Thực tế cho thấy họ đã đạt được khá nhiều những thành tựu trong lĩnh vực khai thác sử dụng tài nguyên biển, đảo phục vụ cho mục đích phát triển KT-XH chung của đất nước, đặc biệt đã hình
Trang 1TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-
VƯƠNG TẤN CÔNG
Cơ sở khoa học phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường cho vùng hải đảo: Nghiên cứu điểm tại huyện đảo Cô Tô,
tỉnh Quảng Ninh
Hà Nội – 2007
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG ĐẢO VEN BỜ VIỆT NAM VÀ ĐẢO CÔ TÔ, TỈNH QUẢNG NINH 10
CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
2.1 Vị trí và vai trò, chức năng của huyện đảo Cô Tô trong hệ thống các huyện đảo
2.1.2 Vai trò và chức năng huyện đảo trong hệ thống các huyện đảo ven bờ
2.2 Đặc điểm các điều kiện tự nhiên- tài nguyên, kinh tế - xã hội 22
2.2.1 Đặc điểm các điều kiện tự nhiên- tài nguyên 22
CHƯƠNG 3 - ĐỀ XUẤT CÁC ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT
3.1 Đánh giá tổng hợp cho mục đích phát triển bền vững huyện đảo 86
Trang 33.2 Định hướng phát triển bền vững huyện đảo 93
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ của kinh tế biển (KTB) Các quốc gia có biển trên Thế giới đã
và đang xúc tiến xây dựng chiến lược, cũng như các kế hoạch hành động khai thác biển, khai thác vùng ven biển và hải đảo một cách mạnh mẽ Trung Quốc là một điển hình, trong nhiều năm qua đã tích cực đẩy mạnh mở cửa ra phía biển và sự ưu tiên trong đầu
tư, đã có những kế hoạch cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng duyên hải và các đảo ven bờ Thực tế cho thấy họ đã đạt được khá nhiều những thành tựu trong lĩnh vực khai thác sử dụng tài nguyên biển, đảo phục vụ cho mục đích phát triển KT-XH chung của đất nước, đặc biệt đã hình thành khá nhiều các điểm, khu kinh tế mở, đặc khu kinh tế phát triển và những khu vực này đã và đang phát huy được vai trò và hiệu quả kinh tế rất lớn của mình cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Philippin, Inđônêxia, Mailaixia, cũng đang tăng cường sức mạnh kinh tế trên biển Họ đang nỗ lực khai thác những ưu thế vượt trội về vận tải hàng hoá bằng đường biển với chi phí rẻ hơn nhiều lần so với các phương tiện vận tải, giao thông khác, cũng như đang có những chiến lược, kế hoạch, có sự quan tâm đặc biệt trong khai thác tài nguyên biển, đảo nói chung phục vụ cho mục tiêu phát triển KT-XH, Có thể thấy rằng do có những ưu thế đặc biệt về tài nguyên biển, các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển đa dạng các ngành sản xuất, kinh tế, hệ thống các đảo ven bờ của các nước hiện đang được quan tâm và đầu tư khá mạnh mẽ cho nhiều mục đích khác nhau Và ở nhiều nơi sự phát triển của chúng đã đưa đến những hiệu quả kinh tế lớn, đã có những đóng góp không nhỏ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các nước
Đứng trước xu thế hội nhập toàn cầu, nhiều quốc gia không có biển cũng đang nỗ lực để có được những hợp tác về hoạt động phát triển kinh tế biển Đối với Việt Nam, chúng ta là một nước có tiềm năng hết sức to lớn để phát triển kinh tế biển, tuy vậy cho đến thời điểm hiện nay chúng ta vẫn chưa tận dụng và phát huy hết các lợi thế về khai thác các nguồn lợi tài nguyên biển vô tận của mình, chúng ta còn đi sau nhiều nước trong lĩnh vực này Tuy nhiên cũng rất may mắn, trong một vài thập niên vừa qua và ở giai
Trang 5đoạn hiện nay vấn đề nghiên cứu biển, phát triển kinh tế biển và hải đảo đã và đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đầu tư một cách khá toàn diện các nguồn vật lực, nhân lực, trí lực và tài lực nhằm xây dựng chiến lược sử dụng hợp lý tài nguyên biển, các chính sách và biện pháp thực thi cụ thể, phù hợp với mong muốn trong tương lai không
xa sẽ có thể xây dựng được một nền kinh tế biển vững mạnh và đạt hiệu quả cao
Việt Nam có chiều dài đường bờ biển trên 3260 km, đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới Vùng ven biển Việt Nam là vùng kinh tế - sinh thái - nhân văn rộng lớn và khá đặc thù, trải dài trên 13 vĩ độ, thuộc phạm vi lãnh thổ hành chính của
28 tỉnh, thành phố, là vùng thềm lục địa của Việt Nam, trong đó có ít nhất 2773 hòn đảo lớn - nhỏ khác nhau (chưa kể các đảo của 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) và được coi là "mặt tiền" của cả nước để thông ra Thái Bình Dương, hòa nhập với 10 đường hàng hải đi tới nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ và các thị trường rộng lớn trên khắp Thế giới
Các huyện đảo - một phần lãnh thổ quan trọng của chiến lược phát triển này Để phát triển kinh tế biển vững mạnh cần phải phát huy tối đa tài nguyên trong vùng nội thủy, vùng lãnh hải và vùng hợp tác quốc tế, đặc biệt là phải phát triển kinh tế trên các đảo, để trở thành cầu nối giữa đất liền với ngoài khơi trong khai thác kinh tế cũng như củng cố ANQP gìn giữ chủ quyền Đất nước Tuy nhiên, vấn đề phát triển bền vững trên đảo đang là một trong những khó khăn và thách thức lớn đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay
Việc đánh giá đúng đắn điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế các vùng biển đảo có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng Nó không những giải quyết được mâu thuẫn giữa vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường (BVMT), giữa phát triển kinh tế và chủ quyền, an ninh quốc gia trên biển, mà còn tạo điều kiện cho kinh
tế phát triển từ đất liền vươn ra ngoài vùng biển khơi
Nằm ở phía Bắc vịnh Bắc Bộ, quần đảo Cô Tô có vị trí chiến lược quan trọng - đảo tiền tiêu của Đất nước Đây là một trong những vùng biển luôn xảy ra tranh chấp trên biển với Trung Quốc, do đó quần đảo Cô Tô cần phải được tạo điều kiện phát triển vững
về kinh tế và mạnh về quốc phòng như một đơn vị hành chính độc lập Nhận thức được tầm quan trọng đó, ngày 29 tháng 3 năm 1994 Nhà nước đã quyết định thành lập huyện đảo Cô Tô, trực thuộc tỉnh Quảng Ninh
Trang 6Các hệ sinh thái trên đảo có thể hiểu như một địa hệ, có mức độ nhạy cảm rất cao với tất cả các biến động xảy ra do các quá trình nội ngoại sinh bên trong mỗi địa hệ và đặc biệt là rất nhạy cảm với các tác động của con người Quá trình sản xuất đòi hỏi phải khai thác tài nguyên để làm nguyên liệu đầu vào và thải ra môi trường phế thải Đặc thù của đảo chính là vai trò của yếu tố biển đối với sự phát triển của tài nguyên tự nhiên và các nhân tố xã hội tạo thành một hệ thống phức tạp hơn rất nhiều so với đất liền Do đó, cần thiết phải xác định “ngưỡng phát triển” của các ngành kinh tế trên cơ sở các nguyên tắc phát triển bền vững
Để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả, kinh tế huyện đảo Cô Tô cần phải được quy hoạch phù hợp với quỹ sinh thái của lãnh thổ và điều này phụ thuộc rất nhiều vào công tác nghiên cứu, điều tra, đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương
Đề tài luận văn “Cơ sở khoa học phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường
cho vùng hải đảo: nghiên cứu điểm tại huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh ” được tiến
hành nhằm đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên lãnh thổ, xây dựng cơ sở khoa học cho việc xác định quy mô phát triển KT-XH, tiến tới xây dựng một mô hình phát triển bền vững, đạt hiệu quả cao về mặt kinh tế và an toàn đối với môi trường huyện đảo Cô Tô nói riêng và hải đảo nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu làm rõ tiềm năng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng kinh tế, xã hội của đảo Cô Tô qua đó đề xuất các giải pháp sử dụng hợp
lý tài nguyên, xây dựng các định hướng chiến lược phát triển KT-XH trên quan điểm phát triển bền vững, tạo tiền đề cho việc đảm bảo ANQP của đảo nói riêng và của đất nước ta
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tổng hợp mối quan hệ thống nhất của cả hai phụ hệ thống
“biển” và “đảo” trên các đảo và mối quan hệ hữu cơ giữa các đảo
Phạm vi nghiên cứu khoa học: đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên trên huyện đảo Cô Tô, xác lập cơ sở khoa học để đưa ra những định hướng nhằm phát triển bền vững kinh tế- xã hội của huyện đảo và đảm bảo vai trò vị trí quan trọng của nó đối với mục đích an ninh quốc phòng lãnh thổ
Trang 7Phạm vi không gian lãnh thổ: Huyện đảo Cô Tô đây là huyện đảo có vị trí quan trọng và có tiềm năng to lớn trong việc đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển KT - XH
và các điều kiện khác như sự liên kết phát triển gắn với các khu vực, các tuyến, trung tâm phát triển của đất nước và từng vùng lãnh thổ
4 Cơ sở tài liệu
- Các tài liệu mang tính là cơ sở lý luận đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội đảo, huyện đảo của các tác giả trong và ngoài nước
- Tài liệu về nghiên cứu, điều tra, đánh giá, xây dựng mô hình kinh tế áp dụng cho các đảo và hệ thống đảo ven bờ Việt Nam Các tài liệu điều tra, nghiên cứu, khảo sát thực địa: nghiên cứu đặc điểm và sự phân hoá các yếu tố thành tạo cảnh quan, thực trạng phát triển kinh tế của địa phương
