1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế

110 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do trên, học viên nhận thấy việc “Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế” là cấp thiết.. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3 Đối tượng nghiên cứu 8

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Tổng quan lịch sử nghiên cứu đề tài 9

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Những đóng góp mới của đề tài 12

8 Cấu trúc của luận văn 12

Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 13

1.1 Thị trường khách du lịch quốc tế 13

1.2 Điểm đến du lịch 14

1.2.1 Khái niệm 14

1.2.2 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch 16

1.2.3 Phân loại điểm đến du lịch 19

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến điểm đến du lịch 20

1.2.5 Hệ thống điểm đến du lịch 21

1.3 Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch 22

1.3.1 Khái niệm 22

1.3.2 Vai trò, lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch 23

1.3.3 Nội dung của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch 25

1.4 Kinh nghiệm xúc tiến quảng bá du lịch của một số điểm đến du lịch, bài học kinh nghiệm rút ra với Ninh Bình 26

1.4.1 Kinh nghiệm xúc tiến của một số điểm đến du lịch 26

1.4.2 Bài học với điểm đến Ninh Bình 29

Tiểu kết chương 1 30

Trang 4

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN CỦA ĐIỂM ĐẾN

DU LỊCH NINH BÌNH CHO THỊ TRƯỜNG KHÁCH QUỐC TẾ 31

2.1 Khái quát chung về điểm đến Ninh Bình 31

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 31

2.1.2 Vị trí địa lý 32

2.1.3 Tài nguyên du lịch 33

2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội tác động đến phát triển du lịch 47

2.1.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 52

2.1.6 Những kết quả đạt được từ du lịch 55

2.2 Thực trạng thị trường khách quốc tế của điểm đến du lịch Ninh Bình 57

2.2.1 Phân loại 57

2.2.2 Đặc điểm của khách quốc tế đến Ninh Bình 58

2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình 60

2.3.1.Cơ quan quản lý hoạt động xúc tiến du lịch Ninh Bình 60

2.3.2 Chính sách cho hoạt động xúc tiến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế 62

2.3.3 Phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế 63

2.3.4 Đánh giá kết quả xúc tiến điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế 76

Tiểu kết chương 2 79

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN CỦA DU LỊCH NINH BÌNH CHO THỊ TRƯỜNG KHÁCH QUỐC TẾ 80

3.1 Một số giải pháp 80

3.1.1 Xác định cụ thể thị trường khách quốc tế cho hoạt động xúc tiến 80

3.1.2 Thiết kế, xây dựng thông điệp xúc tiến điểm đến du lịch của Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế 80

Trang 5

3.1.3 Phát triển thị trường và sản phẩm du lịch 82

3.1.4 Lựa chọn hệ thống các công cụ xúc tiến điểm đến du lịch phù hợp 83

3.1.5 Xây dựng ngân sách cho hoạt động xúc tiến 86

3.1.6 Tăng cường công tác quản lý của du lịch Ninh Bình 86

3.1.7 Nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ 87

3.1.8 Liên kết, hợp tác trong phát triển du lịch 89

3.2 Một số kiến nghị 89

3.2.1 Với Chính Phủ 89

3.2.2 Với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 90

3.2.3 Với Tổng cục Du lịch 90

3.2.4 Với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình 90

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 97

Trang 6

8 UBND Ủy ban nhân dân

9 UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural

Organization - Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc

10 UNWTO United Nations World Travel Organization – Tổ chức

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế tỉnh Ninh Bình (2009 - 2012) 48

2 Bảng 2.2 Thu chi ngân sách tỉnh Ninh Bình (2009 - 2012) 49

3 Bảng 2.3 Vốn đầu tư phân theo khu vực kinh tế 50

4 Bảng 2.4 Cơ sở lưu trú tại Ninh Bình từ 2009 đến 2012 52

5 Bảng 2.5 Kết quả kinh doanh du lịch Ninh Bình giai đoạn

8 Bảng 2.8 Tổng hợp các ấn phẩm, tài liệu quảng cáo du lịch

Ninh Bình phát hành trong giai đoạn 2009 – 2012

68

9 Bảng 2.9 Tổng hợp kinh phí xúc tiến quảng bá du lịch cấp từ

nguồn ngân sách tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2009 -

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

1 Sơ đồ 1.1 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch 19

2 Biểu đồ 2.1 Cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế 48

3 Biểu đồ 2.2 Vốn đầu tƣ phân theo khu vực kinh tế 50

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch là một ngành công nghiệp không khói, mang lại lợi ích kinh tế và chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước trên thế giới Hơn nữa ngành du lịch còn giải quyết các vấn đề về lao động, việc làm cho người dân ở các điểm du lịch, các nước có hoạt động du lịch phát triển Chính vì vậy, không riêng các nước phát triển mà các nước đang phát triển tập trung đầu tư khai thác và phát triển ngành công nghiệp không khói đầy tiềm năng này Nhu cầu du lịch của con người ngày càng cao và đa dạng, tuy nhiên để tìm kiếm thông tin và lựa chọn một điểm du lịch phù hợp lại không phải là vấn đề đơn giản Có rất nhiều điểm du lịch

có tài nguyên hấp dẫn, song không thu hút được du khách Tại sao như vậy? Điều gì khiến du khách chọn điểm du lịch này mà không chọn điểm du lịch khác Sự cạnh tranh mạnh mẽ của các điểm du lịch khiến các nhà quản lý, các cơ quan quản lý chức năng đưa ra các công cụ đặc biệt để gây ấn tượng và thu hút du khách Hoạt động xúc tiến có vai trò quan trọng đối với các điểm đến du lịch, xúc tiến quảng bá hình ảnh điểm đến để cạnh tranh và thu hút khách du lịch Xúc tiến trở thành công

cụ tiếp thị hiệu quả để truyền tải thông điệp, hình ảnh của điểm đến với thị trường khách mục tiêu Thông qua các hoạt động xúc tiến sản phẩm, dịch vụ và sức hấp dẫn của điểm đến được truyền tải đến du khách, qua đó thuyết phục khách và thu hút khách

Hiện nay các điểm du lịch cũng như các quốc gia, khu vực đẩy mạnh công tác xúc tiến để thu hút khách Ở Việt Nam, hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch cũng diễn ra rộng khắp ở các tỉnh, thành phố, Ninh Bình không phải là một ngoại lệ Qua quá trình vận động và phát triển du lịch Ninh Bình đã rút ra được những bài học quý giá trong hoạt động xúc tiến Nhờ có sự hướng dẫn, chỉ đạo, chính sách ưu tiên phát triển du lịch mà hoạt động xúc tiến của Ninh Bình từ những bước đi chưa bài bản, thiếu quy mô đến những bước đi bài bản, khoa học và quy mô hơn Tuy nhiên, những hoạt động đó chưa thực sự mang lại hiệu quả cho việc đẩy mạnh du lịch phát triển, mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin, giới thiệu chung về du

Trang 10

lịch Ninh Bình, các chương trình xúc tiến còn manh mún, chưa chuyên nghiệp, chưa tập trung tới thị trường khách quốc tế, một thị trường khách có khả năng mang lại lợi nhuận và doanh thu cao cho điểm du lịch Tài liệu ấn phẩm chưa hấp dẫn, các sản phẩm, chất lượng dịch vụ du lịch còn nghèo nàn, hoạt động quan hệ công chúng còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó sự hiếu khách và văn hóa ứng xử kinh doanh của cộng đồng và doanh nghiệp còn nhiều bất cập Vì thế hình ảnh về du lịch Ninh Bình chưa thực sự ấn tượng trong tâm trí của du khách, đặc biệt là khách quốc tế

Với những lý do trên, học viên nhận thấy việc “Nghiên cứu hoạt động xúc

tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế” là cấp thiết Qua

đó góp phần thúc đấy du lịch Ninh Bình ngày càng phát triển, thu hút các thị trường khách nói chung và thị trường khách quốc tế nói riêng

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động xúc tiến cho thị trường khách quốc tế, từ đó đẩy mạnh hoạt động xúc tiến của du lịch Ninh Bình đến thị trường khách quốc tế một cách chuyên nghiệp và hiệu quả hơn Qua đó rút ra bài học kinh nghiệm trong hoạt động

du lịch Ninh Bình

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch và hoạt động xúc tiến

- Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm đấy mạnh hoạt động xúc tiến của điểm đến

du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế

3 Đối tượng nghiên cứu

- Thị trường khách du lịch quốc tế đến Ninh Bình Các sản phẩm du lịch của Ninh Bình

Trang 11

- Các hoạt động xúc tiến cho thị trường khách quốc tế của các cơ quan quản lý, xúc tiến điểm đến du lịch Ninh Bình

- Các cơ chế, chính sách, chương trình xúc tiến phát triển du lịch của Tỉnh Ninh Bình

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu các hoạt động xúc tiến du lịch cho thị trường khách quốc tế của các cơ quan quản lý, xúc tiến du lịch của tỉnh Ninh Bình ( Trung tâm xúc tiến du lịch Tỉnh Ninh Bình)

- Về thời gian: Luận văn tiến hành nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế giai đoạn 2009 - 2012 và đến năm 2020

- Về không gian: Các hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh Ninh Bình diễn ra trên địa bàn tỉnh, cùng với hoạt động xúc tiến du lịch tại các tỉnh thành, khu vực ngoài tỉnh Ninh Bình nhằm thu hút khách quốc tế

5 Tổng quan lịch sử nghiên cứu đề tài

Hoạt động xúc tiến không phải là một khía cạnh mới trong hoạt động nghiên cứu của các học giả trên thế giới và ở Việt Nam Qua quá trình tìm hiểu, học viên nhận thấy hiện nay trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu, chuyên khảo

đề cập đến xúc tiến điểm đến du lịch nói chung, tỉnh thành nói riêng Tiêu biểu

như: Ivo Mulec “Promotion as a Tool Sustaining the Destination Marketing

Activities”; Dimitrios Buhalis “Marketing competitive destination of the future”; Davidson R and Maitland R.(1997), “Tourism destination”; Ernie H &

Geofrey W.(1992) “Marketing Tourism Destination”; Ronald A.& Elizabeth J (1984) “Marketing your city ”; Steven Pike (2008) “Destination marketing”…

Ở Việt Nam có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: Viện Nghiên

cứu Phát triển Du lịch (2005) “Nghiên cứu đề xuất giải pháp đấy mạnh hoạt động

tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam tại một số thị trường trọng điểm”, Hoàng

