1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO

124 925 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ phân tích một số vấn đề nhất định trong sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may mà không phân tích một cách toàn diện những khó khăn và thuận lợi cũng nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

TẠ THU HƯƠNG

XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA

VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Hà nội – 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

TẠ THU HƯƠNG

XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA

VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO

Chuyên ngành: KTTG và QHKTQT

Mã số: 60 31 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS.Nguyễn Thiết Sơn

Hà nội - 2010

Trang 3

1

Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến xuất khẩu hàng dệt may

của Việt Nam

1.1 Vai trò và vị trí của xuất khẩu hàng dệt may với nền kinh tế Việt Nam

1.1.1 Xuất khẩu hàng dệt may, vai trò và vị trí của nó trong nền kinh tế

1.1.2 Xuất khẩu hàng dệt may và công nghiệp hóa

1.1.3 Xuất khẩu hàng dệt may với việc tạo công ăn việc làm và xóa đói

giảm nghèo

1.1.4 Xuất khẩu hàng dệt may và nguồn thu ngoại tệ

1.2 Những vấn đề về chính sách liên quan đến xuất khẩu hàng dệt may sau

khi gia nhập WTO

1.2.1 Quy định của WTO liên quan đến ngành dệt may và xuất khẩu hàng

dệt may

1.2.2 Môi trường chính sách trên các thị trường xuất khẩu: Rào cản thuế

quan và phi thuế quan

1.2.3 Chính sách xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam khi gia nhập

WTO

1.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc xuất khẩu hàng dệt may sau

khi gia nhập WTO

1.3.1 Kinh nghiệm của Trung quốc

1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước khác

Trang 4

2.1.1 Tổng quan về ngành dệt may Việt nam

2.1.2 Xuất khẩu dệt may trước khi gia nhập WTO

2.2 Xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam sau khi gia nhập WTO

2.2.1 Tăng trưởng xuất khẩu dệt may sau khi gia nhập WTO

2.2.2 Cơ cấu thị trường và mặt hàng xuất khẩu

2.3 Xuất khẩu hàng dệt may trên một số thị trường chủ yếu

2.3.1 Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ

2.3.2 Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU

2.3.3 Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nhật bản

2.4 Đánh giá sự phát triển xuất khẩu hàng dệt may sau khi gia nhập WTO

2.4.1 Những thành công và hạn chế trong xuất khẩu hàng dệt may

2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân

Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt

Nam sau khi gia nhập WTO

3.1 Triển vọng xuất khẩu hàng dệt may

3.1.1 Tiềm năng và cơ hội xuất khẩu hàng dệt may

3.1.2 Những thách thức đối với xuất khẩu hang dệt may

3.2 Phương hướng phát triển xuất khẩu hàng dệt may

3.2.1 Các mục tiêu phát triển ngành dệt may và xuất khẩu dệt may

3.2.2 Định hướng thị trường xuất khẩu

3.2.3 Định hướng về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu

3.3 Giải pháp thúc đẩy phát triển xuất khẩu hàng dệt may

3.3.1 Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ

3.3.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

3.3.3 Tăng cường công tác tiếp thị, thông tin và xúc tiến thương mại

3.3.4 Phát triển khả năng thiết kế sản phẩm và thương hiệu

3.3.5 Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ

3.3.6 Xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi

Trang 5

Danh mục từ viết tắt

Từ viết tắt

Đông nam á

ICTB International Clothing and Textile Berau Cơ quan dệt may quốc tế

PNTR Permanent Normal Trade Relation Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn

trợ cấp và các biện pháp đối kháng

hợp quốc về thương mại và phát triển

nghiệp Liên hợp quốc

WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

Danh mục bảng biểu

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

Bảng 1.1 Cam kết cắt giảm thuế quan đối với hàng dệt may của Việt nam 30

Bảng 1.2 Tóm tắt quá trình điều chỉnh chính sách trợ cấp sau khi gia nhập WTO 34 Bảng 2.1 Sản xuất và xuất khẩu dệt may Việt nam 1995-2008 43

Bảng 2.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng dệt may 2002-2006 53

Bảng 2.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng dệt may 2007-2008 58

Bảng 2.4Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu 2007-2009 60

Bảng 2.5Cơ cấu mặt hàng xuất dệt may khẩu 2006-2007 61

Bảng 2.6Thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ 2000-2008 65

Bảng 2.7 Thị trường nhập khẩu hàng dệt may của EU 2000-2008 69

Bảng 2.8 Thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Nhật bản 2000-2008 73

Bảng 3.1 Các mục tiêu phát triển ngành dệt may đến năm 2020 94

Bảng 3.2 Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may 103

Trang 7

Các thuật ngữ trong báo cáo

Rào cản phi thuế quan

Tiêu chuẩn kỹ thuật/môi trường Tín dụng xuất khẩu

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng trong hai thập kỷ vừa qua nhờ chính sách đổi mới và mở cửa cũng như dựa trên lợi thế của nguồn nhân lực giá rẻ Hiện nay, với kim ngạch xuất khẩu đạt bình quân trên 9 tỷ USD và đóng góp gần 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam hàng năm, sản phẩm dệt may đã vượt qua dầu thô và nhiều mặt hàng nông sản khác trở thành ngành hàng xuất khẩu lớn nhất và nguồn thu ngoại tệ lớn nhất Xuất khẩu dệt may đã tạo ra hàng trăm nghìn việc làm trực tiếp trong những năm vừa qua và đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế

Việc gia nhập WTO vào tháng 1/2007 mang lại cả những thuận lợi và không ít khó khăn đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam Một mặt, quy chế thành viên của WTO giúp Việt Nam mở rộng hơn nữa thị trường xuất khẩu Việc thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO và các quy định của tổ chức này cũng giúp Việt Nam cải thiện môi trường pháp lý và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, bao gồm cả đầu

tư vào lĩnh vực dệt may Quy chế thành viên WTO cũng mang lại cho Việt Nam vị trí và những công cụ pháp lý nhất định để bảo vệ những lợi ích của mình trong thương mại quốc tế

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, có không ít vấn đề đặt ra đối với xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO, xuất phát từ những ràng buộc và những nghĩa vụ của Việt Nam trong WTO, các rào cản thương mại trên các thị trường xuất khẩu chính cũng như sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên các thị trường xuất khẩu Trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết cắt giảm mạnh thuế quan đánh vào các sản phẩm dệt may cũng như xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp cho ngành dệt may Việc thực hiện các cam kết này hạn chế đáng kể khả năng của Việt Nam trong việc hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu dệt may

Trang 10

Trên các thị trường xuất khẩu, sự có mặt của các rào cản phi thương mại là một trở ngại quan trọng đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam Cùng với việc xóa

bỏ hạn ngạch xuất khẩu đối với các sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt nam, những rào cản thương mại mới đã được dựng lên mà điển hình là Cơ chế giám sát hàng dệt may xuất khẩu Việt nam vào thị trường Mỹ Các rào can kỹ thuật như các tiêu chuẩn về sức khỏe và môi trường cũng được sử dụng ngày càng nhiều trên các thị trường xuất khẩu làm tăng chi phí và tác động tiêu cực đến hàng dệt may xuất khẩu của Việt nam Bên cạnh đó, việc Việt Nam chưa được công nhận là nền kinh

tế thị trường từ những đối tác thương mại lớn như Mỹ có thể dẫn đến việc áp đặt những biện pháp thương mại không công bằng đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam

Phân tích trên đây cho thấy rằng việc gia nhập WTO đó tạo ra một môi trường mới với cả những cơ hội và thách thức đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam Việc nghiên cứu hiện trạng phát triển cũng như những vấn đề đặt ra đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO là hoàn toàn cần thiết Với những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO” làm luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu

Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam là chủ đề của rất nhiều nghiên cứu khác nhau được thực hiện trong các chương trình nghiên cứu các cấp, các đề tài nghiên cứu khoa học và được đăng tải rộng rãi trên các tạp chí chuyên ngành Các nghiên cứu cho đến nay đã đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam, từ sự tăng trưởng và cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu, tính cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam, các thị trường xuất khẩu cũng như những vấn đề chính sách và triển vọng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam

Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu về xuất khẩu dệt may của Việt nam đều được thực hiện trong giai đoạn trước khi gia nhập WTO Cũng có một số nghiên cứu về

Trang 11

ngành dệt may của và xuất khẩu dệt may của Việt nam được thực hiện trong một vài năm trở lại đây Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ phân tích một số vấn đề nhất định trong sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may mà không phân tích một cách toàn diện những khó khăn và thuận lợi cũng như những vấn đề chính sách đặt ra đối với việc xuất khẩu của Việt Nam nói chung và xuất khẩu hàng dệt may nói riêng sau khi gia nhập WTO Một số nghiên cứu chính được liệt kê dưới đây:

Overview Đây là một nghiên cứu khá toàn diện về ngành dệt may và xuất khẩu dệt may của Việt nam được thực hiện tại Viện kinh tế học vào năm 2001 với sự hỗ trợ

kỹ thuật từ Cơ quan phát triển quốc tế của Canada (IDRC) Nghiên cứu này phân tích sự phát triển của sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may trong những năm 1990 cũng như đánh giá trình độ công nghệ và nhân lực của các doanh nghiệp Việt nam Nghiên cứu này cũng phân tích môi trường chính sách và kinh tế liên quan đến các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may của Việt nam

trên thị trường Hoa kỳ” Nghiên cứu này phân tích hiện trạng xuất khẩu dệt may sang thị trường Hoa kỳ trong giai đoạn sau khi ký kết Hiệp định thương mại Việt nam- Hoa kỳ cho đến khi Việt nam gia nhập WTO Bên cạnh việc phân tích tốc độ tăng trưởng và cơ cấu xuất khẩu dệt may sang thị trường Mỹ, nghiên cứu này cũng đánh giá những thay đổi trong thị phần và tính cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu của Việt nam trong tương quan với các nước đang phát triển khác như Trung quốc

may: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra” Nghiên cứu này phân tích hiện trạng và những vấn đề đặt ra trong việc thiết kế mẫu mã và phát triển thương hiệu trong các doanh nghiệp dệt may của Việt nam Nghiên cứu này cũng phân tích sự phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt nam và những hạn chế của các doanh nghiệp Việt nam trong việc tham gia vào chuỗi giá trị ngành dệt may

