Các nhà kinh tế học của giai cấp tư sản đã tham khảo và vay mượn những phân tích sâu sắc của C.Mác về nguyên nhân khủng hoảng kinh tế, đề xuất lợi dụng sự can thiệp của nhà nước để khắc
Trang 1
TIỂU LUẬN:
VỀ GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI CỦA KINH
TẾ CHÍNH TRỊ HỌC CỦA C.MÁC
Trang 2
Bài viết góp phần phân tích và luận giải nhằm làm sáng tỏ những giá trị thời đại trong lý luận của C.Mác về kinh tế chính trị học Theo tác giả, kinh tế chính trị học của C.Mác mang nhiều giá trị thời đại sâu sắc, đó là giá trị khoa học, giá trị xây dựng, giá trị thực tiễn và giá trị chính trị
Khi cuộc khủng hoảng tài chính do khủng hoảng tín dụng thứ cấp của Mỹ gây trở ngại nghiêm trọng cho sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc và cùng với khi năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên của con người đang ngày càng nâng cao, thì một loạt vấn đề, như cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, chênh lệch giàu nghèo, v.v đã khiến toàn bộ giới lý luận thế giới phải nhận thức lại và tìm kiếm những ý nghĩa, giá trị của kinh tế chính trị học của C.Mác Trung Quốc đã giành được thắng lợi cách mạng và thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự chỉ đạo của chủ nghĩa Mác Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVII đã đặt ra vấn đề thời đại hóa chủ nghĩa Mác, điều này càng đòi hỏi giới lý luận chúng ta phải nỗ lực tìm kiếm những giá trị thời đại của kinh tế chính trị học của C.Mác
Trang 3
sự phát triển kinh tế và kết cấu bệnh tật của chủ nghĩa tư bản thì ông lại vừa kịp để thúc đẩy cho sự cải cách của chủ nghĩa tư bản Ai cũng biết rằng, từ khủng hoảng kinh tế lần đầu xuất hiện năm 1825 tới nay, các nhà kinh tế học tư bản chủ nghĩa đã bắt đầu tìm hiểu về nguyên nhân hình thành khủng hoảng, tìm kiếm đối sách thoát khỏi khủng hoảng, tạo nên vài ba trăm loại lý luận về khủng hoảng, trong đó có loại chỉ nhìn thấy hiện tượng bên ngoài (nhu cầu không đầy đủ), có loại chỉ mô tả quá trình, thậm chí có loại lại hoàn toàn chỉ là sự đoán mò duy tâm (thuyết vùng đen mặt trời – sunspot theory)(1)
C.Mác cho rằng, hình thức biểu hiện của khủng hoảng kinh tế là do sản xuất thừa, vượt quá nhu cầu khiến không thể tiêu thụ hết số hàng hoá đã sản xuất, nhưng nguyên nhân căn bản chính là chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và
do vậy, đã quyết định sự vận động của mâu thuẫn cơ bản trong chủ nghĩa tư bản Các nhà kinh tế học của giai cấp tư sản đã tham khảo và vay mượn những phân tích sâu sắc của C.Mác về nguyên nhân khủng hoảng kinh tế, đề xuất lợi dụng sự can thiệp của nhà nước để khắc phục phần nào sự mâu thuẫn giữa chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa với nền đại sản xuất xã hội hoá, đây chính là “Cuộc cách mạng Keynes” Chủ nghĩa tư bản sau chiến tranh thế giới đã dựa trên lý luận Keynes từ “bàn tay vô hình” điều tiết đưa ra “bàn tay hữu hình” để tiến nhập vào giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại Sự xuất hiện của thể chế này đã sửa chữa một cách rất có ý thức những hậu quả kinh tế - xã hội bất công đầy rẫy nảy sinh trong quá trình vận hành nền kinh tế thuần tư bản chủ nghĩa, điều chỉnh mang tính cải cách và thích ứng với phương hướng mà C.Mác đã dự báo Nhà kinh tế học phương Tây Sardoni đã thừa nhận công khai: “Phát hiện Keynes: Sự coi trọng của C.Mác đối với lý luận chu chuyển tư bản, sự nhấn mạnh của C.Mác về sự theo đuổi của các doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa là lợi nhuận tiền tệ chứ không phải là cái sự thực sản xuất ra hàng hoá
đã đem lại cho những người đi sau cách lý giải sự vận hành xã hội tư bản chủ nghĩa
và cách phê phán kinh tế học cổ điển, đặc biệt là gợi mở tốt nhất cho định luật Say (Say’s Law)” Jeffray Hodgson còn nói rõ hơn nữa: “Chỉ có nghiên cứu một cách thực sự Tư bản, đặc biệt là quyển đầu tiên của nó, mới có thể bổ lấp vào cái khoảng trống to lớn đã tạo ra khủng hoảng của lý luận kinh tế hiện đại”(2)
Sức sống mạnh mẽ của kinh tế chính trị học của chủ nghĩa Mác ngày nay không chỉ
Trang 4
bó hẹp trong các kết luận cụ thể của nó, mà còn ở phương pháp phân tích và nghiên cứu vấn đề Nhiệm vụ của khoa học là thông qua hiện tượng nhìn thấy được bản chất, phát hiện bản chất trong hiện tượng, đồng thời xuất phát từ bản chất sự vật đưa
ra những giải thích khoa học về hiện tượng Tính quan trọng của lý luận không phải
ở nghiên cứu mối quan hệ giữa vật với vật hay vật với người, mà ở mối quan hệ giữa người với người sau những quan hệ trên Xét từ góc độ này, kinh tế học Mác có thể phản ánh bản chất lý luận của khoa học Trong Tư bản, C.Mác chỉ rõ: “Đối tượng nghiên cứu của tôi là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những quan hệ sản xuất và trao đổi thích ứng với phương thức ấy”, nhưng “mục đích cuối cùng của tác phẩm này là tìm ra quy luật vận động kinh tế của xã hội hiện đại”(3) Cần nhận thấy rằng, chính phương pháp phân tích sắc sảo đó khiến C.Mác có thể phát hiện ra bản chất của những quy luật khách quan, như sự phát triển của lực lượng sản xuất chính
là sức mạnh quyết định sự phát triển xã hội Jeffrey Hodgson cũng chỉ ra trong Chủ nghĩa tư bản, giá trị và bóc lột – tác phẩm lý luận nền móng cho “chủ nghĩa Mác mới”: “Nếu như tiến hành mổ xẻ một cách tỉ mỉ tư tưởng của C.Mác sẽ phát hiện nó chứa đựng một hệ thống khái niệm mạnh mẽ và sâu sắc, hệ thống đó cung cấp một phương pháp hữu hiệu nhất cho việc tiến hành phân tích kinh tế tại các nước phương Tây phát triển hiện nay” “Dẫu cho kinh tế học của C.Mác bị chỉ trích rất nhiều rằng chưa thể kiểm nghiệm những dự báo về chính số phận mình, nhưng những thành công mà nó đạt được trên lĩnh vực này lớn hơn nhiều so với chủ nghĩa tân cổ điển Chúng ta hãy cùng suy tư một số ví dụ Trước hết, những dự báo của C.Mác rằng tư bản sẽ ngày càng tích tụ trong tay một số ít doanh nghiệp lũng đoạn chính trị Trên thực tế, ngày nay chỉ vẻn vẹn mấy trăm doanh nghiệp đại tư bản đã chi phối toàn bộ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới Thứ hai, C.Mác dự báo sự phân tách dần giữa quyền sở hữu và quyền khống chế trong các doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa sẽ dẫn tới sự xuất hiện một giai tầng xã hội mới hợp thành bởi các giám đốc điều hành công
ty, khác biệt với các chủ thể sở hữu cổ phiếu Đó là một hiện thực mà bây giờ mọi người đều thừa nhận Thứ ba, C.Mác dự báo sự giải thể của kinh tế tiểu nông và các hình thức sản xuất lạc hậu khác sẽ khiến cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chiếm địa vị thống trị trong nông nghiệp, đồng thời khiến nhân khẩu từ nông thôn chảy ra thành thị Trong các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, quá trình này trên thực
Trang 5
tế đã hoàn thành Thứ tư, C.Mác dự báo sẽ hình thành một hệ thống tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu thống nhất và một giai cấp công nhân trên phạm vi toàn thế giới Tới nay, ngoài trận địa Trung Quốc, tư bản đã thẩm thấu ra toàn thế giới, hình thành một hệ thống sản xuất thế giới thống nhất về mặt kinh tế, trong đó tuyệt đại đa
số người dựa vào việc bán sức lao động để sinh tồn Thứ năm, C.Mác đã nhìn thấy sự đối kháng trong chủ nghĩa tư bản vẫn đang tiếp tục và ngày càng kịch liệt, cùng với
sự hỗn loạn của nền kinh tế thế giới ở một mức rất lớn, những nhân tố đó vẫn đang
đi cùng chúng ta” (3)
2 Giá trị xây dựng
Đương nhiên, kinh tế học kinh điển của C.Mác chứa đựng ý thức phê phán mạnh mẽ Tiêu đề phụ của Tư bản là “Phê phán kinh tế chính trị”, mệnh đề trung tâm trong toàn bộ lý luận kinh tế của C.Mác là vạch ra một cách khoa học sự bất hợp lý của chế
độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, tính chất không thể điều hoà giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, đồng thời kết luận chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ diệt vong Thực ra, kinh tế chính trị học của C.Mác là hệ thống lý luận nghiên cứu phương thức sản xuất, nó không chỉ khảo sát mang tính thực chứng về cơ chế vận hành xã hội của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà còn đưa ra rất nhiều dự báo khoa học cho tương lai của chủ nghĩa xã hội Bản thân điều đó đủ cho thấy giá trị xây dựng mạnh mẽ của lý luận kinh tế chính trị học của C.Mác Tư bản là bộ bách khoa toàn thư cho nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thế kỷ XIX Lý luận về hàng hoá - tiền tệ, lý luận về phân công xã hội, lý luận về giá trị lao động, lý luận về giám đốc điều hành chuyên nghiệp của ông đều có tác dụng xây dựng mạnh mẽ Ông cũng khẳng định rất đầy đủ về lực lượng sản xuất mà chủ nghĩa tư bản phát triển chưa đầy một trăm năm tạo ra là lớn hơn gấp nhiều lần mọi thời đại gộp lại Vì thế, người sáng tạo ra lý luận tăng trưởng kinh tế hiện đại - E.Thomas – đã chỉ rõ: “Trong tất cả các học phái kinh tế, các nhà chủ nghĩa Mác gần đây đã phát triển lý luận chân thực về tăng trưởng kinh tế” Nhà kinh tế học đại biểu cho chế độ mới – giáo sư North thừa nhận: “Trong mô hình của C.Mác, sự biến đổi của kỹ thuật dẫn tới sự tiến bộ của công nghệ sản xuất, Từ một giai cấp mới lên đầy sức sống lật đổ thể chế hiện có, đồng thời tạo lập nên cái mà giai cấp đó có thể đem tiềm lực của kỹ thuật mới chuyển hoá thành quan hệ sở hữu tài sản mới” Vì vậy, nhìn từ góc độ “trường kỳ biến thiên”, trong tất cả các lý luận
Trang 6
kinh tế học tân cổ điển thì phân tích của C.Mác là “có sức thuyết phục nhất”
Hiện nay, các nước tư bản chủ nghĩa chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính đang kêu gọi một cách phổ biến rằng cần phải phản tư và tìm kiếm những chỉ dẫn của C.Mác trong lý luận về khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa, khiến cho lượng phát hành bộ Tư bản gia tăng “Từ cuộc khủng hoảng tài chính phố Wall của nước Mỹ đã dẫn tới cuộc khủng khoảng kinh tế toàn thế giới, khiến cho châu Âu phát sốt vì Tư bản Tại Đức, giới thương gia chịu tổn hại nghiêm trọng bởi khủng hoảng đang ra sức tìm kiếm căn nguyên tạo nên cuộc khủng hoảng tiền tệ này, khiến bộ Tư bản bằng tiếng Đức bán rất chạy Tờ Times của Anh nhận định, cuộc khủng hoảng tài chính đã khiến người phương Tây đột nhiên coi trọng bộ Tư bản của C.Mác, điều này trước hết cho thấy sự gia tăng số lượng phát hành của sách với lượng độc giả rộng rãi Nhà sách Các Mác tại Frankfurt của Đức kết hợp cùng một số nhà xuất bản tại Berlin, Hamburg, trong mấy tháng đầu năm 2008 đã bán được 1000 bộ Tư bản, gấp 100 lần so với lượng bán năm 1990 Trên vùng đất Đông Đức cũ, trong khoảng