Lê Minh (2008) “Tiếp thị trong kinh doanh du lịch”, Nguyễn Văn Dung (2009) “Chiến lược, chiến thuật quảng bá marketing du lịch”,Trần Ngọc Nam –

Trang 12

Hoàng Anh (2009) “Cẩm nang nghiệp vụ tiếp thị du lịch và Quy định pháp luật mới

về kinh doanh du lịch, nhà hàng, khách sạn”

Các luận văn Thạc sỹ cũng đề cập đến xúc tiến du lịch và các hoạt động xúc

tiến như: Nguyễn Thu Thủy (2007), “Xây dựng chiến lược xúc tiến du lịch MICE

cho điểm đến Hà Nội”, Ngô Minh Châu (2009), “Hoạt động xúc tiến du lịch Việt Nam tại Trung Quốc”, Lê Tuấn Minh (2009), “Nghiên cứu hoạt động tuyên truyền quảng bá của hàng không Việt Nam”, Bùi Văn Mạnh (2011) “Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Ninh Bình giai đoạn 2003 - 2009”, Lê Thành Công (2011)

“Hoạt động xúc tiến của du lịch Hải Phòng nhằm thu hút khách du lịch Trung Quốc – Thực trạng và giải pháp”, Trần Thị Thủy (2011) “Hoạt động xúc tiến điểm đến cấp tỉnh ở Việt Nam: nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An”, Đào Thị Ngọc Lan

(2011) “Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương giai đoạn 2005 -

du lịch cho các tỉnh Bắc Trung Bộ - Thực trạng và giải pháp” Kỷ yếu hội thảo liên

kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Miền Trung, Nghệ An, 2010, Trần Nguyên Trực

– Tổng lãnh sự Việt Nam tại Khonhean Thái Lan “Kinh nghiệm xúc tiến du lịch tại

Lào và Thái Lan thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao”

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác: thu thập xử lý số liệu, mô tả và so sánh, điều tra xã hội học bằng bảng hỏi, phương pháp chuyên gia

6.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Tiến hành phân tích nghiên cứu hoạt động du lịch Ninh Bình nói chung, và hoạt động xúc tiến cho thị trường khách quốc tế nói riêng của Ninh Bình trong mối

Trang 13

quan hệ với các điểm du lịch cùng khu vực, trong nước, và trên thế giới Xem xét hoạt động xúc tiến cụ thể cho thị trường khách quốc tế với các tỉnh, thành phố trong các mối quan hệ bên ngoài (kinh tế, xã hội, chính trị…), và các mối quan hệ bên trong ngành du lịch của tỉnh, thành phố

Nghiên cứu, xem xét thực trạng hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình qua các giai đoạn, từ đó có thể đưa ra những kết luận, nhận định Dựa trên cơ sở đó đưa ra giải pháp nhằm tăng cường thúc đẩy hoạt động xúc tiến của Ninh Bình

6.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

+ Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các công trình, kết quả nghiên cứu khoa học, sách báo, tạp chí, trang web điện tử, các báo cáo, nghị định, nghị quyết của cơ quan quản lý du lịch tỉnh Ninh Bình (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Cục Thống kê Ninh Bình, Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh Ninh Bình) và cơ quan quản lý Trung ương (Tổng cục Du lịch Việt Nam, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch…) cùng chính quyền địa phương

+ Thu thập nguồn tài liệu sơ cấp bằng việc điều tra khảo sát thông qua bảng hỏi phù hợp với nội dung yêu cầu của luận văn, lấy ý kiến chuyên gia, phỏng vấn các cán bộ quản lý du lịch và một số dân địa phương

6.3 Phương pháp mô tả và so sánh

Mô tả hiện trạng hoạt động du lịch và hoạt động xúc tiến của Ninh Bình, đặc biệt cho thị trường khách quốc tế Trong đó nêu rõ cơ cấu khách quốc tế, đặc điểm, tâm lý, chi tiêu… của khách quốc tế đến Ninh Bình Đối chiếu, so sánh với các tỉnh lân cận, từ đó rút ra sự khác biệt cũng như điểm tương đồng

6.4 Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi

Dựa theo nội dung luận văn, bảng hỏi được thiết kế cho đối tượng khách quốc tế Thông qua bảng hỏi rút ra các nhận định về cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Ninh Bình, mức độ, khả năng tiếp cận của các phương tiện truyền thông quảng cáo du lịch Ninh Bình tới khách quốc tế

Trang 14

Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia thông qua phỏng vấn trực tiếp các cán bộ, chuyên gia quản lý du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình, Trung tâm xúc tiến du lịch, hướng dẫn viên tại điểm và một số dân địa phương

7 Những đóng góp mới của đề tài

Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của du lịch Ninh Bình không phải là mới, tuy

nhiên với đề tài:“Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến Ninh Bình cho thị

trường khách quốc tế” có một số đóng góp mới:

- Tổng hợp có chọn lọc một số vấn đề lý luận về xúc tiến điểm đến du lịch, và vận dụng vào thực tiễn ở Ninh Bình

- Đề tài đã phân tích chỉ ra những mặt hạn chế và tích cực của hoạt động xúc tiến điểm đến của du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế, một thị trường khách tiếm năng quan trọng với Ninh Bình Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các hoạt động xúc tiến cũng như tổ chức, quản lý du lịch của Ninh Bình

- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến cho thị trường khách quốc tế, nâng cao vị thế du lịch Ninh Bình trong lòng du khách quốc tế

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch

Chương 2: Thực trạng hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế

Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến của du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG

XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH

1.1 Thị trường khách du lịch quốc tế

Du lịch là một ngành dịch vụ tổng hợp, các sản phẩm là các dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách hàng nói chung và khách du lịch nói riêng Cũng như các ngành sản xuất vật chất khác, khi tập hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm, thì việc phân phối, bán sản phẩm ra thị trường là một điều tất yếu để thu hồi vốn và thu lợi nhuận Ngành du lịch cũng với một quy trình tương tự như vậy, nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt đó là nguồn nguyên liệu đầu vào là các tài nguyên du lịch, nguồn lao động để tạo ra các sản phẩm mang tính chất dịch vụ bán cho khách hàng Các ngành sản xuất cần có thị trường tiêu thụ Ngành du lịch cũng cần phải có thị trường để bán các sản phẩm du lịch

Trong chiến lược Marketing nói chung và Marketing trong du lịch nói riêng thì việc phân khúc thị trường là điều vô cùng quan trọng Dựa vào khả năng có thể cung ứng được những sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng làm gia tăng lợi nhuận, phát triển hoạt động kinh doanh… mà các nhà cung cấp dịch vụ du lịch có những định hướng trọng tâm, hoặc có những phân khúc thị trường chính để có thể dồn lực: tài chính, chiến lược, nhân lực đáp ứng tốt thị trường đã được định ra

Đối với hoạt động xúc tiến một điểm đến du lịch, việc phân khúc thị trường khách du lịch cũng đóng vai trò là định hướng cho những sách lược và chiến lược nhằm phát huy tối đa nguồn lực của điểm đến nhằm mục đích là làm cho hình ảnh của điểm đến được nhiều du khách biết tới và đặt niềm tin, sự lựa chọn mỗi lần đi

du lịch, hoặc là những thông tin tốt, ấn tượng trong quá trình quảng bá thụ động giữa các luồng thông tin của du khách

Phân khúc thị trường khách du lịch có thể chia theo nhiều tiêu chí khác nhau: chia theo tiêu chí địa lý lãnh thổ, chính trị; chia theo cơ cấu xã hội của du khách; phân chia theo mục đích của đối tượng khách; chia theo khả năng chi trả của du

Trang 16

khách Trong hoạt động xúc tiến du lịch của một điểm đến, thông thường với mức

độ bao quát cao thì sự phân khúc thị trường du lịch được phân chia theo tiêu chí địa

lý lãnh thổ Đối với sự phân khúc này bao hàm gần như toàn bộ các đặc điểm du khách theo các tiêu chí khác Với khả năng, sự đa dạng về sản phẩm, dịch vụ của một điểm đến du lịch thì việc có thể đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau cũng đã được xác định trong chiến lược xúc tiến của điểm đến

Thị trường khách du lịch quốc tế: Khách du lịch quốc tế là những người di

chuyển và ở lại nước khác ngoài quốc gia của họ trong thời gian nhất định Đối tượng khách du lịch quốc tế chính là một phân khúc thị trường quan trọng nhất trong hoạt động du lịch của mỗi một quốc gia và vùng lãnh thổ, bởi về mặt thời lưu trú thường dài hơn khách du lịch nội địa, chi tiêu nhiều hơn, sử dụng các dịch vụ cao cấp hơn đem lại nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách của đất nước Tùy thuộc vào đặc điểm dân tộc, vùng lãnh thổ mà trong phân khúc thị trường khách du lịch quốc tế lại có những sự phân chia ra làm nhiều thị trường khác nhau: ví dụ thị trường Châu Âu, các nước Châu Á, Châu Úc Để có thể làm tốt công tác trong hoạt động du lịch đón tiếp, phục vụ phân khúc thị trường này đòi hỏi điểm đến du lịch có đầy đủ những điều kiện về tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của du khách

Trong luận văn này đối tượng chính của đề tài có liên quan đến hoạt động xúc tiến đối với đối tượng khách chính là khách du lịch quốc tế Do đó sự phân khúc thị trường khách du lịch quốc tế, hoặc hoạt động xúc tiến của tỉnh Ninh Bình đối với thị trường này cũng dựa vào khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách và nằm trong chiến lược phát triển du lịch của tỉnh

1.2 Điểm đến du lịch

1.2.1 Khái niệm

Điểm đến du lịch được định nghĩa khác nhau dưới nhiều góc độ Theo quan

niệm truyền thống: “Điểm đến du lịch là nơi mà con người thực hiện những kỳ nghỉ

của họ” Theo quan niệm này thì điểm đến chỉ là một không gian để khách du lịch

Trang 17

ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi… và khái niệm này chƣa nêu đƣợc tính chất đặc trƣng của điểm đến du lịch

Theo ý kiến của PGS.TS Nguyễn Bách Khoa và Th.S Nguyễn Viết Thái thì

“Các điểm đến du lịch cũng được coi là một dạng thức sản phẩm/thị trường du lịch đặc biệt theo tiếp cận quản trị kinh doanh và marketing du lịch Điểm đến du lịch của một quốc gia là tập hợp những điểm đến riêng lẻ của từng vùng trong quốc gia

