Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Hoạt động vui chơi trong nhà trường của trẻ em lứa tuổi mầm non thành phố Hà Nội" với mục đích chỉ ra một số đặc điểm tâm lý của trẻ em trong HĐVC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGÔ THỊ THUẬN
HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI TRONG NHÀ TRƯỜNG CỦA TRẺ EM LỨA
TUỔI MẦM NON THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGÔ THỊ THUẬN
HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI TRONG NHÀ TRƯỜNG CỦA TRẺ EM LỨA
TUỔI MẦM NON THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Minh Loan
Hà Nội - 2013
Trang 3
MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài: 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Đối tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Giả thuyết khoa học 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Cấu trúc luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON 10
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu tâm lý của trẻ trong HĐVC 10
1.1.1 Trên thế giới: 10
1.1.2 Ở Việt Nam 20
1.2 Các khái niệm cơ bản 24
1.2.1 Lứa tuổi mầm non 24
1.2.2 Hoạt động vui chơi của trẻ em lứa tuổi mầm non 30
1.3 Một số biểu hiện tâm lý trẻ em lứa tuổi mầm non trong hoạt động chơi các trò chơi 35
1.3.1 Nhận thức 35
1.3.2 Tình cảm 36
1.3.3 Hành vi 36
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ em trong hoạt động vui chơi 37
1.4.1 Yếu tố chủ quan 37
1.4.2 Yếu tố khách quan 37
Tiểu kết chương 1: 39
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Tổ chức nghiên cứu 41
Trang 42.2 Đôi nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 44
2.1.1: Địa bàn nghiên cứu 44
2.1.2 Khách thể nghiên cứu: 45
2.3 Phương pháp nghiên cứu 45
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 45
2.3.2 Phương pháp quan sát: 45
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn 46
2.3.4 Phương pháp phân tích sản phẩm của HĐ 47
2.3.5 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: 47
2.3.6 Phương pháp thống kê toán học 48
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 49
3.1 Nhận thức của trẻ MN thông qua HĐVC 49
3.1.1.Nhận thức chung của trẻ MN 49
3.1.2 Nhận thức của trẻ MN theo độ tuổi 54
3.2 Cảm xúc của trẻ thể hiện thông qua hoạt động vui chơi 64
3.2.1 Cảm xúc của trẻ MN thông qua các trò chơi 64
3.2.1 Sự khác biệt trong cảm xúc của trẻ theo độ tuổi 73
3.3 Hành vi của trẻ mầm non thể hiện qua hoạt động vui chơi 78
3.3.1 Hành vi của trẻ MN thông qua trò chơi 78
3.3.2 Sự khác biệt về hành vi của trẻ theo độ tuổi 83
3.4 Phân tích sản phẩm của hoạt động thi vẽ tranh 87
3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động vui chơi 91
3.5.1 Yếu tố chủ quan 92
3.5.2 Yếu tố khách quan 92
Tiểu kết chương 2: 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
1 Kết luận 100
1.1 Về mặt lý luận 100
1.2 Về mặt thực tiễn 101
2 Kiến nghị 103
2.1 Đối với thầy cô giáo 103
2.2 Đối với nhà trường 104
PHỤ LỤC 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 177
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Các công trình nghiên cứu về 6 năm đầu đời của con người đều khẳng định: Đây là giai đoạn quan trọng bậc nhất trong sự phát triển của con người, là giai đoạn
có khả năng lĩnh hội lớn nhất Nếu chúng ta không biết cách định hướng cho trẻ, khuyến khích và phát hiện khả năng của trẻ sẽ làm thui chột đi phần lớn tiềm năng
của trẻ
Hoạt động vui chơi (HĐVC) là một dạng hoạt động đặc biệt, đóng vai trò chủ đạo, quyết định sự biến đổi về chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ em lứa tuổi mầm non (MN) Không chỉ vậy, HĐVC còn làm bộc lộ rõ nét các đặc điểm tâm lý của trẻ Đối với trẻ MN, nếu không chơi, trẻ sẽ bị ngăn cách
với cuộc sống này bởi vì chơi cũng đồng thời là khám phá, là thử nghiệm và sáng
tạo, giúp trẻ học hỏi, lĩnh hội, giao lưu, hình thành, phát triển và bộc lộ các thành tố của nhân cách Mặt khác HĐVC không chỉ giúp trẻ phát triển về mặt tinh thần mà
còn cả về thể chất Có thể nói, HĐVC là cuộc sống của trẻ thơ
Hiện nay, tại Việt Nam, vấn đề chăm sóc, bảo vệ quyền lợi, phát triển toàn diện cho trẻ ngày càng được chú trọng và quan tâm sát sao hơn Trong lĩnh vực giáo dục, đó là sự đầu tư nhiều về cơ sở giáo dục và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên MN Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy tại các trường có tổ chức các HĐVC dành cho trẻ MN, nhưng hiệu quả giáo dục mà hoạt động này mang lại còn chưa đáp ứng được mục tiêu đã đặt ra
Thực tế trong thời gian gần đây, rất nhiều giáo viên (GV) mầm non bỏ nghề
do mức thu nhập của họ quá thấp, không đảm bảo được đời sống cho họ Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng của nhiều hoạt động tại trường MN, trong đó
có HĐVC của trẻ MN Theo đó, có thể dễ dàng nhận thấy: việc tổ chức HĐVC của trẻ lứa tuổi MN vẫn còn mang tính hình thức, tức là GV vẫn chưa thực sự hết lòng, chú tâm vào việc hướng dẫn, định hướng cho trẻ chơi, chưa dành nhiều thời gian cho HĐVC của trẻ Và như vậy, trong hoạt động chơi, trẻ chưa lĩnh hội hết các quy luật chơi, ý nghĩa trò chơi, cũng như tác dụng giáo dục trong các trò chơi, từ đó
Trang 7không kích thích được khả năng sáng tạo của trẻ, không giúp trẻ hình thành và phát
triển được các đặc điểm tâm lý theo mục đích giáo dục ở các trò chơi được đặt ra
Dưới góc độ Tâm lý học, trên thế giới đã có không ít công trình nghiên cứu về HĐVC của trẻ, nhưng ở nước ta, các nghiên cứu về lĩnh vực này còn khá khiêm tốn
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Hoạt động vui chơi trong nhà trường của trẻ em lứa tuổi mầm non thành phố Hà Nội" với mục đích chỉ ra một số đặc
điểm tâm lý của trẻ em trong HĐVC tại trường MN, từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần làm cho việc tổ chức HĐVC của trẻ ở trường MN hình thành và phát triển
được các đặc điểm tâm lý theo mục đích của các trò chơi cho trẻ
3 Đối tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số biểu hiện tâm lý bộc lộ trong HĐVC của trẻ em ở một số trường MN
tại TP HN
3.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu chỉ làm rõ các biểu hiện tâm lý thông qua HĐVC của trẻ mầm non ở 3 mặt cơ bản là: Nhận thức, cảm xúc và hành vi
trong một số trò chơi: Đóng vai theo chủ đề, Làm dáng, Chiếc túi kỳ lạ, Vật chìm vật nổi, Tự giới thiệu bản thân và thi vẽ tranh
- Về khách thể nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 30 giáo viên và 6
lớp mẫu giáo ( 2 lớp mẫu giáo 3 - 4 tuổi, 2 lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi, 2 lớp mẫu giáo 5
- 6 tuổi) của 2 trường MN trên địa bàn TP Hà Nội Tùy thuộc vào từng trò chơi mà
số lượng trẻ lấy ở 6 lớp mẫu giáo khác nhau
Trang 8- Về địa bàn nghiên cứu: Trường MN thực hành Linh Đàm và trường MN tư
thục Hoa Thủy Tiên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về HĐVC của trẻ em lứa tuổi MN và các đặc điểm tâm lý của trẻ em lứa tuổi MN biểu hiện trong
5 Giả thuyết khoa học
Các đặc điểm tâm lý của trẻ em lứa tuổi mầm non tại các trường trên địa bàn
Hà Nội về cơ bản đã hình thành và bộc lộ khá rõ thông qua các trò chơi và phù hợp với sự phát triển tâm lý của trẻ theo độ tuổi Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và bộc lộ các đặc điểm tâm lý này, trong đó yếu tố chủ quan cơ bản là động
cơ thúc đẩy trẻ tham gia vào trò chơi và yếu tố khách quan cơ bản là GV tổ chức HĐVC
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt đông
- Phương pháp xử lý SPSS
7 Cấu trúc luận văn
Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Trang 9- Chương 1: Một số vấn đề lý luận tâm lý học về hoạt động vui chơi trong nhà trường của trẻ em lứa tuổi mầm non
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu biểu hiện tâm lý bộc lộ qua HĐVC của trẻ em lứa tuổi mầm non
Trang 10PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG VUI
CHƠI CỦA TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu tâm lý của trẻ trong HĐVC
1.1.1 Trên thế giới:
Nửa cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, trong Tâm lý học có rất nhiều quan điểm và học thuyết nghiên cứu về trò chơi, tuy nhiên, các quan điểm về vấn đề này không có sự thống nhất bởi họ có cơ sở nghiên cứu cũng như cách lí luận khác nhau Người ta thường xếp theo nhóm các học thuyếthay quan niệm giống nhau của các học thuyết để dễ phân biệt
1.1.1.1 Các lý thuyết có quan điểm sinh vật hóa trò chơi
