1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CHƯƠNG TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH Giáo trình môn: Kinh tế chính trị Bài 5 CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

36 3,1K 30

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 263,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức: Trang bị những cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự cần thiết, nội dung và điều kiện, tiền đề để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong bối cảnh mới của cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế. Kỹ năng: Trên cơ sở các kiến thức trên và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, người học có thể phát triển việc nghiên cứu, đề xuất việc vận dụng chủ trương, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức vào thực tiễn ngành, địa phương mà mình công tác

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

Giáo trình môn: Kinh tế chính trị

Bài 5 CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

Người biên soạn: PGS, TS An Như Hải

Số tiết giảng trên lớp: 10

Mục tiêu của bài:

- Kiến thức: Trang bị những cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự cầnthiết, nội dung và điều kiện, tiền đề để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa(CNH, HĐH) gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong bối cảnh mớicủa cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế

- Kỹ năng: Trên cơ sở các kiến thức trên và kinh nghiệm thực tiễn của

bản thân, người học có thể phát triển việc nghiên cứu, đề xuất việc vận dụng chủtrương, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về CNH, HĐH gắnvới phát triển kinh tế tri thức vào thực tiễn ngành, địa phương mà mình công tác

- Tư tưởng: Nhận thức đúng tầm quan trọng của đẩy mạnh CNH, HĐH

gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong các nhiệm vụ kinh tế xã hộicủa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như trong yêu cầu phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta để chủ động sáng tạotrong hoạch định chính sách và tổ chức thực tiễn

Nội dung chi tiết:

1 QUAN NIỆM VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀKINH TẾ TRI THỨC

1.1 Quan niệm về công nghiệp hóa

Trang 2

Vào cuối thế kỷ thứ XVIII, cuộc Cách mạng công nghiệp được diễn ra

ở nước Anh với sự xuất hiện “chiếc thoi bay” trong lĩnh vực se sợi Nước Anhtrở thành quê hương của Cách mạng công nghiệp, là nước tiến CNH đầu tiên.Manchester là thành phố công nghiệp đầu tiên trên thế giới Kể từ đây, nhânloại bước vào một giai đoạn phát triển mới – giai đoạn CNH

Sau Anh là lần lượt các nước: Pháp vào đầu thế kỷ XIX, Mỹ và Đức vàogiữa thế kỷ XIX, Nhật, Nga và nhiều nước châu Âu khác vào cuối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX tiến hành CNH và đã lần lượt trở thành nước công nghiệp

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai (giữa thế kỷ XX), nhiều nước thuộcThế giới thứ ba1 tiến hành quá trình này với Chiến lược CNH riêng của mình.Một số dựa theo mô hình CNH của Liên xô (cũ), một số dựa theo mô hình của

Mỹ Đến nay, một số nước đã thực hiện CNH rút ngắn thành công, đã trở thànhnước công nghiệp Tuy nhiên, còn không ít nước trong đó có Việt Nam vẫntrong tình trạng nền kinh tế nông nghiệp, đang trong giai đoạn tiến hành CNH

Do thời điểm lịch sử tiến hành CNH ở các nước không giống nhau nên

đã có những quan niệm khác nhau về CNH Việc nhận thức đúng phạm trùCNH trong một giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước là rất cần thiết, nókhông chỉ có ý nghĩa về lý luận mà còn có tính thiết thực trong hoạch định vàthực thi chính sách phát triển

Thực tế lịch sử cho thấy, những nước đi đầu về CNH như Anh, Pháp vàmột số nước Tây Âu khác vào thời điểm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX,

đi liền với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với công nghệ chủ đạo là

máy hơi nước Trong điều kiện đó, CNH được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, quá trình chuyển nền kinh tế

từ nông nghiệp là chủ yếu lên công nghiệp, biến một nước nông nghiệp truyền thống thành nước công nghiệp

1 "Thế giới thứ ba" được sử dụng lần đầu tiên năm 1952 bởi nhà nhân khẩu học Pháp Alfred Sauvy đặt ra khi liên tưởng đến Đẳng cấp thứ ba trong Cách mạng Pháp Về sau, nó trở thành từ ngữ chỉ các nước không thuộc thế giới phương Tây, cũng không thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trong Chiến tranh lạnh Những nước này tham gia Phong trào không liên kết thành lập năm 1955 sau Hội nghị Bandung (Indonesia) Ngày nay, từ ngữ này để chỉ các nước đang phát triển, bất kể hình thức chính trị ra sao.