đó Tại từng thời điểm nhất định và theo một ý định và chủ đề cụ thể, một vài hoặc nhiều điểm đến riêng lẻ được đầu tư đặc biệt, được đại diện và đưa vào nội dung xúc tiến quảng bá du lịch của quốc gia đó” [2, tr 5] Hay theo Nguyễn Văn Mạnh

và Nguyễn Đình Hòa: “Điểm đến du lịch là một địa điểm mà chúng ta có thể cảm

nhận được bằng đường biên giới về địa lý, đường biên giới về chính trị, hay đường biên giới về kinh tế, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng đực nhu cầu của du khách” [18, tr 342]

Trong mục 8 điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 có đƣa ra khái niệm

điểm du lịch nhƣ sau: “Điểm du lịch (tourist spot) là nơi có tài nguyên du lịch hấp

dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” [15] Có những điểm du lịch

có tài nguyên hấp dẫn, song vẫn chƣa thể coi là một điểm đến Bởi có những điểm

du lịch chỉ đáp ứng nhu cầu tham quan chứ chƣa đáp ứng đƣợc các nhu cầu khác của khách du lịch nhƣ ăn uống, nghỉ ngơi qua đêm, vui chơi giải trí…

Theo tổ chức du lịch Thế giới UNWTO năm 2007: “Điểm đến du lịch là một

không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất một đêm Nó bao gồm các sản phẩm

du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường” [19, tr 1]

Trong tập bài giảng môn Marketing điểm đến PGS.TS Trần Thị Minh Hòa

2012 thì: “Điểm đến du lịch (Destination) là những điểm có tài nguyên du lịch nổi

trội, có khả năng hấp dẫn du khách, hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững” [12, tr 1]

Trang 18

Dựa vào các quan điểm trên ta có thể nhận thấy điểm đến du lịch là một không gian có đặc điểm hấp dẫn thu hút khách du lịch Điểm đến du lịch là một sản phẩm du lịch tổng hợp có khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch của khách Vậy điểm đến du lịch có thể là một không gian rộng như một quốc gia, lục địa… hay chỉ là một tỉnh, thành phố hoặc nhỏ hơn nó chỉ là một làng hay một khách sạn…

1.2.2 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch

Các điểm tham quan du lịch có thể có giới hạn địa lý, quy mô khác nhau song chúng đều phải có những điểm chung đó là các yếu tố để tạo thành một điểm đến du lịch

- Điểm hấp dẫn du lịch

Đề cập tới điểm hấp dẫn du lịch, PGS.TS Trần Thị Minh Hòa trong tập bài giảng Marketing điểm đến du lịch (2012) có đưa ra nhận định về điểm hấp dẫn du

lịch: “Điểm hấp dẫn du lịch (Actractive site) là những điểm có tài nguyên du lịch

nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách” [12, tr 2] Như vậy sức hấp dẫn của điểm

du lịch đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc có thể thực hiện hoạt động du lịch hay phát triển du lịch theo từng cấp độ, và là yếu tố quan trọng trong việc hình thành nên điểm đến du lịch

Xét về mức độ thì đây là yếu tố quan trọng nhất để có thể hình thành nên một điểm đến du lịch Tất cả các điểm đến du lịch đều bao gồm trước hết là nơi có điểm hấp dẫn du lịch với du khách, song một điểm hấp dẫn du lịch chưa chắc đã là một điểm đến du lịch Một điểm hấp dẫn du lịch nếu thiếu những yếu tố như: khả năng tiếp cận, dịch vụ ăn nghỉ thì cũng khó trở thành một điểm đến du lịch

Điểm hấp dẫn du lịch như được đề cập tại mục 1.1.1 bao gồm những loại tài nguyên có thể là tự nhiên, nhân văn hoặc kết hợp cả hai nhân tố này có khả năng tạo

ra động lực ban đầu cho sự đến và tham quan thưởng thức, thẩm nhận những giá trị

về tự nhiên, văn hóa của du khách

Một thực tế của những điểm hấp dẫn du lịch là nó có tính đa dạng và hơn thế nữa là có thể thuộc những hình thức sở hữu khác nhau: cá nhân, tổ chức, tỉnh, quốc gia , vì vậy dựa vào tiềm lực của từng chủ sở hữu điểm hấp dẫn đó mà có thể đầu

Trang 19

tư cho việc nâng cấp hạ tầng vật chất kỹ thuật, quảng bá, quảng cáo rộng rãi để đưa vào khai thác phục vụ du lịch, hay là để nó vào dạng chỉ là tiềm năng đối với hoạt động du lịch

- Hệ thống giao thông (Khả năng tiếp cận nơi đến)

Một điểm đến du lịch nhất thiết phải có, duy trì và không ngừng mở rộng hệ thống giao thông đi lại Nó tạo ra khả năng tiếp cận được đến điểm du lịch hấp dẫn

và từ đó du khách có thể sử dụng toàn bộ các loại hình dịch vụ khác nhau của điểm đến Một điểm du lịch hấp dẫn đến đâu, nhưng khả năng tiếp cận của khách du lịch không có, hoặc bị hạn chế thì du lịch không thể hình thành hoặc manh mún và không thể trở thành một điểm đến đúng nghĩa

Trong phân loại các loại hình du lịch thì một cách phân loại khá phổ biến đó

là phân loại theo loại hình phương tiện mà du khách sử dụng trong quá trình tham gia tour du lịch Vì vậy sự đa dạng trong hình thức phương tiện tạo nên khả năng tiếp cận của du khách được dễ dàng hơn, phong phú hơn cho sự lựa chọn Và điều

đó phản ánh được một phần quan trọng trong việc thể hiện về cơ sở vật chất có thể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của du khách tại điểm đến hay không

- Nơi ăn, nghỉ (Dịch vụ lưu trú, ăn uống)

Trong hầu hết những khái niệm về du lịch là du khách có yếu tố rời khỏi nơi quen thuộc đi tới một nơi khác và kèm theo sự nghỉ ngơi qua đêm tại nơi đến Đặc biệt đối với đối tượng khách quốc tế là du khách từ một đất nước khác đến thì nơi

ăn nghỉ là một điều tất yếu được đề cập và sử dụng trong quá trình đi du lịch

Ngày nay mức độ đòi hỏi về các dịch vụ trong du lịch của du khách ngày càng cao Đối với du khách quốc tế thì vấn đề này được phản ánh trong các chương trình du lịch như: Luxury, Basic Với khách nội địa là dịch vụ 5 sao, 4 sao, hay 3 sao Những cách thức đề cập như vậy thường là sự hình dung của du khách trong nơi ăn nghỉ, khách sạn mà du khách sẽ được hưởng theo cam kết của nhà cung ứng chương trình du lịch Vì vậy với một điểm du lịch, điểm đến thì việc đáp ứng đầy

đủ những nhu cầu có tính vô cùng đa dạng của khách cũng tạo một dấu ấn lớn đối với du khách

Trang 20

Các dịch vụ lưu trú, ăn uống được khách du lịch cảm thụ tại điểm đến không đơn thuần là một căn phòng đẹp, thiết kế sang trọng hay một món ăn ngon, bài trí tỉ

mỉ, công phu Một điều quan trọng hơn chính là sự nồng nhiệt tiếp đón, phong cách phục vụ chuyên nghiệp, sự hiếu khách của điểm đến được du khách cảm nhận trong suốt quá trình lưu lại tại điểm đến du lịch

- Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ

Du lịch là một ngành sản xuất ra các sản phẩm là những dịch vụ Tuy nhiên

tự thân ngành du lịch không thể sản xuất và đáp ứng đầy đủ như cầu của du khách

mà có sự kết hợp của nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau Điều này thể hiện tính liên ngành, đa ngành trong du lịch tại bất cứ một đất nước, vùng lãnh thổ hay một điểm đến, điểm du lịch nào

Nhu cầu của khách du lịch là không cố định, nó có sự đa dạng trong việc đòi hỏi hàng loạt các tiện nghi và các dịch vụ hỗ trợ tại nơi được lựa chọn Vì vậy với những nhu cầu và mong muốn của du khách để đảm bảo sự thỏa mãn đó thì điểm đến du lịch cũng cần có sự đầu tư nhất định, sự liên kết với các ngành khác: giao thông, y tế, cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, dân cư Điều này được phản ánh bởi các hệ thống hạ tầng cơ bản như các dịch vụ công cộng, giao thông công cộng và đường xá cũng như các dịch vụ trực tiếp cho du khách như chỗ ở, thông tin cho du khách, các dịch vụ giả trí, thể thao, hướng dẫn, phục vụ hay mua sắm

- Các hoạt động bổ sung

Một thực tế hiện nay đang diễn ra trong hoạt động du lịch của nước ta đó là:

du khách muốn tiêu tiền nhưng không biết mình phải tiêu tiền ở đâu, cho cái gì, muốn làm một cái gì đó nhưng không biết phải làm ở đâu Đó là thực tế phản ánh tình trạng thiếu, yếu các cơ sở, dịch vụ, các hoạt động bổ sung cho du khách tại điểm đến du lịch

Thông thường việc sử dụng thời gian của du khách theo một chương trình đã được lập sẵn và trong đó có thời gian du khách được tự do sử dụng quỹ thời gian của mình Đối với khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế họ muốn sử dụng thời gian của mình một cách có ý nghĩa và hợp lý nhất trong quỹ thời gian ngẵn

Trang 21

ngủi của mình tại điểm đến Vì vậy ngoài những điểm tham quan đã được ghi trong lịch trình tour du lịch được cung cấp bởi các công ty, tổ chức du lịch thì mong muốn tìm hiểu, sử dụng các dịch vụ ngoài phần họ đã được nhà cung cấp ghi trong hợp đồng là những nhu cầu rất lớn Các dịch vụ bổ sung như dịch vụ làm đẹp, vui chơi giải trí, thưởng ngoạn và thẩm nhận cuộc sống thường nhật, một điểm tham quan lạ

và thú vị Để có thể đáp ứng được những nhu cầu đó thì một điểm đến với những chính sách đầu tư quy hoạch xây dựng, sự liên kết giữa các ngành có liên quan sẽ làm thỏa mãn du khách và đó cũng là một hình thức để quảng bá hình ảnh của con người, tầm cỡ của điểm đến du lịch với du khách