Theo một số lý thuyết cổ điển, chơi là hoạt động không có mục đích, tự nhiên sẵn có của sinh vật nhằm giải tỏa năng lượng dư thừa hoặc là hoạt động thư giãn nhằm nạp lại năng lượng đang thiếu Họ xem hoạt động chơi không mang mục đích quan trọng nào và có thể thay thế bằng hoạt động khác
Đại diện và là cha đẻ của lý thuyết này chính là S.Freud (1856 - 1933): Freud cho rằng nhiều trò chơi của trẻ là cách chuyển hoá của xung lực tính dục bị người lớn kiềm chế Đối với cha mẹ, anh chị, trẻ có một tình cảm hai chiều trái ngược nhau, vừa yêu mến, kính phục, vừa ghen ghét, căm giận Tâm trí trẻ chưa đủ sức hóa giải mâu thuẫn giữa hai tình cảm ấy, nên được “trá hình” vào trong những hoạt động chơi Trong những hoạt động chơi đó, trẻ ôm ấp nâng niu đồ chơi, hay trút giận, đập phá đồ chơi đều là cách giải tỏa những cảm xúc mâu thuẫn nội tại không thể diễn đạt Trẻ thu nhận kiến thức bên trong trên cơ sở hoạt động đáp ứng những kích thích bên ngoài Ở trẻ, bản năng biểu hiện ra trò chơi, thể hiện mong ước, niềm đam mê của trẻ và liên quan tới bản năng tình dục, chịu ảnh hưởng của bản năng tình dục [32, tr.11] Hơn nữa, Freud là người đầu tiên dùng hoạt động chơi như một liệu pháp chữa các chứng rối nhiễu tâm lý ở trẻ em Trong hoạt động chơi đó, đứa trẻ được tự do giải phóng nội tâm nhiều uẩn ức, lo hãi, huyễn tưởng trên các đồ chơi
Trang 11Ông chia các giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ dựa theo các biểu tượng gây khoái cảm cho trẻ trong giai đoạn đó Dù có những hạn chế rõ rệt là đã bản năng hóa trò chơi cũng như tuyệt đối hóa bản năng về HĐVC của trẻ giống như vấn đề nhân cách, song mặt tích cực, thành quả không chối cãi được trong lý thuyết của Freud về trò chơi đó là việc dùng trò chơi như một liệu pháp tâm lý chữa bệnh cho trẻ của ông Đã có rất nhiều người và nhiều nước trên thế giới sử dụng liệu pháp này thành công
E Erikson (1905 - 1994): Ông chia sự phát triển con người ra 8 giai đoạn, trong đó có giai đoạn trẻ từ 3 đến 6 tuổi: là giai đoạn xung đột giữa ý muốn tự ý và cảm giác có tội Giai đoạn này, trẻ có khả năng tự hoạt động và nảy sinh nhiều ý muốn tự ý nhưng luôn phải tuân thủ những giới hạn và qui tắc của xã hội Trẻ phải đạt được sự cân bằng lành mạnh giữa ý muốn tự ý lựa chọn những điều trong khuôn phép, chứ không bị ép buộc hoặc từ chối cảm giác có tội khi lựa chọn những điều không được phép Các hoạt động chơi tưởng tượng giúp trẻ giải tỏa xung đột này, trẻ tưởng tượng những tình huống giả định, trong đó những quy luật trở nên được chấp nhận dễ dàng, không gò ép ý chí lựa chọn tự do
Có thể nói, lý thuyết Phân tâm cho rằng: Chơi là hoạt động gây phấn chấn, cho phép đứa trẻ làm chủ những tình huống khó khăn Trẻ sử dụng những tình huống tưởng tượng để đóng vai người lớn, lấy cảm giác làm chủ trong hoạt động chơi mà sao chép trong tình huống thật Thông qua hoạt động chơi, trẻ có thể tái hiện những
sự kiện đau đớn, những xung đột của cá nhân, làm chủ nỗi đau đó bằng cách giải toả nó trong tình huống tưởng tượng
Các tác giả như Stenlin Kholl, Stanley Hall, G.Spencer, Karl Groos, V.Stern, Ph.Siller, Reaney, Claparède, Arian Sumo Seipt cũng cho rằng: HĐVC của trẻ em mang tính bản năng, di truyền và sinh học học đơn thuần Cụ thể:
A.S.Seipt: Quan điểm của bà được thể hiện trong tác phẩm "Niềm hạnh phúc của con bạn" Theo bà: Trò chơi là phương tiện để bình thường hóa các quan hệ của đứa trẻ đối với thế giới xung quanh, xua tan đi những phiền muộn và khó khăn trong tâm lý, loại bỏ đọc những yếu tố tiêu cực của nhân cách [29, tr.216]
Trang 12Ph.Siller (1756 - 1800): Ông nói rằng: Trò chơi là cơ sở của tất cả các nghệ thuật Điều kiện nảy sinh trò chơi là khi không còn những nhu cầu sơ đẳng nhất cho
sự tồn tại Trò chơi giúp tiêu hao sức lực dư thừa, có nhu cầu tinh thần, nhu cầu sáng tạo Có nghĩa là, trò chơi giống như một sự giải trí, một nhu cầu cao của trẻ, khi trẻ khỏe mạnh, được ăn no, uống đủ, có sức lực dư thừa là xuất hiện hành động chơi Tuy nhiên, một mâu thuẫn thấy rõ rằng: Với những trẻ ốm yếu, không có sức lực - sự tồn tại chưa được đảm bảo, thì việc chơi đùa vẫn diễn ra dù việc thực hiện
nó có khó khăn Bởi trò chơi của trẻ, không chỉ có trò chơi vận động mạnh để tiêu hao sức lực dư thừa mà có những trò chơi đơn giản, nhẹ nhàng giúp trẻ tăng thêm sức lực và có khả năng hồi phục sức khỏe của mình Mặt khác, với trẻ, việc chơi như là một hoạt động tất yếu, trẻ chơi để khám phá và tiếp thu kinh nghiệm tri thức
xã hội,biết cách sử dụng đồ vật và ứng xử, giao tiếp chứ không hẳn là nhu cầu sáng tạo, nhu cầu tiêu hao năng lượng dư thừa [29, tr212]
G.Spencer (1820 - 1903), đã phát triển học thuyết của Ph.Sille, cho rằng trò chơi xuất hiện khi có sức lực dư thừa Và gọi học thuyết của Ph.Sille là “sức dư thừa” Ở đó những năng lực dư thừa của cơ thể con vật non không được sử dụng cho hoạt động thực mà được tiêu khiển qua sự bắt chước các hoạt động thực bằng trò chơi Ông cũng khẳng định: Trẻ có bản năng nghịch ngợm, phá phách - bản năng này được đáp ứng qua trò chơi [32, tr.10]
S.Kholl: Trong học thuyết di truyền sinh học và trò chơi, Ông nói rằng: Sự phát triển tâm lý của trẻ là sự thu gọn, lặp lại toàn bộ những thời kỳ phát triển của loài người Nền tảng của học thuyết là quy luật di truyền sinh học: sự phát triển phôi thai diễn ra như thế nào thì sự phát triển sau này của trẻ cũng hệt như thế Nội dung, hình thức của trò chơi cũng lặp lại lịch sử phát triển nhân loại [29, tr 214]
S.Hall - Nhà tâm lý người Anh: Phát triển học thuyết của Stenlin Kholl Ông
đã quan sát các trò chơi và lịch sử của xã hội để phát hiện ra rằng, những trò chơi của trẻ con lần lượt diễn lại những hành động tương tự của loài người trong quá trình tiến hóa Ong cho rằng: Bản năng chi phối toàn bộ đời sống con người Trò chơi giúp trẻ loại bỏ khỏi nhân cách một loạt những điểm yếu như tính nhõng nhẽo,
Trang 13ích kỷ, với xung quanh, xua tan đi những nỗi bực tức, bướng bỉnh Trong trò chơi trẻ mô phỏng lại những tình huống khác nhau dẫn tới kết quả điều trị tốt, làm lành lại những chấn thương, bình thường hóa những mối quan hệ của trẻ với người lớn K.Groos (1861 - 1946): Trong học thuyết cổ điển về trò chơi, ông cho nói:
"Trò chơi của trẻ mang tính chất thuần túy sinh học Trò chơi là một hình thức hoạt động sống làm cho các cơ thể non trẻ hoàn thiện các bản năng di truyền, các năng lực và sức lực Chơi là phương thức đặc thù của các loại bản năng [29, tr 213] Nhà tâm lý người Mỹ, Reaney đã phân tích cụ thể những trò chơi của trẻ tương đương với những bước tiến hóa của loài người Ông gắn trò chơi với 4 thời kì phát triển của trẻ Thời kì thú vật (trẻ từ 0 - 7 tuổi), các bé chơi trò chơi vận động, trèo leo, xích đu; thời kì dã man (trẻ từ 7 - 9 tuổi) chơi đuổi tìm nhau, bắn bia, chơi gậy; thời kì du mục (từ 9 -12 tuổi), đua nhau khéo léo, sưu tập đồ vật, bắt đầu dùng trí tưởng tượng trong các trò chơi; đến thời kỳ bộ lạc (từ 12 - 17 tuổi), biết kết đoàn
mà chơi… Đứng trước một cái gậy, vài mảnh gỗ, một đống đá, cát, một miếng vải… đứa trẻ 3 tuổi chơi khác đứa trẻ 8 tuổi Nhưng cùng một lứa tuổi thì cách dùng chơi cũng tương tự Vì vậy, phải đứng về phương diện sinh trưởng mà xét hiểu trò chơi của trẻ con Chơi đùa tiến hóa theo và vận dụng vào quá trình sinh trưởng, chơi đùa trong đời con trẻ không phải là một hoạt động vô ích, vô nghĩa
Theo quan điểm này, ta thấy ông cũng không nằm ngoài cách nhìn nhận và đánh giá con người như sinh vật Đặc biệt giai đoạn trẻ từ 0 - 7 tuổi ông gọi là thời
kì dương vật - điều này càng khẳng định cái nhìn không đúng của ông về loài người Mặt khác, trò chơi của trẻ ông chỉ gắn với vận động, mà không tính đến trí tuệ, sự năng động, sáng tạo của trẻ, không tính đến yếu tố cá nhân cũng như tâm lý -
xã hội bên trong trẻ, không có sự phân chia rõ ràng cho từng lứa tuổi
V.Stern (1871 - 1938): Khẳng định: Vui chơi là bình minh của bản năng đúng đắn Ông nhấn mạnh ý nghĩa của trò chơi trong việc rèn luyện những cơ chế di truyền của phẩm hạnh Trò chơi của con người không khác của con vật
Nhà tâm lý Thụy Sĩ, Claparède nói rằng: Có chơi lâu năm trẻ con mới lớn lên, thành người lớn được Lúc mới sinh, những bản năng chưa thể hoạt động hoàn
Trang 14thiện, phải luyện tập ít hay nhiều Loài người là sinh vật tối cao thì thời thơ ấu càng phải chơi nhiều cách và lâu năm Đây cũng là một cách nhìn sai lầm khi cho rằng chơi chỉ để hoàn thiện bản năng lúc mới được sinh ra