Trang 3

Những biểu hiện đầu tiên của CNH được gắn với nội dung của cuộccách mạng công nghiệp lần thứ nhất Đó là: (i) Chuyển chỗ làm việc từ giađình vào các công xưởng trên quy mô lớn; (ii) Tập trung dân cư ở các khu đôthị; (iii) Thay thế hệ thống kỹ thuật thủ công dựa vào gỗ, sức cơ bắp, sứcnước, sức gió và sức kéo động vật bằng một hệ thống kỹ thuật cơ khí vớinguồn động lực là máy hơi nước và nguồn nguyên liệu, nhiên liệu và nănglượng mới là sắt và than đá, tạo ra sự đột phá trong phát triển lực lượng sảnxuất, tạo bước phát triển vượt bậc của công nghiệp; (iv) Tạo ra những côngviệc kinh doanh mới nhờ có được những mạng lưới giao thông, vận tải vàthông tin liên lạc mới; (v) Tăng mạnh quy mô của thị trường và việc sử dụngtín dụng, ngân hàng và các dịch vụ tài chính có liên quan; và (vi) Áp dụngrộng rãi các phát minh mới Với những biểu hiện đó, CNH còn được hiểu là

quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng hay một nền kinh tế, quá trình chuyển nền kinh tế dựa chủ yếu vào nông nghiệp lên nền kinh tế dựa chủ yếu vào công nghiệp. Đây không chỉ

là quá trình chuyển biến về kinh tế mà còn chuyển biến cả về văn hóa và xãhội để đạt tới một xã hội mới - xã hội công nghiệp

Đến nửa cuối thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai đượcdiễn ra với quy mô và thành quả lớn hơn rất nhiều so với cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ nhất Nhiều công nghệ mới được sản xuất ra và đưa vào

sử dụng Điển hình là con người đã sản xuất ra động cơ điện vào năm 1872,sản xuất ra động cơ đốt trong (động cơ diesel) vào năm 1883, sản xuất ra kimloại màu và các hóa phẩm tổng hợp Trong điều kiện đó, quan niệm về CNH

có sự thay đổi Nó không còn đơn thuần là cơ khí hóa, mà còn được gắn với

quá trình điện khí hóa, hóa học hóa và cơ giới hóa

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (khoảng giữa thế kỷ XX), cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ ba được diễn ra trên thế giới với sự phát triển vượtbậc và có tính đột phá của khoa học và công nghệ Trong giai đoạn này, tuy

Trang 4

những quốc gia đã hoàn thành CNH đang tiến rất mạnh vào nền kinh tế hiệnđại, nhưng còn không ít quốc gia vẫn trong tình trạng nền kinh tế lạc hậu,đang hoặc thậm chí có nước còn chưa bước vào giai đoạn CNH Trong bối

cảnh đó, việc nhận thức phạm trù CNH còn được hiểu đó là quá trình tự động hóa sản xuất và phát triển các công nghệ chất lượng cao…

Ngoài những quan niệm trên, trong kho tàng tri thức của nhân loại còn cónhững quan niệm khác về CNH dựa trên một số mục tiêu nhất định về trình độphát triển của tư liệu lao động, phương thức tổ chức sản xuất, thu nhập quốcdân, cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghiệp, cơ cấu lao động, mức độ phát triểncông nghiệp chế tác, loại công cụ sản xuất, các hàm sản xuất cơ bản, phươngthức sản xuất

Tuy có những quan niệm khác nhau về CNH, nhưng về cơ bản cácquan niệm trên vẫn có những điểm chung và có thể được hiểu theo hai nghĩa:

- Theo nghĩa hẹp, CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp

(hay tiền công nghiệp) lên nền kinh tế lấy công nghiệp làm chủ đạo, từ chỗ tỷtrọng lao động nông nghiệp chiếm chủ yếu giảm dần và nhường chỗ cho laođộng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn

- Theo nghĩa rộng, CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông

nghiệp (hay tiền công nghiệp) lên kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệplên xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp

Nó không chỉ đơn thuần là những biến đổi về kinh tế mà bao gồm cả các biếnđổi về văn hóa và xã hội từ trạng thái nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, tức

là trình độ văn minh cao hơn

1.2 Quan niệm về hiện đại hóa

Theo cách hiểu thông thường, hiện đại hóa (HĐH) là quá trình “làmcho mang tính chất của thời đại ngày nay”2, Đó là quá trình biến đổi từ tínhchất truyền thống cũ lên trình độ tiên tiến của thời đại hiện nay

2 Viện Ngôn ngữ học (1995), Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), NXB Đà Nẵng, tr 422.

Trang 5

Theo ý nghĩa về kinh tế - xã hội, HĐH là quá trình chuyển dịch căn bản

từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại, quá trình làm cho nền kinh tế vàđời sống xã hội mang tính chất và trình độ của thời đại ngày nay

HĐH về kinh tế vừa có sự thay đổi về tính chất, vừa có tính xác định vềthời gian Giai đoạn đầu của hiện đại hóa được xác định trùng với thời kỳ diễn

ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (còn gọi là thời kỳ CNH) Tronggiai đoạn này, CNH là nội dung cốt lõi của HĐH

Tuy một số nước đi trước đã hoàn thành CNH và đã trở thành nướccông nghiệp phát triển, nhưng quá trình HĐH ở các nước đó vẫn tiếp tục diễn

ra ở trình độ cao hơn Thực tế cho thấy, ở mỗi trình độ phát triển khác nhau,HĐH mang những đặc trưng khác nhau

Đối với các nước phát triển, HĐH là quá trình chuyển dịch từ xã hộidựa trên nền kinh tế công nghiệp lên xã hội dựa trên nền kinh tế tri thức