Trang 12

 Bộ thương mại (2007), Các cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới của Việt nam Tài liệu này trình bầy tóm tắt các quy định của WTO và các cam kết của Việt nam khi gia nhập WTO, bao gồm các cam kết về mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, chính sách trợ cấp sở hữu trí tuệ cũng như các quy định của WTO

về thuế đối kháng và thuế chống bán phá giá Tuy nhiên, các vấn đề này được phân tích trên phương diện chung cho tất cả các ngành kinh tế và không đề cập một cách

cụ thể đến ngành dệt may

vận dụng các quy định về trợ cấp công nghiệp trong khuôn khổ WTO Phân tích các quy định của WTO về trợ cấp và quá trình điều chỉnh chính sách trợ cấp ở Việt nam trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO Nghiên cứu này phân tích rất nhiều chính sách hỗ trợ của nhà nước trong ngành công nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng không đề cập một cách cụ thể đến các cam kết của Việt nam cũng như việc điều chỉnh chính sách trong ngành dệt may

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận văn là đánh giá thực trạng, những thuận lợi và khó khăn đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO và đưa ra một số phương hướng và giải pháp chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu: Từ mục tiêu này, luận văn sẽ giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

sản xuất và xuất khẩu dệt may sau khi Việt nam gia nhập WTO;

những thành công và hạn chế trong xuất khẩu dệt may trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO;

Trang 13

 Phân tích những cơ hội và thách thức đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trên cơ sở đó xây dựng các định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dệt may trong những năm tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam và những vấn đề chính sách đặt ra đối với việc xuất khẩu hàng dệt may sau khi gia nhập WTO

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn có những giới hạn nghiên cứu như sau

và sự phát triển của hàng dệt may xuất khẩu sau khi gia nhập WTO;

nước cũng như trên các thị trường xuất khẩu hàng dệt may chủ yếu của Việt Nam như Mỹ và EU

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dưới giác độ kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở cho việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá hiện trạng, cũng như đề xuất giải pháp chính sách Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp định tính như phân tích và tổng hợp để nghiên cứu thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt nam sau khi gia nhập WTO, cũng như tiềm năng và triển vọng xuất khẩu hàng dệt may trong những năm tới

6 Đóng góp mới của luận văn:

Luận văn có một số đóng góp dưới đây: i) Phân tích một cách toàn diện những thay đổi trong môi trường chính sách ở trong nước cũng như ở nước ngoài đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam, làm rõ những thuận lợi và khó khăn đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO; ii) Luận văn

Trang 14

cũng đánh giá một cách toàn diện thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam nói chung cũng như xuất khẩu dệt may tới các thị trường chủ chốt trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO; iii) Luận văn cũng phân tích các cơ hội và thách thức đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt nam trong những năm tới và đề xuất định hướng và giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu dệt may Việt nam

7 Nội dung và kết cấu của luận văn:

Ngoài phần Lời mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành ba chương như sau: Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam Chương 1 tập trung phân tích những thay đổi trong môi trường chính sách liên quan đến xuất khẩu dệt may của Việt nam sau khi gia nhập WTO, phân tích chi tiết các cam kết và quá trình điều chỉnh chính sách của Việt nam sau khi gia nhập WTO cũng như phân tích các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trên các thị trường xuất khẩu Ngoài ra, chương 1 cũng tóm tắt kinh nghiệm của một số nước đang phát triển trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO Chương này đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng dệt may trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO, về tăng trường xuất khẩu cũng như cơ cấu mặt hàng và thị trường xuất khẩu Bên cạnh việc đánh giá hiện trạng xuất khẩu dệt may nói chung, chương này cũng đi sâu phân tích hiện trạng xuất khẩu dệt may tới một số thị trường xuất khẩu chủ yếu như Mỹ, EU và Nhật bản Trên cơ sở đó, chương 2 đã phân tích những kết quả đạt được cũng như những khó khăn và tồn tại của xuất khẩu dệt may Việt nam trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO

Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO Trên cơ sở phân tích môi trường chính sách trong và ngoài nước cũng như hiện trạng xuất khẩu dệt may trong những năm gần đây, chương này phân tích và đánh giá các cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu dệt may trong những năm tới Trên cơ sở đó, chương 3 cũng phân tích các định hướng về thị trường và cơ

Trang 15

cấu xuất khẩu hàng dệt may và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may trong những năm tới

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM

1.1 Vai trò và vị trí của xuất khẩu hàng dệt may với nền kinh tế Việt Nam

1.1.1 Xuất khẩu hàng dệt may, vai trò và vị trí của nó trong nền kinh tế

Dệt may là một ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong các nước đang phát triển có thu nhập thấp như ở Việt nam Ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng có những đóng góp quan trọng đến quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế Hầu hết các nước, bao gồm cả các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển, đều đã bắt đầu quá trình công nghiệp hóa từ ngành dệt may Sản xuất dệt may có vai trò đặc biệt trong gia đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế Sau đó, vai trò của sản xuất dệt may giảm dần khi quá trình công nghiệp hóa chuyển sang các ngành công nghiệp đòi hỏi vốn, kỹ năng và công nghệ cao hơn

Bên cạnh đó, dệt may cũng có những đóng góp quan trọng tới việc tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo Cuối cùng, cũng tương tự như nhiều nước đang phát triển khác, với tư cách là một ngành xuất khẩu quan trọng của nền kinh tế quốc dân, dệt may cũng là một nguồn thu ngoại tệ quan trọng

1.1.2 Xuất khẩu hàng dệt may và công nghiệp hóa

Dệt may luôn là một ngành kinh tế quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa Hầu hết các nước trên thế giới đã khởi động quá trình công nghiệp hóa bằng cách phát triển ngành dệt may Cách mạng công nghiệp đã bắt đầu ở nước Anh vào thế

kỷ 18 trong các xưởng dệt Nhật bản cũng khởi đầu quá trình công nghiệp hóa vào

Trang 16

cuối thế ký 19 với ngành dệt may và vẫn tiếp tục là một nước xuất khẩu dệt may trong nhiều thập kỷ sau đó Gần đây hơn, các nền kinh tế mới công nghiệp hóa (NIC) ở Đông Á như Hàn quốc và Đài loan cũng đã bắt đầu quá trình công nghiệp hóa trong những năm 1950 và 1960 với ngành công nghiệp dệt may và các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động khác

Dệt may cùng với da giầy là hàng hóa xuất khẩu sử dụng nhiều lao động của các nước đang phát triển Tầm quan trọng của xuất khẩu dệt may thay đổi tùy theo điều kiện cụ thể của từng nước cũng như của từng giai đoạn phát triển Các nước giầu tài nguyên có thể phụ thuộc ít hơn vào việc xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động Trong khi đó, dệt may có vai trò quan trọng hơn trong những nước có nguồn nhân lực dồi dào Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, khi tiềm lực vốn và công nghệ còn ít, các nước có khuynh hướng dựa nhiều vào việc sản xuất các sản phẩm sử dụng nhiều lao động, bên cạnh nông sản và khoáng sản Trong quá trình phát triển kinh tế, thu nhập gia tăng lợi thế so sánh từ nguồn nhân công giá rẻ mất

đi, các nước chuyển dần lên các ngành sản xuất có hàm lượng vốn và công nghệ cao hơn Trung quốc là một ví dụ cho thấy tầm quan trọng của sản xuất và xuất khẩu dệt may Kể từ cuối những năm 1990, Trung quốc đã trở thành một nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới và vẫn tiếp tục giữ vị trí đó cho đến nay

Việt nam Sản lượng của ngành dệt may đạt hơn 50 nghìn tỷ đồng tính theo giá so sánh 1994, và chiếm trên 9% tổng giá trị sản lượng công nghiệp Sản lượng của ngành công nghiệp dệt may tương đương với sản lượng của ngành luyện kim, cao hơn giá trị sản lượng của ngành điện tử và ô tô Trong những năm vừa qua sản xuất dệt may cũng có sự tăng trưởng nhanh chóng đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của của cả ngành công nghiệp và nền kinh tế

Xuất khẩu dệt may có một vai trò quan trọng đối với sản xuất dệt may Việt nam Có tới 80% sản phẩm may mặc sản xuất trong nước được xuất khẩu Do mức thu nhập thấp và quy mô thị trường nội địa nhỏ bé, xuất khẩu giúp khắc phục những hạn chế của thị trường nội địa, tạo ra nhu cầu và giúp sản xuất phát triển Xuất khẩu các sản

Trang 17

phẩm dệt may cũng đã tăng trưởng rất nhanh với tốc độ bình quân gần 20% hàng năm, và đóng góp vào sự phát triển của ngành đệt may trong nước

Vai trò của sản xuất và xuất khẩu dệt may không chỉ thể hiện ở sự đóng góp trực tiếp của nó với tăng trưởng kinh tế Sản xuất và xuất khẩu dệt may còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các ngành sản xuất khác cùng phát triển Sản xuất dệt may tạo ra nhu cầu đối với nguồn nguyên liệu bông và quá đó giúp thúc đẩy sự phát triển của sản xuất nông nghiệp Sản xuất dệt may cũng tạo ra nhu cầu về thuốc nhuộm và các loại sợi tổng hợp, qua đó thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp hóa chất Sản xuất dệt may cũng giúp phát triển ngành cơ khí dệt may, sản xuất máy móc và thiết bị cho ngành dệt may Sự liên kết giữa sản xuất và xuất khẩu dệt may càng chặt chẽ, sản xuất dệt may sẽ càng có tác động tích cực, cả trực tiếp

và gián tiếp, đối với nền kinh tế Ngược lại, sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường tính hiệu quả

và tính cạnh tranh của ngành dệt may

1.1.3 Xuất khẩu hàng dệt may với việc tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo

Vì dệt may là một ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động, sản xuất dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo công

ăn việc làm trong nền kinh tế Điều này càng có ý nghĩa quan trọng trong các nước đang phát triển nơi thất nghiệp và thiếu việc làm là phổ biến cả ở thành thị cũng như nông thôn