Trong quan điểm sinh vật hóa trò chơi, đặc biệt là của Freud dù đã được dùng làm một liệu pháp trị liệu tâm lý nhưng nhược điểm là đã khẳng định trò chơi (HĐVC) như là một hiện tượng hoàn toàn mang tính bản năng, coi hoạt động chơi của trẻ không khác hoạt động của con vật Họ không hề đề cập đến yếu tố xã hội và mặt cá thể (tâm lý) của trẻ Chính vì thế, họ chưa có thể giải thích được mối liên hệ của trẻ, HĐVC với xã hội loài người và với sự phát triển tâm lý - nhân cách của trẻ Ngoài ra, một điểm thiếu sót nữa của các quan niệm sinh vật hóa trò chơi chính là: nội dung thuần túy sinh học mà không gắn với lịch sử phát triển của xã hội loài người và cá thể Bởi vậy, đây cũng là lí do họ không tìm ra được nguồn gốc thật sự của trò chơi, và nội dung và ý nghĩa trò chơi phản ánh
Như vậy, trong quan điểm sinh vật hóa trò chơi, các nhà tâm lý học đã chỉ ra được những đặc điểm tâm lý của trẻ em cũng có các mặt nhận thức, cảm xúc, hành
vi Các yếu tố tâm lý này chịu sự ảnh hướng và quyết định bởi đặc điểm bẩm sinh,
di truyền Còn các yếu tố môi trường chỉ là yếu tố điều chỉnh mà thôi
1.1.1.2 Lý thuyết Phát triển nhận thức của J.Piaget về trò chơi
J.Piaget (1896 - 1980) cho rằng trẻ em là những người học đầy năng động và
tự động Bản thân trẻ em có tính tò mò tự nhiên đối với thế giới xung quanh chúng Chúng luôn năng nổ tìm kiếm thông tin để có thể lý giải và hiểu về thế giới đó Chúng thường trải nghiệm những vật thể mà chúng tình cờ gặp phải, khám phá và quan sát những hệ quả từ những hành vi của chúng Khi trẻ chơi, đó chính là lúc trẻ khám phá thế giới qua những tính chất và cấu trúc của đồ vật và qua những hành vi tác động lên đồ vật đó
Quá trình học tập của trẻ có tính cơ cấu và tính cá thể Đứa trẻ năng động tìm tòi thông tin và kết nối các thông tin theo cách riêng của chúng để lý giải về môi trường sống xung quanh Piaget dùng thuật ngữ “sơ cấu” để giải thích tính cơ cấu
trong quá trình học tập của trẻ Sơ cấu là một cách nói trừu tượng về một dạng cấu
Trang 15trúc nhận thức đơn giản trẻ có được nhờ những hành vi phản xạ tự phát ban đầu Khi các kích thích quen thuộc xuất hiện thường xuyên, các phản xạ tự phát dần dần
có chọn lọc, sơ cấu càng được củng cố và trở thành kiểu hành vi có thể lặp đi lặp lại
khi trẻ nhận biết kích thích quen thuộc tác động Piaget cho rằng trẻ luôn sử dụng lập đi lập lại các sơ cấu mới đạt được trong các tình huống tương tự và mới mẻ Quá trình lập lại các sơ cấu đó giúp đứa trẻ chọn lọc các hành vi và kết hợp chúng lại Các sơ cấu được tổ chức và kết nối với nhau dựa trên quá trình tư duy thao tác logic này trở thành các “thao tác”
Lý thuyết này được chứng thực khi ta quan sát trẻ chơi Khi chơi, trẻ thao tác lập đi lập lại nhiều lần trên một vật và thử chơi bằng nhiều cách khác nhau với đồ chơi đó, cho tới khi chọn được cách chơi tương ứng với chức năng của đồ vật đó, và kết hợp chơi giữa đồ vật đó với đồ vật khác Trẻ đập, quăng chiếc xe nhiều lần trước khi biết đẩy xe chạy và cho hình người lên xe
Theo Piaget, những sơ cấu càng phát triển cho phép đứa trẻ càng thích nghi
hơn với môi trường sống Sự phát triển của các sơ cấu dựa trên hai cơ chế: đồng hoá
và điều ứng Quá trình đồng hoá giúp mở rộng các sơ cấu với những đối tượng mới
có tính chất tương đồng với những đối tượng đã biết, quá trình điều tiết giúp mở rộng các sơ cấu với những đối tượng mới có tính chất mới chưa hề biết Ví dụ, trẻ biết kẹo là vật nhỏ, có màu, bỏ vào miệng ăn thì ngọt; trẻ thấy nút áo cũng là vật nhỏ, có màu, nên bỏ vào miệng ăn; đây là quá trình đồng hoá Trẻ ngậm nút áo không thấy ngọt, và người lớn bắt nhè ra, dần dần, trẻ biết thêm có vật mới là nút
áo, nhỏ, có màu, không ngọt, không phải kẹo và không được ăn; đây là quá trình điều ứng Cả hai quá trình này liên kết với nhau chặt chẽ trong suốt quá trình phát triển hiểu biết và kiến thức về thế giới xung quanh của đứa trẻ [32, tr 11]
Piaget cho rằng sự phát triển nhận thức của trẻ tuỳ thuộc vào sự phát triển thành thục của hệ thần kinh qua các độ tuổi khác nhau Đối với trẻ từ 0 - 6 tuổi, Piaget chia làm hai giai đoạn phát triển nhận thức: Giai đoạn giác động (từ 0 - 2 tuổi) và Giai đoạn tiền thao tác (từ 2 - 6 tuổi)
Trang 16Ở giai đoạn 2 (2 đến 6, 7 tuổi) trẻ chơi trò chơi biểu tượng, thể hiện chức năng biểu tượng, mô phỏng và thể hiện ngôn ngữ Trò chơi là sự đồng hóa thực sự với hoạt động riêng, cung cấp cho hoạt động riêng đủ nhiên liệu cần thiết và biến đổi thực tại, đáp ứng nhu cầu của cái tôi TC của trẻ là những dạng bắt chước dựa trên biểu tượng (10, tr 411] Trò chơi là một hoạt động trí tuệ, là một nhân tố quan trọng đới với sự phát triển tri tuệ của trẻ, tạo ra sự thích nghi của trẻ với môi trường
Thích nghi gồm 2 quá trình đồng hóa và điều hóa bổ sung cho nhau Và ở giai đoạn
tiền thao tác này, khả năng tư duy biểu tượng phát triển mạnh mẽ giúp trẻ có thể tư duy và nói về những trải nghiệm thân cận Khả năng ngôn ngữ phát triển nhanh chóng cả về từ vựng và cấu trúc câu Trẻ có thể nghe và hiểu truyện kể có hình ảnh minh hoạ, trẻ thích chơi biểu tượng như vẽ tranh, nặn tượng, … Trẻ thường chơi giả
vờ, gán cho đồ vật những chức năng, vai trò nhất định trong bối cảnh giả định Trẻ chơi nấu ăn trên chiếc lá, múc cơm cho búp bê ăn, … Tuy nhiên, ở giai đoạn này, tư duy của trẻ không theo logic hợp lý thông thường của người lớn Trẻ đưa ra các câu trả lời theo cảm tính, chứ không suy luận hợp lý Trẻ có thể cho ly cao nhỏ thì chứa nhiều nước hơn ly thấp to chỉ vì thấy mực nước ly kia cao hơn trong khi lượng nước
là bằng nhau Đến cuối giai đoạn này, trẻ mới dần phát triển tư duy trên các nguyên tắc logic được thấy trực tiếp, bắt đầu cho sự phát triển của giai đoạn thao tác cụ thể
từ 6 đến 12 tuổi
Có thể thấy, lý thuyết về sự phát triển trí tuệ trẻ em của Piaget có tác động sâu sắc đến các nhà ứng dụng tâm lý và nhà giáo dục trẻ em Lý thuyết này ủng hộ việc cung cấp những cơ hội cho trẻ trải nghiệm về vật thể cũng như các hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống Mà trong đó, hoạt động chơi là hoạt động thiết yếu và an toàn nhất, cho trẻ nhiều cơ hội vui thú để trải nghiệm và khám phá không ngừng, thúc đẩy liên tục sự phát triển trí tuệ của trẻ
Tóm lại, bằng việc nghiên cứu, quan sát trẻ em thì Piaget đã chỉ ra thông qua trò chơi đã giúp trẻ chuyển hóa từ trí tuệ cảm giác vận động sang trí tuệ thao tác Ông chỉ ra tư duy đã nảy sinh và hình thành như thế nào trong lòng của hoạt động cảm giác vận động Song song đó, Piaget cũng chỉ ra được mối quan hệ giữa tri giác
Trang 17với trí tuệ, mối quan hệ giữa tình cảm với trí tuệ Đây cũng chính là một trong những cơ sở để chúng tôi áp dụng nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài này
quy định sự phát triển cấu trúc tâm lý lứa tuổi - tuyến phát triển trung tâm chính là
quan hệ đặc thù độc đáo giữa trẻ em và hiện thực bao quanh nó, trước hết là quan
hệ xã hội Bởi thế khi nghiên cứu về trẻ em phải làm sáng tỏ tình huống xã hội của
sự phát triển đó Hoạt động chơi không xuất hiện ngẫu nhiên mà là sản phẩm sáng tạo của cá nhân thuần túy dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xung quanh Thông qua chơi trẻ lĩnh hội được kinh nghiệm lịch sử - xã hội và chơi chỉ trở thành phương tiện giáo dục khi được hướng dẫn một cách đúng đắn [19, tr.101]
Hoạt động của trẻ em về tổ chức, cấu trúc và phương thức hành động hoàn toàn khác với hành vi của động vật và không có sẵn Ông cho rằng, ngay từ những ngày đầu trong quá trình phát triển tâm lý trẻ em, sự thích ứng của nó với môi trường được thực hiện bằng các phương tiện xã hội thông qua những người xung quanh Con đường từ đồ vật đến trẻ em và từ trẻ em đến đồ vật đều thông qua người khác Động cơ của hoạt động vui chơi nằm ngay trong quá trình hoạt động chứ không nằm ở kết quả Qua hoạt động chơi trẻ lĩnh hội được những kinh nghiệm lịch
sử - xã hội loài người
Thông qua "Lý thuyết Văn hoá xã hội ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của yếu tố xã hội và văn hoá tác động lên sự phát triển nhận thức của trẻ em Hai yếu tố này tác động thông qua sự tương tác của trẻ với đồ vật và với người lớn Nói cách
Trang 18khác, chính đồ vật và người lớn mà trẻ tương tác luôn mang dấu ấn của nền văn hoá
và bản chất xã hội trên mình Thông qua những tương tác chính thức hay không chính thức, người lớn truyền đạt thông tin cho trẻ theo nhiều cách mà văn hoá của
họ đã lý giải về thế giới Khi trẻ chơi, trẻ học cách sử dụng đồ vật theo chức năng
mà cả xã hội và nền văn hóa xung quanh nó qui định