Sơ đồ 1.1 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch

1.2.3 Phân loại điểm đến du lịch

Có nhiều cách để có thể phân loại một điểm đến du lịch: Dựa vào hình thức

sở hữu, có điểm đến thuộc sở hữu nhà nước hay tư nhân; Căn cứ vào tài nguyên du lịch phân ra điểm đến có giá trị nhân văn hay tự nhiên; Căn cứ vào vị trí của điểm đến có điểm đến vùng biển, vùng nông thôn, thành phố ; Dựa vào mục đích phân

ra điểm đến nghỉ dưỡng, chữa bệnh, học tập, giải trí

Trong nghiên cứu này với nội dung chính của đề tài đề cập tới hoạt động xúc tiến của một điểm đến du lịch đã được xác định, xét trên phương diện lãnh thổ là

Dịch vụ lưu trú, ăn uống Các tiện nghi và dịch vụ

hỗ trợ

Các hoạt động bổ sung

Trang 22

một tỉnh Do đó trong việc phân loại điểm đến du lịch, tác giả đưa ra cách phân loại căn cứ trên góc độ lãnh thổ, điểm đến được phân loại như sau:

- Điểm đến cấp quốc tế: khu vực bao gồm nhiều hoặc một số quốc gia ví dụ như

điểm đến Châu Á, Châu Âu, Đông Nam Á Đối với cấp độ điểm đến này thì dựa vào đặc điểm chủ yếu là phân vùng theo sự phân chia lãnh thổ trên bản đồ thế giới

Ở một số, hoặc nhiều quốc gia này cũng có nhiều điểm tương đồng về ngôn ngữ, lối sinh hoạt văn hóa, tài nguyên du lịch

- Điểm đến là quốc gia: Nhỏ hơn điểm đến quốc tế, thường chỉ một quốc gia nhất

định như: điểm đến Việt Nam, Trung Quốc, Pháp Với đặc điểm của điểm đến là quốc gia thì tài nguyên du lịch, dịch vụ du lịch, khả năng tiếp cận cũng mang đặc điểm riêng của từng nước Chính những điều này mà có thể tạo nên sức hấp dẫn, cạnh tranh trong không gian là một thành tố tạo nên điểm đến quốc tế

- Điểm đến cấp vùng: Trong mỗi một đất nước sự phân chia lãnh thổ theo vùng gần

như là tất yếu để có thể dễ dàng cho chính quyền quản lý Đối với điểm đến cấp vùng ví dụ như ở nước ta có điểm đến vùng Bắc Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đồng bằng sông Hồng… Căn cứ vào những nét đặc trưng riêng trong lối sống văn hóa, điều kiện phát triển du lịch khác nhau, mà du lịch có thể phát triển theo những định hướng cụ thể cho từng điểm đến cấp vùng

- Điểm đến cấp địa phương hoặc đơn vị hành chính cá biệt: Hà Nội, Hạ Long,

Sapa… Có thể là toàn bộ một tỉnh, thành phố, hoặc một điểm hành chính nổi bật trong tỉnh, thành phố

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến điểm đến du lịch

- Tài nguyên du lịch: là yếu tố cơ bản để cấu thành một điểm đến du lịch Trong đó

tính hấp dẫn của điểm đến có ý nghĩa quan trọng như đã đề cập ở mục 1.1.2.1

Do đó nếu một điểm tham quan không có tài nguyên du lịch hấp dẫn thì không được coi là điểm đến du lịch

- Cơ sở hạ tầng: bao gồm hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc và

hệ thống điện nước là những yếu tố quan trọng hàng đầu Du lịch gắn với sự di chuyển của con người trong phạm vi nhất định Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào

Trang 23

giao thông vận tải Một điểm du lịch có sức hấp dẫn với du khách nhưng không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vận tải Thông tin liên lạc là điều kiện để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế Trong đời sống thường ngày không thể thiếu các phương tiện liên lạc Khách du lịch rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến điểm du lịch ngoài nhu cầu ăn uống đi lại, du khách cũng có nhu cầu đảm bảo về điện nước để quá trình sinh hoạt diễn ra bình thường

- Cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú: Đây là thành phần đặc trưng trong toàn bộ hệ

thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Là nhu cầu cơ bản và thiết yếu của du khách khi đến tham quan bất kỳ một điểm du lịch Điểm du lịch không đảm bảo được điều kiện cơ bản trên thì hoạt động du lịch không thể phát triển

- Cơ sở y tế: Nhằm mục đích phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ bổ

sung tại các điểm du lịch Bao gồm các trung tâm chữa bệnh bằng nước khoáng, nước nóng mặt trời… các phòng y tế với các thiết bị đầy đủ phục vụ tắm hơi, massage…

- Các cơ sở phục vụ dịch vụ bổ sung khác: trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu, xưởng

sửa chữa, bưu điện…

1.2.5 Hệ thống điểm đến du lịch

Hệ thống điểm du lịch được hình thành với những yếu tố hấp dẫn có khả năng thu hút khách du lịch được xác định trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030) là những khu, điểm du lịch quốc gia, điểm du lịch địa phương Những năm gầnđây cùng với quá trình đầu tư phát triển hạ tầng và những điều kiện tiếp cận điểm đến, nhiều khu du lịch, công trình nhân tạo ra đời kéo theo hoạt động du lịch như thủy điện Sơn La (Sơn La), di tích chùa Bái Đính (Ninh Bình), hầm đèo Hải Vân , khu vui chơi tổng hợp Đại Nam (Bình Dương) đã trở thành các điểm du lịch có sứcthu hút khách mới làm phong phú thêm hệ thống khu, điểm du lịch

Quy hoạch tổng thể xác định hệ thống các điểm du lịch quốcgia; trên cơ sở

đó trong quy hoạch phát triển du lịch trên địa bàn từng địa phươngxác định các điểm du lịch địa phương Các điểm du lịch được phân thành ba nhóm:

Trang 24

Điểm du lịch sinh thái, điểm du lịch văn hóa và điểm du lịch sinh thái kết hợp vănhóa Việc xác định điểm du lịch quốc gia chủ yếu dựa trên đánh giá về vị trí, quy mô, đặc điểm tài nguyên và mức độ hấp dẫn du lịch

Hệ thống điểm du lịch địa phương cũng được hình thành trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch ít nổi trội hơn về tính đặc sắc cũng như quy môso với các tài nguyên du lịch có giá trị cấp quốc gia Tuy nhiên, việc đánh giá xác định đối với hệ thống điểm du lịch quốc gia còn rất định tính và đạt được ở mức độ tương đối do vậy cho đến nay chưa có điểm du lịch được công nhận là điểm du lịch quốc gia, cũng vậy hệ thống điểm du lịch địa phương chưa được công nhận một cách chính thức theo quy định của Luật Du lịch

1.3 Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch

1.3.1 Khái niệm

Theo Well và Wint (2000): “Xúc tiến là hoạt động liên quan đến quảng cáo,

marketing trực tiếp, tham gia các triển lãm, hội trợ thương mại” [19, tr 1]

Theo Kotler (1993): “Xúc tiến là chỉ các hoạt động của những người làm công tác

marketing trong mối liên hệ với khách hàng Một số công cụ và hoạt động xúc tiến

cụ thể như khuyến mại, bán hàng trực tiếp, quảng cáo, quan hệ công chúng” [19, tr 2]

Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 tại mục 17 điền 4 phần giải thích từ ngữ có

đưa ra khái niệm: “Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động

nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch” [15] Từ những nội dung trong

khái niệm xúc tiến các nhà nghiên cứu du lịch cũng đưa ra những khái niệm về xúc tiến điểm đến du lịch

Etienns và Binns (2002): “Xúc tiến điểm đến là việc xây dựng và thực hiện

một chiến lược liên quan đến việc định vị lại hình ảnh và tái cấu trúc lại kinh tế của một điểm đến hoặc một địa phương cụ thể” [45, tr 237]

Gold và Ward (1994): “Xúc tiến điểm đến liên quan ít nhất đến ba khía cạnh: hình

thành và thể hiện hình ảnh của điểm đến; chính sách công; các hoạt động marketing” [42, tr 14]

Trang 25

Trong tập bài giảng Xúc tiến du lịch của Thạc sĩ Nguyễn Thu Thủy Khoa Du lịch học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn có đưa ra quan điểm: “Xúc

tiến điểm đến (Destination Promotion) là việc xây dựng một chương trình xúc tiến hỗn hợp có sự kết hợp của nhiều công cụ xúc tiến khác nhau nhằm thu hút sự quan tâm, chú ý trên diện rộng của đông đảo du khách đến điểm du lịch” [34, tr 4]

Trên thực tế, điều kiện về tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất, khả năng tiếp cận của mối điểm đến du lịch là khác nhau Nhưng xét trên phạm vi về khả năng cung ứng, đáp ứng nhu cầu của du khách thì mỗi một điểm đến lại có những lợi thế nhất định Vì vậy mỗi điểm đến để có thể thu hút được du khách về với mình thì một chiến lược xúc tiến du lịch thường được xây dựng dựa vào những điểm nổi trội của điểm đến để có thể quảng bá đối với du khách Khái quát về chiến lược xúc tiến

điểm đến du lịch trong nghiên cứu Một số vấn đề về chiến lược xúc tiến điểm đến

du lịch Việt Nam của Thạc sĩ Nguyễn Văn Đảng có đề cập: “Chiến lược xúc tiến điểm đến du lịch chính là một hệ thống các quyết định liên quan đến mục tiêu, người nhận tin, ngân sách xúc tiến nhằm phát triển và duy trì hiệu quả một hỗn hợp công cụ truyền thông trên cơ sở nguồn lực của các tổ chức, để thu hút một cách cạnh tranh các khách hàng hiện tại và tiềm năng tới điểm đến, đạt được các mục tiêu xúc tiến và các mục tiêu chung của điểm đến” [8, tr 88]

1.3.2 Vai trò, lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch

- Đối với chính điểm đến và các nhà cung ứng sản phẩm du lịch

Trước hết có thể thấy rằng một điểm đến du lịch thực hiện một chương trình, chiến lược xúc tiến thì mục đích quảng bá, thông tin rộng rãi hơn về toàn bộ thông tin: nguồn tài nguyên đáp ứng nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn của du khách; khả năng đáp ứng được nhu cầu về các dịch vụ ăn, nghỉ, bổ sung ; sản phẩm du lịch của điểm đến là điều quan trọng nhất Từ những điều này mới có thể thu hút được

sự chú ý, lưu tâm của du khách mỗi lần lựa chọn nơi mà mình sẽ tiêu lượng thời gian của kỳ nghỉ; thu hút được nguồn khách và quan trọng hơn chính là sự thu hút đối với các nhà đầu tư Sự minh bạch về lượng thông tin của điểm đến trong quá