10 tháng của năm 2008 đã bán được 1500 bản Tư bản, tăng gấp 3 lần so với năm trước”(4)
Vai trò xây dựng kinh tế chính trị học của C.Mác không phải chỉ ở chỗ luận chứng cho các loại nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nhấn mạnh tới quy luật vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và thượng tầng kiến trúc, điều này thực ra chính là mệnh đề “chế độ quyết định hành động” mà kinh tế học trong xã hội mới vốn có ảnh hưởng rất lớn trong kinh tế học phương Tây nhấn mạnh Đặc biệt, C.Mác đã phát hiện, dự báo xu thế phát triển và những vấn đề có thể xuất hiện trong xã hội tương lai C.Mác đã từng chỉ rõ: “Mỗi một bước tiến của nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa không những là một bước tiến trong nghệ thuật bóc lột công nhân, mà đồng thời còn là một bước tiến trong nghệ thuật bóc lột đất đai; mỗi một bước tiến trong việc làm tăng độ màu mỡ của đất đai trong một thời gian nhất định đồng thời cũng là một bước tiến trong việc hủy hoại những nguồn lâu dài của sự màu mỡ đó Một nước, như Hợp chủng quốc Bắc Mỹ chẳng hạn, mà càng lấy đại công nghiệp làm cơ sở phát triển của mình, thì quá trình phá hoại đó lại càng nhanh chóng Do đó nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ phát triển kỹ thuật và sự kết hợp của quá trình sản xuất xã hội bằng cách đồng thời
Trang 7
phá hoại các nguồn đẻ ra mọi của cải xã hội: đất đai và người lao động”(5) Điều này thực ra chính là những luận giải đầu tiên cho sự ra đời của lý luận về phát triển bền vững trong thời điểm hiện nay khi mà một loạt vấn đề phát triển kinh tế, như ô nhiễm môi trường, phân hoá hai cực, v.v xuất hiện Về điểm này, các nhà kinh tế học phương Tây cũng tán thành Nhà kinh tế học nổi tiếng Joseph Alois Schumpeter cho rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác với tư cách một chỉnh thể thì tính hoàn bị của những kiến giải của C.Mác trong từng chi tiết đều cho thấy sự chính xác, đồng thời trở thành cội nguồn cho sự tiếp thu trí tuệ của những người kế tục ông và cả những người coi ông là thù địch”(6)
3 Giá trị thực tiễn
Kinh tế học của chủ nghĩa Mác là một hệ thống khoa học hoàn chỉnh, nó được xây dựng trên một hệ thống lôgíc chặt chẽ: hàng hoá – tiền tệ – quy luật giá trị – giá trị thặng dư – lợi nhuận, v.v và với phong cách trình bày từ trừu tượng tới cụ thể Song, cái trừu tượng đó không phải là sự khép kín mà luôn bắt nguồn từ thực tiễn Bản thân kinh tế chính trị học của chủ nghĩa Mác dựa trên nền tảng chủ yếu là kế thừa kinh tế học cổ điển, đồng thời tổng kết, đúc rút và phát triển từ cơ sở thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản đương thời.(6)Cho tới ngày làm việc cuối cùng của mình, C.Mác lúc nào cũng thu thập đầy đủ các tư liệu trước khi đưa ra ý kiến trong các trước tác Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản – tài liệu đánh dấu sự hình thành chủ nghĩa Mác, là bản cương lĩnh chính trị do C.Mác, Ph.Ăngghen khởi thảo cho chính đảng đầu tiên của giai cấp vô sản thế giới – Đồng minh của những người theo chủ nghĩa cộng sản Những lý luận sau này đều căn cứ vào đòi hỏi của cách mạng và công cuộc xây dựng mà không ngừng được sửa đổi và phát triển, “mọi lúc mọi nơi đều cần lấy điều kiện lịch sử thời điểm đó làm mốc chuyển đổi” Năm 1872, C.Mác, Ph.Ăngghen đã viết trong lời tựa Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Do đại cách mạng công nghiệp 25 năm gần đây có sự phát triển to lớn mà tổ chức chính đảng của giai cấp công nhân cũng phát triển lên, từ lúc ban đầu có kinh nghiệm thực tế của Cách mạng tháng 2, đặc biệt là có kinh nghiệm thực tế của Công xã Pari mà giai cấp
vô sản lần đầu tiên nắm được chính quyền trong suốt hai tháng, vì thế mà trong bản cương lĩnh này có một số chỗ đã lạc hậu”(7) “Kinh tế chính trị học, về bản chất, là một môn khoa học về lịch sử, nó đề cập tới những tài liệu mang tính lịch sử thường
Trang 8
xuyên biến đổi”(8)
Kinh tế học của C.Mác không phải là giáo điều lý luận trừu tượng, mà là kim chỉ nam cho hành động, là khoa học của sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn Sự hình thành và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác đều kết hợp chặt chẽ với thực tiễn cách mạng và thực tiễn xây dựng của quần chúng trải qua sự mài giũa, khái quát, thăng hoa của lý luận, hình thành và phát triển từ thực tiễn, thành quả của nó được ứng dụng vào thực tiễn Đó chính là sức sống mãnh liệt không bao giờ cạn kiệt của chủ nghĩa Mác Nó đòi hỏi người ta dựa vào nguyên tắc và phương pháp cơ bản của
nó, không ngừng kết hợp với thực tế đang biến đổi để tìm kiếm những đáp án giải quyết cho vấn đề mới, đồng thời phát triển bản thân lý luận của chủ nghĩa Mác Sau C.Mác, lý luận về chủ nghĩa đế quốc của V.I.Lênin, lý luận chủ nghĩa cách mạng tân dân chủ của Mao Trạch Đông, chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc của Đặng Tiểu Bình và tư tưởng “ba đại diện” cùng quan điểm phát triển khoa học, v.v đều là
sự phát triển kinh điển cho lý luận kinh tế của chủ nghĩa Mác Chính bởi phẩm chất khoa học của kinh tế học của chủ nghĩa Mác có thể tiến cùng thời đại mới khiến nó,
dù phải trải qua trắc trở và bị đả kích, thì vẫn phát triển về phía trước và luôn luôn tươi mới Đúng như Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào trong bài phát biểu tại Hội nghị báo cáo “Học tập văn tuyển Giang Trạch Dân” đã chỉ ra: “Sức sống to lớn của chủ nghĩa Mác là ở chỗ có thể đưa ra những chỉ đạo khoa học cho thực tiễn, khiến chúng ta trên
cơ sở nhận thức quy luật, nắm vững quy luật, vận dụng quy luật sẽ cải tạo một cách tốt hơn thế giới khách quan và thế giới chủ quan”
4 Giá trị chính trị
Kinh tế chính trị học của C.Mác là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng Cần phải đánh giá một cách đúng đắn giá trị chính trị của kinh tế chính trị học của C.Mác, bởi C.Mác công khai thừa nhận học thuật của mình không phải là thứ khoa học siêu vượt khỏi giai cấp và không bênh vực bất cứ giai cấp nào, mà là cương lĩnh hành động của giai cấp vô sản Để bảo vệ quyền làm người của mình, giai cấp
vô sản phải phá bỏ “điều kiện sống của bản thân”, cũng tức là phá bỏ cái chế độ tư hữu áp bức khiến người ta bị tha hoá(9), từ đó “tạo dựng nên một thể liên hợp mà ở
đó, tự do phát triển của mỗi người là điều kiện để tất cả mọi người tự do phát triển”(10) Bởi vậy, với tư cách một nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta luôn nhấn mạnh
Trang 9
một cách rõ ràng lấy chủ nghĩa Mác làm chỉ đạo, nghiên cứu lý luận kinh tế học cũng tất yếu phải lấy lý luận chủ nghĩa Mác làm chỉ đạo
Đặc trưng bản chất của con người là tính xã hội Từ khi con người bước vào đời sống
“loài” thì cần có một tư tưởng chung khiến họ thống nhất lại, làm cho con người có chung chuẩn tắc hành vi Đây chính là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến sự ra đời của đạo đức học dù ở phương Đông hay phương Tây Từ khi có sự xuất hiện của nhà nước, mỗi một nhà nước đều xác lập, truyền bá một kiểu hình thái ý thức, bởi hình thái ý thức mang nhiều chức năng quan trọng, như bảo vệ trật tự xã hội, hoàn thiện nhân cách, thống nhất ý chí, tiết giảm chi phí giao dịch, hình thành sức mạnh hợp tác, v.v North – đại biểu cho trường phái xã hội mới nhấn mạnh: Quyền tài sản, nhà nước, hình thái ý thức là ba hòn đá tảng cho sự phát triển kinh tế “Quan niệm hình thái ý thức không ngừng biến đổi khiến cá nhân và tập thể sinh ra những quan điểm trái ngược nhau về tính công bằng trong địa vị của chính mình, đồng thời khiến họ dựa trên những quan điểm đó để hành động”(11) C.Mác cũng nhấn mạnh rằng, nếu
từ góc độ quan niệm để khảo sát thì sự giải thể của một hình thái ý thức nhất định cũng đủ khiến cả một thời đại bị huỷ diệt(12) Hiện nay, mục đích thực sự của các nước tư bản chủ nghĩa phát triển như Mỹ là muốn lợi dụng toàn cầu hoá để thúc đẩy
sự lan tỏa hình thái ý thức của họ Bản chất của kết luận cuối cùng về hình thái ý thức mà các học giả phương Tây cổ suý là “trừ bỏ quan niệm giá trị xã hội chủ nghĩa
và cộng sản chủ nghĩa trong đầu óc người ta, xác lập địa vị "độc tôn" của hình thái ý thức tư bản chủ nghĩa”(13)
Giá trị chính trị trong kinh tế học của chủ nghĩa Mác còn thể hiện tính nhân dân Trong xã hội có giai cấp, tuyệt đại đa số các khoa học đều có tính giai cấp Mục đích phát triển sức sản xuất vì lợi ích nhân dân có thể khiến cho nhân dân cùng được hưởng những thành quả của sự phồn vinh kinh tế hay không là nguyên tắc hàng đầu buộc chúng ta phải kiên trì để giữ vững kinh tế học của chủ nghĩa Mác.(11)Lập trường cơ bản của kinh tế học của chủ nghĩa Mác là lập trường nhân dân “Thực hiện hạnh phúc hiện thực của nhân dân” và “tự do phát triển của con người” là định hướng giá trị chung của nó Có thể có người sẽ nói, Đặng Tiểu Bình coi lực lượng sản xuất là tiêu chuẩn căn bản để đánh giá sự phát triển của sự vật Thực ra, tiêu chuẩn lực lượng sản xuất của Đặng Tiểu Bình là chỉ “lực lượng sản xuất xã hội chủ
Trang 10có liên quan đến hiện tượng thường xuất hiện trên vùng cháy không đều của mặt trời, hay vùng đen trên mặt trời vốn ảnh hưởng tới khí hậu và sản xuất nông nghiệp trên Trái đất Khủng hoảng được xem như vòng tuần hoàn tự nhiên của hoạt động tại các vùng đen của mặt trời và của sản xuất nông nghiệp cho thấy tính chất giản đơn và duy tâm của học thuyết này (ND.)
(2) Dẫn theo: Chu Chung Bỉnh Nghiên cứu lý luận kinh tế chủ nghĩa Mác ngoài nước hiện nay, Nxb Nhân dân, bản tháng 8 / 2004, tr.5
(3) C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, t.23 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.19, 21
(4) Báo sớm phương Đông, ngày 17 - 10 - 2007
(5) C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, t.23 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.714 – 716
(6) Dẫn theo: Maurice Herbert Dobb Bộ Tư bản của C.Mác và địa vị của nó trong lịch sử tư tưởng kinh tế, Tuyển tập các bài viết về kinh tế học nước ngoài hiện đại, tập 3, Thương vụ thư quán, bản in năm 1982
(7) Tuyển tập C.Mác và Ph.Ăngghen, quyển 1 Nxb Nhân dân, 1973, tr.228 - 229
Trang 11
(tiếng Trung)
(8) Tuyển tập C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd., quyển 3, tr.186 (tiếng Trung)
(9) Không còn là chính mình, không còn là người theo đúng nghĩa (ND.)