- Tư liệu bản đồ và viễn thám: bản đồ địa hình, địa mạo, hiện trạng chất lượng môi trường nước dưới đất,v.v tỷ lệ 1:10.000; ảnh viễn thám viễn thám
- Các đề tài, dự án, báo cáo khoa học về điều tra điều kiện tự nhiên, KT-XH, tài nguyên và môi trường, kế hoạch, quy hoạch phát triển KT-XH đến năm 2010 và tầm nhìn năm 2020 của huyện Cô Tô và tỉnh Quảng Ninh
5 ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 ý nghĩa khoa học: đề tài là một công trình nghiên cứu ứng dụng trên cơ sở cách
tiếp cận địa lý, áp dụng phương pháp đánh giá tổng hợp đối với một huyện đảo Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện phương pháp luận đánh giá tổng hợp áp dụng đối với lãnh thổ là đảo và huyện đảo
5.2 ý nghĩa thực tiễn: những định hướng, kiến nghị đề tài đề xuất là cơ sở khoa học
để xây dựng quy hoạch và tổ chức không gian lãnh thổ cho phát triển bền vững huyện Cô Tô cũng như các huyện đảo khác trong hệ thống đảo ven bờ Việt Nam
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm nghiên cứu
6.1.1 Quan điểm phát sinh
Trang 8Mỗi một đơn vị địa lý tổng hợp trên lãnh thổ đều trải qua tác động của các nhân tố địa đới và phi địa đới Tác động tổng hợp của hai yếu tố này nên mỗi địa hệ không giống nhau áp dụng quan điểm này trong đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế – xã hội quần đảo Cô Tô, đề tài không chỉ nghiên cứu các đối tượng địa
lý về mặt hình thái mà còn chú trọng đến nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển của chúng, từ đó phân chia lãnh thổ thành các đơn vị cảnh quan có sự giống nhau về biểu hiện bên ngoài, tương đồng về đặc điểm phát sinh Quan điểm này được áp dụng cho mọi cấp phân vị cảnh quan
6.1.2 Quan điểm lịch sử
Thiên nhiên là một chỉnh thể hoàn chỉnh và thống nhất của các hợp phần Nếu như không có các tác động của con người các hợp phần đó sẽ phát triển theo đúng quy luật của tự nhiên, và đều trải qua ba giai đoạn: hình thành, phát triển và già cỗi Nghiên cứu quá khứ để đánh giá hiện tại và dự báo xu thế phát triển trong tương lai Vì vậy, nghiên cứu sự phân hoá các đơn vị cảnh quan đảo Cô Tô phục vụ PTBV phải dựa trên việc nghiên cứu lịch sử phát triển của chúng
6.1.4 Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp đã được đề xuất từ rất lâu và trở thành kim chỉ nam cho mọi nghiên cứu địa lý Quan điểm này đòi hỏi khi nghiên cứu lãnh thổ phải chú ý tới tất cả các hợp phần tự nhiên Theo Vũ Tự Lập quan điểm này chú ý tới sự phát sinh và sự phân
Trang 9hoá lãnh thổ, kiến trúc hiện đại của môi trường địa lý Vì vậy, nghiên cứu các đơn vị lãnh thổ nhất thiết phải được xem xét trên quan điểm tổng hợp Đề tài đã vận dụng quan điểm này trên các khía cạnh sau:
- Nghiên cứu toàn diện các điều kiện tự nhiên và tài nguyên theo các quy luật chi phối và các mối quan hệ của chúng trong tự nhiên
- Ngoài ra, nghiên cứu tổng hợp chỉ thật sự đầy đủ khi tiến hành điều tra cả các điều kiện KT- XH và các điều kiện về môi trường
6.1.5 Quan điểm đồng nhất tương đối
Tính đồng nhất tương đối là đặc điểm cơ bản của các địa tổng thể nói chung và các đơn vị cảnh quan đảo Cô Tô nói riêng Đây là chỉ tiêu để phân biệt các đơn vị cảnh quan Theo như nhận xét của V.P Lidop (1954) bản thân các cảnh quan không thể có sự đồng nhất tuyệt đối
6.1.6 Quan điểm phát triển bền vững
Yêu cầu của phát triển bền vững đòi hỏi người ta phải sử dụng tài nguyên một cách hợp lý để đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không để lại gánh nặng cho thế
hệ mai sau Sự phát triển của một lãnh thổ được coi là bền vững khi đảm bảo tính bền vững trên cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý số liệu
Các tài liệu, số liệu, báo cáo, bài báo, thông tin, webside liên quan Đó là tài liệu về điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa chất, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, các tai biến v.v…; các số liệu kinh tế - xã hội: dân số, diện tích, lao động, hiện trạng sử dụng đất, v.v …và thông tin về biến động kinh tế – xã hội, dân số, v.v…
Các số liệu, tài liệu được thống kê, phân tích, chọn lọc phù hợp với yêu cầu nội dung luận văn Trên cơ sở đó, lập đề cương chi tiết cho công tác thực địa để bổ sung, cập nhật tài liệu, bảo đảm tính đúng đắn và chính xác hoá của việc điều tra, nghiên cứu tổng hợp điều kiện địa lý lãnh thổ, phù hợp với mục đích nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp thực địa
Trang 10Phương pháp thực địa được thực hiện nhằm nghiên cứu, điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên, tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, kinh tế – xã hội của khu vực, bổ sung, chỉnh sửa, cập nhật số liệu, thông tin đã thu thập
Khảo sát thực địa trên địa bàn nghiên cứu của đề tài được tiến hành làm 2 đợt, theo các tuyến bao quát toàn bộ diện tích của các đảo
Ngoài ra, đề tài còn tham gia khảo sát trên biển bằng tàu, thuyền vòng quanh một
số đảo lớn, nhỏ ở khu vực hạt nhân của huyện
6.2.3 Phương pháp nhân tố chủ đảo
Phương pháp này được A.A Grigoriev đề xuất từ năm 1946, còn được F.N Minkop gọi là phương pháp nhân tố trội Những khu vực địa lý tự nhiên được phân ra trên bản đồ không nhất thiết phải vạch theo dấu hiệu chỉ thị, có trường hợp cùng một đường ranh giới dấu hiệu chỉ thị có thể thay đổi theo từng đoạn Phương pháp nhân tố chủ đạo dựa trên cơ sở của tính không đồng nhất về giá trị của các nhân tố tự nhiên, cho nên nhân tố chủ đạo phải hiểu là nhân tố có tính quyết định sự phân hoá của các thể tổng hợp địa lý tự nhiên đồng thời có khả năng tác động mạnh đến những nhân tố khác
6.2.4 Phương pháp bản đồ và Hệ thống tin địa lý
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã tiến hành sử dụng bản đồ địa hình, ảnh viễn thám để thiết lập kế hoạch chi tiết cho các đợt khảo sát thực địa để có thể bao quát toàn
bộ không gian khu vực nghiên cứu
Với sự hỗ trợ của các phần mềm GIS (Mapinfow, Arcview, Envi, ArcGIS) đề tài tiến hành chỉnh sửa, bổ sung các bản đồ hợp phần; giải đoán ảnh viễn thám và thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất; phân tích tổng hợp, chồng xếp các lớp thông tin để thành lập bản đồ cảnh quan, thực hiện các phép phân tích không gian trong tính toán mức độ chia cắt địa hình để phục vụ cho việc đánh giá và sử dụng các thuật toán của các phần mềm để thành lập các bản đồ đánh giá và bản đồ định hướng tổ chức không gian lãnh thổ Ngoài ra, phương pháp này còn được dùng để biên tập và thể hiện các bản đồ
6.2.5 Phương pháp phân tích tổng hợp
Các hợp phần địa lý của các lãnh thổ nói riêng và đảo Cô Tô nói chung luôn tồn tại trong hệ thống “biển-đảo” có sự thống nhất chặt chẽ và mối quan hệ mật thiết Sự biến
Trang 11đổi của mỗi yếu tố sẽ gây ra những biến đổi sâu sắc các hợp phần khác biên trong mỗi phụ hệ và do đó thay đổi cả hệ thống Quá trình phát triển kinh tế của con người đòi hỏi phải tác động vào tự nhiên, biến đổi chúng và do đó làm thay đổi tính quy luật vận động bên trong cũng như đặc điểm hình thái bên ngoài Do đó việc nghiên cứu, đánh giá tiềm năng của lãnh thổ nhất thiết phải dựa trên các phép phân tích mang tính hệ thống và logic, phù hợp với quy luật phát triển của mỗi địa hệ để thấy được sự vận động và dự báo
xu thế biến đổi của chúng
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về những công trình nghiên cứu hệ thống đảo ven bờ Việt Nam và đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường đảo Cô Tô
Chương 3: Đề xuất các định hướng và các giải pháp phát triển bền vững đảo cô Tô
Trang 12CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG ĐẢO VEN BỜ VIỆT NAM VÀ ĐẢO CÔ TÔ, TỈNH QUẢNG NINH
1.1 Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu lý luận chung về đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, tài nguyên, tiềm năng kinh tế - xã hội các khu vực, vùng lãnh thổ, đặc biệt các vùng với các điều kiện mang tính đặc thù biển và đảo cho mục đích phát triển KT-
XH của nhiều tác giả trong và ngoài nước
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đánh giá tổng hợp như công trình của Lê Bá Thảo, Vũ Tự Lập trình bày về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tổng hợp, áp dụng đối với cảnh quan, Lê Đức An, Lê Đức Tố về quan điểm và các nội dung đánh giá tổng hợp hệ thống đảo ven bờ Việt Nam, các tác giả Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Cao Huần, Phạm Quang Anh và nnk về đánh giá điều kiện địa lý và phát triển lý luận nghiên cứu đánh giá cảnh quan Việt Nam và nhiều vùng lãnh thổ khác cho các mục đích thực tiễn Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình thực tiễn áp dụng phương pháp đánh giá tổng hợp cho phát triển các đối tượng sản xuất, kinh tế ở quy mô cấp tỉnh, huyện, các đơn vị lãnh thổ nhỏ, các công trình công nghiệp, kỹ thuật của nhiều tác giả khác v.v
Trang 13* Tài liệu liên quan đến hệ thống đảo ven bờ Việt Nam