Nghiên cứu của Vưgotsky về hoạt chơi hay trò chơi như là một hiện tượng tâm lý có vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ Thông qua hoạt động chơi, trẻ phát triển ý nghĩa trừu tượng về vật, phân biệt vật này với vật khác, trong sự
phát triển của chức năng thần kinh cao hơn Chơi như là sự diễn giải trong sự tưởng
tượng những ham muốn không thực hiện được ngoài cuộc sống Đứa trẻ chơi nấu ăn
với búp bê vì lòng ham muốn làm giống mẹ nó đã chăm sóc nó Trẻ có thể dùng cái gối làm em bé, cái nắp làm cái tô, cây que là cái muỗng - những đồ vật đó có tính tượng trưng cho em bé thật và đồ nấu ăn thật mà bé chưa thể sử dụng thành thục được Qua những hoạt động chơi này, trẻ học được ý nghĩa của từng đồ vật có tính tượng trưng đó và chuyển hoá sang đồ vật thật Trẻ càng lớn càng hiểu tính tượng trưng của đồ vật và càng hiểu tính giả bộ của hoạt động chơi, trẻ có thể nói: “lấy cây gậy này làm con ngựa để chơi” Vưgotsky nhấn mạnh hoạt động chơi giúp trẻ phát triển các kỹ năng xã hội Khi trẻ chơi với búp bê và căn nhà đồ chơi, trẻ đang học
về vai trò khác nhau của các thành viên trong gia đình Khi hai chị em chơi với nhau, vai trò chị và em được lộ rõ hơn là những hành vi trong cuộc sống thường ngày Những tương tác với người khác khi chơi, giúp trẻ học được các quy luật xã hội, dần dần giúp trẻ tự điều chỉnh bản thân Ví như một đứa trẻ đứng ngay vạch xuất phát chạy đua với những đứa trẻ khác, đứa trẻ nào cũng muốn phóng chạy ngay, nhưng quy định xã hội giúp trẻ phải chờ đợi có dấu hiệu xuất phát mới được chạy
Những giai đoạn phát triển của trẻ được Vưgotsky phân chia theo kỹ năng tư duy và lý luận Trong đó, khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ từ sớm phụ thuộc vào sự tương tác với người lớn trong tất cả các hoạt động, đặc biệt là hoạt động chơi
Trang 19Các nhà tâm lý phát triển lý thuyết của Vưgotsky cho rằng hoạt động chơi của trẻ chuẩn bị cho chúng cuộc sống trưởng thành bằng việc luyện tập các hành vi giống như người lớn
- Đ.B Enconhin vạch rõ: "Lịch sử phát triển của trò chơi gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người và sự thay đổi vị trí của trẻ trong hệ thống các mối quan
hệ xã hội" (12, tr.64] Ông cũng đồng tình với G.V Plêkhanov rằng: trong lịch sử phát triển xã hội, lao động có trước và trò chơi chính là một hiện tượng xã hội, là phương tiện để trẻ em làm quen với lao động của người lớn Trò chơi xuất hiện khi công cụ lao động đã trở nên phức tạp, trong xã hội có sự phân công công việc theo
độ tuổi, trẻ không được tham gia vào các mối quan hệ với người lớn, trò chơi đóng vai xuất hiện làm trẻ được thỏa mãn nguyện vọng của mình là được vươn tới xã hội của người lớn, được hành động và đối xử như người lớn thực sự
- Vallon, Khrixtencer: Trò chơi của trẻ là sự phản ánh cuộc sống, là hoạt động
bị quy định bởi những điều kiện xã hội Trò chơi không bất biến, phản ánh hiện thực luôn vận động và phát triển
- N.A.Crupxkaia: Chơi giúp trẻ thỏa mãn 2 nhu cầu, đó là: Trẻ mong muốn được hiểu biết về cuộc sống xung quanh, hơn nữa trẻ thích bắt chước người lớn và mong muốn được hoạt động tích cực với bạn bè cùng tuổi" [12, tr.65]
- G.V.Plêkhanov: Ông cho rằng Trò chơi là cầu nối các thế hệ với nhau, truyền tải thành tựu văn hóa từ đời này đến đời khác Trò chơi phản ánh hoạt động lao động của người lớn Trong TC, trẻ bắt chước kỹ năng lao động và lĩnh hội cả những thói quen của người lớn trong xã hội Nhu cầu và sự ham hiểu biết thế giới xung quanh chính là động lực giúp trẻ tích cực hoạt động trong trò chơi Trẻ có nhu cầu chơi vì chúng có mong muốn hiểu biết về thế giới xung quanh Ông cũng như nhiều nhà TLH Macxit khác khẳng định: trò chơi có nguồn gốc từ lao động và xuất hiện sau lao động
- A.L Lêonchiev, L.X Rubinstein: Phát triển đầy đủ hơn tư tưởng của G.V Plêkhanov Khi ông và cộng sự bàn về sự phát triển tâm lý trẻ em, đóng góp nổi bật của ông chính là về vai trò của hoạt động và hoạt động chủ đạo trong tâm lý trẻ em
Trang 20Và đề cập đến lĩnh vực này, ông chú ý đến 3 khía cạnh chính là: nguồn gốc, nội dung và phương thức của sự phát triển [32, tr.17]
Nguồn gốc và nội dung của sự phát triển tâm lý trẻ em theo cách tiếp cận hoạt động chính là văn hóa vật chất và tinh thần do các thế hệ trước sáng tạo ra Nội dung và phương thức phát triển: dựa vào quy luật xã hội lịch sử, sự lưu truyền thành tựu vật chất tinh thần từ thế hệ này sang thế hệ khác qua cơ chế lĩnh hội ở trẻ
Ông khẳng định hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non là hoạt động vui chơi,
và dấu hiệu thay đổi hoạtđộng chủ đạo là thay đổi kiểu hoạt động chủ đạo và quan
hệ chủ đạo của trẻ với thực tế Ông cũng cho rằng: khi hoạt động và hoạt động chủ đạo được xác lập, tức là quan hệ cơ bản giữa hiện thực với trẻ em đã được triển khai
và ổn định, đồng thời xuất hiện quan hệ chi phối hành động - hoạt động Và rằng: nhiệm vụ của các nhà giáo dục là tổ chức quá trình hình thành các hoạt động chủ đạo của trẻ
Tóm lại, theo quan điểm của A.L.Lêonchiev, hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non là hoạt động vui chơi Hoạt động chủ đạo này quy định tính chất và sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ Sự phát triển tâm lý của trẻ cũng diễn ra theo quy luật phát triển tâm lý chung của con người và phải đề cập đến 3 khía cạnh khi khai thác sự phát triển tâm lý là nguồn gốc, nội dung và phương thức của sự phát triển Theo đó, ứng dụng vào vấn đề chúng ta đang nghiên cứu, chúng ta cũng không thể
bỏ qua nguồn gốc, nội dung (bản chất) của hoạt động vui chơi và phương thức phát triển là phương thức hoạt động
Như vậy, với các nhà tâm lý học hoạt động, thông qua hoạt động vui chơi thì tâm lý trẻ em phát triển toàn diện ở các khía cạnh khác nhau như : nhâ ̣n thức: cảm tính và lý tính, tình cảm và hành vi Các đặc điểm tâm lý trên chịu sự tác động to lớn của yếu tố giáo dục và yếu tố hoạt động lao động Thông qua giáo dục và hoạt động thì tâm lý của con người nói chung và tâm lý của trẻ em mới phát triển hoàn thiện, mang tính người
1.1.2 Ở Việt Nam
Trang 21Hiện nay, dù những nghiên cứu riêng biệt về HĐVC của trẻ không nhiều nhưng có không ít tác giả đề cập đến HĐVC trong các tác phẩm của mình Và cũng
có thể nói, một nét chung của các tác giả này là luôn đứng trên quan điểm Macxit, thừa hưởng các thành quả của TLH hoạt động, do đó có một sự thống nhất nhất định khi nói về HĐVC của trẻ em ở trường mầm non
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết khẳng định trongtác phẩm “Giáo dục MN, những vấn đề lý luận và thực tiễn” và “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi MN” rằng: Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, nó chi phối toàn bộ đời sống tâm lý của trẻ và các hoạt động khác Hoạt động vui chơi của trẻ mang dấu ấn của thời đại và tính xã hội sâu sắc Hoạt động vui chơi của trẻ không mang tính bắt buộc, có tính tự lập, có
sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm và có tính ký hiệu tượng trưng [29, tr.221]
Ngoài việc xác định rõ vai trò của HĐVC đối với sự phát triển, dưới ánh sáng của tâm lý học hoạt động, tác giả cũng chỉ ra các đặc điểm tâm lý được bộc lộ ra trong HĐVC Có thể kể ra các đặc điểm tâm lý tác giả chỉ ra trong các tác phẩm khác nhau như: Phát triển tư duy, xuất hiện động cơ hành vi, tư duy trực quan hành động, tư duy trực quan hình tượng, sự hình thành hệ thống thứ bậc động cơ, phát triển đời sống tình cảm Các đặc điểm tâm lý trên được tác giả phân tích khá cụ thể chi tiết khuôn vào các giai đoạn phát triển khác nhau của trẻ mầm non từ 3 – 6 tuổi Tác giả cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ em lứa tuổi mầm non chính là ảnh hưởng của nền văn hóa trong đó đặc biệt là văn hóa gia đình; ảnh hưởng của hoạt động; ảnh hưởng của giáo dục; ảnh hưởng của điều kiện sinh học; ảnh hưởng của tính không đồng đều của giáo dục [29, tr.255-330]
Có thể thấy, các tác phẩm của Nguyễn Ánh Tuyết và các đồng nghiệp đã cho chúng ta cái nhìn khá khái quát và tổng thể về tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non Chúng tôi cũng dựa trên những đặc điểm mà tác giả nêu ra để hoàn thiện luận văn cũng như là cơ sở để đưa ra các tiêu chí quan sát, đánh giá của mình
Đinh Văn Vang, trong các tác phẩm “Giáo trình giáo dục học mầm non”;
“Giáo trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non” ông cho rằng: "Hoạt động
