Do đó việc tiến hành nghiên cứu “ Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” là một yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn góp phần
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Nguyễn Văn Thuật
MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI THUỶ SẢN GIỮA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2006
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Nguyễn Văn Thuật
MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI THUỶ SẢN GIỮA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 603130 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Giáo viên hướng dẫn:
PGS.TS Nguyễn An Lịch
HÀ NỘI, NĂM 2006
Trang 3MỤC LỤC
Trang Lời cam đoan 1
Mục lục 2
PHẦN I- MỞĐẦU 4
1.Tính cấp thiết của đề tài 5
2.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 5
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 6
4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 6
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Điểm mới của luận văn 7
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể 10
8 Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu 11
9 Kết cấu của luận văn 12
PHẦN II - NỘI DUNG 13
Chương 1.Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 13
1 Cơ sở lý luận 13
1.1.Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin 13
1.2.Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam 15
1.3 Một số lý thuyết vận dụng nghiên cứu một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và HoaKỳ 15
1.3.1 Lý thuyết Lựa chọn hợp lý 16
1.3.2 Lý thuyết trao đổi 20
1.4 Các khái niệm công cụ 21
1.4.1.Khái niệm"Vấn đề xã hội" 21
1.4.2.Khái niệm"hành động xã hội" 25
Trang 41.4.3.Khái niệm"tương tác xã hội" 27
1.4.4.Khái niệm"quan hệ xã hội" 27
Chương 2 Quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 29
1 Khái quát về hệ thống chính trị và văn hoá của người dân Hoa Kỳ 29
2 Chính sách thương mại của Hoa Kỳ 31
3 Quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 34
4 Quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 40
Chương 3 Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và HoaKỳ 58
1 Những tranh chấp trong quan hệ thương mại thuỷ sản Việt - Mỹ 58
1.1 Chiến dịch chống lại việc nhập khẩu cá tra và cá ba sa Việt Nam 58
1.2 Vụ kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá philê cá tra và ba sa đông lạnh tại Hoa Kỳ
61 1.3 Vụ kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá một số sản phẩm tôm tại Hoa Kỳ 67
2 Một số vấn đề xã hội nảy sinh do những tranh chấp thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 73
2.1 Tác động của các vụ kiện đến tình hình lao động, việc làm trong lĩnh vực thuỷ sản ở Đồng bằng Sông Cửu Long 75
2.2 Tác động của những vụ kiện bán phá giá thuỷ sản đến việc làm và thu nhập của các công nhân trong các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷsản 77
2.3 Tác động của những vụ kiện bán phá giá thuỷ sản đến đời sống,việc làm và thu nhập của ngư dân nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản 81
2.4 Tác động của vụ kiện tôm đến người tiêu dùng thuỷ sản Hoa Kỳ 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
KẾT LUẬN 89
KHUYẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC
Trang 5Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ Xã hội học này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là
do bản thân tôi trực tiếp thu thập và xử lý thông qua các tài liệu do Bộ thuỷ sản,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê Việt Nam và Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư 13 tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Thương vụ - Đại sứ quán Việt Nam tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cung cấp Những tài liệu này chưa ai công bố dưới dạng các công trình nghiên cứu xã hội học
Tác giả Luận văn
Nguyễn Văn thuật
Trang 6PHẦN I - MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình tham gia vào toàn cầu hoá, là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trong quá trình phân công lao động và mở rộng quan hệ quốc tế.Việt Nam đã từng bước chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, vừa đảm bảo được lợi ích dân tộc, vừa nâng cao được sức cạnh tranh của nền kinh tế, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tạo cơ sở phấn đấu trở thành nước công nghiệp hoá vào năm 2020
Nhìn lại 20 năm đổi mới và hội nhập, nước ta có quan hệ thương mại với 224/255 quốc gia và vùng lãnh thổ, từ đó góp phần tích cực vào việc phát triển thị trường xuất khẩu và mở cửa nền kinh tế Nhờ vào tiến trình hội nhập kinh tế trong 20 năm qua mà nền kinh tế nước ta từ chỗ thiếu lương thực và hàng tiêu dùng đến chỗ đã có dư, tăng xuất khẩu và có dự trữ Điều này chứng tỏ rằng chúng ta đã ngày càng nhận thức đúng quy luật vận động của quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới mà nước ta chủ động hội nhập
Đảng đã khẳng định:"Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các
nước trong cộng đồng quốc tế” [7] Hội nhập kinh tế thế giới là một trong những
quan điểm chiến lược, là con đường tất yếu đất nước ta phải trải qua để tiến nhanh trở thành nước công nghiệp hoá hiện đại.Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, một trong những quan hệ kinh tế được Nhà nước ta chú trọng, đó
là quan hệ kinh tế giữa nước ta và Hoa Kỳ
Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu đàm phán chính thức về bình thường hoá quan
hệ vào năm 1991 Tháng 12 năm 1994, Hoa Kỳ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995 Song song với quan
hệ chính trị và ngoại giao, quan hệ kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và Hoa
Kỳ cũng không ngừng phát triển Việc thông qua Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ và có hiệu lực từ năm 2001 đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình bình thường hoá quan hệ giữa quốc gia Nhờ đó, kim ngạch thương mại hàng hoá hai chiều của hai bên đã không ngừng tăng lên và năm
Trang 72003 Việt Nam đã trở thành bạn hàng thương mại lớn thứ 40 của Hoa Kỳ Những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ gồm hàng may mặc, thuỷ sản, nông sản khô, dầu khí… Một trong những sản phẩm xuất khẩu sang Hoa Kỳ nêu trên là sản phẩm thuỷ sản và được Nhà nước Việt Nam coi phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu thuỷ sản trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là ngành kinh tế “mũi nhọn” của đất nước
Mặc dù Hiệp định Thương mại song phương đang phát huy hiểu quả kinh tế thương mại nói chung của 2 nước Song quan hệ thương mại thuỷ sản giữa 2 nước trong thời gian qua đã bộc lộ một số bất cập nhất định do cả yếu tố khách quan lẫn yếu tố chủ quan, và chưa được khắc phục một cách có hiệu quả Điều đó
đã và đang làm nảy sinh một số vấn đề xã hội và tác động tiêu cực đến hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản, của người sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản của Việt Nam cũng như nhu cầu của người tiêu dùng thuỷ sản Hoa Kỳ.v.v Hơn nữa tâm lý của người tiêu dùng thuỷ sản trên thị trường Hoa Kỳ vẫn còn chưa được các doanh nghiệp Việt Nam khai thác để kích cầu tạo cơ sở cho việc tăng tốc xuất khẩu các sản phẩm thuỷ sản sang Hoa Kỳ Việc giao lưu văn hoá và trao đổi quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ còn hạn chế…làm cho thiết chế kinh
tế và văn hoá chưa ổn định Do đó việc tiến hành nghiên cứu “ Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” là
một yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn góp phần làm sáng tỏ một số mặt tích cực cũng như một số mặt tiêu cực trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa hai bên, từ đó đưa ra một số giải pháp khoa học phù hợp với tình hình thực
tế hiện nay của đất nước nhằm phát huy mặt tích cực và đẩy lùi mặt tiêu cực của
nó để thúc đẩy sự phát triển quan hệ kinh tế - xã hội giữa hai bên và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam một cách có hiệu quả nhất
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Việc tiến hành nghiên cứu “ Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ” có một ý nghĩa khoa học quan
Trang 8trọng là tìm hiểu những xu hướng tiềm ẩn trong quan điểm về quan hệ giữa hai bên trong đó có quan hệ thương mại thuỷ sản, trên cơ sở đó, hoạch định những chính sách phù hợp cũng như tạo ra cơ chế hoạt động bình đẳng cùng có lợi
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Những tranh chấp trong quan hệ thương mại
thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tác động đến các hoạt động nuôi trồng, khai thác thuỷ hải sản của ngư dân và doanh nghiệpViệt Nam xuất khẩu thuỷ sản sang Hoa Kỳ Từ đó làm nảy sinh các vấn đề xã hội
3.2 Khách thể nghiên cứu: Các tư liệu và các chủ thể có liên quan đến
thương mại thuỷ sản với Hoa Kỳ
4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