Tầm quan trọng của xuất khẩu dệt may đối với việc tạo công ăn việc làm trong các nước đang phát triển còn thể hiện ở chỗ sản xuất dệt may có thể nhanh chóng tạo công ăn việc làm trong thời gian ngắn với chi phí tương đối thấp Mức đầu tư trong ngành dệt may, đặc biệt là ngành may mặc tương đối thấp Bên cạnh đó, sản xuất dệt may sử dụng rất nhiều lao động phổ thông, thông thường chỉ cần được đào tạo các kỹ năng cắt may cơ bản Chi phí đào tạo vì vậy thường là không quá lớn đối với các doanh nghiệp cũng như đối với người lao động

Trang 18

Ngành dệt may Việt nam hiện sử dụng gần 800 nghìn lao động, trong đó ngành dệt

sử dụng trên 200 nghìn lao động và ngành may mặc sử dụng gần 600 nghìn lao động Lao động trong ngành dệt may chiếm trên 20% tổng số lao động trong các ngành công nghiệp chế biến Con số này mới chỉ cho thấy số lao động trực tiếp trong ngành dệt may Sản xuất dệt may còn tạo ra rất nhiều công ăn việc làm gián tiếp trong nền kinh tế Dệt may tạo nhu cầu về nguyên liệu bông, và qua đó đóng góp vào việc đa dạng hóa việc làm trong nông thôn Dệt may cũng tạo ra công ăn việc làm trong nhiều ngành kinh tế khác như hóa chất, cơ khí cũng như công ăn việc làm trong hệ thống bán lẻ

Bằng cách tạo ra công ăn việc làm cho lao động phổ thông, sản xuất dệt may đóng góp trực tiếp vào việc giảm tình trạng thất nghiệp và gia tăng thu nhập cho các tầng lớp dân cư có thu nhập thấp Sản xuất dệt may không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với việc tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo trong các vùng đô thị, nó cũng có vai trò trực tiếp đối với việc phát triển nông thôn Ngành sản xuất dệt may giúp thúc đẩy sản xuất nguyên liệu và qua đó góp phần đa dạng hóa cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo Bên cạnh đó, sản xuất dệt may cũng giúp tạo việc làm cho rất nhiều lao động phổ thông di cư từ nông thôn lên thành thị

Vai trò của sản xuất dệt may đối với việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và xóa đói giảm nghèo ở Việt nam còn xuất phát từ thực tế là phần lớn các vùng có điều kiện tự nhiên phù hợp với việc trồng bông ở Việt nam là những vùng tương đối nghèo và chậm phát triển, ví dụ như Tây nguyên, Đông nam bộ và Tây bắc Phát triển các vùng sản xuất nguyên liệu bông cho ngành dệt may có thể đóng góp trực tiếp vào việc phát triển vùng, gia tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo ở các vùng này

1.1.4 Xuất khẩu hàng dệt may và nguồn thu ngoại tệ

Dệt may luôn là một ngành xuất khẩu quan trọng trong nhiều nước đang phát triển

và do đó là một nguồn thu ngoại tệ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đặc

Trang 19

biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển Lý thuyết về thương mại quốc tế nói rằng, các nước đang phát triển với nguồn nhân lực dồi dào sẽ có lợi thế so sánh trong những ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động Nguồn nhân lực dồi dào với giá nhân công thấp cho phép các nước đang phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may Trong khí đó các nước công nghiệp phát triển, với tiềm lực về tài chính và công nghệ, có lợi thế so sánh trong việc phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều vốn và công nghệ

Tầm quan trọng của dệt may với tư cách là một ngành xuất khẩu và một nguồn thu ngoại tệ quan trọng cũng được thể hiện ở chỗ xuất khẩu dệt may không bị giới hạn bởi nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có Trong khi đó, xuất khẩu khoáng sản và các loại nông sản bị hạn chế bởi nguồn tài nguyên và không thể gia tăng xuất khẩu về lâu dài Trên phương diện này, việc tăng cường xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động trong đó có dệt may có ý nghĩa quan trọng đối với việc đa dạng hóa

cơ cấu xuất cũng như đối với việc duy trì sự tăng trưởng nhanh và bền vững của xuất khẩu

Ở Việt nam, ngay từ đầu những năm 1990, trong quá trình thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, dệt may đã luôn là một ngành sản xuất quan trọng bên cạnh nông sản và dầu thô Vào năm 1995, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chỉ đạt chưa đầy

800 triệu USD, thấp hơn nhiều so với nguồn thu từ dầu thô và nông sản Tuy nhiên xuất khẩu dệt may tăng trưởng nhanh hơn so với dầu thô và nông sản, và tầm quan trọng của dệt may trong cơ cấu xuất khẩu cũng gia tăng Vào năm 2008, xuất khẩu dệt may đã vượt qua dầu thô và trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, với mức xuất khẩu trên 9 tỷ USD và đóng góp khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu

Bên cạnh đó, xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như dệt may cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi các điều kiện tự nhiên và việc đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu tới các sản phẩm sử dụng nhiều lao động cũng làm cho các nguồn thu xuất khẩu trở nên ổn định hơn Trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, sự giảm sút nhu cầu trên các thị trường xuất khẩu cũng như sự sụt giảm mạnh giá nông sản

Trang 20

và dầu thô trên thị trường thế giới đã tác động tiêu cực đến xuất khẩu nông sản và dầu thô của Việt nam Ví dụ, nguồn thu từ xuất khẩu dầu thô đã giảm tới 40% trong nửa đầu năm 2009 Nguồn thu từ xuất khẩu nhiều loại nông sản như cafe và hải sản cũng sụt giảm mạnh Tuy nhiên, đã không có sự suy giảm nào trong xuất khẩu các sản phẩm dệt may

1.2 Những vấn đề về chính sách liên quan đến xuất khẩu hàng dệt may sau khi gia nhập WTO

1.2.1 Quy định của WTO liên quan đến ngành dệt may và xuất khẩu hàng dệt may

Hệ thống thương mại thế giới có rất nhiều quy định liên quan đến thương mại trong các sản phẩm công nghiệp nói chung cũng như thương mại trong các sản phẩm dệt may nói riêng Các quy định này liên quan đến nhiều lĩnh vực chính sách và luật pháp khác nhau như các tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường, các quy định về thuế quan, quy định về quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đối kháng và chống bán phá giá cũng như các quy định về trợ cấp Trong đoạn này, chúng tôi đề cập đến ba vấn

đề trực tiếp liên quan đến sản xuất và xuất khẩu dệt may của Việt nam sau khi gia nhập WTO, đó là Hiệp định dệt may của WTO, Nghĩa vụ cắt giảm thuế quan cũng như các quy định và nghĩa vụ của các nước thành viên liên quan đến chính sách trợ cấp

1.2.1.1 Hiệp định dệt may của WTO (ATC)

Tương tự như trường hợp của nông sản, tự do hóa thương mại dệt may là một lĩnh vực nhạy cảm trong WTO và thường phải chịu quota và các biện pháp hạn chế khác không phù hợp với các nguyên tắc của WTO Các biện pháp hạn chế về lượng này thường được các nước công nghiệp phát triển, cụ thể là Mỹ, EU, Na uy và Canada,

sử dụng đối với hàng dệt may nhập khẩu từ các nước đang pháp triển Các quota này được xác định bởi nước nhập khẩu cho từng sản phẩm cụ thể và cho từng nước xuất khẩu, theo đó mỗi nước sẽ không được phép xuất khẩu nhiều hơn số lượng đã được quy định

Trang 21

Hiệp định dệt may (ATC) đạt được trong vòng đàm phán Uruguay là một bước tiến lớn hướng đến việc tự do hóa thương mại dệt may và đưa thương mại dệt may quay trở lại với các nguyên tắc chung của WTO Hiệp định ATC đặt mục tiêu xóa bỏ dần dần các hạn chế định lượng áp dụng đối với hàng dệt may xuất khẩu từ các nước đang phát triển Theo Hiệp định này, toàn bộ quota xuất khẩu đánh vào hàng dệt may sẽ bị xóa bỏ trong vòng mười năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, tức là trước năm 2005

1.2.1.2 Các quy định về thuế quan

Theo quy định của WTO, các nước thành viên hay các nước mới gia nhập WTO sẽ đưa ra những nhân nhượng về thuế quan theo mức thuế quan tối đa mà một nước có thể được áp dụng (còn gọi là mức thuế trần - bound rate) Mức thuế quan tối đa được xác định cho từng sản phẩm, và các nước thành viên không được phép áp đặt thuế quan cao hơn mức thuế tối đa đã cam kết Trong vòng đám phán Uruguay, nghĩa vụ cắt giảm thuế quan được xác định chung cho các sản phẩm công nghiệp chứ không được xác định cho từng sản phẩm hay nhóm sản phẩm cụ thể Các cam kết cắt giảm thuế quan vì thế không có tính ràng buộc cao và tạo khả năng cho các nước duy trì bảo hộ đối với từng nhóm sản phẩm cụ thể Như chúng tôi sẽ trình bầy

cụ thể hơn dưới đây, mức thuế quan đánh vào các sản phẩm dệt may vẫn được duy trì ở mức tương đối cao trong cả các nước công nghiệp phát triển cũng như các nước đang phát triển

1.2.1.3 Các quy định về trợ cấp

Trong các quy định của WTO, trợ cấp được hiểu theo một nghĩa rộng nhất, bao gồm các chính sách của nhà nước được sử dụng để hỗ trợ sản xuất trong nước Các chính sách hỗ trợ này tạo ra điều kiện thuận lợi hơn các điều kiện phổ biến trên thị trường

và mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp hay các ngành sản xuất trong nước Khái niệm về trợ cấp, như được định nghĩa trong Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (Agreement on Subsidies and Countervailling Measurres –

Trang 22

Hiệp định SCM) bao gồm rất nhiều biện pháp chính sách khác nhau như các biện pháp ưu đãi về thuế và tín dụng, ưu đãi về tiền thuê đất, các biện pháp bù lỗ, việc góp vốn của nhà nước hay các biện pháp quản lý giá

