliữnu mói
Đẻ' tài nghiên cứu cơ bắn KHXHNV 13
Trang 15quan hệ con cái truởna thành sống độc lập (Hess và Warina, 1978; Menken
1985)
3.4 Tiếp cận so sánh cấu trúc
3.4.1 Quá trinh già hóa và sức khỏe
Một cáu hỏi mang tính phê phán nhưng vẫn chưa được giải đáp về con số tử vong đình trệ: liệu có phải tình trạng sức khoẻ ỏ' một lứa luổi đặc biệt nào
đó được tăng cường từ nhóm người này sang nhóm người khác hay bị suy sụp đi do nhiều người tàn tật hay đau ốm gì đây đã được chăm sóc để vẫn còn sống (xem Feldman, 1983; Manton, 1982) Bài tổng kết các tài liệu xã hội học của Verbrugge một mặt ghi nhận khuynh hướng sức khoẻ íĩiám sút trong những thập kỷ gần đây tại Hoa Kỳ mặt khác cũng lại chỉ ra nhữne việc làm nhằm khuyến khích ngày càng nhiều nhũng biểu hiện sức khoe yếu kém: ngành y tế tập truna vào việc điều trị hơn là phòng bệnh, khuynh hướng kiểm tra để phát hiện sớm các bệnh ung Ihư và các căn bệnh khác cũng như việc người cao tuổi sẩn sàn° viện cứ sức khoẻ yếu kcm đế trì hoãn công việc
•
Mối quan hệ khó hiểu giữa sức khỏe và tuổi thọ kéo dài không chi có ỏ' nsười già mà còn có ỏ' nsười trẻ tuổi Y học hiện đại siữ gìn cuộc sốna cho các trẻ thơ bị mắc nhũng bệnh nan y ở lứa tuổi chúng và giũ' gìn cuộc sốìm cho nhũng nạn nhân trẻ tuổi của các vụ tai nạn, nhữna naười ắt hán sẽ qua đời trong tình hình y tế ngày trước Trons số những phụ nữ ó' tuổi sinh đẻ, kha nãns không sinh sản được đã trỏ' thành một vấn đề cùns với vấn đê aia lãn Sĩ các nhóm không con tron® nhữim năm 60 và 70 Menkcn (1985) đã lưu ý 1'ằim vô sinh sinh học vần được coi là hiện tượng nia tăns đều dặn vào cuối lứa tuổi 30 và đầu 40; vì vậy vấn đé ỏ' dãy là liệu nhữne số liệu so sánh nhóm có thê hiện sự eia tãns IV lệ vỏ sinh có thực sự iiắn liến vói tuổi hay không hav nó chí là kết quá cua các phẫu thuật ke hoạch hoá và nhữnu hiện
Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 14
Trang 16pháp trành thai khác Một yếu lố quan trọng hơn ẩn giấu sau vấn đé này là
sự quan tâm cao độ đến sự vô sinh của các nhà vật lý và các cập vợ chồng không con
'ỏ.4.2 Quá trình chuỵển tiếp các nhóm lứa tuổi và câu trúc tuổi
Bổ sung vào các công trình khác biệt nhóm trong quá trình già hóa là những nghiên cứu về sự đónp góp của đòng luân chuyển các nhóm vào sự hình thành phân tầng tuổi Dòng luân chuyển các nhóm lác động đốn cấu trúc
tuổi của con người iheo hai cách T hứ nhất, cấu trúc tuổi ảnh hưởng đến số
liíựiií’ và kiểu loại người trong một phân táng nào đó bới vì mõi nhóm bắt
đầu quá trình sốna của mình với một quy mô và cấu thành đặc trunq (nhữnc đặc tính di iruyền, tỷ lệ siới tính, tỷ lệ thành phun các chủng tộc khác nhau, v.v ), những Ihuộc tính vé sau sẽ biến đổi do quá trình di dân và do con số các thành vicn lử VOI12 Irons nhóm (như nam thưòrm chết sớm hơn nữ,
nmrời da đen chết sớm hơn naười da trắng) T h ứ lưii, clòiìiỊ liuìn chuyến (inlì
lìit’ở)ii> (IỠI1 n ă n q lực, th á i clộ và li ù n li (ỈỘI11Ị cúíi COII iHiiíừi tr o iìỊ ị m ó t p h â n
tiĩiìíỊ Iiào L Ĩ ó bới vì thành viên của mỗi nhóm đều mang vào tronc cấu*trúc
xã hội nhũn" kinh nghiệm của bàn thân mình cùns với nhũng sự kiện của
xã hội và môi trườn!ĩ sóna mà họ đã tiếp thu trong thời íiian trước đó Khi những lớp n li ười khác nhau cùng tham eia vào trong một phán tầng thì họ ilặp phải những nhu cầu cấp bách về vai trò vị trí của lứa tuổi của nhữne imưừi khác và họ tiếp xúc với nhữna con naười khác nhau Irons các phán tầnu khác nhau, khác biệt vói họ vc tuổi tác và kinh ntihiệm [quãns đời sống tronnl nhóm
Chí có một vài phấn trons cóng Irình xã hội học thám nhập \à o dược hệ lliô im tu ổ i phức tạp nùv dc m ó lá ý n iih ĩa thực SU' cúa m ó i qua n hệ qua lại
"iữa dònii luân chuyên nhóm \’à cáu trúc mõi Mọt vài ntihién cứu mặc dau khôníĩ cùne nmión iZốc dã bắt dau cùnii phán lích dòiiLi luân cluiycn các
Đê tài nghiên cứu cơ bàn KHXHNV 15
Trang 17nhóm tuổi, thông qua những khác biệt về quy mô, thành phần, và kinh nghiệm đời sống của nó, đã tác động như thế nào đến từng cấu hình tuổi cắt ngang Trong mỗi nhóm tuổi thì những loại người khác nhau, tranh giành những vị trí khác nhau trong xã hội sẽ có những cách suy nghĩ và hành động khác nhau.