Trang 22vui chơi là hoạt động cơ bản của trẻ lứa tuổi mầm non Là hoạt động mà động cơ của nó nằm trong quá trình chơi chứ không nằm trong kết quả của hoạt động Khi chơi đứa trẻ không chủ tâm vào một lợi ích thiết thực nào, trong trò chơi, các mối quan hệ của trẻ với xã hội và môi trường được mô phỏng lại Chơi mang lại cho trẻ một tinh thần thoải mái, phấn chấn, dễ chịu Chơi được người lớn hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức đồng thời giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách của trẻ" [32, tr.188] Ông đề cập đến các khía cạnh của hoạt động vui chơi như: đặc thù, nguồn gốc và bản chất của hoạt động vui chơi Chơi cũng là phương tiện của giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách Và cũng
đề cập đến mối quan hệ giữa hoạt động vui chơi và hoạt động lao động, chơi và tạo hình của trẻ
Tác giả Vũ Thị Nho trong cuốn "Tâm lý học phát triển" khi nghiên cứu về HĐVC của trẻ em cho rằng: Mâu thuẫn giữa khát vọng được tiếp xúc với thế giới người lớn với những tri thức và kỹ năng để thực hiện điều đó, khiến trẻ phải tìm một hoạt động mới thay thế cho hoạt động đồ vật ở tuổi vườn trẻ Đó là hoạt động vui chơi Trong trò chơi, mà quan trọng nhất là trò chơi đóng vai theo chủ đề, tạo nên những thay đổi về chất trong sự phát triển tâm lý trẻ Trò chơi đóng vai giúp trẻ tái tạo lại hoạt động lao động cùng vơi quan hệ của người lớn làm thỏa mãn khát vọng sống như người lớn của trẻ Hoạt động vui chơi cùng với hoạt động có sản phẩm như vẽ tranh, tô tượng, ở trẻ thể hiện những xúc cảm, tình cảm đối với cái ác cái thiện, thẩm mỹ, [27, tr 59- 60]
Tác giả cũng chỉ ra thông qua quá trình hoạt động vui chơi mà các đặc điểm tâm lý của trẻ có cơ hội được bộc lộ ra và phát triển Với trẻ mầm non sự phát triển tâm lý được thể hiện ở các đặc điểm khái quát: sự phát triển trí tuệ bằng việc chuyển từ tư duy hành động định hướng bên ngoài thành hành động định hướng bên trong; kiểu tư duy bằng tay (trực quan hành động) thành kiểu tư duy trực quan hình tượng; cùng với đó là sự hình thành tư duy mang tính lý luận dựa trên những biểu tượng cụ thể về thế giới khách quan Đặc biệt, giai đoạn này ngôn ngữ cũng phát triển mạnh đạt chất lượng cao về phát âm, vốn từ và hình thức ngữ pháp nhờ đó
Trang 23manh nha cho sự phát triển tư duy “tiền khái niệm” Điều cần lưu ý nữa là tưởng tượng cũng phát triển mạnh ở lứa tuổi này, thể hiện trong trò chơi, bức vẽ, câu chuyện bịa Sự phát triển nhân cách cũng được chỉ rõ Từ 3 tuổi trẻ đã có biểu hiện
về “cái tôi” của trẻ Trong các hoạt động vui chơi, trẻ cũng phát triển các tình cảm, xúc cảm Đặc điểm nổi bật sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi này chính là sự hình thành động cơ hành vi có liên quan đến ý thức bản ngã, đến sự hình thành “cái tôi” với tư cách là một thành viên xã hội
Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa khẳng định: Chơi là một hoạt động tự lập của trẻ; Chơi không nhằm tạo ra sản phẩm mà chủ yếu thỏa mãn nhu cầu được chơi của trẻ được bắt chước làm người lớn của trẻ; Chơi của trẻ không phải là thật mà là giả
vờ nhưng sự giả vờ ấy lại mang tính chất chân thật Động cơ chơi của trẻ không nằm trong kết quả mà nằm trong hành động chơi, chính vì thế, các hành động chơi của chúng kích thích chúng chơi và duy trì hứng thú chơi [19, tr 160] Bà cũng nêu lên các đặc điểm của HĐVC của trẻ chính là trò chơi mang tính tự do, tự nguyện; tự điều khiển; sáng tạo; xúc cảm tình cảm của trẻ Bà so sánh sự khác biệt của HĐVC với các HĐ khác là Chơi mang tính kí hiệu tượng trưng chứ không phải thực, và chơi như là một hình thức tự lập tích cực của trẻ em
Nhìn chung, các tác giả VN đều có chung một xu hướng khi nghiên cứu về HĐVC của trẻ em lứa tuổi MN Họ đều cho rằng HĐVC của trẻ là HĐCĐ, mang tính tự lập, tự nguyện và sáng tạo cao, chứa đựng cảm xúc của chủ thể khi chơi HĐVC có kết quả tinh thần nằm ngay trong quá trình chơi và không có kết quả vật chất - sản phẩm nhìn thấy được Hoạt động vui chơi có mối quan hệ mật thiết với các hoạt động khác như HĐ học tập và HĐ lao động; góp phần giáo dục toàn diện cho trẻ; có vai trò quyết định trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em Các tác giả cũng chỉ ra, HĐVC đã giúp cho trẻ bộc lộ ra các đặc điểm tâm lý
và phát triển tâm lý của trẻ em một cách toàn diện Những đặc điểm tâm lý được các tác giả thường phân tích chỉ ra là các khía canh: sự phát triển trí tuệ, sự phát triển ngôn ngữ, sự phát triển nhân cách hoặc sự hình thành ý thức bản thân, sự phát triển đời sống tình cảm, sự phát triển tư duy… Tựu chung lại, có thể chia những đặc
Trang 24điểm tâm lý mà trẻ bộc lộ ra qua HĐVC từ các công trình nghiên cứu trên thành các nhóm như sau: nhân thức: cảm giác, tri giác, tư duy trực quan hành động, tư duy trực quan hình tượng, tưởng tượng, biểu tượng, ngôn ngữ; tình cảm: tình cảm thẩm
mỹ, tình cảm đạo đức…; hành vi: động cơ hành vi, hệ thống thứ bậc động cơ… Đây cũng chính là những đặc điểm tâm lý chúng tôi áp dụng vào trong luận văn để nghiên cứu, đánh giá trẻ em thông qua HĐVC
1.2 Các khái niệm cơ bản
Để thống nhất quan điểm về tâm lý trẻ em, lứa tuổi mầm non, hoạt động vui chơi của trẻ em lứa tuổi mầm non chúng tôi đề cập đến các khái niệm trên ở phần dưới đây
1.2.1 Lứa tuổi mầm non
1.2.1.1 Khái niệm
Có sự khác biệt trong quan niệm về các giai đoạn phát triển của con người
giữa quan điểm sinh vật và quan điểm tâm lý học Macxit Cụ thể, quan điểm sinh vật coi sự phát triển tâm lý là một quá trình sinh vật tự nhiên, đã khẳng định tính bất biến, tính tuyệt đối của các giai đoạn Quan niệm tâm lý học Mácxít coi lứa tuổi là một thời kỳ phát triển nhất định, đóng kín một cách tương đối mà ý nghĩa của nó được quyết định bởi vị trí của thời kỳ đó trong cả quá trình phát triển chung Khi chuyển từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác bao giờ cũng xuất hiện cấu trúc tâm lý mới
Căn cứ vào thay đổi trong cấu trúc tâm lý hoạt động của trẻ và cả sự trưởng thành của trẻ mà người ta chia ra một số thời kỳ chủ yếu
- Giai đoạn trước tuổi học và giai đoạn tuổi học sinh Trong đó, lứa tuổi mẫu giáo được nằm trong giai đoạn trước tuổi đi học từ 3 đến hết 5 năm [18, tr.25]
- Trẻ em lứa tuổi mầm non thuộc giai đoạn 4 – 6 tuổi với hoạt động chủ đạo là trò chơi đóng vai Nhờ các trò chơi này mà trẻ mô phỏng lại trong trò chơi những mối quan hệ giữa con người với con người Nhờ đó mà trẻ dần dần phát triển nhân cách với tư cách là một thành viên của xã hội [27, tr.43]
Trang 25Theo đó, từ 3 – 6 tuổi được xem là lứa tuổi mẫu giáo với hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi mà đóng vai theo chủ đề là trung tâm [29, tr.132] Tuy nhiên, bản thân cuốn sách Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non tác giả lại thể hiện độ tuổi mầm non là từ lọt lòng đến 6 tuổi Phải chăng có sự mâu thuẫn trong cuốn sách này? Chúng tôi cho rằng, không tồn tại mâu thuẫn trong cuốn sách này Bản chất chỉ là việc hiểu rộng hơn hay hẹp hơn khái niệm lứa tuổi mầm non mà thôi Nếu bó hẹp quan niệm mầm non thì lứa tuổi nằm trong quan điểm này phải là từ 3 – 6 tuổi – như nhiều quan điểm khác đã thừa nhận và phân chia Còn hiểu rộng hơn lứa tuổi mầm non là lứa tuổi tiền đi học thì nó là cả giai đoạn từ khi lọt lòng đến 6 tuổi Trong giai đoạn này có nhiều giai đoạn nhỏ: năm đầu đời, tuổi ấu nhi, mẫu giáo bé, mẫu giáo nhỡ, mẫu giáo lớn
Với các nhà giáo dục, quan niệm về giáo dục học mầm non cũng đã làm rõ lứa tuổi mầm non Trong đó, lứa tuổi mầm non được hiểu là trẻ em từ 0 – 6 tuổi [19, tr.10]
Từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên đã chỉ ra quan niệm về lứa tuổi tiền học đường là lứa tuổi từ 3 – 6, 7 tuổi Đặc trưng của hoạt động này là hoạt động vui chơi Nó có ý nghĩa rất lớn đối với sự hành thành nhân cách của trẻ Giai đoạn này
có thể chia thành các thời kỳ sau: Lứa tuổi tiền học đường nhỏ 3 – 4 tuổi; Lứa tuổi tiền học đường nhỡ 4 – 5 tuổi và lứa tuổi tiền học đường lớn 5 – 7 tuổi [14, tr.438] Tóm lại, quan điểm về lứa tuổi mầm non chưa thực sự thống nhất về độ tuổi giữa các nhà tâm lý học trên thế giới nói chung và các nhà tâm lý học trẻ em nói riêng Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó, các nhà tâm lý học và giáo dục học đã gặp nhau ở quan điểm phân chia lứa tuổi mầm non thành 3 thời kỳ nhỏ, nhỡ và lớn Dựa trên quan điểm nghiên cứu của đề tài, trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này
chúng tôi quan niệm lứa tuổi mầm non thuộc độ tuổi từ 3 – 6 tuổi Trong đó chia