Quy định của WTO phân biệt trợ cấp thành trợ cấp đặc thù và trợ cấp không đặc thù (specific and non-specific subsidy) Các khoản trợ cấp hay hỗ trợ của nhà nước chỉ được dành riêng cho một hay một số doanh nghiệp nhất định hay chi dành cho một ngành kinh tế nhất định Ngược lại, các khoản trợ cấp hay chính sách hỗ trợ được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp và ngành kinh tế dựa theo các tiêu chuẩn khách quan được xem là những khoản trợ cấp không đặc thù Ví dụ, việc nhà nước cấp tín dụng ưu đãi cho một số ngành công nghiệp ưu tiên như dệt may hay da giầy hay điện tử bị xem là trợ cấp đặc thù theo quy định của WTO Ngược lại, việc nhà nước

hỗ trợ về lãi suất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không phân biệt thành phần kinh tế và không hạn chế về về ngành kinh tế được xem là một khoản trợ cấp không đặc thù

Quy định của WTO cho phép các nước thành việc được sử dụng các khoản trợ cấp không đặc thù Các khoản trợ cấp không đặc thù có thể được áp dụng mà không bị

áp đặt các biện pháp đối kháng từ các nước đối tác thương mại Đối với các khoản trợ cấp đặc thù, WTO áp dụng các quy định khác nhau tùy theo đặc điểm và tác động của mỗi biện pháp trợ cấp đến thương mại quốc tế Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (Agreement on Subsidies and Countervailling Meassures – Hiệp định SCM) phân chia trợ cấp thành trợ cấp không thể bị kiện (Non-actionable subsidies), trợ cấp có thể bị kiện (Actionable subsidies) và trợ cấp

bị cấm (prohobited subsidies)

Trợ cấp bị cấm bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế nhập khẩu Trợ cấp xuất khẩu được hiểu là tất cả các biện pháp trợ cấp được dành cho cho các doanh nghiệp xuất khẩu, được định nghĩa một cách chặt chẽ theo Hiệp định SCM là các khoản trợ cấp có gắn với điều kiện xuất khẩu Các biện pháp thưởng xuất khẩu hay

ưu đãi thế cho các doanh nghiệp xuất khẩu đi kèm với các yêu cầu về xuất khẩu hàng hóa là các ví dụ về trợ cấp xuất khẩu Trợ cấp thay thế nhập khẩu được hiểu là

Trang 23

là những khoản trợ cấp được sử dụng để khuyến khích việc sử dụng sản phẩm và hàng hóa trong nước thay cho hàng hóa nhập khẩu Các biện pháp ưu đãi về thuế gắn với các yêu cầu về nội địa hóa là một ví dụ điển hình về trợ cấp thay thế nhập khẩu Các nước thành viên WTO được yêu cầu không sử dụng trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế nhập khẩu dưới bất kỳ hình thức nào

Trợ cấp không thể bị kiện bao gồm một số ít các biện pháp trợ cấp được sử dụng trong các chương trình phát triển vùng, các hoạt động nghiên cứu triển khai hay các biện pháp hỗ trợ dành cho các doanh nghiệp trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường Các nước thành viên WTO được phép sử dụng các biện pháp trợ cấp này, nhưng trong những trường hợp nhất định khi các biện pháp trợ cấp gây tác động bất lợi nghiêm trọng tới các nước thành viên khác, nước sử dụng trợ cấp có thể phải điều chỉnh chính sách trợ cấp và các nước đối tác thương mại có thể áp dụng các biện pháp đối kháng Hiệp định SCM cũng đưa ra những quy định hạn chế mức độ

và phạm vi hỗ trợ đối với các biện pháp trợ cấp không thể bị kiện Ví dụ, các khoản trợ cấp của nhà nước cho các hoạt động nghiên cứu triển khai chỉ giới hạn vào quá trình nghiên cứu và thử nghiệm sản phẩm mới hay công nghệ mới Các biện pháp phát triển vùng chỉ được xem là trợ cấp không thể bị kiện nếu các biện pháp hỗ trợ này là không đặc thù trong phạm vi của vùng và vùng được nhận hỗ trợ phải là một vùng kém phát triển

1.2.2 Môi trường chính sách trên các thị trường xuất khẩu: Rào cản thuế quan và phi thuế quan

Đoạn này đề cập đến môi trường chính sách trên các thị trường xuất khẩu tập trung vào các vấn đề xác thực đối với sản xuất và xuất khẩu dệt may của Việt nam cũng như những thay đổi chính sách trên thị trường xuất khẩu liên quan đến việc Việt nam gia nhập WTO Trong đoạn này, chúng tôi sẽ đề cập đến chính sách thuế quan

và các rào cản phi thuế quan trên các thị trường xuất khẩu chủ yếu Việc xóa bỏ hạn ngạch xuất khẩu đánh vào hàng dệt may của Việt nam, cũng như việc Mỹ trao quy

Trang 24

chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho Việt nam và kèm theo nó là việc xác lập

cơ chế giám sát hàng dệt may của Việt nam cũng sẽ được trình bầy trong đoạn này

1.2.2.1 Chính sách thuế quan

Tương tự như các sản phẩm nông nghiệp, dệt may cũng là một mặt hàng được bảo

hộ trong nhiều nước công nghiệp phát triển, tức là những thị trường nhập khẩu dệt may chính trên thế giới Các sản phẩm dệt may được bảo hộ thông qua thuế quan cũng như các hàng rào phi thuế quan Việc xóa bỏ hạn ngạch xuất khẩu trong khuôn khổ của Hiệp định ATC không gắn liền với việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan Trong nhiều trường hợp, các nước đã tăng cường sử dụng các biện pháp bảo hộ phi thuế quan thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật hay các biện pháp phòng vệ thương mại, các biện pháp chống bán phá giá và đối kháng

Trong vòng đàm phán Uruguay, các sản phẩm dệt may chỉ chịu mức cắt giảm thuế quan tương đối thấp so với các sản phẩm công nghiệp khác Điều này phản ánh một thực tế là mối quan tâm của các nước trong vòng đàm phán Uruguay dành cho việc xóa bỏ các hạn ngạch xuất khẩu Bên cạnh đó, vòng đàm phán Uruguay chỉ xác định mục tiêu cắt giảm thuế quan chung cho các sản phẩm phi nông nghiệp, và do

đó tạo điều kiện cho các nước tiếp tục duy trì thuế quan cao đối với các sản phẩm được bảo hộ

Tình bình quân, các nước công nghiệp phát triển chỉ cắt giảm 22% thuế quan đánh vào hàng dệt may nhập khẩu, so với mức cắt giảm bình quân là 40% đối với các sản phẩm công nghiệp Cả Mỹ và EU đều đưa ra mức cắt giảm tương đối thấp Ví dụ,

Mỹ chỉ cam kết cắt giảm 13% thuế quan đánh vào hàng dệt may, trong khi mức cam kết của EU là 17%

Kết quả là thuế quan đánh vào hàng dệt may trong các nước công nghiệp phát triển vẫn được duy trì ở mức cao Thuế quan đánh vào các sản phẩm quần áo và vải ở EU tương ứng là 12% và 8% Mức thuế quan đánh vào sản phẩm dệt may nhập khẩu ở Nhật và Mỹ là 7.8% và 8.9% trong khi thuế suất trung bình đánh vào hàng dệt may nhập khẩu trên thị trường Canada là 12.4% Trong khi mức thuế suất bình quân là

Trang 25

cao, mức thuế quan cũng thay đổi rất nhiều theo các nhóm sản phẩm Ví dụ trong trường hợp của Mỹ, mức thuế quan thay đổi từ 15% đến trên 30% tùy theo loại sản phẩm

Trong khi đánh thuế cao để bảo hộ ngành dệt may trong nước, các nước công nghiệp phát triển cũng có các chương trình ưu đãi thuế quan trong khuôn khổ các Hiệp định thương mại tự do hay các chương trình ưu đãi khác nhằm hỗ trợ một số nhóm nước cụ thể Các nước có hiệp định thương mại tự do với các nước công nghiệp phát triển được hưởng thuế suất ưu đãi hơn, thông thường là 0 Ví dụ EU áp dụng thuế suất bằng 0 cho hàng dệt may nhập khẩu từ các nước có Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) với khối này

Bên cạnh các Hiệp định thương mại tự do, ưu đãi về thuế quan cũng được đưa ra trong các chương trình ưu đãi thuế quan chung (GSP) Chương trình GSP của EU dành ưu đãi cho các nước kém phát triển và đang phát triển với mức ưu đãi có thể lên đến 80% của mức thuế MFN tương ứng Nhật bản cũng cung cấp ưu đãi thuế quan cho các sản phẩm may mặc từ các nước đang phát triển Tuy vậy, các chương trình ưu đãi thuế quan chung của Canada và Mỹ không bao gồm các sản phẩm dệt may từ các nước đang phát triển Do mức thuế suất từ các nước công nghiệp phát triển là tương đối cao, các ưu đãi thuế quan tạo ra lợi thế cạnh tranh đáng kể cho các nước hưởng lợi

1.2.2.2 Các hàng rào phi thuế quan

Hàng dệt may xuất khẩu tới các nước công nghiệp phát triển bao gồm cả Mỹ và EU phải chịu rất nhiều các hàng rào phi thuế quan khác nhau, bao gồm các tiêu chuẩn

kỹ thuật, các thủ tục hải quan, nguyên tắc gốc hay các đòi hỏi về xã hội, môi trường

và an ninh Các hàng rào phi thuế quan này có thể làm gia tăng đáng kể chi phí của các doanh nghiệp xuất khẩu, và trong một số trường hợp có thể dẫn đến việc ngăn cản các doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm dệt may

Cùng với việc cắt giảm thuế quan và hạn ngạch, các tiêu chuẩn kỹ thuật, hay còn gọi là những hàng rào kỹ thuật đang trở thành một trong những trở ngại chính đối