Các nghiên cứu về biển và hải đảo nước ta đã được Nhà nước cho phép thực hiện từ những năm 1960 trong khuôn khổ các chương trình hợp tác Quốc tế Tuy nhiên hầu hết các công trình nghiên cứu ở giai đoạn trước mới chỉ dừng lại ở việc điều tra tổng hợp tài nguyên biển Tiếp theo đó là các công trình đánh giá cho các mục đích ứng dụng cụ thể Trong đó có thể kể đến hai công trình tiêu biểu sau: 1/ Đề tài “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội biển” (KT.03.12) thuộc Chương trình nghiên cứu Biển (KT- 03) do GS TSKH Lê Đức An (1997) chủ trì đã thực hiện điều tra, đánh giá toàn bộ
hệ thống đảo ven bờ Việt Nam cho các mục đích: an ninh quốc phòng, di dân kinh tế mới, du lịch, dịch vụ biển, v.v 2/ Đề tài KT.03.18 (1991-1995) đã nghiên cứu và xây dựng luận chứng khoa học kĩ thuật xây dựng và phát triển hệ thống du lịch biển Việt Nam Năm 2001 đề tài độc lập cấp Nhà nước “Điều tra nghiên cứu hệ thống đảo ven bờ vịnh Bắc Bộ phục vụ cho việc qui hoạch phát triển kinh tế-xã hội bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển” và giai đoạn 2001-2004, đề tài cấp Nhà nước KC.09.12: “Luận chứng khoa học về một mô hình phát triển kinh tế - sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn vùng biển ven bờ Việt Nam” do GS.TS Lê Đức Tố chủ trì, bước đầu đã xây dựng được mô hình kinh tế sinh thái trên ba cụm đảo lựa chọn là cụm đảo Ngọc Vừng(tỉnh Quảng Ninh), cụm đảo Cù Lao Chàm (tỉnh Quảng Nam), cụm đảo Hòn Khoai (tỉnh Cà Mau) và nhiều công trình nghiên cứu riêng cho các đảo, huyện đảo của các tác giả khác và của các địa phương, và nhiều công trình nghiên cứu khác có liên quan
Hệ thống đảo ven bờ (HTĐVB) là tập hợp các đảo, cụm đảo, quần đảo phân bố trên thềm lục địa, kể từ sát bờ ra đến những đảo xa nhất là Bạch Long Vỹ, Hòn Hải, Bẩy Cạnh, Thổ Chu, Phú Quốc Theo kết quả thống kê chưa đầy đủ của đề tài KT - 03 - 12, HTĐVB gồm 2.773 đảo với tổng diện tích 1.720km2 (Bảng 1) có 84 đảo có diện tích trên 1km2 với tổng diện tích 1.596 km2 (92,7%), có 24 đảo trên 10km2 và 3 đảo trên 100km2, còn lại là các đảo rất nhỏ (Bảng 1.1)
Bảng 1.1: Các nhóm đảo phân chia theo diện tích Nhóm đảo theo
diện tích (km 2 )
Số đảo trong nhóm
Tỷ lệ trên tổng
số đảo (%)
Tổng diện tích của nhóm (km 2 )
Tỷ lệ trên tổng diện tích các đảo (%)
0,1129 1,6161 2,7909
0,01 0,10 0,16
Trang 1417,6136 14,5312 52,8745 34,7793 121,6281 61,5910 375,6273 133,7727 903,9378
1,02 0,84 3,07 2,02 7,07 3,58 21,83 7,77 52,53
Bảng 1.2: Số lượng và diện tích hệ thống đảo ven bờ Việt Nam theo các vùng
Toàn hệ thống đảo Các đảo có diện tích ≥ 1 km 2
là ven bờ Nam Trung Bộ và Nam Bộ (Bảng 1.3)
Bảng 1.3: Phân loại 84 đảo có diện tích ≥ 1 km 2 theo diện tích và vùng phân bố
Số đảo theo diện tích Số đảo theo diện tích và vùng
Diện
tích đảo Số Tỷ lệ % Loại diện Số đảo phân bố theo vùng Chung cả nước
Trang 15(km2) tích
(km2) Ven bờ
Bắc Bộ
Ven bờ Bắc Trung Bộ
Ven bờ Nam Trung Bộ
Ven bờ Nam
Bộ
Số đảo
Tỷ lệ %
so với tổng 84 đảo
15 (17,9%) 84 100
3 đảo (> 100km2): Phú Quốc (583 km2), Cái Bầu (190 km2), Cát Bà (163 km2)
7 đảo (20-100km2): Trà Bản (76,4 km2), Côn Đảo (57,4 km2), Hòn Bà I (45,2 km2), Hòn Tre I (38,4 km2), Vĩnh Thực (32,6 km2), Đồng Rui (32,3 km2), Ba Mùn (Cao Lô) (23,4 km2)
14 đảo (10-20km2): Phú Quý (18,0), Thanh Lân (16,8), Cái Lim (Trà Ngọ) (16,1), Vạn Cảnh (16,1), Đình Vũ (15,8), Quán Lạn (Cảnh Cước) (15,7), Cô Tô (15,6), Cù Lao Chàm (15,0), Cái Chiên (14,0), Đống Chén (13,6), Ngọc Vừng (12,0), Hòn Rái (11,5), Thẻ Vàng (11,1), Lý Sơn (10,0)
9 đảo (5-10km2):Thổ Chu (9,9), Hà Loan (8,2), Sâu Nam (7,4), Bẩy Cạnh (7,2), Phượng Hoàng (6,3), Hòn Bà II (6,1), Còng (Quả Soài) (5,5), Cống Nưa (5,5), Nam Du (5,5)
37 đảo (1-3km2): Tuần Châu, Cô Tô con, Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Hòn Mun
Đến cuối năm 2004 Việt Nam đã có 10 huyện đảo ven bờ (HĐVB) thuộc 7 tỉnh và thành phố được thành lập: Quảng Ninh (2), Hải Phòng (2), Quảng Trị (1), Quảng Ngãi (1), Bình Thuận (1), Bà Rịa - Vũng Tàu (1) và Kiên Giang (2)
Trang 16Cũng cần ghi nhận là trong phạm vi HTĐVB Việt Nam, ngoài 10 huyện đảo trên còn có 9 xã đảo, 1 phường đảo và hàng trăm đảo khác thuộc trực tiếp các đơn vị hành chính trên bờ, từ thuộc xã, phường, huyện, thị xã đến thuộc thành phố Các xã đảo đó thuộc 4 tỉnh là Quảng Ninh (4), Quảng Nam (1), Khánh Hoà (1) và Kiên Giang (3); 1 phường đảo thuộc thành phố Quy Nhơn
Các huyện đảo tập trung ở vùng biển Bắc Bộ (4) và Nam Bộ (3) và phân bố phân tán ở vùng biển Trung Bộ (3), có quy mô về diện tích và dân số rất khác nhau Lớn nhất
là huyện đảo Phú Quốc với 593,1km2 và 82.338 nhân khẩu Nhỏ nhất là 2 huyện đảo Bạch Long Vỹ và Cồn Cỏ (mới được thành lập vào 10/2004) với diện tích mỗi đảo chỉ trên 2km2 (ảnh 1-9 - Phần phụ lục)
Theo độ lớn HĐVB có thể chia thành 4 nhóm:
- Nhóm HĐVB lớn: Phú Quốc (539,1 km2), Vân Đồn(551,3 km2), Cát Hải (323,1
km2)
- Nhóm HĐVB khá lớn: Côn Đảo (75,2 km2), Cô Tô (46,2 km2)
- Nhóm HĐVB trung bình: Kiên Hải (27,9 km2), Phú Quý (16,0 km2), Lý Sơn (10,0
Ngược lại, huyện đảo Phú Quý, theo số liệu thống kê có 16,0km2 (số liệu trước đây là
32 km2) nhưng theo đo trên bản đồ huyện có diện tích khoảng 18km2 Huyện đảo Kiên Hải
có 2 số liệu diện tích thống kê khác nhau: 27,9 và 38,7km2 ngay trong niên giám thống kê
2003 tỉnh Kiên Giang (đo đạc là khoảng 25,0km2) Do đó, tổng diện tích các huyện đảo là 1651,3 km2 theo số liệu thống kê và 1348,9km2 theo số liệu đo đạc trên bản đồ, chênh nhau đến trên 300km2, là một con số quá lớn đối với các đảo
Tổng dân số trung bình năm 2004 trên 10 huyện đảo là khoảng trên 227.000 người, trong đó mật độ cao nhất là ở Lý Sơn với 1980,2 người/km2, thậm chí lớn hơn nhiều thị xã,
Trang 17thị trấn ở đồng bằng Bắc Bộ (thị xã Sơn Tây, mật độ 1.006 người/km2 năm 2001) Tiếp đến
là huyện đảo Phú Quý, với mật độ cũng rất cao: 1439 người/km2 Mật độ nhỏ nhất thuộc huyện Côn Đảo 63 người/km2 Trong vòng 4 năm từ 2000 đến 2004 dân số trên 8 huyện đảo (không kể huyện Bạch Long Vỹ và Cồn Cỏ) đã tăng lên 17.226 người (từ 207.360 đến 224.586) tức tăng 8,3%, thể hiện quá trình đang tăng dân số nhanh, chủ yếu thuộc về các huyện lớn đang có nền kinh tế phát triển mạnh nên có sức thu hút người đến kinh doanh, sản xuất (Phú Quốc tăng 10.534 người, Vân Đồn tăng 2.682 người) Có 2 huyện dân số giảm đi chút ít là Kiên Hải (331 người) và Cát Hải (58 người)
Ngoài vị thế đặc biệt quan trọng trong bảo vệ an ninh đất nước và giao thương quốc
tế, các HĐVB còn có tiềm năng to lớn cho phát triển kinh tế biển và ven biển, trong đó lớn nhất là mối liên kết chặt chẽ của chúng với các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước Bốn huyện đảo Cô Tô, Vân Đồn, Bạch Long Vỹ, Cát Hải gắn với vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; huyện đảo Lý Sơn gắn với khu kinh tế Dung Quất thuộc vùng kinh tế trọng điểm Trung Trung Bộ; huyện đảo Côn Đảo và phần nào đó là
huyện đảo Phú Quý có liên hệ mật thiết với vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, trong
đó có Bà Rịa - Vũng Tàu vv Các dạng tiềm năng chính của các HĐVB bao gồm ngư nghiệp, du lịch và dịch vụ biển
1.2 Huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
Là một đơn vị hành chính thuộc vùng biển đảo, huyện đảo Cô Tô gần đây đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Nghiên cứu về các đặc điểm địa chất của khu vực Cô Tô được các nhà nghiên cứu tiến hành từ những năm 1960: và sau đó tiếp tục được hoàn chỉnh dần
Những năm gần đây, các nghiên cứu tổng hợp về điều kiện tự nhiên, tiềm năng tự nhiên, kinh tế – xã hội của khu vực cho các mục đích cụ thể đã được tiến hành Đề tài KT.03.12 của GS Lê Đức An đã nghiên cứu, đánh giá cho mục đích di dân, bảo đảm an ninh quốc phòng và tiến hành quy hoạch tổng thể, phạm vi nghiên cứu chỉ là đảo Thanh Lân và đảo Trần, hoàn toàn độc lập Trong khuôn khổ của đề tài, các tác giả chỉ đưa ra luận chứng tiền quy hoạch cho huyện đảo Năm 1999, phối hợp với UBND huyện Cô Tô khoa Địa lý, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, do GS.TSKH Nguyễn Quang Mỹ chủ trì, đã tiến hành xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển kinh
Trang 18tế – xã hội huyện đảo Cô Tô đến năm 2010 Trong đó đã đề cập đến những thuận lợi, khó khăn của huyện đảo trong bối cảnh chung của cả nước và đưa ra định hướng cụ thể cho phát triển các ngành Tuy nhiên chưa có quy hoạch chi tiết cho các ngành cụ thể Năm
2003, Viện Kinh tế Thuỷ sản, bộ Thuỷ sản đã nghiên cứu và quy hoạch tổng thể cho phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản ở Cô Tô đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
Hiện nay, Cô Tô đã được các nhà địa lý của Viện Địa Lý tiếp tục nghiên cứu, trong đề tài mang mã số KC.09.20: “Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội; Thiết lập cơ sở khoa học và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho một số huyện đảo
CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐẢO CÔ TÔ 2.1 Vị trí và vai trò, chức năng của huyện đảo Cô Tô trong hệ thống các huyện đảo ven bờ Việt Nam
2.1.1 Vị trí địa lý
Cô Tô là một huyện nằm ở phía
Đông bắc tỉnh Quảng Ninh, được thành lập
vào 29/3/1994 Lãnh thổ huyện là toàn bộ
phần đảo nổi của hơn 40 hòn đảo quần đảo
