1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận về giá vàng

11 220 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 40,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐIỂM QUA TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH, QUY ĐỊNH QUẢN LÍ VÀNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA: Như tất cả chúng ta đều biết thị trường của một loại hàng hóa nào

Trang 1

Phần I: SUY NGHĨ VỀ CÁCH THỨC QUẢN LÍ THỊ TRƯỜNG VÀNG

CỦA NHÀ NƯỚC TỪ TRƯỚC ĐẾN NAY

I. ĐIỂM QUA TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH, QUY ĐỊNH QUẢN LÍ VÀNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA:

Như tất cả chúng ta đều biết thị trường của một loại hàng hóa nào đó chỉ xuất hiện khi có

cả người mua và người bán Người dân Việt Nam có thói quen mua vàng và cất trữ vàng đã lâu nhưng những cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đứng ra kinh doanh vàng thì chỉ xuất hiện trong hơn một thập kỉ rưỡi qua và chỉ thực sự nảy nở và phát triển rầm rộ trong những năm vừa qua Chính từ khi đó thị trường vàng trong nước chính thức xuất hiện và kèm theo sự ra đời và tồn tại của nó là những cơn sốt giá cực độ, những đợt nóng lạnh bất thường, những điệu nhảy lambada biến ảo và đầy ngẫu hứng làm đau đầu những nhà hoạch định chính sách, tác động nhiều mặt đến đời sống của người dân, và nghiêm trọng nhất là, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế ở cả tầm vi

mô lẫn vĩ mô Ví như trong quý 4 năm 2010 vừa qua, giá vàng trong nước đã leo lên đỉnh của nó với giá 35 triệu VND/ 1 lượng, chênh lệnh rất lớn so với giá vàng thế giới cùng thời điểm Đây không phải là lần đầu tiên có hiện tượng như vậy và nó cũng từng diễn ra nhiều lần trong các năm trước Có những lúc thị trường vàng và của Việt Nam biến động trái chiều với thế giới và mức độ tăng, giám giá rất vô lý Đã có nhiều giải pháp quản lý đưa ra, nhưng theo tôi vẫn chưa

đủ liều lượng và chưa triệt để khắc phục tình trạng giá vàng biến động khó kiểm soát Chất lượng thực thi trách nhiệm ấy lâu nay vẫn khiến dư luận xã hội không khỏi bức xúc trước những vũ điệu “nhảy múa” giá vàng kéo theo sự “teo tóp” tài sản của người này và “phát phì” tài sản của người khác trong sự u u mê mê của thị trường tự do

Trên nguyên tắc khi chúng ta lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hôi chủ nghĩa thì việc vận hành nền kinh tế về căn bản phải dựa trên các mối quan hệ cung cầu nhằm quyết định xu hướng biến động của các loại thị trường Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể thì Nhà nước có thể và rất cần phải can thiệp vào thị trường nhằm “uốn nắn” những biểu hiện lệch lạc của thị trường Đối với thị trường vàng, do đây là thị trường trao đổi các “hàng hóa đặc biệt” nên càng cần thiết phải có sự điều chỉnh của Chính phủ, thậm chí phải rất mạnh tay nhằm thiết lập lại các xu hướng biến động của thị trường và răn đe sự đầu cơ Và ở đây cũng xin được nói thêm rằng chúng ta cần phân biệt vàng nguyên liệu (vàng thỏi, vàng miếng) là một loại hàng hóa đặc biệt và vàng nữ trang xem như một loại hàng hóa phải quản lý như một ngành công nghiệp sản xuất, cách quản lý là khác nhau Nhà nước phải kiểm soát việc nhập khẩu, phân phối vàng nguyên liệu, sản xuất vàng miếng như thế nào để vừa cung ứng nhu cầu thị trường vàng trong nước, vừa đáp ứng nhu cầu tích trữ bằng tài sản của người dân, nhưng không biến vàng thành phương tiện thanh toán Cách quản lý hiện nay đang tạo điều kiện để vàng trở thành phương tiện thanh toán và việc này cần phải được khắc phục

Trang 2

Rà lại trong hàng loạt những quyết định, những thông tư quy định về việc quản lí thị trường vàng của nhà nước chúng ta thấy rất nhiều những văn bản hành chính thể hiện những cố gắng, nỗ lực của nhà nước trong việc điều tiết thị trường đặc biệt này Nhưng vì thời lượng không cho phép, bài viết chỉ tập trung nhận định, đánh giá một số những chính sách cơ bản mà điển hình là nghị định 174 của chính phủ về việc kinh doanh vàng được ban hành năm 1999 và những thông tư ban hành trong thời gian vừa qua