(10) Tuyển tập C.Mác và Ph.Ăngghen, quyển 1 Nxb Nhân dân, tr.246 (tiếng Trung) (11) North Kết cấu và đổi thay của lịch sử kinh tế, Tam Liên thư điếm Thượng Hải, bản in năm 1991, tr.64 (tiếng Trung)
(12) Trần Chấn Minh Chính trị học Nxb Khoa học Xã hội Trung Quốc, bản in năm
Trong bài viết này, tác giả đã làm rõ thêm khái niệm khoan dung; trên cơ sở đó, phân tích và so sánh tư tưởng khoan dung của Khổng Tử và tư tưởng khoan dung của Nguyễn Trãi trên một số nội dung cơ bản Theo tác giả, mặc dù chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, song tư tưởng khoan dung của Nguyễn Trãi có ý nghĩa nhân văn hơn, rộng mở hơn, thể hiện ở đạo lý nhân nghĩa, ở tư tưởng vì dân và theo dân,
ở sự chấp nhận các học thuyết ngoài Nho giáo
Dẫn nhập
Thuật ngữ khoan dung có nguồn gốc từ tiếng latinh tolerantia với nghĩa là sự chấp nhận, sự dung nạp và tha thứ ở nhiều nước phương Tây thuật ngữ này được sử dụng với nghĩa chung là sự chịu đựng, tha thứ Còn ở phương Đông, thuật ngữ khoan dung được đề cập từ rất sớm, có thể lần đầu tiên nó được xuất hiện trong Kinh Thư, theo
đó “khoan” là khoan thứ, khoan hồng, rộng lượng; “dung” là bao dung Thuật ngữ khoan dung được sử dụng phổ biến hiện nay ở Việt Nam với nghĩa bao dung, khoan hồng, lượng thứ, vị tha
Trang 12
Khi nghiên cứu tư tưởng khoan dung của Khổng Tử cũng như của Nguyễn Trãi và
Hồ Chí Minh, chúng tôi dựa vào Công bố tiêu chuẩn khoan dung trong Văn kiện cơ bản của UNESCO với một số nội dung đáng chú ý như sau:
“Thứ nhất, khoan dung là sự tôn trọng, chấp nhận và đánh giá cao sự phong phú, đa dạng của các nền văn hóa trên thế giới của chúng ta, của những phương thức biểu hiện và những cách thể hiện phẩm chất của con người… Khoan dung là hòa hợp trong sự khác biệt… Nó không chỉ là một nghĩa vụ đạo đức, mà còn là yêu cầu chính trị và pháp luật Khoan dung là một đức tính khiến cho hòa bình có thể thực hiện được trên trái đất và góp phần thay thế văn hóa chiến tranh bằng văn hóa hòa bình Thứ hai, khoan dung không phải là nhượng bộ, hạ cố hay chiều lòng Khoan dung trước hết là một thái độ ứng xử tích cực xuất phát từ việc thừa nhận các quyền phổ quát của con người và thừa nhận sự tự do của người khác”([1])
Từ những tiêu chuẩn cơ bản nói trên cho thấy, khái niệm khoan dung trong triết học phương Đông so với tiêu chuẩn của UNESCO có nhiều điểm trùng hợp, đồng thời trong nền triết học này cũng có những mặt tích cực và hạn chế của nó Trong tư tưởng của Khổng Tử (551 - 479 TCN.), người sáng lập trường phái Nho gia, khái niệm khoan dung được đề cập trong nhiều tình huống ứng xử, đã trở thành triết lý nhân sinh có ảnh hưởng lớn lao trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc và Việt Nam Bài viết của chúng tôi tập trung vào việc tìm hiểu nội dung tư tưởng khoan dung của Khổng Tử và ảnh hưởng của nó tới tư tưởng của Nguyễn Trãi (1380 - 1442), nhà Nho, bậc khai quốc công thần Việt Nam thế kỷ XV
Tư tưởng khoan dung của Khổng Tử
Nói đến tư tưởng khoan dung của Khổng Tử, chúng ta lưu ý trước hết đến khẳng định của ông về tính nhất quán của học thuyết do ông sáng lập, đó là trung thứ Điều này được dẫn ra từ cuộc trò chuyện giữa Khổng Tử và người học trò yêu của ông là Tăng Sâm, rằng đạo của ông nhất quán từ đầu tới cuối Tăng Tử hiểu được điều đó từ
ý của thầy và khẳng định với đám học trò đi cùng, rằng: “Đạo của thầy [Khổng Tử] chỉ tóm tắt ở một điều “trung thứ mà thôi” (Luận Ngữ, Lý Nhân, 15)(2) Vậy, trung thứ bao hàm những ý nghĩa nào?
Thứ nhất, trung thứ là suy ta ra người, được xem như một biểu hiện gần gũi nhất của
nhân
Trang 13
Khổng Tử nói: “Ôi, người nhân là người muốn gây dựng điều gì cho mình cũng gây dựng cho mọi người điều đó, muốn mình thông đạt ra sao cũng khiến người được thông đạt như vậy Khéo lấy bản thân làm mục tiêu so sánh [để hiểu lòng người] khá gọi là phương pháp tốt để thực hiện điều nhân vậy” (Luận Ngữ, Ung Dã, 29) Không dừng lại ở việc lấy bản thân làm mục tiêu so sánh, Khổng Tử kêu gọi người quân tử phải có ý thức khuyến thiện và ngăn ngừa điều ác Ông nói: “Quân tử giúp cho điều tốt đẹp của người khác được thành tựu, không giúp cho điều xấu của người khác được thành tựu Kẻ tiểu nhân làm trái lại” (Luận Ngữ, Nhan Uyên, 15) Khổng Tử còn đưa ra một câu cách ngôn về trung thứ cho mọi người thực hành trong suốt cuộc đời: “Đó là chữ lượng thứ chăng? Điều gì mình không muốn [người khác làm cho mình] chớ đem áp dụng với người” – (Luận Ngữ, Vệ Linh công, 23)
Từ quan điểm “suy ta ra người”, Khổng Tử khẳng định người ai cũng ham muốn điều thiện luôn đến với mình Vì vậy, ông cho rằng, “hãy thật lòng để chí vào điều nhân, sẽ không phạm phải điều ác” (Luận Ngữ, Lý Nhân, 4), nghĩa là không gây ra cho người khác những điều chẳng ai mong muốn
Thứ hai, khoan thư sức dân để thực hiện mục đích chính trị huệ dân.([1])
Khổng Tử yêu cầu người cầm quyền phải biết tiết kiệm trong chi tiêu mà thương yêu người, dùng sức dân đúng lúc, sao cho không ảnh hưởng đến thời vụ sản xuất (“sử dân dĩ thời” - Luận Ngữ, Học Nhi, 5); đề bạt những người tốt, giáo dục những kẻ sai lầm; thực hiện thứ, phú, giáo, làm cho người gần vui lòng, người xa tìm đến
Khi Tử Trương hỏi Khổng Tử về việc áp dụng đạo nhân vào chính trị, Khổng Tử nói rằng, “có thể làm được năm điều [đối với mọi người] trong thiên hạ, là thi hành nhân chính([1]) vậy <…> Đó là cung kính, khoan dung, thành tín, cần mẫn và có ân huệ Cung kính thì không khinh nhờn; khoan dung thì được lòng mọi người; thành tín thì được người tín nhiệm; cần mẫn thì nên công; có ân huệ thì dễ sai khiến người” (Luận Ngữ, Dương Hóa, 6) Như vậy, khoan dung vừa là phương pháp, vừa là phương tiện
để thực hiện mục đích huệ dân, không ngừng làm lợi cho dân, gia ơn cho dân thì dân
sẽ tin theo và dễ sai khiến dân
Thứ ba, không chấp nhặt quá khứ bất hảo của người khác
Khổng Tử đã lấy tấm gương của “Bá Di, Thúc Tề không nhớ tới những điều xấu cũ [của người khác] nên ít ai oán ghét” (Luận Ngữ, Công Dã Tràng, 22) Hơn nữa, khi
Trang 14vì theo họ, những người làng Hỗ có tính hùng sẽ, không biết lẽ phải Khổng Tử nói:
“Hoan nghênh người tới, không hoan nghênh người lui Sao khắt khe thế? Người ta thành tâm tới đây, ta hoan nghênh chỗ thành tâm đó, chẳng dám đảm bảo chuyện quá khứ của người ta” (Luận Ngữ, Thuật Nhi, 28) Điều này cũng giống như ngạn ngữ của Việt Nam cho rằng, “đánh kẻ chạy đi chứ không bao giờ [có chuyện] đánh kẻ chạy lại” Đó là sự khoan dung, độ lượng của Khổng Tử đối với những người muốn
“cải tà quy chính” Theo Khổng Tử, “người hăng hái mà chán ghét cảnh nghèo khó
ắt gây loạn vậy Biết người đó là bất nhân, mà ghét bỏ quá đáng là xúi người ta gây loạn vậy” (Luận Ngữ, Thái Bá, 11) Điều đó có nghĩa là người bất nhân thì ai cũng ghét, nhưng nếu không biết cảm hóa họ, lại đẩy người ta vào chỗ chân tường thì họ
sẽ làm bậy chẳng khác gì ý nghĩa của câu ngạn ngữ: “Chó cùng cắn dậu”
Có lần Phàn Trì cùng thầy Khổng Tử dạo chơi dưới đền Vũ Vu, Phàn Trì hỏi thầy về việc tu dưỡng đức tính, tu sửa lỗi lầm và phân biệt rõ điều lầm lẫn Khổng Tử nói:
“Câu hỏi hay lắm! Phải gắng làm điều thiện mới mong được điều thiện, đó chẳng là
tu dưỡng tính tình hay sao? Đả kích điều xấu của mình, không đả kích điều xấu của người, đó chẳng phải là tu sửa lỗi lầm hay sao? Giận dữ trong một lúc, đến nỗi quên
cả thân mình, lại làm lụy tới song thân, đó chẳng là điều lầm lẫn hay sao?” (Luận Ngữ, Nhan Uyên, 20) Quan điểm tự phê bình, “tiên trách kỷ, hậu trách nhân” là thái
độ đúng đắn của người có ý thức tu thân
Từ những cử chỉ và thái độ khoan dung của Khổng Tử, học trò của ông đã ca ngợi ông là người rộng lượng, thể hiện ở bốn điều: “Không có ý riêng, không chắc trước, không cố chấp, không ích kỷ” (Luận Ngữ, Tử Hãn, 4) Không cố chấp và không ích
kỷ là minh triết sống hòa hợp trong quan hệ giữa con người với con người để thực hiện việc xây dựng một xã hội lý tưởng, ở đó “những người già cả đều được an vui, bạn bè tin cậy ta, và trẻ thơ đều được thương yêu, dạy dỗ” (Luận Ngữ, Công Dã Tràng, 25)
Tuy nhiên, tư tưởng khoan dung của Khổng Tử không phải là sự nhượng bộ, hoặc
Trang 15
đơn phương thực hiện những nội dung căn bản của nó như trên chúng tôi đã nêu, mà
ở đó còn bao hàm cả sự hòa hợp trong sự khác biệt Sở dĩ như vậy là vì trong xã hội bao giờ cũng tồn tại hai hạng người đối lập nhau về đạo đức, một bên là người quân
tử với những phẩm chất tốt đẹp - nhân, trí và dũng; một bên là kẻ thấp hèn chỉ biết
vụ lợi hại người, không điều gì là không dám làm Chính vì vậy, ngoài mục đích giáo huấn để “cải tà quy chính”, dù điều đó là khó, Khổng Tử luôn kêu gọi phải kiên định nguyên tắc trung dung Trung dung là chí đức, kiên trì nghĩa, giải quyết mọi vấn đề thuộc quan hệ người cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Có trường hợp cần có sự kết hợp khoan dung với nghiêm khắc, được gọi là “khoan mãnh tương tế”
Có người hỏi: “Lấy đức báo oán, chủ trương đó như thế nào?”, Khổng Tử nói: “Vậy lấy gì để báo đức đây? Phải lấy lòng ngay thẳng mà đối xử với kẻ gây oán thù, và lấy lòng tốt đáp lại lòng tốt của người” (Luận Ngữ, Hiến vấn, 36) Lấy đức báo oán thường gặp ở chủ trương của Phật giáo, song trong thực tế cuộc sống, điều đó nhiều khi chỉ mang tính lý tưởng Vấn đề là ở chỗ, làm thế nào để con người sống với nhau không có thù oán, nghĩa là trong hoạt động sống của mình, con người phải biết tránh những điều bất cập khi nó còn manh nha để ngăn chặn kịp thời sự bùng phát của nó thành thảm họa Khi được hỏi về việc xử kiện, Khổng Tử nói: “Xử kiện thì ta cũng như người khác Sao cho không kiện cáo kìa” (Đại học, 5) Qua đó cho thấy, Khổng
Tử không lý tưởng hóa hoạt động sống của con người tới mức “lấy đức báo oán”, mà ông chỉ ra phương pháp tìm kiếm sự hòa giải dựa trên lòng chân thành, thẳng thắn của các mối quan hệ xã hội
Vốn là người có tư tưởng khoan dung sâu sắc, Khổng Tử cũng không hoàn toàn đề cao vai trò của tư tưởng đó trong quản lý và điều hành xã hội Ông từng nói: “Chính trị khoan dung thì dân nhờn, nhờn thì phải sửa lại bằng nghiêm khắc Nghiêm khắc thì dân bị tàn hại, tàn hại thì lại thi hành khoan dung Khoan dung giúp cho nghiêm khắc, nghiêm khắc giúp cho khoan dung, chính trị đạt đến chỗ hài hòa”([1]) Đó không phải là quan điểm cải lương của Khổng Tử trong quản lý xã hội, mà là chủ trương khoan mãnh tương tế nhằm khắc phục tính bất cập, thái quá của khoan hoặc mãnh
Việc tìm hiểu tư tưởng khoan dung của Khổng Tử qua một số nội dung nêu trên, theo chúng tôi, là chưa hoàn toàn đầy đủ, bởi khoan dung là phương diện đạo đức của các
Trang 16
mối quan hệ người, nó còn phải được xem xét trong mối liên hệ với lễ, nghĩa, v.v Qua các nội dung ấy, chúng ta thấy do xuất thân từ tầng lớp quí tộc, nên tư tưởng khoan dung của Khổng Tử vẫn toát lên tinh thần chủ yếu là người cầm quyền làm thế nào để được lòng dân, để dễ bề sai khiến dân Song, dù sao đi nữa, tư tưởng trung thứ của ông vẫn luôn mang tính triết lý sâu sắc, đó là triết lý của chủ nghĩa nhân văn chưa đạt đến mức đầy đủ vào thời của ông Tư tưởng khoan dung của Khổng Tử đã
có ảnh hưởng rất lớn đối với các nhà Nho Việt Nam trong lịch sử, như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, v.v Hồ Chí Minh cũng là người chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền giáo dục Nho học Tuy nhiên, tư tưởng khoan dung của Người không chỉ chịu ảnh hưởng từ Khổng Tử, mà còn chịu ảnh hưởng từ chính truyền thống khoan dung của dân tộc
3 Khoan dung trong tư tưởng Nguyễn Trãi
Khi đề cập đến tư tưởng Nguyễn Trãi, nhà nghiên cứu Nho giáo nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XX, GS Trần Đình Hượu cho rằng, “hệ tư tưởng chi phối Nguyễn Trãi trong suốt cuộc đời là Nho giáo, nhưng ở từng thời kỳ, trong từng phạm vi, bên cạnh Nho giáo luôn có những nét khác, có khi là trái Nho giáo <…> Nguyễn Trãi nhấn mạnh đức nhưng không phải không chú ý đến tài trí, đề cao đạo lý nhân nghĩa nhưng không cự tuyệt quyền mưu; nói đến nợ quân thân, tấc lòng trung hiếu nhưng lại nhấn mạnh “ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”, trách nhiệm theo lòng dân, vì thương sinh”(5) Nhận định về tư tưởng Nguyễn Trãi như vậy là hoàn toàn đúng; đồng thời, theo chúng tôi, có thể lấy đó làm định hướng cho việc nghiên cứu tư tưởng khoan dung của ông
Nếu như nội dung căn bản của khoan dung trong tư tưởng Khổng Tử là trung thứ, thì
ở Nguyễn Trãi, đạo lý nhân nghĩa đóng vai trò chủ đạo trong việc trừ bạo an dân Chính vì vậy mà ông không chống lại tư tưởng quyền mưu Quyền mưu của người đứng đầu quốc gia phong kiến có mục đích chống lại kẻ phản loạn, gây rối và làm ảnh hưởng xấu đến đời sống của nhân dân Ông nói: “Quyền mưu bản thị dụng trừ gian, Nhân nghĩa duy trì quốc thế an”(6) Quốc thế an là thước đo trị bình của một nước ở đây, trong văn cảnh đất nước bị đô hộ, nhà Minh lấy cớ chinh phạt để cướp nước ta, tư tưởng nhân nghĩa đối với Nguyễn Trãi đã trở thành công lý cho cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta Tư tưởng khoan dung, như chúng ta đã
Trang 17
biết, biểu hiện như là sự không nhượng bộ chủ quyền quốc gia, quyền tự do chân chính của con người Việt Nam đang bị bóc lột, đọa đày: “Thui dân đen trên lò bạo ngược, Hãm con đỏ xuống dưới hố tai ương Dối trời lừa người, kế gian đủ muôn nghìn khóe, Cậy binh gây hấn, ác chứa gần hai chục năm”(7) Tư tưởng khoan dung của Nguyễn Trãi không dừng lại ở nội dung “trung thứ” của “nhân”, mà ông còn đòi hỏi phải huy động “nhân” hết mực để cứu dân, cứu nước: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo” (Chúng tôi nhấn mạnh – TNV.)