- Do nhiều khó khăn khách quan và chủ quan, đề tài chỉ nghiên cứu trên cơ sở thu thập và phân tích tài liệu do Bộ Thuỷ sản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê Việt Nam và Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư 13 tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Thương vụ Việt Nam tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cung cấp và giới hạn nghiên cứu một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại giữa hai bên về lĩnh vực thuỷ sản Đó là các tranh chấp trong thương mại thuỷ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và những tác động của chúng
- Về mặt thời gian xem xét thực trạng thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ từ năm 2001 - 2005
Trang 95 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên cơ sở xem xét các chính sách hiện hành cũng
như thực trạng của quá trình trao đổi thương mại thuỷ sản giữa hai bên Cụ thể là những vấn đề sau:
+ Phân tích để nhận diện thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ và phân tích để nhận diện những vấn đề xã hội nảy sinh
+ Phân tích nguyên nhân về những tranh chấp thương mại trong lĩnh vực thuỷ sản giữa 2 bên và những tác động của chúng đến đời sống xã hội
+ Đưa ra những khuyến nghị và giải pháp phù hợp để phát triển“Mối quan
hệ thương mại” lành mạnh trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng các điều ước đã ký
giữa 2 bên
6 Điểm mới của luận văn
Mở rộng quan hệ với các quốc gia trên thế giới là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, là cơ sở để phát huy nội lực và tận dụng ngoại lực trong phát triển kinh tế nhằm đưa nền kinh tế nước ta có chất lượng tăng trưởng
cao và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu:"dân giàu, nước
mạnh,xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"
Trang 10Ở Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường do Đảng cộng sản khởi xướng (1986), đặc biệt là từ năm 1995 cho đến nay các nghiên cứu về quan
hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới đã và đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, những nghiên cứu
về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới dưới góc độ của khoa học xã hội học vẫn chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm, thậm chí các nghiên cứu của khoa học xã hội học về quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn còn chưa có, mà mới chỉ được lồng ghép bằng phương pháp khảo sát vào các nghiên cứu của các khoa học khác Đặc biệt các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở kinh tế ngoại thương Ngoài những bài báo, sách nhỏ, có thể nêu lên đây một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này:
1- Đề tài:" Nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về
môi trường đối với một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế" của Tiễn sĩ Bùi Hữu Đạo, Vụ Khoa học - Bộ Thương
mại trong đó nhẫn mạnh, trước nhu cầu hội nhập và mở rộng hợp tác kinh tế với
các nước cần có môi trường kinh tế quốc tế thuận lợi và năng động hỗ trợ hợp tác quốc tế, thực hiện các hành động cụ thể đã cam kết, chúng ta cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường- coi đây như là ba trụ cột của quá trình phát triển bền vững và chúng có sự phụ thuộc tương hỗ, củng cố lẫn nhau Bản thân môi trường không thể tự bảo vệ chính mình trước những ảnh hưởng tiêu cực hết sức mạnh mẽ của các ngành thương mại không bền vững, việc sản xuất và tiêu thụ quá mức của con người,
dân số gia tăng, phát triển công nghệ sản xuất không thân thiện với môi trường
2- Đề tài: "Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh quá trình hội nhập của
thương mại Việt Nam vào kinh tế khu vực và quốc tế" của PGS.TS Nguyễn Phúc Khánh, Đại học Ngoại thương đã đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm
đẩy nhanh tiến trình hội nhập của thương mại Việt Nam vào kinh tế khu vực và quốc tế Đồng thời nêu rõ tầm quan trọng của vai trò mở rộng hợp tác quốc tế là
Trang 11cơ sở cho việc hội nhập kinh tế có hiệu quả của Chính phủ, các bộ, ngành và các doanh nghiệp
3-Nghiên cứu về:"Đạo luật COGSA của Hoa Kỳ với các công ước quốc tếđiều chỉnh vận đơn đường biển và luật hàng hải Việt Nam" của PGS.TS Nguyễn Như Tiến- Đại học Ngoại Thương đã làm rõ một số Điều luật về thương mại của Hoa Kỳ giúp cho cá hoạt động kinh doanh và xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào Hoa Kỳ và đã so sánh sự giống và khác nhau giữa đạo luật chuyên chở hàng hoá bằng đường biển của Hoa Kỳ với các công ước quốc tế điều chỉnh vận đơn đường biển và luật hàng hảiViệt Nam là rất có ý nghĩa đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển quan hệ thương mại và hàng hải giữa Việt Nam với Hoa Kỳ hiện tại cũng như trong tương lai nhằm giảm thiểu các rủi rocó thể phát sinh về khía cạnh pháp lý
4- Đề tài: "Nâng cao hiệu quả chính sách khuyến khích xuất khẩu củaViệt
Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế" của TS Lê Trịnh Minh Châu (Viện nghiên cứu thương mại) và Th.s PhạmThị Tuệ (Đại học ngoại thương) đã phân tích và
cho thấy chính sách khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam hiện nay mặc dù đã
có nhiều cải cách, song do nhiều nguyên nhân khác nhau nên hiện nay còn chứa đựng nhiều vấn đề, vừa chưa phù hợp với các nguyên tắc và qui định của WTO, vừa chưa tác động tích cực đến sự tăng trưởng xuất khẩu bền vững của các ngành kinh tế Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả của chính sách khuyến khích xuất khẩu phù hợp với thông lệ quốc tế là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho
sự hội nhập thành công của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới
Từ những khái quát vấn đề vừa nêu trên, Luận văn này có thể được coi là một trong số những nghiên cứu đầu tiên về quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ từ tiếp cận của khoa học xã hội học Quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là một sự kiện, một thực tế tồn tại tất yếu trong quá trình hội nhập và phát triển Mọi Chính phủ và quốc gia đều coi việc mở rộng quan hệ quốc tế và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quan hệ quốc tế là một trong những nhân tố cơ bản của sự phát triển của đất nước mình theo những mức
Trang 12độ, cách thức khác nhau tuỳ thuộc vào những điệu kiện, nền văn hoá, tập quán, pháp luật của mỗi nước Do vậy đề tài này đi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề
xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên quan điểm của khoa học xã hội học Đó cũng là điểm mới của Luận văn
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” là một vấn đề mới, và có nhiều hướng tiếp cận
khác nhau Nghiên cứu vấn đề này phụ thuộc vào các thiết chế Kinh tế- Chính trị- Văn hóa – xã hội của của Việt Nam và của quốc tế.Vì vậy, đề tài này dựa trên hướng tiếp cận liên ngành, vừa xã hội học, kinh tế học và chính trị học Để thực hiện đề tài đạt kết quả, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, trước hết là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta Đề tài cũng dựa trên cơ sở tiếp cận“Lý thuyết lựa chọn hợp lý” của Coleman và “Lý thuyết trao đổi ” của Perter Blau 7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Các phương pháp cụ thể được tiến hành nghiên cứu là: Phân tích tài liệu, phỏng vấn sâu
7.2.1.Phương pháp phân tích tài liệu:Thông qua các tài liệu về lý thuyết, các
đề tài nghiên cứu và số liệu liên quan đến“ Quan hệ thương mại giữa Việt Nam
và Hoa Kỳ” nhằm thu thập thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận văn
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu: là phương pháp định tính Tác giả phỏng
vấn sâu một số lãnh đạo, cán bộ thuộc Bộ Thuỷ sản, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương Mại Việt Nam và một số lãnh đạo doanh nghiệp có sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ cung như một số ngư dân làm nghề nuôi trồng và khai thác thuỷ sản ở Đồng bằng Sông Cửu Long…
Trang 138 Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
8.1 Khung lý thuyết
8.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1:“Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” đã góp phần
nâng cao năng lực thâm nhập và mở rộng thị trường cũng như hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
Giả thuyết 2: Chính sách bảo hộ các ngành công nghiệp sản xuất nội địa của
Hoa Kỳ nói chung và mối quan hệ giữa các ông chủ đứng đầu nền công nghiệp sản xuất thuỷ sản nội địa Hoa Kỳ với một số quan chức chính quyền bang và liên bang của họ nói riêng là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc chống lại các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
Quan hệ thương mại song phương giữa
Việt Nam và Hoa Kỳ
Các Hiệp hội chế biến,
Các vấn đề XH nảy sinh trong thương mại thuỷ sản
Thực trạng tranh chấp thương mại thuỷ sản giữa 2 nước