Đối với các nước đang phát triển, HĐH là quá trình tăng tốc, rút ngắn lộtrình phát triển để đuổi kịp các nước đi trước và phát triển hơn Do tiến hànhCNH trong bối cảnh mới của thế giới nên bên cạnh việc dựa vào các nguồn lựctrong nước, các nước đang phát triển còn tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoàithông qua thu hút đầu tư để tìm kiếm nguồn vốn và công nghệ mới Đây chính

là kiểu CNH rút ngắn hiện đại Nó khác với kiểu CNH rút ngắn cổ điển đã từngtiến hành ở các nước như Liên Xô (cũ) và Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX đầuthế kỷ XX trước đây

CNH rút ngắn hiện đại là cách thức mà nước đi sau tiến hành CNH khitrên thế giới đã có những quốc gia hoàn thành CNH, những nội dung của CNH

đã được triển khai ổn định ở các nước đi trước (gọi là nước công nghiệp pháttriển) Do sự biến đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là

từ khi diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nên những côngnghệ hiện có của các nước này dễ bị lạc hậu Do cạnh tranh trên thị trường, cácnước này phải “chiếm lĩnh đỉnh cao công nghệ”, nên họ sẵn sàng chuyển giao

Trang 6

công nghệ hiện có của họ cho nước đi sau để bước vào thế hệ công nghệ mới.Bởi vậy, nước đi sau có rất nhiều phương án lựa chọn trong phát triển côngnghệ mà không nhất thiết phải dựa vào phát minh Đây chính là “lợi thế củanước đi sau” Dựa vào lợi thế này, nước đi sau có thể rút ngắn đáng kể thờigian để sớm trở thành nền kinh tế hiện đại Tại các nước này, quá trình tiếnhành CNH được gắn kết với quá trình HĐH

Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhânloại về CNH và căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam là một nước

đi sau đang trong quá trình phát triển, Đảng cộng sản Việt Nam tại Hội nghịTrung ương lần thứ bảy khóa VII (năm 1994), nêu chủ trương tiến hành xâydựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai

đoạn mới bằng con đường CNH, HĐH và nêu quan niệm: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”3

Theo quan niệm này, quá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật củachủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung CNH vàHĐH Nó không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp mà còn phải thựchiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tếquốc dân theo hướng hiện đại Nó không chỉ là một quá trình phát triển tuần

tự từ cơ giới hóa lên tự động hóa, tin học hóa mà còn kết hợp giữa thủ côngtruyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở nhữngkhâu có thể và mang tính quyết định Quan niệm trên không bó hẹp CNHtrong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII,

Hà Nội, tr 65.

Trang 7

để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khi như cách hiểu trước đây,

mà còn là một sự kết hợp với những thành tựu mới nhất về khoa học và côngnghệ của nhân loại

1.3 Quan niệm về kinh tế tri thức

Bên cạnh cách giải thích truyền thống về lịch sử phát triển nhân loạitiếp cận từ phương thức sản xuất xã hội, vào đầu những năm 90 thế kỷ XXnhiều nhà khoa học còn phân chia giai đoạn lịch sử văn minh nhân loại căn cứvào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Theo cách này, nhân loại đãtrải qua nền văn minh nông nghiệp (từ khi xuất hiện xã hội loài người đếnnhững năm 70 của thế kỷ XVIII) lên nền văn minh công nghiệp (từ nhữngnăm 70 thế kỷ XVIII đến nay) và đang trong giai đoạn quá độ chuyển lên mộtnền văn minh cao hơn gọi là nền văn minh trí tuệ Trong đó, nền kinh tế được

chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và đang quá độ chuyển lên kinh tế tri thức

4 Xem: Ngân hàng Thế giới: Báo cáo về tình hình phát triển thế giới: Tri thức cho phát triển, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998; OECD, The Knowledge-based Economy, A Set of Facts and Figures, Paris 1999; Nền kinh tế tri thức – nhận thức và hành động, NXB Thống kê, Hà Nội, 2000; Báo Nhân Dân ngày 11/7/2001: Kinh tế tri thức; GS.TS Nguyễn Kế Tuấn (chủ biên): Phát triển kinh tế tri thức đẩy nhanh quá

trình CNH, HĐH ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004; Tạp chí Cộng sản,ngày 7/5/2012:

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ môi trường trong thời kỳ quá

độ, http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/ …

Trang 8

sự trợ giúp của máy móc nhưng sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiênnhiên vẫn giữ trọng yếu, thì trong nền kinh tế tri thức, tri thức đóng vai tròquyết định hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.