3.4.3 Quỵ mô nhóm lứa tuổi và cấu trúc tuổi của con người
Tất cả những ai theo dõi nhóm bùng nổ trẻ sơ sinh những năm 50 đều thấy
rõ sự tác động của những khác biệt về quy mô nhóm đến phân tầng tuổi như thế nào Nhóm tuổi này, khi phát triển qua các phân tầng tuổi, đang tạo ra một sự căng thẳng về vai trò và kéo theo sau nó là sự trì trệ vai trò, đòi hỏi việc mỏ' rộng rồi lại thu hẹp hệ thống giáo dục, gây rối loạn những hoạt động điều hành lực lượng lao dộng trong những năm cuối thế kỷ 20, làm tiền đề cho một quá trình già hóa chưa từng có trong dân số vào đầu thố kỷ
21 (xem Espenshade và Braun, 1983), đó là chưa kể đến việc nó tạo ra những những cơn bùne nổ trẻ sơ sinh nhỏ vào nhũng năm 70 và 80 Tuy nhiên nhũng cơn bùng nổ dân số này xảy ra, tạo nên những gián đoạn về
thời gian trong dòng đi xuống dài lâu của con số sinh đẻ và tử vong Cấu trúc xã hội như chúng ta thấy ngày nay phản ánh ít nhất một thế kỷ kinh nghiệm nhóm tuổi và dự đoán trước ít nhất một thế kỷ khác những chuyện xảy ra trong tương lai Những naười thuộc phân tầng tuổi aià nhất hiện nay
đã được sinh ra trong những điều kiện khả năng sinh sản tốt lại có tác động đến nhóm các bà mẹ của họ cách đây một thế kỷ; và những nsười còn sống sót tronơ phân tầng tuổi trẻ nhất hiện nay sẽ lại phụ thuộc vào tình trạng tử vong ảnh hưởng đến nhóm này cho đến tận thế kỷ sau
Những nhóm ra đời một trăm năm trước dược đánh dấu bới tỷ lé tứ vong giám xuốriíi trên toàn thế líiứi ngang bằnII với sự giám xuõYis cua toàn hộ lịch sử trước đó của dân số thế íiiởi (Preston 1976) Tại Hoa Kỳ con số lử
Đế tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 16
Trang 18vong giảm xuống ở những nhóm đầu, khi mà hầu hết là trường hợp tử vong
ở trẻ sơ sinh, đã gộp thêm số người vào quy mô phân tầng tuổi ban đầu Tuy nhiên, gần đây hơn do thành viên của các nhóm kế tiếp ngày càng chống đỡ được bệnh tật của tuổi nhỏ và tuổi trung niên và hầu hết sống đến tuổi 65 cho nên con số tử vong giảm xuống này đã đóng góp một phần vào con số
ngày càng lăng lên những người thuộc plián tầng giữa và gần đày là phân
tầng già nhất, từ tuổi 85 trở lên (Suzman và Riley, 1985) Bởi tuổi thọ tănq
lên đôi với nữ nhanh hơn đối với nam cho nên phụ lìữ chiếm s ố đông trong các phân tầng tuổi giá hơn- cho đến năm 2000 tỷ lệ nữ/ nam dự đoán là
150/100 ở tuổi 65 trở lên và là 350/100 ở tuổi 85 trở lên
Do những khác biệt nhóm về tuổi thọ làm tăng số người trong các phân tầng
tuổi trung niên và lớn tuổi cho nên tất cả tỏ chức x ã hội đều bị tác dộng
Cấu trúc tuổi họ hàng cũng trở nên phức tạp, m ột kh i giò đày nhiều gia đình có bốn th ế hệ còn sống sót', ví dụ năm 1900 chưa đến 1/2 các cặp vợ
chồng trung niên có bố mẹ còn sống trong khi ngày nay một nứa các cặp có
bố hoặc mẹ hoặc cả hai bố mẹ còn sống (Uhlenberg, 1980) Mcnken (1985)
đã sử dụng mô hình khác biệt nhóm theo từng lứa tuổi về tình trạng gia đình
và nhũng n e ười còn SỐI12 để ước tính m ột thay đổi đột biến về thành phần/
tỷ lệ phụ nữ 50 tuổi tronơ phân tầng tuổi lứa trung niên, nhữnc imưừi có mẹ còn sống: tỷ lệ này tăna từ 37% lên đến 1965% giữa những nám 1940 và
1980 Con số này thậm chí còn lớn hơn khi so sánh năm 1980 với năm 1900 hay năm 1890 Menken còn sử dụng các mô hình dể ước lính nhữna ánh hưởng licn hợp của biến đổi nhóm về con số sinh, tử đối với sự cùn" tồn tại tron" một íiia đình có ba thế hộ phụ nữ cùns chung sốns Thời gian dự đoán những phụ nữ sẽ cùnẹ lúc có con dưới 18 tuổi và hố mẹ trẽn 65 tuổi dài nhất là 8 năm vào năm 960 và sau đó lại ciảm xuốna ( vừa phán ánh tuổi tác của bô mẹ còn sôìia tãns lên trong từne nhóm tron" dài hạn vừa phán ánh con số sinh đẻ 2Ìảm.)[ 1 1 ] ĐAI HOC QUỐC GIA HÀ NÔI
ĨRUNG TÂM THÒNG TIN THƯ VIÊM
Để tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 17
Trang 19Bởi vỉ nhữ ng khác biệt của nhóm vê con sô' sinh tử tác động đến quy mô của m ột ph â n tầng tuổi nào đó cho nên nhữ ng thay đổi khác cũng bảo đảm gáy ra tác động Những thay đổi trong cấu trúc gia đình lại kết hợp với
những thay đổi do các khác biệt nhóm liên quan trong các tổ chức khác gây
ra: ví dụ một s ố phụ nữ thuộc phân tầng giữa ỉ à người chăm sóc gia đình
cliính yếu bị kẹt vào giữa bô' mẹ và con cái mình và cũng lại nắm một vai trò tích cực trong lực lượng lao động ( xem Taeuber và Sweet, 1976), và pliải đương đầu với sự giằng co kinh t ế giữa nhu cầu và thu nhập gia dinh theo lứa tuổi như Laverie Oppenheimer (1981) mô tả.
Con sô' người chết giảm xuống trong dài hạn không còn nghi ngờ gì nữa
cũng íỊÓp phần làm giảm s ố trẻ em được sinh ra và dài hạn: từ con số 8-10 trẻ em được sinli ra trên một dầu bà mẹ trong các lớp người thuộc thế kỷ 18 xuống còn 5 trẻ đối với các nhóm giữa thế kỷ 19 và xuống còn xấp xi 2 tre’
trong giai tioạti hiện nay (Taeuber và Sweet, 1976, p.48) Nlìững quá trìnli nổi liên sự S1I\’ iỊÍỞm tỷ lệ sinh với sự giám tỷ lệ tử mang dặc điểm liên quan đến lứa tuổi (Davis, 1963) Thay vì phải sinh cho đủ số để có vài dứa con
còn sống, những nhóm người trẻ tuổi kế tiếp trong đầu thế kỷ ngày càna có độns cơ thúc đẩy sử dụng bất kỳ một biện pháp tránh thai nào đó mà họ được biết để giảm bớt số lần sinh nở, nuôi nấng Menken (1985) đã xem xét những nhóm phụ nữ trẻ gần đây mà về sau đã làm mẹ và nếu có con thì
cũng có ít con hơn và ôns đã nhận xét rằng do tuổi thọ kéo dài nên nltữnx
tliay dổi vè sinlì sản có thê cũnẹ phản ánh sự quan tám của con nsười đến
nhữno nghĩa vụ mà họ phải sánh lấy về láu dài
Dĩ nhicn những nchicn cứu tác dộng của quv mỏ nhóm lên quy mỏ phán tần5 tuổi cũim chí ra những thay dổi có licn quan vé những kicu lứa tuổi kết hỏn và sinh con khác nhau cũng như chỉ ra sự dịch chuyến vai trò mà hổ mẹ trẻ và con ííái lớn nắm siữ Theo Mannheim ( và ca Ryder 1968) thì số liệu
Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 18
Trang 20nhân khẩu về quy mô và thành phần đã cung cấp cơ hội lý giải quá xã hội
và biến đổi xã hội học nhưng lại không lý giải được bất kỳ một đặc điếm nào của bất kỳ một biến đổi nào Cũng như tất cả quá trình xã hội học khác, dòng luân chuyển các nhóm lứa tuổi được thể hiện và hiện thực hoá thông qua những mối quan hệ xã hội được cấu trúc hoá, phản ánh những ràng buộc với các vị trí xã hội, với các chân giá trị và sự quan tâm cá nhân của những người tham gia, nó cũng phản ánh mối quan hệ qua lại của những cấu trúc vai trò theo lứa tuổi Hơn thế nữa, những quá trình này hoạt động không chỉ như trong một hệ thống hoàn chỉnh là xã hội mà còn trong cả những hệ thống nhỏ hơn, nơi sự gia nhập và rời bỏ các nhóm tuổi kế tiếp tạo nên một cấu trúc tuổi Ví dụ, Zuckerman và Merton (1972) đã cho thấy bằng các nào con số ngày càng tãng những nhà khoa học trẻ mới được đào tạo, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, đã tạo nên một “ảnh hưởng thanh thiếu niên” đối với cấu trúc tuổi của các nhà khoa học; hoặc bằng cách nào một số những nhóm mới các viện sĩ hàn lâm đang dẫn đấu quá trình già hóa của tập thể các giáo sư
Đê tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV19
Trang 21PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1:
TỔ NG T H U Ậ T MỘT s ố LÝ TH UYẾT XÀ HỘI HỌC VỀ LỨA T U ổ l
Kiến thức xã hội học thường được phân chia thành kiến thức vĩ mô và kiến thức vi mô Xã hội học vi mô có khuynh hướng tập trung vào hành động của cá nhân trong các nhóm, các nhóm ảnh hưởng tới chúng ta, tới những giá trị, niềm tin và hành vi của chúng ta như thế nào Xã hội học vĩ mô tập trung vào phạm vi rộng và cấu trúc của xã hội, mối quan hệ giữa các nhóm
và các cấu trúc
Trong xã hội học có 3 lý thuyết chính đó là: thuyết chức năng, thuyết xung đột và thuyết lương tác Mỗi lý thuyết có cấp độ tiếp cận khác nhau và giải quyết nhũng vấn đề khác nhau
1 LÝ TH U YẾ T C ơ CẤU CHỨC NĂNG
1.1 Vị trí của thuyết cơ cấu chức năng trong xã hội học
Trong suốt nửa đầu thế kỷ 20, sự định hướng tổng quát do Durkheim phát triển đã là quan điểm chiếm ưu thế trong xã hội học ở Mỹ Thuyết chức năng trong chốc lát đã dường như là lý thuyết thực sự duy nhất trong món học
Vào cuối những năm 1950 thuyết chức năng bắt đầu đi vào phòng níiự chống lại các cuộc tấn công ngày càng tăng của những quan điểm khác: từ
lý thuyết hành động xã hội tới các lý thuyết xung đột
Tuy nhiên trong nửa đầu thế kỷ dó, thuyết chức năng đã cuim cấp một quan
niệm rất khái quát đã liên kết nhiều nhà xã hội học, nliữiii> Iiíịười miiún
Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV20
Trang 22nghiên cứu nhũng hoạt động của x ã hội như là một tổng th ể (âược gọi là xã
hội học vĩ mỏ) và những người muốn đưa ra giải thích về các hiện tượng xã hội mà không tìm kiếm những trả lời trong sự cố tình hay vô ý thức của các chủ thể Thuyết chức năng đã cố gắng khám phá những ý nghĩa thực của các thể chế xã hội theo nghĩa cách thức chúng giúp đỡ cho sự tồn tại và sức khoẻ của toàn bộ tổ chức xã hội
1.2 Nội dung chính của thuyết cơ cấu chức năng
Thuyết chức năng nhìn nhận xã hội như một dạng cơ cấu trong đó từng bộ phận một đều có một chức năng cụ thể Mỗi chức năng đó có thể xác định được nhầm để duy trì hệ thống xã hội tổng thể
Tất cả các hình thái xã hội dù lớn hay bé đều hướng tới trạng thái cân bằng Các thành phần trong xã hội phải hoạt động hoàn hảo và không có xung đột Mỗi Ihành phần trong xã hội đều có mối quan hệ khăng khít với thành phần khác để đảm bảo sự duy trì hệ thống tổng thể chung
Trong bối cánh của xã hội châu Âu nhìn chung, thì nhà lý thuyếl chức năng
nhấn mạnh vào Trật tự, S ự hài hoà, hợp nhất và sự lành m ạnh x ã hội
Điều này là không đáng ngạc nhiên khi lịch sử châu Âu vào thế kỷ XX với hai cuộc chiến tranh thế giới của nó, tội diệt chủng và những xung đột về giai cấp và hệ tư tưởng Điều đáng chú ý là các nhà xã hội học Mỹ như Parsons phải đồns ý với Durkheim rằng các quan điểm theo thuvết chức năng là giái thích sáng tỏ nhất đối với thế giới đương thời được đặc trưng bở những sự kiện như vậy Đối với họ thuyết chức năna đã đưa ra một quan điểm vạn năng về cấu trúc xã hội và trona trường hợp của Parsons thì thuyết vạn năng chủ nghĩa có thê áp dụng được đối với mọi phạm vi cúa đời sống
Trang 23- Thuyết chức năng thành phần theo hai thể loại là thuyết chức năng nhu cầu: Levy hay Parsons
- Thuyết chức năng -tương tự: Merton hay Gouldner
- Thuyết chức năng tiến hoá từ Parsons tới Luhmann
- Thuyết chức năng lịch sử mà đại diện lại là: Parsons và Luhmann
Cancian đưa vào một loại hình học khác cho thuyết chức năng cấu trúc với nhận xét rằng các tiền đề của thuyết chức năng chỉ có điểm chung là: "mối quan tâm tới việc tạo mối liên quan của một phần này của xã hội hay một hệ thống xã hội với một phần khác hay một phương diện khác của tổng thể"
1.3 Vai trò của thuyết cơ cấu chức năng trong nghiên cứu lứa tuổi
Cách tiếp cận chức năng luận: Disegagement theory
Elaine Cumming và William Henry ( 1961 ) đã đưa ra cách giai thích về tác
động của già hóa được biết đến với tên lý thuyết kliôinỊ liên kết
(clisenqagement) Lý thuyết này đặt cơ sở trên nghiên cứu về người.già trong hoàn cảnh kinh t ế khá đầy đủ và có sức khỏe tốt, cho rằng xã hội và
cá nhân già hóa chia rẽ lẫn nhau nhiều mối quan hệ của họ Kế thừa quan điểm của thuyết chức năng, lý thuyết khônơ liên kết nhấn mạnh rằng sự ổn định của xã hội được đảm bảo khi mà các vai trò xã hội được chuyến giao
từ thế hệ này sang thế hệ khác