Các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi cảnh áp bức, hủy diệt trong lịch sử dân tộc ta rõ ràng là những cuộc kháng chiến chính nghĩa; nó vừa là mục đích, vừa là phương pháp để đạt tới giá trị nhân văn phổ biến toàn nhân loại Từ một lực lượng vừa yếu, vừa thiếu thuở ban đầu khởi binh, chủ trương “tâm công” của Bộ chỉ huy Lam Sơn có mục đích xoáy sâu vào những nội dung chính nghĩa sáng ngời, làm cho
kẻ thù nao núng tinh thần, bị phân hóa cao độ Cho đến khi có binh hùng lực mạnh, chủ trương ấy vẫn được tiếp tục duy trì nhất quán Nghệ thuật “tâm công” được vận dụng một cách linh hoạt cho từng hoàn cảnh cụ thể, cho từng đối tượng [tướng lĩnh] của kẻ thù Nó thể hiện mục đích nhân văn cao cả, trong đó tư tưởng khoan dung là cốt lõi nhằm làm cho "bốn phương biển cả thanh bình", hơn thế nữa, còn góp phần làm cho “Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ, Tứ minh tòng thử tức kình ba” (Hồ Việt mừng nay về một cõi, Sóng kình bốn biển bặt im lỳ!)(8) Như vậy, kỳ vọng về một nền hòa bình giữa hai dân tộc là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân hai nước Bản thân ông luôn muốn có một nền hòa bình vĩnh cửu, dân cùng vua được nghỉ ngơi và nền văn trị được áp dụng vào đường lối trị nước: “Lòng trên muốn với dân cùng nghỉ, Văn trị rồi nên nếp thái bình” (Thánh tâm dục dữ dân hưu tức, Văn trị chung tu trí thái bình)(9)
Cũng nhờ có tâm thế chí nhân mà Nguyễn Trãi đã khuyên Lê Lợi - không nên giết hàng binh, lại còn cấp lương thảo và phương tiện cho chúng về nước Đó là tinh thần khoan dung, tha thứ, đồng thời tạo ra sức mạnh thần kỳ để cảm hóa kẻ thù, cảm hóa
cả những người lầm đường lạc lối trót làm tay sai cho giặc để cải tà quy chính
Nếu như Khổng Tử chủ trương huệ dân thì Nguyễn Trãi chú trọng đến tư tưởng vì dân và theo dân Quan điểm của Nguyễn Trãi có thể xem là gần gũi với quan điểm của Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của triều Hậu Lý Song, nếu xét về mặt hệ tư
Trang 18bổ sung, vì thế mà sự “chật hẹp” của Nho giáo được giải tỏa bởi ông nhắc mình và răn đời, rằng “ăn lộc phải biết đền ơn kẻ cấy cày”.(8)
Sự bổ sung cho tâm thế sống của nhà Nho chân chính ở Nguyễn Trãi còn được thể hiện ở quan điểm của ông về mối quan hệ tam giáo Quả thực, con đường tiến thân của nhà nho theo thang bậc tu, tề, trị, bình cũng có lúc trở nên bất cập trước hoàn cảnh lịch sử cụ thể Nguyễn Trãi là bậc khai quốc công thần, song cũng vì công lao
to lớn mà ông và những người “đồng chí” của ông gặp phải những rắc rối, thậm chí
đe dọa đến tính mạng của họ và những người thân Nguyễn Trãi có những lúc chán nản, muốn trở thành dật sĩ tàng ẩn, thành đạo sĩ sống an nhàn như ông tiên trên cõi trần, thậm chí thành cư sĩ tu hành theo thiền thượng thừa: “Già rồi hay nói cuồng, đừng lạ ta; từ biệt nhau rồi thì ta cũng sẽ tu đạo thiền thượng thừa” (Lão khứ cuồng ngôn hưu quái ngã, lâm kỳ ngã diệc thượng thừa thiền)(10) Trong bối cảnh Nho giáo được độc tôn dưới thời Lê Sơ (thế kỷ XV), việc tiếp nhận tư tưởng Phật giáo một phần do hoàn cảnh cuộc sống đầy trắc trở của Nguyễn Trãi, phần khác là sự thể hiện tinh thần chấp nhận một triết thuyết tôn giáo vốn có chủ trương xa rời thế sự như Phật giáo Đó là tinh thần quả cảm của ông dám chấp nhận cái khác biệt với học thuyết Nho giáo đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ tới bản thân ông, mà tới
cả thời đại ông lúc bấy giờ
Tóm lại, tư tưởng khoan dung của Nguyễn Trãi thấm đậm đạo đức nhân nghĩa của Nho giáo, nhờ đó ở ông chủ nghĩa nhân văn được biểu hiện một cách rõ nét, đó là tình thương yêu con người, lòng trắc ẩn của ông đã vượt ra khỏi phạm vi yêu thương con người thân tộc, ruột thịt của Khổng Tử để cứu dân binh hai nước thoát khỏi cuộc chiến tranh đẫm máu, thực hiện mục đích “Hồ Việt nhất gia” Mặt khác, tinh thần cởi
mở, chấp nhận các học thuyết ngoài Nho giáo cũng là mặt tiến bộ trong tư tưởng khoan dung của Nguyễn Trãi
Tư tưởng khoan dung của Nho giáo cũng như của Nguyễn Trãi đã ảnh hưởng rất lớn
Trang 19
tới tinh thần khoan dung của nhiều nhà Nho Việt Nam trong lịch sử Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh của văn hóa dân tộc với văn hóa nhân loại về tinh thần khoan dung Người đã tiếp thu tư tưởng khoan dung truyền thống và bổ sung cho nó những yếu tố cách mạng mới để hình thành nên tư tưởng nhân văn sâu sắc Do khuôn khổ của bài viết, chúng tôi sẽ đề cập tới tư tưởng khoan dung của Hồ Chí Minh thành một chuyên đề riêng và cụ thể hơn(10)
Trong xu thế hội nhập và phát triển đất nước ta hiện nay, nhiều giá trị phổ biến toàn nhân loại về đạo đức, pháp luật, dân chủ và nhân quyền, v.v., đã được chúng ta tiếp nhận, đồng thời những giá trị của dân tộc cũng đang ngày càng góp phần làm phong phú thêm cho văn hóa nhân loại Vấn đề căn bản nhất là cần nhận thức đầy đủ hơn về
tư tưởng khoan dung để con người sống hòa hợp với nhau, không tàn sát lẫn nhau và mục đích cuối cùng là chung sống hòa bình và phát triển bền vững trong ngôi nhà chung của thế giới Khoan dung còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong hoàn cảnh đất nước đang cần đến sự hòa giải để con người Việt Nam cùng dòng máu Lạc Hồng yêu thương nhau hơn và cùng nhau góp sức xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, dân chủ và văn minh Chính vì vậy, nghiên cứu tư tưởng nhân văn phương Đông và Việt Nam, trong đó chủ đề khoan dung đang thu hút sự quan tâm của các học giả nước ta và chúng tôi tin tưởng rằng, kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực này sẽ làm sáng tỏ hơn tư tưởng nhân văn Việt Nam trong truyền thống và hiện đại
**********************
(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Trưởng phòng Triết học Việt Nam, Viện Triết học, Viện
Khoa học xã hội Việt Nam
(1) Trích từ nguồn: http://www.unesco.org/tolerance/report.htm
(2) Từ đây, các tư liệu liên quan đến tư tưởng Khổng Tử được trích từ Tứ thư tập chú
do Chu Hy biên soạn Bản dịch ra tiếng Việt của Nguyễn Đức Lân Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998
(3) Nhân chính là thuật ngữ được dùng để chỉ đường lối chính trị nhân nghĩa của
Mạnh Tử (372 - 289) Trong trường hợp của Khổng Tử, nhân chính có thể hiểu là sự
áp dụng đạo nhân vào chính trị
Trang 20(6) Nguyễn Trãi Toàn tập Hạ qui Lam Sơn 1, bài 20, tr 290
(7) Nguyễn Trãi Sđd., Bình Ngô đại cáo, tr.77
(8) Nguyễn Trãi Sđd., Quá Thần Phù hải khẩu, tr.314
(9) Nguyễn Trãi Sđd., Quan duyệt thủy trận, tr.288
(10) Nguyễn Trãi Sđd., Tống tăng Đạo Khiêm qui sơn, tr.353
TƯ DUY TRIẾT HỌC TRẦN ĐỨC THẢO VÀ TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH
CÙ HUY CHỬ (*)
Điểm lại những mốc chính trong cuộc đời và những công trình chủ yếu trong sự nghiệp nghiên cứu và sáng tạo lý luận của Giáo sư Trần Đức Thảo, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những đánh giá của mình về quan điểm của Giáo sư Trần Đức Thảo trong việc lý giải và phát triển tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh và xa hơn là tư tưởng nhân văn của C.Mác Tác giả đã khẳng định sự trung thành của Giáo sư Trần Đức Thảo đối với quan điểm của C.Mác, đặc biệt là tư tưởng về con người, tư tưởng nhân văn rộng lớn trong đó được thể hiện đậm nét ở Hồ Chí Minh, khẳng định sự nhất quán của Giáo sư trong việc tiếp thu và phát triển chủ nghĩa Mác trên một số vấn đề
Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ảnh hưởng lớn đối với Giáo sư Trần Đức Thảo Tư tưởng, cuộc đời cao đẹp của Hồ Chí Minh được Trần Đức Thảo chiêm nghiệm, vận dụng trong hoạt động sáng tạo khoa học cho đến cuối đời, đặc biệt là tư tưởng nhân văn
Trang 21
Trần Đức Thảo, như chúng ta đã biết, là một nhà trí thức yêu nước, một nhà khoa học lớn Trong tự thuật của mình, ông đã viết như sau: “Trong hành trình của tôi, tôi đã đến với chủ nghĩa Mác qua hai con đường: Thứ nhất, đó là cuộc đấu tranh đòi
tự do cho dân tộc của chủ nghĩa xã hội Thứ hai, nghiên cứu triết học và lịch sử triết học đã cho tôi thấy rằng chỉ có duy nhất chủ nghĩa Mác – Lênin mới vạch ra con đường đúng đắn để giải quyết những vấn đề cơ bản về phần lý luận khoa học Trong những năm sau chiến tranh, lần đầu tiên khi được làm quen với những chính văn (tác phẩm nguyên bản) của chủ nghĩa Mác, tôi rất ngạc nhiên bởi những lời nhận xét trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản về khả năng chuyển qua giai cấp vô sản của một bộ phận trí thức tư sản, trong thời kỳ khủng hoảng toàn bộ của chủ nghĩa tư bản qua việc nghiên cứu lịch sử thế giới Điều này đã định hướng các nghiên cứu triết học của tôi từ những vấn đề đơn thuần là trừu tượng đến việc suy xét một cách toàn diện về tính chân thực của vận động của lịch sử, của tự nhiên,
lý, hóa đối với cuộc sống, xã hội và ý thức.(*)
Vào thời kỳ mà cuộc đấu tranh giai cấp đã đi đến lúc quyết định thì quá trình tan rã bên trong tầng lớp thống trị, bên trong toàn bộ xã hội cũ mang một tính chất mạnh
mẽ và triệt để đến mức một bộ phận của tầng lớp thống trị sẽ tự rời bỏ giai cấp mình
và liên kết với tầng lớp, với giai cấp cách mạng, tầng lớp nắm giữ tương lai trong tay họ
Cũng tương tự như trước đây, một bộ phận quý tộc chuyển qua giai cấp tư sản, ngày nay cũng tương tự như vậy, một bộ phận tư sản sẽ chuyển qua giai cấp vô sản Đặc biệt hơn, một bộ phận những nhà tư tưởng tư sản với sức mạnh công việc của mình,
họ có thể nổi lên do am hiểu về lý luận toàn bộ quá trình vận động của lịch sử”(1) Trần Đức Thảo coi triết học của mình là “triết học duy vật biện chứng nhân bản”(2), là cái góp phần sáng tạo chủ nghĩa Mác, gắn bó mật thiết với tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh Có thể khái quát một số nét cơ bản như sau :
Một là, chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh là tư tưởng nhân văn lớn Hồ Chí Minh
đã chiến đấu không ngừng để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh Đây là gốc rễ của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, bởi tư tưởng nhân văn luôn luôn lấy con người làm trung tâm, làm mục đích Nhưng con người luôn luôn tồn tại trong điều kiện tự
Trang 22
nhiên (Mác), nghĩa là phải tồn tại vừa chủ quan, vừa khách quan trong một đất nước nhất định và một cộng đồng xã hội, dân tộc nhất định Hồ Chí Minh đã nhận thức một cách biện chứng sự thống nhất giữa quyền con người và quyền độc lập dân tộc như trong lời mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 Tư tưởng này là chân lý; nó đã cuốn hút, thuyết phục Trần Đức Thảo ngay từ đầu
