1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -

124 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế cho thấy ngành dệt may nước ta có lợi thế to lớn về xuất khẩu, nhờ đó đã xâm nhập được vào những thị trường khó tính như Nhật Bản, Mỹ và EU…Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam đang gặp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

-*** -

Lê Kim Anh

XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HÒA KỲ SAU KHI CÓ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG

MẠI VIỆT – MỸ

Chuyên ngành : Kinh tế thế giới

và quan hệ kinh tế quốc tế

Mã số : 60.31.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học:

Nguyễn Thiết Sơn

HÀ NỘI - 2006

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong chiến lược phát triển công nghiệp, ngành dệt may nước ta được đánh giá là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế cả

về quy mô lẫn chất lượng

Thực tế cho thấy ngành dệt may nước ta có lợi thế to lớn về xuất khẩu, nhờ đó đã xâm nhập được vào những thị trường khó tính như Nhật Bản, Mỹ

và EU…Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam đang gặp những khó khăn không nhỏ trong việc đẩy mạnh lượng hàng xuất khẩu Những khó khăn chính là: Việt Nam hiện chưa là thành viên của WTO, vì vậy khi Hoa Kỳ và EU bãi bỏ chế

độ hạn ngạch, Việt Nam sẽ vẫn phải chịu sự khống chế của cơ chế hạn ngạch

Và khi đã là thành viên của WTO, Việt Nam vẫn sẽ phải đối diện với sự cạnh tranh gay gắt từ phía các nước xuất khẩu hàng dệt may lớn như Trung Quốc,

Ấn Độ, Bănglades, Pakistan , cũng như với những qui định kiểm duyệt phức tạp của chính quyền Mỹ

Chính với những lợi thế và khó khăn đó, việc xem xét khả năng thâm nhập của hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ , một thị trường có dung lượng tiêu thụ vào loại lớn nhất thế giới, và đã có Hiệp định Thương mại song phương với Việt Nam trên 5 năm nay, trở nên hết sức cấp bách, đòi hỏi phải

có những biện pháp mang tính chiến lược, những nỗ lực to lớn từ phía các doanh nghiệp dệt may và cả phía Nhà nước, nhằm xâm nhập được sâu hơn và

có hiệu quả hơn vào thị trường đầy tiềm năng này

Trước thực tiễn và tính cấp thiết của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài :

“Xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam vào thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định Thương mại Việt Mỹ” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Hiện nay, trong các đàm phán thương mại quốc tế song phương hoặc

đa phương, nhóm hàng dệt may luôn được xếp riêng và được đàm phán riêng

Trang 3

rẽ không theo lộ trình chung Ở nước ta, gần đây các nghiên cứu thường tập trung vào đánh giá năng lực cạnh tranh của nhóm ngành này, cũng như lộ trình hội nhập tự do hóa thương mại của các nước tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới Có nhiều tác giả nghiên cứu theo hướng chung này: Lê Thanh Tùng – Nâng cao sức cạch tranh của ngành dệt may Việt Nam (Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 2 năm 2005); TS Diệp Thị Mỹ Hảo - Ngành dệt may Việt Nam sau khi ATC hết hiệu lực: vấn đề và giải pháp (Tạp chí nghiên cứu kinh tế số tháng 4 năm 2005); TS Hoàng Xuân Hòa – Cơ hội và thách thức đối với ngành công nghiệp dệt may (Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số tháng 5 năm 2005); Đỗ Tuyết Khanh – Ngành dệt may Việt Nam sau 2004: Viễn tưởng và thách thức (Tạp chí Thời đại mới số tháng 2 năm 2004); Hoàng Văn Hoan và nhóm nghiên cứu Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Công nghiệp dệt may: Giá trị gia tăng và chiến lược phát triển… Kết quả nghiên cứu của những công trình này cho thấy, Việt Nam trong thời gian qua

đã từng có những lợi thế về lượng lao động dồi dào, giá lao động rẻ và có những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp dệt may, nhưng hiện tại, lợi thế về nhân công đang mất dần do thu nhập thấp so với các ngành kinh tế khác, khiến ngành dệt may không còn sức hấp dẫn thu hút lao động nữa Xu hướng tự do hóa thương mại toàn cầu cũng khiến cho những lợi thế xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam giảm sút hơn, Việt Nam đang phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh lớn như Trung Quốc, Ấn độ, Pakistan…

Bên cạnh những nghiên cứu chung trên đây, việc nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ sau khi thực hiện Hiệp định thương mại Việt Mỹ còn ít và rải rác, chưa có nghiên cứu tổng thể và đồng bộ, vì vậy chúng tôi thấy cần phải đẩy mạnh nghiên cứu hơn nữa

để có thể góp phần giúp cho ngành dệt may Việt nam xâm nhập vào thị trường này có hiệu quả hơn

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Trang 4

* Mục đích nghiên cứu:

Phân tích các vấn đề liên qua đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam và nêu một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế, thương mại nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu những cơ sở chung của thị trường dệt may Mỹ và những vấn đề đặt ra cho xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ

- Phân tích những lợi thế và hạn chế về xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ

- Đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam khẩu vào thị trường Mỹ và đề xuất giải pháp thúc đẩy hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu:

Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu chính thức hàng dệt may của nước ta sang thị trường Mỹ từ khi hai nước thực hiện Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ

Phạm vi nghiên cứu:

Thời gian nghiên cứu: từ năm 2001 đến nay

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận án áp dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến như phân tích,

so sánh, tổng hợp các tài liệu đã khảo sát để đánh giá theo mục tiêu nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các phương pháp thống kê

Việc phân tích những kết quả điều tra nghiên cứu, lý giải tình hình và những thay đổi trong hoạt động xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam kể từ

Trang 5

sau khi ký Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, cho phép tác giả luận văn có cơ

sở xác đáng cho các phân tích, kết luận và đề xuất của đề tài

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN:

- Đã nghiên cứu, phân tích và đánh giá về thị trường Mỹ cũng như các quan điểm và qui định trong chính sách thương mại của Mỹ liên quan đến hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam

- Đã làm rõ những đặc điểm và yêu cầu của thị trường dệt may Mỹ và những lợi thế, hạn chế của Việt Nam khi thực hiện Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ đối với lĩnh vực xuất khẩu hàng dệt may

- Đã đánh giá hợp lý về thực trạng và khả năng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ, những vấn đề đặt ra đối với ngành dệt may Việt Nam

- Đã có những dự báo triển vọng và đưa ra một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ trong thời gian tới

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục gồm có 3 chương:

Chương 1: Đặc điểm thị trường dệt – may Hoa Kỳ và các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ

Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ

Trang 6

là thị trường rất hấp dẫn và có nhiều tiềm năng đối với các nước trên thế giới

Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được Quốc hội hai nước phê chuẩn và chính thức đi vào thực hiện ngày 10/12/2001 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ thương mại giữa hai nước

Việc thực hiện Hiệp định Thương mại đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm các cơ hội kinh doanh mới trên thị trường Mỹ, mở rộng thị trường xuất khẩu, phát triển quan hệ với các đối tác

Trang 7

Tế (IMF), Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) Mỹ có một nền kinh tế lớn nhất thế giới với nhiều ngành nghề đa dạng, có tính cạnh tranh cao, bao gồm nhiều lĩnh vực từ khu vực có giá trị gia tăng cao đến khu vực trung bình,

và là một trong những nền kinh tế tự do nhất thế giới Vì vậy, hoạt động xuất nhập khẩu của Mỹ rất sôi động

°Về quy mô kinh tế: Hiện nay và trong một số thập kỷ nữa, Mỹ vẫn là

nước có nền kinh tế lớn nhất và có sức cạnh tranh nhất trên thế giới Năm

2005, tổng thu nhập quốc dân của Mỹ đạt khoảng 12.000 tỷ USD, chiếm khoảng 1/3 GDP của thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP là 3,5% [25, Tr24]

Đó là một tổ hợp gồm hơn 20 triệu công ty lớn nhỏ trong đó có nhiều công ty xuyên quốc gia với doanh số từ vài chục tỷ đến một, hai trăm tỷ USD

Mặc dù cũng có lúc gặp khó khăn, khủng hoảng nhưng nhìn chung Hoa

Kỳ vẫn luôn là nước dẫn đầu về kinh tế thế giới, về sản xuất cũng như trao đổi hàng hóa

°Về cơ cấu kinh tế: Hiện nay có tới 80% GDP được tạo ra từ các ngành

dịch vụ, trong khi đó công nghiệp chiếm 18% và nông nghiệp chỉ chiếm 2%

°Về tốc độ tăng trưởng: Kể từ thập kỷ 90 trở lại đây, Mỹ đã duy trì

được tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 3,6% Tuy nhiên tốc độ tăng GDP thực tế của Mỹ từ năm 2000 trở lại đây không ổn định và thấp hơn so với mức bình quân của thập kỷ 90 Cụ thể năm 2001 là 0,5%, năm 2002 là 1,6%, năm

2003 là 2,7%, năm 2004 là 4,2% và năm 2005 là 3,5% [25,27]

°Về ngoại thương:

Xuất khẩu : Mỹ là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới Năm 2004, Mỹ

xuất khẩu hàng hóa đạt 795 tỷ USD Các mặt hàng xuất khẩu chính: hàng công nghiệp chiếm 26,8%, sản phẩm nông nghiệp chiếm 9,2%, tư liệu sản xuất chiếm 49%, hàng tiêu dùng chiếm 15%.[25, 27]

Trong chính sách xuất khẩu, Mỹ chủ trương sản xuất những mặt hàng

và dịch vụ mà nước khác không thể sản xuất được, tập trung mạnh vào những

Trang 8

ngành tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, cần nhiều công nghệ tinh vi phức tạp

Nhập khẩu : Mỹ cũng đứng đầu thế giới với tổng mức nhập khẩu hàng

hóa và dịch vụ năm 2004 là 1.476 tỷ USD Trong đó, nhập sản phẩm nông nghiệp chiếm 4,9%, nguyên liệu cho công nghiệp chiếm 32,9%, tư liệu sản xuất chiếm 30,4%, hàng tiêu dùng chiếm 31,8% [25, 27]

Bên cạnh những loại hàng hoá cao cấp, Mỹ còn chủ trương nhập khẩu hàng hóa rẻ, tốn nhiều sức lao động từ bên ngoài nhằm có được những sản phẩm tiêu dùng giá thấp, đáp ứng nhu cầu của người nghèo và tầng lớp trung lưu Từ đó làm giảm lạm phát, tăng sức mua của người dân Đây là cơ hội rất lớn cho sản phẩm của ngành dệt may từ những nước đang phát triển như Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ

Tóm lại, về mặt kinh tế, địa vị siêu cường của Mỹ được xây dựng trên

cơ sở nền kinh tế khổng lồ Về mặt thương mại, Mỹ là thị trường lớn nhất thế giới với những phân đoạn thị trường rất đa dạng có thể thu hút và tiêu thụ rất nhiều chủng loại hàng hóa khác nhau Có thể nói, Mỹ là thị trường lý tưởng cho các công ty và doanh nghiệp trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam Đặc biệt, đối với những sản phẩm sử dụng nhiều sức lao động như sản phẩm của ngành ngành dệt may