Trên thực tế, không có một nền kinh tế nông nghiệp hay nền kinh tếcông nghiệp thuần túy Tức là trong nền kinh tế nông nghiệp cũng đã chứađựng một số yếu tố của nền kinh tế công nghiệp và trong nền kinh tế côngnghiệp cũng vẫn còn một số yếu tố của nền kinh tế nông nghiệp Trong nềnkinh tế nông nghiệp, tri thức chủ yếu là những kinh nghiệm được tích lũy từcác hoạt động thực tế, năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất đều hết sứcthấp kém So với nền kinh tế nông nghiệp, trong nền kinh tế công nghiệp, trithức đã chiếm vị trí ngày càng quan trọng hơn Nó không chỉ là kinh nghiệm

từ các hoạt động thực tế, mà còn khám phá ra những quy luật vận động của tựnhiên, xã hội và tư duy để đưa ra những sáng chế, phát minh nhằm tăng năngsuất, chất lượng và hiệu quả Trong nền kinh tế tri thức, tri thức là bộ phậnnguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất hiện đại,

mà trình độ phát triển của lực lượng sản xuất lại đóng vai trò quyết định sựphát triển xã hội

Nền kinh tế tri thức có các đặc điểm chủ yếu như sau:

- Tri thức là nguồn vốn vô hình to lớn, quan trọng trong đầu tư phát

triển, nền kinh tế dựa chủ yêu vào tri thức

- Sáng tạo là động lực của sự phát triển.

- Nền kinh tế có tính chất toàn cầu hóa, trong đó mạng thông tin trở

thành kết cấu hạ tầng quan trọng nhất của xã hội

- Sự di chuyển cơ cấu lao động theo hướng giảm số lao động trực tiếp

làm ra của cải, tăng số lao động xử lý thông tin, làm dịch vụ, di chuyển sảnphẩm và làm văn phòng

- Học suốt đời, đào tạo liên tục, giáo dục thường xuyên để không

ngừng phát triển tri thức, sáng tạo công nghệ mới, làm chủ công nghệ cao,

Trang 9

hoàn thiện các kỹ năng, thích nghi nhanh với sự phát triển là một yêu cầunghiêm ngặt; xã hội học tập là nền tảng của kinh tế tri thức.

- Tri thức hóa các quyết sách kinh tế.

- Khác với nền kinh tế công nghiệp, chủ thể là công nhân với các công

cụ cơ khí, cho năng suất lao động cao; còn nền kinh tế tri thức, chủ thể làcông nhân trí thức với công cụ là tạo ra tri thức, quảng bá tri thức và sử dụngtri thức

Như vậy, nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế tiếp nối nền kinh tế côngnghiệp, phát triển ở trình độ cao hơn nền kinh tế công nghiệp, là nền kinh tế mà

nhân loại đang hướng tới Có thể hiểu kinh tế tri thức là một nền kinh tế trong

đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống

2 BỐI CẢNH MỚI VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH CÔNGNGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRITHỨC Ở VIỆT NAM

2.1 Bối cảnh mới của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Việt Nam tiến hành CNH, HĐH trong bối cảnh mới của tình hình kinh

tế thế giới và trong nước

2.1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới

Bước vào thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới được phát triển theo hai xuhướng bao trùm là sự phát triển của kinh tế tri thức và toàn cầu hóa kinh tế

2.1.1.1 Sự phát triển của kinh tế tri thức

Phát triển kinh tế tri thức là xu hướng dựa trên trình độ rất cao của lựclượng sản xuất hơn hẳn so với kinh tế công nghiệp Theo xu hướng này, nềnkinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc và toàn diện cả về trình độ công nghệ,ngành sản xuất và cơ cấu sản phẩm Tri thức khoa học và công nghệ, kỹ năngcủa con người là những yếu tố quyết định nhất của sản xuất và trở thành lựclượng sản xuất quan trọng hàng đầu Những yếu tố đó trở thành nguyên nhân

Trang 10

trực tiếp của mọi biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội thông qua việc tạo ranhững ngành sản xuất mới với những công nghệ mới, phương pháp sản xuấtmới, những vật liệu và nguồn năng lượng mới với những ưu thế vượt trội sovới những công cụ, nguyên liệu, năng lượng và phương pháp truyền thống donền kinh tế công nghiệp tạo ra

Với xu hướng này, tuy vai trò của con người trong lực lượng sản xuấtkhông thay đổi, họ vẫn là chủ thể của quá trình sản xuất, sáng tạo và áp dụngnhững thành tựu mới của khoa học và công nghệ, nhưng tính chất hoạt động

và yêu cầu đặt ra đối với họ đã có sự thay đổi căn bản so với người lao độngtrong nền kinh tế nông nghiệp và nền kinh tế công nghiệp Trong nền kinh tếcông nghiệp, cường độ lao động của con người đã được giảm nhẹ đáng kểnhờ sự trợ giúp của máy móc, thiết bị ngày càng hiện đại, để sử dụng chúng

có hiệu quả, người lao động phải có sự hiểu biết về tính năng, tác dụng củamáy móc đó và về quá trình sản xuất nói chung Trong nền kinh tế tri thức,người lao động là người lao động trí óc, họ vừa nghiên cứu vừa sản xuất, sảnphẩm của họ là những phát minh được ứng dụng ngay vào sản xuất Tri thứckhoa học và công nghệ là yêu cầu hàng đầu đối với người lao động

