Với những bước phát triển rực rỡ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục… đất nước Đại Việt đã có sự chuyển biến từ chế độ quân chủ phong kiến quý tộc thời Lý, Trần sang quân chủ qua
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN HỒNG HẢI
MỘT SỐ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60.22.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Hòa Hới
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Một số chính sách xã hội của Lê Thánh Tông”
là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác Mọi tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn rõ nguồn, đảm
bảo tính khách quan của tư liệu và bản quyền tác giả
Học viên
Nguyễn Hồng Hải
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Một số chính sách xã hội của Lê Thánh Tông” là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, là kết quả của quá trình học tập tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả dưới sự hướng của các thầy cô bộ môn, sự giúp đỡ của các thầy cô trong ban chủ nhiệm khoa Triết học Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến
những sự giúp đỡ quý báu đó
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến PGS TS Đỗ Thị Hòa Hới
là giáo viên trực tiếp hướng dẫn luận văn cho tôi, người đã luôn tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian quý báu để trao đổi và định hướng nghiên cứu cho tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn động viên và là chỗ dựa tinh thần để tôi học tập và thực hiện thành công
đề tài luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, 10/2014
Học viên
Nguyễn Hồng Hải
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu 2
3.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7.Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 7
8.Kết cấu 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNHCHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA LÊ THÁNH TÔNG 8
1.1 Điều kiện khách quan cho sự hình thành các chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 9
1.1.1 Điều kiện chính trị 9
1.1.2 Điều kiện kinh tế 15
1.1.3 Điều kiện xã hội, văn hóa 22
1.2 Nhân tố chủ quan cho sự hình thành chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 32
Chương 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CHÍNH SÁCHXÃ HỘI CỦA LÊ THÁNH TÔNG VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ 41
2.1 Một số nội dung cơ bản trong chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 41
2.1.1 Chính sách của Lê Thánh Tông đối với một số tầng lớp trong xã hội 41
2.1.2 Biện pháp thực hiện chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 68
2.2 Ý nghĩa của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 83
2.2.1 Những giá trị tích cực của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 83
2.2.2 Hạn chế của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 88
2.2.3 Giá trị của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay 89
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam nhà nước đã xuất hiện từ rất sớm, tuy nhiên phải đến khi đất nước ta giành được độc lập tự chủ vào thế kỷ X, nhà Ngô thành lập thì văn hóa, văn minh Việt Nam mới dần đạt được những thành tựu rực rỡ Trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần và tới thế kỷ XV phát triển mạnh
mẽ dưới triều đại Lê sơ Với những bước phát triển rực rỡ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục… đất nước Đại Việt đã có sự chuyển biến từ chế độ quân chủ phong kiến quý tộc thời Lý, Trần sang quân chủ quan liêu thời Lê
sơ, hoàn chỉnh và rõ ràng nhất là dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông (1460 - 1497) Chuyển biến này đã kéo theo rất nhiều những thay đổi về thể chế chính trị, kết cấu kinh tế, xã hội, tư tưởng
Trong suốt 38 năm trị vì đất nước (1460 - 1497), với sự anh minh, quyết đoán và tài thao lược của một vị vua, Lê Thánh Tông đã xây dựng nên một xã hội thái bình, thịnh trị, một quốc gia văn minh và hùng cường Đặc biệt, ông đã xây dựng và thực thi các chính sách với các tầng lớp khác nhau trong xã hội, với từng vấn đề đặt ra của xã hội, điều này được
nêu ra trong Quốc triều hình luật, Hiệu định quan chế, Huấnđiều, Hồng
Đức thiện chính thư, thơ văn, các chỉ dụ, văn bia… Đó là những di sản vô
cùng quý giá cho chúng ta
Đã có nhiều tác giả cùng với các công trình khác nhau nghiên cứu về
Lê Thánh Tông, về đất nước Đại Việt dưới thời trị vì của ông từ nhiều góc độ trong đó chủ yếu là tập trung về các vấn đề như tư tưởng, chính trị - xã hội nói chung, mà chưa có nhiều sự nghiên cứu hệ thống về phương diện tư tưởng của ông đối với vấn đề chính sách xã hội nói riêng Trong phạm vi luận văn này, tôi chọn các chính sách xã hội - một lĩnh vực hoạt động chính trị - xã hội
có vị trí quan trọng, biểu hiện sự liên hệ mật thiết giữa nhà nước với các tầng
Trang 7lớp nhân dân, là một trong các chính sách góp phần ổn định xã hội để nghiên cứu về tư tưởng Lê Thánh Tông Từ đó góp phần bổ sung, xác lập thêm căn
cứ để có những nhận thức sâu sắc hơn về Lê Thánh Tông cùng với một triều đại phát triển rực rỡ trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam Đồng thời, qua
đề tài này ta thấy được ý nghĩa của chính sách xã hội đối với sự ổn định và phát triển của đất nước Đại Việt thế kỷ XV; gợi ý đối với việc hoạch định chính sách xã hội trong công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay
Vì những lý do đó tôi đã chọn “Một số chính sách xã hội của Lê Thánh
Tông” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Lê Thánh Tông là một vị vua thông minh, tài giỏi Với sự kết hợp giữa “học” và “hành”, tư tưởng của ông được triển khai và thực thi, từ đó đã xây dựng nên một trong những triều đại thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam Vì vậy đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu chung về
Lê Thánh Tông
- Nghiên cứu về Lê Thánh Tông: tiêu biểu như các cuốnsách Lê Thánh
Tông vị vua anh minh, nhà canh tân xuất sắc (Lê Đức Tiết), Hoàng đế Lê Thánh Tông - Nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn
(Nguyễn Huệ Chi), Nhân vật họ Lê trong lịch sử Việt Nam (Phạm Ngô
Minh)… Các tác phẩm này đã có những nghiên cứu, đánh giá về vai trò, đóng góp của Lê Thánh Tông ở nhiều lĩnh vực khác nhau dựa trên những tư tưởng
và hoạt động của ông Ông đã xây dựng nên một nước Đại Việt hùng mạnh, toàn diện cả về kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa Tư tưởng Lê Thánh Tông đem lại một diện mạo mới cho đời sống tinh thần nước ta, đó là hướng
đi theo Nho giáo được Việt hóa, được ông kết hợp với truyền thống văn hóa lâu đời của đất nước - tính dân tộc và tính nhân văn sâu sắc
Trang 8Hai tập kỷ yếu Lê Thánh Tông (1442 - 1497): con người và sự nghiệp -
kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 500 năm ngày mất của Lê Thánh Tông do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ
chức năm 1997 và Kỷ yếu hội thảo khoa học về hoàng đế Lê Thánh Tông
(1442 - 1497): chào mừng 5 năm thành lập trường Đại học Hồng Đức (1997 - 2002) Hai kỷ yếu này tập trung các bài viết của rất nhiều tác giả ở các lĩnh
vực khác nhau như triết học, luật học, sử học, kinh tế học trình bày khá toàn diện và đầy đủ về con người cùng sự nghiệp của Lê Thánh Tông Các bài báo cáo tập trung vào các vấn đề lớn như thân thế, sự nghiệp của ông; những đóng góp chủ yếu của Lê Thánh Tông ở các lĩnh vực như chính trị, phát triển kinh
tế - xã hội, củng cố quốc phòng, mở mang văn hóa, pháp luật Các tác giả cũng chỉ ra những nét hạn chế, nhưng nổi bật lên là đề cao công lao của ông trong việc đưa Đại Việt trở nên thái bình, thịnh trị, thành cường quốc ở Đông Nam Á thế kỷ XV
Một số tác giả đã lấy Lê Thánh Tông làm đề tài nghiên cứu luận văn
của mình như Trần Thị Thúy Ngọc với luận văn “Tư tưởng Nho giáo trong
Quốc triều hình luật”, Trần Việt Thắng có luận văn “Vai trò của Nho giáo dưới triều đại Lê Thánh Tông”… Các tác giả chủ yếu nghiên cứu về nội
dung, sự ảnh hưởng của Nho giáo dưới triều Lê Thánh Tông
- Vấn đề chính sách xã hội được một số tác giả đề cập đến: tác phẩm Về
chính sách xã hội của Hồ Chí Minh, Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội từ góc nhìn xã hội học do Nguyễn Thế Thắng (chủ biên) đã đưa ra quan
điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách xã hội, một số nội dung cơ bản của chính sách xã hội
- Về chính sách xã hội trong thời Lê Thánh Tông, cuốn Lịch sử chế độ
phong kiến Việt Nam của Phan Huy Lê đã đề cập đến chính sách xã hội thời
Lê sơ, tập trung chủ yếu ở hai vị vua là Lê Thái Tổ và Lê Thánh Tông Thời