1.1.2 Thị trường hàng dệt may có môi trường văn hóa xã hội thích hợp để phát triển

- Về cấu trúc gia đình : Trong vài thập kỷ gần đây, cấu trúc gia đình

Mỹ đã trải qua cuộc cách mạng với những thay đổi lớn để lại dấu ấn trong đời sống xã hội Cuộc sống phát triển cao, cường độ lao động căng thẳng, vai trò

cá nhân và sự cơ động đã làm cho người Mỹ thay đổi về căn bản quan điểm

về mô hình gia đình truyền thống Theo những số liệu của cuộc điều tra mới đây, số người trung bình trong gia đình Mỹ đã giảm xuống đáng kể Số người trong gia đình giảm, số phụ nữ tham gia lực lượng lao động tăng lên làm cho

Trang 9

mức chi tiêu cho các sản phẩm dệt may tăng tương ứng Các sản phẩm như quần áo thời trang, đồ thể thao, các sản phẩm trang trí nhà cửa như rèm, thảm

… tiêu thụ rất mạnh

- Về đặc điểm nhân khẩu học : thanh thiếu niên Mỹ ngày nay, thế hệ

con cái của những người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số những năm

1946 – 1964 đang nhanh chóng trở thành lớp người tiêu dùng mới Lứa thanh thiếu niên ngày nay có thu nhập cao hơn của bố mẹ và chi tiêu nhiều hơn so với lớp thanh thiếu niên của thế hệ trước Họ chi tiêu cho mua sắm quần áo rất lớn Lứa tuổi này rất chú ý tới thời trang và “hàng hiệu” Đồng thời, thế hệ thanh thiếu niên mới có được sự giáo dục cao nên họ thích ứng rất nhanh với những phương thức mua bán hàng mới như mua hàng trực tuyến (qua internet) cũng như nhanh chóng hấp thụ những dòng thời trang mới Điều này tạo điều kiện cho những công ty buôn bán hàng dệt may mở rộng hình thức phân phối và giới thiệu sản phẩm mới, đồng thời chu kỳ sống sản phẩm sẽ ngắn đi và mẫu mã sẽ phải thay đổi nhanh chóng hơn trước kia Do đó, đây là thách thức không nhỏ đối với ngành dệt may Việt Nam, khi thiết kế thời trang

và mẫu mã đang là khâu yếu nhất của chúng ta

Lứa tuổi từ 45 trở lên ở Mỹ chiếm 38% dân số, dự đoán sẽ tăng lên 41% vào năm 2010 Những người tiêu dùng thuộc lứa tuổi này có xu hướng tiết kiệm hơn, dù họ kiếm ra nhiều tiền Bởi vì, họ còn phải dành phần lớn nguồn thu nhập lo cho con cái học đại học, trả tiền mua nhà và tiết kiệm khi

về hưu Tuy nhiên, những người thuộc lớp này là nhóm người chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng mức tiêu thụ quần áo Họ thường quan tâm tìm kiếm những sản phẩm đáp ứng được những giá trị mà họ mong muốn với giá cả phù hợp

Số lượng người từ 65 tuổi trở lên ở Mỹ đang gia tăng, đây là tín hiệu tốt cho các nhà sản xuất hàng dệt may Nhóm người này ít quan tâm đến thời trang

mà chỉ chú ý nhiều đến sự thoải mái, tiện lợi và giá cả sản phẩm Các sản phẩm như quần áo mặc ở nhà, các trang phục khi làm vườn, quần áo mùa

Trang 10

đông… rất được nhóm khách hàng này chú ý tìm mua Đây là điểm thuận lợi cho xuất khẩu dệt may Việt Nam, vì thế dệt may Việt Nam có thể tập trung khai thác nhóm khách hàng này do sản phẩm của chúng ta có lợi thế lớn về giá cả

- Văn hóa trong giao tiếp, hợp tác kinh doanh của người Mỹ

Người Mỹ đặc biệt coi trọng sự đúng giờ trong các cuộc hẹn Do đó, việc trễ hẹn làm các doanh nhân Mỹ tỏ ra rất khó chịu Đặc điểm nổi bật trong cách thương lượng của doanh nhân Mỹ là sự nhanh chóng đi vào ngay mục đích chính của cuộc gặp, loại bỏ những lời lẽ rườm rà không cần thiết Ngoài

lý do tiết kiệm thời gian thì lý do chính là doanh nhân Mỹ muốn định đoạt nhanh chóng thương vụ Do thương lượng nhanh dễ xảy ra rủi ro nên doanh nhân Mỹ thường đưa ra hợp đồng soạn sẵn Trong hợp đồng đã chuẩn bị trước này, họ cố gắng khéo léo đưa vào những điều khoản ràng buộc chặt chẽ về số lượng, chất lượng và thời gian giao hàng cũng như các điều khoản khác có lợi cho họ Vì vậy, để tránh những khó khăn có thể phát sinh các nhà xuất khẩu dệt may Việt Nam cần phải đọc thật kỹ và hiểu thấu đáo những điều khoản do thương nhân Mỹ lập ra Trường hợp thấy bất ổn phải thương lượng để điều chỉnh cho tới khi đạt được như ý muốn thì mới ký kết Thương lượng với doanh nhân Mỹ không chỉ khó về số lượng đơn hàng thường rất lớn, về thời gian giao hàng chặt chẽ mà còn khó vì yêu cầu chất lượng Yêu cầu về chất lượng của tiêu chuẩn Mỹ khá cao cùng với sự yêu cầu cung cấp đủ loại giấy

tờ nhằm chứng thực cho chất lượng lô hàng Tốt nhất là các loại giấy này được các tổ chức quản lý chất lượng có tiếng tăm trên thế giới chứng nhận Nếu thiếu những loại giấy chứng nhận này thì chất lượng lô hàng coi như không bảo đảm và phải chịu mức giá mua thấp Đây là điều mà các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng cần phải chú ý quan tâm khi xuất khẩu Một phần do chúng ta có thói quen đảm bảo bằng uy tín của mình về chất lượng lô

Trang 11

hàng xuất khẩu mà không chú ý tới việc chứng nhận của bên thứ 3, phần khác nhiều doanh nghiệp dệt may Việt Nam không muốn làm do sợ chi phí cao

1.1.3 Có hệ thống luật pháp chặt chẽ và phức tạp

Pháp luật của Mỹ rất phức tạp, luật pháp minh bạch, công khai, đạt trình độ tinh vi và văn minh cao nhưng vận hành lắt léo Hệ thống pháp luật

Mỹ có hai đặc điểm chính như sau :

Thứ nhất : hệ thống luật pháp Mỹ là hệ thống Common Law Đây là

hệ thống luật hình thành và tồn tại ở Anh và Mỹ Đặc điểm của của Common Law là thiếu sự hệ thống hóa, bất thành văn và chủ yếu dựa trên tiền lệ xét xử Common Law chủ yếu bao gồm các nguyên tắc pháp lý hàm chứa trong các phán quyết của tòa án Nghĩa là, ở những nước sử dụng Common Law, tòa án không chỉ là cơ quan xét xử mà còn là cơ quan làm luật [4, 25]

Thứ hai : hệ thống pháp luật Mỹ được chia thành hai ngành Công Pháp

(Public Law ) và Tư Pháp ( Private Law ) Luật Công thường được hệ thống hóa và ban hành dưới hình thức văn bản Luật Công gồm có Luật Hiến pháp, Luật Nhà nước, Luật Hình sự và những văn bản qui định về chính sách đối ngoại, chính sách xuất nhập khẩu… Còn Luật Tư phần lớn vẫn tồn tại dưới hình thức các án lệ Luật Tư bao gồm Luật Dân sự, Luật Thương mại … [4,25]

Từ những đặc điểm nổi bật trên, chúng ta thấy Mỹ là quốc gia có hệ thống luật pháp rất chặt chẽ và phức tạp Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu để nắm vững hệ thống luật này là không đơn giản Khi buôn bán với Mỹ các công ty của các nuớc khác đều phải thuê luật sư với chi phí rất cao Những vấn đề này hiện đang là trở ngại lớn cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

do đặc thù của chúng ta là các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không có sự liên kết và phối hợp hiệu quả Thiếu hiểu biết về hệ thống luật pháp cũng như các quy định liên quan trong chính sách thương mại Mỹ làm hạn chế đến quan hệ

Trang 12

đối tác, thâm nhập và mở rộng thị trường của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

1.1.4 Đặc điểm cung cầu của thị trường Mỹ có nhiều thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng dệt may

Thị trường hàng dệt may Mỹ được chia thành ba nhóm hàng phục vụ cho ba phân khúc riêng biệt và rõ ràng, đó là: bình dân, trung bình và cao cấp Trong nhóm hàng dệt may bình dân phải kể đến nhóm hàng giá rẻ được bán trong các cửa hàng hạ giá ( Discounters ) với nhãn mác riêng của cửa hàng bên cạnh một số sản phẩm thương hiệu khác ( không nổi tiếng) với giá

cả rất hạ Hai nhóm hàng còn lại , hàng trung bình và cao cấp, chủ yếu được bày bán trong các cửa hiệu quần áo sang trọng hay trong các quầy hàng của các trung tâm thương mại lớn, là những mặt hàng giá cao đi đôi với chất lượng cũng rất cao

1.1.4.1 Tình hình cầu hàng dệt may

Có thể nói thị trường dệt may Mỹ là thị trường lý tưởng với các yếu tố

cơ bản như dân số đông, tỷ lệ dân sống ở thành thị nhiều, thu nhập cao và đặc biệt người tiêu dùng thích mua sắm Người Mỹ dành khá nhiều thời gian cho mua sắm quần áo, trung bình một năm mỗi người Mỹ đi mua sắm quần áo khoảng 22 lần So sánh với Đông Âu – 14 lần, Châu Á – 13 lần, Châu Mỹ La Tinh – 8 lần[27] cho thấy nhu cầu về hàng may mặc ở Mỹ đang dẫn đầu thế giới

Bảng 1.1 : Những nước có chi phí mua sắm quần áo cao nhất thế

giới theo bình quân đầu người năm 2002

( Đơn vị : USD ) Nước Đức Hồng Kông Anh Mỹ Chi phí trung bình cho

quần áo/người/năm 1320 1260 1144 1100

( Nguồn : Bộ thương mại Mỹ – USDOC, 2003 )

Trang 13

Qua bảng 1.1, ta thấy chi phí trung bình mà một người Mỹ mua quần

áo trong một năm là 1100 USD, đứng hàng thứ 4 trên thế giới sau người Đức, người Hồng Kông và người Anh Với mức chi tiêu cho quần áo cao và số lượng khách hàng lớn, thâm nhập thị trường Mỹ là cơ hội tốt để các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phát triển sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh qua đó tích lũy vốn cho quá trình phát triển sau này

Bảng 1.2 : Tỷ lệ tăng trưởng mức tiêu thụ và tỷ lệ chi tiêu trong

tổng thu nhập của người dân Mỹ cho hàng dệt may

Năm 1989 – 2000 Năm 2001 – nay

Tỷ lệ tăng trưởng mức tiêu thụ 15% 10%

Tỷ lệ % chi tiêu cho hàng dệt may

120 tỷ USD, trong đó nhập khẩu là 66,5 tỷ chiếm 55,4% tổng mức tiêu thụ.[16,17,27] Mặc dù tỷ lệ tăng trưởng mức tiêu thụ có giảm sút nhưng tỷ lệ chi tiêu dành cho hàng may mặc trong tổng thu nhập của người dân Mỹ lại có

xu hướng tăng lên Trong những năm từ 2001 trở về đây, mức chi tiêu cho hàng dệt may tăng 6,3% cao hơn so với mức tăng 4,2% trong thời kỳ trước