Trên thực tế, xu hướng phát triển kinh tế tri thức đã được khởi độngcách đây hàng chục năm, nhất là từ cuối những năm 70 thế kỷ XX khi trên thếgiới bắt đầu diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Theo xuhướng này, đến nay bên cạnh những phát minh mới trong khoa học cơ bản, conngười đã đi rất xa trong việc sáng tạo ra các công cụ sản xuất mới (máy tínhđiện tử, máy tự động, hệ thống máy tự động, robot ), những năng lượng mới(nguyên tử, nhiệt hạch, mặt trời, thủy triều, gió…), vật liệu mới (pô-ly-me, vậtliệu tổ hợp composite, gốm cao cấp như siêu bền, siêu cứng, siêu dẫn…), côngnghệ sinh học (có những đột phá phi thường trong công nghệ di truyền tế bào,

vi sinh, enzim… góp phần giải quyết nạn đói, chữa bệnh), nông nghiệp (tạođược cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp: cơ khí hóa, điện khí hóa lai

Trang 11

tạo giống mới, không sâu bệnh, nhờ đó con người đã khắc phục được nạnđói), giao thông vận tải và thông tin liên lạc (máy bay siêu âm, tàu hỏa siêutốc, cáp sợi thủy tinh quang dẫn,… truyền hình trực tiếp, điện thoại di động,công nghệ chinh phục vũ trụ (vệ tinh nhân tạo, thám hiểm mặt trăng, du hành

vũ trụ…), công nghệ thông tin phát triển và bùng nổ mạnh trên toàn cầu,mạng thông tin máy tính toàn cầu (Internet) ứng dụng sâu rộng trong mọingành kinh tế và xã hội Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đạichính là bước quá độ chuyển nền kinh tế công nghiệp lên nền kinh tế tri thức

Xu hướng phát triển kinh tế tri thức đã và đang được diễn ra ngày càngmạnh mẽ ở các nước công nghiệp phát triển Do sức hấp dẫn đối với sự pháttriển kinh tế - xã hội của xu hướng này mà nó đã và đang cuốn hút ngày càngnhiều nước đang phát triển Đã có một số nước đang phát triển thành côngnhờ phát triển theo xu hướng này5

2.1.1.2 Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế

Toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng trong đó sự gia tăng mạnh mẽcác mối quan hệ kinh tế vượt ra biên giới quốc gia, vươn tới quy mô toàn cầu,tạo nên sự gắn kết các nền kinh tế thành một nền kinh tế thế giới thống nhất.Theo xu hướng này, nhân loại đang đẩy nhanh việc đi đến một thị trường thếgiới thống nhất, một hệ thống tài chính tín dụng toàn cầu, phát triển và mởrộng phân công lao động quốc tế theo chiều sâu, mở rộng giao lưu kinh tế vàkhoa học, công nghệ giữa các nước, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội cótính toàn cầu Với xu hướng này, thương mại quốc tế phát triển rất nhanh, đầu

tư nước ngoài tăng trưởng mạnh, thị trường tài chính quốc tế được mở rộng

và các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn6

5 Ví dụ: Cách đây 40 năm, Gana và Hàn Quốc có cùng mức thu nhập quốc dân theo đầu người Nhưng vào đầu những năm 1990, thu nhập bình quân theo đầu người của Hàn Quốc cao hơn thu nhập theo đầu người của Gana 6 lần Một số người cho rằng một nửa của sự khác nhau đó là do Hàn Quốc có sự thành công lớn hơn

trong việc thu nhập và sử dụng tri thức (Nguồn: WB, Báo cáo về tình hình phát triển thế giới: Tri thức cho

phát triển, NXB CTQG, Hà Nội, 1998, tr 37).

6 Theo thông tin thì trong vòng ba chục năm gần đây, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của thương mại quốc tế cao gấp khoảng 1,5-1,6 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu Nếu tốc độ tăng trưởng mậu dịch hàng năm của thế giới từ năm 1980 lại đây khoảng 5,5-5,6% thì tốc độ chu chuyển vốn quốc tế đạt 20% Chỉ riêng từ năm 1979 đến năm 2006, kim ngạch mậu dịch hai chiếu Mỹ - Trung Quốc tăng 144 lần

Trang 12

Hiện nay, bên cạnh Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một hìnhthức toàn cầu hóa kinh tế lớn nhất, trên thế giới còn có các tổ chức khác mangtính toàn cầu hóa và nhiều tổ chức kinh tế khu vực như NAFTA, EU,ASEAN, AFEC, MERCOSUR… và các tổ chức tiểu vùng như Hiệp hộithương mai tự do châu Âu, Tam giác tăng trưởng Singapore – Malaixia –Inđônêxia, Hành lang kinh tế Đông – Tây…