Trang 26

với hàng dệt may xuất khẩu Các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật được sử dụng để bảo vệ người tiêu dùng cũng như bảo vệ môi trường Tuy nhiên trong nhiều trường hợp các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật không được xác định một cách hợp lý và không được xác định dựa trên cơ sở khoa học Ngoài ra, các quy định và tiêu chuẩn

kỹ thuật thường được xác định trong từng nước, không có sự tham khảo và đồng ý

từ các nước đối tác và ít được điều tiết bởi các quy định của WTO Kết quả là, những quy định này, trong nhiều trường hợp, chỉ làm tăng gánh nặng cho các doanh nghiệp xuất khẩu thay vì nhằm đáp ứng các mục tiêu của chúng là bảo vệ sức khỏe

và sự an toàn của người tiêu dùng hay bảo vệ môi trường

Ngoài các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật, hàng dệt may xuất khẩu tới các thị trường Mỹ, EU và các nước công nghiệp phát triển khác cũng cũng bị áp đặt các hàng rào thuế quan khác dưới dạng các yêu cầu về nhãn mác và đóng gói, yêu cầu cấp giấy phép nhập khẩu, yêu cầu thanh tra trước khi chuyển hàng Các quy định về cấp giấy chứng nhận cũng là một rào cản đối với hàng dệt may xuất khẩu Việc cấp giấy chứng nhận thường sử dụng các tiêu chuẩn không được thừa nhận, quá trình kiểm tra và cấp giấy chứng nhận thường phức tạp, kéo dài và đòi hỏi chi phí đáng

kể

1.2.2.3 Các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá và đối kháng

Trong bối cảnh quota xuất khẩu bị bãi bỏ và thuế quan đánh vào hàng dệt may xuất khẩu có thể bị tiếp tục cắt giảm trong vòng đàm phán Doha các quốc gia cũng sử dụng ngày càng nhiều các biện pháp khắc phục thương mại (trade remedy) để bảo

hộ ngành công nghiệp trong nước trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu với giá

rẻ Các biện pháp khắc phục thương mại bao gồm các biện pháp tự vệ, các biện pháp chống bán phá giá và các biện pháp chống trợ cấp Các biện pháp khắc phục thương mại được Mỹ và EU áp dụng rất nhiều đối với hàng dệt may nhập khẩu từ các nước đang phát triển

Luật của WTO cho phép một nước được phép áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu trong trường hợp có sự gia tăng nhanh chóng và có sự đe dọa nghiêm trọng

Trang 27

đến ngành công nghiệp trong nước nhập khẩu Các biện pháp tự vệ chỉ có tính chất tạm thời, được áp dụng với mục đích nhằm tạo thời gian cần thiết cho ngành công nghiệp nội địa điều chỉnh trước áp lực cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu Các biện pháp tự vệ có thể được thực hiện bằng cách tăng thuế quan hay áp dụng các hạn ngạch nhập khẩu Theo Hiệp định về các biện pháp tự vệ (ASM), biện pháp tự vệ phải được áp dụng đồng đều với hàng nhập khẩu từ tất cả các nước, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt trong đó nhập khẩu từ một hay một vài nước thành viên gia tăng nhanh hơn nhập khẩu từ các nước khác Trong trường hợp này, nước nhập khẩu có thể chỉ áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng nhập khẩu từ nước xuất khẩu

có liên quan Nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp tự vệ có thể phải bồi thường thiệt hại cho nước xuất khẩu

Các biện pháp tự vệ đã được sử dụng khá nhiều giữa các thành viên WTO, tuy nhiên chúng ít khi được áp dụng với hàng dệt may Một trường hợp gần đây nhất là việc Mỹ và EU áp dụng các biện pháp tự vệ đối hàng dệt may nhập khẩu từ Trung quốc Trong các thỏa thuận song phương về việc gia nhập WTO, Trung quốc đồng

ý để Mỹ và EU tái sử dụng quota trong trường hợp có sự gia tăng đột biến về hàng dệt may nhập khẩu từ Trung quốc Dựa trên thỏa thuận này, Mỹ và EU đã sử dụng lại hạn ngạch xuất khẩu đối với đối với một số nhóm hàng dệt may có tốc độ tăng trưởng cao của Trung quốc Tuy nhiên, không có các điều khoản tương tự về các biện pháp tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may trong các thỏa thuận gia nhập WTO

và các nước thành viên WTO không được phép tái áp đặt hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt nam như đã áp dụng đối với Trung quốc

Khác với các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá là một biện pháp được thường xuyên sử dụng trong thương mại dệt may Theo một tài liệu được các nước đang phát triển, trong khoảng thời gian từ năm 1994 đến 2004 đã có hàng trăm vụ kiện chống bán phá giá trong lĩnh vực dệt may, trong số này đa phần được áp dụng chống lại hàng dệt may xuất khẩu từ các nước đang phát triển EU là khối áp dụng nhiều nhất các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng dệt may với 72 vụ kiện

Trang 28

chống bán phá giá đối với hàng dệt may Trong số này, 63 vụ được khởi xướng đối với hàng dệt may xuất khẩu từ các nước đang phát triển

Hiệp định của WTO xác lập những quy định cụ thể về việc điều tra, điều kiện và mức độ áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, theo đó sản phẩm nhập khẩu chỉ

bị xem là bán phá giá nếu giá cả của sản phẩm nhập khẩu thấp hơn giá của sản phẩm cùng loại trên thị trường của nước xuất khẩu hoặc thấp hơn chi phí sản xuất Nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nếu như sản phẩm nhập khẩu bán phá giá gây tổn hại tới ngành công nghiệp nội địa Hiệp định của WTO cũng đưa ra những quy định về việc xác lập mối liên hệ nhân quả giữa sản phẩm nhập khẩu bán phá giá với tổn hại của ngành công nghiệp nội địa

Trong khi Hiệp định của WTO về chống bán phá giá xác lập những quy định chung

và ràng buộc trong việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, thì luật chống bán phá giá được xây dựng và thực thi trong phạm vi từng nước Một vấn đề khác trong việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá là quy chế về nền kinh tế phi thị trường (non-market status –NMS) Quy chế này được nhiều nước thành viên WTO áp dụng đối với Việt nam cũng như Trung quốc Trong những nền kinh tế phi thị trường, do có trợ cấp và sự can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh tế, giá cả, tiền lương cũng như lãi suất không phản ánh được giá trị thị trường của chúng Do đó, giá cả và tiền lương trong các nền kinh tế phi thị trường không thể được sử dụng trong việc xác định bán phá giá cũng như tính mức thuế bán phá giá Kết quả là, trong khi áp dụng các biện pháp chống bán phá giá với các nền kinh tế phi thị trường, các nước thành viên WTO có thể sử dụng một nước thứ ba làm căn

cứ để tính giá cả nguyên vật liệu và tiền lương trong quá trình điều tra chống bán phá giá

Quy chế về nền kinh tế phi thị trường, và hệ quả của nó là việc sử dụng nước thứ ba

để tính chi phí sản xuất và so sánh giá, có thể dẫn đến việc áp đặt các biện pháp chống bán phá giá hay các biện pháp đối kháng một cách không công bằng Trên thực tế, ngay cả khi các nước có điều kiện và trình độ phát triển tương tự như nhau,

Trang 29

vẫn có thể có khác biệt đáng kể về điều kiện tự nhiên và xã hội và những khác biệt này có thể dẫn đến sự khác biệt trong chi phí sản xuất và giá cả sản phẩm

Các biện pháp chống bán phá giá thường có tác động lớn đến các nước xuất khẩu Thuế chống bán phá giá làm tăng chi phí sản xuất và giảm tính cạnh tranh của sản phẩm bị áp thuế Điều này có thể dẫn đến sự sụt giảm trong khối lượng xuất khẩu

và thị phần của các sản phẩm bị áp thuế chống bán phá giá Một ví dụ là xuất khẩu

cá basa sang Mỹ đã sụt giảm mạnh sau khi bi áp thuế chống bán phá giá Gần đây hơn, việc xuất khẩu da giầy sang EU cũng bị ảnh hưởng nặng nền bởi việc EU áp dụng thuế chống bán phá giá

Cần lưu ý rằng, không chỉ việc áp đặt các biện pháp chống bán phá giá, mà chỉ việc khởi xướng các biện pháp chống bán phá giá đã có thể có tác động nhất định đến khối lượng xuất khẩu Việc khởi xướng và điều tra chống bán phá giá sẽ tăng thêm rủi ro cho các doanh nghiệp nhập khẩu và các doanh nghiệp xuất khẩu Trong trường hợp của Mỹ, các doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm đang bị điều tra chống bán phá giá có thể bị yêu cầu đặt cọc bằng tiền mặt Yêu cầu đặt cọc này làm tăng chi phí nhập khẩu, và có thể khiến các doanh nghiệp của nước nhập khẩu chuyển sang nguồn hàng từ các nước khác

1.2.2.4 Hạn ngạch dệt may

Trước khi gia nhập WTO, hàng dệt may của Việt nam xuất khẩu sang các thị trường

Mỹ, EU cũng như Canada và Nauy đều phải chịu hạn ngạch xuất khẩu Do Việt nam vẫn chưa phải là một thành viên của WTO, quota xuất khẩu đối với hàng dệt may được xác định trên cơ sở các Hiệp định song phương giữa Việt nam và các nước nhập khẩu Các hạn ngạch xuất khẩu này được xác định cho từng năm với mức tăng trưởng nhất định được xác định trong các hiệp định song phương

Hạn ngạch xuất khẩu vẫn được tiếp tục duy trì đối với hàng dệt may của Việt nam ngay cả khi toàn bộ quota xuất khẩu bị xóa bỏ theo quy định của Hiệp đinh dệt may vào năm 2005 do Việt nam vẫn chưa phải là thành viên của WTO và vẫn chưa được hưởng các ưu đãi dành cho nước thành viên Quota đánh vào hàng dệt may xuất

Trang 30

sang EU được bãi bỏ sau đó vào năm 2005 sau khi Việt nam và EU kết thúc đàm phán về việc Việt nam gia nhập WTO Quota dệt may xuất khẩu sang Mỹ chỉ được bãi bỏ vào năm 2007 khi Việt nam chính thức trở thành thành viên của WTO Việc xóa bỏ các hạn ngạch xuất khẩu đánh vào hàng dệt may xuất khẩu có một tác động tích cực đáng kể đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt nam

1.2.2.5 Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) và cơ chế giám sát hàng dệt may Việt nam