Trang 14Giả thuyết 3: Những tranh chấp trong thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và
Hoa Kỳ đã tác động tiêu cực đến thu nhập và lao động - việc làm của các công nhân trong các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản và ngư dân làm nghề nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản của Việt Nam Đồng thời những tranh chấp đó cũng tác động tiêu cực đến người tiêu dùng thuỷ sản của Hoa Kỳ
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu; Kết luận và khuyến nghị; phần II Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Chương 3: Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản
Trang 15PHẦN II - NỘI DUNG CHƯƠNG I- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lý luận
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra quy luật phát triển lịch sử của xã hội loài người trên toàn thế giới Hệ thống quan điểm biện chứng của Mác về các quá trình và hiện tượng là sự thống nhất của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về lịch sử và xã hội Theo Mác, nghiên cứu đời sống xã hội phải hướng vào phân tích cuộc sống thực, phải xuất phát từ tiền đề " là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ " Xuất phát điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử là việc phân tích các quá trình lịch sử từ góc độ hoạt động vật chất của con người, từ góc độ cơ sở kinh tế, từ quan điểm" tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội" Đồng thời phép duy vật biện chứng cũng đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ và tác động qua lại, trong mâu thuẫn và vận động, phát triển không ngừng của lịch sử xã hội Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi nghiên cứu xã hội phải phân tích “các cá nhân hiện thực, hoạt động của họ và các điều kiện sống vật chất của
họ ” Mác cho rằng sự kiện lịch sử đầu tiên và quan trọng nhất là hành động sản xuất ra các phương tiện thoả mãn nhu cầu vật chất để tồn tại con người và “ tồn tại xã hội quyết định ý thức ”…
Khi nghiên cứu xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét xã hội với tư cách
là một chỉnh thể gồm các bộ phận có mối liên hệ qua lại với nhau xã hội phát triển từ hình thái kinh tế - xã hội đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao,v.v Ở
đây luận văn chỉ đề cập một số quan điểm chung liên quan đến nghiên cứu:"một
số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương thại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ"
Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là cơ sở lý luận và phương pháp luận trong nghiên cứu xã hội học nói chung và trong nghiên cứu về một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương thại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ nói
Trang 16riêng phải tập trung vào phân tích mối quan hệ về kinh tế - xã hội, chính trị, văn hoá giữa hai bên trong việc tạo ra các chính sách và cơ chế quan hệ cho thương mại giữa hai bên nói chung, quan hệ thượng mại thuỷ sản nói riêng Chẳng hạn, nghiên cứu một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương thại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tác động đến cơ cấu kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ như thế nào và cũng như tác động đến các quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hoá giữa hai bên theo xu hướng nào
Mác cho rằng:“ bản chất con người không phải là một cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” Nghiên cứu một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không chỉ phân tích ảnh hưởng của thiết chế kinh tế, các chính sách kinh tế và trao đổi thương mại tới hành vi, hoạt động của hai bên mà còn phân tích ảnh hưởng của các thiết chế khác, các chính sách xã hội tới việc cải thiện điều kiện vật chất và tinh thần của người dân làm nghề thuỷ sản nói chung, cũng như đến mối quan hệ thương mại thuỷ sản giữa hai bên trong thời kỳ hiện nay
Tất nhiên, nghiên cứu: "Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ" phải đặt nó trong bối cảnh và mối tương tác cụ thể và phát triển theo quy luật quan hệ của nó vì không phải bối cảnh nào cũng nảy sinh ra các vấn đề xã hội giống nhau v.v…Trong nền kinh tế thị trường hiện nay của nước ta có nhiều thành phần kinh tế khác nhau và gắn liền với mục
tiêu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để xây dựng nước Việt Nam:“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì sự nảy sinh ra một số
vấn đề xã hội trong quan hệ kinh tế giữa hai bên là tất yếu và nó cũng diễn ra theo quy luật của nó, đồng thời cũng tác động đến khả năng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nói chung, của ngành thuỷ sản nói riêng Chính vì vậy việc vận dụng các quy luật để giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh trong quan hệ thương mại giữa hai bên góp phần tạo nên mối quan hệ tốt đẹp phù hợp với lợi ích của mỗi quốc gia
Trang 171.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Quan hệ hợp tác quốc tế để phát triển là xu thế tất yếu hiện nay của thế giới, cũng là nhu cầu của các quốc gia Các nền kinh tế ( dù ở trình độ nào) đều phải cần liên kết với nhau để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và hỗ trợ nhau Phát triển mối quan hệ hợp tác giữa các nước, các tổ chức quốc tế đã trở thành mối quan tâm của nhân loại Đảng và Nhà Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm trước thế giới mong muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng Quốc tế và sẵn sàng hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực vì sự thịnh vượng chung của nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, Đảng cộng sản Việt Nam coi phát triển là phát huy mọi nguồn lực để phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, tăng trưởng kinh
tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân…
Phát triển mạnh và phát huy vai trò chiến lược của kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển, mở rộng nuôi trồng và đánh bắt, chế biến hải sản, tiến ra biển
xa nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và các thế lợi so sánh của đất nước, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trường trong nước và ngoài nước Tạo thêm sức mua của thị trường trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu trong đó coi xuất khẩu thuỷ sản là một lĩnh vực mũi nhọn
1.3 Một số lý thuyết vận dụng nghiên cứu một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Trong nghiên cứu xã hội học, đặc biệt là nghiên cứu về "một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, có nhiều quan điểm và lý thuyết giúp các nhà nghiên cứu có thể vận dụng vào
nghiên cứu của mình Để thực hiện đề tài luận văn, tác giả vận dụng lý thuyết "
Trang 18Lựa chọn hợp lý" của Coleman và lý thuyết " trao đổi" của Peter Blau làm cơ
sở khoa học để phân tích, đánh giá và dự báo về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam
và Hoa Kỳ trong thương mại thuỷ sản trong phạm vi giới hạn đã được xác định của đề tài Trong quá trình nghiên cứu, căn cứ vào những nét văn hoá riêng của đất nước, tác giả cố gắng đặt nghiên cứu của mình vào trong bối cảnh cụ thể để nghiên cứu vừa vận dụng và lựa chọn hợp lý những ưu điểm của các lý thuyết đó
1.3.1 Lý thuyết Lựa chọn hợp lý: Một số nét cơ bản vận dụng
Một số tác giả tiêu biểu của lý thuyết lựa chọn hợp lý này là Coleman, Friendman và Hechter cho rằng sự lựa chọn hợp lý của các chủ thể là có những mục đích, mục tiêu về cái mà hành động của họ hướng tới Hành động của các chủ thể được thực hiện để đạt được các mục đích phù hợp với hệ tư tưởng của họ Mặc dù các chủ thể hành động là nhằm vào các mục đích và dự định của họ Song điều quan trọng là các chủ thể luôn tính đến 2 yếu tố cơ bản kìm hãm hành động của họ [14]:
Thứ nhất, sự hiếm hoi các tiềm năng của các chủ thể, vì các chủ thể có các
tiềm năng khác nhau cũng như cách thâm nhập khác nhau vào các tiềm năng khác Đối với các chủ thể có nhiều tiềm năng thì họ có thể đạt được kết quả của
họ một cách tương đối dễ (Ví như các ông chủ đứng đầu Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Hoa Kỳ (CFA) phải đối phó với sự cạnh tranh về sản phẩm cá tra,
cá basa nhập khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kỳ, họ dễ dàng tìm cách để đưa ra những lý do kiện các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thuỷ sản vào Hoa Kỳ) Trái lại, đối với các chủ thể có ít tiềm năng thì sự đạt được mục đích của họ lại trở nên khó khăn hoặc không đạt được mục đích (Ví như, khi các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sản phẩm cá tra, cá basa bị kiện cho rằng bán phá giá sản phẩm của mình trên thị trường Hoa Kỳ, thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽ luôn gặp những khó khăn để bác bỏ được đơn kiện của Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Hoa Kỳ (CFA) vì nhiều yếu tố như chi phí cao, hoặc vì Việt Nam là một nước chưa được Hoa Kỳ công nhận là quốc gia có nền kinh tế thị trường, hoặc Hoa Kỳ luôn luôn có chính sách bảo hộ nền công nghiệp nội địa của họ.v.v.)