Theo lý thuyết này, cách tiếp cận đối với cái chết buộc con người giảm dần nhũng vai trò xã hội của họ - ví dụ vai trò của neưừi công nhân, na ười tình nguyện, người chổne vợ, sứ thích dam mê và thậm chí là n<zười dọc Những chức năng này được các thành viên trẻ hơn của xã hội Ihực hiện Một con người đang già đi rút khỏi irạne Ihái tăng dần tình trạnn kém hoạt động tron2 khi đón chò' cái chết Cùng lúc đó xã hội cách ly Iiíiười íiià ra
Đẻ tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 22
Trang 242.3 Vai trò của lý thuyết xung đột trong nghiên cứu lứa tuổi
Các nhà lý thuyết xung đột phê phán cả lý thuyết không liên kết lẫn thuyết hoạt động đã thất bại trong việc xem xét tác động của cấu trúc xã hội tới khuôn mẫu của lứa tuổi Các cách tiếp cận đó khống nỗ lực trá lời được câu hỏi tại sao tương tác xã hội “phải” thay đổi hay giảm đi vào tuổi già Thêm vào đó, những quan điểm này thường xuyên lờ đi những tác động giai cấp
xã hội tới đời sống của người già
Vị trí đặc quyền của tầng lớp trên nói chung dẫn đến họ có điều kiện thể chất và sức khỏe tốt hơn và ít có khả năng đối diện với sự lệ thuộc vào tuổi già Sự sung túc không thể ngăn chặn tuổi già đến lúc nào, nhưng nó có thể làm mềm hóa những khó khăn về kinh tế phải đối diện trong những năm cuối cuộc đời Tương phản lại, công việc của giai cấp côn" nhãn thường xuyên phái làm việc nặng hơn, có nhiều rủi ro về sức khỏe hơn và nguy cơ
ốm yếu cao hơn: tuổi già sẽ khó khăn hơn đối với nhũ'ng ai phái chịu đựng những tổn thương liên quan đến nghề nghiệp hay ốm đau Giai cấp công nhân cũng phụ thuộc nhiều hơn vào trợ cấp của an sinh xã hội hay các chương trình lương hưu tư nhân
Các nhà lý thuyết xung đột chú ý tới sự chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp hóa và chủ nghĩa tư bản không phải luôn luôn đem lại lợi ích cho người già Khi phương thức sản xuất của xã hội thay đổi, vai trò giá trị truyền thống của người già trong nền kinh tế có khuynh hướng xói mòn Mặc dù có những kế hoạch về lương hưu, quỹ nghỉ hưu, và trợ cấp báo hiểm có thể được phát triển đẽ giúp đỡ người già
Cách tiếp cận xung đột xem cách đối xử với người già ờ Mỹ như là sự phản ánh của những phân chia trong xã hội Từ quan điếm xung đột, vị trí thấp của người già được phàn ánh trong sự phân biệt đối xử và định kiến chôn2
lại họ, sự phàn biệt lứa tuổi và các công việc không cóne bằng đana diễn ra
Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV1A
Trang 25khỏi nơi cư trú ( nhà dưỡng lão và cộng đồng ở các nước tiên tiến), 2Ìáo dục ( những chương trình thiết kế chỉ cho những công dân đã về hưu ), giải trí (
những trung tâm xã hội cho các công dân đã về hưu ) H àm ý của lý thuyết
khôn g liên kết là quan điểm các x ã hội s ẽ giúp đỡ nhữ ng người già thoát khỏ i các vai trò x ã hội quen thuộc của họ.
2 LÝ T H U Y Ế T XUNG ĐỘ T
2.1 Vị trí thuyết xung đột trong xã hội học
Sự phát triển của thuyết xung đột dược xem như là một sự phản ứng đổi với thuyết chức năng K Marx, G Simmel được xem như là những nhà lý thuyết xun« đột đầu tiên Thuyết xung đột phát triển mạnh mõ vào những năm 1950 và 1960, nó đã thay thế cho thuyết chức năng Nhưng gần đáy, sự phát triển của lý thuyết tân Marxist đã thay thế cho thuyết xung đột
2.2 Nội dung chính của thuyết xung đột
Cũng aiống như các nhà chức năng luận, các nhà lý thuyết xung đột cũng
đặt trọng tám nghiên cứu vé cấu trúc và thé ché x ã hội Nhưng quan điếm
•
của họ về vấn đề này lại đối lập với các nhà chức năng luận Chẳng hạn
nếu như các nhà chức năng luận xem xã hối là mốt trang thái lĩnh hoặc có
quan điểm xem xã hội là trang thái chuyển dồng thăng bàng, thì các nhà
x u n g dột lại cho rằn2 x ã hội trong m ọi thời điểm đều hướng tới quá trình biến đổi Các nhà xun2 đột nhìn nhận thây sự bất đồng và xune đột ó' bát kv một thòi điếm nào tron2 hệ thống xã hội thì các nhà chức năns lại đề cao tính trật tự của xã hội Xu hướng của các nhà chức năng coi xã hội được duy trì và liên kết nhờ các giá trị và nền tảng đạo đức chune còn các nhà xung đột luôn chỉ ra tính trật tự của xã hội là sự áp bức cua một số người có
vị trí ớ trcn cùn ù Hay nói cách khác, các nhà chức năn" nhấn mạnh tới vai trò của giá trị tron2 sự cô kết xã hội thì các nhà xun" đột lại nhấn mạnh vai trò của quyền lực trong việc duy trì trật tự xã hội
Đềtàinghiên cứu cơ bản KHXHNV23
Trang 26- không cái nào được nhắc đến trong cả lý thuyết hoạt động lẫn lý thuyết không liên kết
3 LÝ T H U Y Ế T TƯƠNG TÁC BIÊU TRƯNG
3.1 Vị trí của thuyết tương tác biểu trưng trong xã hội học
Về mặt địa lý, lý thuyết chức năng - cấu trúc thống trị ở vùng bờ biển Đôna nước Mỹ trong khi đó vùng Trung Tây là nơi lý thuyết tương tác biểu trưng ngự trị Vào những năm 1940, thuyết tương tác biểu trưng xuất hiện khắp vùng Trung Tây với các đại biểu như Amold Rose ờ Minesota, Robert Habenstcin ở Misouri, Gregory Stone ở Michigan và đặc biệt là Manĩord Kuhn ở Iowa Trường phái tương tác biểu trưng ra đời khống gắn với tên tuổi các thành phố lớn, nổi tiếng với sự bóc lột công nhân ớ London, New York, Calcutta hay Detroit mà ớ một thành phố nhỏ - Chicago
Trường phái tương tác biểu trưng ra đời gắn liền với tên tuổi của George Herbert Mead naười đã dành suốt thời gian từ 1894 - 1931 tại trường Đại học Tổng hợp Chicago Mặc dù Mead không phải là người đưa ra thuật ngữ
“ tương tác biểu trưng” cũng như chưa bao giờ tự cho minh là người sáng lập ra một trường phái xã hội học mới nhưng những tư tưởng của ông trong các bài giảng về tâm lý học xã hội tại khoa Triết được nhiều sinh viên xã hội học tới nghe giảng đã đặt nền móng cho sự phát triển của trường phái tương tác biểu trưng
Nhưng vào giữa những năm 1930, trường phái Chicago bắt đầu suy tàn với