Trang 26

trình thực hiện hoạt động xúc tiến du lịch của một điểm đến du lịch như là một bộ

hồ sơ để mời các nhà đầu tư quan tâm đến lĩnh vực này tại điểm đến

Với các doanh nghiệp và đại lý cung ứng sản phẩm du lịch, hoạt động xúc tiến điểm đến sẽ là công cụ hiệu quả để giữ vững nhu cầu cũ, tạo thêm nhu cầu mới, kích thích tiêu thụ, bảo đảm uy tín, vị trí kinh doanh, nâng cao lợi nhuận; có thể nhanh chóng cho thị trường biết được bất cứ sự thay đổi nào về các sản phẩm, hỗ trợ việc giới thiệu sản phẩm dịch vụ mới vào thị trường… Đây cũng là cách thức có thể tạo lập được mối quan hệ gắn bó giữa doanh nghiệp, các đại lý và khách du lịch Hoạt động xúc tiến cũng có thể nhắc nhở người đi du lịch nhớ đến và sử dụng sản phẩm nhiều lần

Qua hoạt động xúc tiến, nhà cung ứng cũng sẽ tiếp nhận những phản ứng đáp lại của khách hàng, góp phần cải thiện, hoàn chỉnh và nâng cao được chất lượng sản phẩm, dịch vụ điểm đến

- Đối với khách du lịch

Một Website đẹp, có nội dung phong phú nhưng ít người biết tới, không bằng một Website có nội dung trung bình nhưng được nhiều người biết đến Áp dụng ý nghĩa đó với một điểm đến thì không hoàn toàn đúng Nhưng đứng về góc

độ thông tin thì một điểm đến mà du khách tiếp cận một cách dễ dàng nhất, đầy đủ nhất sẽ là ấn tượng đầu tiên

Xét về sản phẩm du lịch: thì tính vô hình, sản xuất và tiêu thụ cùng một thời gian và thậm chí cùng một địa điểm, du khách lựa chọ điểm đến, sản phẩm tại điểm đến không thể cảm nhận được ngay mà phải trong quá trình sử dụng mới cảm nhận được nó tốt, hay không tốt Khi hoạt động xúc tiến phát triển rộng rãi, khách du lịch

có thể dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm thông tin về điểm đến du lịch, về sản phẩm dịch vụ, giả cả, nơi cung cấp, hình thức thanh toán Từ đó, du khách có thể hình dung được một phần nào đó về điểm đến mình chọn, giảm bớt tính rủi ro khi quyết định mua một sản phẩm du lịch Như vậy hoạt động xúc tiến điểm đến còn có tác dụng hướng dẫn khách du lịch, giúp họ nhận thức được những nhu cầu cần thiết (mà họ chưa biết) và cung cấp những sản phẩm thích hợp về nhu cầu đó, cung cấp

Trang 27

toàn bộ kiến thức về một loại sản phẩm, dịch vụ, làm tăng độ hiểu biết của người tiêu dùng về thị trường, trình độ lựa chọn của khách hàng Hoạt động xúc tiến sẽ tạo

ra một môi trường cạnh tranh mang tính công bằng giữa các điểm đến với nhau Để tăng khả năng cạnh tranh, để có thể thu hút được khách du lịch nhiều hơn các đối thủ khác, các điểm đến, các doanh nghiệp sẽ phải có những chính sách thu hút khách như đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giảm giá sản phẩm, các hình thức khuyến mãi… Qua tất cả những chính sách chạy đua này thì người có lợi chính là khách du lịch

- Đối với cộng đồng dân cư địa phương

Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch với mục đích quảng bá, giới thiệu những

gì mà một điểm đến nhất định có thể đáp ững nhu cầu của du khách, từ đó thu hút

sự chú ý và lựa chọn cho kỳ nghỉ của mình Với một chương trình xúc tiến điểm đến hiệu quả thì lợi ích của chính quyền, ban quản lý, đơn vị sở hữu điểm đến và đặc biệt là người dân ở nơi đó được đảm bảo Số lượng du khách tới tăng lên thì tạo

ra nhiều việc làm và thu nhập cho người dân địa phương, cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho chính họ

Hoạt động xúc tiến hiệu quả, du lịch phát triển là điều kiện cho quá trình giao lưu văn hóa, người dân địa phương có thể học hỏi và tạo cho mình những kinh nghiệm, kiến thức, tự bồi dưỡng cho mình khả năng phục vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ, ý thức trong quá trình phục vụ du khách Một điểm đến du lịch với sản phẩm đa dạng, thái độ người dân trong ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên điểm đến, ý thức nâng cao chất lượng dịch vụ, thái độ phục tốt sẽ là những thế mạnh và lợi thế cạnh tranh với những điểm đến đồng hạng khác

1.3.3 Nội dung của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch

Điều 79 Luật Du lịch năm 2005 đề cập đến nội dung xúc tiến du lịch như sau:

- Tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về đất nước, con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người, bản sắc văn hóa dân tộc cho nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế

Trang 28

- Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường du lịch văn minh, lành mạnh, an toàn, phát huy truyền thống mến khách của dân tộc

- Huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển các khu đô thị, khu du lịch, điểm du lịch đa dạng độc đáo, có chất lượng cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc trong

cả nước, từng vùng, và từng địa phương, phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất

kỹ thuật du lịch, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch

- Nghiên cứu thị trường du lịch, xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp với thị hiếu khách du lịch, tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm du lịch

1.4 Kinh nghiệm xúc tiến quảng bá du lịch của một số điểm đến du lịch, bài học kinh nghiệm rút ra với Ninh Bình

1.4.1 Kinh nghiệm xúc tiến của một số điểm đến du lịch

* Kinh nghiệm hoạt động xúc tiến của tỉnh Khánh Hòa

Nhắc đến Khánh Hòa chúng ta sẽ nhớ đến Nha Trang – hòn ngọc bên bờ biển Đông, nơi diễn ra Festival Biển 2013 (7/6- 10/6/2013) Nha Trang - Khánh Hòa gắn liền với du khách trong nước cũng như quốc tế với một hình ảnh đẹp đó là Thiên đường du lịch biển đảo

Hình 1.1 Logo điểm đến du lịch Nha Trang 2013

(Nguồn: http://www.nhatrang.org.vn/festival/)

Trang 29

Tại Festival, du khách và người dân được tham gia vào các hoạt động trải đều trên các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch như: Giải đua xe Báo Khánh Hòa cúp CMC, thể dục cổ động, hoạt động hưởng ứng ngày môi trường Thế giới và Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam, Lễ hội Hoa Quả Sơn, Hội chợ du lịch quốc tế biển được tổ chức tại nhà hát lớn Diamond Bar, các hội thảo khoa học…, du khách thực sự cảm thấy hài lòng với hoạt động sôi nổi, phong phú mang đậm nét văn hóa biển

Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa, trong 4 ngày chính thức của fetsival biển, Nha Trang đón hơn 92.000 lượt khách lưu trú, tăng 12% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế tăng gần 17% Điều đó cho thấy Festival biển đã trở thành một thương hiệu, một điểm nhấn, một sự kiện quan trọng

để níu chân khách du lịch khi đến với thành phố biển xinh đẹp này

Có thể nhận thấy rằng hoạt động xúc tiến của Khánh Hòa đạt được nhiều thành công Với lợi thế là tỉnh có nguồn tài nguyên biển phong phú, Khánh Hòa xác định rõ sản phẩm du lịch của Tỉnh, từ đó phát triển, mở rộng sản phẩm du lịch thu hút du khách Theo Trung tâm xúc tiến du lịch và thương mại tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến du lịch, thương mại và đầu tư, tham gia các hội trợ triển lãm trong và ngoài nước… Những hoạt động này góp phần thu hút đầu tư, cũng như tạo

ra năng lực cạnh tranh cho Khánh Hòa Xác định rõ thị trường khách từ đó tỉnh chú trọng đến việc phát triển sản phẩm du lịch biển đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách du lịch Một thành công nữa trong xúc tiến du lịch Khánh Hòa đó là việc

áp dụng các công cụ xúc tiến phù hợp tiêu biểu là thành phố biến Nha Trang

Bên cạnh những thành công nêu trên, hoạt động xúc tiến của Khánh Hòa còn một số hạn chế sau:

- Một là hoạt động xúc tiến còn thiếu sự phối hợp hoạt động giữa các ngành chức năng

- Hai là kinh phí cho các hoạt động xúc tiến còn hạn chế, các nguồn thu kinh phí còn bị bó hẹp và dễ dàng nhận thấy đây là khó khăn chung của các tỉnh

* Kinh nghiệm hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh Quảng Ninh

Trang 30

Khác với Khánh Hòa, Quảng Ninh được nhắc đến với Lễ hội Carnaval nổi tiếng được tổ chức hàng năm (từ năm 2007) đến nay Với mỗi một chủ điểm khác nhau song năm nào Carnaval cũng gặt hái được nhiều thành công thu hút được lượng khách tham quan du lịch lớn

Hình 1.2 Logo Carnaval Hạ Long 2013

(Nguồn: baoquangninh.com.vn/Carnaval-Ha-Long-2013)

Trong lễ hội các hoạt động vui chơi, mua sắm, đi chợ quê, thưởng thức ẩm thực Việt, tham gia các triển lãm… diễn ra cùng sự tham gia của đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế Trong những ngày diễn ra Carnaval, du khách đến Quảng Ninh tăng đột biến Lễ hội Carnaval 2013 khai mạc vào ngày 27/4/2013, trong những ngày này mỗi ngày có gần hai vạn lượt du khách đến tham quan Vịnh

Hạ Long - kỳ quan thiên nhiên Thế giới Tại các thành phố Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả, khu du lịch Bãi Cháy 90% khách sạn, nhà nghỉ, tàu nghỉ đêm trên vịnh đều kín phòng Tổng lượt khách đến Quảng Ninh trong 4 tháng đầu năm đạt 3.674.000 lượt, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó khách quốc tế đạt trên 1.018.000 lượt, tăng 6%

Như vậy, Quảng Ninh là một trong những tỉnh đã rất thành công trong xúc tiến điểm đến du lịch Du lịch Quảng Ninh đã tạo được những ấn tượng tốt đẹp với khách du lịch cả trong nước và quốc tế Trung tâm xúc tiến du lịch và thương mại