Thuế nhập khẩu vàng và thuế xuất khẩu vàng, theo quy định hiện hành, lần lượt là 0% và 10% Khi giá vàng tăng cao, người dân lại đổ xô đi mua dẫn đến tình trạng cầu vượt quá cung, khi đó Ngân hàng Nhà nước buộc phải cho nhập khẩu vàng để can thiệp hạ nhiệt giá và bình ổn thị trường Việc nhập khẩu như vậy thường có tác dụng tức khắc là làm giảm giá vàng trong nước nhanh chóng, lợi ích xã hội lớn nhất được phản ánh vào lợi nhuận trực tiếp do các công ty nhập khẩu vàng Lợi ích ngắn hạn là can thiệp thị trường vàng, dập tắt các cơn sốt vàng và các lợi ích cục bộ khác thắng thế là cơ sở cho sự tồn tại lâu dài của một chính sách nhập khẩu vàng tồn tại hàng thế kỷ Ai cũng có thể nhận thấy mặt trái có thể của nó là làm khan hiếm nguồn ngoại tệ (muốn nhập khẩu một lượng lớn vàng ta phải đánh đổi một lượng USD khổng lồ tương ứng) và đặc biệt làm giảm tính thanh khoản dự trữ ngoại hối quốc gia và làm tăng tính “vàng hóa” nền kinh tế (cùng với USD hóa nền kinh tế)… Đó là chưa kể nhập vàng cũng tác động đến các yếu tố vĩ mô khác như: nhập siêu, thâm hụt thương mại và gián tiếp gây sức ép lên tỷ giá Đây chính là bài toán khó và là áp lực đối với NHNN trong công tác điều hành Bởi lẽ cách mà Nhà nước cho nhập khẩu vàng chính là giảm độ chênh lệch so với giá thế giới chứ không phải là biện pháp làm thay đổi giá vàng Sự đi xuống của giá vàng sau khi có quyết định cấp quota nhập khẩu vàng chẳng hạn, là xuống trong khoảng chênh lệch với giá thế giới, chứ không phải xuống trong tổng thể xu hướng giá vàng thế giới Bởi, giá vàng của ta vẫn do giá vàng thế giới quyết định Nhưng vì bị cuốn theo giá vàng, cộng với áp lực cơ bản về lạm phát, thâm hụt thương mại, nên chúng ta phải chứng kiến xu hướng đồng Việt Nam mất giá nhiều Việc nhập khẩu vàng hàng năm như vậy dễ nhìn thấy là quá trình tiêu tốn ngoại tệ để lấy tài sản vàng và lượng vàng đó

đi vào cất giữ rất kỹ trong dân, chính vì vậy mà Nhà nước càng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc kiểm soát lượng vàng trong nước chưa kể tình hình nhập vàng lậu vẫn đang mỗi ngày tiếp diễn do sự yếu kém của hành lang pháp lý trong công tác nhập khẩu vàng và chống buôn lậu Nhìn từ con mắt của người trong cuộc, chúng ta đều biết rằng thách thức lớn nhất của người hoạch định chính sách chính là sự hài hòa giữa những lợi ích trong ngắn hạn và trong trung hạn, dài hạn Hiện nay, khi lợi ích quốc gia và dài hạn trên hết, chính sách nhập khẩu vàng như vậy đang đòi hỏi một sự tư duy mới có tầm chiến lược và đặc biệt phải lấy lợi ích quốc gia, lợi ích của nền kinh tế làm kim chỉ nam Tham khảo quốc tế căn cứ tình hình Việt Nam, chúng ta có thể

tư duy về chính sách nhập khẩu vàng trong tương lai theo nguyên tắc nào đó, chẳng hạn: chính sách nhập khẩu vàng phải lấy lợi ích quốc gia làm gốc Cân đối vàng, ngoại tệ - tỷ giá cần được

Trang 3

tính toán, cân nhắc trong bài toán quốc gia Nhu cầu dự trữ bằng vàng của dân là có thật Tuy nhiên rõ ràng, trên phương diện quốc gia, vấn đề lượng vàng bao nhiêu là tối ưu và qua đó lượng vàng nhập khẩu hàng năm là bao nhiêu cần được tính đến Nhà nước cần kiểm soát được quá trình nhập khẩu vàng vật chất: Điều này không đồng nghĩa với việc cơ quan quản lý nhà nước chỉ

đi lo cấp giấy phép nhập khẩu vàng mà cần xác định việc nhập khẩu vàng không tác động nhiều đến nguồn ngoại tệ hoặc đảm bảo ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn bằng vàng đó Việc cho phép nhập khẩu vàng vật chất, phải đi đôi với việc phát triển thị trường vàng trong nước theo định hướng nào đó, chẳng hạn như đưa Việt Nam trở thành trung tâm vàng quốc tế

Việc nhập khẩu vàng phải gắn liền với định hướng phát triển các công cụ tài chính dựa trên vàng

để tập trung nguồn vốn vàng vào ngân hàng hoặc vào trong tay nhà nước (làm giàu dự trữ ngoại hối chính thức chẳng hạn) Cơ quan quản lý đưa ra điều kiện về hoạt động kinh doanh vàng đối với các ngân hàng (cơ sở vật chất, chuyên gia có kinh nghiệm, được đào tạo ) Việc đưa ra một chính sách hiển nhiên là khó về mặt kỹ thuật và càng khó hơn khi phải hi sinh các lợi ích cục bộ

và trước mắt và cần một sự đồng thuận của cả xã hội: từ dân chúng, doanh nghiệp đến nhà hoạch địch chính sách Rõ ràng, chính sách vàng hiện nay không đơn giản mà nó cần những trái tim vàng, ít nhất để tập trung vốn để làm giầu tài sản quốc gia, giúp Việt Nam vượt qua thời điểm khó khăn về vốn như hiện nay Nhìn lại lịch sử Việt Nam cho thấy, thời kỳ Cách mạng mới thành công, đất nước đã có bao nhiêu trái tim vàng thực sự, họ hiến đã vàng cho cách mạng một cách không lưỡng lự, đắn đo