thành 03 thời kì: Mẫu giáo bé: 3 – 4 tuổi; Mẫu giáo nhỡ: 4 – 5 tuổi và Mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi
1.2.1.2 Đặc điểm tâm lý trẻ em lứa tuổi mầm non
a Trẻ 3 – 4 tuổi:
Trang 26- Có sự thay đổi hoạt động chủ đạo, chuyển từ hoạt động với đồ vật sang hoạt
động tượng trưng, mô phỏng: Đến tuổi này, trẻ đã có một vốn từ vựng nhất định và
càng phát triển mạnh mẽ hơn, trẻ có khả năng lắng nghe, hiểu ngôn ngữ, ghi nhớ, tưởng tượng, sao chép hình ảnh và dùng khái niệm đơn giản Do đó, trẻ không nhất thiết nhìn thấy đồ vật mà chỉ bằng ngôn ngữ trẻ có thể hiểu và tưởng tượng ra
đồ vật được nới đến Rõ ràng trong đầu trẻ đã xuất hiện tư duy trực quan - hình tượng, có thể mô phỏng sự vật hiện tượng trẻ từng thấy và có trong kinh nghiệm của mình
- Có sự hình thành ý thức về bản thân: Tuy nhiên, ý thức về bản thân chỉ ở
mức đơn gian như trẻ nhận ra giới tính của mình là trai hoặc gái, cũng với một số đặc điểm kèm theo như tóc, quần áo, giầy dép ; trẻ mấy tuổi, trẻ con ai, trẻ học lớp nào, trường nào; và có ý thức sở hữu: trẻ biết cái gì là của trẻ, cái gì không; cái gì của gia đình mình
- Có sự xuất hiện của động cơ hành vi: Sự xuất hiện này gắn liền với sự hình
thành bản ngã của trẻ Trẻ bắt đầu có ý thức về cái tôi, nên các hành động của trẻ không đơn thuần là bột phát như trước mà đôi khi có chứng kiến, cách nghĩ riêng của trẻ chứ không hẳn là theo ý muốn chủ quan - lúc này hành vi của trẻ mang tính
xã hội hay còn gọi là mang tính nhân cách Ví như trẻ biết nhặt vỏ bánh vừa ăn xong cho vào thùng rác, nếu ai hỏi vì sao vứt vỏ bánh vào thùng rác trẻ có thể nói một cách ngắn gọn là "bẩn quá" mà không lí giải một cách rõ ràng và không hiểu được ý nghĩa đích thực hành động của mình
Nhìn chung, đến giai đoạn này, trẻ đã hình thành bản ngã của mình, trẻ đã thể hiện nhiều điểm khác biệt với những trẻ khác từ sở thích cho đến khả năng trí tuệ và cách biểu hiện Trẻ có những xu hướng phát triển khác nhau cho dù trình độ phát triển khá đồng đều Có những trẻ có thiên hướng đặc biệt, nếu được phát hiện sớm, những khả năng đó sẽ là một lợi thế cho trẻ về sau
b Trẻ 4 – 5 tuổi:
Trang 27- Ở trẻ lứa tuổi MN hình thành "xã hội trẻ em": Trẻ biết tạo mối quan hệ rộng
rãi và phóng phú với các bạn cùng chơi trên nền tảng của yếu tố tâm lý đã có nảy sinh trong HĐVC như trẻ đã có sự chủ động, tự do và tự lực
Có thể nói, HĐVC là hoạt động cùng nhau đầu tiên của trẻ, không có sự phối hợp với nhau giữa các trẻ thì không thành trò chơi, đặc biệt trò chơi ĐVTCĐ - trò chơi chủ yếu của lứa tuổi này Trẻ rủ nhau chơi và chơi cù ng nhau trở thành một nhu cầu không thể thiếu bởi trong giai đoạn tuổi này, TC ĐVTCĐ là trò chơi chiếm hầu hết thời gian của trẻ Trẻ chơi với nhau, giao tiếp với nhau, phân vai cho nhau
đã tạo nên một "xã hội trẻ em" cả về phương diện thật và giả Thật chính là ở quan
hệ thật trong khi chơi và giả là quan hệ chơi trong khi chơi Mặt khác, "xã hội trẻ em" khác xã với xã hội người lớn là xã hội trẻ em là một phạm vi nhỏ hẹp, phản ánh nhỏ hẹp và đặc biệt là tính không bền vững của nó "Xã hội trẻ em" hợp rồi tan, tan lại hợp, thực và chơi, chơi và thực, vai thay đổi tùy theo hoàn cảnh và hứng thứ của trẻ Chính điều này lại tạo nên tính độc đáo của "xã hội trẻ em"
- Giai đoạn phát triển mạnh tư duy hình tượng: Ở tuổi mẫu giáo bé, tư duy
trực quan - hình tượng đã xuất hiện nhưng chưa phát triển mạnh, tuy nhiên, đó cũng
là một điều kiện cho sự phát triển kiểu tư duy trực quan - hình tượng Ở tuổi mẫu giáo này, phần lớn trẻ đã có khả năng suy luận ở mức đơn giản bằng "phép thử ngầm trong óc" trên cơ sở các biểu tượng Cú như thế, đến cuối tuổi mẫu giáo nhỡ, kiểu tư duy trực quan - hình tượng bắt đầu chiếm ưu thế
- Phát triển về đời sống tình cảm: "Ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ, đời sống tình cảm
của trẻ có một sự chuyển biến mạnh mẽ, vừa sâu sắc, vừa phong phú hơn so với tuổi trước đó" [29, tr.291] Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, quan hệ với người khác được mở rộng hơn nhiều, do vậy tình cảm của trẻ cũng phát triển về nhiều phía đối với mọi người trong xã hội Khác với trẻ mẫu giáo nhỏ, giai đoạn tuổi này rất thèm khát sự trừu mến, thương yêu Trẻ lo sợ trước thái độ thờ ơ, lạnh nhạt của người xung quanh Không chỉ nhu cầu được yêu thương của trẻ lớn mà sự thể hiện - bộc lộ tình cảm của trẻ cũng rất mạnh mẽ Tình cảm ấy, trước hết được bộ lộ với những người
thân yêu trong gia đình, sau đó là với cô giáo, bạn trong lớp
Trang 28- Sự phát triển động cơ hành vi và sự hình thành hệ thống thứ bậc động cơ: Ở
tuổi mẫu giáo nhỡ, các động cơ hành vi đã được xuất hiện và ngày càng rõ ràng vào cuối tuổi này Song những động cơ xã hội, mang tính đạo đức và thái độ của trẻ đối với người khác chiếm vị trí hàng đầu Nếu trẻ được phân tích rõ hơn những hành vi của mình, trẻ càng lĩnh hội được nhiều quy tắc đạo đức và có ý thức hơn khi thực hiện các hành động của mình Trong đó, động cơ xã hội - muốn làm một cái gì đó cho người khác, đem lại niềm vui cho người khác được trẻ thể hiện nhiều nhất Sự hình thành và phát triển động cơ này là một bước trưởng thành quan trọng của trẻ mẫu giáo nhỡ so với tuổi mẫu giáo bé
c Trẻ 5 - 6 tuổi (tuổi mẫu giáo lớn): Trẻ có một số đặc điểm tâm lý nổi bật sau: Thứ nhất: Phát triển ngôn ngữ - giao tiếp ở trẻ: Lứa tuổi mẫu giáo là giai đoạn
bộc lộ cao nhất tính nhạy cảm với ngôn ngữ Do đó, trẻ học ngôn ngữ rất nhanh và
sử dụng ngôn ngữ thành thạo trong cuộc sống hành ngày Sự thành thạo đó thể hiện ở:
+ Trẻ nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ như trẻ biết sử dụng ngữ điệu êm ái khi muốn biểu thị tình cảm yêu thương
+ Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp: Vốn từ của trẻ phát triển rất nhanh theo đó, việc sử dụng câu cũng thay đổi theo độ tuổi và thay đổi theo tần suất giao tiếp Nếu trẻ 2 tuổi nói được câu đơn gồm 3 - 4 chữ thì trẻ 3 tuổi nói được câu 5 - 6 chữ, trẻ 5 - 6 tuổi hoàn toàn có thể diễn dạt được câu ghép, phức tạp Trẻ hầu như hiểu được điều chúng nói ra và hiểu được ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày
+ Có sự xuất hiện ngôn ngữ giải thích: Ngôn ngữ giải thích có tính chặt chẽ và mạch lạc, nó còn được gọi là ngôn ngữ mạch lạc Ngôn ngữ mạch lạc là sự thể hiện trình độ ngôn ngữ phát triển tương đối cao Nó bao gồm ngữ nghĩa và cả tư duy trong đó
Thứ hai: Ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý: Như đã nhắc
đến ởtrên, ý thức bản ngã bắt đầu xuất hiện từ tuổi ấu nhi, nhưng đến tuổi này mới phát triển mạnh, trẻ hiểu và biết nhiều hơn về bản thân cũng như các mối quan hệ xung quanh, trẻ có khả năng giao tiếp và diễn đạt một cách lành mạnh và lưu loát,
Trang 29do đó, trẻthể hiện được suy nghĩ của mình nhiều hơn, bộc lộ ý thức bản ngã ngày càng rõ nét
Tuy nhiên, để có được sự phát triển về bản ngã như vậy, trẻ cũng trải qua hai giai đoạn: đầu tiên là trẻ nghe người lớn đánh giá về mình và sau đó đánh giá về người khác thông qua việc học - bắt chước người khác đánh giá mình Sự đánh giá ban đầu này chịu ảnh hưởng bởi tình cảm của trẻ rất nhiều Trẻ đánh giá được nhờ vào việc lĩnh hội các chuẩn mực và quy tắc hành vi Cuối tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã biết so sánh mình với người khác Đây là cơ sở cho trẻ biết đánh giá một cách đúng đắn hơn và ít lệ thuộc vào cảm xúc bản thân hơn
Ý thức bản ngã phát triển, giúp trẻ điều chỉnh được hành vi cho phù hợp với những chuẩn mực và quy tắc xã hội, nhân cách của trẻ ngày càng đậm nét hơn, trẻ chủ động và có ý thức hơn trong việc lựa chọn hành động, vì vậy mà tâm lý cũng mang tính chủ định rõ rệt
Ở tuổi này, sự tập trung chú ý cũng như ghi nhớ của trẻ phát triển mạnh, việc đặt mục đích cho hành động được thể hiện rõ nét hơn, thúc đẩy các hành động định hướng bên trong có tính chủ động cao, do vậy mà HĐVC cũng chuyển dần sang có luật rõ nét hơn
Như vậy, cùng với sự phát triển bản ngã thì tính chủ định trong tâm lý của trẻ cũng phát triển cao hơn Do vậy, các hành động của trẻ được tự kiểm soát nhiều và mang tính xã hội cũng như cá nhân đạm nét hơn
Thứ ba: Xuất hiện kiểu tư duy trực quan - hình tượng mới: Kiểu tư duy sơ đồ
và những yếu tố của kiểu tư duy logic: Để đáp ứng với khả năng và nhu cầu của trẻ
ở tuổi này, kiểu tư duy trực quan - hình thượng phát triển mạnh ở tuổi mẫu giáo nhỡ