sự ra đi của Park và cái chết của Mead tronơ khi đó, lý thuyết tương tác biểu trưng lại không hề suy tàn mà sau một thời gian, nó đã giành được chỗ đứng cho mình Đến những năm 1950, trường phái Chicago tiếp tục có những ảnh hưởng mạnh tới xã hội học, đã đào tạo được những nhà xã hội học nổi tiếng như Anselm Strauss và Arnold Rose và cá Everett Hughes -
Để tài nghiên cứu cơ bàn KHXHNV 25
Trang 27người có vài trò trung tâm trong việc phát triển xã hội học nghề nghiệp Nhưng người đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự phát triển của trường phái Chicago nói chung và lý thuyết tương tác biểu trưng nói riêng
đó chính là Herbert Blumer (1900 - 1987) H Blumer kế tục những quan điểm của Mead về tâm lý học xã hội sau khi Mead chết và tự coi mình như
là học trò của Mead, là người thừa kế những tri thức của Mead Thuật ngữ
“tương tác biểu trưng” chính thức do H Blumer đưa ra vào năm 1937 Ông cũng là người tiếp tục việc phát triển lý thuyết xã hội học theo cách tiếp cận của Mead, Cooley, Ông cũng viết một số tiểu luận về thuyết tương tác biểu trưng và duy trì sự phát triển của lý thuyết này cho tới những năm
1950, bởi vì từ năm 1930 - 1935, ông là thư ký Hiệp hội xã hội học Mv và năm 1956, ông là Chủ tịch của hiệp hội này Ngoài ra, ông còn là biên tập viên của tờ Tạp chí Xã hội học giũa những năm 1941 - 1952 Chính địa vị của H Blumer đã tạo ra nhữna điều kiện thuận lợi cho sự phát triển trường phái tương tác biểu trưng.[ 12:192-193]
3.2 Nội dung chính của thuyết tương tác biểu trưng
a) N hữ ng nguyên tắc cơ bản của thuyết tương tác biểu trưng [ 12]
1 Loài người không nhu' loài vật, được thiên phú cho khả năng tư duy
2 Khả năng tư duy được hình thành thông qua tương tác xã hội Nguyên tắc này cho phép ta phân tích các quan hệ xã hội và bản chất tư duy của con người
3 Trons tương tác xã hội, mọi người có thể học được các ý nghĩa và các biểu tượng cho phép họ thực hành khả năng tư duv riêng biệt của loài neười của họ Nguyên tấc này giải thích xã hội đa dạne mà không đồng nhất
4 Các ý nghĩa và các biểu tượng cho phép moị ncười thực hiện hanh động và tương tác man" tính con người riêng biệt
Đê tài nghiên cứu cơ ban KHXHNVlh
Trang 285 Mọi người có khả năng biến đổi ít hay nhiều các ý nơhĩa và các biểu tượng mà họ sử dụng trong hành động và tương tác trên CO' sở sự diễn dịch của họ về hoàn cảnh
6 Mọi người có thể thực hiện những bổ sung và thay đổi này bới vì một phần nhờ khả năng tương tác với nhau của họ, cho phép họ kiểm nghiệm các dạng hành động khả dĩ, định giá các thuận lợi và bất lợi lương đối và đưa ra phương án lựa chọn hợp lý
7 Chính mô hình hành động đã được hòa trộn, đan xen vào nhau vàtương tác đã tạo ra nhóm cũng như xã hội [12:209]
b) M ột s ố kh á i niệm cơ bản của trường p há i tưong tác biểu trung
I, Mc và Self [12:203]
Theo Mead, Self được cấu thành từ phần là I và ME I là “ khía cạnh chủ quan “ và ME là “khía cạnh khách quan” Trong việc thực hiện quá trình hành clộns, về mặt tinh thần, con người có hai cách nhìn nhận, lựa chọn một
trong hai cái I và ME H ành vi của con người là kết quả của sự tác dộng
bên trong và sự tưong tác qua lại lẫn nhau giữa hai thành phẩn của
SE LF Cái I thường xuyên thực hiện sau khi cái Me tính toán trước khi
hành động, nhưng đôi khi, hành vi của con người tự phát, đổi mới và không
dự đoán được Điều đó là do cái ME khôns kiếm soát được sự bốc đồne của cái I
Trang 292 Những biểu tượng được tạo ra tuỳ thuộc vào mục đích giao tiếp và thay thế.
3 Những biểu tượng được sử dụng có chủ đích trong các tình huống
4 Những biểu tượng không được ổn định, ý nghĩa phụ thuộc vào cách mà các nhóm đặc thù sử dụng chúng
Vai trò của biểu tượng
a Những biểu tượng đóng vai trò sống còn trong tổ chức xã hội của con người Mọi tổ chức xã hội đều lệ thuộc vào biểu tượng để giao tiếp, hợp tác, giải quyết các vấn đề
b Những biểu tượng cũng là trọng tâm đối với tư duy con người Những biểu tượng cho phép chúng ta phân tích hoàn cảnh, xác định chúng, áp dụng những kinh nghiệm trong quá khứ vào hoàn cảnh mới, nghĩ tới hậu quả của hành động trước khi chúng ta hành động
c Những biểu tượng làm chúng ta học dễ dàng hơn Chúng cho phép chúng ta phân loại các kinh nghiệm và những điều chúng ta đã học được
d Sự tưởng tượng tuỳ thuộc vào các biểu tượng Biểu tượng cho phép con người tưởng tượng và lĩnh hội thực tiễn vượt ra ngoài cái cụ thể, một thực tiễn hoàn toàn trừu tượng: Thượng đế, tình yêu tự do, trung thực, tốt, xấu - tất cả đều có ý nghĩa quan trọng đối với cái chúng ta thực hiện: tất cả là các biểu tượng
3.3 Vai trò của thuyết tương tác biểu trưng trong nghiên cứu lứa tuổi
Tron” truyền thống tương tác biểu trưng, lý thuyết được vận dụna vào nghiên cứu lứa tuổi, đó chính là lý thuyết hoạt động (activity thcorv) Thuyết này cho rằna nhữne nmrời già vẫn còn tính năng động sẽ thích n g h i được tốt nhất Những Iiaưừi đề xướng quan niệm này cho ràníi khi con
Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV2X
Trang 30người ta bước vào tuổi 70 có thể không còn đủ khả năng và khát vọng thực hiện các vai trò xã hội đa dạng mà họ có vào độ tuổi 40 Họ cho rầng những người già về cơ bản vẫn có nhu cầu tương tác xã hội như độ tuổi trung niên.Các nhà lý thuyết hoạt động chỉ ra rằng những hoạt động trong cuộc đời một người luôn thay đổi không ngừng Do đó, người già, cũng giống như những người ở các giai đoạn sớm hơn của vòng đời - có quyền thay thế các hoạt động trước kia bằng những sự theo đuổi mới Các nhà lý thuyết hoạt động tin rằng những người già vẫn có thể duy trì các hoạt động của lứa tuổi trung niên và là thành viên hoàn chỉnh của thế giới xã hội.