Xét về đĩa xuất khẩu của cán cân, tôi cho rằng việc tăng thuế xuất khẩu vàng lên 10% là hoàn toàn không phù hợp trong điều kiện hiện nay Việt Nam là quốc gia chủ yếu nhập khẩu vàng, khai thác trong nước không đáng kể, chỉ khoảng 1 tấn/năm.Vàng có giá trị rất lớn, nếu chỉ cho nhập khẩu mà không khuyến khích xuất khẩu, thì sẽ cực kỳ lãng phí, không tái tạo được ngoại tệ,

vì vàng chủ yếu được tiêu thụ trong nước dưới dạng vàng miếng, được dùng để cất trữ, lượng vàng trang sức tiêu thụ trong nước rất ít Như chúng ta đã biết, Việt Nam luôn trong tình trạng khan hiếm ngoại tệ, nếu chỉ cho nhập khẩu vàng mà không cho xuất khẩu thì sẽ càng làm cho cán cân ngoại tệ mất cân đối nghiêm trọng hơn Ngoài ra, thuế xuất khẩu vàng tăng quá cao như hiện nay sẽ làm cho tình trạng xuất khẩu lậu vàng trở lên nghiêm trọng hơn, nhất là qua các đường biên giới với Trung Quốc, Campuchia, Lào, Thái Lan…, gây thất thu cho ngân sách và khó khăn cho công tác điều hành chính sách tiền tệ Nếu Bộ tài chính cho rằng tăng thuế xuất khẩu để hạn chế tình trạng khan hiếm nguồn cung vàng và các cơn sốt vàng là hoàn toàn không hợp lý, cần nghiên cứu lại Chắc chắn chính sách này có hiệu lực sẽ gây bất ổn cho thị trường vàng và ngoại tệ.Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực về cách điều hành thị trường vàng, đơn cử như Thái Lan, kim ngạch xuất khẩu vàng trang sức của quốc gia này hàng năm đạt hàng tỷ USD, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu ngân sách cho nhà nước

và làm cho thị trường vàng phát triển lành mạnh, không hề có những cú sốc về giá như Việt Nam

Trang 4

2. Những chính sách quản lí vàng khác:

a. Đóng cửa sàn vàng và cấm kinh doanh, giao dịch vàng trên tài khoản nước ngoài:

Ngày 30/3/2010 Chính phủ ban hành quyết định cấm kinh doanh vàng trên tài khoản nước ngoài và đóng cửa các sàn vàng sau một thời gian những sàn này hoạt động một cách rầm rộ , biến ảo bất thường, góp phần nguyên nhân tạo ra tính không ổn định của thị trường vàng và những điệu nhảy của vàng Xét trong hoàn cảnh lúc đó khi mà giá vàng trong nước luôn biến động trái chiều với giá vàng thế giới và cùng với những hậu quả nhãn tiền cũng như tiềm tàng trong tương lai (tuôn chảy ngoại tệ, đầu cơ, đồng nội tệ mất giá trị, đầu tư nguồn lực lãng phí, ) thì biện pháp của Nhà nước là cấp thiết bởi nếu cứ để thả nổi thị trường vàng như thế thì sẽ tiếp tục gây ra những hậu quả khôn lường vì hoạt động này không tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh

tế mà còn ảnh hưởng đến nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh và tiềm ẩn một số yếu tố có thể gây bất ổn kinh tế – xã hội Công bằng mà nói giải pháp tình thế này đã góp phần hạ nhiệt thị trường , loại bỏ những nguy cơ, rủi ro mang tính hệ thống đến nền kinh tế dù không dập tắt được cơn sốt giá vàng thời bấy giờ

b. Thông tư số 22/2010/TT-NHNN:

Tháng 10/2010 NHNN ban hành với mục tiêu hạn chế các hoạt động huy động và cho vay vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD): chỉ cho phép các TCTD huy động vốn bằng vàng thông qua phát hành giấy tờ có giá, cho vay vốn bằng vàng để sản xuất (chế tác) và kinh doanh vàng trang sức (không được cho vay để sản xuất và kinh doanh vàng miếng); TCTD không được chuyển đổi vốn huy động bằng vàng thành VND và các hình thức bằng tiền khác Với mục tiêu làm giảm sức hấp dẫn của kênh đầu tư vàng, loại bỏ dần việc vàng hóa, chúng ta hy vọng Thông

tư 22 sẽ khiến các ngân hàng thươn mại (NHTM) bán lượng vàng đang nắm giữ, làm giảm sức nóng của thị trường Mặt khác, cơ chế mới sẽ khắc phục rủi ro về kỳ hạn, thanh khoản và lãi suất đối với TCTD huy động và cho vay bằng vàng Qua đó tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh vàng, ổn định thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ Hiệu quả của Thông tư cần phải có thời gian để đánh giá, tuy nhiên sau những biện pháp can thiệp nói trên, giá vàng trong nước đã bắt đầu hạ nhiệt chút ít và tần số những biến động bất thường cũng ít đi