đó Trong tình trạng dân số Mỹ đang tăng trưởng chậm, lớp thanh niên say mê thời trang và cuồng nhiệt mua sắm đang ngày một ít đi Để cạnh tranh thu hút khách hàng, các nhà phân phối hàng dệt may Mỹ liên tục hạ giá bán lẻ Do đó các nhà phân phối phải tìm nguồn hàng nhập khẩu từ những nước có chi phí

Trang 14

nhân công thấp để giảm giá thành Đây là tín hiệu tốt cho các nước đang xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ như Việt Nam

- Thói quen tiêu dùng của người Mỹ

Người Mỹ là một dân tộc chuộng mua sắm và tiêu dùng Họ có tâm lý

là càng mua sắm tiêu xài nhiều thì càng kích thích sản xuất và dịch vụ tăng trưởng từ đó làm cho kinh tế phát triển Người Mỹ rất thực tế, họ luôn cân nhắc sao cho số tiền bỏ ra mua sản phẩm mang lại hiệu quả cao nhất

Đối với các sản phẩm cá nhân như quần áo, hàng may mặc, người Mỹ thích sự đơn giản nhưng hiện đại và hợp thời trang Những hàng dệt may là

đồ hiệu thì càng được yêu thích và mua nhiều Mặt khác khi chọn mua hàng dệt may người Mỹ coi trọng sự khác biệt hay tính độc đáo trong sản phẩm Ở

Mỹ không tồn tại tính ước lệ hay tiêu chuẩn thẩm mỹ mạnh mang tính định hướng như những nước khác Thị hiếu của người tiêu dùng Mỹ rất đa dạng do nhiều nền văn hóa khác nhau cùng tồn tại Chính điều này đã tạo nên sự khác biệt trong thói quen tiêu dùng ở Mỹ khác với thói quen tiêu dùng ở các nước châu Âu Người tiêu dùng Mỹ cũng coi trọng chất lượng nhưng họ đề cao những sự thay đổi, tính cải tiến trong sản phẩm Điều đó dẫn đến việc thời gian người tiêu dùng Mỹ thay đổi sản phẩm nhanh hơn so với người tiêu dùng các nước phát triển khác Do đó, giá cả sản phẩm ở Mỹ được coi trọng hơn do việc người Mỹ thường thay đổi sản phẩm sau một thời gian ngắn Nói tóm lại, chất lượng, sự tiện lợi, nét độc đáo trong sản phẩm và giá bán cạnh tranh là những yếu tố ưu tiên được người tiêu dùng Mỹ quan tâm khi cân nhắc mua hàng

Những đặc điểm trên của người tiêu dùng Mỹ mang lại cho dệt may Việt Nam nhiều thuận lợi và đồng thời đối mặt với không ít khó khăn Thuận lợi lớn nhất của dệt may Việt Nam là giá cả sản phẩm phù hợp cho mọi đối tượng khách hàng, các sản phẩm cần sự tỷ mỷ khéo léo nhưng nhược điểm của chúng ta là không nhanh nhạy trong việc nắm bắt nhu cầu, xu hướng thời

Trang 15

trang Do đó, việc tiếp tục đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực thiết kế, tiếp thị sản phẩm là điều vô cùng cấp bách và cần thiết

1.1.4.2 Tình hình cung hàng dệt may

Dệt – may là ngành công nghiệp đứng thứ 10 trong các ngành công nghiệp tại Mỹ, vào những năm 1970 nó đã thu hút tới 1,4 triệu lao động Tuy nhiên trong hơn hai thập kỷ qua do những thành tựu của khoa học công nghệ

đã góp phần giải phóng sức lao động của con người nên số lượng lao động trong ngành này đã giảm nhanh chóng Hoạt động trong ngành công nghiệp dệt của Mỹ tiếp tục giảm, đặc biệt là việc giao hàng của các nhà máy dệt giảm sút liên tục trong những năm gần đây bởi sự cạnh tranh ồ ạt bằng giá của hàng nhập khẩu từ Châu Á.[8, 25] Ngành công nghiệp dệt – may của Mỹ không còn phát huy được lợi thế so sánh như trước kia bởi chi phí sản xuất cao, chi phí nhân công tốn kém làm cho lợi nhuận cũng giảm Do vậy năng lực sản xuất của ngành công nghiệp dệt – may Mỹ đang thu hẹp dần trong những năm gần đây

Tổng giá trị hàng dệt may nhập khẩu hàng năm của Mỹ khoảng 60 – 70

tỷ USD Trong tổng lượng hàng hóa dệt may nhập khẩu, nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất là quần áo may sẵn chiếm tỷ trọng cao nhất chiếm 89% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ chủ yếu từ các nước châu Á (như Trung Quốc,

Ấn độ, Thái lan …) và từ các nước châu Mỹ (như Mêxicô, Canada ) Các nhóm hàng may mặc nhập khẩu vào Mỹ khá đa dạng phong phú nhưng nhiều nhất là 6 nhóm hàng được thể hiện trong bảng 1.3 dưới đây

Bảng 1.3 : Sáu nhóm hàng may mặc nhập khẩu chủ yếu của Mỹ

Trang 16

Vải không dệt từ sợi cotton và nhân tạo

Áo sơ mi dệt kim từ sợi cotton

4,65 %

4,27 %

4,22 %

(Nguồn: Hải quan Mỹ UScustoms, 2004: http://www.uscustoms.gov.com )

Nhập khẩu bông, sợi ( sợi bông, sợi nhân tạo, vải vóc nguyên phụ liệu) chỉ chiếm 11% Các loại bông và sợi này hầu hết là những loại mà Mỹ không sản xuất hoặc là những mặt hàng có chất lượng cao của các nước khác, được

Mỹ mua về gia công thêm đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước

Bảng 1.4 : Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may vào thị trường

( Nguồn : Bộ Thương Mại Mỹ- USDOC, 2005)

Qua số liệu bảng 1.4, chúng ta thấy: Năm 2001, do ảnh hưởng của sự kiện khủng bố 11/9, trị giá nhập khẩu mặt hàng dệt may vào Mỹ khoảng 64,6

tỷ USD giảm so với năm 2000 Sự kiện 11/9 bồi một đòn rất nặng làm cho nền kinh tế Mỹ thêm chao đảo sau sự suy sụp thị trường chứng khoán Chính

vì vậy, người tiêu dùng Mỹ rất hoang mang và bi quan nên thắt chặt chi tiêu cho hàng dệt may Trong năm 2002, do hậu quả của sự kiện 11/9, trị giá hàng dệt may nhập khẩu tiếp tục giảm gần 11% so với cùng kỳ năm 2001 còn 57,6

tỷ Tuy nhiên, sau nhiều tháng vật lộn, kinh tế Mỹ đã lấy lại đà tăng trưởng từ giữa năm 2003; dù khá mong manh nhưng đó là tín hiệu tốt tạo đà tâm lý cho người tiêu dùng Mỹ tiếp tục mở hầu bao chi tiêu vào các sản phẩm dệt may

Do đó, trong năm này, tăng trưởng nhập khẩu hàng dệt may đã đạt 8,7% đưa

Trang 17

trị giá nhập khẩu lên thành 62,6 tỷ USD Trong năm 2004 và 2005, thị trường dệt may Mỹ cũng như thế giới phát triển theo xu thế mở rộng, khối lượng buôn bán không ngừng tăng lên theo đà phục hồi và phát triển của đầu tàu – kinh tế Mỹ Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may trong năm 2004 là 66,5

tỷ USD/năm tăng 6,2% so với năm trước Năm 2005 được coi là năm bản lề cho sự phát triển của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may khi Hiệp định về hàng dệt may (ATC) của WTO chấm dứt hiệu lực, xóa bỏ hoàn toàn chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may của các nước thành viên WTO, nhập khẩu hàng dệt may vào Mỹ đã tăng so với năm trước là 11,3% Mặc dù Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO và vẫn phải chịu bị áp dụng chế độ hạn ngạch với hàng dệt may, nhưng với xu hướng gia tăng trong nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ như trên cũng là một cơ hội cho dệt may Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Mỹ Tuy nhiên để làm được điều này, chúng ta cũng sẽ gặp nhiều thách thức không nhỏ từ phía các nước xuất khẩu dệt may khác đang quyết liệt cạnh tranh với chúng ta

Trong số những nước xuất khẩu dệt may nhiều nhất vào Mỹ thì đứng đầu là Mêxicô, tiếp đó là Trung quốc Trong đó, Mêxicô là nước từ nhiều năm liên tục dẫn đầu do lợi thế về địa lý và là nước cùng nằm trong khối NAFTA Trung Quốc là nước đứng thứ hai chiếm 16% thị phần trong năm 2003 nhưng lại là nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào Mỹ cao nhất Hàng năm nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ từ Trung Quốc tăng tới 20%.[20, 26] Việc nhập khẩu tăng nhanh của Mỹ từ Trung Quốc là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi giữa hai nước trong thời gian gần đây Theo dự đoán của các chuyên gia trong ngành dệt may, tới năm 2006, Trung Quốc sẽ chiếm tới 71% thị phần dệt may Mỹ Việt Nam cũng là nước xuất khẩu hàng dệt may có tốc độ tăng trưởng mạnh sang thị trường Mỹ Năm 2002, nhờ sau khi Hiệp Định Thương Mại Việt – Mỹ có hiệu lực, lượng hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu tăng đột biến đạt 975 triệu USD tăng tới 1797% so với năm trước đó Tuy

Trang 18

nhiên nếu so sánh về giá trị tuyệt đối với hai nước đang dẫn đầu là Mêhicô, năm 2003 xuất khẩu 6,5 tỷ USD, Trung quốc, năm 2003 xuất khẩu 4,2 tỷ USD vào thị trường Mỹ thì giá trị xuất khẩu của chúng ta vẫn còn quá nhỏ bé Điều này đòi hỏi dệt may Việt Nam phải cố gắng nhiều hơn nữa để khai thác tốt hơn tiềm năng và lợi thế của bản thân

- Về hệ thống phân phối : các công ty, cửa hàng bán lẻ là cầu nối quan

trọng giữa nhà sản xuất, phân phối và người tiêu dùng Các công ty phân phối của Mỹ là những công ty rất lớn về quy mô lẫn sức mạnh tài chính Nhìn chung các kênh phân phối tại thị trường dệt may Mỹ gồm có

+ Các cửa hàng bán lẻ ( Retail Shop ) : bao gồm những cửa hàng nhỏ bán với giá thấp hơn từ 15 – 20% so với giá ở các siêu thị Các cửa hàng này bán hàng dệt may rất nhiều Thường là những mặt hàng có nhãn hiệu ít người biết, giá rẻ được nhập khẩu từ các nước Châu Á

+ Các cửa hàng chuyên doanh ( Speciality Store ) : bao gồm hệ thống những cửa hàng chuyên về một nhóm sản phẩm dệt may có nhãn hiệu nổi tiếng và chất lượng cao Giá bán rất cao phục vụ cho tầng lớp thượng lưu