Xu hướng toàn cầu hóa đã và đang thúc đẩy sự phát triển lực lượng sảnxuất, đẩy nhanh đầu tư và khai thác triệt để khoa học, công nghệ, tăng cườnghợp tác của các nước theo hướng ngày càng toàn diện và nâng cao tốc độ tăngtrưởng kinh tế trên phạm vi toàn cầu Nó không chỉ tạo ra cơ hội mới cho pháttriển kinh tế của các nước mà còn đặt các nước, nhất là các nước đang pháttriển trước những thách thức cạnh tranh gay gắt Trong xu hướng này, có sựchuyển dịch căn bản lợi thế lợi thế phát triển: từ đất đai, tài nguyên (lợi thếtrong nền kinh tế nông nghiệp) và vốn tài chính (lợi thế quyết định của nềnkinh tế công nghiệp) chuyển sang trí tuệ của con người (lợi thế của nền kinh

tế tri thức) Việc sản xuất của mỗi quốc gia sẽ ngày càng chuyển mạnh theohướng trở thành một bộ phận trong cấu trúc mạng toàn cầu

Bối cảnh của kinh tế thế giới đã và đang làm xuất hiện những cơ hộimới và thời cơ mới cho sự phát triển nhảy vọt của nước đi sau, tiến hànhCNH muộn như Việt Nam

2.1.2 Bối cảnh kinh tế trong nước

Quá trình CNH ở nước ta được thực hiện từ đầu những năm 60 của thế

kỷ XX Hơn 50 năm qua, đường lối CNH đất nước đã có những điều chỉnhkhá cơ bản theo sự phát triển của tư duy và điều kiện cụ thể

Thời kỳ từ năm 1960 đến năm 1985 là thời kỳ CNH được thực hiệnnhằm phục vụ cho nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Quá trình CNH đượcthực hiện có kết quả ở miền Bắc vào những năm đầu của kế hoạch 5 năm lầnthứ nhất (1960-1965) Sau khi đất nước được thống nhất, đường lối, chínhsách CNH đó được thực hiện trên phạm vi cả nước với những điều chỉnh và

Trang 13

bổ sung nhất định Song, do việc duy trì khá lâu cơ chế kế hoạch hóa tậptrung trong khi bối cảnh kinh tế trong nước và trên thế giới đã thay đổi, nênnước ta đã lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm 80.

Từ năm 1986 đến nay là thời kỳ thực hiện đổi mới toàn diện và đồng bộ

cả về tư duy, quan điểm đường lối và tổ chức chỉ đạo thực hiện Đường lốiCNH đã có những điều chỉnh và bổ sung quan trọng Năm 1994, tại Hội nghịđại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã đề ra đường lối đẩytới một bước CNH, HĐH Năm 1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIIIcủa Đảng đề ra đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Từ sau Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001) đến nay, đường lối đẩy mạnhCNH, HĐH được gắn với phát triển kinh tế tri thức

Quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam thời gian qua đã đạt được nhữngthành tựu rất quan trọng Nổi bật là trình độ công nghệ của một số lĩnh vựcđược nâng cao theo kịp trình độ của của các nước trong cùng khu vực Đãphát triển một số ngành công nghiệp chất lượng cao (công nghệ thông tin vàtruyền thông, điện tử ) Trình độ công nghệ trong các ngành công nghiệp đã

có những tiến bộ vượt bậc, điển hình như trong cơ khí chế tạo máy, đã làmchủ được các công nghệ CAD, CAM, CNC trong thiết kế chế tạo các loại máycông cụ như máy phay CNC, máy tiện… đa chức năng tiêu thụ trong nước vàbước đầu xuất khẩu; ngành đóng tàu sau 15 năm đã rút ngắn khoảng cách lạchậu so với thế giới từ 70 – 80 năm còn 20 – 30 năm, hiện được đánh giá xếpthứ 5 thế giới về năng lực đóng mới Cả nước đã có 286 khu công nghiệp, khuchế xuất được thành lập đóng vai trò quan trọng và có tác động lan tỏa trongphát triển công nghiệp của các vùng, miền, địa phương Trong nông nghiệp,nhờ đưa vào áp dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, năngsuất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi đã tăng lên Đã hình thành cácvùng chuyên canh lúa gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, thủy sản, rừng nguyênliệu Từ một nước phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực, đến nay Việt

Trang 14

Nam đã có một số hàng nông sản xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới (xuấtkhẩu hạt điều xếp thứ nhất thế giới; xuất khẩu gạo, cà phê xếp thứ hai; hạttiêu, chè xếp thứ năm; thủy sản xếp thứ mười) Ngành dịch vụ được phát triển

đa dạng, tăng khá nhanh về quy mô, ngành nghề và thị trường với sự tham giamạnh mẽ của các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế

Nhờ đó, từ khi chuyển sang thực hiện CNH, HĐH đến nay, nước ta đãđạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các giai đoạn trước đó và được xếp vàonhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm cao nhấtthế giới Theo chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, năm 2009 Việt Nam đãvượt qua ngưỡng nghèo để tham gia vào nhóm các nước thu nhập trung bình;thành tựu xóa đói, giảm nghèo được thế giới thừa nhận là ấn tượng…7

Tuy nhiên, trước yêu cầu phấn đấu đến năm 2020 trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại, quá trình CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tếtri thức ở nước ta vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức Đó là,tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp và chưa bền vững Tăng trưởngkinh tế vẫn dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên và sử dụng nhiều laođộng, ít kỹ năng, chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học và công nghệ Chỉ sốkinh tế tri thức còn rất thấp, chưa đạt được điểm trung bình Theo phươngpháp đánh giá do Viện nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra, thìChỉ số kinh tế tri thức của Việt Nam năm 2008 là 3,02, xếp thứ 102 trong số