Trần Đức Thảo nhận bằng thạc sĩ triết học (1943) tại Trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm, một trong những trường đại học danh giá nhất của Pháp và Âu - Mỹ Ông cũng là sinh viên ngoại quốc duy nhất học ở trường này, từ khi nó được thành lập cho đến lúc ấy, được cấp bằng thạc sĩ, và đó là bằng thủ khoa Năm 1944, ông đến
Bỉ để nghiên cứu về Husserl và Hêghen Đây cũng là cơ sở khoa học để sau này, ông nắm được tinh thần căn bản của chủ nghĩa Mác, sáng tạo và chính xác hóa chủ nghĩa Mác.(1)Tháng 12-1944, Trần Đức Thảo bắt đầu hoạt động đấu tranh giải phóng dân tộc trong phong trào Việt kiều tại Pháp Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đông Dương, ở Avignon, ông đã giới thiệu chương trình xây dựng nền dân chủ
ở Đông Dương Tại đây, ông đã tiếp xúc với các nghị sĩ thuộc Đảng Cộng sản Pháp phụ trách nghiên cứu các vấn đề chính trị Đầu năm 1945, nhân danh Tổng phái đoàn của người Đông Dương, ông cùng kỹ sư Lê Viết Hường và một số người khác
đã gặp và làm việc với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp - Maurice Thorez Tháng 9-1945, ông viết truyền đơn, họp báo ủng hộ Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới được thành lập Trên tờ Le Monde, khi một nhà báo hỏi: “Người Đông Dương
sẽ làm gì khi quân đội viễn chinh Pháp tới?”, Trần Đức Thảo đã trả lời: “Phải nổ súng” Vì thế mà ông đã bị bắt và bị bỏ tù Tháng 2-1946, do sự đấu tranh của trí thức Pháp và của Việt kiều, nhà cầm quyền Pháp đã phải thả ông Trong xà lim nhà
tù, ông đã viết bài báo nổi tiếng - Sur L’Indochine (Về Đông Dương), khẳng định quyết tâm giành độc lập của các nước Đông Dương, đăng trên tờ Les Temps Modernes, số 5 năm 1946 Về sau, bài báo này đã được dịch ra tiếng Việt, đăng trên báo Tiền phong, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Đông Dương Cũng trong nhà tù, do chiêm nghiệm và ý thức rõ về sự đối nghịch sâu sắc giữa chủ nghĩa tư bản, đế quốc với các nước dân tộc thuộc địa, Trần Đức Thảo đã hướng tới chủ nghĩa Mác, sau này được thể hiện trong tác phẩm Matérialisme Dialectique (Hiện tượng học và Chủ nghĩa duy vật biện chứng)(3) Đây là tác phẩm được các nhà triết
Trang 23
học Pháp và thế giới đánh giá cao, được dịch ra nhiều thứ tiếng
Năm 1946, tháng 5 và tháng 6, tại Pháp, Trần Đức Thảo đã tiếp xúc với Chủ tịch
Hồ Chí Minh nhiều lần, xin Người cho về nước để xây dựng Tổ quốc Nhưng Hồ Chí Minh đã khuyên Trần Đức Thảo ở lại Pháp tiếp tục học tập, nghiên cứu khoa học, hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước, tranh thủ sự ủng hộ của các trí thức Pháp đối với nước ta, nhất là trí thức trong Đảng Cộng sản Pháp Năm 1946, Phái đoàn của Chính phủ ta tại Pháp đã chụp ảnh Trần Đức Thảo để làm tư liệu, để
kỷ niệm và khi về nước, đã trao tặng một số trong những bức ảnh ấy cho cụ Trần Đức Tiến, thân sinh của GS Trần Đức Thảo
Năm 1946 - 1947, Trần Đức Thảo đã viết nhiều bài ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Đảng Cộng sản Đông Dương, chống các lực lượng phản cách mạng, chống bọn thực dân Pháp quay lại xâm lược Đông Dương Tháng 9-1948, ông đăng một bài báo nổi tiếng trên tạp chí Les Temps Modernes, số 36: Nội dung và thực chất của hiện tượng luận tinh thần Với bài báo này, Trần Đức Thảo được giới triết học coi như đã tạo lập một trường phái mới về Hêghen, một xu hướng triết học tiến bộ.(3)
Ngày 4-9-1949, Trần Đức Thảo được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử làm thành viên Hội đồng Giáo dục Quốc gia Khi đó, Trần Đức Thảo đang ở Pháp
Cuối năm 1949 - đầu năm 1950, Trần Đức Thảo đã có cuộc tranh luận nổi tiếng với Jean Paul Sartre về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa hiện sinh Sartre công nhận chủ nghĩa Mác về chính trị và lịch sử, nhưng không coi trọng về triết học Ông coi chủ nghĩa hiện sinh có giá trị triết học hơn Trần Đức Thảo khẳng định chủ nghĩa Mác
có giá trị toàn diện, cả triết học, cả lịch sử - xã hội Cuộc tranh luận không đi đến kết thúc, vì Sartre chưa đọc hết các tác phẩm của Husserl và C.Mác Cuộc tranh luận ấy đã đưa Trần Đức Thảo đến sự đoạn tuyệt với chủ nghĩa hiện sinh để nghiêng hẳn về phía chủ nghĩa Mác
Năm 1951, Trần Đức Thảo cho xuất bản cuốn Hiện tượng học và Chủ nghĩa duy vật biện chứng, sau đó ông về nước tham gia kháng chiến Ông nói: “Về nguyên tắc, tôi khẳng định là đứng hẳn về phía chủ nghĩa Mác Từ đó, tôi quyết định trở về Việt Nam Cần phải làm cho cuộc đời ăn nhập với triết học, thực hiện một hành động thực tế là điều đáp trả những kết luận, những lý thuyết của cuốn sách của tôi”(4)
Về nước, Trần Đức Thảo đã tham gia những công tác chủ yếu sau đây:
Trang 24
- Từ 1952 đến đầu 1953, làm việc tại văn phòng Tổng Bí thư Trường Chinh
- Năm 1953-1954, nghiên cứu thực tế trong quân đội, trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp ở Việt Bắc, tham gia cải cách ruộng đất ở Phú Thọ
- Năm 1954, tham gia Ban nghiên cứu Văn - Sử - Địa, tiền thân của ủy ban Khoa học Xã hội và Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng sau này Trong thời gian này, ông
đã công bố nhiều tác phẩm trên Tạp chí Văn - Sử - Địa
- Ngày 27-11 đến 8-12-1954, dự hội nghị và phát biểu nhiều ý kiến về vấn đề đại học, nêu lên những quan điểm đúng và sáng tạo, có tầm nhìn xa: Phải cân bằng và chủ động cả hai mặt giáo dục chuyên nghiệp và nghiên cứu khoa học để nâng cao chất lượng đào tạo, bảo vệ uy tín của khoa học Việt Nam trên thế giới, nhất là khoa học xã hội, tiếp cận với thành tựu khoa học hiện đại của thế giới, khẳng định vị trí
và uy tín của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế về triết học, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, ngoại giao…, đào tạo các nhà khoa học, nghệ sĩ, cán bộ có tài năng phục vụ xây dựng đất nước và phát triển khoa học (Xem: Kỷ yếu về Hội nghị trên, được in trong: Nguyễn Văn Huyên Toàn tập, t.3, Nxb Giáo dục)
- Từ 1954 đến 1956 là Giáo sư Đại học Hà Nội, Phó giám đốc, Trưởng Khoa Lịch
sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
- Sau sự kiện Nhân văn - Giai phẩm, theo gợi ý của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh và Ban Tổ chức Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên đã bố trí Trần Đức Thảo về công tác tại Nhà xuất bản Sự thật để có điều kiện tiếp tục nghiên cứu, sáng tạo triết học, liên hệ, trao đổi khoa học với các nhà triết học các nước, đặc biệt là các nhà triết học Pháp Từ đây, công việc chủ yếu của Trần Đức Thảo là nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, sáng tạo khoa học Nhiều tác phẩm đã được ông trực tiếp gửi cho cơ quan lý luận của Trung ương Đảng, cho các đồng chí lãnh đạo của Đảng
- Hàng năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn gửi thiếp chúc tết đến Trần Đức Thảo Ông đặc biệt trân trọng, quý giá và giữ gìn thiếp chúc tết mùa xuân 1968
- Từ tháng 3-1991 đến tháng 4-1993, Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cử Trần Đức Thảo đi Pháp để nghiên cứu một số vấn đề khoa học Thời gian này, ông tiếp tục sáng tạo chủ nghĩa Mác, viết nhiều tác phẩm có giá trị Ngày 24-4-
1993, Trần Đức Thảo qua đời tại Paris Ông được Nhà nước ta tặng thưởng Huân
Trang 25
chương Độc lập hạng Nhì
Mấy nét khái quát trên đây về cuộc đời và sự nghiệp của GS.Trần Đức Thảo là minh chứng hiển nhiên cho điều ông là một trí thức yêu nước, một nhà khoa học đi đúng con đường mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra: chiến đấu và sáng tạo cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân, thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh
Nhưng, điều quan trọng là, với tư cách một nhà khoa học, Trần Đức Thảo đã sáng tạo những tác phẩm để phát huy chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh
- Từ khi về nước đến năm 1955, trên Tạp chí Văn - Sử - Địa, GS.Trần Đức Thảo đã công bố những công trình nghiên cứu: Tìm hiểu giá trị văn chương cũ(5), Bài Hịch tướng sỹ của Trần Hưng Đạo và xã hội Việt Nam trong thời kỳ thịnh của chế độ phong kiến(6), Nội dung xã hội Truyện Kiều(7), …
- Từ năm 1957 đến năm 1990, Trần Đức Thảo đã viết những tác phẩm: Sự biện chứng của xã hội dân tộc, Bàn về thời dựng nước (8-1977), Về những cái cơ bản chung của lịch sử dân tộc (11-1977)(8)… Trong những tác phẩm này, ông đã phân tích mối quan hệ biện chứng và sự chuyển hóa giữa tình cảm yêu nước và tư tưởng yêu nước trong mối liên hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế qua các thời kỳ và cuộc đấu tranh của dân tộc ta chống sự xâm lược của nước ngoài
- Trong nhiều thư gửi cho các ông Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Trần Đức Thảo đã đề nghị tăng cường nghiên cứu lịch sử dân tộc, tái bản các tác phẩm lịch sử có giá trị để nhận thức về lịch sử dân tộc không bị gián đoạn, để lịch sử dân tộc không trở thành vườn không nhà trống, “để nhận thức về Tổ quốc,
về dân tộc không dừng lại ở những tình cảm cao đẹp, mà còn được phân tích một cách sâu sắc về mặt lý luận”(9)
Chính vì xuất phát từ tinh thần yêu nước mà Trần Đức Thảo đã rời Paris hoa lệ, khi ông đang ở đỉnh cao của giới triết học Pháp, trở về Tổ quốc tham gia kháng chiến, cần mẫn nghiên cứu, sáng tạo khoa học cho đến tận cuối đời
Hai là, một khía cạnh khác của tư tưởng nhân văn lớn của Hồ Chí Minh là Người
luôn khẳng định khả năng sáng tạo văn hóa (văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) của con người Trong Mục đọc sách, ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942-1943),
Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
Trang 26
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó
mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của
sự sinh tồn”.(9)
Người còn ghi thêm: “Năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc:
1 Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường
2 Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng
3 Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội
4 Xây dựng chính trị: dân quyền
5 Xây dựng kinh tế”(10)
Cần lưu ý rằng, tư tưởng trên được Hồ Chí Minh viết trong nhà tù của Quốc dân đảng Trung Quốc, khi Người đang chuẩn bị ra tù sẽ về giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Để thực hiện sự nghiệp ấy, vấn đề cốt tử là phải dựa vào sức sáng tạo của con người dân tộc Nhưng, đó cũng chính là vấn đề quan trọng nhất khi nói đến con người Tính tộc loại của con người, của loài người là ở điểm căn bản này Loài người không chỉ dựa vào tự nhiên để tồn tại, mà chủ yếu là sáng tạo, chế biến lại tự nhiên để tồn tại và phát triển Trong quá trình sáng tạo ra xã hội, con người cũng sáng tạo ra chính mình Khi Hồ Chí Minh khẳng định phải dựa vào dân, phải