+ Các siêu thị ( Department Store ) : bao gồm hệ thống bán lẻ hàng tiêu dùng trong đó chù yếu là quần áo và dụng cụ gia đình

+ Các cửa hàng bán lẻ quốc gia ( Chain Store hay National Account ): bao gồm hệ thống cửa hàng có mạng lưới rộng khắp cả nước chủ yếu bán quần áo, giầy dép …

+ Các cửa hàng giảm giá ( Discount Store ) đây là các cửa hàng có tổ chức tương tự như các siêu thị nhưng có quy mô lớn hơn nhiều lần, bán hàng với giá cả phải chăng Tiêu biểu trong số này là hệ thống cửa hàng của Walmart

+ Các công ty bán hàng qua bưu điện : đây là loại công ty chuyên giới thiệu sản phẩm qua catalogue, tờ rơi… nhận đơn đặt hàng qua điện thoại hay internet rồi chuyển hàng đến cho người mua qua đường bưu điện Hình thức

Trang 19

bán hàng này đang phát triển mạnh trong kinh doanh bán lẻ tại Mỹ Hình thức này rất phổ biến với các công ty kinh doanh dệt may từ những công ty nhỏ cho đến các đại công ty Hình thức mua hàng trực tuyến cũng đang là lĩnh vực kinh doanh mới đối với mặt hàng thiết yếu này

1.2 NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG

1.2.1 Những qui định trong hệ thống cơ chế chính sách của Mỹ đối với hàng dệt may nhập khẩu

1.2.1.1 Cơ chế quản lý của Mỹ đối với hàng dệt may nhập khẩu

Hoạt động nhập khẩu hàng hóa vào Mỹ chịu sự điều tiết bởi hệ thống luật chặt chẽ, chi tiết Các sản phẩm dệt may Việt Nam khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ đều phải tuân thủ từ chế độ hạn ngạch phức tạp, các yêu cầu chặt chẽ về chứng nhận xuất xứ, chất lượng sản phẩm cho đến các qui định về bảo

vệ quyền sở hữu trí tuệ Vì thế, việc nắm vững cơ chế quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ sẽ cho phép đề xuất những giải pháp thâm nhập thị trường có hiệu quả

* Hạn ngạch nhập khẩu và visa đối với hàng dệt may

Đối với những nước chưa phải là thành viên của WTO và các sản phẩm chưa hòa nhập theo hiệp định ATC sẽ phải chịu việc áp dụng chế độ Visa xuất khẩu đối với hàng dệt may Biện pháp này được sử dụng để quản lý hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ

Mỹ duy trì một hệ thống hạn ngạch rất lớn và phức tạp đối với những sản phẩm dệt và nguyên liệu dệt Hạn ngạch nhập khẩu vào Mỹ được quy định theo chủng loại hàng (cat - category ), khối lượng được tính theo mét vuông (m2) hoặc tương đương

Hạn ngạch được phân theo các loại: hạn ngạch tuyệt đối và hạn ngạch điều chỉnh linh hoạt Hạn ngạch được phép bù trừ và chuyển đổi cùng chủng loại cat năm trước không dùng hết sang năm sau, vay trước cat của năm sau hay được phép hoán đổi giữa các sản phẩm trong năm

Trang 20

- Hạn ngạch tuyệt đối là hạn ngạch hạn chế số lượng nhập khẩu Trong

suốt thời gian áp dụng hạn ngạch chỉ một số hàng hóa nhập khẩu đã được ấn định trước số lượng mới được phép nhập khẩu vào Mỹ Số hàng hóa bị dư ra

so với hạn ngạch sẽ được đưa vào “khu ngoại thương” hoặc ngoại quan để bổ sung cho kỳ hạn ngạch sau hoặc tùy trường hợp sẽ bị trả về hoặc tiêu hủy dưới sự giám sát của nhân viên hải quan

- Hạn ngạch theo thuế suất là hạn ngạch tính theo thuế suất áp dụng cho

khối lượng hàng hóa nhập khẩu được quy định với mức thuế thấp trong một thời gian nào đó Nếu hàng hóa nhập khẩu vượt quá số lượng cho phép mức thuế thấp đó thì số lượng hàng hóa nhập khẩu dư sẽ phải chịu mức thuế cao hơn

Hàng dệt may muốn nhập khẩu vào Mỹ phải có visa Visa này được dùng để kiểm soát việc xuất khẩu hàng dệt may và sản phẩm hàng dệt từ nước ngoài vào Mỹ hoặc dùng để kiểm soát việc nhập khẩu lậu mặt hàng này vào

Mỹ Visa hàng dệt may là dấu xác nhận trên hóa đơn hoặc giấy phép kiểm soát nhập khẩu do chính phủ nước ngoài cấp [8, 27]

* Quy định về xuất xứ và ghi nhãn hàng hóa

Ở Mỹ, người ta rất quan tâm tới xuất xứ và nhãn mác của sản phẩm Đối với tất cả sản phẩm dệt may khi được xuất khẩu vào Mỹ phải được ghi nhãn, nêu rõ tên nhà sản xuất và nước chế tạo, gia công sản phẩm

Luật áp dụng chủ yếu về nhãn hàng hóa là Luật xác định sản phẩm sợi dệt và Luật về nhãn hiệu sản phẩm bằng len Luật này qui định rằng tất cả các sản phẩm sợi dệt khi nhập khẩu vào Mỹ đều phải đóng dấu, niêm phong kín

và ghi nhãn hoặc được ghi những thông tin sau :

- Tên riêng các loại sợi và tỷ lệ phần trăm trọng lượng các chất sợi có trong sản phẩm

- Tên của nhà sản xuất hoặc tên hay số đăng ký chứng minh Số đăng

ký chứng minh này do Uy Ban Thương Mại Liên Bang Mỹ cấp

Trang 21

- Tên quốc gia nơi sản phẩm được gia công hoặc sản xuất

Đối với sản phẩm len có qui định riêng theo Luật về nhãn hiệu sản phẩm len Nhãn hàng hóa sản phẩm len theo luật này phải bao gồm

- Tỷ lệ trọng lượng của tổng các sợi có trong sản phẩm len

- Tỷ lệ trọng lượng tối đa của sản phẩm len và của các chất liệu không phải là sợi

- Tên của nhà nhập khẩu

Luật xác định các sản phẩm sợi dệt và Luật về nhãn hiệu các sản phẩm len qui định chi tiết về loại nhãn hàng hóa, cách thức gắn nhãn, vị trí nhãn trên sản phẩm và nhãn trên bao bì.[8, 27]

* Quy định về tờ khai xuất xứ hàng hóa

Tờ khai xuất xứ hàng hóa phải được đính kèm với lô hàng nhập khẩu Nguyên nhân là sự hạn chế về hạn ngạch được áp dụng riêng cho từng quốc gia và dựa trên nguồn gốc xuất xứ của lô hàng

- Tờ khai xuất xứ hàng hóa đơn là tờ khai xuất xứ được dùng cho việc

nhập khẩu hàng dệt may mà chỉ có nguồn gốc xuất xứ từ một quốc gia hoặc được gia công tại một quốc gia bằng nguyên liệu sản xuất tại Mỹ hoặc từ một quốc gia khác với nơi mà sản phẩm được sản xuất Thông tin cần có là ký hiệu nhận dạng, mô tả, số lượng , quốc gia xuất xứ và ngày xuất khẩu

- Tờ khai xuất xứ kép được dùng cho việc nhập khẩu hàng dệt may mà

hàng đó được sản xuất hay gia công từ nguyên liệu của nhiều nước khác nhau

- Tờ khai phụ ( Negative Declaration ) phải được đính kèm trong tất cả

các lô hàng nhập khẩu không thuộc quy định của Luật về sản phẩm dệt dễ cháy

* Qui định về nhập khẩu hàng dễ cháy

Phần lớn các sản phẩm dệt may nhập khẩu vào Mỹ để tiêu thụ đều phải tuân thủ các quy định của Luật về sản phẩm dễ cháy Luật này quy định về tính dễ bén lửa đối với hàng dệt may

Trang 22

* Quy định về tiêu chuẩn an toàn lao động

Các tiêu chuẩn về lao động và môi trường, Mỹ yêu cầu một số mặt hàng trong đó có hàng dệt may phải đáp ứng được tiêu chuẩn SA8000 SA8000 là tiêu chuẩn đưa ra các yêu cầu về quản trị trách nhiệm xã hội, được xây dựng nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động

Bên cạnh đó, Mỹ cũng đưa ra những qui định khác trên cơ sở những điều luật của WTO nhằm mục đích bảo vệ thị trường dệt may nội địa như :

* Quyền tự vệ : Mỹ sẽ giành quyền đơn phương hủy bỏ các ưu đãi về

thuế và phi thuế quan cũng như áp dụng các biện pháp hạn chế nếu xét thấy sản xuất trong nước bị phương hại do hàng dệt may nhập khẩu

* Luật chống bán phá giá ( anti-dumping ) : Khi thấy hiện tượng một

sản phẩm bán phá giá vào thị trường Mỹ, sau khi điều tra nếu kết luận là đúng thì Mỹ sẽ đánh thuế đối kháng vào mặt hàng này để triệt tiêu tác động việc bán phá giá

* Luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ : Mỹ là quốc gia có các hình phạt

rất nặng đối với việc sử dụng bất hợp pháp tác quyền, quyền sở hữu công nghiệp…

* Luật trách nhiệm sản phẩm : luật này qui định người sản xuất phải

chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa đối với sức khỏe người tiêu dùng

Tóm lại với hệ thống luật pháp chặt chẽ, những qui định nghiêm ngặt nhằm kiểm soát hoạt động xuất khẩu dệt may vào Mỹ và để bảo vệ thị trường nội địa, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải mất nhiều thời gian, công sức và chi phí để tìm hiểu Nhưng đây là điều hoàn toàn cần thiết nếu các nhà xuất khẩu không muốn phải chịu những trách nhiệm pháp lý không đáng có làm ảnh hưởng đến uy tín cũng như kết quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp mình

1.2.1.2 Chính sách nhập khẩu của Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam

Trang 23

Mỹ dùng chính sách nhập khẩu – thể hiện trước hết là ở mức thuế suất

và kết hợp với một số ưu đãi phi thuế quan khác - của mình như một công cụ

để phục vụ cho lợi ích kinh tế và ngoại giao

Theo Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, Việt Nam được coi là nước đang phát triển với trình độ thấp, có nền kinh tế đang chuyển đổi Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam nằm trong khuôn khổ chung của quốc tế Khi Hiệp định Thương mại có hiệu lực, Việt Nam lập tức được hưởng qui chế thương mại bình thường ( NTR – Normal Trade Relations ) hay còn gọi là quy chế Tối huệ quốc (MFN – Most Favoured Nations ) tương đương với các nước thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO Chỉ có một điểm khác duy nhất là chế độ NTR của Mỹ dành cho Việt Nam được xem xét lại hằng năm theo đạo luật Jackson – Vanik Chỉ khi Việt Nam gia nhập WTO mới được hưởng quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR- Permanent Normal Trade Relations)