đã nhường chỗ cho sự phát triển kiểu tư duy mới: trực quan - sơ đồ Tư duy trực quan - sơ đồ phát triển cao sẽ đưa trẻ tới ngưỡng của tư duy trừu tượng, sẽ cho trẻ hiểu những sơ đồ khái quát mà sau này, sự hình thành khái niệm sẽ chủ yếu được hình thành trên đó
Thứ tư: Bước ngoặt 6 tuổi và chuẩn bị tâm lý cho trẻ khi bước vào trường phổ thông: Theo cách phân loại này, hầu như các nhà TLH đều đặc biệt quan tâm và
Trang 30nhấn mạnh tầm quan trọng của tuổi lên 6 của trẻ Họ coi đây là một bước ngoặt - đánh dấu nhiều sự thay đổi, không chỉ về môi trường mà cả tâmlý của trẻ Hết 5 tuổi, trẻ hết tuổi mẫu giáo, 6 tuổi, trẻ bước vào lớp một Do vậy, cần phải chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng để trẻ bước vào trường phổ thông một cách thuận lợi
Tóm lại, trẻ em lứa tuổi MN có những đặc điểm tâm lý nổi bật và có nét riêng theo từng độ tuổi Năm được các đặc điểm này giúp chúng ta có cách ứng xử phù hợp với trẻ, đồng thời giúp các giáo viên MN có cơ hội tổ chức HDVC cho trẻ đạt kếtt quả cao hơn Đây cũng là cơ sở để chúng tôi đánh giá những biểu hiện tâm lý của trẻ MN theo độ tuổi thông qua các trò chơi cụ thể
1.2.2 Hoạt động vui chơi của trẻ em lứa tuổi mầm non
1.2.2.1 Khái niệm HĐVC của trẻ em lứa tuổi MN
a Hoạt động vui chơi
Tác giả Nguyễn Thị Hòa nêu rằng: "Chơi là một hoạt động tự lập của trẻ, chơi không nhằm tạo ra sản phẩm (kết quả vật chất) mà chủ yếu nhằm thỏa mãn như cầu được chơi của trẻ (kết quả tinh thần), được bắt chước làm người lớn của trẻ Chơi của trẻ không phải là thật mà giả vờ Động cơ chơi không nằm trong kết quả mà nằm ngay trong các hành động chơi của trẻ Chính các hành động chơi này kích thích trẻ chơi và duy trì hứng thú chơi của trẻ" [31, tr 160] Song ở khái niệm này,
ta thấy bà chưa đề cập rõ đến vấn đề cảm xúc của trẻ hay trạng thái tinh thần của trẻ trong quá trình chơi, và kết thúc hoạt động chơi Bởi vì chơi, như ta thường thấy, đều gây cho trẻ một trạng thái thoải mái, vui nhộn, chủ động, tích cực và tự nguyện cao
Còn các quan niệm sinh học như đã nêu ở trên cho rằng hoạt động chơi là sự tiêu hao sức lực dư thừa hoặc mang tính bản năng giống như con vật Chơi giúp trẻ làm chủ tình huống và gây phấn chấn ở trẻ
Theo cách hiểu của chúng tôi, quan điểm Tâm lý học hoạt động về HĐVC là một hoạt động có cấu trúc giống như các hoạt động khác, tuy nhiên trong hoạt động này, chủ thể thực hiện hoạt động không có động cơ gắn liền với sản phẩm vật chất,
Trang 31hoạt động chơi chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu được chơi Trong khi chơi, chủ thể của hoạt động thể hiện tinh thần thoải mái, thích thú
Xuất phát từ những quan niệm Tâm lý học đã nêu, chúng tôi cho rằng HĐVC
là sự tác động qua lại, giữa chủ thể và khách thể nhằm thỏa mãn nhu cầu được chơi của chủ thể
b Khái niệm HĐVC của trẻ em lứa tuổi MN
Trong lịch sử nghiên cứu về HĐVC của trẻ em lứa tuổi MN, có rất nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này Tuy nhiên, chúng ta có thể điểm qua một số quan niệm mang tính đại diện Cụ thể như:
- HĐVC của trẻ là sự giải tỏa năng lực dư thừa của trẻ em giống như con vật non (Spencer)
- Trò chơi tượng trưng của trẻ giống như những tượng trưng trong giấc mơ (S.Freud)
- Stanley – Hall, Karl Gross: Trò chơi của trẻ em cũng như trò chơi của động vật, tuyệt nhiên không chỉ để giải lao mà còn để tập dượt những hoạt động trong tương lai
- Các nhà TLH Mácxit mà đại diện là A.N.Lêonchev cho rằng: HĐVC chơi mang bản chất xã hội, nó phản ánh lao động và cuộc sống của người lớn, trò chơi là sợi dây nối liền các thế hệ với nhau, truyền đạt kinh nghiệm và văn hóa từ đời này sang đời khác HĐVC là hoạt động chủ đạo của trẻ em lứa tuổi mầm non Chơi được coi là một hoạt động mà động cơ nằm trong quá trình chơi chứ không nằm trong kết quả của hoạt động Khi chơi đứa trẻ không chú tâm vào một lợi ích thiết thực nào cả Trong trò chơi, các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và với xã
hộ được mô phỏng lại Chơi mang lại cho trẻ một trạng thái tinh thần vui vẻ, phấn chấn, dễ chịu [28, tr168]
- Với G.Piaget: Trò chơi là một trong những hoạt động trí tuệ, là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của trí tuệ của trẻ, tạo ra sự thích nghi của trẻ với môi trường
Trang 32- Hay Đinh Văn Vang quan niệm: "Hoạt động vui chơi là một trong các loại hình hoạt động cơ bản của trẻ em ở trường mầm non, là hoạt động mà động cơ của
nó nằm trong quá trình chơi chứ không phải nằm trong kết quả của hoạt động Khi chơi, đứa trẻ không chú tâm và lợi ích thiết thực nào cả, trong trò chơi thiết lập được mối quan hệ với tự nhiên và xã hội được mô phỏng lại, chơi mang lại cho trẻ một trạng thái tinh thần vui vẻ, phấn chấn, dễ chịu" [32, tr12] Hoạt động chơi của trẻ được người lớn hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách của trẻ ở lứa tuổi này Qua sự trình bày và tìm hiểu về khái niệm hoạt động vui chơi, chúng tôi cho
rằng: HĐVC của trẻ em lứa tuổi MN, là một quá trình tác động lẫn nhau giữa trẻ
với khách thể trong độ tuổi 3 - 6 tuổi nhằm thỏa mãn nhu cầu được chơi của trẻ,
qua đó các đặc điểm tâm lý của trẻ được bộc lộ, hình thành và phát triển
1.2.2.2 Đặc điểm HĐVC của trẻ em lứa tuổi MN trong nhà trường
- Trò chơi mang tính giáo dục: Thể hiện ở việc trẻ chơi chỉ nhằm thỏa mãn
nhu cầu được chơi chú không vì một lợi ích vật chất nào cả Đồng thời, trong khi chơi, trẻ hòa mình vào trò chơi, thục hiện các hành động chơi của mình theo cách riêng của trẻ, không quan tâm đến việc nó có đúng cách và có thực hiện đúng vai trò
xã hội của vai trẻ mô phỏng hay không
- Là một hoạt động mô phỏng lại cuộc sống con người, mô phỏng lại những
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và với xã hội Do đó nó mang tính tượng
trưng
- Mang màu sắc cảm xúc chân thực và mạnh mẽ: Những cảm xúc của trẻ trong
khi chơi rất đa dạng và phong phú Niềm vui trong trò chơi là niềm vui của sự chiến thắng và sáng tạo Trong khi chơi, không những trẻ chỉ thể nghiệm cảm xúc tích cực
mà còn dằn vặt, đau buồn về sự thất bại, không thỏa mãn với kết quả chơi, buồn giận các bạn chơi Song dù có xuất hiện những cảm xúc tiêu cực nhưng niềm vui sướng, sự thỏa mãn khi được chơi hết mình vẫn bao trùm lên chúng
- Động cơ chơi nằm trong quá trình chơi chứ không phải ở kết quả chơi:
Không có kết quả vật chất qua trò chơi của trẻ Cái trẻ muốn chiếm lĩnh là quy luật,
Trang 33nguyên tắc của trò chơi, đồng thời chơi trẻ được thể hiện điều mình mong muốn, vai mình muốn trở thành Đó chính là động cơ chơi của trẻ
- Chơi của trẻ mang tính sáng tạo, đặc biệt trong trò chơi đóng vai theo chủ
đề L.X Vưgotxki đã chỉ ra rằng, khi trong đầu trẻ xuất hiện một dự định hay một
kế hoạch nào đó và muốn thực hiện nó có nghĩa là đã chuyển sang hoạt động sáng tạo Ngay từ tuổi mẫu giáo, trẻ đã có khả năng chuyển từ suy nghĩ sang hành động, biến những suy nghĩ của mình thành hành động thực tiễn, song việc này được thực hiện trước hết là trong trò chơi - vì trẻ chưa có khả năng và phương tiện làm thật Ta biết rằng: ở trẻ đã xuất hiện các biểu tượng, có khả năng tưởng tượng nên trẻ có khả năng phát triển óc sáng tạo, phát minh sáng kiến Khi chơi, do có cả sự tập trung cao độ, trẻ chủ động và hết mình hòa vào trò chơi, nên việc tư duy và óc tưởng tượng của trẻ làm việc rất tích cực Và sự sáng tạo của trẻ nảy sinh, cũng vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trẻ có khả năng nghệ thuật rất cao, có óc sáng tạo nghệ thuật Tuy nhiên, một điều khác biệt là trẻ chơi cho chính trẻ, sáng tạo để trò chơi hấp dẫn hơn, trẻ thỏa mãn mong muốn của mình Hơn thế, trẻ thích thú chứ không phải để cho khán giả xem hay để lại một tác phẩm nghệ thuật nào
- Trò chơi của trẻ em thay đổi theo sự phát triển của trẻ: mỗi lứa tuổi có một
loại hình chơi đặc trưng, ví dụ tuổi nhà trẻ, trò chơi đặc trưng là chơi với đồ vật; sang tuổi mẫu giáo bé, chơi với cả đồ vật và có sự xuất hiện của việc chơi chung, chơi có các mối quan hệ với người xung quanh; tuổi mẫu giáo nhỡ, ĐVTCĐ phát triển mạnh; tuổi mẫu giáo lớn thì kiểu chơi tích hợp, kết hợp mới là trung tâm
- Nội dung chơi phản ánh hiện thực xung quanh Ngay cả khi chơi với đồ vật,
các đồ vật chính là sự mô phỏng của vật thật, đồ chơi cũng có chủ đề của nó như đồ chơi gia đình; đồ chơi xây dựng; đồ chơi thiên nhiên như hoa quả, cây cối và các trò chơi cũng vậy, trò chơi của trẻ xuất phát từ hiện thực khách quan, từ môi trường sống xung quanh trẻ như chơi lớp học, chơi gia đình, chơi bệnh viện Chính vì thế
mà nội dung chơi của trẻ phản ánh hiện thực xung quanh trẻ
