1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giáo trình môn kinh tế công cộng

23 311 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 232 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan 9/1993 cũng đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân c

Trang 1

MỤC LỤC

Chương I: Vài nét về tình trạng đói nghèo ở Việt Nam 3

1.Đói nghèo và các thước đo 3

1.1 Khái quát chung về đói nghèo 3

1.2 Các thước đo đói nghèo 4

2.Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 5

Chương II: Một số chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam 8

giai đoạn 2006-2010 8

1.Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 8

1.1 Mục tiêu chương trình 8

1.2 Kết quả đạt được 9

1.3 Đánh giá 9

2.Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo 10

2.1 Mục tiêu chương trình 11

2.2 Kết quả đạt được 12

2.3 Đánh giá 13

3 Chương trình PTKT-XH các xã đặc biệt khó khăn thuộc khu vực DTTS và miền núi giai đoạn II 13

3.1 Mục tiêu chương trình 135-II 14

3.2 Kết quả đạt được 15

Chương III: Một số đề xuất cho công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020 18

1 Đề nghị xây dựng chiến lược phát triển KT-XH vùng DTMN giai đoạn 18

2011-2020 18

2 Định hướng giảm nghèo nhanh và bền vững 20

KẾT LUẬN 21

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Như chúng ta đã biết, đã có rất nhiều môn khoa học nghiên cứu về các vấn đề kinh

tế, song mỗi môn khoa học lại có những đối tượng và mục đích nghiên cứu khác nhau.Nếu như kinh tế vi mô nghiên cứu cách thức các cá nhân ra quyết định và tương tác vớinhau trên các thị trường đơn lẻ thì kinh tế vĩ mô lại xem xét sự vận động của tổng thế nềnkinh tế Kinh tế phát triển nghiên cứu các nguyên lý phát triển kinh tế và vận dụng trongđiều kiện kém phát triển còn kinh tế môi trường nghiên cứu kinh tế trong mối quan hệgắn bó với môi trường Riêng kinh tế công cộng đi sâu nghiên cứu vai trò của chính phủtrong nền kinh tế, cách thức can thiệp của chính phủ và phương pháp đánh giá những tácđộng của những chính sách đó tới nền kinh tế

Trước đây, khi nước ta duy trì cơ chế tập trung dân chủ thì mỗi chính sách của Nhànước đều có tác động trực tiếp và sâu sắc tới đời sống kinh tế Khi chuyển sang nền kinh

tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước thì vai tròcủa chính phủ ngày càng được khẳng định, nhất là trong giai đoạn hiện nay Ngay từ đầu,Đảng và Nhà nước ta đã xác định, xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhằm hướng tới mục tiêuDân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh Muốn đạt được mục tiêunày, trước hết phải xóa bỏ được nghèo đói và lạc hậu, mà để làm được điều đó, nhất làtrong giai đoạn hiện nay khi đất nước ta đang chập chững những bước đi trên hành trìnhđổi mới, chúng ta cần nhìn nhận thực trạng của nghèo đói đúng về bản chất và xem xét

nó dựa trên những bối cảnh mới

Bởi vậy, chúng em quyết định chọn đề tài nghiên cứu là “Đánh giá một số chươngtrình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và đề xuất” Bài tiểu luận nàyđược chia làm ba phần lớn.Phần mở đầu là vài nét về tình trạng đói nghèo ở ViệtNam.Phần hai đề cập tới các chính sách xóa đói giảm nghèo của chính phủ trong giaiđoạn 2006 –2010 Phần cuối là một số đề xuất cho công tác xóa đói giảm nghèo ở ViệtNam giai đoạn 2011-2020

Trang 3

Chương I: Vài nét về tình trạng đói nghèo ở Việt Nam

1 Đói nghèo và các thước đo

1.1 Khái quát chung về đói nghèo

Đói nghèo đã và đang là một vấn đề đáng lo ngại với toàn thế giới nói chung và với

Việt Nam nói riêng Nhà kinh tế học Samuel Johnson đã từng nói : “Nghèo đói là kẻ thù rất lớn đối với hạnh phúc của con người, nó chắc chắn tiêu diệt tự do, phá hủy những đức tính tốt đẹp và khiến mọi ước vọng của con người đều trở nên khó khăn” Hội nghị

chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc,

Thái Lan (9/1993) cũng đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói: “Nghèo là tình trạng một

bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người

mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”.Định nghĩa này đang được nhiều quốc gia sử

dụng trong đó có Việt Nam.Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh và chínhxác nhất về đói nghèo, nhưng có thể chỉ ra những khía cạnh chủ yếu của đói nghèo đó là:thiếu thu nhập, thiếu nước sạch, thiếu phương tiện chăm sóc sức khỏe, và thiếu sự bảo vệchống lại các cú sốc có hại

Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì ở khu vựcnông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 200.000 đồng/người/tháng là hộnghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/thángtrở xuống là hộ nghèo Chuẩn nghèo của thế giới hiện nay là thu nhập bình quân 1,25USD/người/ngày (tương đương với 780.000 đồng/người/tháng); chuẩn nghèo của châu Á

là 1,35 USD/người/ngày (842.000 đồng/ người/tháng) – tính theo tỉ giá hiện hành1USD=20.800VND Như vậy là chuẩn nghèo của Việt Nam đang thấp hơn chuẩn nghèothế giới và khu vực rất nhiều.Đứng trước thực trạng này, những người hoạch định chínhsách càng cần nắm rõ tình hình đói nghèo trong nước để đưa ra những chính sách phù

Trang 4

hợp với thực tiễn Vậy có những công cụ nào hỗ trợ họ trong việc đo lường mức độnghèo của người dân, chúng ta hãy cùng tìm hiểu ở phần 2: các thước đo đói nghèo

1.2 Các thước đo đói nghèo

Để hiểu các thước đo đói nghèo, trước hết chúng ta cần hiểu ngưỡng nghèo là gì.Đây là ranh giới để phân biệt người nghèo và người không nghèo Ngưỡng nghèo đượcchia ra làm hai loại là ngưỡng nghèo tuyệt đối và ngưỡng nghèo tương đối.Ngưỡngnghèo tuyệt đối là mức sống được xem là tối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình

có thể tồn tại khỏe mạnh Ngưỡng nghèo tương đối là ranh giới giữa thu nhập dùng đểphản ánh tình trạng của một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng.Sau khi tính toán được ngưỡng nghèo, có thể tính toán một số thước đo để mô tả quy mô,

độ sâu và độ nghiêm trọng của đói nghèo Ba thước đo thông dụng nhất đó là: chỉ số đếmđầu, khoảng nghèo và bình phương khoảng nghèo

a Chỉ số đếm đầu ( Headcount index)

HI = H/N

Trong đó : H: số người có thu nhập dưới ngưỡng nghèo ( người nghèo)

N: tổng số dânChỉ số này cho biết quy mô đói nghèo của một quốc gia, tuy nhiên nó còn nhiềumặt hạn chế Thứ nhất, việc xác định ngưỡng nghèo của các quốc gia là không thống nhất(tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia) Thứ hai, chỉ số này chưa phản ánh được mức

độ, bản chất và nguồn gốc của đói nghèo Bởi vậy nếu chỉ sử dụng thước đo này, chínhphủ sẽ chỉ quan tâm tới việc làm sao đưa những người ở dưới ngưỡng nghèo lên để cảithiện chỉ số này chứ không chú ý tới việc xóa bỏ nguồn gốc của sự nghèo đói Như vậythì chính sách đó chỉ có tác dụng trong ngắn hạn và không thể cải thiện đời sống ngườinghèo triệt để

Trang 5

b Khoảng nghèo ( Poverty gap)

Khoảng nghèo là tổng các mức thiếu hụt của tất cả người nghèo trong nền kình tếNPG =1/N

Công thức trên giúp Nhà nước biết được sự thiếu hụt trong chi tiêu của các hộnghèo so với ngưỡng nghèo, nó cho biết chi phí tối thiểu để đưa tất cả người nghèo lênmức sống ngang bằng với ngưỡng nghèo Như vậy thước đo này cho thấy quy mô sựnghèo đói của một quốc gia

c Bình phương khoảng nghèo

P = 1/N

Chỉ số này thể hiện mức độ nghiêm trọng của đói nghèo vì nó đã làm tăng trọng sốcho những nhóm người có khoảng nghèo lớn hơn trong số những người nghèo

Kết luận: ba thước đo trên chỉ mới tập trung đo lường sự thiếu thốn về vật chất của

người nghèo Có những người có tiền nhưng không được sử dụng nước sạch để dùngtrong sinh hoạt, hoặc không được khám chữa bệnh ở những cơ sở y tế có đầy đủ phươngtiện chăm sóc sức khỏe, hay không được đảm bảo về công việc….cũng được xếp vào làngười nghèo Tuy nhiên 3 chỉ số trên không thể hiện được những vấn đề này bởi đây chỉ

là những thước đo định lượng Bởi thế nhà nước cần quan tâm tới cả những thước đođịnh tính để có thể đưa ra những chính sách nhạy bén, chính xác và có hiệu quả cao đốivới người nghèo

2 Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010

Trong những năm gần đây Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc giathức hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo.Vấn đề giải quyết nghèo đói đã được đặt ra làmột trong những nhiệm vụ trọng tâm và đã được bắt đầu ngay từ khi xuất hiện xu hướng