Trang 31

tỉnh Quảng Ninh được thành lập với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, trách nhiệm, được đào tạo bài bản; xây dựng được hệ thống ấn phẩm, tài liệu quảng cáo du lịch với thông tin chính xác, hình ảnh phong phú Trang thông tin điện tử về du lịch của tỉnh hoạt động thường xuyên, cập nhật tin tức mới, dễ dàng tra cứu tìm kiếm Quảng Ninh là nơi thường xuyên tổ chức các hội chợ thương mại: Hội chợ thương mại Uông Bí, Vân Đồn, hội chợ xuân…

Tuy nhiên, trong công tác quảng bá xúc tiến du lịch, Quảng Ninh cũng còn

có những hạn chế nhất định Công tác quản lý điểm đến của Quảng Ninh chưa thực

sự hiệu quả, tình trạng tự tăng giá trong mùa du lịch vẫn diễn ra Nhiều doanh nghiệp kinh doanh du lịch vẫn chưa ý thức được vai trò của hoạt động xúc tiến Họ thường quá chú trọng đến lợi ích kinh tế mà làm ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh của Quảng Ninh Từ những ưu, khuyết điểm trên có thể khẳng định du lịch Quảng Ninh đã áp dụng các biện pháp và công cụ xúc tiến khá phù hợp và hiệu quả, song

để thành công hơn nữa Quảng Ninh cần khắc phục những hạn chế nêu trên

1.4.2 Bài học với điểm đến Ninh Bình

Dựa vào kinh nghiệm xúc tiến du lịch của Khánh Hòa và Quảng Ninh, du lịch Ninh Bình cần rút ra bài học để có thể đẩy mạnh hoạt động xúc tiến của tỉnh ngày càng hiệu quả hơn, thu hút được nhiều khách du lịch

- Ninh Bình cần bổ sung cả số lượng và chất lượng cho các cán bộ công tác trong lĩnh vực xúc tiến du lịch Nâng cao kiến thức, ngoại ngữ để việc quản lý khoa học

và chuyên nghiệp hơn

- Xác định rõ thị trường khách mục tiêu, tập trung vào thị trường khách quốc tế, phát triển sản phẩm du lịch phù hợp

- Áp dụng các công cụ xúc tiến đa dạng linh hoạt, tổ chức tham gia nhiều hội chợ, hội thảo về du lịch Mở rộng hợp tác, thu hút đầu tư của các đối tác, đặc biệt đầu tư nước ngoài

- Xây dựng, thiết kế nhiều ấn phẩm du lịch, vật phẩm du lịch với nội dung phong phú, thông tin đầy đủ chính xác

- Các hoạt động xúc tiến du lịch của tỉnh cần quan tâm, chú trọng đến các công ty lữ hành, hãng lữ hành lớn trong nước

Trang 32

Tiểu kết chương 1

Mỗi một điểm đến du lịch đều có những điểm mạnh và điểm hạn chế nhất định Hoạt động xúc tiến điểm đến với mục đích quảng bá rộng rãi cho du khách biết, nắm được những thông tin về: tài nguyên du lịch, dịch vụ cung cấp, sản phẩm

du lịch của điểm đến Đó là sự khác biệt giữa các điểm đến du lịch với nhau Tuy nhiên với một điểm đến du lịch căn cứ vào tài nguyên du lịch, các dịch vụ cơ bản, dịch vụ hỗ trợ và bổ sung mà nhà quản lý xác định cho mình thị trường khách cần đẩy mạnh việc quảng bá thu hút đem lại hiệu quả cao hơn cho hoạt động du lịch Trong chương 1, tác giả đã tổng hợp và đưa ra những nội dung về cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài: xác định một điểm đến du lịch; những yếu tố cấu thành điểm đến du lịch; xác định luồng du khách hay thị trường khách du lịch; xúc tiến và hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch đối với khách du lịch nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng; những bài học kinh nghiệm của các tỉnh bạn về hoạt động xúc tiến du lịch trong mảng thị trường khách du lịch quốc tế Từ những nội dung đó làm căn cứ cho hoạt động xúc tiến đối với thị trường khách quốc tế tại tỉnh Ninh Bình Với một góc nhìn cụ thể hơn của vấn đề xúc tiến điểm đến, xét trên khả năng về: tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực của tỉnh Ninh Bình có đầy

đủ cơ sở để thu hút nhiều hơn lượng khách du lịch quốc tế Vì vậy phản ánh về những chiến lược nhằm thực hiện mục đích đó, đề tài tiếp tục làm rõ những nội dung trong hoạt động xúc tiến đối với thị trường khách quốc tế của tỉnh Ninh Bình trong những chương tiếp theo

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN CỦA ĐIỂM ĐẾN

DU LỊCH NINH BÌNH CHO THỊ TRƯỜNG KHÁCH QUỐC TẾ

2.1 Khái quát chung về điểm đến Ninh Bình

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Ninh Bình là vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa Địa danh Ninh Bình chính thức có từ năm 1822 (năm Minh Mạng thứ 3) Trước khi có danh xưng

và địa danh Ninh Bình nơi đây là một vùng đất cổ có người cư trú rất sớm từ thời

đồ đá cũ mà dấu tích còn lưu lại ở các di chỉ Thung Lang (Tam Điệp) có niên đại 3 vạn năm, ở hang Đắng (Cúc Phương) cách ngày nay 7000 - 8000 năm…

Trong hành trình lịch sử của đất nước, đơn vị hành chính, địa giới và tên gọi của vùng đất này đã trải qua nhiều lần thay đổi Từ thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc đến nay Ninh Bình đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau Lúc đầu là Nam Giao; thời nhà Tần là Tượng Quận; thời nhà Hán thuộc quận Giao Chỉ và một phần thuộc quận Cửu Chân; từ thời Ngô, Tấn thuộc huyện Giao Châu; cuối nhà Lương thuộc Trường Châu; thời Tùy, Đường lại thuộc quận Giao Chỉ Sau khi dẹp loạn xong 12

sứ quân xây nền tự chủ, Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là Đại Cồ Việt, dựng kinh

đô ở Hoa Lư thuộc Châu Đại Hoàng Đến thời Lý là phủ Trường Yên và một phần châu Đại Hoàng Đời Trần là lộ Trường Yên, gồm 4 huyện là: Lê Gia, Uy Viễn, Yên Ninh, Yên Mô Thời nhà Hồ đổi thành trấn Thiên Quan, gồm các xã Xích Thổ,

Xa Lai và huyện Khôi Dưới thời thuộc Minh lại đổi thành châu Trường Yên thuộc phủ Kiến Bình và châu Ninh Hóa thuộc phủ Quảng Oai, Hưng Hóa, thời hậu Lê là đất hai phủ Trường Yên (gồm 3 huyện: Gia Viễn, Yên Ninh, Yên Mô), và phủ Thiên Quan (gồm 3 huyện: Phụng Hóa, Ninh Hóa, Lạc Thổ)

Năm 1450 - 1469 Ninh Bình lệ thuộc vào Thanh Hóa, từ năm 1470 - 1497 Ninh Bình là thủ phủ trấn Sơn Nam Thời Lê - Mạc chuyển thành Thanh Hoa trấn Dưới triều Tây Sơn vẫn giữ nguyên tên gọi đó Năm Gia Long thứ 5 (1056) đổi Thanh Hoa trấn thành đạo Thanh Bình Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi đạo Thanh Bình thành đạo Ninh Bình Địa danh Ninh Bình bắt đầu có chính thức từ đây Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) nâng trấn Ninh Bình thành tỉnh Ninh Bình, đến

Trang 34

năm 1838 cắt tổng Thần Phù, huyện Tống Sơn (nay là Nga Sơn, Thanh Hóa) về huyện Yên mô, phủ Yên Khánh tỉnh Ninh Bình Năm 1862, đổi phủ Thiên Quan thành Nho Quan và năm 1888 cắt huyện Lạc Thổ, Nho Quan về Hòa Bình Năm Thành Thái thứ 18 (1906) thành lập huyện Gia Khánh, gồm 4 tổng thuộc huyện Yên Khánh và 4 tổng thuộc huyện Gia Viễn

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 tỉnh Ninh Bình gồm thị xã Ninh Bình và 6 huyện: Nho Quan, Gia Viễn, Gia Khánh, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn Năm

1975 sau khi đất nước thống nhất, theo nghị quyết kỳ họp thứ II Quốc hội khóa V, tỉnh Ninh Bình hợp nhất với tỉnh Nam Hà thành tỉnh Hà Nam Ninh từ ngày 3/2/1976; và sau 16 năm hợp tỉnh, theo Nghị quyết kỳ họp thứ X Quốc hội khóa VIII từ ngày 1/4/1992, tỉnh Ninh Bình được tái lập trên phạm vi địa giới như trước khi hợp nhất

Trong suốt hành trình lịch sử, Ninh Bình đã có ít nhất trên 20 lần thay đổi về đơn vị hành chính, địa giới và tên gọi khác nhau Tên gọi Ninh Bình nói về một vùng đất bình yên và phát triển Qua bao nhiêu năm người dân Ninh Bình sinh sống

và làm việc trên vùng đất giàu truyền thống lịch sử, tự hào từng là kinh đô nước Đại

Cồ Việt của ba vương triều Đinh - Lê - Lý

Trang 35

Ninh Bình có diện tích đất tự nhiên là 1.389,1km2, với chiều dài đường bờ biển là 18km Toàn tỉnh có 62.000ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó diện tích đất canh tác là 47.000 ha, đất lâm nghiệp có rừng là 29.000 ha và trên 6.000 ha đất đồi, núi đá

Ninh Bình có các quốc lộ đi qua là 1A,10, 12B, 45, có đường sắt Bắc Nam, có nhiều sông chảy qua (sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vân, sông Vạc, sông Lạng )

Ninh Bình là tỉnh có địa hình đa dạng vừa có đồng bằng, đồi núi và nửa đồi núi và ven biển Địa hình có ba vùng khá rõ:

- Vùng đồng bằng trung tâm là vùng có đất đai màu mỡ, bãi bồi ven sông, có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ và sản xuất hàng hóa xuất khẩu

- Vùng đồi núi và nửa đồi núi với các dãy núi đá vôi, núi nhiều thạch sét, sa thạch, đồi đất đan xen các thung lũng lòng chảo hẹp, đầm lầy, ruộng trũng ven núi, có tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là đá vôi, có nhiều tiềm năng phát triển đặc biệt phát triển du lịch

- Vùng biển và ven biển có điều kiện phát triển và nuôi trồng thủy hải sản, khai thác các nguồn lợi ven biển

Ninh Bình thuộc tiểu vùng khí hậu sông Hồng, ngoài ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc và Đông Nam, còn chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển, đồi núi

và nửa đồi núi Một năm có 2 mùa rõ rệt: mùa khô thường vào tháng 11, 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa khô vào tháng 5 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình năm đạt 24,2o