tự lực cánh sinh để tiến hành mọi công tác cách mạng thì chính là dựa vào sức sáng tạo của con người
Trần Đức Thảo, trong suốt cuộc đời hoạt động khoa học của mình, hầu như chủ yếu tập trung nghiên cứu lịch sử nhân loại từ thời tiền sử, cổ đại, trung cổ đến thời đại hiện nay, nghiên cứu nguồn gốc loài người, nghiên cứu lịch sử dân tộc,… Tác phẩm
Sự hình thành con người(11), và rất nhiều công trình nghiên cứu về con người, đặc biệt là các công trình: Về nội dung khái niệm con người (30-12-1982)(12), Tính chất khoa học cách mạng của quan điểm vô sản về con người, Vấn đề con người trong chủ nghĩa Mác – Lênin (2-1973), Về khái niệm con người (9-1976), Về nguồn gốc con người (1-7-1989)(13),… đều nhằm phân tích, chứng minh hoạt động
Trang 27
sáng tạo của con người, của dân tộc trong tiến trình lịch sử Đặc biệt, Trần Đức Thảo đã có cống hiến to lớn trong việc Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức(14) Đây là tác phẩm được nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học - công nghệ (đợt I) Với tác phẩm này và nhiều tác phẩm khác sau đó, Trần Đức Thảo
đã trình bày đầy thuyết phục sự biện chứng của năng lượng thần kinh sang năng lượng tâm thần, đặt cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu khả năng sáng tạo của con người ở thời xã hội khởi nguyên, được tiếp nối trong con người qua các thời kỳ lịch
sử đến thời đại ngày nay.(11)ở những tác phẩm cuối đời, ông còn đi sâu, đi xa hơn
về cội nguồn của sự sáng tạo ấy, bởi mối quan hệ giữa con người với vũ trụ được tập trung ở sự tiếp nhận và sản xuất năng lượng, trước hết là năng lượng thần kinh chuyển hóa thành năng lượng tâm thần Nói cho cùng thì đây là cái quyết định con người có tính tộc loại, loài người khác với loài động vật, vì loài người có đời sống tâm thần, tinh thần Không phát huy những giá trị tinh thần của con người thì không thể xây dựng xã hội mang tính người, từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần
Xã hội ở thời kỳ sau tiến bộ hơn xã hội ở thời kỳ trước chính là do đời sống tinh thần con người phát triển Nhưng, những giá trị của mọi thời đại đều phải lấy Chân
- Thiện - Mỹ làm cột trụ Những quan hệ giá trị ấy là gốc cho mọi hoạt động sáng tạo của con người vốn được xây dựng từ thời xã hội khởi nguyên
Nói đến hoạt động sáng tạo của con người là nói đến lao động Trong các tác phẩm nghiên cứu về con người và lịch sử, Trần Đức Thảo đã phân tích sự phát triển của các hình thái lao động mang tính loài của con người: Hình thái thứ nhất là lao động mang bản năng xã hội, khi con người mới thoát ra khỏi tập đoàn động vật tiền nhân, nghĩa là con người đang chuyển từ dùng dụng cụ (vốn lấy từ cái có sẵn của tự nhiên) sang lao động bằng công cụ đơn giản nhất Hình thái thứ hai là lao động có ý thức hay còn gọi là lao động mang bản năng xã hội có ý thức Đây là thời kỳ con người có sự trao đổi trong lao động sản xuất và chế tạo công cụ lao động có hệ thống để tác động vào tự nhiên và để hình thành tổ chức lao động Hình thái thứ ba
là lao động mang bản năng xã hội có ý thức, nhưng là lao động tự do, tức sức lao động trở thành hàng hóa trong xã hội tư bản C.Mác gọi đó là hình thái lao động mang bản năng xã hội đã phát triển rất cao nhờ vào sự tiến bộ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa so với các giai đoạn lịch sử trước đó Vì vậy, muốn có chủ
Trang 28
nghĩa xã hội thì phải phát triển hình thái lao động mang bản năng xã hội này lên một trình độ mới, nghĩa là người lao động phải làm chủ những điều kiện lao động của mình Thực hiện được điều đó thì con người mới tự do phát triển toàn diện
Rõ ràng là, với Trần Đức Thảo, những tư tưởng của Hồ Chí Minh về khả năng sáng tạo của con người đã được luận chứng bằng khoa học triết học đầy sức thuyết phục
Ba là, nói đến xây dựng xã hội mới, nói đến sự nghiệp cách mạng, nói đến tình
thương con người, Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh phải xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa người với người, giữa cá nhân với xã hội, với cộng đồng, giữa nhân dân và cán bộ, giữa mình với chính mình Đặt câu hỏi cho cán bộ đến học trường Đảng: Học để làm gì? Hồ Chí Minh trả lời: “Học để làm việc, để làm người, để làm cán bộ” Học chủ nghĩa Mác - Lênin để làm gì? Hồ Chí Minh trả lời: “Học để sống cho
có lý có tình” Trong tác phẩm Đường cách mệnh và nhiều tác phẩm khác về sau,
Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: Cán bộ phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, nghĩa là nhà nước có trách nhiệm Tư tưởng của Hồ Chí Minh là phải xây dựng xã hội có quan hệ tốt đẹp để mỗi người ngày càng đẹp hơn: Mỗi việc làm tốt, mỗi người tốt là một bông hoa đẹp, cả dân tộc
ta là một vườn hoa đẹp Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Hồ Chí Minh viết: “Đầu tiên là công việc đối với con người” Trong tác phẩm quan trọng này, Người đã nhắc đến tất cả toàn dân, tất cả đồng bào: Từ người có công đối với cách mạng đến những nạn nhân của chiến tranh, những người phạm lỗi lầm, từ đồng bào miền núi đến đồng bào miền xuôi,…
Trong các tác phẩm của mình, những nội dung trên đây đã được Trần Đức Thảo quan tâm sâu sắc, lý giải một cách khoa học, xuất phát từ chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản Trong luận cương thứ 6 về L.Phoiơbắc, C.Mác viết: Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội Luận điểm
ấy của C.Mác đã được Trần Đức Thảo vận dụng sáng tạo dưới nhiều góc độ khác nhau và làm rõ hơn, sâu sắc hơn tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh về quan hệ giữa người và người Trần Đức Thảo khẳng định tư tưởng của C.Mác là xã hội có trước, cá nhân có sau Chính hình ảnh xã hội có trong bản thân, ở vỏ não, đã được gửi lại với hình ảnh thân thể bản thân, ở trong vỏ não và nhờ thế, con người mới nhận ra bản thân mình trong hình ảnh của cộng đồng “Người ta lúc đầu phải nhìn
Trang 29
vào người khác, như nhìn vào một cái gương mới nhận thấy mình được Chỉ có khi nào coi con người Pôn giống như mình thì con người Pie mới bắt đầu coi bản thân mình là một con người Đồng thời, đối với Pie thì Pôn bằng xương bằng thịt, trong cái thân thể Pôn của anh ta, lại là hình thái biểu hiện của giống “người”(15) Đây là nguyên lý căn bản để xây dựng lý thuyết mà Hồ Chí Minh đã đề cập đến trong Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân(16) Trần Đức Thảo chỉ
rõ, muốn chống chủ nghĩa cá nhân thì mỗi cán bộ, mỗi con người phải ý thức được quan hệ giá trị đầu tiên mà loài người đã hình thành trong thời khởi nguyên, tức là quan hệ đạo đức Những quan hệ ấy chỉ mang ý nghĩa thực tế khi cả cộng đồng biết công nhận, biết phát huy cái quyền sở hữu cá nhân, tức sở hữu bản nhân của người lao động, trên cơ sở ấy mà mỗi con người ý thức được về giá trị của mình và pháp luật phải công nhận giá trị ấy Phải kế thừa, bồi đắp, phát triển các lớp giá trị bền vững của con người nói chung để tạo ra sự phát triển bền vững cho xã hội Tư tưởng ấy có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Góp ý kiến vào Dự thảo Văn kiện Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Trần Đức Thảo viết: “Dự thảo cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ… là lời đáp đanh thép đập tan
âm mưu phá hoại của kẻ thù, đồng thời vạch rõ chủ trương đổi mới của Đảng, sửa chữa sai lầm trước, kiên quyết tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là xã hội trong ấy con người được giải phóng, nhân dân lao động được làm chủ đất nước, mọi người có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân, công bằng xã hội và dân chủ được bảo đảm Chúng ta xây dựng một xã hội đạo đức, văn minh, vì lợi ích và phẩm giá con người Phục vụ con người là mục tiêu chính của xã hội và có chương trình phát triển kinh tế - xã hội Như thế là dự thảo cương lĩnh đã bác bỏ quan niệm sai lệch của một số nhà lý luận trước đây cho rằng chỉ có quan hệ sản xuất, quan hệ giai cấp mới là căn bản Còn quan hệ con người, vấn đề đạo đức, phẩm giá con người thì họ không chú ý, hoặc hầu như không chú ý tới Mà chính quan hệ con người, quan hệ giá trị là một lớp không thể thiếu sót của toàn diện quan hệ xã hội, là bản chất của con người Đây là cái lớp hình ảnh tâm thần xuất phát từ những tiếng gọi âm hiệu, chỉ hiệu của những liên hệ thần kinh ở bề sâu vỏ óc, xây dựng từ tuổi nhi đồng trong cộng đồng gia đình, hàng xóm, dân tộc, loài người”(17)
Cũng từ luận điểm triết học trên đây, Trần Đức Thảo đã khẳng định có con người
Trang 30
nói chung tồn tại trong từng cá thể cá nhân Cái căn bản của con người nói chung ấy cũng được hình thành từ thời khởi nguyên của lịch sử và được duy trì trong quá trình phát triển của lịch sử, thông qua giáo dục gia đình, làng xóm và cộng đồng xã hội, dân tộc Trên nền tảng đó, xã hội mới phát triển được và mỗi cá nhân mới tồn tại và phát triển được Cũng chỉ có như thế, mới thực hiện được tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người Trong thư gửi ông Phạm Văn Đồng ngày 15-7-
1990, Trần Đức Thảo viết: “Trong biện chứng phức tạp của toàn diện lịch sử xã hội, cái hướng tiến lên là căn bản nhất Nhưng đồng thời cũng có những cái cản trở, kìm hãm cái vận động tiến hóa, thậm chí là xoay ngược, đẩy lùi vào tình trạng thoái hóa Cái xu hướng tiến bộ là cái tốt Cái lùi xuống là cái xấu Trong con người mà bản chất là toàn diện những quan hệ xã hội thì cái tốt với cái xấu cũng đấu tranh với nhau, thể hiện và thực hiện sự đấu tranh xã hội giữa cái xu hướng tiến lên với cái lùi xuống Chính xuất phát từ quan điểm nhân sinh của Luận cương 6 về L.Phoiơbắc
mà Bác Hồ đã căn dặn cán bộ: “Mỗi con người đều có thiện có ác ở trong lòng Ta phải làm cho phần tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi Đó là thái độ của người cách mạng”(18) Về mặt triết học, khi nói đến con người nói chung, Trần Đức Thảo đã nhắc lại luận điểm của V.I.Lênin: Cái chung chỉ tồn tại xuyên qua cái riêng và trong cái riêng Cái riêng chỉ tồn tại trong
sự liên hệ với những cái riêng khác để tiến tới cái chung Như vậy thì cái tốt, cái bản chất của loài người, của cộng đồng dân tộc mới tồn tại và phát triển trong mỗi
cá nhân
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở chúng ta muốn xây dựng được tư tưởng, tình cảm, đạo đức thì phải kế thừa truyền thống tốt đẹp Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ II (11-2-1951), Người viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta”(19) Hồ Chí Minh đã chuyển hóa khái niệm trung