Trang 19Sự hiếm hoi các tiềm năng là một nhân tố kìm hãm các chủ thể hành động Các chủ thể luôn tính đến vấn đề chi phí của các cơ hội hay các chi phí đó luôn gắn liền với chuỗi hành động theo đuổi mục đích của họ, các chủ thể luôn phải tính đến cái giá của các hành động kế tiếp của họ Một chủ thể có thể chọn cách không theo đuổi mục đích có giá trị, lợi nhuận cao nhất nếu tiềm năng của chủ thể đó hạn chế hoặc nếu kết quả là các cơ may để đạt được mục đích là rất mỏng manh Các chủ thể luôn luôn cố gắng để tối đa hoá các lợi ích, giá trị và mục đích của họ và những mục đích, giá trị, lợi ích đó có thể bao gồm việc đánh giá mối quan hệ giữa các cơ may để đạt được một mục đích ban đầu và xem xét các cơ may đó để đạt được mục đích có giá trị tiếp theo
Thứ hai, sự kìm hãm các hành động của các chủ thể là các thiết chế, chuẩn
mực xã hội Các yếu tố kìm hãm hành động của các chủ thể cũng còn bao gồm cả các hình phạt tích cực và tiêu cực đan xen nhau kích thích các chủ thể hành động một cách xác định có nên lựa chọn hành động đó không hay loại trừ các hành động đó Cơ sở của việc lựa chọn hợp lý được Friendman và Hecchter liệt kê hai
ý tưởng sau: (1)- Tập hợp cơ cấu hay quá trình mà qua đó " các hành vi cá thể riêng biệt được kết hợp để tạo ra kết quả xã hội", (2)- Do nhận thức càng ngày càng cao về tầm quan trọng của thông tin trong việc lựa chọn hợp lý trong từng thời điểm, giả sử các chủ thể có được các thông tin hoàn hảo hoặc đầy đủ thì họ
sẽ thực hiện các lựa chọn để theo đuổi mục đích giữa các chuỗi hành động có thể thế nhau bỏ ngỏ cho anh ta và tất nhiên là việc nhận thức tầm quan trọng của thông tin là rất đa dạng và sẵn có lại ảnh hưởng sâu sắc tới các lựa chọn của các chủ thể
Sự lựa chọn hợp lý (mô hình của hành động hợp lý) được Coleman vận dụng như là cơ sở ở cấp độ vi mô để lý giải các hiện tượng vĩ mô và ông cho rằng xã hội học phải tập trung vào các hệ thống xã hội và việc lý giải các hiện tượng trong các hệ thống xã hội phải được lý giải bởi các yếu tố nội tại của chúng (các
hệ thống - nguyên mẫu là các chủ thể) Hơn nữa, các ý tưởng, quan điểm thường được tập hợp ở cấp độ cá thể rồi mới được kết hợp lại ở cấp độ hệ thống, cấp độ
Trang 20cá thể chính là nơi "các sự can thiệp" thường được thực hiện để tạo ra các biến đổi xã hội Hành động hợp lý của các chủ thể chính là hành động có mục đích để hướng tới một mục tiêu và mục tiêu đó cũng như hành động đó định hình bởi các giá trị hay các sở thích nhằm tối đa hoá các lợi ích hay nhằm thoả mãn các nhu cầu và kỳ vọng của chủ thể
Trọng tâm trong quan điểm của Coleman là hai nhân tố cơ bản sau: các chủ thể và các tiềm năng của họ Các tiềm năng là những cái mà qua đó các chủ thể kiểm soát và họ có sự quan tâm nhất định về việc kiểm soát các tiềm năng này
Sự tương tác của các chủ thể và tiềm năng của họ dẫn tới cấp độ hệ thống.: " Nền tảng tối thiểu đối với một hệ thống xã hội là hai chủ thể, mỗi chủ thể kiểm soát các tiềm năng về mối quan tâm của chủ thể kia và chính mối quan tâm của từng chủ thể về các tiềm năng thuộc sự kiểm soát của các chủ thể còn lại dẫn tới việc
cả hai thực hiện các hành động bao gồm…một hệ thống hành động… chính cấu trúc này và các định hướng của các chủ thể về mục đích thì mỗi chủ thể có mục tiêu để tối đa hoá nhận thức về các quan tâm của họ dẫn tới sự phụ thuộc lẫn nhau trong các hành động của họ" [14]
Trong thực tiễn, Coleman cũng cho rằng các chủ thể cũng thường không ứng
xử một cách hợp lý Song hành động hợp lý của các chủ thể lại được thể hiện trong mối liên kết vi mô- vĩ mô hay theo cách thức kết hợp của các hành động cá thể để đưa tới hành vi của hệ thống và hệ thống này có cách thức để kìm hãm các định hướng hành động của các chủ thể Quan điểm của Coleman là tiếp cận cấp
vi mô để giả thích các hiện tượng vĩ mô và những khác biệt trong các hiện tượng
vĩ mô có thể truy nguyên tới các cấu trúc khác nhau của các quan hệ ở cấp độ vĩ
mô chứ không phải ở các dạng khác nhau của cấp độ vi mô Sự vận động từ cấp
độ vi mô sang vĩ mô là việc ban thẩm quyền và các quyền lợi thuộc sở hữu, kiểm soát của một chủ thể cho một chủ thể khác và hành động này có xu hướng dẫn tới
sự phụ thuộc lẫn nhau của một chủ thể này vào một chủ thể khác.Điều quan trọng hơn là nó tạo ra một hiện tượng vĩ mô cơ bản nhất - một đơn vị hành động bao gồm hai chủ thể hay đúng hơn là hai chủ thể độc lập Mối liên hệ trong một cấu
Trang 21trúc có tính kết quả thực hiện chức năng một cách độc lập với các chủ thể; việc tối đa hoá các quan tâm của chủ thể này được họ thay bằng cách tìm ra các quan tâm của chủ thể khác hay của đơn vị tập thể độc lập Đây vừa là một thực tế xã hội khác biệt vừa là một thực tế " có những lỗ hổng và làm phát sinh ra các vấn
đề đặc biệt"
Sự chuyển giao việc kiểm soát các tiềm năng của chủ thể này cho chủ thể khác được thực hiện một cách đơn phương là để tối đa hoá lợi ích của chủ thể đơn phương chuyển giao từ một viễn cảnh mà anh ta cho là hợp lý Tuy nhiên, sự tối đa hóa của cá thể cũng bao gồm một sự cân bằng về việc kiểm soát giữa nhiêu chủ thể để dẫn tới sự cân bằng trong xã hội Sự chuyển giao việc kiểm soát cho một chủ thể khác để đổi lấy việc chủ thể đó nhường lại sự kiểm soát của họ cho mình được goi là sự chuyển giao không đơn phương (sự trao đổi) thông qua các tiêu chí có tính chất cân bằng
Sự từ bỏ một phần các quyền kiểm soát hành động của bản thân một chủ thể
để tiếp nhận một phần quyền kiểm soát các hành động của người khác là thông qua các tiêu chí.Các tiêu chí được hình thành và duy trì là do một số chủ thể thấy được các lợi ích từ các tiêu chí đó và sự tổn hại khi vi phạm các tiêu chí đó (tính hai mặt của tiêu chí- tiêu chí này có lợi cho người này cũng có thể có hại cho người khác).Nếu các chủ thể chủ quan hoá các tiêu chí có nghĩa là họ tạo ra một
hệ thống trừng phạt nội bộ khi họ vi phạm tiêu chí đó
Các tiêu chí là những hiện tượng vĩ mô hình thành trên cơ sở của hành động
có mục đích ở cấp độ vi mô Các tiêu chí có ảnh hưởng nhất định lên hành động của các chủ thể Tuy nhiên trong phạm vi tập thể thì các chủ thể hành động theo mối quan tâm của tập thể
Trong tổ chức cũng có những xung đột giữa lợi ích cá thể và tập thể và mối quan tâm của cá thể quyết định quá trình các sự kiện, hiện tượng Sự tồn tại của các chủ thể đoàn thể là mới làm nảy sinh ra vấn đề làm thế nào để bảo đảm nghĩa
vụ xã hội của chúng
Trang 22Coleman cho rằng các nhóm tôn giáo và các cấu trúc có mục đích là các tổ chức kinh tế và các nhà nước và sự phân biệt này là nhằm xử lý các vị trí trong các cấu trúc có mục đích hơn là những người cư ngụ trong cấu trúc cơ bản để đi tìm kiến thức cho sự tái thiết lập một xã hội mới
1.3.2 Lý thuyết trao đổi của Peter Blau: Một số nét cơ bản vận dụng
Trao đổi xã hội là một khía cạnh, một mặt của hành vi xã hội nhưng lại có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự hội nhập, đoàn kết, thống nhất xã hội Trao đổi
xã hội được thể hiện ở hai chức năng Chức năng thứ nhất, trao đổi xã hội tạo ra mối quan hệ gắn kết, thiện chí, tin cậy, nhất trí trong xã hội và chức năng thứ hai,
trao đổi xã hội là tạo ra mối quan hệ quyền lực giữa các bên tham gia trao đổi [16] Trong trao đổi, chủ thể hành động theo hệ giá trị, chuẩn mực của nhóm đã được hình thành từ trước, có nghĩa là hành động lựa chọn hợp lý; mối liên hệ và
sự trao đổi giữa các cá nhân chịu sự chi phối của sự lựa chọn duy lý của nhóm và
xã hội, quan hệ quyền lực là quan hệ tương tác nhiều chiều Trong đó người có quyền và kẻ dưới quyền đều tác động phụ thuộc nhất định vào nhau trên một bối cảnh nhất định Ngược lại, nếu có sự khước từ, sự từ chối có tính chất tập thể đối
Trang 23với quyền lực là nguyên nhân gây ra những phản ứng chống lại những người nắm giữ quyền lực trong nhóm
Trong quan hệ trao đổi xã hội gồm nhiều người với nhau, quyền lực thể hiện nhiều bộ mặt khác nhau Sự trao đổi xã hội của nhóm tạo ra các giá trị và chuẩn mực giúp cho sự hợp pháp hoá, hợp thức hoá, thiết chế hoá quan hệ quyền lực Trong trao đổi xã hội, quyền lực là thứ có thể trao đổi để lấy thứ khác Do đó, người có quyền lực vẫn cần phải quan hệ, tương tác với người khác để nhận được những thứ cần thiết và có giá trị Đặc biệt, để thực thi quyền lực cưỡng chế các cá nhân, nhóm có thể tự tạo ra những lệch lạc họăc bóp méo sự thật hay tạo ra những hàng rào cản trở sự cơ động,năng động xã hội nhằm duy trì quan hệ quyền lực nhất là để củng cố vị trí trong cấu trúc thang bậc quyền lực trong xã hội Các cấu trúc xã hội được Blau phân chia thành hai loại cấu trúc: Cấu trúc xã hội vi mô - gồm các cá nhân tương tác với nhau tạo thành Cấu trúc xã hội vĩ mô
- gồm các nhóm tương tác với nhau tạo thành Hai loại cấu trúc này đều có những đặc điểm giống nhau, tương tự nhau do cũng bắt nguồn từ các quá trình hấp dẫn