II. TỔNG KẾT:

Một mặt, dễ nhận thấy rằng Chính phủ trong thời gian vừa qua, bằng những công cụ hành chính, tài chính,…đã nỗ lực rất lớn trong việc bình ổn thị trường vàng và giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của những cơn sốt giá vàng và những tồn tại nhức nhối trong việc kinh doanh vàng đến nền kinh tế Tuy nhiên, những chính sách như vậy mặt khác cũng thể hiện sự yếu kém của Nhà nước trong khâu quản lí, không đủ năng lực bao quát và kiểm soát thị trường và hoạt động của những sàn vàng cũng như những tài khoản kinh doanh vàng ở nước ngoài Một tiền lệ xót xa và cần nhìn nhận lại nghiêm túc đối với cách quản lí của nhà nước từ trước đến nay là: cứ bất cứ cái gì không quản lí được là cấm, lúc nào cũng cấm, cấm, và cấm Những biện pháp hành chính mang tính cực đoan như vậy chỉ có tác dụng trong ngắn hạn, hơn nữa chính chúng sẽ góp phần nảy ngòi ra những công cụ và cách thức kinh doanh vàng ngầm,

Trang 5

chui tinh vi hơn và đẩy tình hình đến những nấc thang ngày càng phức tạp hơn Nói một cách hình tượng, kiểu quản lí đó như là chữa cháy vậy, nhà nước mang một xô nước quá nhỏ chạy lăn tăn dập đầu này thì đầu kia bùng lửa cứ thế mà chạy hết chỗ này đến chỗ khác mà đám cháy thì quá lớn so với xô nước hữu hạn của Chính phủ Thiết nghĩ, chúng ta cần phải tư duy đến những chính sách dài hơi hơn, tính đến những lợi ích dài hạn, có khả năng tác động mạnh mẽ đến hiện trạng vàng nhảy múa và mạnh tay hơn với thị trường loại hàng hóa đặc biệt này Ở nhiều nước,

do có chính sách phù hợp, vàng và ngoại tệ đều được đưa vào hệ thống ngân hàng, tạo ra một kênh tài chính lớn cho nền kinh tế và điều hành vĩ mô Đây là phương thức quản lý nên áp dụng vào thực tiễn ở nước ta: Không nên xem vàng nguyên liệu xuất-nhập khẩu là một loại hàng hóa,

mà là vàng tiền tệ giống như ngân hàng trung ương các nước Bởi, vàng khác với các loại nguyên liệu thông thường về bảo toàn giá trị, khi nhập khẩu thì chi ngoại tệ nhưng khi xuất khẩu cũng thu về ngoại tệ, như vậy không ảnh hưởng đến giá trị nhập siêu Hoạt động xuất nhập khẩu vàng

do doanh nghiệp tự cân đối nguồn ngoại tệ trong thanh toán Nhà nước chỉ đánh thuế như các loại hàng hóa khác khi vàng đã qua gia công, chế tác thành vàng trang sức, bởi lúc này vàng tiền tệ đã chuyển sang thành vàng hàng hóa Mặt khác, thời gian qua tính liên thông thị trường vàng trong nước với thị trường vàng nước ngoài không tốt Khi giá vàng trong nước cao, vàng sẽ nhập (lậu)

về Việt Nam, khi giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới thì vàng cũng sẽ được xuất (lậu)

ra nước ngoài bằng nhiều hình thức, hệ quả là Nhà nước thất thu thuế Đã đến lúc phải thay đổi

tư duy mới, thực hiện chính sách mới, cách làm làm mới để giải quyết cơ bản và từng bước quản

lý vàng phù hợp với quy luật vận động của thị trường Qua đó, huy động tối đa nguồn lực vàng trong nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội đất nước

Và sắp tới đây, NHNN trong quý 2 sẽ trình Chính phủ ban hành nghị định về quản lý hoạt động

kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do; ngăn chặn hiệu quả các hoạt động buôn lậu vàng qua biên giới Quyết định này của chính phủ nằm trong Nghị quyết 11/NQ-CP về các gói giải pháp kiềm

chế lạm phát, ổn định vĩ mô và an sinh xã hội Nghị định do NHNH sắp trình lên chính phủ được

kỳ vọng rất lớn trong việc chấm dứt tình trạng phi mã của vàng Việt Nam, bình ổn thị trường vàng và USD về lâu dài, tạo tiền đề cho việc góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu dài hạn của nền kinh tế Trong phần II, người viết sẽ nêu lên những suy ngẫm của về một khía cạnh

trong Nghị định tương lai này, đó là việc tiến tới xóa bỏ kinh doanh vàng miếng.