c Một số dạng trò chơi đặc trưng ở lứa tuổi mầm non
Trang 34Có rất nhiều dạng trò chơi khác nhau được tổ chức tại trường cho lứa tuổi MN
như trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi dân gian, trò chơi xây dựng lắp ghép, trò
chơi vận động, trò chơi học tập, trò chơi nhận thức bản thân… Tuy nhiên, chúng tôi
chỉ lựa chọn 05 trò chơi ở 4 dạng trò chơi khác nhau Cụ thể như sau:
Dạng trò chơi đóng vai theo chủ đề
ĐVTCĐ là loại trò chơi trong đó trẻ đóng một vai chơi cụ thể để tái tạo lại những ấn tượng, những cảm xúc mà trẻ thu nhận được từ một môi trường xã hội của người lớn nhờ sự tham gia tích cự của trí tưởng tượng
Trong trò chơi này, trẻ tái tạo lại những hành động của người lớn cũng như thái độ và mối quan hệ của họ với nhau Đây là một sự phản ánh độc đáo và đầy sáng tạo của trẻ về mối quan hệ xã hội của người lớn mà khái quát lên là mối quan
hệ giữa người với người Trong lúc chơi, trẻ luôn có gắng nhập và diễn tốt vai chơi của mình đồng thời trẻ thiết lập mối quan hệ bằng cách riêng của trẻ với các vai chơi
Dạng trò chơi học tập
Đây là loại trò chơi mang tính tổng hợp và đòi cao hơn các trò chơi vận động,
nó được lồng ghép các nội dung học tập vào đó Trong trò chơi, trẻ phải giải quyết các nhiệm vụ học tập dưới hình thức nhẹ nhàng, thoải mái Nói cách khác, trẻ tiếp nhận tri thức như một nhiệm vụ trí tuệ tự do, vui vẻ, tự nguyện Trò chơi học tập có
ý nghĩa quan trọng đối với việc chuẩn bị cho trẻ bước vào giai đoạn học sinh, giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ Nó có thể được sử dụng làm phương pháp hình thành các năng lực nhận thức cũng như các quá trình tâm lý chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1
Trang 36+ Phân loại được đồ vật, con vật, màu sắc ;
+ Có các biểu tượng về hình khối, màu sắc, hình dáng, sự vật ;
+ Khả năng bộc lộ ngôn ngữ thông thường, ngôn ngữ giải thích, ngôn ngữ cơ thể;
+ Khả năng tư duy trực quan hành động, trực quan hình tượng, tư duy logic;
1.3.2 Tình cảm
Tình cảm được xem xét thông qua một số yếu tố sau:
- Tình cảm đạo đức: Nghĩa là trẻ MN bộc lộ tình cảm với điều tốt, điều xấu; sự
ngoan - hư; tinh thần xây dựng trò chơi; biết yêu thương con người, yêu thiên nhiên, con vật, đồ chơi ;
- Tình cảm thẩm mỹ: Trẻ bộc lộ sự yêu thích cái đẹp, cái mới, thích những
người cùng chơi, các con vật và đồ vật xinh đẹp và dễ thương;
- Tình cảm trí tuệ: Được trẻ bộc lộ qua việc chăm chú nghe cô hướng dẫn,
chăm chú quan sát bạn chơi, đặt các câu hỏi về luật chơi, khám phá và sáng tạo ra những luật chơi mới, sáng tạo ra những điều thú vị
1.3.3 Hành vi
Mặt hành vi của trẻ MN bộc lộ thông qua các trò chơi được chúng tôi đánh giá
cụ thể là:
- Các khía cạnh của hành vi:
+ Khả năng bắt chước: Nghĩa là trẻ lặp lại được các hành vi của các con vật, của các bạn và của cô giáo;
+ Độ thành thạo: Thể hiện ở chỗ các hành vi của trẻ trở nên điêu luyện, trở thành kỹ năng sẵn có mà không cần đến sự làm mẫu, không cần quá tập trung trẻ vẫn làm được;
+ Độ bền vững thể hiện ra ở việc trẻ MN có thể lặp lại hành vi đã từng thể hiện dẫu trải qua thời gian trẻ cũng không quên
Tuy nhiên, ở các trò chơi khác nhau mà chúng tôi lựa chọn, chúng tôi lại đi sâu và làm cụ thể hóa các tiêu chí này hơn
Trang 371.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ em trong hoạt động vui chơi
1.4.1 Yếu tố chủ quan
Khi nói đến yếu tố chủ quan, chúng tôi tập trung vào phân tích động cơ của
trẻ khi tham gia HĐVC Yếu tố này gắn liền với hành vi của trẻ, nó còn được gọi là động cơ hành vi Nó được chúng tôi đánh giá thông qua 3 khía cạnh:
- Động cơ được thể hiện: Nghĩa là việc trẻ MN được thể hiện những hiểu biết của mình trước bạn bè, trước cô giáo thúc đẩy trẻ tham gia vào trò chơi;
- Động cơ được khen ngợi: Trẻ được khen ngợi là trẻ được đánh giá tích cực, làm cho trẻ vui, phấn khởi, từ đó trẻ càng hưng phấn và tích cực chơi, chơi tốt hơn;
- Động cơ được thỏa mãn: trẻ MN luôn có nhu cầu khám phá thế giới xung quanh, tham hiểu biết về các đồ vật, con vật, muốn được giống người lớn… nhưng trên thực tế, trẻ chưa có khả năng thực hiện được, muốn thỏa mãn nhưng điều đó, trẻ chỉ có cách tham gia vào các trò chơi Nhờ các trò chơi mà trẻ nhận thức được thế giới xung quanh mình
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Được chúng tôi xem xét thông qua văn bằng, chứng chỉ của giáo viên Nếu giáo viên được tốt nghiệp từ các cơ sở chuyên môn về MN nghĩa là có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, mặc dù đây chỉ là bề ngoài, không thể đánh giá chính xác tuyệt đối được vấn đề này Ngoài ra nó còn được đánh giá thông qua hiểu biết của giáo viên về HĐVC của các con tại trường MN đã phù hợp hay chưa
Trang 38- Năng lực tổ chức, hướng dẫn các trò chơi mà chúng tôi lựa chọn Trong khía cạnh này, chúng tôi xem xét qua việc giáo viên tự đánh giá về vai trò của mình trong khi tổ chức các trò chơi cho trẻ; khả năng giải quyết những khó khăn mà giáo viên gặp phải; khả năng thu hút trẻ tham gia vào trò chơi;
- Năng lực phát hiện và kích thích những các khả năng nổi trội của trẻ MN ở các trò chơi được nghiên cứu;
- Các khía cạnh như số lượng trẻ /GV; mức thu nhập củ a GV cũng tác động không nhỏ đến việc tổ chức HĐ chơi các trò chơi của trẻ MN tại trường
Đây là những yếu tố giúp một nhà giáo có thể tổ chức thành công các trò chơi trên, đồng thời đạt được mục đích hình thành và bộc lộ các đặc điểm tâm lý theo mong muốn ở các trò chơi
Yếu tố đồ chơi trong các trò chơi được nghiên cứu, chúng tôi đánh giá qua các khía cạnh là:
- Xuất xứ của đồ chơi;
- Chất liệu đồ chơi;
- Tình trạng hướng dẫn chơi đồ chơi
- Sự đa dạng của đồ chơi
Những khía cạnh này góp phần làm cho trò chơi đạt kết quả tốt hơn và tác động đến sựbộc các biểu hiện tâm lý của trẻ
Trang 39Tiểu kết chương 1:
Qua quá trình nghiên cứu về mặt lý luận, chúng tôi rút ra được những vấn đề
quan trọng sau:
Một là: HĐVC của trẻ em lứa tuổi MN là một quá trình tác động lẫn nhau
giữa trẻ với khách thể trong độ tuổi 3 – 6 tuổi nhằm thỏa mãn nhu cầu được chơi của trẻ, qua đó các đặc điểm tâm lý của trẻ MN được bộc lộ, hình thành và phát triển
Hai là: HĐVC của trẻ em lứa tuổi MN đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối
với sự phát triển của lứa tuổi này nói riêng và tâm lý con người nói chung Nó là hoạt động chủ đạo, làm biến đổi về chất trong đời sống tâm lý trẻ em Cụ thề mặt nhận thức, HĐVC vui chơi làm hình thành và biến đổi tư duy, từ trực quan hành động sang trực quan hình tượng và tư duy logic; phát triển ngôn ngữ và hình thành bản ngã; về tình cảm trẻ bộc lộ ngày càng phong phú và sâu sắc; hành vi của trẻ từ bột phát sinh hành vi mang tính xã hội
Ba là các đặc điểm tâm lý của trẻ biểu hiện trong hoạt đô ̣ng vui chơi các trò
chơi bao gồm:
- Nhận thức cảm tính và lý tính: Nhận thức cảm tính là nhận thức về, màu sắc,
hình khối, hình dáng, âm thanh, đồ vật, con vật, độ trơn, nhẵn, sần sùi, nặng hay nhẹ
và về mùi Nhận thức lý tính là hiểu được luật chơi, vai chơi; phân loại được các con vật, đồ vật, màu sắc; có các biểu tượng về hình khối, màu sắc, sự vật, con vật; khả năng thể hiện được ngôn ngữ thông thường, ngôn ngũ giải thích, và ngôn ngữ
cơ thể; khả năng tư duy trực - quan hành động, trực quan – hình tượng và tư duy logic
- Tình cảm bộc lộ trong HĐVC của trẻ MN: Bao gồm: Tình cảm đạo đức
được trẻ thể hiện đối với điều tốt, điều xấu; đối với việc ngoan hay hư; có tinh thần xây dựng trò chơi; biết yêu thương con người, yêu thiên nhiên, con vật, đồ chơi Tình cảm thẩm mỹ thể hiện với việc bộ lộ sự yêu thích cái đẹp, cái mới; thích chơi cùng những người, vật, con vật xinh đẹp và dễ thương Tình cảm trí tuệ được thể
Trang 40hiện qua việc trẻ chăm chú nghe cô giáo hướng dẫn, chăm chú quan sát bạn chơi; đặt câu hỏi về luật chơi; khám phá và sáng tạo ra những điều thú vị
- Hành vi bộc lộ trong HĐCV: đó là việc bắt chước hành vi của cô, của bạn,
của các con vật; là sự bền vững và thành thạo các hành vi bắt chước được
Bốn là: Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và bộc lộ
các biểu hiện tâm lý của trẻ em lứa tuổi MN thông qua các trò chơi Đó là yếu tố bên trong củatrẻ mà cơ bản nhất là động cơ thúc đẩy và yếu bên ngoài là giáo viên hướng dẫn và đồ chơi
Như vậy, từ việc xây dựng lý luận Tâm lý học về vấn đề nghiên cứu như trên
đã cho phép chúng tôi tiếp tục nghiên cứu thực trạng HĐVC của trẻ em lứa tuổi MN tại một số trường MN ở TP Hà Nội một cách cụ thể và khách quan