Cô Tô và vùng biển xung quanh, được giới
hạn bởi:
Từ 20055’ đến 21015’7” vĩ độ Bắc
Từ 107035’ đến 108020’ kinh độ
Đông
Khu vực hạt nhân quần đảo
Cô Tô (nhìn từ vệ tinh)
Trang 19Về ranh giới: phía Đông tiếp giáp hải phận quốc tế với chiều dài đường hải phận gần 200 km, từ ngoài khơi đảo Trần đến đảo Bạch Long Vĩ; phía bắc giáp vùng biển Cái Chiên (huyện Hải Hà), đảo Vĩnh Thực (thị xã Móng Cái); phía nam giáp vùng biển đảo Bạch Long Vĩ - Hải Phòng; phía tây giáp huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh
Như vậy, Cô Tô là một quần đảo nằm ở vị trí tiền tiêu, có vị chí chiến lược đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng
2.1.2 Vai trò và chức năng huyện đảo trong hệ thống các huyện đảo ven bờ Việt Nam
* Vai trò đối với an ninh, quốc phòng
Cô Tô được khẳng định là nằm ở vị trí tiền tiêu, có thể kiểm soát cả một vùng biển rộng lớn, là một điểm chốt quan trọng, không thể đánh chiếm, thuận lợi trong việc kiểm soát diễn biến trên nhiều hướng: trên biển khơi, trên các đảo và cả phần lục địa ven biển
Quần đảo Cô Tô hợp thành một vòng cung thoải quay phần lõm về phía biển khơi
đã hình thành nên một lá chắn lớn cho các cơ sở kinh tế quốc phòng quan trọng trong đất liền, đặc biệt là khu vực Tiên Yên, cảng Vạn Hoa và thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Đồng thời, do nằm ở vị trí cửa khẩu lại là cửa khẩu trên biển, kiểm soát một vùng biển rộng lớn, lại nằm trong vịnh Bắc Bộ, một khu vực luôn phải đối mặt với nhiều tranh chấp giữa các quốc gia Chính vì vậy vai trò của quần đảo càng được tăng cường Vai trò của quần đảo đối với an ninh quốc phòng còn thể
hiện ở chỗ là một cơ sở hỗ trợ cho các đảo ngoài
khơi trong vùng biển vịnh Bắc Bộ
Ngoài hai đảo Cô Tô và Thanh Lam nằm
kế cận nhau và hơi lùi về phía Nam là Đảo Trần
về phía Bắc của huyện (còn có tên gọi khác là đảo
Chàng Tây) Cần nhấn mạnh ở đây vị trí và vị thế
của hòn đảo này với những lý do sau: đây là một
trong ba đảo lớn của huyện Cô Tô phân bố ở phía
cực Bắc của huyện, cách khu kinh tế mở Móng
Cái khoảng 35km và cách cảng nước sâu Vạn Giả
Trang 20khoảng 25 km Đây là khu vực cửa khẩu quan trọng trong giao lưu kinh tế với Trung Quốc Đồng thời, đảo Trần cũng là đảo án ngữ trên đưởng hàng hải quốc tế Hải Phòng đi Bắc Hải (30 km), Hải Phòng đi Hồng Kông và Du Lân, Hải Khẩu trên đảo Hải Nam (Trung Quốc) Ngoài khơi phía Đông đảo Trần gần khu vực kinh tuyến 108015’ còn là khu vực biển đang tranh chấp với Trung Quốc, các hoạt động kinh tế và an ninh quốc phòng ở khu vực này đang diễn ra rất phức tạp Thêm vào đó, đảo Trần còn nằm gần ngư trường lớn Đông Bắc và các bể dầu khí của bồn trũng sông Hồng Như vậy, đảo Trần nẳm trong vùng đảo là cửa ngõ của vùng biển Đông Bắc gần biên giới biển, đảo Trần có vai trò quan trọng đối với việc đảm bảo an ninh quốc gia và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Chúng tôi xin trình bày rõ hơn về vai trò này của đảo Trần
- Đảo Trần có tính chất bao quát lớn Với những đặc điểm địa lý trong đó có địa hình và độ cao so với mực nước biển bao quanh cùng với các đặc điểm hải văn cho phép phát hiện nhanh và chính xác các diễn biến ở khu vực xung quanh Từ đảo Trần có thể theo dõi, giám sát, bao quát rất nhiều hướng cùng một lúc Đặc biệt, do khá gần đất liền nên từ đảo Trần có thể quan sát cả khu vực đất liền với bán kinh hàng trăm km xung quanh đảo
- Nằm ở vị trí tiền tiêu, đảo Trần có nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các chức năng thăm dò, trinh sát có tính chiến lược tại vùng hoạt động của đối phương Đảo còn thuận lợi hơn trong khả năng thực hiện đối đầu và ngăn cản các mũi tấn công từ biển vào đất liền cũng như vào vùng biển gần bờ Diện tích đảo không lớn để có thể bố trí nhiều
vũ khí phòng thủ cho phép cố thủ tốt với địa hình đa dạng
- Từ đảo Trần có thể thực hiện phối hợp, liên kết với hàng loạt đảo khác như Cô
Tô, Thanh Lam (huyện Cô Tô), Vĩnh Thực (huyện Vân Đồn), để tăng cường tiềm lực trong quốc phòng Đồng thời, có thể kết hợp với các lực lược hải quân trên biển và bộ đội trên các đảo để làm thành một tuyến phòng thủ, tấn công hiệu quả
- Đặc điểm địa hình trên phần đảo nổi và địa mạo đường bờ làm cho khả năng đổ
bộ và đánh chiếm đảo Trần của đối phương gặp nhiều khó khăn Địa hình đa dạng cho phép đảm bảo sự bí mật trong công tác quốc phòng đồng thời cũng có thể xây dựng các công trình quân sự khác nhau, đảm bảo tính lâu bền và hiệu quả
Trang 21Các yếu tố trên đã làm cho đảo Trần trở thành một đảo tiền tiêu, một điểm chốt quan trọng, không thể đánh chiếm Cùng với hệ thống các đảo khác của huyện đảo nó tạo nên một tuyến phòng thủ chiến lược hết sức quan trọng trong việc đảm bảo an ninh, quốc phòng không chỉ riêng cho huyện đảo mà còn cho cả khu vực lãnh thổ rộng lớn Bắc bộ và Trung bộ của nước ta
Nằm ở vị trí cửa ngõ” trong giao lưu kinh tế với đất liền và với nhiều khu kinh tế lớn mạnh của nước bạn, quần đảo lại được bao bọc bởi một vùng biển rộng lớn, nằm ngay cạnh ngư trường lớn với nguồn lợi hải sản phong phú Chính những điều kiện đó đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển đồng thời cũng là điều kiện tốt cho phát triển các ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, lâm nghiệp
Khu vực có mối liên hệ mật thiết với các điểm, tuyến du lịch trong đất liền Quần đảo nằm trong vùng có khí hậu rất thuận lợi cho sức khoẻ con người, các đặc điểm và chế
độ hải văn thích hợp để phát triển nhiều loại hình du lịch biển
Từ những phân tích đánh giá về vị thế, vị trí có thể thấy rằng, việc phát triển
KT-XH của huyện cần phải được gắn liền với chiến lược bảo vệ chủ quyền Quốc Gia
*.Vai trò đối với phát triển các ngành kinh tế
Quần đảo Cô Tô được bao bọc bởi một vùng biển rộng lớn, diện tích ngư trường của huyện khoảng 400 km2, nằm ngay cạnh ngư trường lớn Đông Bắc và trung tâm Vịnh Bắc Bộ có nguồn lợi hải sản phong phú Đây trở thành một lợi thế cho phát triển kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế liên quan đến biển
Quần đảo cách khu kinh tế mở Móng Cái khoảng 50km và cảng trung chuyển nước sâu Vạn Giả 40km, có mối liên quan mật thiết với đất liền, đặc biệt là các đảo ven biển Mặt khác đây lại cửa khẩu quan trong giao lưu kinh tế với Trung Quốc Chính những điều kiện đó đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển trở thành một điểm trung chuyển hàng hoá giữa đất liền với các đảo ngoài khơi và với các nước ngoài Theo đánh giá, có thể xây dựng Cô Tô trở thành trung tâm hậu cần nghề cá phục vụ các tàu thuyền khai thác trong vịnh Bắc Bộ Đây là điều kiện tốt cho phát triển không chỉ các ngành kinh tế liên quan đến biển mà cả các ngành kinh tế mang tính truyền thống như nông nghiệp, lâm nghiệp
Trang 22Khu vực có mối liên hệ mật thiết với các điểm, tuyến du lịch trong đất liền Quần đảo nằm trong vùng có khí hậu rất thuận lợi cho sức khoẻ con người, các đặc điểm và chế
độ hải văn thích hợp để phát triển nhiều loại hình du lịch biển Hơn thế thiên nhiên đã ban tặng nhiều tài nguyên du lịch quý giá, độc đáo tạo điều kiện cho việc hình thành và tổ chức nhiều loại hình du lịch đặc sắc, biến Cô Tô trở thành một điểm du lịch nghỉ dưỡng
có giá trị trên trên tuyến du lịch Đông Bắc nước ta nói chung và tuyến du lịch biển Cát
Bà - Hạ Long - Cô Tô - Móng Cái nói riêng
Án ngữ đường hàng hải quốc tế, thuận lợi để khống chế vùng biển phía Bắc của vịnh Bắc Bộ, vị trí của đảo Trần không chỉ có vai trò quan trọng đối với an ninh quốc phòng mà còn có nhiều tiềm năng trong mở rộng các dịch vụ hàng hải, có thể trở thành một điểm trung chuyển đánh bắt hải sản
Khó khăn lớn nhất trong giai đoạn hiện nay của huyện đảo trong phát triển kinh tế nói chung là phương tiện giao thông biển, nối với đất liền còn yếu kém và rất thiếu
Các đảo của hệ thống đảo ven bờ Việt Nam phân bố chủ yếu ở nửa trong thềm lục địa, về địa lý hệ thống đảo nghiên cứu có thể chia thành 03 vùng sau: Bắc Bộ; Trung Bộ;
và Nam Bộ (bao gồm cả vịnh Thái Lan)
Các đảo trong hệ thống đảo ven bờ đã trở thành những “tiền đồn”, những “điểm chốt” cố định vững chắc, khống chế hầu hết vùng biển quan trọng ven bờ, kiểm soát các tuyến giao thông quan trọng đông thời là những nơi triển khai, bố trí lực lượng quốc phòng
vô cùng thuận lợi cho bảo vệ an ninh chủ quyền Tổ quốc, bảo vệ công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước Trong vịnh Bắc Bộ, các đảo phân bố thành 3 dãy: dãy đảo trong (sát bờ), dãy đảo giữa và dãy đảo ngoài Theo đó, có thể chia các đảo thành 3 tuyến dựa vào chức năng đối với Quốc phòng: tuyến trong, tuyến ngoài, tuyến giữa
Quần đảo Cô Tô nằm ở tuyến ngoài trong hệ thống vịnh Bắc Bộ Vùng biển quanh các đảo là một vùng biển khá mở Dựa trên cơ sở đánh giá tổng hợp tiềm năng và vị trí của quần đảo, có thể xếp huyện Cô Tô vào nhóm đảo có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời và kiểm soát toàn bộ hoạt động của tàu thuyền, bảo đảm an ninh, quốc phòng, xây dựng kinh tế,