Trang 9Lê sơ, khởi đầu là Lê Thái Tổ đã quan tâm chăm lo đời sống nhân dân, đề ra một số biện pháp cứu tế xã hội Các triều vua sau, đặc biệt là Lê Thánh Tông tiếp tục chính sách quan tâm tới đời sống nhân dân, nhất là những người dân nghèo khổ như lập nhà tế bần để nuôi dưỡng những người đau yếu, không nơi nương tựa; bắt quan lại địa phương phải nuôi dưỡng những người tàn phế, neo đơn Những chính sách này tuy chưa được thực hiện một cách triệt để nhưng phần nào đã thể hiện thái độ, trách nhiệm của nhà nước đối với quần chúng nhân dân
Trong tác phẩm Việt Nam sử lược, tác giả Trần Trọng Kim khi ghi chép
về Lê Thánh Tông đã đề cập đến việc nhà vua đặt ra Huấn điều để giảng
trong nhân dân, giữ gìn những phong tục tốt đẹp của xã hội
Trong tác phẩm Chính sách đào tạo sử dụng quan lại thời Lê Thánh
Tông và công tác cán bộ hiện nay, tác giả đã nêu ra các chính sách khác
nhau của Lê Thánh Tông từ việc lựa chọn đào tạo, cho tới việc sử dụng quan lại trong bộ máy nhà nước Bước đầu đưa ra những đánh giá và chỉ ra bài học cho công tác đào tạo cán bộ hiện nay ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, phải làm sao để lựa chọn được quan lại vừa có đức lại vừa có tài, vừa hồng lại vừa chuyên
Tác giả Lê Ngọc Tạo với đề tài luận án “Các chính sách về xã hội của
nhà nước thời Lê sơ (1428 - 1527)”, dưới góc độ nghiên cứu của nhà sử học,
tác giả đã nêu ra cơ sở hình thành các chính sách về xã hội của nhà nước thời
Lê sơ, nội dung các chính sách về xã hội, vai trò và tác dụng của chúng trong quản lý, xây dựng đất nước thời Lê sơ
Nhìn chung, vấn đề về các chính sách xã hội thời Lê Thánh Tông đã có nhiều tác giả cùng những công trình nghiên cứu khác nhau nhưng chỉ là đề cập một cách gián tiếp ở các góc độ khác nhau, thông qua việc nghiên cứu về các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng Qua tìm hiểu chúng
Trang 10tôi nhận thấy tới nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp và tập trung vào các chính sách xã hội của Lê Thánh Tông Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích trong quá trình tôi thực hiện đề tài này
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: góp phần làm rõ một số nội dung cơ bản trong chính sách
xã hội mà Lê Thánh Tông đã áp dụng dưới thời trị vì của ông (1460 - 1497) tập trung trong chính sách với quan lại, phụ nữ, người già, người neo đơn, trẻ mồ côi và đồng bào dân tộc thiểu số; biện pháp để thực hiện các chính sách xã hội đó
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Thứ nhất, phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan cho sự hình thành chính sách xã hội của Lê Thánh Tông
+ Thứ hai, nêu và phân tích một số nội dung cơ bản trong chính sách xã hội của Lê Thánh Tông
+ Thứ ba, luận văn đưa ra một số đánh giá về giá trị và hạn chế của chính sách xã hội của Lê Thánh Tông đối với xã hội Đại Việt thế kỷ XV Qua đó, đưa ra một số giá trị tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà nước về kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống trong lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng các phương pháp logic -
lịch sử, phân tích, tổng hợp… của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thông qua các
sự kiện lịch sử và các di sản để làm rõ nội dung và ý nghĩa các chính sách xã
Trang 11hội thời Lê Thánh Tông trị vì Vấn đề đó sẽ được xem xét theo một trật tự cùng với quá trình vận động, phát triển và biến đổi của nó Luận văn còn có sự kết hợp vận dụng các phương pháp cụ thể như phân loại, so sánh, thống kê nhằm xác định nội dung cơ bản trong các chính sách xã hội của Lê Thánh Tông
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: làm rõ các điểu kiện cho sự hình thành và
nội dung cơ bản của một số chính sách xã hội do Lê Thánh Tông đề ra trong thời gian ông cai trị đất nước
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu điều kiện hình
thành và một số nội dung cơ bản trong chính sách xã hội của Lê Thánh Tông đối với quan lại, phụ nữ, người già, người neo đơn, trẻ mồ côi và đồng bào các dân tộc thiểu số
6 Đóng góp của luận văn
Từ các nguồn tài liệu thu thập được, luận văn nêu lên một cách có hệ thống điều kiện hình thành và nội dung cơ bản trong một số chính sách xã hội nổi bật của Lê Thánh Tông Luận văn nêu rõ một số chính sách xã hội thời Lê Thánh Tông có sự phát triển cả về phạm vi, hình thức biểu hiện, tính chất, các chính sách này thể hiện một bước phát triển lớn trong nhận thức về chính sách
xã hội so với thời kỳ trước đó
Luận văn chỉ ra rằng chính thông qua một số chính sách xã hội đó mà
ta hiểu rõ hơn về bản chất xã hội Đại Việt thời Lê Thánh Tông Các chính sách đó phản ánh bản chất của bộ máy nhà nước dưới triều đại Lê Thánh Tông, đó là một nhà nước phong kiến quan liêu với chế độ quân chủ tập quyền đạt đến mức cao độ nhất trong các triều đại của phong kiến Việt Nam, song vẫn có yếu tố tích cực Mục tiêu của Lê Thánh Tông trong việc xây dựng nhà nước theo hình mẫu này là đảm bảo trật tự, kỷ cương xã hội theo khuôn mẫu của Nho giáo, nhưng đằng sau khuôn mẫu của Nho giáo thì vẫn có những nét nhân văn mang đậm giá trị truyền thống Việt Nam
Trang 12Luận văn bước đầu có những đánh giá về tính tích cực cũng như những điều còn hạn chế trong chính sách xã hội do Lê Thánh Tông đề ra đối với thời đại mà ông trị vì, cũng như bước đầu có những gợi ý có giá trị cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: luận văn góp phần làm rõ hơn nội dung và ý nghĩa
của chính sách xã hội trong hệ thống chính sách chung của nhà nước dưới triều đại Lê Thánh Tông
- Ý nghĩa thực tiễn: đất nước ta đang trong quá trình vận động, phát triển,
thực hiện công cuộc đổi mới nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Quá trình này đã đem lại một diện mạo mới cho đất nước, đồng thời sẽ nảy sinh rất nhiều các vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta phải quan tâm Việc nghiên cứu, tìm hiểu chính sách xã hội của Lê Thánh Tông, một triều đại phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam, cùng với những kinh nghiệm và bài học lịch sử của nó sẽ có tác dụng là những gợi ý thiết thực góp phần phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng và nhân dân ta đang thực hiện, bổ sung những gợi ý cho việc hoàn thiện chính sách xã hội hiện nay
Trang 13NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNH
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông và các triều đại trước đó đều chưa
sử dụng khái niệm “chính sách xã hội” nhưng các nội dung thể hiện chính sách xã hội lại là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách cai trị của mọi nhà nước phong kiến Ở nước ta, khái niệm “chính sách xã hội” lần đầu tiên được sử dụng phổ biến trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách xã hội trong các công trình nghiên cứu khác nhau song trong đó có một quan niệm chung nhất
đó là: “Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật những đường lối, chủ trương, những biện pháp để giải quyết các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo và quản lý, phù hợp với bản chất chế độ xã hội - chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích cao nhất là thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân về đời sống vật chất và văn hóa Chính sách xã hội là một động lực quan trọng của sản xuất xã hội, tiến bộ xã hội” [67, tr 23] Theo nghĩa hẹp: “Chính sách xã hội là chính sách của Nhà nước cho những ngành lao động xã hội được coi là đối tượng chính sách, nhóm cần được hỗ trợ của Nhà nước” [67, tr 10] Theo khái niệm này thì nội dung của chính sách xã hội gồm nhiều chính sách, cơ bản là chính sách với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội (công nhân, nông dân, trí thức…), chính sách an sinh xã hội (chống tệ nạn xã hội, tham nhũng…), chính sách đối với các lứa tuổi, giới (thanh, thiếu niên, phụ nữ, đồng bào dân tộc…)
Từ việc nắm bắt các nội hàm chính trong các quan niệm trên chúng ta
có thể nhận thấy rằng nội dung chính sách xã hội vào thời Lê Thánh Tông trị
Trang 14vì chưa hoàn toàn thể hiện đầy đủ theo đúng cách hiểu hiện đại này nhưng cũng có điểm tương đồng, là những biểu hiện sớm, chưa hoàn chỉnh của chính sách xã hội trong lịch sử; bởi lẽ các chính sách đó có cơ sở khách quan và chủ quan của nó do điều kiện lịch sử lúc đó quy định Lê Thánh Tông đã xuất phát
từ những tiền đề khách quan cùng với những nhân tố chủ quan của chính bản thân mình để xây dựng, đưa ra và thực thi những chính sách xã hội mà về cơ bản phù hợp với yêu cầu của xã hội Đại Việt nửa sau thế kỷ XV Đó là yêu cầu tiếp tục ổn định, hoàn thiện, phát triển thể chế nhà nước quân chủ tập quyền quan liêu làm lực lượng hiện thực hóa các đường lối cai trị Đức trị kết hợp với Pháp trị nhằm ổn định, phát triển quốc gia phong kiến Đại Việt Trong giới hạn luận văn, tác giả nghiên cứu chính sách xã hội của Lê Thánh Tông với một số tầng lớp đặc biệt trong xã hội là quan lại, phụ nữ, người già, người neo đơn, trẻ mồ côi và đồng bào dân tộc thiểu số; biện pháp để ông thực hiện các chính sách xã hội đó