C; độ ẩm trung bình 83%; lượng mưa trung bình năm đạt 1.860mm - 1950mm [2, tr 12]

2.1.3 Tài nguyên du lịch

* Tài nguyên du lịch tự nhiên

Là một tỉnh có diện tích không lớn, nhưng Ninh Bình lại có nguồn tài nguyên phong phú, là nơi hội tụ của nhiều danh lam, thắng cảnh có giá trị đặc biệt không chỉ với quốc gia mà cả quốc tế Với địa hình đa dạng: đồi núi, đồng bằng, biển và ven biển kết hợp với khí hậu cùng hệ sinh thái thiên nhiên đã tạo ra nhiều

Trang 36

tài nguyên đẹp và hấp dẫn phát triển du lịch như Tam Cốc - Bích Động, hệ thống hang động Tràng An, khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước Vân Long, suối nước nóng Kênh Gà, rừng quốc gia Cúc Phương với hệ động thực vật phong phú, hồ Yên Thắng, Yên Thái… với sự đa dạng sinh học cao Đây là cơ sở, tiền đề quan trọng để Ninh Bình phát triển các loại hình du lịch: du lịch sinh thái, du lịch tham quan, du lịch mạo hiểm, du lịch chữa bệnh…

Địa hình karst ở Ninh Bình tạo nên nhiều cảnh quan đẹp, đặc biệt là các quần thể hang động tiêu biểu là Tam Cốc - Bích Động (hơn 10 hang), và hang động Tràng An (48 hang xuyên thủy liên thông nhau)

+ Tam Cốc - Bích Động: nằm cách trung tâm thành phố Ninh Bình 7km, khu du

lịch bao gồm hệ thống Tam Cốc tức là 3 hang (hang Cả, hang Hai và hang Ba), cả

ba hang đều được tạo bởi dòng sông Ngô Đồng đâm xuyên qua núi và Bích Động

có nghĩa là “động xanh”, nơi đây được mệnh danh là Nam thiên đệ nhị động Đến đây du khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành, mát mẻ khi đi đò qua các hang

+ Khu du lịch sinh thái Tràng An: thuộc địa phận xã Trường Yên, xã Ninh Hải, xã

Ninh Xuân (huyện Hoa Lư), xã Gia Sinh (huyện Gia Viễn), xã Ninh Nhất phường Tân Thành (thành phố Ninh Bình), nằm về phía Đông Bắc tỉnh Ninh Bình cách thủ

đô Hà Nội hơn 90km về phía Nam, gần quốc lộ 1A, phía Bắc giáp huyện Gia Viễn, phía Tây giáp huyện Nho Quan, phía Nam giáp khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, phía Đông giáp quốc lộ 1A Đến khu du lịch Tràng An du khách sẽ được tham quan quần thể hang động phong phú với nhiều nét hấp dẫn riêng biệt: hang Ba Giọt, hang Địa Linh, hang Tối, hang Sáng, hang Ao Trai, hang Seo… và các thung như: thung đền Trần, thung Mây, thung Nấu rượu, thung Khống… Khung cảnh dọc hai bên bờ sông tạo nên bức tranh phong thủy hấp dẫn du khách Thêm vào đó núi chùa Bái Đính cũng là một điểm nhấn của khu du lịch Tràng An, là địa điểm du lịch tâm linh lớn nhất nước ta Ở vị trí đẹp sơn thủy hữu tình, Chùa Bái Đính có năm cái nhất: Chùa lớn nhất, tượng đồng to nhất (100 tấn), nhiều tượng nhất (500 pho tượng La

Trang 37

Hán), chuông to nhất, giếng ngọc lớn nhất Trong tương lai đây còn là công viên văn hóa và học viện Phật giáo

Với 48 hang xuyên thủy động, đây là quần thể hang động có một không hai ở Việt Nam Hiện nay quần thể khu du lịch Tràng An là đại diện của di sản Việt Nam ứng cử di sản thế giới với những giá trị nổi bật về cảnh quan thiên nhiên, lịch sử văn hóa và kiến tạo địa chất Nơi đây được kỳ vọng trở thành di sản thế giới hỗn hợp với cả hai tiêu chí văn hóa và thiên nhiên đầu tiên tại Việt Nam và cũng là địa danh được đầu tư trở thành khu du lịch tầm cỡ quốc tế

+ Khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước Vân Long: KBTTN Vân Long nằm ở phía

Đông Bắc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (thuộc địa phận của 7 xã: Gia Hưng, Liên Sơn, Gia Hòa, Gia Tân, Gia Vân, Gia Lập, Gia Khánh) có vị trí địa lý khá thuận lợi, nằm ngay ven quốc lộ 1A, cách trung tâm thành phố Ninh Bình 14km Đây là một quần thể núi đá vôi ven sông Đáy Năm 1960 theo chương trình trị thủy con sông này, người ta đã đắp một tuyến đê dài trên 30km bên tả ngạn và Vân Long trở thành vùng đất ngập nước với tổng diện tích 3.500ha Kết quả của hơn 10 cuộc khảo sát liên tiếp sau đó cho thấy Vân Long là sinh cảnh ngập nước nội thủy có tính

đa dạng sinh học thuộc loại cao nhất ở Việt Nam Năm 1998, KBTTN ngập nước Vân Long bắt đầu được đưa vào khai thác tuy chưa chính thức Đến năm 1999 Vân Long đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho xây dựng thành lập KBTTN, được ghi trong danh sách các khu bảo vệ đất ngập nước của Việt Nam và danh mục các khu rừng đặc dụng Việt Nam để trình chính phủ phê duyệt Là nơi khoanh vùng bảo vệ Vọoc quần đùi trắng - một loài linh trưởng quý hiếm được ghi trong Sách đỏ thế giới Hiện nay Vân Long được chính phủ Hà Lan, Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) và Trung tâm cứu hộ linh trưởng quý hiếm Cúc Phương hỗ trợ việc bảo tồn các loài thú quý hiếm Khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước Vân Long có vị trí thuận lợi có thể kết hợp với các khu du lịch như VQG Cúc Phương,

cố đô Hoa Lư, khu du lịch sinh thái Tràng An… tạo thành các tour du lịch hấp dẫn

du khách trong nước và quốc tế

Trang 38

+ Vườn Quốc Gia Cúc Phương: là vườn quốc gia đầu tiên ở Việt Nam được thành

lập ngày 7 tháng 7 năm 1962 với tổng diện tích 22.200 ha gồm 11.350 ha thuộc địa giới tỉnh Ninh Bình, 5.580 ha thuộc địa giới tỉnh Thanh Hóa và 5.000 ha thuộc địa giới tỉnh Hòa Bình Với hệ động thực vật phong phú và đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình phức tạp khu rừng nguyên sinh chứa nhiều điều bí ẩn, thú vị Ngoài giá trị về hệ động thực vật, Vườn Quốc gia Cúc Phương còn là địa điểm hấp dẫn của các nhà nghiên cứu khảo cổ học với những di vật của người tiền sử có niên đại cách đây khoảng 12000 năm: mồ mả, rìu đá, mũi tên đá, dụng cụ xay nghiền… trong các hang động Ngày nay VQG Cúc Phương trở thành trung tâm cung cấp các loài thực vật quý hiếm, có giá trị cao phục vụ các chương trình trồng rừng trong khu vực và trong cả nước Đến Cúc Phương đẹp nhất vào tháng 12 đến tháng 4, một khu rừng nguyên sinh với hệ sinh thái rừng đa dạng và phong phú được bảo vệ nghiêm ngặt

+ Suối nước nóng Kênh Gà: thuộc thôn Kênh Gà, xã Gia Thịnh, Huyện Gia Viễn

tỉnh Ninh Bình, cách động Vân Trình hơn 1km Suối nước nóng chảy ra từ lòng một của núi nằm ở làng nổi Kênh Gà nên có tên là suối nước nóng Kênh Gà Mạch nước này có từ rất lâu nhưng đến năm 1940 người Pháp mới phát hiện và tiến hành nghiên cứu Nước khoáng Kênh Gà chứa nhiều muối natriclorua, kaliclorua, canxi, magieclorua, và muối bicacbonat, nước không màu, trong, nhiệt độ ổn định quanh năm là 53oC Khách du lịch đến suối nước nóng Kênh Gà để tắm hay ngâm mình nhiều lần sẽ khỏi các bệnh như khớp mãn tính, viêm dây thần kinh, các bệnh ngoài

da và phụ khoa Nước suối Kênh Gà uống vào có tác dụng kích thích hoạt động của gan, mật, chữa bệnh bướu cổ và dùng để bào chế thành huyết thanh tiêm tĩnh mạch Nước khoáng Kênh Gà là một trong số ít mỏ nước khoáng lộ thiên ở nước ta có giá trị lớn trong y học để phòng và chữa bệnh

+ Động Vân Trình: nằm trong núi Mõ thuộc thôn Vân Trình, xã Thượng Hòa huyện

Nho Quan, là một trong những động lớn và đẹp nhất ở Ninh Bình Với tổng diện tích 3.500 m2, khu động gồm hai hang tuy liền kề nhau nhưng một hang cao, một hang thấp Vào trong hang, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kỳ thú của

Trang 39

tạo hóa, lung linh lấp lánh như một cung điện nguy ngơ Vẻ đẹp của động Vân Trình ví như Động Thiên Cung ở vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), động tiên giữa cói trần Trong hang động có vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa hiện hữu các hình thù, cảnh vật vừa xa xôi vừa gần gũi đời sống con người Có thể nói động Vân Trình là nơi quần

tụ các vẻ đẹp kỳ thú của hang động vùng quê Ninh Bình

+ Núi Dục Thúy (núi Non Nước): Nằm ở phía Đông Bắc thành phố Ninh Bình, soi

mình bên dòng sông Đáy hiền hòa, núi Dục Thúy từ lâu đã được coi là một cảnh đẹp nổi tiếng của Ninh Bình Núi Dục Thúy không cao, khoảng hơn 70m nhưng vóc dáng và địa thế đã tạo ra một vẻ đẹp huyền diệu, một bức tranh sơn thủy hữu tình luôn làm xao lòng du khách và làm rung động tâm hồn bao nghệ sĩ Lên đỉnh núi qua 72 bậc gạch chia làm 5 cấp, đỉnh núi tương đối bằng phẳng, cây cối xanh mát thuận lợi cho du khách nghỉ ngơi tham quan Là ngọn núi đẹp ở Ninh Bình, Dục Thúy sơn đã từng được ví là “cửa biển có non tiên” trong thơ Nguyễn Trãi Ninh Bình tự hào có núi Non Nước - một tài nguyên du lịch hấp dẫn