Một thay đổi quan trọng khác cho phép tăng cường khả năng của hàng dệt may Việt nam trong việc tiếp cận thị trường Mỹ là việc Mỹ ban hành quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho Việt nam vào tháng 9/2006 Hàng hóa Việt nam xuất khẩu vào Mỹ đã được hưởng quy chế Tối huệ quốc kể từ sau khi ký kết Hiệp định thương mại song phương vào năm 2000 (BTA) Tuy nhiên, do những ràng buộc của điều khoản Jackson-Vanik, việc áp dụng quy chế tối huệ quốc cho Việt nam phải được tổng thống Mỹ xem xét và gia hạn hàng năm trên cơ sở xem xét tiến bộ trong lĩnh vực di cư và nhân quyền

Việc ban hành quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn diễn ra sau khi Mỹ và Việt nam kết thúc đàm phán song phương về việc Việt nam gia nhập WTO đã chấm dứt việc áp dụng điều khoản Jackson-Vanik cũng như chấm dứt việc xem xét và gia hạn hàng năm đối với việc áp dụng MFN đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt nam trên thị trường Mỹ Mặc dù quy chế tối huệ quốc không không bao gồm việc cắt giảm thuế quan đánh vào hàng xuất khẩu của Việt nam nói chung và hàng dệt may xuất khẩu nói riêng, nhưng việc trao cho Việt nam quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn có ý nghĩa quan trọng đối với việc mở cửa thị trường Mỹ đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt nam

Cho đến trước khi gia nhập WTO, việc xem xét và gia hạn quy chế MFN hàng năm

có thể tạo ra những rủi ro nhất định đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt nam vào thị trường Mỹ Rủi ro xuất phát từ thực tế là, nếu vì một lý do nào đó quy chế MFN không được gia hạn, khi đó hàng hóa Việt nam xuất khẩu vào Mỹ sẽ phải chịu một

Trang 31

mức thuế rất cao Điều này đã gây trở ngại cho các công ty Mỹ nhập hàng hóa từ Việt nam hay đầu tư lâu dài vào Việt nam Với việc thông qua quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho Việt nam, hàng hóa xuất khẩu của Việt nam sẽ được đối

xử bình đẳng như hàng hóa từ các nước khác và loại bỏ những rủi ro từ việc xem xét và gia hạn hàng năm quy chế MFN

Tuy nhiên cùng với việc thông qua quy chế PNTR, Hạ việc Mỹ cũng xác lập một cơ chế giám sát trợ cấp của Việt nam trong ngành dệt may Cơ chế này cho phép việc

áp đặt hạn ngạch đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt nam trong trường hợp Việt nam có sử dụng các khoản trợ cấp bị cấm, tức là trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế nhập khẩu Quy chế này xác lập quy trình và thời gian biểu chặt chẽ đối với việc tư vấn, điều tra và áp đặt hạn ngạch trong trường hợp Việt nam sử dụng các khoản trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO Những nội dung chủ yếu của cơ chế này bao gồm:

được khiếu nại từ các doanh nghiệp Mỹ

được kết luận về việc sử dụng trợ cấp bị cấm Trong trường hợp Việt nam có sử dụng trợ cấp bị cấm, vụ việc sẽ được chuyển lên cơ quan trọng tài của WTO

ngay cả khi chưa có kết luận từ cơ quan trọng tài của WTO

Cơ chế giám sát trợ cấp được xác lập kèm theo việc ban hành PNTR cho phép Đại diện thương mại Mỹ áp đặt hạn ngạch đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt nam trong vòng một năm Cơ chế này cũng không quy định việc áp dụng hạn ngạch cho riêng các sản phẩm được trợ cấp Điều đó có nghĩa là tất cả các mặt hàng dệt may đều có thể bị áp đặt hạn ngạch ngay cả khi trợ cấp là nhỏ hay chỉ được áp dụng cho một vài sản phẩm

Việc xác lập cơ chế giám sát trợ cấp có thể được xem như một thỏa hiệp của các cơ quan lập pháp và hành pháp của Mỹ Cụ thể hơn, cơ chế này là một sự thỏa hiệp đối với những người chống đối PNTR cũng như đối với ngành công nghiệp dệt và may

Trang 32

mặc của Mỹ Ở cả Mỹ và châu Âu, hàng dệt may giá rẻ từ các nước đang phát triển vẫn luôn là một vấn đề nhạy cảm ngay cả khi ngành công nghiệp này chỉ chiếm một

tỷ trọng nhỏ trong công ăn việc làm và sản lượng của các quốc gia này Sự gia tăng mạnh hàng dệt may xuất khẩu từ các nước đang phát triển, đặc biệt là từ Trung quốc, sau khi xóa bỏ cơ chế hạn ngạch xuất khẩu vào năm 2005, cũng làm gia tăng

sự chống đối với hàng dệt may giá rẻ nhập khẩu Trong trường hợp của Trung quốc,

cả châu Âu và Mỹ đã áp dụng trở lại chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may nhập khẩu từ nước này

Vấn đề mở cửa thị trường đối với hàng dệt may của Việt nam cũng được đặt ra trong quá trình đàm phán gia nhập WTO Khác với EU, Mỹ đã đề xuất tiếp tục áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt nam trong một khoảng thời gian nhất định sau khi gia nhập WTO Đề xuất này đã không được phía Việt nam chấp thuận

và quá trình đàm phán sau đó đã đi đến thỏa thuận là hàng dệt may xuất khẩu của Việt nam sẽ không phải chịu hạn ngạch, đồng thời Việt nam cũng cam kết xóa bỏ toàn bộ trợ cấp cho ngành công nghiệp dệt may ngay tại thời điểm gia nhập WTO

Để đối phó với cơ chế giám sát hàng dệt may của Mỹ cũng như nguy cơ Mỹ áp đặt các biện pháp hạn chế không công bằng đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt nam, Bộ thương mại (nay là Bộ Công thương) đã áp dụng chế độ giám sát đối với hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ Theo cơ chế giám sát của Bộ Công thương, các doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Mỹ phải thông báo về giá cả và khối lượng xuất khẩu sang thị trường , và giấy phép xuất khẩu sẽ được cấp cho doanh nghiệp trên cơ sở cân nhắc về giá xuất khẩu cũng như khối lượng xuất khẩu Mục tiêu của việc cấp phép là hạn chế việc các doanh nghiệp nghiệp Việt nam xuất khẩu sang Mỹ với giá quá thấp cũng như hạn chế sự tăng trưởng quá nhanh của xuất khẩu dệt may sang thị trường Mỹ

1.2.3 Chính sách xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam khi gia nhập WTO

Việc gia nhập WTO đòi hỏi phải cải cách sâu rộng môi trường chính sách và luật pháp trong nước Cùng với việc gia nhập WTO, Việt nam đã đưa ra những cam kết

Trang 33

tự do hóa sâu rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau từ thuế quan và các hàng rào phi thuế quan, các ưu đãi về thuế và tín dụng, các chương trình đầu tư của nhà nước, tự

do hóa ngành dịch vụ cũng như các chính sách liên quan đến sở hữu trí tuệ cũng như các chính sách đầu tư liên quan đến thương mại

Những thay đổi chính sách này tác động đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, từ nông nghiệp, đến công nghiệp và dịch vụ Việc cắt giảm thuế quan làm gia tăng cạnh tranh trên thị trường trong nước Việc xóa bỏ các khoản trợ cấp, bao gồm cả cả trợ cấp nội địa và trợ cấp xuất khẩu, cũng thu hẹp đáng kể khả năng của nhà nước trong việc hỗ trợ các ngành công nghiệp ưu tiên và các ngành công nghiệp mũi nhọn trong đó có dệt may Các cam kết về sở hữu trí tuệ đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may phải tuân thủ các quy định quốc tế về sở hữu trí tuệ, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu

Tất cả những thay đổi chính sách này, diễn ra ngay trước và sau khi gia nhập WTO,

có những tác động sâu rộng đến sự phát triển của ngành dệt may Việt nam hiện tại cũng như trong những năm tới Trong đoạn này, chúng tôi đề cập đến hai thay đổi chính sách chủ yếu, đó là thay đổi trong chính sách thuế quan và chính sách trợ cấp

1.2.3.1 Chính sách thuế quan

Cũng giống như nhiều nước đang phát triển khác, mặc dù là một nước xuất khẩu hàng dệt may, nhưng Việt nam vẫn áp dụng mức bảo hộ tương đối cao đối với sản phẩm dệt may cho đến trước khi gia nhập WTO Mức thuế quan bình quân đánh vào sản phẩm dệt may trước khi gia nhập WTO là 37.3%, cao hơn hai lần so với mức thuế quan bình quân đánh vào các sản phẩm công nghiệp Mức thuế quan cao từ 40% đến 50% được áp dụng đối với các sản phẩm như vải dệt và hàng may mặc nhằm bảo hộ sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu giá rẻ Khi gia nhập WTO, Việt nam cũng phải đưa ra cam kết cắt giảm thuế quan đối với hàng dệt may cũng như đối với nhiều mặt hàng công nghiệp và nông sản khác Tuy nhiên mức cắt giảm thuế quan đối với hàng dệt may là cao hơn hẳn so cam kết cắt giảm thuế quan chung Tính bình quân, Việt nam cam kết cắt giảm hơn 60% thuế

Trang 34

quan đánh vào các sản phẩm dệt may, cao hơn gần ba lần so với cam kết cắt giảm thuế quan bình quân cho các sản phẩm công nghiệp là 23% Cam kết cắt giảm thuế quan thay đổi theo từng nhóm sản phẩm Sợi là nhóm hàng có mức cắt giảm thuế quan cao nhất, với thuế suất đánh vào các sản phẩm sợi giảm từ 20% trước khi gia nhập WTO xuống còn 5% sau khi gia nhập WTO Mức cắt giảm thuế quan đối với vải và hàng may mặc cũng rất cao, tương ứng là 70% và 60%

Bảng 1.1: Cam kết cắt giảm thuế quan đối với hàng dệt may

của Việt nam

Trang 35

TĐ: Vải 40 12 12 70 Ngay lập tức

Nguồn: VCCI (2007) Cam kết WTO về dệt may

Ghi chú: (a) Tính dựa theo mức thuế suất cuối cùng và thuế suất trước khi gia nhập