1.1 Điều kiện khách quan cho sự hình thành các chính sách xã hội của Lê Thánh Tông
1.1.1 Điều kiện chính trị
Vào nửa sau thế kỷ XIV, bộ máy nhà nước quân chủ quý tộc tôn quyền nhà Trần sau những chiến công vang dội trong sự nghiệp bình Nguyên và xây dựng quốc gia Đại Việt hùng mạnh đã đi vào suy yếu Nạn đói và các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra làm nhà Trần lâm vào khủng hoảng trầm trọng Thiên tai dồn dập, nạn đói thường xuyên diễn ra vào các năm như 1362, 1370, 1375 khiến triều đình phải kêu gọi các nhà giàu trong lộ, phủ nộp thóc để cấp cho dân đói tránh tình trạng nổi loạn Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa nông dân vẫn liên tiếp diễn ra, tiêu biểu như khởi nghĩa của Ngô Bệ (1344) với khẩu hiệu "cứu giúp dân nghèo", khởi nghĩa của Nguyễn Bổ (1379), khởi nghĩa của Nguyễn Thanh (1389) Mặc dù đã có một số biện pháp để
Trang 15củng cố nhưng nhà Trần vẫn không thể khắc phục được tình trạng khủng hoảng trầm trọng này
Giữa lúc ấy, một viên quan ngoại thích của nhà Trần là Hồ Quý Ly đã nhanh chóng thâu tóm quyền lực, ép vua Trần nhường ngôi Nhà Hồ thay nhà Trần (1400) cố gắng thực hiện một loạt các cải cách Những chính sách của nhà Hồ chưa phát huy được tác dụng thì giặc Minh đã xâm lược Đại Việt
Lợi dụng tình hình nước ta đang rối ren, giặc Minh đem quân sang xâm lược nước ta với quy mô lớn Cha con Hồ Quý Ly đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt kháng chiến chống Minh nhưng do tương quan lực lượng không cân sức nên nhà Hồ nhanh chóng thất bại, Đại Việt rơi vào tay nhà Minh Nước ta bị đặt dưới ách đô hộ của nhà Minh, chúng chia nước ta thành 15 phủ, mỗi phủ chia làm nhiều huyện và châu
Năm 1418, giữa núi rừng Lam Sơn - Thanh Hóa, dưới sự lãnh đạo của
Lê Lợi, quân dân ta đứng lên thực hiện khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh Trải qua 10 năm “nằm gai nếm mật”, chịu nhiều tổn thất nặng nề; năm
1428, khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, đập tan ách thống trị suốt 20 năm của nhà Minh, đưa nước ta bước sang trang sử mới Ý chí xâm lược của phong kiến Trung Quốc cơ bản đã bị đè bẹp Nền an ninh quốc gia, phía Bắc được bảo đảm một cách vững chắc; phía Nam vào thời Lý, Trần, nước Chăm
- pa thường hay đến quấy nhiễu biên giới, thì nay một mặt nước Đại Việt lại trở nên hùng cường, mặt khác thì nội bộ Chăm - pa đang ở thời kỳ khó khăn, suy vong cho nên không có mưu đồ quấy phá Đại Việt như trước
Tháng 4 năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, nhà Lê sơ chính thức được thành lập Trong hơn 5 năm trị vì đất nước (1428 - 1433), Lê Thái Tổ đã chủ trương và triển khai xây dựng một bộ máy nhà nước theo mô hình nhà nước phong kiến quan liêu tập quyền thay thế cho chế độ nhà nước quân chủ quý tộc thời Trần; quyền lực được tập trung toàn
Trang 16bộ vào triều đình, đứng đầu là nhà vua theo tinh thần “tôn quân quyền” của Nho giáo Với tinh thần “tôn quân quyền” tất cả quyền lực bộ máy nhà nước được tập trung trong tay nhà vua, vua nắm vị trí độc tôn, tất cả mọi người đều phải phục tùng theo nhà vua Lê Thái Tổ đã thực hiện một loạt các cải cách dựa trên sự quân sư của Nguyễn Trãi Ông ban hành một số văn bản pháp luật dưới dạng các chiếu, chỉ, dụ, lệnh và thi hành các chính sách nhằm củng cố, phát triển kinh tế cùng một số biện pháp an sinh xã hội, tạo ra sự ổn định và hứng khởi bước đầu cho đất nước sau hơn 20 năm bị giặc Minh đô hộ
Lê Thái Tổ đã thực hiện cải cách hành chính, chia đất nước thành 5 đạo (Đông, Tây, Nam, Bắc, Hải Tây) Đứng đầu mỗi đạo có chức hành khiển, bên cạnh có tổng quản chỉ huy các vệ quân trong đạo Dưới đạo có các đơn vị hành chính: trấn, lộ, phủ, huyện, châu Đứng đầu trấn là trấn phủ sứ, tuyên úy sứ; ở lộ là an phủ sứ, tổng quản; ở phủ là tri phủ, đồng tri phủ; ở huyện là chuyển vận sứ; ở châu là phòng ngự sứ Riêng miền núi có tri châu và đại tri châu Đơn vị hành chính nhỏ nhất là xã Năm 1428, Lê Lợi chia xã làm ba loại: đại xã, trung xã và tiểu xã, do các quan đứng đầu; số lượng xã quan quy định: đại xã có ba người, trung xã có hai người và tiểu xã có một người
Hệ thống chính quyền phong kiến ngay từ thời Lê Lợi đã được tổ chức khá chặt chẽ, chi phối xuống tận cấp xã Lê Thái Tổ cho xây dựng một bộ máy nhà nước mà tất cả quyền lực đều tập trung về triều đình trung ương Đứng đầu
là vua, rồi đến các chức tả, hữu tướng quốc, kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sự, tam thái, tam thiếu, tam tư dành riêng cho những tôn thất và đại công thần Dưới đó là hai ngạch ban văn và ban võ Ban văn có các chức Đại hành khiển, Thượng thư các bộ (lúc này có hai bộ là Lại bộ và Lễ bộ) và các cơ quan chuyên trách như Nội mật viện, Ngũ hành viện, Bí thư giám, Hàn lâm viện… Ban võ có các chức Đại tổng quản, Đại đô đốc, Đô tổng quản chỉ huy quân thường trực ở kinh thành và các vệ quân ở các đạo Nhìn chung, bộ máy nhà
Trang 17nước phong kiến thời Lê Thái Tổ còn sơ sài và vẫn phải dựa trên nền tảng quy chế tổ chức của các triều đại trước Tuy nhiên, so với thời Lý, Trần bộ máy nhà nước thời Lê Thái Tổ đã là một bước tiến về mức độ tập trung quyền lực Bộ máy nhà nước mà Lê Thái Tổ thiết lập cũng dần bộc lộ một số hạn chế như việc trọng đãi công thần mà hầu hết họ là những người ít học, giao cho họ nắm giữ các chức vụ quan trọng của đất nước đã làm nảy sinh những mâu thuẫn cung đình, tình trạng công thần lộng hành, tranh giành, vu khống và sát hại lẫn nhau trong nội bộ quý tộc, nguy cơ cát cứ đang dần diễn ra
Sử cũ đã ghi về Lê Thái Tổ: “Khi lên ngôi vua đã ấn định luật lệ, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu thập sách vở, mở mang trường học có thể nói là có mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp [16, tr 308]
Năm 1433, Lê Thái Tổ mất, Lê Thái Tông lên ngôi (1433 - 1442) Lê Thái Tông lên ngôi lúc 11 tuổi nên mọi việc đều do Đại tư đồ Lê Sát phụ chính cùng với Tư khấu đô tổng quản Lê Ngân chuyên quyền nắm giữ Năm
1437, Lê Thái Tông trực tiếp lên nắm chính quyền, song Lê Thái Tông là người ưa xu nịnh, xung quanh ông lại là một lũ hoạn quan đầy mưu mô, xảo quyệt Ông do say đắm lời xiểm nịnh của thứ phi Nguyễn Thị Anh cùng lũ hoạn quan nên đã phế truất con cả là Nghi Dân, lập con thứ là Bang Cơ lên ngôi Thái tử, điều này đã gây nên hậu họa về sau Tuy nhiên, trong 9 năm nắm thực quyền, Lê Thái Tông cũng đã đề ra được nhiều chính sách góp phần chỉnh đốn lại hệ thống tổ chức quan lại, đặt ra những nguyên tắc, thể chế cho
chế độ thi cử Đại Việt sử ký toàn thưcó đưa ra nhận xét về vua Lê Thái Tông:
“bên trong chế ngự quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch, trọng đạo, sùng nho, mở khoa thi, kén hiền sĩ…” [16, tr 355]
Năm 1442, Lê Thái Tông mất, thái tử Bang Cơ lên ngôi khi vừa mới 2 tuổi, triều chính nước Đại Việt dấn sâu vào cảnh khốn đốn Thái hậu Nguyễn
Trang 18Thị Anh buông rèm nhiếp chính Thái hậu vì tư lợi chém giết công thần, mặc cho quan lại tham ô, hối lộ; đời sống nhân dân khổ cực Đến năm 1453, Lê Nhân Tông mới thực sự nắm chính quyền; ông đã đề ra một số quy định dần đưa đất nước ổn định hơn
Theo Đại Việt sử ký toàn thư và nhiều bộ sử khác cho thấy, trong các
triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông đã thực hiện các biện pháp khác nhau để có thể ổn định và phát triển đất nước nhưng bên trong hệ thống chính quyền ấy vẫn còn có những hạn chế Tệ nạn tham ô, nhận hối lộ, lợi dụng chức quyền để trục lợi riêng diễn ra khá phổ biến trong giới quan lại; quan lại trong triều kéo bè kết đảng, lập thành phe phái khống chế, chi phối, lũng đoạn mọi công việc đại sự của triều đình; người có đức, có tài thì bị hãm hại hoặc lui về ở ẩn, còn bọn bất tài, không có đức thì được dịp lộng hành,
nhũng nhiễu dân lành
Năm 1459, xảy ra chính biến Nghi Dân, mẹ con vua Lê Nhân Tông bị giết, Nghi Dân lên ngôi và đổi niên hiệu là Thiên Hưng Trong 8 tháng ngắn ngủi, Lê Nghi Dân cũng đã có một số quy định củng cố đối với quyền lực triều đình trung ương Ông chia đặt quan chức trong triều thành 6 bộ Như vậy, đến thời Nghi Dân triều đình đã đủ 6 bộ là Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình, Công Ông còn cho đặt 6 khoa gồm Trung thư khoa, Hải khoa, Đông khoa, Tây khoa, Nam khoa, Bắc khoa Các quan chức ở các phủ, huyện, châu cũng được ông sắp xếp lại Theo sử cũ ghi lại thì trong nửa năm đầu trị vì của ông vua tiếm ngôi này, tình hình triều chính vẫn "bình lặng", không có một thay đổi nào trong quan hệ giữa vua và các quan đại thần, giữa hàng ngũ các quan đại thần thuộc phái "quân sự" với phái "dân sự", trong việc giải quyết mâu thuẫn cung đình, mâu thuẫn giữa "tập trung" và "phân tán", trong khắc phục những rối loạn của xã hội