Những mặt hàng chịu sự điều tiết của Hiệp định dệt may giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không được hưởng mức thuế ưu đãi theo chế độ thuế quan phổ cập (GSP) của Hoa Kỳ Trong khi đó, những nước được hưởng GSP của Hoa Kỳ đa số có cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu tương tự như Việt Nam Đây

là một khó khăn lớn đối với Việt Nam trong cạnh tranh về hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường Mỹ

Chính sách nhập khẩu của Mỹ đối với Việt Nam với các điều khoản tương đương với các nước phát triển khác đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Mỹ trong thời gian vừa qua Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế thế giới đang có những biến chuyển sâu sắc, áp lực cạnh tranh ngày càng tăng và đặc biệt, quan hệ hai nước có những bước phát triển tích cực như hiện nay, việc tiếp tục đàm phán với phía Mỹ nhằm xóa bỏ hoàn toàn việc áp đặt hạn ngạch, mở rộng cửa thị trường và tạo điều

Trang 24

kiện ưu đãi hơn nữa cho xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ

là điều rất cần thiết và cấp bách, đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách đối ngoại hướng về kinh tế một cách linh hoạt và phù hợp hơn nữa

1.2.2 Các điều khoản của Hiệp định về hàng dệt may

Ngay từ những năm đầu của hệ thống thương mại đa phương, đánh dấu bằng sự ra đời của tổ chức GATT, tiền thân của WTO, năm 1947, ngành dệt may đã là một vấn đề khúc mắc trong các vòng thương thuyết nhằm tự do hóa các luồng thương mại Trong hơn 30 năm ngành này không được điều tiết bởi các quy tắc chung áp dụng cho mậu dịch hàng hóa mà bởi các chế độ riêng:

Các Hiệp định ngắn hạn về mậu dịch quốc tế bông sợi ( Sort Term

Arrangement Regarding International Trade Cotton textitle- STA), 1961;

Hiệp định dài hạn về mậu dịch quốc tế bông sợi ( Long Term Arrangement

Regarding International Trade Cotton textitle- LTA), 1962-1973; Hiệp định

về các loại sợi ( Arrangement regarding International Trade in Textile) Hay còn gọi là Hiệp định đa sợi ( Multifibre Arrangement -MFA), 1974-1994; Từ

năm 1995, ngành dệt may được điều tiết bởi Hiệp ước về dệt may (Agreement

on Textiles and Clothing – ATC), một trong những hiệp ước ký kết sau vòng thương thảo Urugoay Round, thay thế Hiệp định MFA và quy định những biện pháp chuyển tiếp nhằm đưa toàn bộ ngành dệt may vào khung pháp lý chung của WTO

Mỹ là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) tham gia Hiệp định Đa sợi (MFA) trong khuôn khổ GATT và tuân thủ những nguyên tắc chung của Hiệp định này trong đàm phán thương mại song phương và đa phương Hiệp định này cho phép thỏa thuận song phương giữa nước nhập và nước xuất khẩu hàng dệt Đồng thời cho phép mỗi nước được đơn phương định đoạt khi thấy rằng thị trường của mình bị phương hại, cho phép áp dụng hạn ngạch (quota) để hạn chế số lượng Mức hạn chế này dựa trên cơ sở khối lượng mậu dịch Quota được bù trừ chuyển hoán qua lại giữa các loại sản

Trang 25

phẩm và giữa các năm Những quy định này về chế độ hạn ngạch đã vi phạm các nguyên tắc của GATT nên năm 1994 trong khuôn khổ Vòng đàm phán Urugoay, các nước thành viên GATT đã thỏa thuận một hiệp định mới là Hiệp định về hàng dệt may (ATC) nhằm đưa thương mại hàng dệt may trở lại với các nguyên tắc của WTO Theo ATC, quá trình tự do hóa thương mại dệt may sẽ diễn ra theo 4 giai đoạn, kết thúc vào ngày 1/1/2005, khi đó chế độ hạn ngạch sẽ bị bãi bỏ đối với các nước là thành viên của WTO và thuế sẽ giảm trung bình 9% Mỹ là thành viên của WTO cũng phải tuân thủ cam kết này, những trên thực tế thi hành ở Mỹ vẫn còn có những biện pháp bảo hộ để tránh tình trạng các nước có lợi thế nhân công sẽ xuất khẩu hàng tràn lan vào

Mỹ Vẫn căn cứ vào quy định của Hiệp định Đa sợi (MFA), Tổng thống Mỹ quyết định việc đàm phán Hiệp định hàng dệt song phương giữa Mỹ và các nước Hiệp định hàng dệt song phương xây dựng trên cơ sở thương lượng, hiệu lực từ 3-6 năm, Hiệp định hàng dệt quy định các điều khoản cơ bản sau đây:

- Hạn ngạch (quota) được xuất sang Mỹ: quy định theo chuẩn loại hàng, khối lượng tính theo m2, hoặc tương đương

- Hạn ngạch chia ra loại hạn ngạch tổng hợp, loại cụ thể, loại điều chỉnh linh hoạt

- Hiệp định quy định cơ chế tham khảo ý kiến giữa Mỹ và nước ký kết Nếu nước ký kết không tuân thủ, Mỹ giành quyền đơn phương cắt bỏ hạn ngạch cấm nhập khẩu

Tuy đã ký cho các nước hưởng quota, ưu đãi thuế quan nhưng Mỹ vẫn giành quyền tự vệ Khi xét thấy nền sản xuất trong nước bị hàng nhập đe dọa,

Mỹ sẽ đơn phương giành quyền cắt bỏ ưu đãi đã thỏa thuận Trong một số trường hợp Mỹ còn yêu cầu nước cung cấp phải có biện pháp quản lý xuất khẩu hàng dệt may để tránh xuất khẩu ồ ạt sang Mỹ Chẳng hạn như trường hợp của Trung Quốc trong thời gian vừa qua đã bị Hoa Kỳ tái áp dụng hạn

Trang 26

ngạch đối với một số mặt hàng để ngăn chặn sự chiếm lĩnh thị trường dệt may trong nước

Khi chế độ hạn ngạch không còn nữa, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may trên thế giới sẽ phải cạnh tranh bình đẳng với nhau, trong khi đó Việt Nam vẫn đang bị phụ thuộc vào chế độ hạn ngạch Nếu không kịp thời có sự điều chỉnh theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh thì việc mất thị trường, đơn hàng, mất việc làm sẽ không tránh khỏi Bên cạnh những lý do trên, sự phân biệt đối xử của Mỹ đối với Việt Nam cũng gây cản trở cho quá trình xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ Có thể nói các nước trong khu vực như Trung Quốc,Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông… phát triển được ngành dệt may là nhờ sự thành công trong việc thương lượng với Mỹ về hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam là nước đến sau, lại

bị phân biệt đối xử nên phải chịu nhiều thiệt thòi trong việc thâm nhập vào thị trường này

Ngoài những nguyên tắc chung của WTO, khi ký Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ ( BTA), các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của những quy định theo Hiệp định này

Trong chương I, Thương mại hàng hóa, Điều 1.4 của Hiệp định nêu rõ

cơ chế NTR (MFN) không áp dụng đối với các biện pháp hạn chế định lượng

và giấy phép liên quan đến hàng dệt may Nói cách khác, Mỹ sẽ dành cho Hiệp định Thương mại xuất khẩu của Việt Nam thuế suất MFN nhưng các biện pháp hạn chế định lượng và giấy phép sẽ không được áp dụng theo nguyên tắc MFN Điều đó có nghĩa là Mỹ sẽ tiếp tục duy trì chế độ phân bổ hạn ngạch hàng dệt may đối với Việt Nam cho tới khi gia nhập WTO Đồng thời Việt Nam tiếp tục chịu sự phân biệt đối xử trong phân bổ hạn ngạch dệt may Hiện nay Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO, Hiệp định song phương cũng tách riêng lĩnh vực dệt may, thực tế kinh nghiệm của Trung Quốc và Campuchia cho thấy phía Mỹ sẽ rất tích cực trong vấn đề này Cụ thể

Trang 27

là đối với Trung Quốc, Mỹ đã áp dụng hạn ngạch hàng dệt may ngay từ khi

có Hiệp định song phương năm 1979 Đối với Campuchia, ngay năm đầu sau khi ký Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc đã tăng mạnh từ 2,3 triệu USD năm 1996 lên 130 triệu USD năm 1998 nhờ việc giảm thuế quan phổ thông trung bình từ 69,2% xuống mức thuế MFN trung bình 12,8%, ngay sau đó Mỹ đã áp dụng hạn ngạch để khống chế

Với nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may rất lớn, Mỹ là một thị trường hấp dẫn với nhiều quốc gia, thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà xuất khẩu dệt may lớn trên thế giới Tuy chính phủ Mỹ đã sử dụng chính sách điều tiết nhập khẩu hàng dệt may rất chặt chẽ, sử dụng hàng rào thuế quan và phi thuế quan nhưng một số nước mà đại diện là Trung Quốc đã áp dụng nhiều biện pháp, đặc biệt là tận dụng lợi thế giá nhân công thấp, tay nghề khá để thâm nhập mạnh vào thị trường Mỹ, đưa kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này tăng mạnh Mặc dù Việt Nam chưa phải là thành viên của WTO, vẫn phải chịu áp dụng chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may vào thị trường

Mỹ, nhưng hiện tại và trong tương lai thì dệt may có thể trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Mỹ

1.2.3 Cạnh tranh trên thị trường Mỹ

Thị trường Mỹ là thị trường lớn nhất thế giới, hầu hết các nước đều chọn thị trường này là thị trường xuất khẩu chính nên sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt Việt Nam mới chỉ thực sự thâm nhập thị trường Mỹ kể từ năm 2002, sau khi Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ

có hiệu lực, trong khi đó các đối thủ cạnh tranh của ta đã có hệ thống bạn hàng nhập khẩu và phân phối tại thị trường này từ rất lâu

Các quốc gia cạnh tranh về hàng dệt may ở thị trường Mỹ có thể được chia thành 2 nhóm:

- Nhóm cạnh tranh dựa vào giá bán sản phẩm, năng lực cạnh tranh cao như: Trung Quốc, Ấn Độ, Bănglađet, Xrilanca, Pakistan

Trang 28

- Nhóm cạnh tranh dựa vào tiếp cận gần, thời hạn giao hàng nhanh: Mexico, Columbia, Thổ Nhĩ Kỳ, các nước trong khu vực lòng chảo Caribe Các nước này có lợi thế là vị trí địa lý gần với các thị trường chính của Mỹ được hưởng lợi trực tiếp và không bị áp dụng chế độ hạn ngạch

Có thể điểm qua một số các nước xuất khẩu dệt may mạnh, đây là những nước được đánh giá là các đối thủ nặng ký đối với dệt may Việt Nam không chỉ trên thị trường Mỹ mà còn trên bình diện thế giới Đó là :

- Mêxicô : từ nhiều năm nay là nước liên tục đứng đầu trong danh sách các nước xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ Ưu điểm của Mêxicô là nước nằm ngay cạnh Mỹ, là thành viên của Hiệp Định Thương Mại Tự Do Bắc Mỹ và ưu thế tương đối về giá nhân công so với Mỹ