NƯỚC VỀ VIỆC CẤM BUÔN BÁN VÀNG MIẾNG TRÊN THỊ TRƯỜNG

TỰ DO

Trang 6

Trước tiên, từ quan điểm cá nhân, người viết cho rằng chủ trương trong tương lai này của Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn Lí do vì sao? Chúng ta sẽ lần lượt phân tích ở những phần dưới

Cố nhiên, mỗi chính sách đặt ra đều mang 2 mặt của nó, áp lực của chính phủ cũng rất lớn trong việc phải hài hòa, cân đối giữa những lợi ích ngắn hạn và dài hạn Cân nhắc những mặt được, mặt mất chúng ta vẫn thấy sự cấp thiết của chủ trương trong bối cảnh hiện nay

I. TÍNH TẤT YẾU VÀ KHẢ THI CỦA CHÍNH SÁCH:

1. Tính tất yếu:

- Trong thời buổi kinh tế ngày nay, vàng miếng đã trở thành một phương tiện thanh toán phổ biến nhưng Nhà nước không kiểm soát được Việc mua bán, giao dịch, nắm giữ vàng miếng quá dễ dàng đã làm ảnh hưởng đến chủ trương trên đất nước Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam, một nền kinh tế không thể vừa thanh toán bằng tiền giấy vừa thanh toán bằng tiền vàng được, nữ trang vàng nhẫn nếu có sử dụng để thanh toán cũng chỉ là cá biệt, không thể nào chuẩn hóa thành phương tiện thanh toán như vàng lượng mà người ta vẫn dùng để thanh toán mua cả một căn nhà lớn

- Vàng miếng có giá trị tiền thật, thậm chí trong tình hình hiện nay, nó còn quý hơn cả đô la Vàng miếng được xem như là thước đo giá trị, có chức năng thanh toán và dự trữ Vì vậy, nếu để cho các cửa hàng mua vào – bán ra tự do, thì mỗi cửa hàng đó sẽ như một ngân hàng Một đất nước

mà có nhiều nơi phát hành và lưu thông thì không ai kiểm soát được giá cả Vì giá cả phụ thuộc vào khối lượng tiền đưa ra và đưa vào Nói một cách hình tượng, không thể mua bán vàng như một bó rau hay con cá ngoài chợ được

- Vàng và USD “dính” với nhau như hình với bóng, sẵn sàng chuyển từ dạng nọ sang dạng kia, và

là một yếu tố quan trọng kích tỷ giá lên xuống Do đó, việc Nhà nước quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu tiến tới xóa bỏ thị trường kinh doanh vàng miếng là hoàn toàn tối cần thiết trong lúc này Mục đích chính là để quản lý vàng, không tạo ra những mặt trái như găm giữ, đầu cơ, trục lợi phá vỡ thị trường Ngoài ra, quản lý chặt thị trường vàng sẽ giảm nhập siêu, từ đó giảm lạm phát và sử dụng hiệu quả hơn số lượng vốn biến thành vàng mà thường gọi là vàng vật chất

- Nghị định 174 - vốn được ban hành từ năm 1999 Sau gần 12 năm, thị trường vàng Việt Nam thay đổi như vũ bão, rất nhanh chóng và hội nhập quốc tế cũng rất sâu, trong khi hành lang pháp

lý không hề thay đổi Hành lang pháp lý có những bất cập nên Ngân hàng Nhà nước (NHNN) từng phải điều hành cơ chế xuất - nhập khẩu hay cơ chế quản lý vàng bằng các giải pháp tình thế

và điều này như đã phân tích ở trên không đem đến hiệu quả cho nền kinh tế về mặt lâu dài chút nào

Trong thời gian vừa qua, nhiều người dân vì chưa nắm rõ được thông tin cũng như chủ trương của chính phủ nên đã lo ngại và không yên tâm về chính sách cấm buôn bán vàng miếng

tự do của nhà nước Cộng vào đó là một số phương tiện thông tin đại chúng đăng tải nhiều luồng

ý kiến khác nhau, những luồng ý kiến không phải chính thức của các cơ quan có thẩm quyền và

Trang 7

những người chịu trách nhiệm chính thì không thể tin cậy được Việc cấm lưu thông vàng miếng hiện mới dừng ở thông tin định hướng chứ chưa có một văn bản chính thức nào Còn khi có quyết định chính thức cho việc này, đương nhiên sẽ phải có một hành lang pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ với các cơ chế chính sách khác làm cho lòng tin của người dân đối với thị trường, chính sách ổn định và không tạo nên cú sốc và quan trọng là để tiến tới được việc xóa bỏ kinh doanh vàng miếng, Nhà nước sẽ đi theo cả một lộ trình gồm nhiều bước cụ thể khác nhau, vừa thực thi vừa bổ sung, sửa đổi, đút rút kinh nghiệm,…chứ không hề có chuyện một sớm một chiều nói cấm là cấm Nhà nước sẽ xây dựng một thị trường vàng có tổ chức, từ khâu xuất nhập khẩu đến phân phối Theo kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng trong cuộc họp của Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ Quốc gia ngày 17/3 vừa qua, Nhà nước sẽ chỉ định một đầu mối xuất nhập khẩu vàng, đơn vị này sẽ mua/bán vàng với những đơn vị có chức năng kinh doanh vàng miếng