Tháng 6 năm 1459, cuộc đảo chính do các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt cầm đầu đã giết bọn tay chân của Nghi Dân, rồi phế Nghi Dân xuống làm
Lê Đức hầu.Sau đó, các triều thần đem xa giá đến rước người con thứ tư của
Trang 19Lê Thái Tông là hoàng tử Tư Thành lên ngôi hoàng đế Năm 1460, Tư Thành lên ngôi hoàng đế, chính là vua Lê Thánh Tông
Như vậy, các vị vua triều Lê sơ khởi nghiệp từ Lê Thái Tổ cho tới khi Lê Thánh Tông lên ngôi đều quan tâm chú trọng xây dựng nhà nước theo mô hình quân chủ tập quyền quan liêu và tới Lê Thánh Tông thì thể hiện rõ rệt nhất, hoàn thiện nhất, khác hẳn so với nhà nước quân chủ quý tộc tôn quyền thời Trần
Nhà Trần sử dụng quan lại theo chế độ “tông tử duy thành” (dùng con cháu là thành trì, liên kết họ hàng bảo vệ ngôi vua), quyền lực nằm trong tay các vương hầu quý tộc, họ giữ mọi cương vị chủ chốt trong triều đình và chia nhau đi trấn trị các địa phương Nhà Trần cũng đã quan tâm giáo dục đào tạo quan lại qua thi cử nhưng đến cuối thời Trần thì khoa cử vẫn chưa phải là phát triển, Nho giáo vẫn chưa chiếm được vị trí ưu thế trong giáo dục và đời sống tinh thần
Nhà Lê sơ sử dụng quan lại theo cách riêng, ban đầu quan lại chủ yếu là
sử dụng đội ngũ công thần, những người đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống Minh; về sau thì là tuyển dụng người tài theo thi cử của Nho giáo Lê Quý Đôn đã nhận xét rằng vua Lê Thái Tổ không thể bắt chước việc cũ của nhà Trần tức là phong chức cho tất cả những người trong họ; những người giỏi trong họ
Lê lúc bấy giờ như Lê Khôi, Lê Khang đều lấy tư cách là công thần mà trao chức, chứ không phong tước, chia đất
Tính chất quý tộc tôn quyền của nhà nước quý tộc thời Trần đã không đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội Đại Việt vào cuối thế kỷ XIV Vì vậy, ngay khi lên nắm chính quyền Lê Lợi đã định hướng xây dựng một nhà nước quân chủ tập quyền quan liêu lấy học thuyết Nho giáo làm cơ sở lý thuyết, hướng dẫn chỉ đạo trong cai trị, quản lý xã hội Các vua sau tiếp tục thực thi theo định hướng đó Đến Lê Thánh Tông với việc xây dựng và hoàn thiện một bộ máy nhà nước quân chủ phong kiến quan liêu tập trung cao độ,
Trang 20có hệ thống chặt chẽ từ trung ương tới địa phương, cùng với các chính sách xã hội tương ứng đã tạo nên sức mạnh cố kết cho toàn xã hội Mọi chính sách của nhà nước quân chủ trong đó có các chính sách xã hội đã được ban hành và thực thi sâu rộng
1.1.2 Điều kiện kinh tế
Trước thời Lê sơ, chế độ phong kiến quân chủ tôn quyền đã được xác lập và phát triển dựa trên cơ sở của kinh tế điền trang thái ấp, đặc biệt phát triển mạnh dưới triều Trần Từ nửa cuối thế kỷ XIV trở đi, nhà Trần không tập trung được quyền lực, trượt dài trên con đường suy vong Nhận thức được điều đó nên khi thành lập nhà Hồ thì Hồ Quý Ly đã thực hiện một loạt các cải cách nhằm hạn chế, đi đến làm suy yếu thực lực của tầng lớp đại quý tộc Trần bằng chính sách hạn điền (hạn chế sở hữu tư nhân về ruộng đất từ 10 mẫu trở xuống) và hạn nô (hạn chế việc mua bán nô tỳ, giải phóng quan hệ chủ nô -
nô tỳ) để bảo vệ lực lượng sản xuất Hồ Quý Ly đã hạn chế được sự chiếm hữu ruộng đất lớn của các chủ nô quý tộc, tạo điều kiện cho tầng lớp địa chủ nhỏ phát triển… Tuy nhiên, những cải cách của Hồ Quý Ly chưa kịp có hiệu quả thì nước ta lại bị nhà Minh đô hộ
Chế độ cai trị tàn bạo và sự vơ vét của nhà Minh trong suốt 20 năm đô
hộ đã khiến cho nền kinh tế của Đại Việt bị phá hoại nặng nề, rơi vào suy thoái trầm trọng Đồng ruộng, làng xóm điêu tàn, nhân dân phiêu tán khắp nơi Thủ công nghiệp và thương nghiệp suy sụp Ruộng đất bị bỏ hoang ở nhiều nơi Nạn đói và dịch năm 1407 khiến "nhân dân không trồng trọt cày cấy được, người chết gối lên nhau" [16, tr 226] Năm 1409, lại một trận đói
và dịch trầm trọng như vậy xảy ra Năm 1411, miền lưu vực sông Đáy bị lụt,
đê vỡ, nhà cửa của dân bị trôi dạt Năm 1412, đồng ruộng từ Diễn Châu trở vào không cày cấy được Chính sách cướp ruộng để lập đồn điền, để cấp chức điền cho ngụy quan làm cho nhân dân nhiều nơi bị phá sản, bị mất ruộng Những hành động cướp bóc của giặc, đặc biệt là cướp trâu bò, đã phá hoại sức sản xuất nông nghiệp, gây rất nhiều khó khăn trong việc cày cấy, trồng trọt
Trang 21Cơ sở kinh tế nông nghiệp bị phá hoại kéo theo sự đình trệ của tất cả các ngành kinh tế khác Những chính sách thuế khóa, vơ vét tài nguyên, lùng bắt thợ thủ công đem về Trung Quốc, ngăn cấm ngoại thương của triều Minh đều là trở lực phá hoại nền kinh tế của nước ta lúc bấy giờ."Trải qua thời kỳ suy vong cuối Trần và đặc biệt là 20 năm thống trị tàn bạo của phong kiến nhà Minh, nền kinh tế nước ta bị tàn phá, đình trệ và tiêu điều Về nông nghiệp, đê điều hư hỏng, đồng ruộng bị bỏ hoang, trâu bò bị cướp bóc trở nên thiếu thốn, một cảnh tượng điêu tàn, đói khổ do hậu quả của chiến tranh và cướp bóc bao trùm khắp xóm làng Về công thương nghiệp, do nhiều ngành nghề bị phá sản, cho nên việc buôn bán làm ăn cũng đang ở trong tình trạng trì trệ, bế tắc Tất cả những cái đó đề ra nhiệm vụ cấp thiết cho toàn dân và nhà nước phong kiến phải có vai trò tích cực phục hồi lại nền kinh tế, xây dựng đời sống bình thường" [37, tr 106]
Sau khi đất nước được độc lập, nhà Lê sơ đã đề ra nhiều chính sách khuyến khích nông nghiệp cùng với nhân dân nhanh chóng khôi phục sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh
* Về nông nghiệp:
Năm 1429, ngay sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ đã nhận thấy rằng:
"Người đi đánh giặc thì nghèo, kẻ rong chơi thì giàu Người đi chiến đấu thì không có một thước đất để mà ở, còn những kẻ du thủ du thực, không có ích
gì cho nước lại có quá thừa ruộng đất hoặc đi làm nghề trộm cắp Thành ra không ai chịu hết lòng với nước, chỉ ham nghĩa phú quý mà thôi"[16, tr 300]
Vì vậy, ông đã cho tịch thu ruộng đất của bọn quan lại tay sai nhà Minh, ruộng đất của các thế gia nhà Trần bị tuyệt tự, ruộng đất của nhân dân bị bỏ hoang, của quân lính bỏ trốn làm ruộng đất công; cho điều tra lại ruộng đất công ở các làng xã Nhằm khôi phục nền kinh tế nông nghiệp sau một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá, và thi hành một cuộc cải cách ruộng đất theo tinh thần gắn quyền lợi về ruộng đất với nền độc lập dân tộc và sự bền vững
Trang 22của vương triều nhà Lê, Lê Thái Tổ đã cho ban hành chính sách lộc điền và quân điền rộng rãi
Thời Lê sơ, các vị vua đã ban hành chế độ lộc điền với quy mô lớn chưa từng có Lộc điền là loại ruộng nhà nước ban cấp cho quan lại cao cấp (từ tứ phẩm trở lên), gồm có ruộng ban cấp được phép thừa kế và ruộng ban cấp tạm thời có thể thu hồi lại sau khi chết Chế độ lộc điền thời Lê sơ thay thế cho chế độ điền trang thái ấp thời Trần đã góp phần ngăn chặn tình trạng cát cứ, ly khai triều đình
Phép quân điền lần đầu tiên được Lê Thái Tổ áp dụng vào năm 1429, tiếp tục được các vị vua sau củng cố, đặc biệt phát triển và hoàn chỉnh dưới triều vua Lê Thánh Tông Phép quân điền quy định chia ruộng đất công làng
xã theo định kỳ 6 năm, nông dân làng xã phải nộp tô thuế đầy đủ cho nhà nước Trong thực tế, quân điền chỉ là nhà nước phát canh thu tô, về ý nghĩa
ấy nhà nước là một đại địa chủ thu tô, nông dân cày ruộng khẩu phần nghĩa
là những tá điền lĩnh canh thu tô Củng cố chế độ quân điền là củng cố chế
độ phát canh thu tô, củng cố quan hệ tá điền - địa chủ; vào thế kỷ XV, quan
hệ này là quan hệ tương đối tiến bộ, góp phần giải phóng sức lao động Tuy chế độ quân điền là đảm bảo quyền lợi về ruộng đất cho giai cấp thống trị nhưng cũng có ý nghĩa nhất định với nông dân, đảm bảo cho người nông dân
có một số ruộng đất tối thiểu để cày cấy và giải quyết một phần ruộng đất bỏ hoang Phép quân điền vừa giúp cho người nông dân có đất cày cấy, sinh sống vừa giúp cho nhà nước thu thuế, giải quyết lao dịch, tuyển lính và nuôi lính Ở thế kỷ XV, phép quân điền đã góp phần ổn định kinh tế tiểu nông, hạn chế sự phân hóa xã hội
Lê Thánh Tôngđã tích cực thực thi chế độ quân điền cùng với việc củng cố, tổ chức chính quyền xã thôn, điều đó chứng tỏ một mức độ tập quyền cao độ của nhà nước phong kiến lúc bấy giờ Với việc kết hợp chính
Trang 23sách quân điền và lộc điền, giai cấp phong kiến thống trị thời Lê sơ đã xóa bỏ được tình trạng điền trang, thái ấp độc lập, khép kín; đồng thời, xóa bỏ được tình trạng quyền lực bị phân tán giống như ở thời Lý, Trần Trên cơ sở đó, chế
độ này đã góp phần tập trung được quyền lực vào bộ máy nhà nước, vào giai cấp thống trị và củng cố quyền lợi, lợi ích của tầng lớp quý tộc, quan liêu cao cấp mà tập trung là nhà vua Bên cạnh đó, nó cũng góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế nông nghiệp, củng cố kinh tế tiểu nông và tạo điều kiện, tiền