- Trung Quốc : Trong các đối thủ cạnh tranh, thì Trung Quốc được coi

là đối thủ cạnh tranh mạnh nhất không chỉ với Việt Nam mà cả các nước khác Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Trung Quốc cũng chính là những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam Nhìn chung cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam và Trung Quốc cũng khá tương đồng và tập trung vào sản phẩm có hàm lượng lao động cao Có thể nói, Trung Quốc là điển hình cho sự phát triển của ngành dệt may Châu Á Công nghiệp dệt may Trung Quốc luôn giữ vị trí tiên phong trong nền kinh tế quốc dân với giá trị sản lượng của ngành dệt may chiếm đến 20% tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn quốc.[11, 20] Hiện nay chiến lược phát triển ngành dệt may Trung Quốc là: tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế thông qua việc điều chỉnh quy mô sản xuất, hiện đại hóa và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm Lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc có thể xem xét trên hai mặt: thứ nhất, chi phí lao động trên mỗi đơn vị sản phẩm thấp do mức lương thấp và năng suất lao động cao Thứ hai, Trung Quốc có thể sản xuất các loại vải, đồ trang trí, bao bì và hầu hết các phụ kiện khác dùng để sản xuất hàng dệt may

và các sản phẩm dệt khác

Trang 29

Theo đánh giá của Ủy ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC), Trung Quốc được lựa chọn là nhà cung ứng số 1 của hầu hết các nhà nhập khẩu dệt may Hoa Kỳ, vì nước này có khả năng sản xuất hầu như tất cả các loại sản phẩm dệt may ở mọi cấp độ chất lượng với giá cạnh tranh.[19,Tr 17]

Đây là đối thủ cạnh tranh rất lớn không chỉ cho Việt Nam mà còn là cho ngành dệt may toàn thế giới Đặc biệt, sức cạnh tranh càng lớn khi Trung Quốc chính thức gia nhập vào WTO vào năm 2001 Đây là nước được dự đoán là cùng với Ấn Độ sẽ thâu tóm thị trường dệt may thế giới sau ngày 1/1/2005 Trung Quốc liên tục đầu tư và hiện đại hóa sản xuất, làm chủ sản xuất theo chiều dọc: sản xuất từ nguyên vật liệu cho đến thành phẩm Theo dự báo đến 2010, Trung Quốc sẽ chiếm lĩnh 50% thị phần hàng dệt may toàn cầu (trị giá tới 350 tỷ USD/năm) Hiện tại Trung Quốc đang chiếm lĩnh 19% thị phần hàng may mặc toàn cầu [9, 11, 13]

- Ấn Độ : Đứng sau Trung Quốc là Ấn Độ, nước cũng có khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm dệt may với giá cả cạnh tranh và có nguồn lao động lành nghề với giá tương đối thấp Ấn Độ là một trong số các nhà sản xuất sợi

và vải lớn nhất thế giới đồng thời nước này cũng được Mỹ coi là một nguồn thay thế chủ yếu cho nguồn nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc

Đây là nước có sự xác định rõ và phát huy thế mạnh của mình bằng việc thành lập riêng Bộ Dệt May để chuyên trách lo về chính sách và thị trường cho sản phẩm mũi nhọn này Ngoài ra, Ấn Độ còn có Viện Thời Trang Quốc Gia nhằm thiết kế mẫu mã, nắm bắt nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng toàn thế giới Các thị trường chính của nước này là Mỹ, EU, Canada và Nhật bản Thế mạnh của Ấn Độ là sản xuất vải bông có chất lượng cao, và thường tập trung vào những đơn đặt hàng nhỏ với nhiều thiết kế phụ như thêu, đan Ấn Độ cũng là nơi có lao động rẻ và lành nghề, chi phí nhân công rẻ hơn Trung Quốc 15% [17, 26]

Trang 30

Tuy nhiên về lâu dài, khả năng cạnh tranh từ Trung Quốc và Ấn Độ có thể bị giảm do tăng trưởng kinh tế mạnh ở những nước này dẫn đến tăng nhu cầu nội địa về hàng dệt may cũng như tăng giá nhân công và tiền vốn để sản xuất những mặt hàng này [23, Tr 25]

- Thái Lan : là nước có truyền thống về xuất khẩu sản phẩm dệt may Đối với Thái Lan, Mỹ là thị trường số 1 của nước này, Mỹ nhập khẩu tới 55,7% tổng giá trị hàng may mặc xuất khẩu của Thái Lan Ngoài ra các thị trường xuất khẩu khác bao gồm EU, Nhật Bản, Đông Âu và Trung Đông

- Bănglađét : ưu thế lớn nhất là chi phí đầu tư sản xuất thấp, tay nghề công nhân khá cao, kinh nghiệm lâu năm trong việc sản xuất hàng dệt may xuất khẩu Đây là nước được các nhà phân tích dự đoán sẽ là đối thủ đáng gờm trên thị trường dệt may thế giới sau thời điểm chế độ hạn ngạch bãi bỏ ngày 1/1/2005

- Inđônêxia : luôn là nước dẫn đầu trong khối ASEAN về giá trị hàng dệt may xuất khẩu từ nhiều năm nay Inđônêxia là nước có lợi thế về giá nhân công và nguồn nguyên liệu dồi dào nên đây là một đối thủ cạnh tranh khá mạnh đối với Việt nam Tuy nhiên Inđônexia vẫn bị coi là nước có rủi ro bất

ổn về chính trị và xã hội Thị trường xuất khẩu của nước này trải dài ở nhiều khu vực

Có thể nói rằng mỗi đối thủ của dệt may Việt Nam có những điểm mạnh riêng có khác nhau nhưng thị trường xuất khẩu chủ lực thì gần như trùng với những thị trường xuất khẩu của dệt may Việt Nam Điều đó cho thấy, sự cạnh tranh trên những thị trường này sẽ rất quyết liệt và điều cấp bách nhất cho dệt may Việt Nam hiện nay là chuẩn bị thật kỹ lưỡng, phát huy hết tiềm năng bản thân để giành thắng lợi

Ngoài những nước có chi phí thấp, các công ty nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ cũng quan tâm đến sự lựa chọn từ các nước được hưởng lợi từ Luật Phục hồi kinh tế khu vực lòng chảo Caribê, đặc biệt là các nước trong khu

Trang 31

vực Trung Mỹ là nguồn cung cấp hàng dệt may chính Các nước này có lợi thế cạnh tranh là có khả năng đáp ứng các đơn hàng gấp và giữa mùa cho các công ty Mỹ Những đơn hàng gấp thường xẩy ra đối với các mặt hàng thời trang khi các nhà bán lẻ chạy theo những xu hướng, kiểu cách hoặc màu sắc mới nhất

Tóm lại, sau khi Hiệp định về hàng dệt may (ATC) hết hiệu lực, sự cạnh tranh về hàng dệt may trên thị trường thế giới nói chung và thị trường

Mỹ nói riêng sẽ càng trở nên gay gắt hơn Việt Nam vẫn phải chịu chế độ hạn ngạch khi xâm nhập vào thị trường Mỹ cho tới khi trở thành thành viên của WTO Sự cạnh tranh trong giai đoạn này chính là cạnh tranh về chất lượng, giá cả, mẫu mã Đây là một thách thức đối với ngành dệt may Việt Nam khi

mà hàng dệt may Việt Nam vẫn đang phải chịu sự phân biệt đối xử khi thâm nhập vào thị trường Mỹ cũng như sự yếu kém của ngành dệt may Việt Nam trong lĩnh vực thiết kế mẫu mã sản phẩm Lợi thế cạnh tranh đang thuộc về những nước có sự đầu tư qui mô và hợp lý cho phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, thiết kế thời trang, tiếp thị sản phẩm… đó là bài học kinh nghiệm của những nước như Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ …Việt Nam muốn cạnh tranh và đứng vững trên thị trường Hoa Kỳ đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng, quan tâm đến các yếu tố tạo ra lợi thế cạnh tranh, phát huy lợi thế so sánh cũng như tận dụng được các cơ hội mà Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đem lại

1.2.4 Những phản ứng của Hiệp hội nhập khẩu dệt may và Hiệp hội bán lẻ ở Mỹ

Theo đánh giá của Ủy ban Thương mại quốc tế Mỹ (USAITC) về khả năng cạnh tranh xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ sau khi Hiệp định về hàng dệt may (ATC) hết hiệu lực sau ngày 1/1/2005, trong các nước Châu Á chỉ có Việt Nam có thể cạnh tranh được với Trung Quốc trong xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ Trên cơ sở đó, Hiệp hội Nhập khẩu dệt may Mỹ (USAITA)

Trang 32

cũng đánh giá cao về khả năng Việt Nam được lựa chọn là nguồn cung hàng dệt may thứ hai, sau Trung Quốc, nếu Việt Nam không có khó khăn về hạn ngạch Mặc dù vấp phải sự hưởng ứng thiếu nhiệt tình từ phía Quốc hội Mỹ trong bình thường hóa quan hệ thương mại với Việt Nam và sự phản ứng của ngành sản xuất dệt may Mỹ thúc giục chính quyền Mỹ trong việc áp dụng cơ chế bảo hộ ngành dệt may đối với Việt Nam, giống như trường hợp của Trung Quốc nhưng Việt Nam vẫn nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ phía Hiệp hội Nhập khẩu dệt may Mỹ Ủy ban Thương mại quốc tế Mỹ cũng cho biết, Hiệp hội ủng hộ đạo luật S.3495 trao Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam khi Việt Nam gia nhập WTO Khi Việt Nam gia nhập WTO, Mỹ sẽ được hưởng lợi nhiều hơn, các công ty Mỹ sẽ có cơ hội tiếp cận sâu hơn thị trường phát triển này, họ sẽ có toàn quyền kinh doanh, quyền phân phối và các dịch vụ bán lẻ và được hưởng lợi từ việc tuân theo các quy định quốc tế và quyền sở hữu trí tuệ khi Việt Nam gia nhập WTO Một điều rất dễ hiểu khi Việt Nam nhận được sự ủng hộ từ phía Hiệp hội Nhập khẩu dệt may Mỹ là do hầu hết các thành viên của Hội, bao gồm tất cả các thương hiệu nổi tiếng và các nhà bán lẻ hàng đầu trong nước cũng như các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà phân phối và các nhà cung cấp dịch vụ liên quan hiện đều đang tìm nguồn hàng từ Việt Nam Trong xu thế đa dạng nguồn cung cấp, tránh bị phụ thuộc vào một nguồn cung cấp, đặc biệt là từ Trung Quốc, Việt Nam được đánh giá là nguồn cung cấp hàng dệt may thứ hai ở Châu Á cho Mỹ Vì vậy Hiệp hội Nhập khẩu dệt may Mỹ đã thúc giục các đại biểu quốc hội Mỹ đẩy nhanh tiến trình bình thường hóa quan hệ thương mại và trao PNTR cho Việt Nam Theo đánh giá của USAITA cho rằng, ngành sản xuất dệt may Mỹ không thể so sánh giữa Việt Nam và Trung Quốc Trung Quốc là nhà cung cấp lớn hơn và có tiềm lực mạnh, trong khi Việt Nam, với quy mô sản xuất nhỏ hơn, lại phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu mà phần lớn lại được nhập khẩu từ Mỹ