và hiếu của Nho giáo thành trung với nước, hiếu với dân Khi Chính phủ Trung Hoa dân quốc ban hành quyết định từ nay về sau, xóa bỏ những lễ nghi tưởng niệm Khổng Tử (15-2-1927), Người đã viết: “Với việc xóa bỏ những lễ nghi tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ và trái với tinh thần dân chủ Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần
Trang 31
đọc các tác phẩm của Lênin”(20)
Trần Đức Thảo đã luận chứng về quy luật kế thừa nói chung, cả lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội, lịch sử tư tưởng Ông đã trình bày vấn đề này một cách sáng tạo: Một lôgíc hình thức - biện chứng là hình thức tổng quát của vận động thời gian, ở đây cái quá khứ, cái hiện tại, cái tương lai diễn ra trong mỗi lát của cái hiện tại sống động để cái tích cực của quá khứ được cái hiện tại tiếp nhận và cái tương lai tiếp tục phát triển Đọc các tác phẩm của Trần Đức Thảo, chúng ta nhận thức sâu sắc tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh về sự kế thừa để phát triển con người, phát triển nòi giống, phát triển các quan hệ xã hội tốt đẹp
Như vậy, quan tâm đến con người phải rất cụ thể, đối với từng người, đối với từng lứa tuổi, đối với các biện pháp, chính sách phù hợp với các thế hệ, các giai đoạn lịch sử Nhưng lại phải có tầm nhìn chung, bao quát, sâu xa, nghĩa là phải đảm bảo cho con người an sinh để tồn tại và phát triển
Bốn là, để phát huy sức mạnh của con người, giá trị của con người, Hồ Chí Minh
khẳng định quyền độc lập của dân tộc phải gắn liền với quyền tự do dân chủ Dân tộc
có độc lập mà dân không có dân chủ, tự do thì độc lập có ý nghĩa gì? Đặt câu hỏi: Trong nhà nước dân chủ, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân thì Chính phủ là gì? Người trả lời: “Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(21) Tính ưu việt và sức mạnh của xã hội mới chính là tính dân chủ của xã hội và quyền tự do của con người được đảm bảo Trong quá trình chọn lựa con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã học tập kinh nghiệm lịch sử của cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp và Cách mạng tháng Mười Nga(22) Tinh hoa của các cuộc cách mạng ấy là tinh thần dân chủ và quyền tự do được phát huy để tạo ra sức mạnh cho nhân dân làm nên cách mạng, nhất là Cách mạng tháng Mười Nga Chính vì vậy, Hồ Chí Minh tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh của con người, sức mạnh của nhân dân Trần Đức Thảo đã từng sống, học tập tại nhà trường dân chủ Pháp; vì vậy mà ông hiểu được giá trị dân chủ, tự do không phải là do giai cấp thống trị ban phát cho nhân dân,
mà đó là kết quả của truyền thống đấu tranh lâu đời của nhân dân Truyền thống ấy chính là sức mạnh của nhân dân, của chính sự vận động sản xuất xã hội đem lại Chính vì vậy, ông không chấp nhận những hạn chế của tư tưởng siêu hình, duy tâm
Trang 32
được vận dụng vào hoạt động chính trị - xã hội để hạn chế, thậm chí xóa bỏ những giá trị dân chủ, tự do mà nhân dân lao động đã dày công đấu tranh, vun đắp Đó chính là nội dung mà ông phản ánh trong hai bài báo: Nỗ lực phát triển tự do dân chủ(23) và Nội dung xã hội và hình thức tự do(24) đăng trên báo Nhân văn và Giai phẩm mùa đông
Nhưng, điều quan trọng, Trần Đức Thảo đã phân tích và khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa tự do và tất yếu Ngay từ năm 1948, khi trả lời thư của A.Kojève, Trần Đức Thảo đã nói rõ: “Nhưng có lẽ chúng ta không thuộc vào cùng một gia đình tinh thần Bởi trước khi tiếp cận triết học ngày nay, tôi chỉ là kẻ được Spinoza thuyết phục,
và tôi cũng biết đấy là một học thuyết không được ông ưa chuộng cho lắm Ông định nghĩa tự do bằng cách phủ định tất yếu Tôi bảo vệ truyền thống lớn của chủ nghĩa duy lý luôn luôn quan niệm chúng là một” (1948)(25) Sau này, trong nhiều tác phẩm viết về quyền tự do của con người, Trần Đức Thảo đã triển khai tư tưởng của C.Mác:
“Do bản chất của sự vật, vương quốc của tự do nằm ở bên kia lĩnh vực sản xuất vật chất, hiểu theo đúng nghĩa của danh từ này Giống như người nguyên thủy phải đấu tranh với tự nhiên để thỏa mãn nhu cầu của họ, để bảo tồn và tái sản xuất ra đời sống của họ, người văn minh cũng bắt buộc phải làm như vậy trong tất cả các hình thái xã hội và dưới bất cứ những phương thức sản xuất nào Với sự phát triển của con người, vương quốc của sự tất yếu tự nhiên cũng mở rộng, vì các nhu cầu của con người tăng lên; nhưng đồng thời những lực lượng sản xuất dùng để thỏa mãn những nhu cầu đó cũng được mở rộng Trong lĩnh vực đó, sự tự do chỉ có thể bao hàm ở chỗ là: con người xã hội hóa, những người sản xuất liên hợp, điều tiết một cách hợp lý sự trao đổi chất đó của họ với giới tự nhiên, đặt sự trao đổi chất đó dưới sự kiểm soát chung của
họ, chứ không để cho nó thống trị họ như là một lực lượng mù quáng: họ tiến hành sự trao đổi ấy một cách ít hao tốn sức lực nhất và trong những điều kiện xứng đáng nhất, phù hợp nhất với bản chất con người Nhưng tuy vậy, tất cả những điều đó cũng vẫn thuộc về vương quốc của tất yếu Chính ở bên kia vương quốc ấy mới bắt đầu sự phát triển của lực lượng con người như là một mục đích tự nó, mới bắt đầu vương quốc chân chính của tự do, vương quốc này chỉ có thể phồn vinh trên vương quốc của sự tất yếu ấy, coi như là trên cơ sở của chính nó”(26) Như vậy, muốn sáng tạo tinh thần, muốn sống đúng với bản chất con người thì phải có tự do Nhưng tự do không thể tách
Trang 33Năm là, những tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh mang tính cách mạng, tính hiện
thực Muốn hiện thực hóa tư tưởng nhân văn thì phải có một nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh V.I.Lênin, năm 1960, Hồ Chí Minh đã viết: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(27) Khi nói về xây dựng đất nước,
Hồ Chí Minh cũng đã viết: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”(28) Như vậy, tư tưởng nhân văn của
Hồ Chí Minh vừa hướng tới mục tiêu giải phóng con người, vừa phấn đấu cho cuộc sống của nhân dân ngày càng no ấm, ngày càng hạnh phúc, cho Tổ quốc ngày càng giàu mạnh ở đây, lý tưởng và hành động thực tế thống nhất với nhau làm một
Trong Hồi ký của mình, Trần Đức Thảo cũng khẳng định: Chủ nghĩa cộng sản, dù là một viễn cảnh xa xôi đến mấy thì nhất định lịch sử dân tộc và nhân loại sẽ tới đó Nhưng, ông đã luận chứng bằng tư tưởng triết học về sự vận động của chính nền sản xuất xã hội đã diễn ra trong lịch sử nhân loại Trong các tác phẩm bàn về con người, Trần Đức Thảo đã nghiền ngẫm luận điểm nổi tiếng sau đây của C.Mác: “Phương thức chiếm hữu tư bản chủ nghĩa do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đẻ ra, và
do đó cả chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nữa đều là sự phủ định đầu tiên đối với chế
độ tư hữu cá nhân dựa trên lao động bản thân Nhưng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên Đó là một sự phủ định cái phủ định Sự phủ định này không khôi phục lại chế độ tư hữu, mà khôi phục lại chế độ sở hữu cá nhân trên cơ sở những thành tựu của thời đại tư bản chủ nghĩa: trên cơ sở sự hiệp tác và sự chiếm hữu công cộng đối với ruộng đất và những tư liệu sản xuất do chính lao động làm ra”(29) Nghiên cứu về luận điểm này,
Trang 34
Trần Đức Thảo nói rõ: Như vậy, sự giải phóng con người không phải là xuất phát từ ý chí luận, mà đó là một quá trình khách quan, tự nhiên của sự phát triển của chính nền sản xuất Cho nên, như C.Mác cũng từng nói trong bộ Tư bản: Cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa của giai cấp công nhân lúc đầu chỉ tước đoạt của cải của một nhúm tư bản tài phiệt, còn những nhà tư bản vừa và nhỏ thì để cho nó tự thủ tiêu trong quá trình phát triển của nền kinh tế Điều ấy C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nói rõ trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: Sau khi làm cuộc cách mạng chính trị, giai cấp vô sản phải chuyển ngay sang xây dựng kinh tế Trong Hồi ký, Trần Đức Thảo đã nói rõ
ý này nghĩa là không phải dùng phương pháp hành chính, tước đoạt, mà phải thông qua hoạt động kinh tế bình thường để chuyển dần những tư liệu sản xuất chủ yếu về cho nhân dân lao động Quá trình ấy là lâu dài để chuyển biến nền kinh tế theo con đường của chủ nghĩa xã hội, như thế mới đem lại tự do, dân chủ cho nhân dân.(28)Bởi vậy, theo Trần Đức Thảo, tư tưởng sau đây của Hồ Chí Minh là mang tính cách mạng, thật sự có ý nghĩa nhân văn, vì nó đảm bảo cho xã hội tồn tại, phát triển một cách bình thường, phù hợp với quy luật khách quan của vận động lịch sử: ở thời kỳ quá độ, nền kinh tế của ta tồn tại bốn hình thức sở hữu chính: “Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động Sở hữu của người lao động riêng lẻ Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”; rằng, “kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên”(30) Đương nhiên, ngày nay, chúng ta cần hiểu cách diễn đạt trên đây của Hồ Chí Minh là xuất phát và phù hợp với tư duy của xã hội thời bấy giờ Ngày nay, do thực tiễn đã đổi khác, nên cần được tư duy mới cho phù hợp
Tuy nhiên, như Trần Đức Thảo đã luận chứng trong Hồi ký của mình thì điều sau đây vẫn giữ nguyên: Sự vận động của lịch sử xã hội loài người đã diễn ra như sau: Các chế
độ cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến đã từng bị thay thế thì chế độ
tư bản chủ nghĩa tất nhiên cũng sẽ bị thay thế, bởi nó tự phủ định nó Vì vậy, chế độ cộng sản, dù xa xôi đến mấy, tất yếu cũng sẽ diễn ra Nhưng, trong quá trình đó, phải nắm lấy khâu trung giới thì mới có thể từng bước tạo ra sự chuyển qua Chính vì vậy,
sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu nhất thiết phải tồn tại thì mới có sự chuyển qua ấy Vấn đề khó khăn ở đây là quản lý ở cấp vĩ mô của Nhà nước Trước
Trang 35
hết, sự quản lý ấy phải do những người vừa có tài năng, vừa trong sạch (bởi nhân cách
cá nhân người lãnh đạo, bởi chính sách đúng của Nhà nước), có tầm nhìn xa và có sự nhạy bén trước tình hình trong nước và quốc tế(31)
Tóm lại, đọc các tác phẩm của Trần Đức Thảo, chúng ta càng khẳng định được tư
tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là toàn diện, được đặt trên một nền móng lý luận vững chắc, đầy sức thuyết phục Tư duy triết học Trần Đức Thảo đã mở ra cho ta phương pháp để nhận thức cơ sở lý luận và thực tiễn, cơ sở lịch sử xã hội của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh một cách sâu sắc