đề cho kinh tế hàng hóa phát triển
Đây chính là điểm tiến bộ căn bản trong chính sách ruộng đất của nhà nước phong kiến thời Lê sơ mà điển hình là triều Lê Thánh Tông, vì đã giải quyết đúng những mâu thuẫn chính trong cuộc khủng hoảng cuối thời Trần và tạo cơ sở kinh tế đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển xã hội phong kiến lúc bấy giờ Tuy nhiên, cũng có hạn chế như kìm hãm sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất, của kinh tế hàng hóa và trói buộc người nông dân vào ruộng đất manh mún; dung hòa mâu thuẫn giữa các giai cấp và xoa dịu đấu tranh giai cấp giữa giai cấp phong kiến, địa chủ và giai cấp nông dân
Nhằm giảm bớt gánh nặng cho người dân sau 20 năm phải sống lầm than dưới sự cai trị hà khắc của nhà Minh, ngay sau khi lên ngôi Lê Thái Tổ
đã ban chiếu cho cả nước được miễn trừ, không phải nộp thuế tô ruộng, thuế đầm ao, bãi dâu Đây là một trong những chính sách tích cực đối với quá trình khôi phục và phát triển kinh tế của đất nước sau chiến tranh Về sau, Lê Thánh Tông cũng nhiều lần miễn thuế cho dân chúng
Trong xã hội nông nghiệp như nước ta, hầu hết nhân dân là nông dân
và binh lính cũng chính là những người nông dân mặc áo lính Để đảm bảo cho quân đội hùng mạnh và đồng thời đảm bảo được đầy đủ sức lao động cho nông nghiệp, các triều đại phong kiến thường thực hiện chính sách "ngụ binh
ư nông", tức là cho quân đội thay phiên về làm ruộng Chính sách này ở thời
Lê sơ lại tiếp tục được thực hiện một cách triệt để, không những cho quân lính
Trang 24mà còn mở rộng ra cho các đối tượng khác như công tượng, lính coi ngục và người nấu bếp và họ nhận được sự ưu đãi nhất định
Ngay sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, năm 1429 trong số
35 vạn quân dưới cờ khởi nghĩa chống xâm lược, vua Lê Thái Tổ đã cho 25 vạn quân về quê làm ruộng, chỉ giữ lại 10 vạn để phòng vệ Ông chia binh lính làm năm phiên, cứ lần lượt một phiên lưu ban và bốn phiên về làm ruộng Chính sách này giúp bảo đảm nhân công nông nghiệp, tập trung sức lao động của nhân dân vào sản xuất nông nghiệp trong thời gian cần thiết
Xây dựng một xã hội lấy nông nghiệp làm gốc nên trong khi tiến hành các biện pháp khôi phục kinh tế sau chiến tranh, các vị vua nhà Lê sơ còn có chủ trương tận dụng triệt để ruộng đất để trồng trọt Ngay từ khoảng giữa năm
1427, khi cuộc kháng chiến chống Minh sắp kết thúc, Lê Lợi đã ra lệnh cho dân chạy loạn, phiêu tán các nơi phải trở về quê cày cấy và xử tội nặng những người lưu tán Tháng 1 năm 1428, có lệnh cho con em các đầu mục, các tướng lĩnh về quê hương nhận ruộng đất để sản xuất Tháng 3 năm 1429,
Lê Thái Tổ đưa ra quy định tất cả phần đất vườn ở phủ đệ các công hầu, quan lại ở các phường trong kinh thành phải trồng hoa và rau đậu, không được bỏ hoang, nếu không sẽ bị thu hồi Song song với việc khôi phục lại diện tích đất canh tác nông nghiệp cũ, các vị vua nhà Lê sơ còn chú ý tới việc mở rộng diện tích canh tác mới bằng công cuộc khẩn hoang
Khuyến khích lập đồn điền là công cuộc khẩn hoang tương đối quy mô của nhà nước phong kiến Lê sơ Lê Lợi đã xác định mục đích lập đồn điền là
để mở rộng thêm diện tích sản xuất và nguồn cung cấp tô thuế cho nhà nước Ngoài công cuộc khẩn hoang quy mô lớn do nhà nước tiến hành, triều đình phong kiến Lê sơ cũng khuyến khích, động viên những công cuộc khẩn hoang của nhân dân, đặc biệt là ở những vùng đất bồi ven biển Nếu ở thời Trần, các vương hầu, công chúa đã chiêu mộ dân lưu vong làm nô tỳ ra đắp đê ngăn nước mặn, lập thành các biệt trang; thì thời Lê sơ, những cuộc khẩn hoang miền ven biển vẫn được tiếp tục Những chính sách khai hoang, lập đồn
Trang 25điền do các vị vua Lê sơ đề ra đã có tác dụng tích cực trong việc mở rộng diện tích đất canh tác nông nghiệp, tập trung được dân lưu tán quay về quê hương tham gia sản xuất, tạo điều kiện ổn định cuộc sống của nhân dân và ổn định xã hội chung
Nhằm bảo vệ sức sản xuất nông nghiệp, các vị vua nhà Lê sơ còn ban hành những điều luật cấm giết mổ trâu, bò Mở rộng và củng cố hệ thống đê ngăn lũ, đắp đê biển Vào mùa xuân, các vua Lê thường tham gia lễ cày tịch điền; ban chiếu khuyến nông để khuyến khích nhân dân chăm lo sản xuất Đặc biệt, vào những năm mất mùa hay hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh nhà vua thường ra chiếu "tự trách" tỏ rõ sự quan tâm tới sản xuất nông nghiệp; nhà vua tự thân đi cầu đảo, làm chay cúng tế và tha bổng, ân xá cho tội nhân
Nhờ những chính sách xã hội trên mà nền nông nghiệp Đại Việt trong những năm đầu thời Lê sơ đã nhanh chóng được khôi phục và phát triển mạnh
mẽ Trong dân gian vẫn còn lưu truyền câu ca:
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng thèm ăn
* Về thủ công nghiệp:
Thời Lý, Trần vẫn chưa có biểu hiện đem đối lập giữa nông nghiệp với thủ công nghiệp, tầng lớp công thương vẫn được tôn trọng trong xã hội Sang thời Lê sơ, nông nghiệp được coi là nghề gốc, công thương nghiệp là nghề ngọn, coi nhẹ với chủ trương “vun gốc, xén ngọn” tức là khuyến khích nông nghiệp, hạn chế công thương nghiệp Trong lịch sử nước ta tư tưởng trọng nông ức thương bắt đầu xuất hiện vào thời Lê sơ và được thi hành triệt để từ thời Lê Thánh Tông Đây cũng chính là một trong các cơ sở làm xuất hiện sự phân tầng xã hội thành: sĩ, nông, công, thương
Nhà nước Lê sơ một mặt duy trì nền sản xuất nhỏ thủ công trong các làng xã, mặt khác đẩy mạnh hoạt động của các quan xưởng thuộc thủ công nghiệp nhà nước Đã xuất hiện nhiều làng nghề như gốm sứ ở Bát Tràng,
Trang 26nhuộm ở Huê Cầu Nhà nước phong kiến tổ chức sản xuất thủ công nghiệp riêng gọi là các cục bách tác, các cục này chuyên sản xuất những sản phẩm cung cấp cho nhu cầu của nhà nước như tiền, vũ khí, các đồ dùng của vua, hoàng tộc, quan lại và binh lính (áo, mũ, đồ trang sức…)
* Về thương nghiệp:
Nội thương, hoạt động thương nghiệp chủ yếu ở thời Lê sơ là buôn bán nhỏ thông qua mạng lưới chợ ở nông thôn và thành thị Nhà Lê đã cho ban hành lệ lập chợ, trong dân gian hễ có dân là có chợ để lưu thông hàng hóa, quy định nguyên tắc họp chợ luân phiên Ở Thăng Long, thương nhân từ các nơi đua nhau mở hàng quán buôn bán Nhà nước bỏ lệ tiêu tiền giấy của nhà
Hồ, cho lưu thông tiền đồng; Lê Thái Tổ cho đúc tiền đồng gọi là “Thuận Thiên thông bảo” Năm 1439, Lê Thái Tông còn quy định rõ các đơn vị đo lường hàng thủ công như tiền đồng thì cứ 60 đồng là một tiền, lụa lĩnh thì mỗi tấm dài 30 thước, rộng 1 thước 5 tấc trở lên; vải gai nhỏ mỗi tấm 24 thước, rộng 1 thước 3 tấc trở lên; vải tơ chuối thì mỗi tấm dài 24 thước; vải bông thô mỗi tấm dài 22 thước; giấy thì tính 100 tờ Tuy nhiên, kinh tế hàng hóa thời Lê
sơ vẫn bị kìm hãm nhiều vì chính sách ức thương, bế quan tỏa cảng của triều đình, vì nạn cướp bóc, ức hiếp của bọn quan lại, cường hào Chính quyền phong kiến thời Lê sơ hạn chế và hầu như cấm không cho nông dân rời bỏ quê hương, ruộng đất đi buôn bán, làm ăn tập trung ở các thị trấn
Ngoại thương được nhà nước kiểm soát chặt chẽ, hầu như bế quan tỏa
cảng Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì tất cả người ngoại quốc vào buôn
bán ở nước ta chỉ được ở các nơi quy định như Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), Càn Hải (Nghệ An), Hội Thống (Nghệ An), Hồi Triều (Thanh Hóa), Song Lãnh (Lạng Sơn), Phú Lương (Thái Nguyên), Tam Kỳ (Tuyên Quang) Tàu thuyền ngoại quốc ra vào, buôn bán chỉ được đậu ở Vân Đồn, ở đó có cơ quan nhà nước kiểm soát rất nghiêm ngặt Nhân dân và cả quan, quân không có
Trang 27lý do mà tới Vân Đồn hay biên giới, bờ biển giao thiệp hay mua bán với người nước ngoài đều bị phạt rất nặng.Chính sách ức thương của các vị vua triều Lê sơ một phần là nhằm bảo vệ nền độc lập tự chủ mới giành được; ngăn ngừa âm mưu ly khai chính quyền trung ương và chống xâm lược của bên ngoài Tuy nhiên, do sự phát triển của kinh tế hàng hóa nên những hiện tượng lén lút buôn bán với nước ngoài vẫn thường xuyên diễn ra, mà chính bọn quan lại, sứ thần là những kẻ tham gia tích cực nhất
Nhìn chung, chính sách phát triển kinh tế mà chủ yếu là chú trọng kinh
tế nông nghiệp, đề cao nông dân của nhà nước phong kiến Lê sơ là tương đối tích cực trong thời kỳ phát triển của đất nước ở thế kỷ XV; đã góp phần quan trọng vào việc khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp đương thời sau một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá
1.1.3 Điều kiện xã hội, văn hóa
* Kết cấu các tầng lớp trong xã hội:
Thời Trần với chế độ quân chủ quý tộc tôn quyền, nhà vua có sự chia
sẻ quyền lực cho các vương hầu quý tộc, tầng lớp này có vai trò quan trọng trong sự nghiệp chống ngoại xâm, dẹp loạn và quản lý xây dựng đất nước Sang tới thời Lê sơ, nhà nước được xây dựng theo mô hình quân chủ tập trung quan liêu, mọi quyền lực đều tập trung trong tay nhà vua và nhà vua sử dụng đội ngũ quan lại làm công cụ để quản lý xã hội nên về cơ bản xã hội có quan