để đảm bảo giá trong nước sát giá thế giới Về khâu phân phối, NHNH sẽ cấp phép cho một số đầu mối chuyên mua/bán vàng miếng với người dân Người dân vẫn được quyền sở hữu vàng, nhưng việc mua/bán vàng phải được thực hiện với các đơn vị được cấp phép chứ không mua/bán tại các cửa hàng vàng nhỏ lẻ như hiện nay Nhà nước cũng sẽ quy định lại, xem kinh doanh vàng miếng là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ đơn vị đáp ứng mới được cấp phép Do vậy, tới đây các cửa hàng vàng nhỏ lẻ sẽ phải điều chỉnh lại giấy phép kinh doanh, chỉ mua/bán vàng

nữ trang, không được mua/bán vàng miếng Như vậy, theo tôi, việc sở hữu, mua/bán vàng miếng của người dân không có gì thay đổi, chỉ khác là phải mua bán tại các điểm do Nhà nước cấp phép

II. LỢI ÍCH CỦA CHÍNH SÁCH XÓA BỎ KINH DOANH VÀNG MIẾNG TỰ DO:

Khi chính sách được đi vào thực hiện, chúng ta sẽ thu về rất nhiều lợi ích cho cả người dân, các doanh nghiệp, và quan trọng nhất là cho nền kinh tế đặc biệt là ở tầm vĩ mô dài hạn về sau Thứ nhất, Nhà nước mà cụ thể ở đây là NHNN sẽ nắm trong tay được một quỹ vàng đáng kể (dù là ở chuyện kiểm soát, quản lí hay sở hữu) bởi vì vàng giờ đây sẽ được mua bán tập trung quy tụ về một mối, khi đó thị trường chính thức sẽ có đủ năng lực và sức mạnh để dẫn dắt thị trường tự do, uốn nắn được những biểu hiện lệch lạc của nó, loại bỏ tình trạng vàng 2 giá ở Việt Nam cũng như chuyện thao túng, đầu cơ, làm giá vốn là những tồn tại nhức nhối của thị trường vàng hiện nay Việc đầu cơ nâng giá, hạ giá vàng khó diễn ra vì theo quy chế quản lý mới các tiệm vàng tư nhân, dù lớn, cũng không còn khả năng chi phối thị trường Một hiệu ứng khác là giá đô la Mỹ trên thị trường tự do sẽ khó “nhảy múa” theo giá vàng như hiện nay do không còn hiện tượng thương nhân gom đô la Mỹ để nhập lậu vàng Thứ hai, thông qua khâu quản lí và kiểm soát việc xuất nhập khẩu vàng, Ngân hàng Nhà nước có thể kiểm soát được tổng cung, tổng cầu vàng trên thị trường, lượng vàng trong dân để cân đối cung cầu và dễ dàng phát hiện ra hiện tượng buôn lậu vàng cũng như lượng vàng nhập khẩu, tính toán lượng xuất vao nhiêu, nhập bao nhiêu, để thu ngoại tệ về cho đất nước, cùng với những biện pháp chống buôn lậu khác, Chính phủ mạnh tay hơn trong việc xóa bỏ tình trạng buôn lậu vàng vốn đem lại nhiều thiệt thòi cho người dân và nền kinh tế Thứ ba, một lượng vàng lớn từ trong dân vốn bị nằm chết sẽ được huy

Trang 8

động (theo số liệu của Hội đồng vàng thế giới, lượng vàng hiện có tại Việt Nam khoảng 1.000 tấn, tương đương với 45 tỷ USD), từ đó góp phần vào việc tăng cường vốn cho các lĩnh vực của ngành kinh tế, nghĩa là chúng ta sẽ phân bổ nguồn lượng tốt hơn và hiệu quả hơn

III. NHỮNG VẤN ĐỀ HẬU CHÍNH SÁCH:

Trong thời gian vừa qua có ý kiến cho rằng khi chính sách mới được thực thi sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân mà điển hình là quyền sở hữu tài sản mà cụ thể ở đây là vàng miếng Nhận định này hoàn toàn sai lầm và không có cơ sở vì, theo Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã khẳng định, NHNH sẽ cấp phép cho một số đầu mối chuyên mua/bán vàng miếng với người dân Người dân vẫn được quyền sở hữu vàng, nhưng việc mua/bán vàng phải được thực hiện với các đơn vị được cấp phép chứ không mua/bán tại các cửa hàng vàng nhỏ lẻ như hiện nay Như vậy về cơ bản, việc sở hữu, mua/bán vàng miếng của người dân không có gì thay đổi, chỉ khác là phải mua bán tại các điểm do Nhà nước cấp phép Vấn đề cần bàn ở đây chính là tâm

lý tích trữ vàng của người dân hay nói đúng hơn là một thói quen, tập quán đã ăn sâu vào gốc rễ tâm thức của người dân Tâm lý này xuất phát từ đặc điểm tính cách của con người Việt Nam Trước giờ, biết bao lâu rồi, người dân Việt mình, nếu khá giả một chút, đều lo lắng tiết kiệm cho con, cho cháu hoặc khi hữu sự sau này Ngay cả một người bán rau ngoài chợ cũng muốn có vài chỉ vàng giắt lưng, chưa nói đến những ai có tiền nhàn rỗi, muốn đầu tư vào một kênh nào đó an toàn hơn gửi tiết kiệm, "chạy đua" với lạm phát Thiết nghĩ chính nét phong tục tập quán và tâm

lý giữ vàng này là rào cản lớn đối với việc thực thi chủ trương cũng như là một điểm bất cập lớn

mà những người hoạch định chính sách phải lưu tâm trong quá trình đưa ra những quy định cụ thể trong lộ trình tiến tới xóa bỏ kinh doanh vàng miếng Cố nhiên, một chính sách tốt không thể