Viết về những vấn đề trên đây, tôi nhớ lại trước lúc đi Pháp (tháng 3-1991), GS.Trần Đức Thảo có yêu cầu tôi tìm cho ông mấy tài liệu sau: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tác phẩm của đồng chí Trường Chinh nói về: Chủ nghĩa Mác và cách mạng Việt Nam, về văn hóa Trần Đức Thảo kể lại rằng năm 1950, khi còn ở bên Pháp, ông được một Việt kiều đưa cho xem biên bản của Hội nghị văn hóa toàn quốc họp ở Việt Bắc năm 1948, ông rất lưu ý đến ý kiến của ông Trường Chinh phát biểu tại Hội nghị
đó về vấn đề nhân đạo, đại ý có nói: lắm khi vì để thực hiện chủ nghĩa nhân đạo chân chính, chúng ta buộc lòng phải tiến hành những việc làm có vẻ không nhân đạo, ví dụ phải tiến hành chiến tranh Trần Đức Thảo nói: đó là biện chứng của lịch sử Những việc làm, những lời nói sau đây của Hồ Chí Minh là hết sức đặc biệt: Tại Đại hội Tour, năm 1920, khi một cử tọa hỏi Hồ Chí Minh: Nguyễn ái Quốc, anh đại diện cho ai? Hồ Chí Minh đã trả lời: Nhân danh toàn thể loài người, tôi kêu gọi các đồng chí hãy ủng hộ phong trào giải phóng thuộc địa Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh thống nhất quyền con người với quyền dân tộc Khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Người nêu khẩu hiệu: Chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Tháng 2-
1965, trước lúc viết Di chúc, Người đến thăm đền Nguyễn Trãi tại Côn Sơn Tháng
5-1965, sau khi viết Di chúc, Người đến thắp hương tại đền Khổng Tử Mấy tháng trước lúc mất, Người trả lời phóng viên Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp: Có lẽ xuất phát từ hoàn cảnh của chúng tôi, chúng tôi phải xây đựng đất nước trước hết bằng văn hóa Trần Đức Thảo nói: Những điều trên đây sắp xếp một cách rời rạc, không có hệ thống, nhưng tôi nghĩ chắc chắn Hồ Chí Minh đã hơn hẳn những người lãnh đạo khác
ở các nước xã hội chủ nghĩa là ở chỗ, Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu sự quan tâm của Người đối với đời sống tinh thần của con người Có lẽ là vì vậy Người là nhà lãnh
Trang 36
đạo duy nhất trong các nước xã hội chủ nghĩa được UNESCO suy tôn là Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam Trần Đức Thảo có
ý định viết riêng một tác phẩm về Tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh, tiếc rằng điều
ấy chưa kịp thực hiện thì ông đã qua đời
(4) Trần Đức Thảo Hồi ký (1986), Di cảo, (lưu giữ tại thư viện của TS.Cù Huy Chử) (5) Trần Đức Thảo Tìm hiểu giá trị văn chương cò Tập san nghiên cứu Văn - Sử - Địa, sè 3, tr.27-39
(6) Trần Đức Thảo Bài Hịch tưíng sỹ của Trần Hưng Đạo và xã héi Việt Nam trong thêi kú thịnh của chế đé phong kiến Tập san nghiên cứu Văn - Sử - Địa, sè 5, tháng 2-
1995, tr.31-39
(7) Trần Đức Thảo Néi dung xã héi Truyện Kiều Tập san Đại học Sư phạm, sè 5, tháng 1,2,3-1956, tr.11-40
(8) Trần Đức Thảo Di cảo, (Văn bản lưu tại thư viện của TS.Cù Huy Chử)
(9) Trần Đức Thảo Thư gửi Tổng Bí thư NguyÔn Văn Linh, ngày 10-1-1988 Di cảo của Trần Đức Thảo (lưu tại thư viện của TS.Cù Huy Chử)
(10) Hồ Chí Minh Toàn tập, t.3 Nxb Chính trị Quèc gia, Hà Néi, 1995, tr.431
(11) Trần Đức Thảo Sù hình thành con ngưêi Nxb Đại học Quèc gia, Hà Néi, 2004 (12) Trần Đức Thảo Về khái niệm con ngưêi (nhiều tác phẩm cùng tên, tiếng Pháp và tiếng Việt) Di cảo (văn bản lưu tại thư viện của TS.Cù Huy Chử)
(13) Trần Đức Thảo Di cảo, (văn bản lưu tại thư viện của TS.Cù Huy Chử) Những văn bản này tác giả đã gửi tặng Thủ tưíng Phạm Văn Đồng
Trang 37
(14) Trần Đức Thảo Tìm céi nguồn của ngôn ngữ và ý thức (Tác phẩm viết bằng tiếng Pháp, Nxb Xã héi, Paris, 1973, bản dịch tiếng Việt, Nxb Khoa học xã héi, Hà Néi, 2003)
(15) C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, t.23 Nxb Chính trị Quèc gia, Hà Néi, 1993, tr.87
(31) ở đây, cần lưu ý: 1) Khi nưíc ta đã trở thành thuéc địa của chủ nghĩa thùc dân cò
và míi, thì nã đã nằm trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, cho nên mâu thuẫn giữa giai cÊp vô sản và tư sản lồng vào trong mâu thuẫn giữa dân téc thuéc địa và chủ nghĩa đế quèc Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã chọn con đưêng cách mạng dân téc, dân chủ, xây dùng chế đé dân chủ nhân dân; sau đã tiến tíi xây dùng chủ nghĩa xã héi 2) Vì vậy, võa phải xây dùng những yếu tè tư bản chủ nghĩa trong kinh tế - xã héi mà ta chưa cã,
Trang 38
vận dông những hình thức pháp quyền tư sản để cho xã héi phát triển bình thưêng; võa phải duy trì, phát triển những quyền sở hữu của nhân dân đã giành được trong đÊu tranh cách mạng, trưíc hết là đÊt đai, hầm má, rõng, sông nưíc, biển, mét sè nhà máy, ngân hàng Những tài sản này không chỉ do đÊu tranh mà dân ta giành lại được, cã khi phải bá tiền ra chuéc lại của các công ty tư bản 3) Cần luôn chèng tư tưởng cùc đoan, hoặc tả khuynh, hoặc hữu khuynh Tư tưởng tả khuynh biểu hiện ở sù nôn nãng, đèt cháy giai đoạn, không tuân theo quy luật của sù phát triển kinh tế - xã héi Ngược lại,
tư tưởng hữu khuynh đi đến xãa bá thành tùu cách mạng, biến tài sản mà nhân dân đã giành được bằng xương máu thành tài sản của mét sè cá nhân cã quyền hành, địa vị lãnh đạo, thành tài sản của các doanh nhân, thành tài sản của các công ty nưíc ngoài 4) Cho đến nay, chưa ai bác bá được tư tưởng của các nhà lý luận tư sản ở thế kỷ XVII và XVIII, rằng nhÊt định chế đé phong kiến bị thay thế bởi chế đé tư bản, nhÊt
là những tư tưởng được trình bày trong Khế ưíc xã héi của Jean-Jacques Rousseau Còng như vậy, cho đến nay, chưa ai bác bá được luận điểm của C.Mác về sù tù phủ định của chủ nghĩa tư bản đưa đến chế đé công hữu về tư liệu sản xuÊt chủ yếu, như
đã trình bày ở trên Đây là tư tưởng khoa học Bởi vậy, nã cần được trình bày, luận chứng mét cách khoa học Không thể dùng biện pháp hành chính, lÊy đa sè quyết định thiểu sè để bác bá 5) VÊn đề là vận dông mét cách mềm dẻo, tạo ra khâu trung giíi để chuyển hãa, chuyển qua tõ xã héi tư bản sang xã héi xã héi chủ nghĩa 6) Sở hữu công céng của toàn dân, giao cho nhà nưíc quản lý còng cã thể cã nhiều hình thức để vận hành, để tồn tại Hình thức phổ biến là các công ty kinh tế 7) Ngày nay, khi khoa học
và công nghệ đã trở thành lùc lượng sản xuÊt trùc tiếp thì những hoạt đéng sản xuÊt, như tin học, du lịch, các loại vèn,… đều trở thành tư liệu sản xuÊt…
ĐỐI THOẠI GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH THEO TINH THẦN KHOAN DUNG - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH SỰ SỐNG CÒN VÀ THỊNH VƯỢNG CỦA NHÂN LOẠI
ĐỖ MINH HỢP (*)
Trang 39
Bài viết đề cập đến một vấn đề thời sự liên quan đến toàn cầu hóa, đối thoại, khoan dung và sự tồn tại, phát triển của nhân loại Trên cơ sở làm rõ sự cần thiết của đối thoại trên tinh thần khoan dung – một chủ đề đang được thảo luận sôi nổi trên diễn đàn triết học thế giới, tác giả bài viết đã đi đến khẳng định: Đối thoại giữa các nền văn minh theo tinh thần khoan dung sẽ góp phần tạo ra một thế giới thống nhất trong
đa dạng, một thế giới được cấu thành từ nhiều nền văn minh độc đáo đang tương tác với nhau, và đó sẽ là một thế giới hòa bình, hợp tác hữu nghị và thịnh vượng, trong
đó đối thoại trên tinh thần khoan dung trở thành hình thức giao tiếp phổ biến, thành nhân tố đảm bảo sự sống còn và thịnh vượng cho mỗi con người và cho cả cộng đồng nhân loại
Hiện nay, nhân loại đang phải đối mặt với vô số những vấn đề đe dọa đến bản thân
sự tồn tại của mình với tư cách một loài sinh vật trên Trái đất Tất cả mọi công dân toàn cầu có lương tâm đều lo lắng cho số phận tương lai của “Trái đất - Tổ quốc chung” Nhiều giải pháp đã được các nhà tư tưởng lớn đưa ra, đặc biệt là các đại biểu của Câu lạc bộ Rome Với tư cách cơ quan tư vấn về chiến lược phát triển, giáo dục
và khoa học của UNESCO, trong suốt nửa thế kỷ qua, câu lạc bộ này đã không ngừng tìm tòi những giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề toàn cầu Song, gần đây, tư tưởng đối thoại giữa các nền văn minh ngày càng được khẳng định không những là con đường giải quyết hữu hiệu những vấn đề toàn cầu phức tạp mà còn là phương tiện duy trì và quyết định số phận tương lai của nhân loại Không phải ngẫu nhiên mà Câu lạc bộ Rome do UNESCO tài trợ đang thực hiện báo cáo tiếp theo của mình chính về triết lý đối thoại Theo đó, có thể nói, chúng ta đang sống trong thời đại đòi hỏi một sự đối thoại nghiêm túc, có trách nhiệm, cởi mở giữa các nền văn minh như một trong những điều kiện cần thiết để đảm bảo số phận tương lai của nhân loại.(*)
Trong bối cảnh “lịch sử không được đảm bảo” và “vở kịch lịch sử chưa rõ kết cục” được hình thành vào đầu thiên niên kỷ thứ ba, ngoài đối thoại, dường như nhân loại không còn cách nào khác để hóa giải tất cả mọi thách thức và nguy hiểm đang đổ ập lên đầu mình Con đường duy nhất thích hợp ở đây là tổ chức thảo luận “cộng đồng
Trang 40“đối thoại giữa các nền văn minh” hiện nay đang được lĩnh hội ngày một sâu sắc hơn
Song, cho dù có hấp dẫn tới đâu đi chăng nữa, tư tưởng về đối thoại vẫn không tránh được sự phản đối một cách nghiêm túc và rộng rãi Không công khai tuyên bố thái độ
ác cảm của mình đối với đối thoại, những người phản đối nó tin rằng, chỉ có thể bảo
vệ giá trị và lợi ích của bản thân nhờ dựa vào sức mạnh (kinh tế, tài chính, quân sự) Đối thoại là có thể và chấp nhận được, nhưng thành công của nó được đảm bảo không phải bằng lương tri, tư tưởng sáng suốt và luận cứ xác đáng, mà bằng tương quan lực lượng và khả năng gây áp lực Đương nhiên, không thể có đối thoại trong điều kiện đối đầu về quan điểm và lợi ích theo nguyên tắc “ai thắng ai”, thậm chí cả khi có cảm tưởng là nó dẫn tới sự hợp tác lành mạnh và xoa dịu được những mâu thuẫn Vì “một sự nhịn, chín sự lành”, những thủ thuật như vậy nhằm làm rõ quan hệ
và kết quả thường được coi là khả quan của chúng và được dư luận ở các quốc gia xung đột ủng hộ Nhưng, kết quả giả tạo này, rốt cuộc, vẫn chỉ mang tính chất nhất thời và không vững chắc trong tương lai lâu dài
Một trong những đặc điểm của sự giao tiếp giữa người với người và được coi như một điều kiện không thể thiếu đối với sự đối thoại giữa các nền văn minh - đó là khoan dung (tolerance) Với tư cách điều kiện khởi thủy, xuất phát từ bất kỳ sự đối thoại hữu hiệu nào, khoan dung luôn buộc người ta phải xem bản thân sự đối thoại này như một trong những biểu hiện của nó Song, dẫu sao vẫn cần phải khu biệt giữa khoan dung và đối thoại: Đối thoại đòi hỏi phải có sự khoan dung, khoan dung có thể bộc lộ cả khi không có đối thoại và ở bên ngoài đối thoại Làm sáng tỏ mục đích thực