Trang 23Hai đảo Cô Tô và Thanh Lam có diện tích khá lớn, đặc điểm điều kiện tự nhiên và tài nguyên trên đảo và vùng biển khơi xung quanh rất thuận lợi cho phát triển kinh tế biển tổng hợp có sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với đảm bảo an ninh quốc phòng
Đặc biệt là đảo Trần, nằm ở vị trí phía Đông bắc của quần đảo, án ngữ khu vực cửa khẩu trong giao lưu kinh tế với Trung Quốc và nằm trên đường hàng hải quốc tế quan trọng Chính vì vị trí đó, đảo Trần, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh quốc phòng và đảm bảo chủ quyền lãnh thổ Riêng đối với đảo Trần, cần đầu tư trọng điểm cho quốc phòng, xây dựng một nền kinh tế - quốc phòng vững mạnh
Là một quần đảo thuộc tuyến ngoài, phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng huyện Cô Tô không chỉ đóng vai trò vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế đất nước mà còn bảo vệ cho quá trình phát triển kinh tế cũng như hoạt động quân sự của các đảo phía trong Đồng thời là cầu nối quan trọng giữa ba khu vực kinh tế: trong đất liền, vùng ven biển và vùng biển khơi, tạo thành một tam giác tăng trưởng mạnh, thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước và tạo tiềm lực cho giao lưu văn hoá, kinh tế với nước ngoài
* Vai trò huyện đảo Cô Tô trong giao lưu Quốc tế
Vùng biển và hải đảo Việt Nam là địa bàn thuận lợi trong việc tiếp nhận vốn đầu
tư, các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, các kinh nghiêm trong quản lý của các quốc gia khác Đặc biệt, đây còn là một hành lang dẫn đến việc khai thác các nguồn tài nguyên phong phú như các nguồn lợi hải sản, năng lượng biển, du lịch biển,
Vùng biển của nước ta nằm trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa các nước trên thế giới, từ vùng ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương, đến Châu Âu, Trung Cận Đông với Đông Bắc Á, và nhiều nước khác trong khu vực ASEAN, Cô Tô là quần đảo thuộc tuyến ngoài, đóng vai trò là chiếc cầu nối cực kỳ quan trọng giao lưu văn hoá, kinh tế và xã hội với các nước trên thế giới
Việt Nam đã gia nhập ASEAN, tham gia hiệp định trong khối APEC, ký hiệp định thương mại với Mỹ, kí các hiệp định thương mại song phương với nhiều nước và đang chuẩn bị gia nhập WTO, quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu đã và đang diễn ra sâu rộng, nhất định sẽ tác động mạnh đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt vùng ven
Trang 24biển và hải đảo Do vậy, vùng ven biển và hải đảo tất yếu được coi là một địa bàn chiến lược quan trọng trong hoạch định phát triển kinh tế và hợp tác kinh tế quốc tế
Quần đảo Cô Tô nằm trong khu vực rìa của Biển Đông, là điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế với các nước khác trên Thế giới, đặc biệt là khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, khu vực phát triển kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế của Thế giới Sự ra đời của các nước công nghiệp mới, có nền kinh tế tiên tiến đã và đang tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là thông qua vùng biển và ven biển, vùng hải đảo Trong đó, chúng ta có mối quan hệ đặc biệt về kinh tế biển với các nước ASEAN
- Theo thống kê, hiện nay, 80 - 90% hàng hoá xuất nhập khẩu của các nước ASEAN được chuyên chở bằng đường biển Nền kinh tế khu vực chủ yếu dựa vào buôn bán với bên ngoài
- Hợp tác vận tải biển là một trong những lĩnh vực hợp tác quan trọng vủa giao thông, vận tải biển Hiện nay, các nước trong khu vực này đang thực hiện chương trình hành động giao thông vận tải với 15 dự án và hoạt động về biển Biển và hàng hải thương mại đã giúp phần làm cho ASEAN phát triển, hoà bình và ổn định, ASEAN nằm trên tuyến hàng hải Đông sang Tây, hàng ngày lưu lượng tàu qua lại rất lớn Vì vậy các đảo
và huyện đảo có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chỉ dẫn hàng hải và trung chuyển hàng hoá
- Hơn nữa, ASEAN còn tích cực trong biệc bảo vệ môi trường biển, cùng nhau vạch ra các khu vực nhạy cảm để cùng nhau có kế hoạch bảo vệ
2.2 Đặc điểm các điều kiện tự nhiên- tài nguyên, kinh tế - xã hội
2.2.1 Đặc điểm các điều kiện tự nhiên- tài nguyên
1/ Đặc điểm địa chất và tài nguyên khoáng sản
Các đảo thuộc quần đảo Cô Tô đều được cấu tạo bởi các trầm tích khá đồng nhất, có phương đông bắc - tây nam thuộc hệ tầng Cô Tô mà tuổi của chúng được các nhà địa chất khẳng định là: Ocdovic thượng - Silua hạ (O3 - S1) Còn trên đảo Trần tồn tại hệ
tầng Đồ Sơn (D1đs) phân bố thành một dải ở phía Bắc vòng qua phía Tây và phía Nam
đảo, nằm bất chỉnh hợp nên trầm tích Ocdovic – Silua của hệ tầng Cô Tô Ngoài ra trên
Trang 25các đảo còn gặp các trầm tích bở rời Đệ tứ có nguồn gốc biển, deluvi, eluvi Tuy nhiên các trâm tích này đóng vai trò không quan trọng trong nền móng của quần đảo
Tài nguyên khoáng sản trên các đảo khá nghèo nàn, chủ yếu gồm các khoáng sản phi kim loại như cát xây dựng, sét caolanh với quy mô điểm quặng nhỏ, chất lượng kém
2/ Điều kiện địa hình, địa mạo
Quần đảo Cô Tô bao gồm hơn 40 đảo kéo dài theo hướng ĐB- TN quay chiều lõm
ra ngoài biển khơi Đặc điểm địa hình các đảo có một số nét nổi bật sau (Hình 3, 4):
Quần đảo Cô Tô có địa hình đồi cao với những nét đặc thù của núi thấp, sườn dốc, bất đối xứng, chia cắt mạnh
Đặc điểm nổi bật của địa hình là các đảo đều thuộc dạng đồi núi thấp, bị chia cắt mạnh, sườn dốc, không đối xứng Đỉnh cao nhất trên đảo cũng không vượt quá 200m Cao nhất là đảo Thanh Lam (đỉnh cao nhất đạt 199m), tiếp theo là đảo Trần (độ cao tối đa
là 187m), đảo Cô Tô Lớn Độ dốc sườn phần nhiều trên 20°, nhiều nơi trên 50 – 60°
Sự phân bố xen kẽ các đồng bằng giữa khu vực đồi núi là điều kiện tốt để định cư
và sản xuất nông nghiệp
Do đặc điểm hình thành quần đảo nên dạng địa hình đồng bằng nguồn gốc lục địa hầu như không có, Trong khi đó, các dạng đồng bằng nguồn gốc biển chưa phát triển Vì được đảo Thanh Lam che chắn ở ngoài nên địa hình đồng bằng hình thành do tác động của biển chủ yếu tồn tại trên đảo Cô Tô lớn và Cô Tô Con
Diện tích của các đảo thuộc loại trung bình, hình thành nên những bồn thu nước, tạo điều kiện cho các dòng chảy phát triển, đặc biệt là các dòng chảy thường xuyên, góp phần hình thành nên các vạt tích tụ thung lũng, khá bằng phẳng, chủ yếu gồm các vật chất từ trên sườn trôi xuống nên thích hợp để canh tác nông nghiệp Đây cũng là các điểm định cư chính của người dân trên đảo
Địa hình bãi biển và thềm lục địa là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch
Các dạng địa hình tích tụ đã tạo nên những bãi tương đối bằng phẳng, rải rác xung quanh các đảo trên các độ cao từ 2 – 3 đến 4- 6m, đôi chỗ 8m, được thành tạo bởi cát trung và thô, rất thuận lợi để phát triển hoạt động du lịch Trên đảo Cô Tô Lớn, diện tích các dạng địa hình tích tụ biển chiếm 1/3 đảo, phân bố thành những mảng lớn, làm cho ta
Trang 26có cảm giác phân bố của các đồi trở nên rải rác Trên đảo Thanh Lam, đảo Trần, các bãi biển có diện tích nhỏ, phân bố manh mún men theo các cung bờ mài mòn mạnh nên ít có giá trị khai thác kinh tế
Sự thành tạo các vách mài mòn là nét đặc sắc của quần đảo
Do được cấu tạo chủ yếu bởi đá cát kết, đá phiến với mặt lớp cắm về phía lục địa, các sườn nằm về phía đông đảo và chịu tác động mạnh mẽ của sóng trong điều kiện biển
mở, các đồi núi thường tạo vách mài mòn, dốc đứng Chúng đặc biệt phát triển ở bờ Đông, Đông Bắc và Đông Nam của các đảo Một số quả đồi ăn lan ra sát mép biển, bị mài mòn mạnh mẽ, tạo ra những vắch dốc đứng, cao sừng sững vừa đẹp vừa hiểm trở và hùng vĩ Có thể tận dụng để phát triển loại hình du lịch mạo hiểm
Các bench mài mòn phát triển mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho khai thác hải sản bám nhưng không thuận lợi cho du lịch và gây khó khăn cho giao thông biển
Các bãi đá gốc có nguồn gốc mài mòn (bench) xuất hiện ở khắp nơi, diện tích khá rộng (400 – 500m) Do dao động thuỷ triều khá cao nên thường có sự lẫn lộn giữa đá nổi
và đá ngầm Dạng địa hình này đặc biệt phát triển ở phía Bắc đảo Thanh Lam, đảo Trần
Có thể tận dụng để phục vụ cho các mục đích phòng thủ trong an ninh quốc phòng
Đảo Cô Tô Lớn được hợp thành bởi một dãy đồi, cụm đồi, thành tạo trong quá trình nâng lên và bồi lấp biển Các bề mặt đồi tương đối bằng phẳng, sườn khá dốc Quá trình tích tụ trên đảo diễn ra khá mạnh, hình thành nhiều bãi biển lớn nhỏ
Đặc điểm địa hình tương đối phức tạp: phần phía bắc đảo gồm hai dãy núi thấp có đường chia nước chung kéo dài theo hướng đông bắc – tây nam với sườn dốc đỉnh bằng phẳng cao 100- 150m Hai dãy núi nhỏ này được ngăn cách với nhau bởi một yên ngựa Pắc Vàn- Xay Cáp Phần phía nam của đảo lớn là tập hợp các dãy đồi cao dạng dãy kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam với độ cao xấp xỉ l00m và giảm dần
Giữa các dãy núi phía bắc và cụm đồi phía nam là một khu đồng bằng lượn sóng, trung tâm dạng máng trũng
Về đặc điểm địa hình ven bờ của đảo, có thể nói ít phức tạp và chia cắt và sự khúc khuỷu ít hơn đảo Thanh Lam, tạo thành các vũng vịnh nửa kín xen các mũi nhô, điển hình như vụng Hồng Vàn