và dân là hai tầng lớp cùng tồn tại, trong đó quan có nhiều cấp bậc, dân có nhiều tầng lớp nhưng có điểm chung họ đều là thần dân của nhà vua; tất cả đều là đối tượng của chính sách xã hội của nhà nước quân chủ do vua đứng đầu, ban hành và thực hiện
Quan: có hai ban văn và võ, xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau, với
hai hình thức tuyển chọn là đội ngũ công thần - những người có công trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và về sau bổ sung bằng những người đỗ đạt qua thi
Trang 28cử nhờ vào tài năng học tập Đội ngũ quan lại văn, võ thời Lê sơ bao gồm quan trong, quan ngoài và phẩm hàm sắp xếp làm 18 bậc (chánh và tòng) từ nhất phẩm tới cửu phẩm, được tập hợp trong bộ máy tổ chức nhà nước Quan lại có nhiệm vụ quản lý đất nước, cai trị nhân dân, tuyệt đối trung thành với nhà vua theo đường lối Đức trị kết hợp với Pháp trị Tầng lớp quan lại trong xã hội thời Lê sơ trong giai đoạn đầu chủ yếu là các công thần, nhưng sau đó đến thời Lê Thánh Tông dần được thay thế bằng quan lại tuyển chọn qua thi cử Điều này khác hẳn so với quan lại của các vương triều khác, nếu thời Trần vương hầu quý tộc cũng chính là các công thần, họ được nhà vua chia sẻ quyền lợi và luôn giữ vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước; thì thời Lê Thánh Tông, quan lại chủ yếu tuyển chọn thông qua thi cử dựa vào Nho học
Các triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông đã chú trọng đến việc tuyển chọn quan lại qua thi cử, nhưng cũng do điều kiện lịch sử chi phối nên trong thời kỳ đầu của nhà Lê sơ quyền lực còn nằm trong tay đội ngũ công thần, họ là những người có tài năng đức độ trong trận mạc nhưng lại hạn chế về tri thức, kinh nghiệm quản lý đất nước trong thời bình Trong tầng lớp quan lại buổi đầu đã nảy sinh tha hóa, mâu thuẫn, chia rẽ dẫn đến bè phái hãm hại nhau gây nên xáo động trong nội bộ triều đình Năm 1430, Lê Thái
Tổ đã hạ chiếu cấm quan lại tham lam, lười biếng, kéo bè đảng: "Từ nay, các đại thần từ chức tổng quản, cho tới các cấp đội trưởng, cùng các quan ở sảnh, viện, cục, có chức trách quản quân trị dân, thảy đều nên theo phép công bằng, làm việc cần mẫn, thờ vua thì tận trung, với dân thì hòa nhã, bỏ thói tham ô, trừ hết ngạo mạn, dứt lối riêng tư bè đảng, đừng theo thói cũ lỗi lầm Coi công việc của quốc gia là công việc của mình; mối lo của dân chúng tức mối lo của mình, tận trung hết sức phù trì nhà vua Khiến cho xã tắc yên như núi Thái Sơn, cơ đồ vững như bàn thạch" [20, tr.127]
Trang 29Tứ dân theo quan niệm thời bấy giờ bao gồm sĩ, nông, công, thương nhưng nông dân chiếm đại đa số Bên cạnh đó còn có đội ngũ binh lính và nô tỳ
Sĩ: dưới thời Lê sơ, sĩ là tầng lớp xuất hiện ngày càng đông đảo do vào
thời kỳ này việc tuyển chọn quan lại chủ yếu là qua thi cử Họ là những người học hành đỗ đạt, xuất thân từ nhiều tầng lớp trong xã hội và là đối tượng chủ yếu được đào tạo, nuôi dưỡng, chọn lọc vào đội ngũ quan lại; họ rất được xã hội trọng vọng Điểm khác biệt so với các thời đại trước là ở thời Lê sơ thì lần đầu tiên trong lịch sử tầng lớp sĩ xuất hiện đông đảo, độc chiếm vị trí ưu tú trong xã hội và trong quan trường, đặc biệt là từ thời Lê Thánh Tông
Nông dân: là bộ phận chiếm đại đa số trong xã hội, họ là lực lượng sản
xuất chủ yếu, tạo ra của cải cho xã hội, là nguồn cung cấp lực lượng binh lính, lao dịch cho đất nước Tầng lớp nông dân thời Lê sơ đã có sự phân hóa, bao gồm nhiều thứ hạng: người có ruộng đất tư hữu nhiều, ít khác nhau, từ địa chủ đến tiểu nông, người không có ruộng đất phải lĩnh canh nộp tô cho giai cấp địa chủ Khác với thời Lý, Trần, sự phát triển của sở hữu ruộng đất vào thế kỷ
XV cùng với sự thủ tiêu của chế độ nô tỳ khiến cho nông dân thời Lê sơ ngày một phân hóa mạnh mẽ, trở thành tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội Do là lực lượng sản xuất chính để tạo ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển và phồn thịnh của đất nước nên họ được nhà nước hết sức quan tâm và bảo vệ
Thợ thủ công: lực lượng thợ thủ công không nhiều và còn gắn liền với
hoạt động kinh tế làng xã Tuy nhiên, ở triều đình do yêu cầu xây dựng các công trình như cung điện, thành quách… đã ra đời cục Bách tác Ở các làng
xã, thợ thủ công với các ngành nghề truyền thống như dệt lụa, gốm… vẫn được duy trì và có chiều hướng phát triển Một số thợ khai mỏ đồng, thiếc, kẽm cũng đã có mặt trong xã hội và là lực lượng không thể thiếu của xã hội Nhìn chung, thợ thủ công thời kỳ này vẫn chưa nhiều, chưa thể trở thành lực lượng có tác động mạnh mẽ chi phối tiến trình vận động của xã hội
Trang 30Thương nhân:chiếm số lượng không nhiều và căn bản vẫn là những
người làm nghề buôn bán, trao đổi giữa các địa phương với nhau Tuyệt đại
bộ phận những người tham gia buôn bán lại là nông dân, họ vừa sản xuất, vừa trao đổi những sản phẩm dư thừa Tầng lớp thương nhân thời kỳ này vẫn chưa được coi trọng
Cùng với “tứ dân”, bộ phận binh lính luôn giữ vai trò quan trọng trong
xã hội Đây là tầng lớp xã hội đặc biệt, thực chất họ là những người nông dân mặc áo lính Khi làm nghĩa vụ binh dịch, cuộc đời binh nghiệp của họ gắn liền với bộ máy nhà nước, là công cụ bạo lực của nhà nước, họ chịu sự điều động và được nhà nước cùng với cộng đồng làng xã nuôi dưỡng Bên cạnh chức năng bảo vệ độc lập tự chủ, bảo vệ biên cương của tổ quốc, binh lính còn là lực lượng giữ gìn an ninh xã hội, bảo vệ nền thống trị của nhà nước quân chủ Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho tầng lớp binh lính
Tầng lớp đáy cùng của xã hội chính là nô tỳ, với số lượng không nhiều Chế độ nô tỳ thịnh hành vào thời Lý, Trần nhưng tới thời Hồ đã tan
rã về căn bản sau chính sách hạn nô của Hồ Quý Ly (1401) Nô tỳ thời Lê
sơ có nguồn gốc từ tù binh chiến tranh (chiến tranh với nhà Minh, với Chiêm Thành…), những tội nhân trong nước, những người tự bán mình
Nô tỳ có hai loại là quan nô và tư nô, đây là lực lượng phục dịch trong các cung điện, trong dinh thự của quan lại, trong các đồn điền của nhà nước Việc mua bán nô tỳ vẫn được duy trì
Như vậy, cơ cấu xã hội nhà Lê sơ tới thời Lê Thánh Tông đã có sự phân chia các tầng lớp khá rõ rệt so với các thời đại trước Vì vậy, để có thể quản lý đất nước một cách ổn định, phát triển đi lên thì nhà nước mà đứng đầu là vua cần có các chính sách xã hội hợp lý để phát huy được sức mạnh của từng giai tầng; đồng thời tạo nên sức mạnh chung của mọi tầng lớp, cố kết toàn dân thành một khối thống nhất
Trang 31*Về hệ tư tưởng:
Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, ba học thuyết chiếm địa vị chi phối nòng cốt cho ý thức hệ phong kiến là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Giữa ba hệ tư tưởng ấy tuy có những lúc thay thế vị trí, vai trò, có lúc mâu thuẫn, chống đối nhau; nhưng chủ đạo vẫn là tương trợ, bổ sung, kết hợp cho nhau và đều là thành tố làm công cụ thống trị về tinh thần của giai cấp phong kiến Tùy theo yêu cầu phát triển của chế độ phong kiến trong từng thời kỳ lịch sử nhất định mà các hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo có tương quan và địa vị, vai trò khác nhau
Những học thuyết Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo được truyền bá vào nước ta từ rất sớm Trong buổi đầu của thời kỳ độc lập Ngô, Đinh, Tiền Lê, Phật giáo cũng chiếm ưu thế tuyệt đối ở nước ta; nhưng bên cạnh Phật giáo thì Nho giáo và Đạo giáo cũng được truyền bá rộng rãi Trong thời Lý và buổi đầu thời Trần, nhà nước phong kiến đã thực hiện chính sách tam giáo đồng nguyên với các kỳ thi tam giáo, sử dụng cả ba hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo làm công cụ thống trị của giai cấp phong kiến Nhưng cùng với sự phát triển của chế độ phong kiến, Nho giáo ngày càng phát triển và bộc lộ nhiều chức năng tích cực với việc củng cố chế độ phong kiến hơn Từ cuối thời Trần, Nho giáo bắt đầu lấn át Phật giáo Sang tới thời Hồ, Nho giáo tiếp tục được phát triển
Từ đầu thế kỷ XV, sang thời Lê sơ, Nho giáo tiến lên địa vị độc tôn, phục vụ đắc lực cho chế độ quân chủ tập quyền đang phát triển mạnh mẽ lúc bấy giờ Phật giáo và Đạo giáo vẫn được duy trì trong chừng mực có lợi cho địa vị thống trị của giai cấp phong kiến
Nho giáo: tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng ở nước ta thời Lê sơ chủ yếu
là Tống Nho Đây là tư tưởng do Chu Hy (1130 - 1200) đứng đầu Học thuyết Tống Nho là một hình thức đổi mới của Nho giáo tiên Tần thích ứng với yêu
Trang 32cầu phát triển của chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội theo trật tự, tôn ty chặt chẽ Để tổ chức
xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử Quân tử là để chỉ những người thuộc tầng lớp trên trong xã hội, những người có phẩm chất cao đẹp; phân biệt với