Trang 6

phân hoá trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế.Tuy quy mô đói nghèo toàn quốc giảm

rõ rệt nhưng thực trạng cho thấy thực trạng nghèo đói vẫn đang là vấn đề bức xúc nhấthiện nay Cùng với sự nghiệp đổi mới, nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh, đời sốngcủa đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên ảnh hưởng của quá trình toàn cầuhóa cũng như các yếu tố chủ quan khác đã làm cho sự phát triển không đồng đều giữa cácnhóm dân cư dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo ngày một sâu sắc

Theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam, vào năm

2004 chỉ số nghèo tổng hợp( HPI) của Việt Nam xếp hạng 41 trên 95 nước Cũng theo sốliệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, vào năm 2002 tỷ lệ nghèo theo chuẩnquốc gia của Việt Nam là 12.9%, theo chuẩn thế giới là 29% và tỷ lệ nghèo lương thực(%số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10.87% UNDP cho rằng mặc dù Việt Nam đãđạt được tăng trưởng kinh tế bền vững và kết quả rất ấn tượng giảm tỷ lệ nghèo, song vẫncòn tồn tại tình trạng nghèo cùng cực ở một số vùng Để đạt được các Mục tiêu Phát triểnThiên niên kỷ (MDG), Việt Nam cần phải giải quyết tình trạng nghèo cùng cực

Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rấtnhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì số người nghèotrong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động của lạm phát (khoảng 40% kể từkhi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do là suy giảm kinh tế Chuẩn nghèo quốc gia củaViệt Nam hiện nay là gồm những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đến 260.000đồng/người/tháng Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ rớt trở lạivào cảnh nghèo đói Trong thập kỷ tới đây nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập vớinền kinh tế toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng, nhưng cũng đặt ra nhiềuthách thức đối với sự nghiệp giảm nghèo

Trang 7

Dưới đây là một vài số liệu thống kê năm 2006-2008 của Việt Nam( bởi những sốliệu của năm 2010 vẫn chưa được thống kê)

Trên đây chỉ là những đánh giá tổng quan về thực trạng đói nghèo ở Việt Nam giai đoạn

2006 – 2010.Để có cái nhìn cụ thể hơn, chúng ta hãy cũng tìm hiểu những chính sách cụthể mà nhà nước đã áp dụng, nội dung và những kết quả mà những chính sách đó đã đạtđược

Trang 8

Chương II: Một số chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2006-2010

1 Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010

Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo được tổ chức theo từng giai đoạn 5năm Chương trình nục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 được thực hiện

theo quyết định 20/2007/QĐ-TTg Đối tượng hướng đến của chương trình là người

nghèo, hộ nghèo, xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo; ưu tiên đối tượng hộ nghèo mà chủ hộ

là phụ nữ, hộ nghèo dân tộc thiểu số, hộ nghèo có đối tượng bảo trợ xã hội (người già,người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt) với các chính sách, dự án, hoạt động chủ yếusau:

 Nhóm dự án, chính sách phát triển sản xuất, tăng thu nhập

 Nhóm chính sách tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội

 Nhóm dự án nâng cao năng lực và nhận thức:

1.1 Mục tiêu chương trình

a Mục tiêu tổng quát

Đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo, hạn chế tái nghèo; củng cố thành quả giảm nghèo,tạo cơ hội cho hộ đã thoát nghèo vươn lên khá giả; cải thiện một bước điều kiện sống vàsản xuất ở các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhóm

hộ nghèo, hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữathành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộnghèo

Trang 9

- Phấn đấu 50% số xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo thoátkhỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.

1.2 Kết quả đạt được

Trong 5 năm ước tính có khoảng 6,2 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn, mức vaybình quân 7-8 triệu đồng/lượt/hộ; triển khai 30.000 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật;xây dựng 8.500 mô hình trình diễn và hội nghị đầu bờ với 3,7 triệu lượt người nghèođược hướng dẫn cách làm ăn; ước thực hiện 4 năm (2007-2010) có khoảng 150.000 laođộng nghèo được đào tạo nghề miễn phí, trong đó trên 60% đã tìm được việc làm, tự tạoviệc làm, góp phần tăng thu nhập để giảm nghèo; dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo

đã được triển khai nhân rộng ở 218 xã thuộc 35 tỉnh, tổng số hộ tham gia mô hình là27.566 hộ, trong đó 77% là hộ nghèo (21.329 hộ), sau mỗi năm thực hiện mô hình, số hộnghèo tham gia mô hình đã tạo được thêm việc làm (tăng khoảng 15% ngày công); đã cókhoảng 2.500 công trình hạ tầng phục vụ sản xuất được đầu tư ở 273 xã đặc biệt khókhăn, bãi ngang ven biển, hải đảo (bình quân 9,15 công trình/xã); 52 triệu lượt ngườinghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế; 8 triệu lượt người học sinh nghèo được miễn giảm họcphí, 2,8 triệu lượt học sinh nghèo được hỗ trợ vở viết, sách giáo khoa; tổ chức tập huấnnâng cao năng lực cho 140 ngàn lượt cán bộ giảm nghèo cơ sở; ước 5 năm có khoảng 500ngàn hộ nghèo được hỗ trợ nhà ở, đạt 100% kế hoạch 5 năm, và đến nay đã có 17 tỉnh,thành phố, 306 quận, huyện và 5.931 xã, phường, thị trấn được Ủy ban Trung ương Mặttrận Tổ quốc Việt Nam trao “Bằng ghi công” hoàn thành chương trình xóa nhà dột nátcho người nghèo