Trang 33

Ngoài Hiệp hội Nhập khẩu dệt may Mỹ, Liên đoàn bán lẻ quốc gia Mỹ (NRF) cũng đồng tình trong việc ủng hộ trao PNTR cho Việt Nam Liên đoàn bán lẻ quốc gia là hiệp hội thương mại lớm nhất thế giới Thành viên của Hiệp hội là tất cả các cơ sở bán lẻ thuộc mọi hình thức, mọi kênh phân phối, từ các khu trưng bày, đại lý, mạng Internet, cửa hàng độc lập, hệ thống nhà hàng, cửa hàng tạp hóa…Theo ông Steve Pfister, Phó chủ tịch cao cấp của NRF cho rằng, yêu cầu của các nhà sản xuất dệt may Mỹ về việc tiếp tục áp đặt hạn ngạch lên hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam là “vô căn cứ” vì Việt Nam chỉ chiếm 3,2% giá trị nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ, tức là 1,9% kim ngạch nhập khẩu Thêm vào đó, hơn 90% các mặt hàng quần áo nhập khẩu từ Việt Nam được sản xuất bởi các công ty tư nhân và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài Do vậy các doanh nghiệp dệt may Mỹ không nên lo ngại hàng dệt may Việt Nam chiếm lĩnh thị trường giống như trường hợp của Trung Quốc [25, 26, 27]

Như vậy, với xu hướng ủng hộ của Hiệp hội nhập khẩu dệt may và Hiệp hội bán lẻ Mỹ đã tạo cho Việt Nam một cơ hội thuận lợi khi xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần nắm bắt được cơ hội từ thị trường, từ Hiệp định thương mại song phương và phát huy các lợi thế so sánh của mình để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường

Mỹ, tăng thu ngoại tệ cho quốc gia, tạo vốn tích lũy cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC

Nghiên cứu những kinh nghiệm thành công của những nước trong khu vực và trên thế giới xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ, giúp ta đúc kết được những bài học có giá trị cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong quá trình thâm nhập và khai thác thị trường Mỹ tốt hơn Có thể nêu một

số kinh nghiệm chính sau đây

Trang 34

1.3.1 Đa dạng hóa mặt hàng, cải tiến mẫu mã thường xuyên, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm

Trong thói quen tiêu dùng của người Mỹ, đối với các sản phẩm cá nhân như quần áo, hàng may mặc, người Mỹ thích đơn giản nhưng hiện đại và hợp thời trang, họ coi trọng sự khác biệt hay tính độc đáo của sản phẩm, đề cao sự thay đổi hay tính cải tiến của sản phẩm

Để chiếm lĩnh được thị trường và cạnh tranh được với các nước khác trên thị trường Mỹ, các nước xuất khẩu dệt may như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapo đã liên tục thay đổi mẫu mã sản phẩm, đưa ra thị trường những sản phẩm dệt may mới phù hợp hơn với nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ Người

ta nhận thấy rằng, trong giai đoạn 2000 – 2005 , các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapo có tới 6 - 7 nhóm mặt hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ hàng năm Trong mỗi nhóm mặt hàng lại có vài mặt hàng chủ lực được thay đổi kiểu cách mẫu mã tới 5 – 6 lần, đặc biệt là đối với các cat 333 (áo khoác nam kiểu vest), cat 338/339 (Sơ mi dệt kim cotton), cat 638/639 (Sơ mi dệt kim sợi nhân tạo)… Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đã đầu tư xây dựng các trung tâm thiết kế và sản xuất thời trang như Quảng Châu, Thượng Hải, Hàng Châu…, các trung tâm này đã có sức thu hút rất lớn với các khách hàng trên toàn thế giới và các nhà đặt hàng của Mỹ Bên cạnh đó Trung Quốc còn có nhiều cơ sở liên doanh với nước ngoài về mẫu thời trang và lực lượng họa sĩ nghiên cứu về mẫu thời trang cũng rất lớn

Singapo và Hàn Quốc cũng có các trung tâm nghiên cứu thời trang, thường xuyên đưa ra các mẫu mốt mới để thiết kế phù hợp với thị hiếu thị trường Bên cạnh đó, họ còn thường xuyên cử các chuyên gia đi khảo sát thị trường và thử nghiệm các phản ứng của khách hàng và cải tiến thiết kế để đáp ứng theo nhu cầu thị trường

1.3.2 Tận dụng kiều bào đang sinh sống ở Mỹ như là cầu nối để đưa sản phẩm dệt may đến với người tiêu dùng bản xứ

Trang 35

Đó là kinh nghiệm thành công của nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines… Thông qua hệ thống phân phối bán lẻ rộng rãi của kiều bào và thông qua những doanh nghiệp dệt may của kiều bào, các nước này đã giới thiệu, quảng bá sản phẩm và thâm nhập rất có hiệu quả vào thị trường Mỹ Ngoài ra những khách hàng là kiều bào cũng rất được các doanh nghiệp dệt may những nước này chú ý vì đây không những là những người tiêu thụ mà còn là những người thay mặt cho họ giới thiệu sản phẩm đến với người dân bản xứ nhanh chóng và hiệu quả

Việt Nam hiện có hơn 1 triệu kiều bào sinh sống và làm vệc tại Mỹ, đây là một tiềm năng rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng xây dựng mạng lưới tiếp thị và quảng bá sản phẩm của mình

1.3.3 Nâng cao tính cạnh tranh về giá để chiếm lĩnh thị trường

Thị trường Mỹ là thị trường rộng lớn và rất đa dạng với nhiều phân khúc thị trường, từ sản phẩm cao cấp giá cao đến các sản phẩm cấp thấp giá

rẻ Người Mỹ thường hay thay đổi sản phẩm sau một thời gian ngắn nên giá

cả sản phẩm cũng được coi trọng hơn Thêm nữa, những người tiêu dùng Mỹ

có tính thực dụng, giá hàng rẻ vẫn luôn là một yếu tố được người Mỹ quan tâm

Để tạo ra sản phẩm giá rẻ nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu về chất lượng sản phẩm, Trung Quốc có nhiều biện pháp để thực hiện được mục tiêu này Trung Quốc có lợi thế lớn trong chi phí về lao động, quy mô sản xuất lớn

và năng suất lao động cao dẫn đến chi phí về lao động tính trên một đơn vị sản phẩm giảm, giá thành sản phẩm thấp, đây là một thế mạnh của Trung Quốc Bên cạnh đó, Trung Quốc còn thực hiện việc hỗ trợ hàng xuất khẩu thông qua chính sách tỷ giá thấp và cước phí vận tải…đã tác động làm giá hàng dệt may giảm đến 75%, giành được lợi thế cạnh tranh trên thị trường Mỹ trong thời gian qua

Trang 36

Thái Lan cũng là một trong những nước có hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường Mỹ, nhưng hiện tại, ngành công nghiệp dệt may của Thái Lan đang

bị mất lợi thế cạnh tranh về chi phí nhân công so với Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan… nhưng có hiệu suất làm việc cao hơn Thái lan cũng phải dựa vào nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài Để có thể cạnh tranh được với các nước khác về giá trên thị trường Mỹ, Thái Lan đã sử dụng một số biện pháp để làm giảm chi phí sản xuất Thứ nhất, là tăng năng suất lao động, Thái Lan đã sử dụng các công nghệ hiện đại gồm cả máy móc thiết bị và nâng cao tay nghề của công nhân, đồng thời giới thiệu phương pháp quản lý hiện đại cho các doanh nghiệp tiếp cận, để làm giảm chi phí sản xuất nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm Thứ hai, để tận dụng nguồn lao động giá rẻ, Thái Lan đã đưa ngành công nghiệp may xuống các vùng nông thôn, đặc biệt là các cơ sở sản xuất nhỏ và vừa rất phù hợp với khu vực này

Ở Philippin, việc đánh thuế vào các nguyên liệu đầu vào được giảm để cắt giảm chi phí sản xuất và giảm đến mức tối thiểu hàng nhập lậu (giảm thuế 20% cho các loại vải)

Mặc dù Việt Nam cũng được đánh giá là nước có lợi thế về giá nhân công và lao động lành nghề nhưng vẫn còn nhiều bất lợi khi cạnh tranh với các nước khác trên thị trường Mỹ Hiện nay, 70% sản phẩm dệt may xuất khẩu từ Việt Nam được thực hiện theo phương thức gia công, 30% còn lại là bán gia công Mặt khác, lại bị phụ thuộc tới 80% nguyên liệu nhập khẩu của nước ngoài, nên hàng dệt may Việt Nam bị đội giá tới 20-30% Trong xu thế giảm giá của hàng dệt may thế giới hiện nay, thế cạnh tranh của Việt Nam sẽ càng yếu thêm vì vẫn bị áp hạn ngạch vào thị trường Mỹ và phải cộng chi phí hạn ngạch vào giá thành sản phẩm Ngoài ra các chi phí giao dịch ở Việt Nam cũng tương đối cao.[13,26]

Để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm thì Việt Nam phải có nhiều biện pháp: phải có các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, phát triển nguồn

Trang 37

nguyên liệu trong nước, giảm tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu Sự tích cực đàm phán của Chính phủ với Mỹ về việc trao PNTR cho Việt Nam và hoàn tất các thủ tục để Việt Nam gia nhập WTO, khi đó ngành dệt may Việt Nam sẽ có sự cạnh tranh bình đẳng hơn và có điều kiện giảm chi phí hạ giá thành sản xuất

1.3.4 Có chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dệt may

để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ

Hai nước thực hiện rất thành công trong chiến lược này là Campuchia

và Trung quốc Các nước này dành ưu đãi lớn về thuế cho những doanh nghiệp dệt may nước ngoài khi đầu tư làm hàng xuất khẩu sang Mỹ Qua đó,

họ vừa nâng cao được lượng hàng xuất khẩu vào Mỹ lại vừa giải quyết việc làm cho người lao động, thu hút được vốn đầu tư, kỹ thuật, tiêu thụ các nguyên liệu tại chỗ từ đó tạo tiền đề để các doanh nghiệp dệt may trong nước phát triển

1.3.5 Chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu trong nước

Quy hoạch các vùng trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm tập trung hiện đại hóa ngành dệt trong nước để cung cấp những loại vải đạt chất lượng cao cho ngành may Qua đó, tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm

Trung Quốc rất chú trọng đến việc phát triển nguyên liệu trong nước

để sản xuất hàng xuất khẩu, một mặt làm tăng giá trị hàng xuất khẩu, mặt khác cũng là cơ sở để hạ giá thành sản phẩm

1.3.6 Giảm ảnh hưởng của hạn ngạch khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ:

Đây là bài học kinh nghiệm của Ấn Độ, để vượt qua hạn ngạch và tiếp tục phát triển, các nhà sản xuất Ấn Độ bắt đầu chuyển sản xuất sang các nước khác như Srilanka và Nepan, nguyên liệu và nhân viên kỹ thuật đến từ Ấn Độ nhưng các sản phẩm của cơ sở địa phương này được mang nhãn hiệu “made

in Srilanka” và do đó không tính vào hạn ngạch của Ấn Độ mà vào hạn ngạch của Srilanka, khi đó cả hai bên cùng có lợi.[11, Tr16]

Trang 38

Bị hạn ngạch thì phải tìm cách tránh hạn ngạch, đi vòng qua nước khác, chuyển qua mặt hàng khác Mỹ chỉ bị áp dụng hạn ngạch đối với 38 trên tổng

số 167 chủng loại hàng dệt may Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ, vì vậy các doanh nghiệp dệt may vẫn có thể tận dụng 129 chủng loại phi hạn ngạch còn lại để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này