133 quốc gia được phân tích Chỉ số này của Việt Nam tuy cao hơn của nhómthu nhập thấp nhưng thấp hơn nhiều so với chỉ số của nhóm nước thu nhậptrung bình thấp (4,1) So với các nước trong cùng khu vực, chỉ số kinh tế trithức của nước ta chưa bằng 1/2 chỉ số đạt được của nhóm nền kinh tế côngnghiệp mới (NIEs gồm Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông), thấphơn khá nhiều so với Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc và Philippines Năngsuất lao động của Việt Nam tuy đã có chiều hướng tăng (tốc độ tăng năng suất

7 http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=20282&print=true, 22/2/2013.

Trang 15

bình quân giai đoạn 2001 - 2010 đạt khoảng 4,8%/năm), nhưng vẫn còn thấphơn so với năng suất lao động của Trung Quốc khoảng 2,6 lần và Thái Lan4,3 lần8 Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của nềnkinh tế còn thấp do chi phí sản xuất của nhiều sản phẩm còn ở mức cao Cơcấu nền kinh tế chuyển dịch chậm và thiếu vững chắc; tính hiện đại còn thấp,chưa đáp ứng được yêu cầu Hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất vừathiếu, vừa yếu và kém hiệu quả Sự chuyển dịch cơ cấu lao động còn mangnặng tính tự phát, chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng hiệu quả Việc sử dụng nguồn lực của nền kinh tế chưa có hiệu quả,còn nhiều lãng phí Mức sống của người dân ở nhiều nơi còn khó khăn.

2.2 Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

CNH là con đường thiết yếu mà mọi quốc gia đều phải trải qua để đi tớimột xã hội hiện đại

CNH, HĐH của Việt Nam được tiến hành bối cảnh xu hướng trên thếgiới đang chuyển mạnh lên nền kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóa kinh

tế đã và đang tác động sâu sắc với tốc độ cao đến đời sống kinh tế - xã hội củamọi quốc gia, trong khi đó Việt Nam vẫn trong tình trạng của một nước cóđiểm xuất phát thấp, nhiều yếu tố lạc hậu, phát triển thiếu bền vững Trongbối cảnh nhiều cơ hội và thách thức đan xen, để đi tới một nền kinh tế hiệnđại, Việt Nam phải có những giải pháp bứt phá Sự lựa chọn giải pháp đẩymạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là cấp thiết

2.2.1 Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là cách thức để đất nước sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu

Trong những năm qua, tuy đã có những bước phát triển tích cực,nhưng về cơ bản, nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nước nghèo và kémphát triển Chúng ta vẫn phải đương đầu với những thách thức gay gắt và

8 Ngọc Tuyên, Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam còn nhiều trở ngại,

http://laodong.com.vn/Kinh-doanh/ /32621, Thứ năm 24/02/2011.

Trang 16

những nhiệm vụ nan giải: một mặt, tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản đặt

ra cho nền kinh tế trong quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên trình độcủa nền kinh tế công nghiệp, như bảo đảm lương thực, thực phẩm, nhu cầunước sạch, trường học, đi lại cho người dân; mặt khác, phải nhanh chóng nắmbắt các xu thế phát triển hiện đại không những chỉ để chống tụt hậu ngày càng

xa hơn so với trình độ chung của thế giới, mà còn phải thu hẹp khoảng cáchvới các nước phát triển khi bản thân họ đã·có trình độ phát triển cao hơn Khicác yếu tố cho phát triển không chỉ đơn thuần là vốn, lao động, tài nguyênthiên nhiên, mà còn có thêm yếu tố tri thức với ý nghĩa là yếu tố quan trọng

và trực tiếp đối với quá trình phát triển, thì việc không nhanh chóng nắm bắt

và vận dụng được tri thức mới sẽ không thể tránh khỏi sự tụt hậu tuyệt đối sovới các nước khác Tri thức đã trở thành yếu tố của lực lượng sản xuất trựctiếp và có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội Trong điềukiện đó, nước ta không thể bỏ lỡ cơ hội, mà phải tìm giải pháp bứt phá, tức làphải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức

Là một nước đang phát triển vừa mới nằm trong nhóm nước có thunhập trung bình (nhưng mới chỉ là mức trung bình thấp) lại đặt trong xu thế

mở cửa, hội nhập, việc gắn CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức ngaytrong quá trình chuyển nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp làmột thách thức rất lớn đối với nước ta Điều này xuất phát từ thực tiễn củamột nước đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế so vớicác nước trong khu vực và trình độ phát triển chung của thế giới Đây cũng làyêu cầu cấp thiết, bắt buộc phải giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ: phát triển

để vượt khỏi sự lạc hậu và chuyển sang phát triển kinh tế tri thức

2.2.2 Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là yêu cầu bắt buộc để tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội

Lịch sử đã chứng minh, mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng dựatrên một cơ sở vật chất – kỹ thuật nhất định để tồn tại và phát triển Nó bao

Trang 17

gồm toàn bộ các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất tương ứng với trình độ

kỹ thuật, công nghệ nhất định; dựa vào đó lực lượng lao động của xã hội tiếnhành sản xuất của cải Một trình độ nhất định của cơ sở vật chất – kỹ thuật lànội dung kinh tế, là “cốt vật chất” có ý nghĩa xác định một thời đại kinh tế,phân biệt với phương thức sản xuất chứa đựng nó thuộc loại hình kinh tế - xãhội lịch sử nào

Thực tế đã chứng minh, các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tưbản đều đã dựa trên cơ sở vật chất – kỹ thuật với công cụ lao động thủ công,lạc hậu, năng suất thấp Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sở dĩ chiếnthắng phương thức sản xuất phong kiến vì nó tạo ra nền đại công nghiệp để cónăng suất lao động cao “chưa từng có dưới chế độ nông nô” Do vậy, phươngthức sản xuất xã hội chủ nghĩa tất yếu phải phát triển dựa trên cơ sở vật chất –

kỹ thuật ở trình độ cao hơn chủ nghĩa tư bản

Cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp lớnhiện đại với cơ cấu kinh tế hợp lý, trình độ xã hội hóa cao, dựa trên nền tảngkhoa học và công nghệ tiên tiến, được hình thành có kế hoạch trên toàn bộnền kinh tế quốc dân Nó không chỉ kế thừa những thành quả văn minh mànhân loại đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản, mà còn được phát triển và hoànthiện trên cơ sở những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, thamgia tích cực và có hiệu quả vào phân công lao động và hợp tác quốc tế

Đối với các nước đã qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, bướcvào xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc xác lập cở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa

xã hội được tiến hành thống qua kế thừa, điều chỉnh và hoàn thiện cơ sở vật chất– kỹ thuật đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản theo yêu cầu của chế độ mới vàphát triển nó lên trình độ cao hơn Đối với các nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội

từ điểm xuất phát thấp, ở giai đoạn đầu hoặc không qua giai đoạn phát triển củachủ nghĩa tư bản, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xãhội càng trở nên cấp thiết hơn

Trang 18

Theo V.I Lênin, “Cơ sở vật chất duy nhất và thực sự để làm tăng củacải của chúng ta, để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có thể là đại côngnghiệp Không có một nền đại công nghiệp tổ chức cao thì không thể nói đếnchủ nghĩa xã hội được, mà lại càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội ở mộtnước nông nghiệp được”9.

Tạo lập cơ sở vật chất – kỹ thuật để xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực

là đòi hỏi có tính bắt buộc đối với tất cả các nước muốn quá độ lên chủ nghĩa xãhội10 Điều này càng trở nên cấp thiết đối với một nước có điểm xuất phát thấpnhư Việt Nam Con đường cơ bản để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủnghĩa xã hội ở nước ta trong bối cảnh hiện nay tất yếu phải là đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức

Cần nhấn mạnh rằng, xu hướng phát triển kinh tế tri thức đã và đang làthách thức và cơ hội lớn đối với nước ta trên con đường xây dựng cơ sở vậtchất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Nếu không kịp thời nắm bắt thời cơ, dựavào kinh tế tri thức để đẩy nhanh CNH, HĐH thì nước ta sẽ tụt hậu ngày càng

xa hơn Phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức đểnhanh chóng đuổi kịp các nước, thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xãhội Đó là yêu cầu cấp bách, là sự chuyển hướng chiến lược trọng đại Đâychính là cơ hội lịch sử hiếm hoi mà thời đại đã tạo ra

2.2.3 Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức bắt nguồn từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn

Nước ta hiện đang tiến hành công cuộc đổi mới, trong đó xây dựng mộtnền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung

có tầm chiến lược Vì tham gia vào nền kinh tế thế giới trong xu hướng toàncầu hóa là những quốc gia có chủ quyền, nên muốn thực hiện nội dung này,đòi hỏi chúng ta phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phải hội nhập sâu

9 V.I.Lênin: Toàn tập, Tập 32, NXB Sự thật, Hà Nội, 1970, tr 528-529.

10 Xem: V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 41, NXB Tiến Bộ, Matxcơva, 1978, tr 218.

Ngày đăng: 02/04/2015, 09:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác và Ph, Ăngghen, Toàn tập, Tập 23, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 269, 568, 630-635 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
2. V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 32, NXB Tiến bộ, M. 1978, tr 528-529, 531-532 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: NXB Tiến bộ
3. V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 36, NXB Tiến bộ, M. 1977, tr 209-228, 278-281, 367-372 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: NXB Tiến bộ
4. V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 41, NXB Tiến bộ, M. 1978, tr 207-202, 256-296, 364-366, 426-436 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: NXB Tiến bộ
5. V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 42, NXB Tiến bộ, M. 1978, tr 191-198, 241-243, 376-394 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: NXB Tiến bộ

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w