Mức cắt giảm thuế quan cam kết cho các sản phẩm dệt may cao hơn nhiều so với các mặt hàng công nghiệp được bảo hộ cao trong nước như ô-tô Bên cạnh mức cắt giảm cao, các nước thành viên WTO cũng yêu cầu hoàn thành cam kết cắt giảm thuế quan ngay tại thời điểm gia nhập WTO Điều đó có nghĩa là, không có thời gian để ngành công nghiệp dệt may trong nước điều chỉnh đối với sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu Đối với hầu hết các sản phẩm nông sản và hàng công nghiệp khác, các cam kết về cắt giảm thuế quan được thực hiện dần dần, với thời gian kéo dài từ

3 đến 5 năm Đối với một số sản phẩm được bảo hộ cao như ô-tô, lộ trình cắt giảm thuế quan kéo dài đến 12 năm

Tuy nhiên, mức độ cắt giảm thuế quan trong các cam kết gia nhập WTO vẫn thấp hơn so với các cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do mà Việt nam tham gia Trong khuôn khổ của khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Việt nam cam kết kết cắt giảm thuế quan đánh vào hàng dệt may xuống dưới 5% vào năm

2006, và sau đó sẽ xóa bỏ hoàn toàn thuế quan đánh vào hàng dệt may cũng như các sản phẩm khác Tương tự như vậy, trong các hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với Trung quốc (CAFTA) và Hàn quốc (KAFTA), Việt nam cũng đưa ra các cam kết tự do hóa sâu rộng đối với sản phẩm dệt may cũng như các sản phẩm công nghiệp khác, với mức cắt giảm thuế quan từ 90% trong trường hợp của CAFTA và 70% trong trường hợp của KAFTA

Sự phân tích trên đây cho thấy rằng, dệt may là một ngành có mức cắt giảm thuế quan cao nhất trong quá trình gia nhập WTO Việc cắt giảm thuế quan rõ ràng sẽ làm gia tăng sự cạnh tranh của hàng dệt may nhập khẩu trên thị trường trong nước

Trang 36

Tuy nhiên, tác động của việc cắt giảm thuế quan đối với hàng dệt may xuất khẩu phức tạp hơn Một mặt, việc cắt giảm thuế quan đối với các sản phẩm sợi và dệt làm giảm giá nguyên phụ liệu dệt may nhập khẩu, và qua đó làm giảm chi phí sản xuất

và tăng tính cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Mặt khác, việc cắt giảm mạnh thuế quan đánh vào sợi và vải dệt gây khó khăn cho việc phát triển nguyên phụ liệu dệt may trong nước Về lâu dài, việc cắt giảm thuế quan có thể hạn chế sự phát triển của ngành công nghiệp dệt và làm tăng sự phụ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, cũng như gây khó khăn cho việc thực hiện mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong ngành dệt may

1.2.3.2 Chính sách trợ cấp

Cùng với thuế quan, trong quá trình gia nhập WTO, Việt nam cũng đưa ra các cam kết cải cách chính sách sâu rộng là chính sách trợ cấp Trong giai đoạn trước khi gia nhập WTO, Việt nam đã sử dụng rất nhiều các biện pháp khác nhau để hỗ trợ ngành dệt may cũng như các ngành sản xuất khác Các biện pháp hỗ trợ này thường được thực hiện thông qua các ưu đãi về thuế, hỗ trợ về lãi suất cho các khoản đầu tư trung

và dài hạn của các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc bảo hiểm và bảo lãnh tín dụng đầu tư, cũng như hỗ trợ về thuế đất và tiền thuê đất Nhiều biện pháp hỗ trợ như vậy là được gắn với yêu cầu xuất khẩu hàng hóa, trong đó doanh nghiệp được yêu cầu phải xuất khẩu một tỷ lệ nhất định hàng hóa sản xuất ra để có thể được hưởng các ưu đãi về thuế và đầu tư Các biện pháp trợ cấp này hoàn toàn

có thể xem như một biện pháp trợ cấp xuất khẩu theo quy định của WTO Bên cạnh

đó, cũng có các ưu đãi về tín dụng đầu tư áp dụng cho các ngành sản xuất được ưu tiên hay các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội được ưu tiên phát triển Các biện pháp trợ cấp này được sử dụng để phát triển các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu, thường không gắn với các yêu cầu về xuất khẩu nhưng hoàn toàn có thể cấu thành một biện pháp trợ cấp có thể bị kiện

Trong giai đoạn trước khi gia nhập WTO, trợ cấp xuất khẩu trong ngành dệt may là khá phổ biến và được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Một biện pháp

Trang 37

thường được sử dụng là các doanh nghiệp được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đáp ứng được các yêu cầu nhất định về xuất khẩu Các biện pháp khuyến khích đầu tư gồm nhiều hình thức khác nhau như miễn giảm thuế thu nhập công ty, miễn giảm tiền thuê đất và thuế sử dụng đất cũng như miễn giảm thuế quan đánh vào nguyên vật liệu nhập khẩu Mức thuế miễn giảm được xác định riêng rẽ cho các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ví

dụ, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu hơn 50% tổng số doanh thu sẽ được hưởng thuế suất doanh nghiệp ưu đãi là 20% trong vòng mười năm và không phải nộp tiền thuê đất trong thời hạn từ 3 đến 15 năm

Bên cạnh các biện pháp khuyến khích đầu tư, các dự án trong ngành dệt may đáp ứng được yêu cầu về xuất khẩu hàng hóa cũng được nhận ưu đãi về tín dụng trung

và dài hạn dưới những hình thức khác nhau như hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ về bảo lãnh tín dụng cũng như hỗ trợ lãi suất sau đầu tư Các chương trình tín dụng ưu đãi này được thực hiện thông qua Quỹ hỗ trợ phát triển Ví dụ, theo quy định được áp dụng

kể từ tháng 4/2004, các dự án với mức xuất khẩu hơn 30% của tổng doanh thu sẽ được hưởng tín dụng ưu đãi với thời hạn cho vay lên tới 10 năm Các dự án được thực hiện bằng nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại cũng nhận được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư ngang bằng với số chênh lệch giữa lãi suất vay thương mại và lãi suất tín dụng đầu tư

Quỹ hỗ trợ phát triển cũng cấp tín dụng xuất khẩu ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu với lãi suất bằng 80% lãi suất tín dụng đầu tư ưu đãi Tín dụng xuất khẩu ưu đãi được dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng ưu tiên (chủ yếu là hàng nông sản), xuất khẩu hàng hóa vào các thị trường mới hay các doanh nghiệp

có tỷ lệ xuất khẩu cao hơn 30% tổng doanh thu Ngoài các biện pháp khuyến khích đầu tư và tín dụng ưu đãi, trợ cấp xuất khẩu cũng được thực hiện thông qua Quỹ hỗ trợ xuất khẩu thông qua việc tài trợ cho các hoạt động xúc tiến thương mại hay bù

lỗ cho các doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm mới hay xuất khẩu tới các thị trường mới

Trang 38

Bên cạnh trợ cấp xuất khẩu, các biện pháp khuyến khích đầu tư và tín dụng ưu đãi cũng được sử dụng để thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp được ưu tiên hay các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn Các ưu đãi về tín dụng và đầu tư này không gắn với yêu cầu về xuất khẩu và thường được sử dụng để phát triển các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu Trong lĩnh vực dệt may, ưu đãi về thuế và tiền thuế đất cũng như tín dụng với

Bảng 1.2: Tóm tắt quá trình điều chỉnh chính sách trợ cấp

sau khi gia nhập WTO

Khuyến khích đầu tư cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước được ban hành theo luật khuyến khích đầu tư trong nước và luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Các ưu đãi về thuế và tiền thuê đất áp dụng cho các dự án đầu tư có xuất khẩu sản phẩm, bao gồm miễn tiền thuê đất và thuế sử dụng đất, Giảm thuế thu nhập công ty và miễn thuế quan đối với máy móc thiết bị nhập khẩu được sử dụng cho quá trình đầu tư Để được hưởng ưu đãi, các dự án phải xuất khẩu sản phẩm Mức ưu đãi cao hơn được áp dụng cho các dự án có tỷ lệ xuất khẩu dự kiến cao hơn Là biện pháp trợ cấp xuất khẩu không được phép sử dụng theo quy định của WTO và cam kết gia nhập của Việt nam Việc gắn các ưu đãi về thuế và tiền thuê đất với yêu cầu về xuất khẩu hàng hóa đã bị bãi bỏ trong quá trình gia nhập WTO, như được thể hiện trong luật đầu tư năm 2005, Luật thuế thu nhập công ty sửa đổi năm 2009 và luật thuế quan sửa đổi

Khuyến khích đầu tư áp dụng cho các doanh nghiệp nước ngoài có xuất khẩu ban

dụng cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài xuất khẩu từ 50% đến 80% sản lượng, bao gồm miễn giảm thuế thu nhập công ty, hoàn thuế thu nhập công ty từ lợi nhuận tái đầu tư và miễn giảm thuế quan đánh vào nguyên vật liệu thô và cấu kiện sản xuất nhập khẩu Là biện pháp trợ cấp xuất khẩu không được phép sử dụng theo

Trang 39

quy định của WTO và cam kết gia nhập của Việt nam Đã không còn hiệu lực sau khi Việt nam gia nhập WTO như được quy định trong luật đầu tư mới ban hành năm 2005

Khuyến khích đầu tư cho các doanh nghiệp không gắn với các yêu cầu về xuất khẩu

Khuyến khích đầu tư dành cho các ngành sản xuất được ưu tiên phát triển hay các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn Các biện pháp ưu đãi gồm miễn giảm thuế thu nhập công ty và thuế nhập khẩu nguyên liệu thô, các cấu kiện và phụ tùng sử dụng trong quá trình sản xuất, được xác định tùy theo mức độ ưu tiên của ngành sản xuất hay vùng kinh tế Không phải là biện pháp trợ cấp xuất khẩu theo quy định của WTO Tuy nhiên, ưu đãi đầu tư được xác định theo các ngành sản xuất

đầu tư ban hành vào năm 2005 và Luật thuế thu nhập công ty sửa đổi 2009 đã thu hẹp đáng kể các ngành sản xuất được hưởng ưu đãi đầu tư Các ưu đãi đầu tư chủ yếu chỉ áp dụng cho các ưu đãi đầu tư hiện chỉ áp dụng cho các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, các dự án đầu tư về hạ tầng cơ sở, giáo dục và y tế