kẻ tiểu nhân là những người thấp kém về năng lực địa vị xã hội, những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải học tập, tu dưỡng, “tu thân”; tu thân xong mục đích cao hơn là phải “hành đạo” (Đạo ở đây không chỉ đơn giản là đạo lý mà theo Nho giáo quan niệm thì Đạo ở đây là bao chứa cả nguyên lý vận hành chung của vũ trụ, đó là nguyên lý đạo đức do Nho gia đề xướng và cần tuân theo) Trời giáng mệnh làm vua cho người nào có Đạo, tức là nắm được đạo trời, được thiên mệnh Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người nào đó
sẽ được gọi là số mệnh
Nội dung của Nho giáo được thể hiện tập trung trong Ngũ kinh (Kinh
Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu) và Tứ thư (Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử), nó được áp dụng vào việc cai trị quản lý xã
hội và giáo dục con người
Trên cơ sở của thuyết “chính danh”, “tam cương”, “ngũ thường”, “tam tòng”, “tứ đức” của Nho giáo, nhà nước Lê sơ đã dần dần thiết lập được các mối quan hệ và trật tự trong xã hội theo một tinh thần mới, khác với xã hội thời Lý, Trần Tư tưởng Nho giáo bảo vệ sự liên kết gia đình, dòng họ, xung quanh triều đình trung ương và giữ gìn sự phân chia đẳng cấp xã hội phức tạp theo trật tự tôn
ty danh phận, nhưng nó biết "dung hợp sự phân chia và liên kết này trên nền tảng đạo đức, luân lý và chính trị trên cơ sở quan niệm và hoạt động lễ và pháp hòa lẫn vào nhau được thần thánh hóa là trung hiếu, tam cương phục vụ cho yêu cầu
của giai cấp thống trị phong kiến" [70, tr 251] Chính ý thức hệ tư tưởng này đã góp
Trang 33phần tích cực củng cố nhà nước phong kiến tập quyền quan liêu, củng cố nền thống nhất của xã hội nông nghiệp tạo ra một kỷ cương xã hội theo lễ và pháp
Cũng giống như các triều đại phong kiến trước, nhà Lê sơ đến thời Lê Thánh Tông sử dụng "trung" và "hiếu" để cai trị thiên hạ "Trung" để tạo nên quan hệ đẳng cấp, giữa cấp trên và cấp dưới, thần dân và nhà vua, để xây dựng và củng cố trật tự xã hội, chính quyền ổn định Dùng đạo "hiếu" để cai trị thiên hạ, sử dụng quan hệ tông tộc để ràng buộc làng xã với triều đình trong mối liên kết gia đình Nó làm chất keo xã hội để giai cấp thống trị dễ bề cai trị dân chúng Đạo trung và đạo hiếu là nội dung cơ bản của tư tưởng Nho
giáo dựa vào đó để duy trì kỷ cương, phép nước, sự thống trị của nhà Lê
Tư tưởng “nhân” và “nghĩa” của Nho giáo đã được vận dụng Việt hóa
trong chính sách nhân nghĩa của thời Lê sơ Trong "Bình Ngô đại cáo",
Nguyễn Trãi đã viết: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân"
Với việc đề cao Nho giáo, nhà Lê sơ đã chú trọng tuyển dụng quan lại qua hình thức thi cử Nho học Năm 1426, khi còn đang trong giai đoạn khởi nghĩa, Bình Định vương Lê Lợi đã cho mở khoa thi kén chọn nhân tài từ nho
sĩ để xây dựng bộ máy cầm quyền lâm thời ở Bồ Đề; sau đó còn mở các khoa thi Minh kinh (1429), Hoành từ (1431) Tiếp đến các vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông liên tục tuyển chọn nho sĩ vào bộ máy nhà nước Vua Lê Thái Tông đã định ra phép chọn kẻ sĩ và đến thời Lê Nhân Tông tiến hành mở các khoa thi tiến sĩ vào các năm 1442, 1448 Từ năm 1442, chế độ khoa cử đã hoàn chỉnh, cứ ba năm có một kỳ thi Hương và thi Hội Cũng trong năm này, nhà Lê sơ chính thức cho thi đối sách ở sân điện để lấy tiến sĩ và bắt đầu cho dựng bia khắc văn nói về việc mở khoa thi tiến sĩ, khắc tên những người đỗ tiến sĩ
Năm 1434, triều đình cho con cháu ngành đích của quan văn, võ từ lục phẩm trở lên vào học ở Quốc Tử Giám, được miễn thuế thân và tạp dịch
Trang 34Để tỏ rõ lòng tôn sùng Nho học, vào tháng 2 năm 1435, Lê Thái Tông cho chọn ngày Thượng đinh, sai Thiếu bảo Lê Quốc Hưng làm lễ cúng Khổng
Tử ở Văn Miếu, từ đó về sau định làm thường lệ
Trong các triều đại trước, Quốc Tử Giám chỉ là nơi học tập của con em quý tộc cao cấp; tới thời Lê sơ, con em bình dân cũng có thể tới đây học hành Năm 1428, vua Lê Thái Tổ cho xây dựng trường học ở các lộ, phủ, thu nạp tất
cả mọi đối tượng vào học trừ xướng ca và người phạm tội… Vì vậy, số học trò đi học ngày càng nhiều, số sĩ tử đi thi ngày càng đông Đến thời Lê Thánh
Tông, Nho giáo càng được chú trọng phát triển
Đạo giáo: được hình thành dựa trên tư tưởng của Đạo gia Đạo giáo
được du nhập vào nước ta từ rất sớm, trong suốt thời Bắc thuộc và thuộc Minh, Đạo giáo đã được giai cấp phong kiến phương Bắc ra sức truyền bá với các hình thức tà thuật, phù phép, tu tiên nhằm mê hoặc nhân dân Sang tới thời Lê sơ, do sùng Nho giáo mà Đạo giáo đã bị triều đình hạn chế khá chặt chẽ song nó vẫn tồn tại trong đời sống tư tưởng xã hội Năm 1429, triều đình tiến hành khảo hạch, kiểm tra đạo đức, học vấn của giới đạo sĩ Năm 1461, vua Lê Thánh Tông ban sắc lệnh không cho phép các địa phương trong nước
tự tiện mở thêm đạo quán mới Các biện pháp này của triều đình nhằm thu hẹp phạm vi hoạt động của Đạo giáo Tuy nhiên, trên thực tế, số đạo sĩ và đạo quán ở thời Lê sơ vẫn có khá nhiều
Đạo giáo ở thời kỳ này chủ yếu là Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy Đạo giáo phù thủy kết hợp chặt chẽ với các tín ngưỡng địa phương, thâm nhập sâu vào dân gian với nội dung niệm chú, đặt bùa trấn yểm, chữa bệnh cứu người Đạo giáo thần tiên thì hấp dẫn giới trí thức Nho giáo bởi tinh thần tự tại siêu thoát, phiêu diêu và có tác động nhiều tới cảm hứng thẩm mĩ sáng tác thơ văn
Các vị vua từ Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và sau này là
Lê Thánh Tông đều có những sắc lệnh hạn chế hoạt động của Đạo giáo song trên thực tế, ngay trong triều đình, tư tưởng Đạo giáo vẫn tồn tại và chi phối
Trang 35các nghi lễ cung đình Dưới triều Lê Thái Tông, quan Thứ sử Bùi Thì Hanh cùng với Thị lang bộ Lễ Trịnh Toàn Dương đã dùng vượn làm phép trấn yểm trong cung cấm mong trong nước tránh được tai biến do có nhật thực gây nên
Lê Thánh Tông cũng từng có thơ lấy cảm hứng từ Đạo giáo
Phật giáo: hình thành từ thế kỷ VI trước công nguyên ở Ấn Độ, được
truyền vào Việt Nam theo hai con đường, đường thủy từ Ấn Độ theo các thuyền buôn, đường bộ từ Trung Quốc Ở thời Trần, Phật giáo dường như được coi là quốc giáo Sang thời Lê sơ, Phật giáo không còn được coi là quốc giáo nữa nhưng vẫn có những ảnh hưởng nhất định, đặc biệt là trong đời sống tinh thần của nhân dân Tinh thần từ, bi, hỉ, xả của đạo Phật đã có ảnh hưởng nhất định tới
Lê Thánh Tông, ông có bài văn Thập giới cô hồn quốc ngữ văn nổi tiếng
Tháng 6 năm 1429, Lê Thái Tổ ban lệnh bắt các tăng đạo ai đọc thông kinh điển, giữ được phẩm hạnh đến trình diện để kiểm tra khảo thí, nếu đỗ thì tiếp tục cho làm sư, nếu không đỗ thì phải hoàn tục Với biện pháp này, nhà nước đã hạn chế được số người không có học, không có đức chỉ lợi dụng cửa
Phật hành nghề bất chính, thanh lọc là để làm trong sạch hơn giới tăng ni Đại
Việt sử ký toàn thư có chép: "Mùa hạ, tháng 6, ngày mồng 10, ra lệnh chỉ cho
các tăng đạo, người nào thông kinh điển, trong sạch, giữ tiết hạnh, hẹn đến ngày 20 tháng này tới sảnh đường trình diện, để xét duyệt cho thi, ai đỗ thì
cho làm tăng đạo, ai không đỗ thì bắt hoàn tục" [16, tr 302]
Tuy phạm vi ảnh hưởng của Phật giáo với các vị vua triều Lê sơ không còn mạnh mẽ như thời Trần nhưng các vua, quan triều Lê vẫn hướng theo đạo Phật Tháng 4 năm 1434, vua Lê Thái Tông cho rước tượng ở chùa Pháp Vân về kinh thành để làm lễ cầu mưa Tháng 5, vua lại cho trùng tu chùa Báo Thiên Tháng 7, mở hội Vu Lan, tha 50 tù nhân phạm tội nhẹ, thưởng 220 quan tiền cho các sư tham gia tụng kinh Năm 1448 bị hạn hán, vua Lê Nhân Tông dẫn các quan văn võ đến chùa Báo Ân ở cung Cảnh Linh làm lễ cầu mưa
Trang 36Phật giáo ở nước ta thời kỳ này không còn địa vị như thời Trần nhưng triều đình vẫn có sự quan tâm như cho sửa sang chùa hỏng, cấp bổng lộc ban phẩm trật cho các sư Điều này cũng góp phần bảo vệ thuần phong mỹ tục của đất nước
Điểm nhấn nổi bật trong hệ tư tưởng thời Lê sơ, đặc biệt là ở tư tưởng
Lê Thánh Tông là đằng sau những màu sắc Nho giáo khá đậm nét vẫn nổi lên
tư tưởng yêu nước và ý thức bảo vệ chủ quyền độc lập của quốc gia dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài, do yêu cầu phải liên kết lại với nhau trong một cộng đồng quốc gia, dân tộc thống nhất, phải phát huy tất cả sức mạnh vật chất và tinh thần của cả cộng đồng trong cuộc đấu tranh khai phá đất đai, xây dựng và bảo vệ các công trình thủy lợi, đặc biệt là trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, tinh thần yêu nước và sự cố kết dân tộc của nhân dân Đại Việt càng ngày càng phát triển Thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn chứng tỏ một bước phát triển
cao hơn của chủ nghĩa yêu nước, trong “Bình Ngô đại cáo” Nguyễn Trãi