Trang 27Đáy biển nông ven bờ đến độ sâu 20m là sườn bờ ngắn, dốc và có nhiều bãi đá ngầm (tập trung chủ yếu từ độ sâu 0-6m) Eo biển giữa Cô Tô và Thanh Lam là máng trũng sâu 20-30m, máng sâu Phó Văn Chảy không thể hiện rõ (Lê Đức An và nnk)
Đảo Thanh Lam là một dãy núi dạng mắt xích điển hình, chạy dài theo hướng TB-
ĐN với các đỉnh nhấp nhô, đường phân thủy lợn sóng và phân nhánh Độ cao trung bình: 150- 200m, xen kẽ các mắt xích núi này là các mảnh đồng bằng nhỏ hẹp nghiêng thoải
Địa hình đường bờ của đảo Thanh Lam rất phức lạp, bị chia cắt mạnh, khúc khuỷu tạo thành các vũng nửa kín xen các mũi nhô
Về mặt hình thái, nhìn chung phần đảo nổi của đảo Trần có hình dạng tương đối đẳng thước hơi kéo dài theo hướng Đông - Tây ớ phần giữa đảo là một vài đỉnh cao trên 150m Ngược lại với phía Đông, phía Tây, Tây- Bắc và Tây - Nam, hệ thống sơn văn đơn giản hơn Sườn phía Bắc và Nam bị chia cắt bởi hệ thống bồn thu nước nhỏ, hẹp, dốc, đổ xuống biển Riêng ở phía Tây bề mặt đỉnh chuyển từ từ có tính chất phân bậc từ 180m xuống 120m và xuống vùng đồi với độ cao xấp xỉ l00m (đỉnh Hang Chuột 88m và một loạt đỉnh 50-60m)
Địa hình và hình thái đường bờ xung quanh đảo Trần tương đối hiểm trở, phức tạp Bởi lẽ là một hòn đảo nhỏ kiểu núi đồi nên địa hình bờ phần lớn là các vách dốc, các bãi đá lởm chởm rất khó tiếp cận Ngoài biển rất nhiều các mô sót và bãi đá ngầm, trừ một vũng ở phía Bắc, một vũng ở phía Nam và hai vũng ở phía Đông Bờ biển phát triển các bãi cát thoải, ngoài biển tồn tại các lạch sâu là lối ra vào của các tàu thuyền mới có thể tiếp cận đảo được
Để nghiên cứu đặc điểm địa hình, địa mạo của các đảo phục vụ cho phát triển các ngành kinh tế, chúng tôi đã dựa trên nguyên tắc nguồn gốc lịch sử và nguyên tắc hình thái và có thể phân thành các dạng như sau (xem bản đồ địa mạo):
* Trên phần đảo
Trên các đảo nổi và phần biển nông ven bờ của huyện Cô Tô, có 4 nhóm dạng địa hình chính bao gồm: 1/ Nhóm dạng và yếu tố địa hình nguồn gốc bóc mòn với 7 dạng; 2/ Nhóm đạng và yếu tố địa hình nguồn gốc dòng chảy có 3 dạng; 3/ Nhóm dạng và yếu tố địa hình nguồn gốc biển có 10 dạng và 4/ nhóm dạng địa hình đáy biển quanh đảo với 5dạng địa hình; Có thể thấy rằng, sự phân hoá đa dạng, phức tạp của các dạng địa hình có
Trang 28ý nghĩa hết sức quan trọng cho bố trí các ngành sản xuất, các công trình kỹ thuật dự kiến xây dựng trên các đảo cũng như để đưa ra các đề xuất, kiến nghị cho công tác bảo vệ môi trường các khu vực biển đảo trong tương lai
Sự phân bố xen kẽ các đồng bằng giữa khu vực đồi núi là đặc điểm nổi bật ở đây, tuy nhiên do đặc điểm hình thành quần đảo nên dạng địa hình đồng bằng nguồn gốc lục địa hầu như không có Trong khi đó, các dạng đồng bằng nguồn gốc biển chưa phát triển, chủ yếu tồn tại trên đảo Cô Tô lớn và Cô Tô Con
Trên các đảo, mặc dù diện tích thuộc loại trung bình, nhưng cũng hình thành những bồn thu nước lớn, là điều kiện cho các dòng chảy phát triển, đặc biệt là các dòng chảy thường xuyên Giữa các dãy núi phía Bắc và cụm đồi phía Nam Cô Tô là một khu đồng bằng trung tâm lượn sóng, dạng máng trũng, hình thành bởi thung lũng các sông suối Các dạng địa hình tích tụ đã tạo nên những bãi tương đối bằng phẳng, rải rác xung quanh các đảo trên các độ cao từ 2 - 3 đến 4 - 6m, đôi chỗ 8m, được thành tạo bởi cát trung và thô, rất thuận lợi để phát triển hoạt động du lịch Trên đảo Cô Tô Lớn, diện tích các dạng địa hình tích tụ biển chiếm 1/3 đảo, phân bố thành những mảng lớn, làm cho ta
có cảm giác phân bố của các đồi trở nên rải rác Trên đảo Thanh Lam, đảo Trần, các bãi biển có diện tích nhỏ, phân bố manh mún men theo các cung bờ mài mòn mạnh nên ít có
giá trị khai thác kinh tế
Trên các đảo của Cô Tô các sườn nằm về phía đông chịu tác động mạnh mẽ của sóng trong điều kiện biển mở, các đồi núi thường tạo vách mài mòn, dốc đứng Một số quả đồi ăn lan ra sát mép biển, bị mài mòn mạnh mẽ, tạo ra những vắch dốc đứng, cao sừng sững vừa đẹp vừa hiểm trở và hùng vĩ là cơ sở để phát triển loại hình du lịch mạo hiểm Các bench mài mòn phát triển mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho khai thác hải sản nhưng không thuận lợi cho du lịch và giao thông biển Các bãi đá gốc có nguồn gốc mài mòn (bench) xuất hiện ở khắp nơi, diện tích khá rộng (400 - 500m) Do dao động thuỷ triều khá cao nên thường có sự lẫn lộn giữa đá nổi và đá ngầm Dạng địa hình này đặc biệt phát triển ở phía Bắc đảo Thanh Lam, đảo Trần Có thể tận dụng để phục vụ cho các mục đích phòng thủ trong an ninh quốc phòng
* Khu vực biển nông quanh đảo
Trang 29Phần đáy biển nông ven bờ quanh các đảo Cô Tô, Thanh Lam được xác định từ mực nước triều thấp nhất trở xuống tới độ sâu gần với độ dài bước sóng phổ biến (xấp xỉ 20m) Trong phạm vi này địa hình được thành tạo chủ yếu do tác động của sóng và dòng chảy ven bờ
Đáy biển nông ven bờ đảo Cô Tô - Thanh Lam có độ sâu từ 12 - 15m, địa hình đáy biển rất phức tạp Phía nam của quần đảo có rất nhiều bãi đá ngầm Eo biển giữa Cô Tô
và Thanh Lam có máng trũng sâu tới 20-30m
Kết quả phân tích cho phép phân địa hình đáy biển nông ven bờ thành các dạng sau:
- Lạch triều: là phần tiếp tục của các dòng chảy trên đảo nổi, hình thành do tổng hợp tác động của hoạt động xâm thực dòng triều, nước dồn và nước rút Lạch triều của các đảo ít phân nhánh, ngắn, sâu khoảng 0.5-2m Phân bố ở phía nam đảo Cô Tô, trên bãi Hồng Vàn
- Đồng bằng mài mòn - tích tụ ngầm trong đới hoạt động của sóng vỗ bờ: được xem
như là phần tiếp tục của các bãi triều tích tụ, cấu tạo bởi cát hạt trung lẫn mảnh vỡ sinh vật
vỡ nát Phân bố ở Đông Nam đảo Cô Tô, đảo Thanh Lam, phân bố thành dải hẹp không liên tục ở phía bắc và đông đảo Trần, và một số ít ở phía Nam Địa hình bề mặt dốc 3 - 80, đôi chỗ 8 - 150, có nhiều mô sót mài mòn trơ đá gốc và các ám tiêu san hô ngầm
- Đồng bằng mài mòn - tích tụ ngầm trong đới hoạt động của sóng vỗ bờ: phân bố ở phía Tây Bắc của đảo Thanh Lam và Đông Bắc của đảo Cô Tô và xung quanh đảo Trần ở
độ sâu 10 - 13 m Bề mặt ít bị chia cắt và ít mô sót mài mòn hơn đồng bằng ở trên
- Đồng bằng tích tụ ngầm trong đới hoạt động của sóng biến dạng, có sự tham gia
của dòng chảy ven bờ: phân bố ở độ sâu 10 –15m trở ra, cấu tạo bởi cát bột và cát nhỏ
- Máng xâm thực dòng triều ngầm: phân bố ở eo biển giữa Cô Tô và Thanh Lam, giữa Cô Tô Lớn và Cô Tô Con, phía bắc, Đông Bắc và khu vực Đồn biên phòng phía nam đảo Trần Các máng này thường tạo thành những dải hẹp sâu hơn so với bề mặt liền
kề, có dạng lòng chảo Lòng máng thường trơ đá gốc, đôi chỗ có lớp cát, cuội mỏng, là đường dẫn tầu thuyền duy nhất để tiếp cận đảo
Phần đáy biển nông ven bờ quanh các đảo Trần có các dạng địa hình:
Trang 30* Bề mặt mài mòn - tích tụ ngầm.phân bố thành dải hẹp không liên tục ở phía bắc
và đông Đảo, và một số ít ở phía Nam Bề mặt này bằng phẳng, hơi nghiêng Phân bố đến
độ sâu l - 2m, trên bề mặt có nhiều mỏm đá ngầm và tích tụ không liên tục cát thô, cuội, tảng
* Máng xâm thực dòng triều kế thừa thung lũng cố phân bố ở phía bắc, đông
bắc và ở khu vực đồn biên phòng phía nam đảo Các máng trũng này hẹp, kéo dài Lòng máng thường trơ đá gốc, đôi chỗ có lớp cát, cuội mỏng Các lòng máng này là đường dẫn tầu thuyền duy nhất để tiếp cận đảo
* Sườn ngầm chủ yếu phân bố ở phía Nam, với bề mặt đá gốc dốc 8 - l00 và một phần ở phía Bắc với độ dốc nhỏ hơn, bề mặt trơ đá gốc
* Đồng bằng mài mòn tích tụ trong đới sóng vỗ bờ phân bố ở độ sâu 10 - 13 m
với bề mặt nghiêng thoải
* Bề mặt đồng bằng tích tụ bằng phẳng trong đới sóng vỗ bờ phân bố ở độ sâu
13m trở lên với tích tụ cát, sét, sét bột
* Bậc mài mòn cấu trúc phân bố ở độ sâu l0m phổ biến ở phía bắc Đảo
Như vậy, có thể thấy đặc điểm địa mạo trên các đảo rất phức tạp, phù hợp cho các mục đích sử dụng khác nhau Điều này rất quan trọng trong quy hoạch, tổ chức lãnh thổ
Để phục vụ cho phát triển kinh tế, có thể sơ bộ đánh giá điều kiện địa mạo cho một số loại hình sử dụng đất chính như sau:
Rừng phòng hộ: là một đảo núi, diện tích nhỏ, độ dốc lớn, để bảo vệ môi trường và
hệ sinh thái trên đảo mà trước hết là nguồn nước thì vấn đề rừng phòng hộ phải được đặt lên hàng đầu Trên quan điểm địa động lực, rừng phòng hộ nên phân bố ở các đơn vị địa hình có năng lượng cao và đang ở trạng thái cân bằng động dễ bị tái hoạt động dẫn đến
xu hướng hoạt động phá huỷ: đó là các dạng địa hình thuộc nhóm có nguồn gốc bóc mòn (bề mặt chia nước, bề mặt trước núi, các sườn trọng lực nhanh và vách bóc mòn, mài mòn) Trên các dạng địa hình này cần được bảo tồn và tái tạo lại lớp phủ rừng, việc khai thác phải được cấm nghiêm ngặt, các loại hình sử dụng lãnh thổ cần được cân nhắc, hạn chế tối đa phá huỷ lớp phủ thực vật
Nông lâm kết hợp: hình thức vườn rừng có thể phát triển trên các địa hình sườn
tích tụ deluvi và sườn trọng lực chậm với mô hình cây ăn quả + cây lẫy gỗ xen kẽ
Trang 31Nông nghiệp: không nên phát triển cây lương thực, chỉ phát triển cây thực phẩm:
rau, đậu, v.v… để giải quyết cho toàn đảo có thể phát triển rau sạch có giá trị thương phẩm Nông nghiệp có thể phát triển trên các dạng điạ hình là các bậc thềm, các vạt tích