1.3.7 Đẩy nhanh tốc độ giao hàng:

Thời gian giao hàng nhanh và kịp thời là một trong những yêu cầu thường xuyên trong các đơn hàng của Mỹ Các nước xuất khẩu dệt may thường tìm cách đáp ứng được yêu cầu này để cạnh tranh được với các nhà giao hàng khác

Ấn Độ và Inđônexia đã thực hiện bằng cách thành lập kho hàng, trung tâm mậu dịch và phân phối của mình ngay tại cảng để bám sát được lịch giao hàng

Để cải thiện thời gian giao hàng, chính phủ Philippin đã đơn giản hoá các thủ tục xuất nhập khẩu.Gần đây Philippin đã thiết lập một hệ thống Electronic Data System để giảm thời gian gia công tính bằng giờ xuống tính bằng phút, đầu tư thêm các thiết bị hiện đại nhất và sử dụng các kỹ thuật CAD/CAM, với khả năng “đáp ứng nhanh” và “vừa đúng lúc” cho phép sản xuất linh hoạt nhiều hơn

Để nhằm giảm chi phí vận chuyển và nhanh chóng giao hàng sớm, Bănglađet đã đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng (cảng biển, đường xá, hệ thống viễn thông liên lạc)

Các hoạt động trên đã giảm đáng kể thời gian giao hàng và rút ngắn được 1/3 thời gian giao hàng của các nước đó

1.3.8 Nâng cao năng lực sản xuất và chất lƣợng sản phẩm

Đây là bài học khá thành công của Bănglađet khi xây dựng chiến lược cạnh tranh để tồn tại và phát triển sau khi hạn ngạch dệt may được dỡ bỏ Bănglađet đã thực hiện đầu tư, xây dựng thêm cơ sở sản xuất, nhập dây

Trang 39

chuyền công nghệ mới, để chuyển hướng sản xuất các mặt hàng cao cấp Kết quả là đã thu hút được nhiều đơn hàng lớn của Mỹ Khi không còn hạn ngạch, các nhà nhập khẩu Mỹ sẽ sẵn sàng ký hợp đồng với những đối tác có quy mô cũng như năng lực sản xuất lớn mạnh và có giá thành cạnh tranh hơn

Trung Quốc cũng đã tiến hành nhiều chính sách cải cách để phát triển ngành dệt may mạnh mẽ hơn trong thời kỳ không còn hạn ngạch như: mạnh dạn tư nhân hóa, cho phá sản các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ, đổi mới trang thiết bị, áp dụng công nghệ mới, loại bỏ những máy móc lạc hậu, đào tạo lại lao động để nâng cao kỹ năng lao động, thu hút đầu tư nước ngoài

để nâng cao năng lực cạnh tranh

Trang 40

2.1.1 Hoạt động của dệt may Việt Nam trong thời gian qua

2.1.1.1 Tình hình xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam thời gian qua

Sự kiện Hiệp định về hợp tác sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may giữa chính phủ Việt Nam và Liên Xô ( cũ) được ký kết ngày 19/5/1987 đánh dấu bước đi đầu tiên của ngành dệt may Việt Nam, sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, theo hướng sản xuất hướng về xuất khẩu Thị trường xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam trong những ngày đầu là các nước Đông Âu thành viên của Hội đồng Tương trợ Kinh tế

Ngày 15/12/1992, Hiệp định buôn bán hàng Dệt May giữa Việt Nam

và EU được ký kết tạo thời cơ mới cho ngành dệt may Việt Nam phát triển Ngay sau ngày hiệp định có hiệu lực, ngày 1/1/1993, xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng Hàng dệt may trở thành nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ hai sau xuất khẩu dầu thô vào năm 1995 và là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng đầu vào năm 1998 Tăng trưởng xuất khẩu của ngành dệt may quả là sự phát triển vượt bậc và đáng khâm phục, đưa ngành dệt may trở thành ngành mũi nhọn và là ngành đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc dân

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bình (2003), Đánh giá về nâng cao năng lực xuất khẩu hàng hoa của Việt Nam vào thị trường Mỹ sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá về nâng cao năng lực xuất khẩu hàng hoa của Việt Nam vào thị trường Mỹ sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực
Tác giả: Nguyễn Văn Bình
Năm: 2003
2. Bộ Thương mại (1998), Báo cáo kế hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may 2000 và qui hoạch đến 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kế hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may 2000 và qui hoạch đến 2010
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 1998
3. Bộ Thương mại (2000), Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001– 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001– 2010
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2000
4. Bộ thương mại (2005), Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2005
Tác giả: Bộ thương mại
Năm: 2005
5. Bộ công nghiệp (1998), Qui hoạch tổng thể phát triển ngành dệt may Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui hoạch tổng thể phát triển ngành dệt may Việt Nam
Tác giả: Bộ công nghiệp
Năm: 1998
6. Bộ thương mại Mỹ (1995), Hướng dẫn cơ bản về xuất khẩu hàng hóa và tiếp thị tại Mỹ, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn cơ bản về xuất khẩu hàng hóa và tiếp thị tại Mỹ
Tác giả: Bộ thương mại Mỹ
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2005), Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2005
8. PGS. TS Trần Văn Chu (2006), Doanh nghiệp Việt Nam với thị trường Hoa Kỳ, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp Việt Nam với thị trường Hoa Kỳ
Tác giả: PGS. TS Trần Văn Chu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2006
11. Hoàng Xuân Hòa (2005), “Cơ hội và thách thức đối với ngành công nghiệp dệt may thế giới”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, 109(5), Tr. 16-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội và thách thức đối với ngành công nghiệp dệt may thế giới”, "Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới
Tác giả: Hoàng Xuân Hòa
Năm: 2005
12. Nguyễn Đức Hùng (2005), “Quan hệ kinh tế thương mại Việt - Mỹ: Những vấn đề của hôm qua và hôm nay”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, 111(7), Tr. 61- 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế thương mại Việt - Mỹ: Những vấn đề của hôm qua và hôm nay”, "Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng
Năm: 2005
13. Đỗ Tuyết Khanh (2004), “Ngành dệt may sau 2004: Viễn tưởng và thử thách”, Tạp chí Thời đại mới, 2004(2), Tr 3-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành dệt may sau 2004: Viễn tưởng và thử thách”, "Tạp chí Thời đại mới
Tác giả: Đỗ Tuyết Khanh
Năm: 2004
14. Nhà xuất bản chính trị quốc gia (1996), Phương thức buôn bán với Hoa Kỳ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức buôn bán với Hoa Kỳ
Tác giả: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia (1996)
Năm: 1996
15. Nhà xuất bản Thống kê (2004), Niên giám thống kê Việt nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Việt nam
Tác giả: Nhà xuất bản Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê (2004)
Năm: 2004
16. TS. Nguyễn Hồng Nhung (2006), “ Thương mại quốc tế năm 2005 và triển vọng 2006”, Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới, 117(1), Tr 19-28 17. Phòng thương mại và công nghiệp Việt nam (2000), Xuất khẩu vào thịtrường Mỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại quốc tế năm 2005 và triển vọng 2006”, "Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới," 117(1), Tr 19-28 17. Phòng thương mại và công nghiệp Việt nam (2000), "Xuất khẩu vào thị "trường Mỹ
Tác giả: TS. Nguyễn Hồng Nhung (2006), “ Thương mại quốc tế năm 2005 và triển vọng 2006”, Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới, 117(1), Tr 19-28 17. Phòng thương mại và công nghiệp Việt nam
Năm: 2000
18. TS. Phạm Quyền – TS. Lê Minh Tâm (1999), Hướng phát triển thị trường xuất nhập khẩu Việt nam tới 2010, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng phát triển thị trường xuất nhập khẩu Việt nam tới 2010
Tác giả: TS. Phạm Quyền – TS. Lê Minh Tâm
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
19. Tập đoàn Dệt – May Việt Nam (2006), Hướng phát triển của ngành dệt may Việt Nam sau khi vào WTO, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng phát triển của ngành dệt may Việt Nam sau khi vào WTO
Tác giả: Tập đoàn Dệt – May Việt Nam
Năm: 2006
20. Phương Thanh (2006), “Việt Nam trước áp lực cuộc đua giảm giá dệt may thế giới”, Tạp chí Công nghiệp tiếp thị, (8), Tr 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trước áp lực cuộc đua giảm giá dệt may thế giới”, "Tạp chí Công nghiệp tiếp thị
Tác giả: Phương Thanh
Năm: 2006
21. PGS. TS. Nguyễn Thanh Thu (2000), “Xuất nhập khẩu Việt Nam cuối thế kỷ và triển vọng”, Tạp chí Phát triển kinh tế, 112(2), Tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất nhập khẩu Việt Nam cuối thế kỷ và triển vọng”, "Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Thanh Thu
Năm: 2000
22. Tổng công ty Dệt may Việt Nam (2001), Báo cáo công tác thị trường dệt may, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác thị trường dệt may
Tác giả: Tổng công ty Dệt may Việt Nam
Năm: 2001
23. Tổng công ty dệt may Việt Nam (2000), Chiến lược tăng tốc phát triển ngành dệt may Việt nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược tăng tốc phát triển ngành dệt may Việt nam
Tác giả: Tổng công ty dệt may Việt Nam
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4 : Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may vào thị trường - Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -
Bảng 1.4 Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may vào thị trường (Trang 16)
Bảng 2.1:  Kim  ngạch  xuất  khẩu  hàng  dệt  may  Việt  Nam  qua  các - Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam qua các (Trang 41)
Bảng 2.2 : Các doanh nghiệp dệt may trên toàn quốc năm 2004 - Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -
Bảng 2.2 Các doanh nghiệp dệt may trên toàn quốc năm 2004 (Trang 45)
Bảng 2.4 : So sánh giá nhân công tối thiểu của dệt may Việt Nam - Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -
Bảng 2.4 So sánh giá nhân công tối thiểu của dệt may Việt Nam (Trang 48)
Bảng 2.6 : Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ - Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -
Bảng 2.6 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ (Trang 52)
Bảng 2.7 : Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong tổng - Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -
Bảng 2.7 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong tổng (Trang 53)
Bảng 2.8  :  Tỷ  trọng  xuất  khẩu  hàng  dệt  may  sang  thị  trường  Mỹ - Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -
Bảng 2.8 : Tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ (Trang 54)
Bảng  3.1:  Xuất  khẩu  hàng  dệt  may  vào  thị  trường  Mỹ  theo  khu - Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -
ng 3.1: Xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ theo khu (Trang 83)
Bảng  3.2:  Dự  báo  về  sản  phẩm  dệt  may  trên  thị  trường  Mỹ  năm - Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -
ng 3.2: Dự báo về sản phẩm dệt may trên thị trường Mỹ năm (Trang 86)
Bảng 3.3 : Mục tiêu chiến lƣợc tăng tốc phát triển ngành dệt may - Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -
Bảng 3.3 Mục tiêu chiến lƣợc tăng tốc phát triển ngành dệt may (Trang 90)
Bảng 3.6 : Tỷ lệ % tăng trưởng ngành dệt may Việt Nam giai đoạn - Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sau khi có Hiệp định thương mại Việt -
Bảng 3.6 Tỷ lệ % tăng trưởng ngành dệt may Việt Nam giai đoạn (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w