không chỉ tổng kết những thành công của công cuộc giải phóng dân tộc mà còn nói lên sự tự nhận thức mang tính khái quát và hệ thống về sự trưởng thành của dân tộc; đó là nhận thức sâu sắc về “Nước Đại Việt ta vốn xưng nền văn hiến đã lâu”, “Núi sông bờ cõi đã riêng, phong tục Bắc - Nam cũng khác” Tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc tiếp tục phát triển mạnh mẽ dưới thời Lê Thánh Tông, nó trở thành sợi chỉ đỏ thấm đượm trong đời sống
tư tưởng của xã hội Đại Việt
Tóm lại, việc sử dụng Nho giáo qua nhiều triều đại từ Lý, Trần đến Lê
sơ là sự lựa chọn có ý thức của giai cấp thống trị phong kiến Phật giáo và Nho giáo đều được giai cấp thống trị sử dụng để định hướng xây dựng chính sách xã hội, để xây dựng cấu trúc xã hội Tư tưởng Phật giáo chủ yếu là giải thoát, tư tưởng Nho giáo lại chú ý củng cố quan hệ gia đình và dòng họ Từ
Trang 37thế kỷ XV, Nho giáo giữ chức năng là một học thuyết về đạo đức nhân luân,
về giáo dục thi cử Nó là lý thuyết chính trị trị nước phù hợp với chế độ quân chủ tập quyền chuyên chế Những nội dung cơ bản của chính sách xã hội của
Lê Thánh Tông chịu ảnh hưởng Nho giáo chủ yếu là nhằm phục vụ cho mục đích cai trị của vua quan Nó là cơ sở lý luận để các nhà cầm quyền dựa vào,
để đưa đất nước trở về thời thái bình thịnh trị, trong chừng mực nào đó có những yếu tố tích cực với sự phát triển của dân tộc
1.2 Nhân tố chủ quan cho sự hình thành chính sách xã hội của Lê Thánh Tông
Lê Thánh Tông tên húy là Lê Tư Thành, là con trai thứ tư của vua Lê Thái Tông và Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao.Mẹ của Lê Thánh Tông - bà Ngô Thị Ngọc Dao là con gái của Chương Khánh Công Ngô Từ Ngọc Dao là người con gái sinh ra sẵn có chất ngọc thuần hòa, tính trời cẩn thận, đôn hậu, một niềm cần kiệm không chuộng xa hoa; rất giỏi những công việc nữ công gia chánh như bếp núc, thêu thùa Ngày thường ở trong nhà vẫn nghiêm trang như đang tiếp khách, khi tiếp xúc với ai cũng tỏ vẻ hòa nhã dịu dàng Không làm việc trái lẽ phải, không ở nơi không chính đáng, nghiêm mà không
ác, giản dị mà trang nhã lịch sự Năm 1436, tình cờ vua Lê Thái Tông gặp Ngọc Dao, cảm mến sắc và tài của bà nên tuyển vào làm cung tần, khi đó Ngọc Dao vừa tròn 16 tuổi Trong cung đình kẻ sang, người hèn đều gọi bà là Phật sống Người mẹ nhân từ như vậy đã có ảnh hưởng rất lớn đến các đức tính của Lê Thánh Tông sau này
Sau 4 năm Ngô Thị Ngọc Dao vào cung tức là vào năm 1440, bà được phong làm Tiệp Dư, ở cung Khánh Phương Từ khi được tuyển vào cung, bà Ngọc Dao giao tiếp kết thân với nữ Học sĩ Nguyễn Thị Lộ, người tỳ thiếp của quan Phục hầu Nguyễn Trãi Bà Ngọc Dao truyền dạy cho con em các nhà biết lễ nghĩa đối với người trên, lấy ân đãi người dưới
Trang 38Năm 1440, bà Ngọc Dao sinh con gái đầu lòng là công chúa Diệu Trường Theo sử sách xưa, sau khi bà Ngọc Dao sinh công chúa Diệu Trường,
bà nằm mộng thấy có vị sứ giả áo đỏ đến đón lên thiên đình, bà cầu xin một người con trai Thượng đế sai Kim Đồng xuống trần đầu thai, Kim Đồng chần chừ mãi không chịu đi, Thượng đế nổi giận nói: “Chê nhỏ ta cho mở rộng phía Tây và vùng Thuận Quảng Nhân sẵn có ấn ngọc trong tay, đánh luôn vào trán Kim Đồng chảy máu, Kim Đồng sợ quá phải đi, khi sinh Tư Thành
có vết sẹo ở trán, lớn lên thành hình chữ vương ở ấn đình” [44, tr 12] Thượng đế lại sai Ngọc Nữ xuống trần để làm bạn với Kim Đồng Sau đó, bà Ngọc Dao có thai
Tin giấc mộng của bà Ngọc Dao lan ra, Thần phi Nguyễn Thị Anh - người có thế lực và được vua Thái Tông sủng ái nhất - nghe được tin bèn tìm cách hãm hại bà Ngọc Dao bất chấp thủ đoạn, xúc xiểm với vua Thái Tông vu cho Ngọc Dao có liên quan với vụ Huệ phi Lê Thị Nhật Lệ Vua Thái Tông tin ngay, khép bà Ngọc Dao vào tội voi dày, may nhờ bà Nguyễn Thị Lộ cùng các thân vương hay tin kịp thời can thiệp bà mới thoát nạn Tiếp theo đó, câu chuyện bà Ngọc Dao mang thai đến 11 tháng vẫn chưa sinh, Nguyễn Thị Anh bèn khéo dèm với Thái Tông là có quỷ sa tăng đầu thai vào Ngọc Dao để phá hoại trong cung đình Nhà vua lại nghe theo, bèn sai mười cung thủ bắt bà Ngọc Dao đem ra đứng để nhắm bắn vào bụng, nói là để trừ diệt ranh quỷ Nguyễn Thị Lộ lại tận tâm hết lòng can gián, khuyên vua không nên nghe lời dèm pha mà làm việc quá thất đức là giết cả mẹ lẫn con, bà Ngọc Dao lại thoát chết Nhằm tránh cho Ngọc Dao khỏi bị những tai vạ khác nữa, Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ đã giúp cho bà được ra ở chùa Huy Văn (Đống Đa -
Hà Nội ngày nay), nơi bà rất sùng bái, thường đến lễ Phật Hàng ngày, được
bà Nguyễn Thị Lộ cho người chăm sóc chu đáo Như vậy, ngay từ khi còn trong bụng mẹ Lê Thánh Tông đã gặp rất nhiều nguy hiểm, khó khăn, nhưng nhờ sự giúp đỡ của vợ chồng Nguyễn Trãi mà bà Ngọc Dao đã được sống và sinh ra Lê Tư Thành
Trang 39Đúng giờ Sửu ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), bà Ngọc Dao sinh ra hoàng tử Tư Thành tại chùa Huy Văn Ông cùng mẹ sống ở ngoài cung cấm Được sống ở bên ngoài cung cấm, gần gũi với nhân dân nên Lê Thánh Tông có hiểu biết về đời sống thực sự của mọi tầng lớp nhân dân
Năm 1444, Tư Thành được phong là Bình Nguyên Vương, vâng lệnh làm phiên vương vào ở kinh sư, hàng ngày cùng học ở Kinh Diên với các vương khác Bấy giờ, quan ở Kinh Diên là tiến sĩ Trần Phong, thấy Tư Thành dáng điệu đàng hoàng, thông minh hơn người, cho là bậc khác thường, thần đồng xuất chúng Khi 6 tuổi, hoàng tử Tư Thành đã biết làm văn, làm thơ, chữ lại viết rất đẹp và thích ngâm vịnh Do biết rõ thân phận và hoàn cảnh éo le của mình nên Tư Thành không tự mãn mà lại càng sống kín đáo, không lộ vẻ anh minh ra ngoài, chỉ vui với sách vở cổ kim, nghĩa lý thánh hiền, tài năng lỗi lạc trời cho, mà chế tác lại đặc biệt lưu tâm, ưa điều thiện, thích người hiền Nhờ những ưu điểm đó nên Tư Thành được Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Anh coi như con đẻ, vua Lê Nhân Tông coi ông là người em hiếm có, chu cấp quân hầu, dinh thự nguy nga ở phía Tây hoàng cung (Tây cung)
Ngày mùng 3 tháng 10 năm 1459, xảy ra loạn Nghi Dân Lạng Sơn Vương Nghi Dân đã câu kết cùng với bọn Lê Đắc Ninh, Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng và hàng trăm nghịch đảng vào cung giết vua Lê Nhân Tông cùng với Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu Sau đó, Nghi Dân xưng đế hiệu là Thiên Hưng, phong cho Bình Nguyên Vương Tư Thành làm Gia Vương Nghi Dân thấy Tư Thành có tài trí, có ý trừ Tư Thành để đề phòng hậu họa bèn xây phủ đệ ở bên hữu nội điện, cho Tư Thành ở và sai người canh phòng nghiêm ngặt, bà Ngọc Dao ở chùa Huy Văn Mỗi tháng
Tư Thành chỉ được ra chùa thăm mẹ một lần
Việc làm của Nghi Dân không được lòng người nên 8 tháng sau, Cương Quốc Công Nguyễn Xí đã tập trung tướng lĩnh và hoàng thân quốc thích làm
Trang 40một cuộc đảo chính lật đổ Nghi Dân vào ngày 6 tháng 6 năm 1460 Sau khi lật
đổ Nghi Dân, Lê Lăng đưa hộ vệ quân đến đón Cung Vương Khắc Xương tôn lên làm vua nhưng Cung Vương từ chối Các đại thần nhà Lê nhận thấy Tư Thành - người từng giao du đó đây, thấu hiểu nhân tình thế thái, lại là người con chí hiếu mẫu mực, thượng hòa hạ mục, bản thân nhân hậu, kiến thức có dư, nên được hầu hết triều thần kính mến; Văn Chấn hầu Lê Khang thể theo ý kiến của đại đa số quan lại, bèn đến Tây cung đón Gia Vương lên ngôi vua
Ngày mùng 8 tháng 6 năm 1460, hoàng tử Tư Thành lên ngôi vua ở điện Tường Quang, đổi niên hiệu Quang Thuận năm thứ nhất Sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã ban lệnh đại xá trong thiên hạ; làm lễ phát tang cho Lê Nhân Tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh, rước kim sách dâng tôn hiệu cho Lê Nhân Tông là Khâm văn nhân hiếu tuyên minh Hoàng đế, miến hiệu là Nhân Tông; dâng tên thụy cho Thái hậu Nguyễn Thị Anh là Tuyên Từ nhân ý chiêu túc Hoàng thái hậu
Với Nghi Dân, nhẫn tâm giết vua và thái hậu thì đúng tội sẽ bị tử hình nhưng theo tình Lê Thánh Tông không nỡ xử anh tội tử hình Nghi Dân được giam trong nhà quản thúc, tuy nhiên sau đó Lê Lăng đã đưa dây lụa và Nghi Dân
tự thắt cổ chết, lúc ấy Nghi Dân 23 tuổi
Trước khi Tư Thành được đón lên làm vua, triều thần đã luận nghị về việc chọn người lên ngôi Việc chọn người lên ngôi lúc này là rất quan trọng, không thể chọn kẻ bất tài vô dụng ra lãnh đạo giang sơn; chọn người lên ngôi lúc này phải là người xứng đáng, có cả tài lẫn đức để ổn định đất nước, để Đại Việt bước vào thời kỳ thịnh trị, xứng đáng với công lao dựng nước của Lê Thái Tổ, vì vậy các đại thần phải cân nhắc thận trọng Các đại thần nhận thấy rằng "Ngôi trời khó khăn, thần khí rất trọng, nếu không phải là bậc đại đức, thì sao có thể kham nổi Nay Gia Vương thiên tư sáng suốt, hùng tài đại lược, hơn hẳn mọi người, các vương không ai so được, lòng người đều theo, đủ biết
ý trời đã quyết" [44, tr 18]