Các nhà lý thuyết hoạt động cho rằng sự tách rời khỏi xã hội là nguy hiểm cho cả người già lẫn xã hội Theo quan điểm của họ, các công dân khi về già cảm thấy hài lòng khi mà họ cảm thấy mình còn có ích đối với xã hội
4 Q UÁ TR ÌN H XÃ HỘI HÓA CÁ NHÂN
4.1 Bản chất con người
Trước hết, khoa học đã chứng minh được rằng: Con người vừa là mộrđơn
vị sinh lý, có sinh, có tử, có hệ thần kinh phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, là “ con vật” biết lao động và có ngôn ngũ'; nó vừa là một đơn vị biết phải trái, trắng đen, biết kết bè, kết bạn, biết làm điều thiện, điều ác; nó vừa là một đơn vị tâm lý biết yêu thương, giận hờn, biết lư duv trừu tượng, biết đam mê, biểu cảm Các khoa học Triết học, Tám lý học,
Xã hội học, Sinh vật học., hoặc bất kỳ một khoa học nào liên quan đến việc nghiên cứu về con người, về quá trình lịch sử tự nhiên của đời sốns con người đều không bỏ qua những khía cạnh đã được nêu trên Từ hướng tiếp cận Xã hội học, Tâm lý học chúng tôi đặc biệt quan tâm đến con imười với
tư cách là một sinh vật xã hội Có nghĩa là cái sinh vặt và cái xã hội hoà vào nhau tạo nên bản chất con người Không có cái xã hội thuần tuý cũng
Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV 29
Trang 31như cái sinh học thuần tuý tồn tại độc lập tách rời nhau Sinh học là tiền đề cuả xã hội, xã hội là tiền đề để phát triển sinh học Sự kết hợp giữa cái sinh học với cái xã hội tạo thành bản chất người.
* Khẳng đỉnh con người Cả mô t siníi v â t xà Hôi, nhưng xã hội học không
quá nhấn mạnh tới các yếu tố bẩm sinh di truyền, bản năng tự nhiên để giải thích cách thức hành động, lối sống của con người, hoặc để giải thích trình
độ văn minh của một quốc gia hay một chủng tộc Đành rằng nguồn gốc động vật của con người không còn là điều phải bàn cãi với đầy đủ tính loài cùng với những nhu cầu tổn tại Và tất nhiên, đã là con người không thể không mang cái bản tính sinh học Song ngoài các quy luật sinh vật học tạo thành phương diện sinh học của con naười, còn có các quy luật tâm lý- ý thức hình thành và hoạt động trên nền tảng sinh học đó, còn có các quy luật
xã hội quy định mối quan hệ giữa con người với con người Ọuy luật này cùng tổn tại trong một con người hiện thực, cùng đồng thời diễn tiến, cái nọ phụ thuộc cái kia, chi phối thúc đẩy nhau trong một chỉnh thể hoàn thiện.Với phương pháp luận khoa học, Xã hội học không đối lập cái bản chất lự nhiên, sinh học với cái bản chất xã hội trong mỗi con người cụ thể Tính di truyền, bẩm sinh, cái “sien” sinh học có thể đưa lại kết quá một cặp trẻ song sinh giống nhau từ khuôn mặt đến vóc dáng, hoặc một đứa trẻ nhờ cái
“gien” của người cha mà trỏ' thành “thần đồng âm nhạc” Nhưns khỏns thế cho rằng mọi hành vi xã hội của con người, dù đó là xấu xa, là lốt đẹp đều
bị quy định bới nguyên nhân sinh học Trong nhiều khảo sát xã hội học dã cho thấy ngay cả những người tật bệnh, đui què nhữns neười bị xã hội coi
khinh, ruồng bỏ, nhĩnm kẻ diên khùng hay những tên tội phạm đéu có licrn năng trỏ' lliùnh nhũng người có hành vi theo đúne khuôn mẫu xã hội noi họ dang sông Vậv thì làm sao chí đcm cái sinh học mà Líiái thích mội cách đầy đủ cách thức họ đanu cố gắne làm đế nhanh chóng trỏ lại hội nhập vó'i
xã hội J.Fichter nhà Xã hội học người Mỹ dã từng hán khoăn, trán irớ
Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNVM)
Trang 32trước những hiện thực cuộc đời: cái gì đã làm cho người ta hành độna như vậy? Tại sao có quốc gia phát triển trong khi một số khác lạc hậu? Tại sao trong một thế giới văn minh vẫn còn những bộ lạc chưa khai hoá? Và bằng những nghiên cứu, điều tra thực nghiệm ông đã bác bỏ những nguyên nhân
di truyền, sinh lý cùng những quan niệm duy tâm huyền bí, tin vào thần thánh, chúa trời Chúa trời nào sinh ra các chủng tộc da trắng hoặc da màu? Chúa trời nào sinh ra sự bất bình đẳng, miệt thị dân tộc, trọng nam khinh
nữ, dốt nát và đói nghèo? Không có sự cao quý và hạnh phúc nào mà không đòi hỏi sự tranh đấu của con người Một nước Nhật phát triển không thể giải thích bằng sự giàu có về tài nguyên khoáng sản, bởi tự nhiên đâu có ưu đãi người Nhật Những cuộc xung đột sắc tộc đẫm máu trên thế giới mới đây
do con người tiến hành phải đâu do bản năng sinh tồn hay một nguyên nhân bệnh hoạn cuả con người Thật phức tạp khi giải thích nguyên nhân các sự kiện đó, nhưng chắc chắn một điều rằng chỉ có thể” giải thích một hiện tượng xã hội này bằng một hiện tượng xã hội khác, một tổng thể xầ hội này với một tổng thể xã hội khác”( Durkheim- Nhà XHH Pháp) Nói như vậy cũng không phải có ý nahĩa là cái sinh học không hề can thiệp vào các hoạt
«động tự nhiên, xã hội đó của con người Xét về bản chất tự nhiên, cái sinh học của Người là tiền đề phát sinh và chứa đựng nhièu nhu cầu, những nhu cầu đó bị ức chế bởi khả năng xã hội trong việc thoả mãn chúng, bới vậy “ thoả mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu sinh học của con người, làm cho người này càna tồn tại hợp lý hơn, thoả mãn các nhu cầu sinh học văn minh hơn đó ]à mục đích của các hành vi xã hội” ( Triết học Mác-Lcnin NXB giáo dục, 1995, tr.l 15)
*'Kfiẳnạ cíiníi CÁIXà ĨÍÔI ơ con ngư ời: Nhữniĩ sì đã được trình bày trcn đây
hẳn chưa đủ làm rõ cái ticn đề lự nhiên, cái sinh học tron" con người, nhưng điều mà người viết muốn khẳng định lại là : khôníi tuyệt dôi hoá cái sinh học mà luôn đồne nhất nó với cái xã hội Có the coi: “ Xã hội như mội
Đẽ tài nghiên cứu cơ bắn KHXHNV 31
Trang 33con tầu, chỉ khi nào con người bước lên con tầu xã hội đó thì mới trở thành con người xã hội”( Sabran, nhà XHH Pháp) Vậy là xã hội học luôn nhìn nhận con người không phải ở trạng thái cô lập riêng lẻ mà là con người xã hội, là thành viên của xã hội loài người, một xã hội có tính tổ chức cao nhất.Cái xã hội là ranh giới phân biệt giữa người và vật nhưng khả năng có “ xã hội tính” và có thể học hỏi để trở thành một n g ư ờ i có “xã hội tínn” của con người là bẩm sinh ( J.Fichter) Như vậy không thể xem nhẹ yếu tô' tự nhiên, sinh học, những tiềm năng xã hội nguyên thuỷ trong quá trình xem xét cái