tụ Deluvi và thung lũng tích tụ, các đụn cát
Chăn nuôi: trên đảo không có bãi chăn thả, khả năng chăn nuôi dưới tán rừng với
quy mô hộ gia đình
Giao thông vận tải: đường bộ trên đảo là khó khăn, đường bộ liên thôn tốt nhất là
vòng quanh đảo Đường trục dọc xã nên theo đường phân thuỷ
Đường biển: địa hình đáy cho phép các cảng có quy mô nhỏ ở Phó Vàn Chảy, Cáp
Cháu (cho gió mùa đông nam) và phía nam vịnh Pháo Đài (Phao Thôi Vàn) cho thời kỳ gió mùa đông bắc Ngoài ra có thể xây dựng cảng nước sâu ở lạch Tây Nam, giáp giới
với đảo Cô Tô (phải trung chuyển)
Đường hàng không: có thể xây dựng sân bay lên thẳng trên bề mặt trước núi trên
cả ba đảo Cô Tô, Thanh Lam, đảo Trần
Nuôi trồng thuỷ sản: là thế mạnh của đảo, tuy nhiên chỉ có thể nuôi trồng bán tự
nhiên, nơi các loại hình sinh vật bám đáy (trai ngọc) trên các bãi mài mòn và sườn mài mòn
Du lịch: có thể phát huy du lịch biển với các lợi thế về các bãi tắm với các loại hình
du lịch trên mặt nước, dưới mặt nước (thám hiểm, nghiên cứu,…), nghỉ dưỡng Nhưng đảo cũng chỉ nên dừng lại là một điểm trên tuyến du lịch Hạ Long - Cô Tô - Móng Cái
3/ Đặc điểm điều kiện khí hậu và tài nguyên khí hậu
Nằm tương đối xa đất liền và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa đông bắc nên khu vực có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh mang tính chất khí hậu đại dương Nền nhiệt ở đây không cao thuộc chế độ nhiệt hơi nóng Nhiệt không khí biến thiên rất mạnh trong năm, mưa vừa và phân hoá ra hai mùa mưa, khô phù hợp với hai mùa gió Mùa khô dài trung bình và không khắc nghiệt
- Chế độ nắng
Nắng ở các đảo thuộc huyện đảo Cô Tô khá dồi dào Tổng số giờ nắng trung bình nhiều năm đạt từ 1800-1820 giờ/năm (xem phụ lục) Phần lớn thời gian trong năm, từ tháng IV đến tháng XII có số giờ nắng trên 100 giờ/tháng Tháng VII là tháng có nhiều
Trang 32nắng nhất, tới 230 giờ/tháng, tức là trung bình có 7,4 giờ nắng/ngày Tuy nhiên vào cuối mùa đông lại ít nắng; tháng XI là tháng ít nắng nhất trong năm, chỉ đạt 41 giờ/tháng
- Chế độ gió
Mùa đông (IX –IV) gió thổi chủ yếu theo hướng đông bắc với tần suất lớn đạt 70% Đặc biệt vào 4 tháng giữa mùa đông (XI – II) tần suất của hướng gió này thường đạt trị số rất lớn, tới 64-70% trong khoảng 13-28% Trong mùa hè, thời kì hoạt động của gió mùa tây nam, các hướng gió thịnh hành ở đây thường là nam, đông nam, tây nam và đông Tần suất của mỗi hướng thường dao động trong khoảng 11-36%.Các tháng III, IV,
28-V và 28-VII có vận tốc gió trung bình thấp hơn cả, khoảng 3- 4 m/s, vào các thời kì còn lại trong năm - khoảng 4 - 5 m /s và đạt trị số lớn nhất là 5 m /s vào tháng XI
Do ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, vào thời kì từ tháng VI đến tháng X, vận tốc gió cực đại thường đạt và vượt 40 m/s Tuy nhiên, trong thời gian còn lại, vận tốc gió tối đa cũng khá lớn, dao động từ 24 - 30 m/s
- Chế độ nhiệt
Chế độ nhiệt trên toàn đảo thuộc loại hơi cao, biến thiên mạnh trong năm (tới 13,50C), nhưng lại điều hòa trong ngày (3,9 - 4,50C) Nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm là 22 - 230C, tương ứng với tổng lượng nhiệt 8 000 - 8 4000 C (xem phụ lục) Chế độ nhiệt phân hóa rõ rệt thành 2 mùa: mùa nóng từ tháng V đến tháng X, với tháng VII là tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình tháng đạt 28 - 290C Mùa lạnh kéo dài từ tháng XI đến tháng IV năm sau với nhiệt độ trung bình 15 - 200C Tháng I là tháng lạnh nhất trong năm, với nhiệt độ trung bình tháng là 15 - 15,50C
Trang 33Trung bình mỗi năm ở đây có khoảng 110 - 220 ngày mưa Số ngày mưa phân bố tương đối đều trong năm Hai tháng VIII và IX có nhiều ngày mưa nhất đạt 14 -16 ngày/tháng Vào thời kì còn lại trong năm, số ngày mưa dao động trong khoảng 8 - 12 ngày/tháng
Độ ẩm tương đối của không khí thông thường đạt 83 - 84%, thấp nhất là vào thời
kì nửa đầu mùa đông - khoảng 76 - 78% Ngược lại, do ảnh hưởng của kiểu khí hậu khô hanh vào thời kì nửa đầu mùa đông (X-XII) độ ẩm tương đối trung bình đạt trị số thấp nhất trong năm, khoảng 76-78% Thời kì còn lại trong năm có độ ẩm tương đối trung bình dao động trong khoảng 82-86%
Lượng bốc hơi tiềm năng dao động từ 1100 đến 1 250 mm / năm Vào mùa hè X) lượng bốc thoát hơi tiềm năng PET thường lớn hơn 100mm/tháng, đạt trị số lớn nhất, khoảng 150-155mm/năm vào tháng VII Thời kì nửa cuối mùa đông (XII –III) có lượng bốc thoát hơi tiềm năng PET đạt trị số tương đối thấp, khoảng 50-70mm/tháng, trong đó
(V-có tháng II (V-có lượng bốc thoát hơi tiềm năng PET thấp nhất chỉ đạt 52mm/tháng
Đánh giá chung về đặc điểm khí hậu và tài nguyên khí hậu ở huyện đảo Cô Tô có đưa ra một số nhận xét chính như sau:
- Số giờ nắng cả năm nhìn chung thuộc loại rất tốt cho đời sống con người, thời
kỳ thiếu nắng duy nhất là các tháng II, III, khi có thời tiết mưa phùn, trời âm u, đầy mây
- Là vùng hải đảo nhìn chung chế độ gió ở các đảo ngoài cùng của các đảo vịnh Bắc Bộ này thuộc loại khá mạnh 4,3 m/s, ít thuận lợi cho sức khoẻ con người Đặc biệt là những khi có bão tố, hoặc khi gió mùa Đông Bắc tràn về tốc độ gió rất lớn 20 - 47 m/s gây bất lợi cho sinh hoạt của cư dân, cho đi biển đánh bắt thuỷ hải sản Đối với sản xuất nông nghiệp, tốc độ gió lớn trên các đảo vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc làm cây trồng dễ rách lá, gãy cành con, làm tăng bốc thoát hơi nước thực vật, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng
- Chế độ nhiệt của vùng huyện đảo Cô Tô thuộc loại từ trung bình đến thích nghi đối với con người Nhiệt độ trung bình năm và biên độ nhiệt ngày thuộc loại thích nghi, các nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất thuộc loại khá thích nghi, mùa hè nóng, mùa đông hơi lạnh
Trang 34Đối với việc phát triển sản xuất nông nghiệp, cũng như các đảo khác thuộc vịnh Bắc Bộ, mùa đông lạnh ở Cô Tô một mặt hạn chế sự phát triển của cây trồng nhiệt đới (lúa, cói và một số cây nhiệt đới khác ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí xuống dưới 120C), mặt khác cũng cho phép cư dân ở đây có thể canh tác một số cây rau mầu có xuất xứ ôn đới như khoai tây, cà chua, súp lơ, cải bắp, xu hào Đây là nét đặc sắc của tài nguyên khí hậu các đảo vịnh Bắc Bộ mà ta không thể tìm thấy ở các khu vực đảo ven bờ khác của Việt Nam cũng như ở các vùng biển nhiệt đới khác
- Chế độ mưa (lượng mưa và số ngày mưa) thuộc loại khá thích nghi Ở các đảo thuộc vịnh Bắc Bộ này mùa khô khá “dịu” và đây là điểm thuận lợi cho việc trồng trọt quanh năm Vụ xuân hè và hè thu có thể trồng các loại cây nhiệt đới như lúa, khoai lang, lạc, một số loại đậu đỗ hay cây thuốc lá, vụ đông - các cây rau, màu chịu lạnh như ở trên
Nhìn chung ở huyện đảo Cô Tô có thể phát triển các hoạt động du lịch và nghỉ dưỡng vào các tháng mùa hè, đặc biệt tốt nhất là vào các tháng chuyển tiếp mùa: tháng
Trang 35IV - V và IX - X Thời kỳ bất lợi cho các hoạt động này là lúc có mưa phùn (II, III), trời đầy mây, mưa lạnh ẩm ướt và khi có bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào
4/ Đặc điểm thủy văn và tài nguyên nước mặt
- Đảo Cô Tô: mạng lưới dòng chảy trên đảo nghèo nàn Do kích thước đảo nhỏ,
địa hình đảo là đồi thấp với đỉnh cao nhất trên 160m, chia cắt đơn giản, độ chia cắt thấp, diện tích thu thủy hạn chế, thêm vào đó, mặt đệm dưới thảm rừng cũng như lớp thổ nhưỡng đã bị phá hủy, bào mòn sâu sắc, do đó không có giá trị giữ, tích trữ nước và điều tiết dòng chảy trên mặt, nên hầu hết chỉ có dòng chảy tạm thời Các suối tập trung chủ yếu ở phần phía Bắc của đảo gồm: Suối Hải Tiến khá dài và thoải, với chiều dài khoảng 1,23km Suối thuộc khu vực đồng bằng thôn Hải Tiến, chảy theo hướng TB-ĐN và đổ vào vụng Hồng Vàn Mật độ sông suối trong lưu vực đạt 0,38 km/km2, tương ứng với diện tích lưu vực là 3,27 km2; Suối Vàn Chảy nằm phía Tây thôn Nam Đồng với chiều dài là 0,43km, thuộc khu vực đồng bằng thôn Nam Đồng Mật độ sông suối trong lưu vực đạt 0,33 km/km2, tương ứng với diện tích lưu vực là 1,28 km2; Suối Hồng Vàn nằm phía Đông thôn Nam Đồng với chiều dài là 1,26km, thuộc khu vực đồng bằng thôn Nam Đồng Mật độ sông suối trong lưu vực đạt 0,98 km/km2, tương ứng với diện tích lưu vực
là 1,29 km2 Trừ suối Hồng Vàn là có nước vào mùa khô, còn phần lớn khe, suối bị khô cạn vào mùa khô
Trên đảo Cô Tô có 11 hồ chứa nhỏ Nước trong hồ phục vụ ăn uống, sinh hoạt, trồng trọt và chăn nuôi Theo kết quả điều tra thực địa, dung tích hồ được xác định vào mùa mưa còn về mùa khô thì hầu như chúng bị cạn chỉ trừ một số hồ là có nước, ví dụ như hồ C4 Hồ C4 là lớn nhất trên đảo, có đường kính trung bình khoảng 80m; nó có khả năng cung cấp nước cho khoảng 2000 người dân thị trấn Cô Tô, với lưu lượng khoảng
100 nghìn m3/năm và tưới cho một diện tích rất nhỏ là 25ha
Đánh giá chung thì nước hồ khu vực nghiên cứu chỉ có khả năng cung cấp nước vào mùa mưa, còn về mùa khô thì sẽ thiếu nước
- Đảo Thanh Lam: so với đảo Cô Tô thì Thanh Lam có địa hình cao và tương đối