1.3 Đánh giá

So sánh kết quả đạt được của chương trình so với mục tiêu đề ra ban đầu chúng ta

có thể thấy việc thực hiện các mục tiêu cụ thể như sau

Có khoảng 6,2 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn so với mục tiêu đề ra là 6 triệulượt, đạt 103.3% kế hoạch, vượt chỉ tiêu 3.3%

Trang 10

Đã chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn làm ăn cho 3, 7 triệu lượt người nghèo so vớimức kế hoạch là 4,2 triệu lượt, chỉ bằng 88% kế hoạch

150.000 lao động nghèo được đào tạo nghề miễn phí, đạt 100% kế hoạch

8 triệu lượt học sinh nghèo được miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp xâydựng trường trong tổng số 19 triệu lượt học sinh cần miễn, giảm, chỉ đạt 42,1% kếhoạch

140 ngàn lượt cán bộ giảm nghèo cơ sở được tham gia tổ chức tập huấn nâng caonăng lực so với chỉ tiêu đề ra là 161, 5 ngàn lượt, chỉ đạt 86, 7% kế hoạch

100% số nhà tạm đã được xóa bỏ, 500.000 hộ nghèo được hỗ trợ nhà ở

Như vậy, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 thựchiện chưa thực sự hiệu quả Dù các cơ quan ban ngành, các cấp cơ sở đã có nhiều nỗ lựcthực hiện chương trình song kết quả đạt được chưa thực sự khả quan Một số chỉ tiêu đãđược hoàn thành song vẫn còn nhiều chỉ tiêu chưa đạt so với kế hoạch đề ra Dù cónhững hạn chế như vậy, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010nhìn chung đã có tác động tích cực vào công tác xóa đói giảm nghèo, góp phần giảmnhanh tỷ lệ nghèo trên phạm vi cả nước giai đoạn 2006-2010

2 Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo

Trong những năm vừa qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác xóađói giảm nghèo nhưng kết quả giảm nghèo chưa thật vững chắc, chênh lệch giàu nghèogiữa các vùng, các nhóm dân cư chưa được thu hẹp đặc biệt là những huyện có tỷ lệ hộnghèo cao Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động- thương binh và Xã hội đến cuối năm

2006, cả nước có 61 huyện, gồm 797 xã và thị trấn thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên50% Mặc dù Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chính sách và dành nhiều nguồn lực để ưutiên phát triển vùng này song mức độ chuyển đổi còn chậm, đời sống của đồng bào dântộc thiểu số vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 3,5 lần bình quân cảnước Và để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo, tại phiên họp ngày18/11/2008,Chính phủ đã thảo luận và quyết định triển khai thực hiện Chương trình hỗtrợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện thuộc 20 tỉnh có số hộ nghèo trên

Trang 11

50% (Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP) Nội dung chủ yếu của chương trình gồm 4 nhóm dự

án, chính sách sau:

 Nhóm chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm

 Nhóm chính sách đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí

 Nhóm chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng ở cấp thôn/bản, xã và huyện

 Nhóm chính sách cán bộ đối với huyện nghèo

2.1 Mục tiêu chương trình

a Mục tiêu tổng quát

- Tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo,đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng vớicác huyện khác trong khu vực

- Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, khaithác tốt các thế mạnh của địa phương

- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội phù hợp với đặc điểm của từng huyện;chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch;xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tôc; dân trí được nâng cao,môi trường sinh thái được bảo về; đảm bảo vững chắc an ninh quốc phòng

b Mục tiêu cụ thể đến năm 2010

Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 40% (theo chuẩn nghèo quy định tại quyết định

số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005); cơ bản không còn hộ dân ở nhà tạm; cơ bản hoànthành việc giao đất, giao rừng; trợ cấp lương thực cho người dân ở những nơi không cóđiều kiện tổ chức sản xuất, khu vực giáp biên giới để đảm bảo đời sống

Tạo sự chuyển biến bước đầu tiên trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tếnông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh phát triển nông nghiệp,bảo vệ và phát triển rừng, đẩy mạnh một bước xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hộinông thôn; tăng cường nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học- kỹ thuật, tạo bước

Ngày đăng: 07/03/2015, 20:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w