Tín dụng đầu tư ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong các chương trình đầu

án đầu tư, cũng như hỗ trợ lãi suất sau đầu tư và bảo lãnh tín dụng đối với các dự án

có tỷ lệ xuất khẩu tối thiểu là 30% tổng doanh thu; Hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh đối với tín dụng xuất khẩu ngắn hạn cho các mặt hàng xuất khẩu được ưu tiên, các thị trường được ưu tiên cũng như các doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu về xuất khẩu hàng hóa Là biện pháp trợ cấp xuất khẩu không được phép sử dụng theo quy

gắn mức xuất khẩu dự kiến đã bị bãi bỏ từ năm 2007 Chương trình tín dụng xuất khẩu cũng được điều chỉnh để giảm thiểu yếu tố hỗ trợ lãi suất sau khi Việt nam chính thức gia nhập WTO

Chương trình phát triển ngành dệt may đến năm 2010

Chương trình được ban hành năm 2001 cung cấp ưu đãi về tín dụng và đầu

tư cho các dự án sản xuất bông, dệt in nhuộm và sản xuất nguyên phụ liệu dệt may

Trang 40

khác Chương trình cũng hỗ trợ về tín dụng và đầu tư cho việc xây dựng hạ tầng cơ

sở trong các cụm công nghiệp dệt may và cơ khí dệt may Chương trình hỗ trợ xúc

đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu dệt may không nhất thiết cấu thành trợ cấp bị cấm nhưng là trợ cấp có thể bị kiện theo quy định của WTO

Ưu đãi về tín dụng và đầu tư của nhà nước trong chương trình phát triển ngành dệt may đã bị xóa bỏ sau khi gia nhập WTO Các doanh nghiệp dệt may tự huy động vốn để tài trợ cho các dự án phát triển Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần cho hoạt động xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp

Nguồn: Working Party on the Accession of Viet Nam Notification Pursuant to Article XVI:1 of the GATT 1994 and Article 25 of the Agreement on Subsidies and Countervailing Measures WT/ACC/VNM/42/Rev.1

Nguyễn Tiến Dũng (2009)

lãi suất ưu đãi được sử dụng để khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực dệt nhuộm cũng như trong việc phát triển vùng nguyên liệu bông Ngoài các biện pháp khuyến khích đầu tư được áp dụng chung cho các ngành kinh tế, Chương trình phát triển ngành dệt may đến năm 2010 cũng đưa ra các quy định riêng về tín dụng ưu đãi và khuyến khích đầu tư trong ngành dệt may

Trong quá trình gia nhập WTO, Việt nam cũng đưa ra cam kết về việc điều chỉnh chính sách trợ cấp Việt nam đã cam kết tuân thủ các quy định của Hiệp định SCM Việt nam cam kết xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp xuất khẩu trong thời hạn là 5 năm sau khi gia nhập WTO Tuy nhiên cũng tương tự như trong vấn đề thuế quan, Việt nam

đã đưa ra những cam kết cao hơn trong ngành dệt may, theo đó trợ cấp xuất khẩu trong ngành dệt may sẽ được xóa bỏ ngay tại thời điểm gia nhập WTO

Do thực tế là Việt nam đã sử dụng nhiều biện pháp trợ cấp không phù hợp với Quy định của WTO trong giai đoạn trước khi gia nhập, việc gia nhập WTO đòi hỏi phải cải cách căn bản chính sách hỗ trợ của nhà nước Trên thực tế, rất nhiều biện pháp điều chỉnh chính sách trợ cấp đã được thực hiện ngay trước và sau khi gia nhập WTO Trong suốt khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2007, chính phủ đã sửa đổi và

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arakawa Ken (2003), Xuất khẩu sang thị trường Nhật bản: Các vấn đề nghiệp vụ và kinh doanh thực tiễn, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu sang thị trường Nhật bản: Các vấn đề nghiệp vụ và kinh doanh thực tiễn
Tác giả: Arakawa Ken
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2003
4. Nguyễn Thị Doan (2001), “Chủ động hơn nữa hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, số 19/2001, pp. 1-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ động hơn nữa hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2001
6. English Phillip và Luc de Wulf (2004), “Các chính sách và thể chế phát triển xuất khẩu”, Trong Hoekman và các tác giả khác, Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội, pp. 225-240 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chính sách và thể chế phát triển xuất khẩu
Tác giả: English Phillip và Luc de Wulf
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2004
7. Trần Hoàng (2009), “Ngành dệt may đẩy mạnh xuất khẩu FOB”, Tạp chí thương mại, số 29/2009, tr.24-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành dệt may đẩy mạnh xuất khẩu FOB
Tác giả: Trần Hoàng
Năm: 2009
9. Nguyễn Mạnh Hùng (2009), “Trung quốc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may”, Tạp chí Thương mại, số 31/2009, tr. 24-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung quốc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt may
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Năm: 2009
11. Vũ Đức Minh và Doãn Công Khánh (2009), “Thương hiệu cho ngành dệt may: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Thương mại, số 8/2009, tr. 6-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương hiệu cho ngành dệt may: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Vũ Đức Minh và Doãn Công Khánh
Năm: 2009
15. Ngô Công Thành, 2001. " Hiệp định Thương mại Việt Mỹ với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam". Tạp chí Thương mại, số 30/2001. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định Thương mại Việt Mỹ với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
17. Thảo Vy (2003), “Ngành dệt may của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ trong khuôn khổ hội nhập quốc tế”, Thương nghiệp thị trường Việt Nam, số 9/2003. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành dệt may của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ trong khuôn khổ hội nhập quốc tế
Tác giả: Thảo Vy
Năm: 2003
20. Nguyễn Thị Tú (2008), “Thực trạng sức cạnh tranh hàng dệt may Việt nam trên thị trường Hoa kỳ”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 3/2008, tr. 30-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sức cạnh tranh hàng dệt may Việt nam trên thị trường Hoa kỳ
Tác giả: Nguyễn Thị Tú
Năm: 2008
22. Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2005), Các văn kiện cơ bản của tổ chức thương mại thế giới, Hà Nội.B. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn kiện cơ bản của tổ chức thương mại thế giới
Tác giả: Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
23. La Hai An & Phan Huu Nhat Minh (2005), An Emerging Tiger? Vietnam‟s Export Competitiveness in the US and Japanese Markets: A Comparision with Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Emerging Tiger? Vietnam‟s Export Competitiveness in the US and Japanese Markets: A Comparision with
Tác giả: La Hai An, Phan Huu Nhat Minh
Năm: 2005
26. Ham Pham Quang (2000), Vietnam Texttile and Garment Indusstry Development, Vietnam-Japan Joint Research, Minisstry of Planning and Investment, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Texttile and Garment Indusstry Development
Tác giả: Ham Pham Quang
Nhà XB: Vietnam-Japan Joint Research
Năm: 2000
30. Lall Sajnyan (1995), Government and Industrialization: the Role of Policy Intervention, UNIDO Global Forum on Industrial Policy, ID/WG.542/23(SPEC) 31. Ohno Kenichi (2007), Building Supporting Industries in Vietnam, Vietnam Development Forum, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Government and Industrialization: the Role of Policy Intervention
Tác giả: Lall Sajnyan
Nhà XB: UNIDO Global Forum on Industrial Policy
Năm: 1995
32. Oteifa Hassan, Dietmar Stiel và Roger Fielding (2000), Vietnam‟s Garment Industry: Moving up the Value Chain, MPDF Discussion Paper, No.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam‟s Garment Industry: Moving up the Value Chain
Tác giả: Oteifa Hassan, Dietmar Stiel, Roger Fielding
Nhà XB: MPDF Discussion Paper
Năm: 2000
35. Pham Thi Anh Tuyet và Nguyen Thang (2004), Policy Changes and Competitiveness of Vietnam‟s Textile and Garment Firms. A Cost-Based Approach, Website http://www.sedemproject.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Policy Changes and Competitiveness of Vietnam‟s Textile and Garment Firms. A Cost-Based Approach
Tác giả: Pham Thi Anh Tuyet, Nguyen Thang
Năm: 2004
36. Pham Thi Anh Tuyet, Nguyen Thang và các tác giả khác (2007), Which Policy Matters for the Competitiveness of Vietnam‟s Textile and Garment Firms, VERN Working Paper Series http://www.vern.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Which Policy Matters for the Competitiveness of Vietnam‟s Textile and Garment Firms
Tác giả: Pham Thi Anh Tuyet, Nguyen Thang, các tác giả khác
Nhà XB: VERN Working Paper Series
Năm: 2007
44. Các tài liệu của WTO từ WTO Website Các tài liệu của ban thư ký WTO, đề xuất và thông báo của các nước thành viên về chính sách trợ cấp nông nghiệp, và báo cáo về chính sách thương mại của một số nước tại website của WTO: http://www.wto.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tài liệu của WTO
Nhà XB: WTO Website
2. Bộ thương mại (2007), Các cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới của Việt nam, Hà nội Khác
3. CIEM, STAR-Vietnam & UDAID (2003), Đánh giá tác động kinh tế của Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (Báo cáo kinh tế năm 2002), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Tiến Dũng (2009), Phân tích các khía cạnh pháp lý và thực tiễn để vận dụng các quy định về trợ cấp công nghiệp trong khuôn khổ WTO, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bộ Công thương Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng dệt may 2002-2006 - Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Bảng 2.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng dệt may 2002-2006 (Trang 55)
Bảng  2.5  cho  thấy  kim  ngạch  xuất  khẩu  hàng  dệt  may  của  Việt  nam  trong  giai đoạn 2006-2007 dựa theo phân ngành HS cấp 2 - Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
ng 2.5 cho thấy kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam trong giai đoạn 2006-2007 dựa theo phân ngành HS cấp 2 (Trang 61)
Bảng 2.8: Thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Nhật bản 2000-2008 - Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Bảng 2.8 Thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Nhật bản 2000-2008 (Trang 76)
Bảng 3.1 : Các mục tiêu phát triển ngành dệt may đến năm 2020 - Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Bảng 3.1 Các mục tiêu phát triển ngành dệt may đến năm 2020 (Trang 95)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w