xã hội, trao đổi xã hội và sự chống đối, mâu thuẫn giữa các cá nhân và giữa các nhóm Điểm khác nhau của hai loại cấu trúc xã hội này là cấu trúc vĩ mô luôn có một số loại yếu tố đặc thù sau:
1- Cấu trúc xã hội vĩ mô được hình thành trên cơ sở của sự nhất trí về hệ các giá trị, các chuẩn mực chi phối hành động và quan hệ giữa các yếu tố tạo thành cấu trúc
2- Cấu trúc xã hội vĩ mô luôn bao gồm các mối liên hệ phức tạp của các cấu trúc bộ phận và các cấu trúc vi mô
3- Cấu trúc xã hội vĩ mô có tính bền vững nhờ chứa đựng các thiết chế xã hội nảy sinh và phát triển trong nó
1.4 Các khái niệm công cụ
1.4.1 Khái niệm" Vấn đề xã hội"
Đây là khái niệm cốt lõi của đề tài nên tác giả muốn trình bày kỹ hơn khái niệm này
Trang 24Vấn đề xã hội, vấn đề nảy sinh trong thực tế xã hội bắt đầu từ những rắc rối
mà chúng ta gặp trong cuộc sống hay cũng có một số học giả gọi đó là những mâu thuẫn nảy sinh một cách thực tế trong sự phát triển của xã hội Nói một cách khái quát vấn đề xã hội nảy sinh khi trong đời sống xã hội, quan hệ xã hội khi xuất hiện mâu thuẫn hay sự khác biệt giữa cái cần phải là, cái mà con người kỳ vọng sẽ xảy ra với cái đang là, đang diễn ra trong thực tế, hoặc đó cũng có thể là
sự khác biệt giữa vai trò xã hội với việc thực hiện vai trò của chủ thể xã hội [25] Trong xu hướng toàn cầu hoá và quan hệ quốc tế, khái niệm “vấn đề xã hội”
đã trở thành sự quan tâm của toàn cầu khi các bên cùng tham gia vào giải quyết (ví dụ như vấn đề buôn bán ma tuý xuyên quốc gia, nạn dịch HIV toàn cầu, vấn
đề di dân quốc tế, vấn đề khủng bố quốc tế…), khái niệm này thường được hiểu theo 2 nghĩa Theo nghĩa hẹp thì đó là những vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội, như các vấn đề dân số - kế hoạch hoá gia đình, giáo dục - đào tạo, y tế - chăm sóc sức khoẻ nhân dân, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, tệ nạn xã hội Còn theo nghĩa rộng thì khái niệm này bao gồm cả những vấn đề kép, như vấn đề kinh tế - xã hội (lao động, việc làm, xoá đói giảm nghèo ); vấn đề chính trị - xã hội (tự do - dân chủ, dân quyền, nhân quyền ); vấn đề văn hoá - xã hội (văn hoá - văn nghệ, vui chơi - giải trí, thể dục - thể thao quần chúng ); vấn đề xã hội - môi trường (bền vững môi trường, an toàn môi trường, xung đột môi trường, tệ nạn môi trường )
và có những vấn đề xã hội tổng hợp, như cơ cấu xã hội, tổ chức xã hội, thiết chế
xã hội, hội nhập xã hội, phân tầng xã hội, xung đột xã hội, cách mạng xã hội Khái niệm vấn đề xã hội hiện nay vẫn chưa có sự nhất trí về một định nghĩa chính xác của cái tạo nên vấn đề xã hội Những tác giả định nghĩa về vấn đề xã hội như là tình trạng " được một số đáng kể những người đánh giá là sự lệch
chuẩn với những chuẩn bắt buộc [23]" Vấn đề xã hội được hiểu là: " hoạt động
của các nhóm nói lên sự không hài lòng gắn với những tình trạng xấu và đưa ra những yêu sách" [23]( Ví như các vụ kiện cá tra, cá basa và tôm nảy sinh trong quan hệ thương mại thuỷ sản giữa Việt Nam và Hoa Kỳ) Vấn đề xã hội là những
tình huống nảy sinh trong đời sống xã hội, quan hệ xã hội, trong đó đối sách của
Trang 25chủ thể (con người, nhóm xã hội ) chưa đạt được kết quả tối ưu Theo Merton vấn đề xã hội bao gồm cả những trường hợp trong đó sự khác biệt giữa chuẩn mực được chấp nhận về xã hội và những điều kiện thực tế và không được cả những người trong cuộc lẫn cộng luận không thừa nhận, tức là không chỉ những vấn đề xã hội "rõ ràng" mà cả những vấn đề xã hội" ẩn dấu" mà các nhà xã hội học có nhiệm vụ chuẩn đoán nó [23] Theo Mauss và Bhumer vấn đề xã hội trở thành phong trào xã hội, tức là nói nên sự không hài lòng của các nhóm xã hội và đòi hỏi phải thay đổi nó cũng như thành các trường hợp của hành vi tập thể [23] Căn cứ vào môi trường nảy sinh, đối tượng thể hiện và phạm vi tác động của
nó, người ta phân loại các vấn đề xã hội thành: Vấn đề xã hội toàn cầu, vấn đề xã hội trong phạm vi quốc gia, vấn đề xã hội trong phạm vi cộng đồng, nhóm xã hội đặc thù, các vùng dân cư nhất định Vấn đề xã hội không tồn tại độc lập mà nó gắn với những đối tượng cụ thể, chẳng hạn như một tập thể, một cộng đồng, một nhóm xã hội Nhưng dù ở cấp độ nào các vấn đề xã hội trong phạm vi nhất định cũng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp với những mức độ khác nhau đến cá nhân
và con người chịu hậu quả, vấn đề xã hội tác động đến quyền lợi chính trị, kinh
tế, văn hoá đến các đối tượng khác nhau trong đời sống xã hội
Trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định có sự phản ứng lại tức là tạo nó thành vấn đề và xây dựng nó thành vấn đề Xã hội học có nhiệm vụ nghiên cứu những nguyên nhân gây nên tình trạng có vấn đề và có thể thành vấn đề và khảo sát những điều kiện trong đó những hoàn cảnh riêng biệt trở thành vấn đề, cũng như tìm ra các biến số có ý nghĩa nhân quả đối với những diễn biến của quá trình tạo thành vấn đề đó.Vấn đề xã hội được hiểu là những điều kiện và kết quả xã hội ảnh hưởng xấu đến các nhóm và các loại thành viên xã hội (thậm chí có thể toàn
bộ dân chúng) trong hoàn cảnh sống của họ và được dự luận hay một bộ phận của công luận định nghĩa như là tất yếu phải thay đổi và được biến thành biện pháp chính trị [23] Trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày khái niệm " vấn đề xã hội" dùng để chỉ đến một loạt các điều kiện xã hội ở những dạng hết sức khác nhau ví như: sự nghèo khổ, tình trạng tội phạm, thời gian rỗi, tình trạng cô đơn…
Trang 26- Sự hình thành các vấn đề xã hội:
Trong các xã hội hiện đại, chẳng hạn như xã hội Việt Nam đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chúng ta có thể quan sát thấy: (1) con số của những tình trạng được coi là vấn đề xã hội đang tăng lên rõ rệt ( như vấn đề xoá đói giảm nghèo, khoảng cách giàu nghèo, doanh nghiệp phá sản, các tệ nạn xã hội…(2) các vấn đề xã hội chịu tác động của những biến đổi lịch sử, một số vấn đề sau nhiều năm vẫn được quan tâm, một số vấn đề khác biến mất để sau một thời gian lại xuất hiện ở dạng đã biến đổi v.v Theo cách nhìn truyền thống chúng ta có thể tìm thấy nguyên nhân của sự mở rộng các con
số vấn đề có thể là do tính phức tạp xã hội ngày càng tăng, sự biến đổi xã hội một cách đột ngột… đã dẫn đến các hiện tương như:" sự phi tổ chức hoá về mặt xã hội", dẫn đến các xung đột và khủng hoảng gây tác động trong quá trình mở rộng các vấn đề xã hội "cũ" và hình thành các vấn đề xã hội "mới" Theo cách nhìn đương đại thì cho rằng: liệu mở rộng những tình trạng được xem là vấn đề xã hội cũng có thể được hiểu như là hệ quả của sự biến đổi về mặt giá trị gây tác động ngược lại làm những tình trạng vẫn tồn tại cho tới thời điểm đó cho những thay đổi về giá trị hiện tại lại được coi là "những tình trạng xấu", hoặc là từ trước đã được xem là "những tình trạng xấu" nhưng giờ đây lại được đánh giá có phê phán
là những tình trạng không thể tránh được và được nêu lên thành vấn đề
- Cách tiếp cận giải thích những vấn đề xã hội: Nghiên cứu vấn đề xã hội
phải nghiên cứu quá trình hình thành vị trí vấn đề, xây dựng vấn đề/ vấn đề hoá
và sự can thiệp vào vấn đề Cách tiếp cận truyền thống giải thích các hiện tượng
xã hội nhưng là những hiện tượng bệnh lý học xã hội, sẽ phi tổ chức hoá hay xung đột về giá trị….và cách tiếp cận này hiểu vần đề xã hội như là những phạm
vi đối với kỳ vọng về đạo đức và lý giải chúng bởi quá trình xã hội hoá không thành công
Cách giải thích hiện nay của xã hội học về vấn đề xã hội bắt nguồn từ lý thuyết về sự phi tổ chức hoá xã hội đặc trưng bởi sự thất bại của các quy tắc Việc thất bại này được lý giải thông qua các quá trình biến đổi xã hội nhanh
Trang 27chóng và toàn diện gây ra do đi liền với những thay đổi về công nghệ, dân số và văn hoá
Theo cách giải thích về xung đột thì vấn đề xã hội được hiểu như là những điều kiện xã hội không thể thống nhất được với những giá trị của một số nhóm
mà thành viên của chúng thành công trong việc tuyên truyền các trạng thái này như là những vấn đề xã hội và vấn đề xã hội trở nên phức tạp bởi sự việc ở một nhóm xã hội có các hệ giá trị riêng không thích hợp với nhau Giá trị của những nhóm khác nhau có thể rất giống nhau, nhưng lại có những bậc khác nhau…
Theo các nhà chức năng (Merton) thì xuất phát từ những điều kiện khung cảnh có tính cấu trúc vĩ mô của việc tạo dựng vấn đề mà thuộc vào những điều kiện này như việc mạo hiểm về tái sản xuất về phương thức sản xuất chủ nghĩa tư bản, hệ thống bất bình đẳng xã hội cũng như cơ cấu về cơ hội phân hoá của sản xuất tư bản vật chất, các chuẩn mực và giá trị được thiết chế hoá cũng như tính khác biệt của chúng trên bình diện chuẩn Những thay đổi cũng như nhưng xu thế riêng biệt trong các điều kiện khung có cấu trúc vĩ mô này gắn với những vấn đề đặc thù được gọi là khủng hoảng kinh tế, là sự " bất công" hay là lệch chuẩn" Chỉ dưới những điều kiện nhất định từ những tình trạng vấn đề này mới nảy sinh