+ Hồ Đồng Thái: là một hồ nước ngọt nằm trên địa bàn xã Yên Đồng và Yên Thái,

huyện Yên mô tỉnh Ninh Bình.Toàn bộ hồ có diện tích 2.185 ha, trong đó có 380 ha được quy hoạch thành khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Đây là hồ nước lớn nhất Ninh Bình với nhiều loài động thực vật quý hiếm Hồ Đồng Thái là tài nguyên du lịch tự nhiên thích hợp để phát triển các loại hình du lịch giải trí như đua thuyền, thể thao nước, nghỉ dưỡng…

Bên cạnh các tài nguyên du lịch kể trên, Ninh Bình còn sở hữu rất nhiều các tài nguyên hấp dẫn khác từ địa hình karst với những hang động kỳ thú: động Mã Tiên, động Hang Mát, động chùa hang, hang Dơi… cùng với các cảnh quan thiên nhiên có giá trị cho việc phát triển du lịch

* Tài nguyên du lịch nhân văn

Ninh Bình không chỉ được biết đến với những tài nguyên du lịch tự nhiên như Vườn Quốc Gia Cúc Phương, khu du lịch Tràng An, hay khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước Vân Long… mà nhắc tới Ninh Bình du khách còn ấn tượng về một vùng đất văn hóa, giàu truyền thống lịch sử, những lễ hội dân gian, làng nghề truyền

Trang 40

thống và những món ăn đặc sắc Tất cả những nét đẹp văn hóa đó tạo nên một Ninh Bình đầy bí ẩn, có khả năng khai thác phục vụ phát triển du lịch Toàn tỉnh thống kê được 1.499 di tích, trong đó có 301 ngôi chùa, 299 đình, 381 đền, 98 miếu, 51 phủ, ngoài ra còn có 149 nhà xứ, 236 nhà thờ họ, 2 di tích được công nhận di tích cấp quốc gia đặc biệt quan trọng, 82 di tích quốc gia và 193 di tích cấp tỉnh – phụ lục 1 (Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 15 – NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030) Các di sản văn hóa dân gian ở Ninh Bình tập trung khá đậm đặc ở các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Yên Mô và thành phố Ninh Bình

Một số tài nguyên du lịch nhân văn tiêu biểu bao gồm:

a Nhóm các tài nguyên văn hóa - lịch sử

+ Nhà thờ đá Phát Diệm: Là một quần thể kiến trúc phương Đông độc đáo, nổi

tiếng được xây dựng bằng đá, nằm ở thị trấn Phát Diệm huyện Kim Sơn cách Hà Nội 125km về phía Nam Nhà thờ đá là kết quả của nhiều năm người dân sáng tạo, lao động miệt mài với bao mồ hôi và công sức (1875 - 1898) Công trình bao gồm:

Ao hồ, Phương Đình, Nhà thờ lớn và 4 nhà thờ nhỏ, ba hang đá nhân tạo Phía trước nhà thờ là một hồ nước rộng hình chữ nhật, ở giữa là một hòn đá nhỏ, trên có tượng đá Giêsu Phía sau hồ là một công trình đồ sộ gọi là Phương Đình có chiều dài 24m, rộng 17m, cao 25m gồm ba tầng xây đá phiến Tầng dưới lớn nhất được xây dựng bằng đá xanh, được lắp ghép tinh xảo Tầng giữa treo một cái trống, bên trong và bên ngoài của Phương Đình được trạm khắc rất tinh xảo với hình chúa, các

vị thánh và thánh giá…

Qua Phương Đình là nhà thờ lớn được xây dựng năm 1891dài 74m, rộng 21m, cao15m có năm lối vào vòm đá được trạm trổ rất đẹp Bên trong có 6 hàng cột bằng gỗ Lim, hai hàng cột giữa cao tới 11m, nặng khoảng 10 tấn Gian thượng của thánh đường có một bàn thờ lớn bằng một phiến đá nguyên khối nặng khoảng 20 tấn, dài 3m, rộng 0,9m, cao 0,8m Mặt trước và hai bên được trạm trổ hoa văn thể hiện bức tranh phong cảnh 4 mùa rất đẹp Hai bên nhà thờ lớn có 4 nhà thờ nhỏ, mỗi một nhà thờ được kiến trúc theo một kiểu riêng

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban tuyên giáo tỉnh ủy Ninh Bình (2007), Ninh Bình – 185 năm lịch sử và phát triển, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ninh Bình – 185 năm lịch sử và phát triển
Tác giả: Ban tuyên giáo tỉnh ủy Ninh Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2007
9. Trần Sơn Hải (2011), Phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Luận án tiến sĩ, Học viện hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
Tác giả: Trần Sơn Hải
Năm: 2011
10. Học viện ngân hàng (2006), Marketing căn bản, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing căn bản
Tác giả: Học viện ngân hàng
Năm: 2006
11. Đỗ Thị Thanh Hoa (2005), Nghiên cứu đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam tại một số thị trường trọng điểm, Đề tài nghiên cứu cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam tại một số thị trường trọng điểm
Tác giả: Đỗ Thị Thanh Hoa
Năm: 2005
12.Trần Thị Minh Hòa (2011), Tập bài giảng marketing điểm đến du lịch, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng marketing điểm đến du lịch
Tác giả: Trần Thị Minh Hòa
Năm: 2011
13. Lê Huy, lớp du lịch 45 B, Đẩy mạnh hoạt động khai thác thị trường khách du lịch Mỹ tại công ty lữ hành Hanoitourist, Chuyên đề tốt nghiệp, Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh hoạt động khai thác thị trường khách du lịch Mỹ tại công ty lữ hành Hanoitourist
14. Đào Thị Ngọc Lan (2011), Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương giai đoạn 2005- 2010, Luận văn thạc sỹ , Khoa Du lịch học, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội15. Luật du lịch năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương giai đoạn 2005- 2010
Tác giả: Đào Thị Ngọc Lan
Năm: 2011
18. Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Đình Hòa (2008), Giáo trình Marketing du lịch, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình Marketing du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Đình Hòa
Nhà XB: Nxb Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2008
19. Vũ Nam (2011), Tập bài giảng xúc tiến du lịch, Tổng cục du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng xúc tiến du lịch
Tác giả: Vũ Nam
Năm: 2011
30. Trần Đức Thanh (1999), Nhập môn khoa học du lịch, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
31. Trần Đức Thanh (2006), Địa lý du lịch, Tài liệu lưu hành nội bộ, Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Năm: 2006
32. Trần Thị Thủy ( 2011), Hoạt động xúc tiến đến cấp tỉnh ở Việt Nam: nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sỹ , Khoa Du lịch học, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động xúc tiến đến cấp tỉnh ở Việt Nam: nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An
33. Nguyễn Thu Thủy (2008), Tập bài giảng tâm lý học du lịch, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng tâm lý học du lịch
Tác giả: Nguyễn Thu Thủy
Năm: 2008
34. Nguyễn Thu Thủy (2008), Tập bài giảng xúc tiến du lịch, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng xúc tiến du lịch
Tác giả: Nguyễn Thu Thủy
Năm: 2008
37. Cohen, Erik ( 1972 ), Toward a sociology of International Tourism, Social Research 39, N1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toward a sociology of International Tourism
38. Davidson R and Maitland R (1997), Tourism destination, Bath Press, London, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourism destination
Tác giả: Davidson R and Maitland R
Năm: 1997
39. Eric Law (2002), Tourism Marketing, Quality and Service management perspective, Continuum, New York, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourism Marketing, Quality and Service management perspective
Tác giả: Eric Law
Năm: 2002
40. Ernie H & Geofrey W (1992), Marketing Toursim Destination, John Wiley & Sons Inc, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing Toursim Destination
Tác giả: Ernie H, Geofrey W
Nhà XB: John Wiley & Sons Inc
Năm: 1992
41. Michel Coltman & Roy Irwin Brown (1989), Tourism marketing, Van Nostrand Reinhold, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tourism marketing
Tác giả: Michel Coltman & Roy Irwin Brown
Năm: 1989
47. Tailieudulich.wordpress.com/2009/12/17/du-lich-chuc-nang/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Sơ đồ 1.1  Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch   19 - Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế
1 Sơ đồ 1.1 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch 19 (Trang 8)
Sơ đồ 1.1. Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch - Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế
Sơ đồ 1.1. Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch (Trang 21)
Hình 1.1. Logo điểm đến du lịch Nha Trang 2013 - Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế
Hình 1.1. Logo điểm đến du lịch Nha Trang 2013 (Trang 28)
Hình 1.2. Logo Carnaval Hạ Long 2013 - Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế
Hình 1.2. Logo Carnaval Hạ Long 2013 (Trang 30)
Bảng 2.4. Cơ sở lưu trú tại Ninh Bình từ 2009 đến 2012 - Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế
Bảng 2.4. Cơ sở lưu trú tại Ninh Bình từ 2009 đến 2012 (Trang 54)
Bảng 2.5. Kết quả kinh doanh du lịch Ninh Bình giai đoạn 2009 - 2012 - Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế
Bảng 2.5. Kết quả kinh doanh du lịch Ninh Bình giai đoạn 2009 - 2012 (Trang 58)
Bảng 2.6. Cơ cấu khách quốc tế đến Ninh Bình, giai đoạn 2009 - 2012 - Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế
Bảng 2.6. Cơ cấu khách quốc tế đến Ninh Bình, giai đoạn 2009 - 2012 (Trang 60)
Bảng 2.7. Một số đặc điểm của khách quốc tế đến Ninh Bình năm 2012 - Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế
Bảng 2.7. Một số đặc điểm của khách quốc tế đến Ninh Bình năm 2012 (Trang 61)
Bảng 2.8. Tổng hợp các ấn phẩm, tài liệu quảng cáo du lịch Ninh Bình phát - Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế
Bảng 2.8. Tổng hợp các ấn phẩm, tài liệu quảng cáo du lịch Ninh Bình phát (Trang 70)
Bảng 2.9. Tổng hợp kinh phí xúc tiến quảng bá du lịch cấp từ nguồn - Nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị trường khách quốc tế
Bảng 2.9. Tổng hợp kinh phí xúc tiến quảng bá du lịch cấp từ nguồn (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w