phức tạp hơn Trên đảo có 3 suối lớn, chủ yếu tập trung ở phía Tây Bắc của đảo gồm:
- Suối Cáp Cháu bắt nguồn từ đỉnh cao 169,3m chảy theo hướng nam bắc và đổ ra biển tại phía Nam vụng Cáp Cháu (vụng con Khỉ) Suối này có 2 nhánh hợp thành dòng
Trang 36chính với tổng chiều dài là 2,18km Mật độ sông suối trên lưu vực đạt 1,07 km/km2 tướng ứng với tổng diện tích lưu vực là 2,03 km2
- Suối Bắc Bàn Xìn có chiều dài 1,57km, bắt nguồn từ đỉnh Tài Vàn, cao 150m chảy theo hướng bắc, đông bắc và đổ ra biển tại vũng Bắc Bàn Xìn (phía Tây Bắc đảo) Mật độ sông suối trên lưu vực đạt 0,92 km/km2 tướng ứng với diện tích lưu vực là 1,7 km2
- Suối Ngọc Mai có chiều dài 0,76km bắt nguồn từ đỉnh cao khoảng 100m chảy theo hướng đông và đổ ra biển tại vũng Giếng nước nằm ở phía Đông của đảo Mật độ sông suối trên lưu vực đạt 1,94 km/km2 tướng ứng với diện tích lưu vực là 0,39 km2
- Các hồ nước trên đảo chủ yếu là những hồ nhỏ, chúng chỉ có thể chứa nước vào mùa mưa, còn mùa khô gần như cạn kiệt Nước các hồ đã và đang được sử dụng cho tưới ruộng nhưng hiện nay chỉ sử dụng được 50% khả năng thực của nó và chỉ vào mùa mưa
Nhìn chung, cũng như đảo Cô Tô, thảm thực vật trên đảo đã bị con người can thiệp một cách đáng kể, do đó chúng ảnh hưởng lớn đến việc lưu giữ nguồn nước mặt và ngầm
Đảo Trần: do có diện tích nhỏ, địa hình chủ yếu là đồi và núi nên việc hình thành
dòng chảy trên đảo, nhất là vào mùa khô là rất khó khăn, các dòng chảy trên đảo là chỉ là dòng chảy tạm thời vào mùa mưa
Thành phần cán cân nước trên huyện đảo Cô Tô được xác định trong bảng sau (bảng 2.1):
Bảng 2.1: Thành phần cán cân nước trên huyện đảo Cô Tô
P (mm) R (mm) S (mm) U (mm) W (mm) E (mm)
Nguồn: “ Luận chứng tiền quy hoạch huyện đảo Cô Tô”, Báo cáo đề mục, đề tài KT.03.12
Trong đó:
- P: Lượng mưa bình quân lưu vực (mm)
- R: Lớp nước dòng chảy toàn phần (mm)
Trang 37Qua các thành phần cán cân nước xác định được hàng năm của huyện đảo:
- Đảo Cô Tô: nhận được tổng lượng mưa rơi hàng năm là 42.106m3 nước, sinh ra lượng dòng chảy là 14,3.106m3 tương đương với hệ số dòng chảy là 0,34 Lượng dòng chảy ngầm tầng nông cung cấp nước cho đảo về mùa kiệt là 3,6.106 m3
- Đảo Thanh Lam: nhận được tổng lượng mưa rơi hàng năm là 45,2.106m3 nước, sinh ra lượng dòng chảy là 15,4.106m3 tương đương với hệ số dòng chảy là 0,34 Lượng dòng chảy ngầm tầng nông cung cấp nước cho đảo về mùa kiệt là 3,8.106 m3
Do một đặc điểm là phân bố lượng mưa và lượng dòng chảy không đều cả về mặt không gian và thời gian nên gây thiếu nước vào mùa khô
Dựa vào thành phần cán cân nước đã tính ở trên có thể tính toán lượng nước mưa
mà các khu vực nhận được và lượng dòng chảy sinh ra trên bề mặt lưu vực Kết quả tính toán được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2: Các đặc trưng của lượng nước mưa và dòng chảy trên huyện đảo Cô Tô Đảo Lưu vực F (km 2 ) W nước mưa 10 6 m 3 W DCTP 10 6 m 3 W DCN 10 6 m 3
Nguồn: “ Luận chứng tiền quy hoạch huyện đảo Cô Tô”, Báo cáo đề mục, đề tài KT.03.12
Theo kết quả điều tra mùa lũ trên đảo thường xuất hiện trùng với mùa mưa, thường là từ tháng V đến tháng IX và mạnh nhất và tháng VII và VIII Đây cũng là thời
kỳ hoạt động mãnh nhất của bão Do đặc điểm địa hình của khu vực nghiên cứu là thấp
và sát biển, với các lưu vực sông nhỏ và cùng với các dòng suối nhỏ và ngắn nên lượng nước tập trung không lớn và đổ ngay ra biển nên ảnh hưởng của lũ là không đáng kể
Vào mùa kiệt (từ tháng X đến tháng IV) lượng nước trên đảo giảm hẳn Các dòng chảy tạm thời không còn hoặc khô hoàn toàn Ở một vài suối còn có nước, nhưng lượng nước rất ít Về mức đảm bảo tài nguyên nước mặt phục vụ dân sinh, phát triển KT-XH của huyện Cô Tô có thể thấy như sau:
Trang 38- Trên đảo Cô Tô: Theo số liệu thống kê, tổng diện tích đảo là 2253 ha Trong đó có thể chia ra làm các loại chính như đất nông nghiệp (215,19 ha), lâm nghiệp (1113,64 ha), chuyên dùng (307,94 ha), đất ở (29,69 ha), và đất chưa sử dụng (487,54 ha)
Dựa vào tiêu chuẩn sử dụng nước của các đối tượng do Viện Thiết kế Quy hoạch Nông Nghiệp, cùng với kết quả thực địa năm 2004 và 2005 và tham khảo các vùng khác
có những điều kiện tương tự, áp dung cho vùng nghiên cứu, đã tính toán và lựa chọn mức nước cho từng đối tượng cụ thể như sau (bảng 2.3)
Bảng 2.3: Nhu cầu sử dụng nước của một số đối tượng chính huyện đảo Cô Tô
TT Đối tượng sử dụng nước Mức nước cần Ghi chú
Nguồn: “ Luận chứng tiền quy hoạch huyện đảo Cô Tô”, Báo cáo đề mục, đề tài KT.03.12
Như đã trình bày ở trên, việc thống kê các đối tượng sử dụng nước huyện đảo Cô
Tô là rất quan trọng, cùng với nhu cầu nước cụ thể cho mỗi đối tượng đó Nhu cầu nước của các đối tượng này trong một năm là:
Bảng 2.4: Tổng lượng nước cần sử dụng của các yếu tố chính huyện Cô Tô năm
2003
TT Đối tượng dùng nước Đơn vị Tổng lượng nước cần (10 3 m 3 /năm)
Tổng nhu cầu nước trong năm 1126,77
Nguồn: UBND huyện Cô Tô, 01/2004a
So sánh nhu cầu nước năm 2003 là 1126,77 nghìn m3 nước với tiềm năng tổng lượng nước năm và lượng nước mùa cạn hiện tại là thoả mãn Tuy nhiên để giữ được sự cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường chỉ được phép khai thác 1/3 lượng nước tiềm năng trên đảo Với quy mô này thì vẫn nằm trong ngưỡng cho phép của việc sử dụng nước vào mùa khô Đây có thể là một ngưỡng cho sự quy hoạch và phát triển dân số trên
Trang 39đảo Vì nếu chúng ta tăng dân số lên nữa thì việc thiếu nước vào mùa khô là không thể tránh khỏi
Đảo Thanh Lam với tổng diện tích là 2421 ha, trong đó tồn tại một số loại hình sử dụng đất chính là: đất nông nghiệp (125,60 ha), lâm nghiệp (1193,68 ha), chuyên dùng (175,03 ha), đất ở (7,05 ha), và đất chưa sử dụng (919,64 ha)
Như vậy, nếu tính toán theo chỉ tiêu trên, tổng nhu cầu sử dụng nước năm 2003 trên đảo Thanh Lam là 428,09 nghìn m3 nước So với tiềm năng tổng lượng nước năm và lượng nước mùa cạn là thoả mãn
Còn trên đảo Trần, theo kết quả nghiên cứu của dự án “Dự án di dân củng cố an ninh
quốc phòng và phát triển kinh tế-xã hội đảo Trần, huyện đảo Cô Tô” năm 1998thì tiềm năng nước ngọt trên đảo là hiếm và chỉ có khả năng cung cấp cho khoảng 300 người (gồm cả bộ đội và dân thường)
Về chất lượng nước mặt
Kế thừa các kết quả nghiên cứu giai đoạn năm 1994 và 1997 và kết quả phân tích cập nhật trong 2 năm 2004 - 2995 để so sánh, đối chiếu với TCVN-1995 đã cho một số kết quả như sau:
Kết quả phân tích nước suối Hồng Vàn có các chỉ số vượt trội hơn bình thường
Có thể đưa ra lý giải là do chúng bị ứ đọng và bị mặn hoá lâu ngày hay là nước bị tù đọng lâu ngày nên các chỉ tiêu phân tích bị ảnh hưởng đáng kể Chúng thường cao hơn các mẫu bình thường khác từ 2 đến hàng 10 lần
Độ pH đo được dao động từ 7 đến 8 thuộc loại trung bình
Các chỉ số COD (nhu cầu oxy hoá học) hầu như nằm trong giới hạn cho phép (<10mg/l), riêng chỉ có chỉ số ở suối Hồng Vàn là 12mg/l
Tổng độ cứng: nước trong khu vực nghiên cứu thuộc loại nước mềm, chỉ riêng có
ở Hồng Vàn là rất cứng
Độ khoáng hoá (tổng các ion chính): độ khoáng hoá của các suối trên đảo phụ thuộc nhiều và các yếu tố khí hậu và mặt đệm trong lưu vực thể hiện ở tốc độ phong hoá các đá gốc và mức độ hoà tan của chúng trong nước Qua phân tích các chỉ tiêu đo được
Trang 40năm 2005 cao, trung bình đạt 294mg/l (nếu không tính suối Hồng Vàn 9486mg/l); thấp nhất là suối Hai Hòn 113mg/l
Độ khoáng hoá: nước thuộc lớp Cl nhóm Na kiểu 1 Trong các nhóm cation ion (K+ + Na+) chiếm khoảng 65%, còn trong nhóm anion thì Cl chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 70%
Các chất dinh dưỡng: trong nước tự nhiên các yếu tố Si, N, P, Fe tồn tại ở dưới dạng các iôn vô cơ, có liên quan chặt chẽ tới quá trình sinh trưởng và phân huỷ các sinh vật dưới nước, được tập hợp trong các nhóm chất dinh dưỡng Chúng được thể hiện như sau:
- Silic (Si): nước ở các suối khu vực nghiên cứu dao động khá lớn trong khoảng 3,5 đến 20,5 mg/l Các suối ở đảo Cô Tô có hàm lượng nhỏ hơn (<9mg/l), còn ở đảo Thanh Lam cao hơn (>14mg/l)
- Nitơ (N): hàm lượng NO3- dao động khá lớn từ 0,18 đến 0,99 mg/l Hàm lượng
NO2- dao động trong khoảng từ 0,006 đến 0,28mg/l; và NH4+ từ 0,1 đến 2,47 mg/l
- Tổng Fe+2 + Fe+3: trung bình tổng Fe trong nước khu vực nghiên cứu là 0,28mg/l, chúng dao động từ 0,01 đến 0,75mg/l và có sự phân hoá theo mùa
Các chất vi lượng trong các mẫu đều nằm trong giới hạn TCVN (<0,01mg/l) đối với nước tự nhiên
Nhìn chung chất lượng nước khu vực nghiên cứu chưa bị tác động mạnh do các hoạt động sản xuất của con người Mặc dù so với TCVN-1995 thì các chỉ tiêu này đều nằm trong giới hạn của nước sạch Các chỉ tiêu năm 2005 đều lớn hơn các chỉ tiêu ở những năm 1994 và 1997
Dự báo xu thế sử dụng nước huyện đảo Cô Tô đến năm 2010
Theo báo cáo tóm tắt quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội huyện đảo Cô Tô đến năm
2010 thì toàn huyện có số dân là 7000 người tăng 2125 người so với hiện tại Với số dân trên thì lượng tiêu thụ nước trong một năm khoảng 256m3 Tính toán thêm cho các đối tượng sử dụng nước khác thì tổng lượng nước cần năm 2010 là 2140,45 nghìn m3 (Bảng 2.5)