sự không hài lòng mang tính chủ quan và từ những bất bình tập thể này gắn với
"mạng lưới tương tác nội sinh" với " sự tự sản sinh có tính tương tác", các cấu
trúc hạ tầng tổ chức đang tồn tại, với những tiền đề tham gia cá nhân nhất định hoặc với sự tồn tại các hình mẫu giải nghĩa phổ biến…
1.4.2 Khái niệm " hành động xã hội"
Hành động xã hội là một hành vi hướng đích gắn bó về nghĩa với hành vi, với các kỳ vọng được cảm nhận hay được phỏng đoán của đối tác tương tác và được
định hướng theo chuẩn mực và giá trị xã hội
Theo Parsons, hành động xã hội là hành động được dẫn dắt từ bên ngoài, và mọi hành động đều có thể được miêu tả bằng 3 giá trị cơ bản: (1) thực tế của tình huống; (2) nhu cầu của chủ thể hành động và (3) sự đánh giá tình huống của chủ thể hành động luôn có xu hướng cân bằng những nhu cầu cá nhân của mình với
Trang 28những đòi hỏi của xã hội Ông cho rằng hành động của cá nhân không bao giờ là sản phẩm của bất cứ "sự tuỳ tiện" nào và cũng không là sản phẩm của sự tự do tuyệt đối Hành động xã hội bao giờ cũng phát triển trong một hệ thống cưỡng chế nhất định đối với hành động của chủ thể, và hành động của chủ thể vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan
Theo Max Weber, ông cho rằng đối tượng của xã hội học là " hành động xã hội" và xã hội học có nhiệm vụ định lý giải thích các lý do của hành động xã hội
Và trong hành động xã hội bao giờ cũng có sự tham gia của yếu tố ý thức, dù với mức độ khác nhau, Weber cho rằng đó là ý nghĩa chủ quan và sự định hướng mục đích, G.Mead thì xem đó là tâm thế xã hội của các cá nhân và Blumer thì cho rằng đó là đặc trưng của hành động nối kết Quan điểm cuả Weber là '"Hành động" có nghĩa là một thái độ của con người, khi và chỉ khi chủ thể gắn liền thái
độ của mình với một ý nghĩa chủ quan nào đó; còn " hành động xã hội" thì lại là hành vi có định hướng ý nghĩa theo thái độ của những người khác Từ đó, ông chia hành động xã hội thành bốn loại hành động: (1) hành động duy lý -công cụ; (2) hành động duy lý giá trị; (3) hành động tình cảm;và (4) Hành động theo truyền thống
- Hành động duy lý - công cụ: là hành động được thực hiện với sự cận nhắc, tính toán, lựa chon công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất
- Hành động duy lý giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân), chẳng hạn như hành vi tín ngưỡng
- Hành động tình cảm: là hành động do các trạng thái xúc cảm hoặc tình cảm bột phát gây ra
- Hành động truyền thống: đây là loại hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này qua đời khác Trong 4 loại hành động nêu trên, Weber cho rằng Xã hội học tập trung nghiên cứu loại hành động duy lý - công cụ vì ông cho rằng đặc trưng của xã hội hiện đại là hành động xã hội của con người ngày càng trở nên duy lý, hợp lý với sự tính toán cẩn
Trang 29thận, kỹ lưỡng và chính xác về mối quan hệ giữa công cụ/phương tiện và mục đích/kết quả
1.4.3 Khái niệm " tương tác xã hội"
Tương tác xã hội chỉ mối tương quan biện chứng và tác động hỗ tương giữa con người với nhau Mức độ tương tác phụ thuộc vào vị thế, địa vị, vai trò của chủ thể và các diễn tiến xã hội Tương tác xã hội là một quá trình xã hội hoá tất yếu, tương tác xã hội chỉ mối quan hệ tương hỗ, lệ thuộc vào nhau
Tương tác xã hội có thể được hiểu là quá trình hành động và hành động đáp lại của một chủ thể này với một chủ thể khác Đó là một hình thức thông tin và giao tiếp của ít nhất hai chủ thể Trong quá trình này, sự tác động qua lại của các chủ thể sẽ được thực hiện, đồng thời cũng diễn ra sự thích ứng của một hành động và một hành động khác Qua đó họ có được sự hiểu biết về tình huống, về ý nghĩa của hành động và có thể đi đến sự hợp tác, đống tình nhất định.Tương tác
xã hội không phải là hành động phản ứng cứng nhắc, máy móc Tương tác xã hội chịu sự ảnh hưởng của chuẩn mực và vai trò xã hội, của hình mẫu hành vi được thừa nhận và của cả kỳ vọng chủ quan và điều kiện hiện hữu chủ quan cũng như của các chiến lược thoả thuận của những người tham gia
1.4.4 Khái niệm" quan hệ xã hội"
Mọi sự sự vật và hiện tượng xã hội đều có những mối liên hệ với nhau Nhưng không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội Quan hệ xã hội được hình thành từ tương tác xã hội, tương tác này không phải là sự ngẫu nhiên mà nó thường có mục đích, có hoạch định và những tương tác này phải có xu hương lặp lại, ổn định và tạo ra một mô hình tương tác
Quan hệ xã hội là quan hệ bền vững, ổn định của các chủ thể hành động Các quan hệ này được hình thành trên các tương tác xã hội ổn định, lặp lại…Các tương tác cũng mang những đặc trưng khác nhau và qua đó tạo ra các loại quan
hệ xã hội khác nhau
Quan hệ xã hội được hiểu là tương tác và cấu trúc ảnh hưởng tồn tại giữa người với người hay giữa người và nhóm Quan hệ xã hội có thể xét cả ở cấp độ
Trang 30vĩ mô và cấp độ vi mô Ở cấp độ vĩ mô, chủ thể quan hệ xã hội là các nhóm, các tập đoàn hay toàn bộ xã hội Các tập đoàn lớn thường chiếm những vị trí khác nhau trong xã hội Do đó họ cũng có những quyền lực, cơ hội, thu nhập hoặc lối sống khác nhau của các nhóm xã hội nhiều khi lại là tiền tố để tạo ra các tương tác xã hội giữa các nhóm và trên đó hình thanh nên những quan hệ xã hội giữa các nhóm đó…và quan hệ xã hội cũng còn được thể hiện dưới dạng các quan hệ giữa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội
Hành động xã hội, tương tác xã hội là cơ sở của quan hệ xã hội, nói cách khác quan hệ xã hội không thể tách rời khỏi tương tác xã hội và hành động xã hội Do đó, nghiên cứu quan hệ xã hội phải dựa trên sự phân tích tích hành động
xã hội, tương tác xã hội và ngược lại
Trang 31CHƯƠNG II- QUAN HỆ THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG
GIỮA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ
1 Khái quát về hệ thống chính trị và văn hoá của người dân Hoa Kỳ
1.1 Hệ thống chính trị của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một nước cộng hoà liên bang gồm 50 bang thực hiện chế độ chính trị tam quyền phân lập và đối trọng theo thể chế cộng hoà Tổng thống, chế độ lưỡng viện (từ năm 1789) Trong hệ thống chính trị của Hoa Kỳ có nhiều đảng phái khác nhau, song sự cầm quyền chủ yếu chỉ có hai Đảng luân chuyển thay nhau thông qua bầu cử, đó là Đảng Cộng hoà và Đảng Dân chủ Hiến pháp Hoa
Kỳ qui định quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, quyền hành pháp thuộc về Tổng thống và quyền tư pháp thuộc về Toà án tối cao Ở mỗi bang có hệ thống hiến pháp và pháp luật riêng nhưng không được trái với Hiến pháp của Liên bang.Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa luật liên bang và luật bang hoặc luật địa phương, thì luật liên bang sẽ có hiệu lực Có những giao dịch hoặc vấn đề chịu sự điều tiết của riêng luật liên bang, riêng luật bang, hoặc có thể cả luật liên bang và luật bang Ví dụ, ở Hoa Kỳ không có những qui định chung áp dụng cho
cả liên bang về thành lập công ty hoặc văn phòng đại diện mà những qui định này
ở mỗi bang một khác
Hệ thống chính trị cũng thúc đẩy hành động cân bằng quyền lực của liên bang, bang và địa phương, do đó trong nhiều lĩnh vực Chính phủ liên bang từ chối dứt khoát việc quản lý các chính sách Không một hệ thống giáo dục nào, không một bộ văn hoá nào và cho đến nay không một hệ thống y tế nào ở Mỹ được Washington quản lý trực tiếp Chính sách về những vấn đề này và những vấn đề khác được đưa ra chủ yếu thông qua thuyết phục, phối hợp, xây dựng liên minh và đàm phán giữa các đảng phái, các địa phương, các nhóm lợi ích và các tôn giáo Khu vực tư nhân rộng lớn đóng vai trò quan trọng, điều đó phản ánh năng lực mà một thị trường mở của các ý tưởng, chương trình và nguồn lực tạo ra; một nhân tố quan trọng khác nữa là giới báo chí luôn có tính hoài nghi
Trang 32Mỗi nhiệm kỳ tổng thống là 5 năm, mỗi tổng thống không được giữ chức vụ quá 2 nhiệm kỳ
Quốc hội gồm hai viện: Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Ngoài quyền lập pháp, Quốc hội còn giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp và tư pháp
Thượng viện gồm 100 thượng nghị sĩ, mỗi bang có hai thượng nghị sĩ Các khu hành chính trực thuộc không có đại diện tại Thượng viện Nhiệm kỳ thượng nghị sĩ là 6 năm
Hạ viện gồm 435 hạ nghị sĩ Nhiệm kỳ của hạ nghị sĩ là 2 năm Số hạ nghị sĩ đại diện cho bang phụ thuộc vào dân số của bang Mỗi bang có quyền có tối thiểu 1
hạ nghị sĩ
1.2 Tập quán và văn hoá của người Hoa Kỳ
Là một nước có diện tích lớn thứ 3 trên thế giới và với khoảng 290 triệu dân
có nguồn gốc từ nhiều nơi khác nhau trên thế giới, Hoa Kỳ là một xã hội đa dạng nhất trên thế giới Mặc dù đại bộ phận người Hoa Kỳ được coi là có nguồn gốc từ Châu Âu, song những người thiểu số như người gốc Hoa Kỳ(người da đỏ), người Hoa Kỳ gốc Phi và người Châu Á cũng rất đông Hiện nay, mỗi năm có tới trên một triệu người nước ngoài di cư đến Hoa Kỳ sinh sống và làm ăn Các cộng đồng đang sinh sống ở Hoa Kỳ đều có những bản sắc riêng của họ, kể cả ngôn
ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng, và phong tục Người Hoa Kỳ rất coi trọng khế ước xã
hội, bởi với tư cách nó vừa là nền tảng của nước Mỹ vừa quy định đặc điểm của
cộng đồng và văn hoá dân tộc.v.v
Khác với một số nền văn hóa khác, nhất là văn hóa của người Châu Á, nhìn chung, văn hoá của người Hoa Kỳ có truyền thống coi trọng tự do cá nhân và tính
tự lập Gia đình, cộng đồng, tôn giáo, hoặc tổ chức là thứ yếu so với các quyền cá nhân Chủ nghĩa cá nhân này cũng dẫn đến một tính cách nổi bật của người Hoa
Kỳ là cạnh tranh
Phong cách chung của doanh nhân Hoa Kỳ là ít chú ý đến nghi lễ, đi thẳng vào vấn đề, và muốn có kết quả nhanh Trong đàm phán, người Hoa Kỳ thường xác định trước và rõ mục tiêu cần đạt được, chiến lược và chiến thuật đàm phán,
Trang 33và dùng số liệu để chứng minh cho các luận điểm của mình Họ muốn dành chiến thắng về phần mình, song cũng sẵn sàng thỏa hiệp trên cơ sở đôi bên cùng có lợi
ở Hoa Kỳ, “có đi có lại” là nguyên tắc quan trọng trong đàm phán chính trị cũng như trong kinh doanh
Người Hoa Kỳ thích nói thẳng, rõ ràng, và dễ hiểu Họ không thích kiểu nói vòng vo, xa xôi, hoặc ví von Tính thẳng thắn và sự lịch thiệp cũng có mức độ khác nhau tuỳ theo vùng Người New York nổi tiếng là trực tính, và thậm chí hơi thô bạo nếu so sánh với văn hóa Châu Á Người ở vùng Trung Tây cũng thẳng thắn nhưng thường lịch sự hơn nhiều Người California không phải lúc nào cũng nói đúng ý nghĩ của họ Ví dụ ở Los Angeles – miền đất của những giấc mơ - nếu
ai đó nói với bạn “tôi sẽ trở lại vấn đề này với bạn” thì cũng có thể là họ sẽ làm như vậy thật, song cũng có thể họ ngụ ý là “Bạn không có cơ hội”
Đặc tính của thị trường Hoa Kỳ, có ba yếu tố quan trọng Đó là người tiêu dùng Hoa Kỳ, thị trường hoàn toàn nhập khẩu của thị trường thế giới và thực tiễn làm ăn ở Hoa Kỳ Nền kinh tế Hoa Kỳ là nền kinh tế tiêu thụ
Người tiêu dùng Hoa Kỳ có hiểu biết về kỹ thuật, họ nghiên cứu, so sánh chất lượng các sản phẩm trước khi tiêu dùng nhờ sự phát triển của thương mại điện tử Người tiêu dùng Hoa Kỳ thường thích có sự lựa chọn đa dạng của sản phẩm, cùng một loại sản phẩm nhưng họ thích có nhiều mẫu mã, màu sắc, kích cỡ khác
nhau
2 Chính sách thương mại của Hoa Kỳ
Hiến pháp Hoa Kỳ qui định quyền quản lý ngoại thương và thu thuế xuất nhập khẩu thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước liên bang, do vậy các hoạt động xuất nhập khẩu chịu sự điều tiết trực tiếp và chủ yếu của hệ thống luật liên bang Tuy nhiên, có một số luật của một số bang cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu Ví dụ, nhập khẩu xe hơi vào Hoa Kỳ chịu sự điều tiết trực tiếp và chủ yếu của các luật liên bang liên quan đến nhập khẩu xe hơi Tuy nhiên, do luật bảo vệ môi trường của một số bang đề ra những yêu cầu bảo vệ môi trường khắt khe hơn so với các luật liên bang về môi trường, cho nên xe hơi
Trang 34nhập khẩu muốn tiêu thụ được ở các bang đó phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường của các bang đó Một ví dụ khác, luật của Bang Pennsylvania chỉ qui định nguyên liệu nhồi trong đồ chơi không được có chất gây hại, trong khi đó luật của Bang Ohio lại qui định khắt khe hơn là nguyên liệu nhồi trong đồ chơi phải là mới và phải được kiểm tra phòng truyền nhiễm bệnh do vi khuẩn…
Hệ thống pháp luật thương mại của Hoa Kỳ rất phức tạp và chồng chéo Hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ chịu sự điều tiết của nhiều luật khác nhau và cả luật liên bang lẫn luật bang Trong khi đó sự hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về pháp luật Hoa Kỳ liên quan đến thương mại nói chung và nhập khẩu vào Hoa Kỳ nói riêng còn rất hạn hẹp
Sản phẩm nhập vào Hoa Kỳ phải chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống luật chặt chẽ, thực thi bởi 4 cơ quan chính điều hành nền ngoại thương của Hoa Kỳ sau :
(1) Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (US FDA)
(2) Bộ Thương mại Hoa Kỳ ( DOC)
(3) Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC)
(4) Cục Hải quan Hoa Kỳ (USCS)
2.1 Vài nét về luật thuế chống trợ giá của Hoa Kỳ
Mục đích của thuế chống trợ giá là triệt tiêu lợi thế cạnh tranh không bình đẳng của những sản phẩm nước ngoài được Chính phủ nước ngoài trợ giá xuất khẩu vào Hoa Kỳ Do vậy, mức thuế chống trợ giá được áp đặt bằng với mức trợ giá Luật của Hoa Kỳ cũng như qui định của tổ chức thương mại thế giới (WTO) cho phép một số loại trợ cấp được miễn trừ áp dụng luật chống trợ giá như một
số trợ cấp nghiên cứu và phát triển, một số trợ cấp cho những vùng khó khăn, một số trợ cấp bảo vệ môi trường WTO gọi những loại trợ cấp được phép này
là “trợ cấp đèn xanh”.Thuế chống trợ giá được áp dụng khi có đủ hai điều kiện (1) Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) phải xác định sản phẩm nước ngoài nhập khẩu vào Hoa Kỳ được trợ giá trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc chế tạo, sản xuất, hoặc xuất khẩu ở nước hoặc lãnh thổ xuất xứ Trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho sản xuất các yếu tố đầu vào của sản phẩm cũng là đối tượng điều tra theo luật này
Trang 35(thường gọi là trợ giá ngược chiều), và (2) Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) phải xác định hàng nhập khẩu được trợ giá đã gây thiệt hại vật chất, hoặc
đe dọa gây thiệt hại vật chất, hoặc ngăn cản hình thành ngành công nghiệp tương
tự tại Hoa Kỳ “Thiệt hại vật chất” được định nghĩa trong luật không phải là những thiệt hại vụn vặt, vô hình, hoặc không quan trọng
Việc điều tra theo luật chống trợ giá thường được tiến hành khi có đơn khiếu kiện của ngành công nghiệp trong nước trình lên Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC)
và Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) Tuy nhiên, Bộ Thương mại Hoa
Kỳ (DOC) có thể tự khởi xướng và tiến hành điều tra theo luật chống trợ giá, không cần phải có đơn kiện của ngành công nghiệp trong nước nếu Bộ Thương
mại Hoa Kỳ (DOC) thấy có lý do chính đáng…
2.2 Vài nét vê luật thuế chống phá giá của Hoa Kỳ
Luật thuế chống phá giá được sử dụng rộng rãi hơn luật thuế chống trợ giá Luật thuế chống phá giá được áp dụng đối với hàng nhập khẩu khi nó được xác định là hàng nước ngoài được bán “phá giá” vào Hoa Kỳ, hoặc sẽ bán phá giá ở Hoa Kỳ với giá “thấp hơn giá trị thông thường” Thấp hơn giá trị thông thường
có nghĩa là giá xuất khẩu vào Hoa Kỳ thấp hơn giá bán của hàng hóa đó ở nước xuất xứ hoặc ở nước thứ 3 thay thế thích hợp
Luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ cho phép chính quyền Hoa Kỳ thu thuế nhập khẩu đặc biệt, được gọi là “thuế chống phá giá” (anti-dumping duties) để bù lại phần tổn hại do việc nhập khẩu hàng hóa với giá thấp ở mức “không công bằng” (unfair value) Có hai điều kiện để áp dụng thuế chống phá giá:
(1) Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (US Department of Commerce, “DOC”) phải xác định hàng hóa nhập khẩu được bán ở mức “thấp hơn giá trị thông thường” (less than normal value)
(2) Ủy Ban Thương Mại Quốc Tế Hoa Kỳ (ITC) phải kết luận rằng hàng nhập khẩu“gây tổn hại nghiêm trọng” (material injury) hoặc “đe dọa gây tổn hại nghiêm trọng” (threat of material injury) cho “ngành công nghiệp nội địa Hoa Kỳ” (US domestic industry)
Trang 36Cũng giống như trường hợp luật thuế chống trợ giá, các thủ tục điều tra về bán phá giá được tiến hành khi có đơn khiếu kiện của một ngành công nghiệp hoặc do Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) tự khởi xướng
Thuế chống bán phá giá sẽ được ấn định bằng mức chênh lệch giữa “giá trị thông thường” và mức giá xuất khẩu vào Hoa Kỳ Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) sẽ xác định giá trị thông thường của hàng nhập khẩu bằng một trong ba cách Theo thứ tự ưu tiên là:
(1) Giá bán của hàng hóa tại thị trường nội địa,
(2) Giá bán hàng hóa sang thị trường thứ ba,
(3) “Giá trị tính toán” của hàng hóa bằng tổng chi phí sản xuất cộng với các khoản lợi nhuận, tiền hoa hồng bán hàng, và các chi phí hành chính khác như đóng gói “Giá trị tính toán” được coi là giá trị thông thường để tính biên phá giá khi giá bán ở thị trường nội địa hoặc giá bán sang nước thứ ba thấp hơn chi phí sản xuất hoặc hàng hóa đang bị điều tra không bán ở thị trường nội địa hoặc không được bán sang nước thứ ba
Luật chống phá giá còn cho phép các ngành công nghiệp Hoa Kỳ được khiếu nại về bán phá giá ở nước thứ ba Ngành công nghiệp của Hoa Kỳ có thể đệ trình đơn khiếu nại lên Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR), trong đó phải giải thích tại sao việc bán phá giá ở nước thứ 3 lại gây thiệt hại cho các công ty của Hoa Kỳ