xã hội của con người Tuy vậy vẫn phải thừa nhận tầm quan trọng của khía cạnh xã hội trong quá trình hình thành nhân cách Cái xã hội mà xã hội học nghiên cứu là môi trường xã hội mà con người là thành viên của nó Con người hoà nhập vào xã hội ( chứ không hoà tan trong đó) trở thành con người xã hội, vừa có khuynh hướng kết hợp với người khác, lại vừa có nhu cầu tương quan với người khác.Một minh hoạ bằng thực tiễn cho thấy tầm quan trọng của khía cạnh xã hội, đó là trường hợp đứa bé sói Đứa bé sơ sinh được bẩy sói cứu sống và nuôi nấng trong nhiều năm Khi đứa bé được người ta tìm thấy và đưa nó trở lại xã hội con người, nó đã khỏng trở thành con người được nữa Cũna ví như một đứa bé sơ sinh được nuôi nấng tại đất khách quê người hẳn nó sẽ có cách ứng xử, nhữns khuôn mẫu, những hành
vi khác với cộng đồng người đã sinh ra nó Hoặc giả một người sô'nơ ở làng quê hẻo lánh không thể khôna bỡ ngỡ với lối sống thị thành Một người Ân
Độ giống người Nsa bởi cả hai đều là con người, sinh ra đã có tiềm nãng, ý chí và tình cảm, còn sự khác biệt của họ do môi trường xã hội văn hoá lionií dó mỗi người sinh ra và lớn lên
Như vậy môi trường xã hội đã đóng vai trò quyết định trona việc truvền đạt những khuôn mẫu nhân cách của một nhóm xã hội hay của một cộng dồng
Song, một lần nữa cũn” cán nhấn mạnh rằng: không dược tu vệt dối hoá cái
Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNV32
Trang 34hội mà phải đồng nhất nó với cái sinh học để nghiên cứu về một con
4.2 Các môi trường của xã hội hỏa cá nhân [3:260-262]
Môi trường xã hội hóa là nơi các cá nhân có thể thực hiện thuận lợi các tương tác xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận và tái tạo kinh nshiệm
xã hội
Có một số mối trường xã hội hóa quan trọng, đó là gia đình, nhà trường, các nhóm thành viên và thông tin đại chúng
Gia đình Đây là môi trường xã hội hóa quan trọng nhất và đầu tiên của cá
nhân Bởi hầu hết các cá nhân đều sinh ra và trưởng thành trong môi trường gia đình Mỗi gia đình đều có một tiểu văn hóa riêng được xây dựng trên nền táng vãn hóa chung Các cá nhân trong quá trình trướng thành sẽ tiếp thu các giá trị, chuẩn mực của tiểu văn hóa này thông qua các thành vicn gần gũi của gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị Quá trình xã hội hóa không chi diễn ra khi cá nhân còn nhỏ mà còn diễn ra khi các cá nhân trưởng thành, tự thành lập gia đình riêng của mình, khi đó các cá nhân cần thích ứng với vị trí, vai trò người chồne, người vợ của mình Tức là quá trình tiếp nhận các giá trị các khuôn mẫu hành động mới
Trường học và các rô chức xã hội trước môi đi học Vườn tré, nhà mẫu giáo
là những nơi mà trẻ em thực hiện hoạt động vui chơi và học tập bước dấu của mình Thông qua các hoạt động này tre em tiếp nhặn nluìntỉ kiến thức đầu tiên vé tự nhiên và xã hội qua đó thực hiện các giao liếp va hình thành
Đề tài nghiên cứu cơ bàn KHXHNV 3 3
Trang 35các mối quan hệ xã hội Hoạt động cơ bản của trẻ em tại môi trường này là học tập các kiến thức khoa học cơ bản về tự nhiên, xã hội và kiến thức văn hóa làm nền tảng cho cuộc sống sau này Tuy nhiên, những kiến thức đó chỉ là những kiến thức trực tiếp về vai trò, là những tri thức nền cho việc thực hiện vai trò.
Nhóm thành viên đó là các nhóm mà cá nhân là thành viên, ví dụ: nhóm
sinh viên, nhóm người hâm mộ ca sĩ, Các nhóm này đóng vai trò quan trọng trong việc xã hội hóa cá nhân bằng con đường chính thức và phi chính thức Đây là môi trường xã hội hóa quan trọng thứ hai sau gia đình, vì trona
xã hội, mỗi cá nhân luôn đóng những vai trò khác nhau trong những khoảng thời gian và không gian khác nhau
Thônạ tin đại chítnq Vai trò của thông tin đại chúng đối với quá trình xã
hội hóa cá nhân trong xã hội hiện đại ngày càng quan trọng Các thông tin đại chúng cung cấp cho các cá nhân những định hướng và các quan điểm dối với cá sự kiện và các vấn đề xảy ra trong cuộc sống hàng ngày
4.3 Các giai đoạn của quá trình xã hội hóa cá nhân
Có nhiều quan điểm khác nhau về các giai đoạn của quá trình xã hội hóaTheo Mead, quá trình xã hội hóa trải qua 3 giai đoạn: [3:265-269]
Bắt chước: đây là giai đoạn mà đứa trẻ sao chụp lại nhữns hành vi của những người xunơ quanh mà chưa hiểu ý nghĩa của các hành vi đóĐóng vai: đây là giai đoạn đứa trẻ đã nhận thức được các hành vi lương ứng với các vai trò nhất định Chúng bắt đầu tập đóng vai làm bố làm
mẹ trong các cuộc chơi Qua dó, hình thành dần khả năng hiểu suy nuhĩ và hành dộng của người khác trong quá trình thực thi các vai trò dó
Đê tài nghiên cứu cơ bản KHXHNVM
Trang 36Trò chơi: đây là giai đoạn mà đứa trẻ biết được sự đòi hỏi không phải chỉ của cá nhân nào đó mà còn của cả xã hội Đứa trẻ bắt đầu hình thành một khái niệm về người khác khái quát.
Còn Adreeva lại chia quá trình xã hội hóa thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn trước lao động: bắt đầu từ khi con người sinh ra cho tới khi bắt đầu lao động chính thức Giai đoạn này gồm 2 thời kỳ: thời kỳ trẻ thơ và thời kỳ thanh, thiếu niên
Giai đoạn lao động: bắt đầu từ khi con người bước vào quá trình lao động chính thức cho đến khi kết thúc quá trình này Hoạt động chủ đạo của
cá nhân trong giai đoạn này là lao động trí óc hoặc lao động chân lay Các
cá nhân tiếp thư các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực của xã hội thông qua quá trình lao động Giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình
xã hội hóa
Giai đoạn sau lao động đó là khi cá nhân kết thúc quá trình lao động của mình, về nghi hưu Xung quanh vấn đề xã hội hóa trong giai đoạn này, còn nhiều tranh cãi Có quan điểm cho rằng không có xã hội hóa ở giai đoạn này vì các chức năng xã hội của cá nhân đã bị thu hẹp lại Còn quan diêm khác lại cho rằng cần nhìn nhận một cách tích cực đối với quá Irình xã hội hóa ỏ' giai đoạn này, người già đóng vai trò quan trọng trong việc tái tạo lại kinh nghiệm xã hội
Để tài nghiên cứu cơ bàn KHXHNVĨ5
Trang 37Kết luận
Các nội dung lý thuyết đã nêu trên đáy góp phần không nhỏ vào việc
nghiên cứu lứa tuổi dưới góc độ x ã hội học Dù tiếp cận theo trường phái
nào: trường phái chức năng, trường p há i xu n g đột hay trường p há i
tương tác biểu trưng, chúng đêu có ý nghĩa nhấn m ạnh tới hoặc là vai trò
của giá trị, hoặc vai trò của quyền lực trong việc tổ chức x ã hội, duy trí
trật tự x ã hội, bảo đảm sự c ố kết x ã hội, trong đó m ỗi con người ở lứa
tuổi nào cũng nắm giữ các địa vị, vai trò tương ứng, có ảnh hưởng có
quan hệ với nhau và đặc biệt có quá trình x ã hội hóa đặc trung.
Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNVM)
Trang 38CHƯƠNG 2:
LỨA TUỔI DƯỚI GÓC ĐỘ TÂM LÝ HỌC - M ỘT s ố Đ Ặ C TRƯNG
C ơ BẢN
Một khoa học rất gần gũi và có quan hệ mật thiết với khoa học Xã hội học,
đó chính là khoa học Tám lý học Những thành quả nghiên cứu về con người, về xã hội của con người dưới góc độ Tâm lý học sẽ là những đóng góp quan trọng đối với Xã hội học không chỉ trên lĩnh vực lý thuyết mà cả trong lĩnh vực thực nghiệm Cũng bởi vậy, nghiên cứu Xã hội học lứa tuổi, rất cần thiết được bổ sung những tri thức về Tâm lý học lứa tuổi
1 VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Trước hết, Tâm lý học là khoa học nghiên cứu những hiện tượna tâm lý, những đặc điểm tám lý cá nhân, những quá trình phát sinh, phát triển của những hiện tượng, những đặc điểm ấy trong hoạt động của con người Những hiện tượng và những quá trình tâm lý ấy bao gồm: cảm giác, tri giác, biểu tượng, tưởng tượng, tư duy, cảm xúc, ý chí, nguyện vọng, trí nhớ, chú
ý V.V
Tâm lý học lứa tuổi đi sâu nghiên cứu những đặc điểm tâm lý thuộc các lứa tuổi khác nhau, nghiên cứu quá trình hình thành cá tính, phát triển trí tuệ, hoạt động sáng tạo ờ tuổi trẻ hoặc“sự cô đơn, dậm chán tại chỗ”*ở người già; nghiên cứu nhữna đặc diểm tâm lý lứa tuổi của các quá trình tri giác, tư duy, trí nhớ hứng thú, độne co' hoạt độn2 V.V
Níihiên cứu tâm lý học lứa tuổi không tách rời việc nshicn cứu chung về
t â m lý c o n người , ở CON NGƯỜI, s ự phát t riển t â m lý t u â n t h e o c á c q u y luật
của cuộc sống xã hội loài imưừi qua các giai đoạn lịch sử Ọuá ninh tâm lý
dó liên quan đến sự phát triến của lao dộng, của các hình thức san xuất và
Đề tài nghiên cứu cơ bản KHXHNVT,1
Trang 39quan hệ sản xuất khác nhau Mức độ phát triển cao nhất của tâm lý, và chỉ
có ở con người, được gọi là ý thức
TUỔI
2.1 Tâm lý học lứa tuổi sơ sinh:
Những đặc điểm tâm lý ở trẻ sơ sinh:
Tiếng khóc của trẻ sơ sinh ngay sau khi ra đời báo hiệu sự hiện diện của một con người xã hội Và sau đó là những giấc ngủ kéo dài Khi thức giấc đứa trẻ đã có những phản xạ không điều kiện với những kích thích từ bên ngoài, đồng thời bắt đầu hình thành một số phản xạ có điều kiện
Cơ thể của trẻ được hoàn thiện và phát triển nhờ vào sự chăm sóc của người lớn và cũn2 chính người lớn là tác nhân gây nên những kích thích thúc đẩy
sự phát triển tâm lý cho trẻ Thật bất hạnh cho những trẻ thơ sống thiếu hơi
ấm và những sự âu yếm vỗ về của người lớn
Tính xã hội khởi đầu từ nhu cầu muốn nhận biết thế giới xung quanh Trẻ dần dần có nhữnơ phản ứng tích cực, mạnh mẽ khi được vui đùa với các dồ vật (đồ chơi), vui đùa với gương mặt gần gũi của người mẹ hiền Nhu cầu hoạt động giao lưu với người lớn được hình thành
Sự giao lưu dần trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ sơ sinh, có ảnh hướns quyết định đến sự phát triển của trẻ về mặt sinh học cũng như về mặt xã hội Sự giao lưu cũng chính là nhân tố khởi đầu cho sự hình thành và phát triển một nhân cách lành mạnh, tự tin và đầy lòng nhân ái
Đẽ tài nghiên cứu cơ bản KHXHNVÌX
Trang 40Các nhà Tâm lý học cho rằng tốc độ phát triển tâm lý ở lứa tuổi này(3 tuổi) rất nhanh, đây là giai đoạn xã hội hoá tích cực, là thời điểm quan trọng trong đời sống tâm lý của trẻ.
Trong lứa tuổi nhà trẻ, trẻ em luyện tập dáng đi thẳng đứng, chúng tiếp xúc, làm quen với các loại đồ vật, và với sự giúp đỡ của người lớn, trẻ em dần dần nắm bắt được những chức năng cũng như nhũng thuộc tính bên trong của các đồ vật Điều quan trọng hơn, trẻ em nắm được các quy tắc, hành vi, các thói quen trong giao tiếp phù hợp với từng loại đồ vật
Trong giai đoạn này, việc hình thành ngôn ngữ có vai Irò quan trọng trong
sự phát triển tâm lý chung của trẻ, đặc biệt là sự phát triển về trí tuệ Trước
đó, ở giai đoạn 1- 2 tuổi, trẻ chưa có khá năng diễn đạt bằng lời nói, người
lớn hiếu ý nghĩa của những ám thanh, tiếng cười, tiếng khóc do kinh nghiệm trong quá trình chăm sóc trẻ; trẻ chỉ biết bắt chước những ám thanh của người lớn để biểu lộ nhũng ham muốn, nguyện vọng của mình Giờ đáy trẻ đã có khả năng diễn đạt bằng lời nói với vốn từ khá phong phú
Trí nhớ của trẻ lốt hơn, trẻ nhớ được các đồ vật và các thao tác trons quá trình tiếp xúc với các đồ vật đó, nhờ vậy trẻ có khả năng thực hiện những hành động tự phục vụ Với trí nhớ bằng ngôn ngữ, trẻ có thể thực hiện những yêu cầu của naười lớn
Sự phát triển tư duy cũng bắt đầu từ lứa tuổi nhà trẻ Các yếu tố ánh hướrm đến sự phát triển của tư duy đó là:
- Sự hoạt động của bán thán và kinh nshiệm cám tính cua tre
- Cách thức người lớn hướim dẫn cho tré troim quá ninh hoạt độn!’, liếp xúc vói các đổ vật và cỏn” cụ
2.2 Tâm lý học lứa tuổi nhà trẻ:
Đế tài nghiên cứu cơ bàn KHXHNVy)