đi ngược lại mong muốn của người dân được, chính vì vậy để chủ trương có sức sống Nhà nước phải đưa ra từng bước đi, từng giai đoạn phù hợp vừa cho người dân thấy giữ vàng là hợp pháp nhưng cũng dần dần góp phần làm thay đổi thói quen tích trữ vàng của người dân vì căn bản mà nói đó không phải là cách đầu tư hiệu quả, thậm chí mặt khác lại đem lại nhiều bất ổn rủi ro đối với người dân và cả nền kinh tế Làm như thế nào để đạt được điều đó lại là câu chuyện của những người làm chính sách Ở đây người viết chỉ muốn nêu lên một suy ngẫm từ góc độ cá nhân Chúng ta không thể thay đổi một sớm một chiều thói quen giữ vàng của người dân mà cần

có thời gian để tạo lập niềm tin cho thị trường bằng cách giữ ổn định giá trị đồng nội tệ Việc huy động nguồn lực trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh, hay cất trữ trong ngân hàng đòi hỏi gia tăng niềm tin của người dân Chừng nào người dân thấy rằng chỉ cần mua vàng, đô la, hay đất

và ngồi chờ lãi lớn lại yên tâm không mất giá, thì người ta còn đổ tiền vào đó Niềm tin với đồng nội tệ tăng lên, người dân mới bỏ các khoản tiết kiệm vào ngân hàng và khuyến khích họ đầu tư cho sản xuất kinh doanh, hoạt động làm ra của cải vật chất cho xã hội, bảo đảm phát triển bền vững và giải quyết gốc rễ vấn đề lạm phát Niềm tin cần thời gian để khẳng định, và cần có những bước đi thích hợp để gây dựng niềm tin trong xã hội Chính vì sự tích trữ sinh ra từ tâm lý,

từ sự mất lòng tin, thì chỉ có thể xóa bỏ tích trữ bằng niềm tin

Trang 9

Một vấn đề khác đặt ra là khi nhà nước cấm buôn bán vàng miếng thì, xuất phát từ nhu cầu tất yếu của người dân, nhiều người sẽ chuyển sang mua và tích trữ vàng trang sức như nữ trang, Nhưng theo chúng tôi, khả năng này không cao và nếu xảy ra, có chăng cũng chỉ mua với

số lượng ít mà thôi Vì sao? Việc tích trữ vàng trang sức ba hoặc bốn số 9 không những không thể mang lại nhiều tiện ích cho người dân như vàng miếng, mà còn đem đến rủi ro còn nhiều hơn Khi người dân mua vàng trang sức là đã bỏ tiền mua cả công gia công, thiết kế sản phẩm, nhưng khi bán thì cái công đó không bán được Hơn nữa, việc trữ 100 lượng vàng miếng thì sẽ gọn nhẹ, đơn giản hơn là trữ 100 lượng vàng trang sức, vừa cồng kềnh, lại không dễ bảo quản, như kiềng

có thể bị méo, dây chuyền bị mất mắt xích Người dân đầu tư vàng miếng thì có thể mua của thương hiệu này, bán cho doanh nghiệp khác, song với vàng ta trang sức thì rất khó bán như vậy

Và đặc biệt, giá trị vàng trang sức có thể sẽ bị trừ hao khá nhiều theo thời gian, phụ thuộc vào tuổi vàng, chất lượng vàng Người mua lại khó mà phân biệt được chất lượng hay tuổi vàng, phần trăm vàng nếu mua ở những nơi không uy tín Thế nên việc người dân đang tranh nhau mua vàng trang sức chỉ là một xu hướng tạm thời hoặc những người đang hoặc sắp có nhu cầu về vàng để cưới xin, làm của hồi môn cho con cháu, do lo ngại sắp tới có thể khó mua vàng, nên họ mua để phòng

Việt Nam hiện có trên dưới 10 thương hiệu vàng miếng, trong đó chiếm thị phần lớn nhất

là SJC của Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn, tiếp đó là Tổng công ty Vàng Agribank, SBJ, PNJ,

… Nếu ý tưởng giao dịch một chiều nói trên được thông qua, theo thời gian toàn bộ các thương hiệu vàng miếng này sẽ không còn tồn tại, hệ thống nhà xưởng dập đúc cũng sẽ không còn hoạt động Thế nhưng sẽ không có chuyện các doanh nghiệp này phải chịu ảnh hưởng lớn trong thu nhập Thứ nhất, những doanh nghiệp có đủ điểu kiện sẽ làm giấy phép đăng kí để trở thành đầu mối mua/bán vàng cho NHNN, cơ hội kinh doanh vẫn còn đó Thứ hai, một điều phải thừa nhận rằng các doanh nghiệp này từ trước đến nay không chỉ có kinh doanh vàng miếng, mà còn chế tác nữ trang và kinh doanh vàng trang sức nữa, chính vì vậy họ sẽ phải tự chuyển đổi cơ cấu trong sản xuất, kinh doanh và đây cũng là yêu cầu tất yếu trong thời buổi kinh tế thị trường chứ không có gì là đột ngột, bất ngờ cả, muốn tồn tại thì phải thích ứng Doanh nghiệp kiểu gì cũng sống được và họ sẽ tìm mọi cách đối phó Không được dập vàng miếng thì họ sẽ làm táo vàng, trâu vàng để bán Kiềng cổ ngày xưa làm rỗng, thì nay làm đặc Vấn đề dặt ra ở đây là khi chính sách đi vào thực tiễn, Nhà nước phải kèm theo đó một hành lang pháp lí đủ mạnh cùng với việc quản lý chặt chẽ, minh bạch tránh tình trạng cục bộ, không công bằng và những biến tướng khác