và yêu cầu cơ quan này bảo vệ những quyền lợi của Hoa Kỳ theo quy định của WTO Nếu Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) thấy khiếu nại có lý, họ sẽ đệ trình yêu cầu lên các cơ quan có thẩm quyền ở nước thứ ba đòi nước này phải thay mặt Hoa Kỳ tiến hành các biện pháp chống bán phá giá Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) có trách nhiệm hỗ trợ Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) chuẩn bị nội dung yêu cầu…
3 Quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
3 . 1 Tổng quan về quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu đàm phán chính thức về bình thường hoá quan
hệ vào năm 1991 Tháng 2 năm 1994, Hoa Kỳ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt
Trang 37Nam Hai nước thiết lập lại quan hệ ngoại giao vào ngày 12 tháng 7 năm 1995 và tiến hành trao đổi đại sứ đầu tiên vào tháng 5 năm 1997 Kể từ đó đến nay, các chuyến viếng thăm của các quan chức cao cấp hai nước, trong đó có các chuyến thăm Hoa Kỳ của các Phó Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Mạnh Cầm, và Vũ Khoan, và chuyến thăm Việt Nam của cựu Tổng thống Bill Clinton đã góp phần tích cực củng cố và tăng cường quan hệ giữa hai nước Chuyến thăm Hoa Kỳ của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phạm Văn Trà tháng
10 năm 2003 đã đánh dấu sự bình thường hóa hoàn toàn quan hệ giữa hai quốc gia tở mọi lĩnh vực
Việc bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã khép lại quá khứ
và mở ra tương lai có lợi cho cả 2 bên Sau khi bình thường hoá quan hệ, hai nước đã ký kết một số hiệp định, thoả thuận về kinh tế và thương mại như: Hiệp định quyền tác giả, Hiệp định về hoạt động của cơ quan đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC), Hiệp định bảo lãnh khung và Hiệp định khuyến khích dự án đầu tư giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (Eximbank), Hiệp định thương mại song phương, Hiệp định hợp tác về khoa học
và công nghệ, Hiệp định dệt may, Hiệp định hàng không…Trong đó, quan trọng nhất là Hiệp định thương mại song phương (BTA) Đây là một hiệp định có tính quy mô toàn diện nhất mà Việt Nam từng ký với các nước từ trước tới nay, nó bao gồm những cam kết không chỉ thuộc lĩnh vực thương mại hàng hoá mà cả thương mại dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ Hiệp định đã góp phần vào việc bình thường hoá quan hệ hoàn toàn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, mở ra cho các doanh nghiệp của cả hai nước những cơ hội mới về thương mại và đầu tư
Những cột mốc cơ bản trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ :
- Ngày 11 tháng 7 năm 1995 : Tổng thống Hoa Kỳ Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam Ngày 12 tháng 7 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ
- Tháng 8 năm 1995:Việt Nam và Hoa Kỳ khai trương đại sứ quán tại Washington và Hà Nội
Trang 38- Ngày 14 tháng 7 năm 2000: Bộ trưởng Thương mại Vũ Khoan và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Barshefsky ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ tại Washington
- Từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 11 năm 2000: Tổng thống Clinton thăm chính thức Việt Nam
- Ngày 9 đến 14 tháng 12 năm 2001: Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng thăm và làm việc tại Hoa Kỳ, chứng kiến lễ phê chuẩn Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ
- Ngày 10 tháng 12 năm 2004: Chuyến bay trực tiếp đầu tiên từ Hoa Kỳ đến Việt Nam sau năm 1975
- Từ ngày 19 đến ngày 25 tháng 6 năm 2005: Thủ tướng Phan Văn Khải thăm
chính thức Hoa Kỳ
3.2 Quan hệ thương mại giữa 2 nước
Song song với quan hệ chính trị và ngoại giao, quan hệ kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng không ngừng phát triển Việc thông qua Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước Điểm sáng dễ nhận thấy trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong những năm gần đây là Hoa Kỳ đang là thị trường xuất khẩu rất lớn của các doanh nghiệp Việt Nam Theo số liệu thống kê của Bộ Thương mại Việt Nam, kim ngạch thương mại hàng hóa hai chiều đã tăng từ 220 triệu USD năm 1994 - năm Hoa Kỳ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam - lên 1,4 tỷ USD năm 2001 - năm trước khi BTA có hiệu lực - và đạt gần 5,8 tỷ USD năm 2003, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng nhẩy vọt từ 1,026 tỷ USD năm 2001 lên gần 4,5 tỷ USD năm 2003 Năm 2003, Việt Nam đã trở thành bạn hàng thương mại lớn thứ
40 của Hoa Kỳ Nếu tính riêng về xuất khẩu, hiện nay, Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ 35 vào Hoa Kỳ Những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ gồm hàng may mặc, thủy sản, giầy dép, nông sản thô, dầu khí, đồ
gỗ v.v Hoa Kỳ trở thành thị trường lớn nhất cho hàng xuất khẩu của Việt Nam
Trang 393.2.1 Một số nội dung cơ bản trong Hiệp định thương mại giữa 2 nước Mục đích của Hiệp định thương Mại Việt - Hoa Kỳ:
Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ hợp chủng quốc Hoa Kỳ mong muốn thiết lập và phát triển quan hệ kinh tế và thương mại bình đẳng và cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau Nhận thức rằng, việc các bên chấp nhận và tuân thủ các quy tắc và tiêu chuẩn thương mại quốc tế sẽ giúp phát triển quan hệ thương mại cùng có lợi, và làm nền tảng cho các mối quan hệ đó
Ghi nhận rằng, Việt Nam là một nước đang phát triển có trình độ phát triển thấp, đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế và đang tiến hành các bước hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, trong đó có việc tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương (APEC) và đang tiến tới trở thành thành viên của Tổ chức Thương giới (WTO).Thỏa thuận rằng, các mối quan hệ kinh tế, thương mại và việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là những nhân tố quan trọng và cần thiết cho việc tăng cường các mối quan hệ song phương giữa hai nước và tin tưởng rằng, một hiệp định về quan hệ thương mại giữa các bên sẽ phục vụ tốt nhất cho lợi ích chung của các bên
Theo hiệp định, các cam kết của Việt Nam phải thực hiện gồm nhiều vấn đề khác nhau, đồng thời đó cũng là những thách thức ban đầu không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam Ðó là:
(1) Quyền kinh doanh xuất, nhập khẩu của các công ty Hoa Kỳ có đầu tư vào lĩnh vực sản xuất và chế tạo có quy mô lớn và hợp pháp tại Việt Nam, và phù hợp các điều khoản quy định trong Hiệp định; thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào ô-tô dưới 12 chỗ ngồi, nguyên liệu thuốc lá, phụ thu đánh vào nhiên liệu, sắt thép, phân bón; giấy phép xuất, nhập khẩu đối với 57 mặt hàng gồm các loại hàng ta quản lý bằng giấy phép nhập khẩu
(2) Quyền kinh doanh nhập khẩu đối với các mặt hàng thuộc diện kinh doanh độc quyền của Nhà nước phải bãi bỏ; quyền kinh doanh xuất khẩu đối với ba mặt
Trang 40hàng thuộc diện độc quyền Nhà nước; về dịch vụ kiểm toán: Trong vòng ba năm
kể từ khi Hiệp định có hiệu lực việc cấp phép sẽ được xét duyệt theo từng trường hợp và số lượng sẽ do Bộ Tài chính quyết định căn cứ vào tình hình phát triển của thị trường Việt Nam; dịch vụ viễn thông trị giá gia tăng: Liên doanh với đối tác Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ viễn thông sau hai năm (ba năm đối với các dịch vụ internet) kể từ khi Hiệp định có hiệu lực và phần góp vốn của phía Hoa Kỳ không quá 50% vốn pháp định của liên doanh; dịch vụ xây dựng và lắp ráp đồng bộ
(3) Trong vòng ba năm đầu kể từ khi thành lập và hoạt động các xí nghiệp 100% vốn Hoa Kỳ chỉ được cung cấp dịch vụ cho các xí nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Các công ty cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ phải có đãng ký hoạt động hợp pháp tại Hoa Kỳ, các dịch vụ bảo hiểm, ba năm sau khi Hiệp định có hiệu lực được lập liên doanh với đối tác được phép kinh doanh dịch
vụ bảo hiểm của Việt Nam Phần góp vốn của phía Hoa Kỳ không vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh; các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác
(4) Trong vòng ba năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, hình thức pháp lý duy nhất thông qua đó các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ khác (ngoài ngân hàng
và công ty thuê mua tài chính) có thể cung cấp các dịch vụ tài chính tại Việt Nam
là liên doanh với đối tác Việt Nam Sau thời gian đó hạn chế này sẽ được bãi bỏ.v.v [6]
3.2.2 Giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ
Sau khi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực tháng 12/2001, quan hệ thương mại giữa hai nước đã tăng ngoạn mục Đến nay Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam
Biểu 1 dưới đây cho thấy, sự gia tăng giá trị các mặt hàng xuất khẩu hàng năm của Việt Nam sang Hoa Kỳ giai đoạn 5 năm (2001 - 2005) tăng lên mạnh,
cụ thể là năm 2001 giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa
Kỳ đạt 1002 triệu USD, năm 2002 đạt 2492 triệu USD gấp hơn hai lần năm