ví dụ như hiện tượng độc quyền dù chỉ là tương đối trong việc các doanh nghiệp đóng vai trò là đầu mối tập trung mua bán vàng

Trang 10

- Thị trường “chui”, chợ đen: Khi nguồn cung vàng của các ngân hàng hay công ty vàng không đủ đáp ứng nhu cầu, thì người dân sẽ lại đến tiệm vàng Và nếu các tiệm vàng tìm ra nguồn để mua bán “chui” thì thị trường vàng có nguy cơ diễn ra tình trạng giao dịch ngoài luồng giống như thị trường đô la tự do hiện nay Đội ngũ quản lý, thanh tra, kiểm tra còn quá mỏng, kinh doanh vàng lụi vẫn được, huống hồ chi lại không tạo ra thị trường chợ đen, đã rối càng rối thêm Vấn đề đặt

ra là nếu xảy ra “ngầm”, như đối với USD, vậy tại sao có “ngầm”, chúng ta phải tìm hiểu rõ nguyên nhân Nên nhớ, người dân thấy tiền mất giá muốn giữ một cái gì đó cho an toàn, thì chỉ

có mua vàng miếng để trong túi Vậy muốn mua lại hay quản lý thì phải có chính sách có lợi cho người dân Nếu chính sách ra mà thiệt, hay cấm đoán một cách vô lối, theo kiểu cứng nhắc thì rõ ràng sẽ xảy ra “ngầm”, thậm chí “sóng ngầm” còn dữ dội nữa Do vậy, Nhà nước đưa ra chính sách thì phải nhắm tới các đặc điểm cụ thể để quy định Nếu không sẽ sinh ra những biến tướng không có lợi, càng khiến tình hình rối ren hơn

- Trước kia chúng ta cũng đã từng cấm kinh doanh vàng miếng, nhưng sau đó thì thị trường tự do vẫn hoạt động Trước đây là do chúng ta thực hiện không đồng bộ Khi đưa ra quyết định, muốn quản lý được thì phải tạo điều kiện và môi trường cho những đối tượng có nhu cầu thực sự Tức

là “thắt chỗ này thì phải mở chỗ khác”

- Về mặt khái niệm cũng cần phải làm rõ thế nào là thị trường tự do.Thị trường tự do ở đây được hiểu là thị trường "chợ đen" hay là các cửa hàng kinh doanh vàng đang hoạt động hiện tại? Quản

lý thị trường vàng tự do không đồng nghĩa với việc hạn chế quyền tự do giao dịch, mua bán vàng của người dân bằng các văn bản hành chính Việc quản lý thị trường vàng tại Việt Nam phải phù hợp với điều kiện thực tế và thông lệ quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta đang kêu gọi quốc

tế công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường

IV. TỔNG KẾT:

Rõ ràng là chúng ta còn quá nhiều vấn đề nổi cộm khi chính sách đựa đưa vào thực tế Những tồn tại này có nguyên do từ thị trường vàng phức tạp ở nước ta nhưng nhiều hơn là do những yếu kém, bất cập trong khâu quản lí của Nhà nước, trình độ của chúng ta còn quá thấp so với những nước trong khu vực và chúng ta cần phải học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm Nhưng cũng không vì thế mà chúng ta ngần ngại trước hiệu quả và của chủ trương này sẽ đem tới hay chúng ta dè dặt không dám thực thi Một điều mà chúng ta phải luôn biết rõ rằng, so với những tồn tại và bất cập của hậu chính sách thì những tác động tích cực, những lợi ích chiến lược mà nó mang tới, cả trong ngắn hạn và dài hạn, là rất lớn Con người luôn đứng trước sự đánh đổi và từ

đó phải đưa ra lựa chọn Một quốc gia hay một nền kinh tế cũng vậy, không thể nào thoát khỏi quy luật ấy Cái chính ở đây là một khi chúng ta đã chấp nhận đánh đổi (lựa chọn chính sách) điều đó cũng không đồng nghĩa với việc chúng ta phải đánh đổi tất cả hay phải gánh nhiều thiệt hại Ý tưởng chúng tôi muốn hướng đến ở đây chính là trong quá trình thi hành, Nhà nước với trách nhiệm của mình, sẽ đưa ra những hành lang pháp lý chặt chẽ và đủ mạnh cùng những chính sách cụ thể tích cực đi kèm sao cho hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực nảy sinh, đồng thời trong lộ trình đó, chúng ta sẽ vừa làm vừa điều chỉnh để rút được những kinh nghiệm

Ngày đăng: 15/03/2015, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w