1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO TRÌNH MÔN KINH TẾ VÀ TÀI CHÍNH CÔNG

169 178 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những chính sách, cương lĩnh này nhằm kêu gọi thương nhân tận dụng ngoạithương, buôn bán để cướp bóc thuộc địa và nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sảnđang hình thành Một số đại diện:

Trang 1

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Chính phủ trong nền kinh tế thị trường

1.1.1 Những quan điểm khác nhau về vai trò của Chính phủ

Năm 1030 trước công nguyên, qua nhiều thập niên, những người Do thái đã sống

mà không có chính quyền trung ương Kinh thánh đã ghi lại: người ta yêu cầu nhà tiêntri Samuel rằng: hãy ban cho chúng tôi một nhà vua để phán xử tất cả chúng tôi nhưnhững dân tộc khác” Samuel đã cố ngăn những người Do thái bằng việc hình dung racuộc sống của hộ dưới chế độ quân chủ như sau:

“ Đây sẽ là lề lối làm việc của 1 ông vua, người sẽ ngự trị tất cả các bạn, ông ta sẽcướp đi những đứa con trai của bạn và triệu tập chúng đến bên ông ta để đánh trận và

để làm kỵ sỹ cho ông ta Ông ta sẽ bắt đi những đứa con gái của các bạn để trở thànhnhững người làm nước hoa, nấu ăn và làm bánh Ông ta sẽ lấy đi nhiều thửa ruộng củacác bạn, những vườn nho, vườn oliu, và lấy đi những gì tốt nhất của các bạn để phục

vụ ông ta Ông ta sẽ lấy đi 1/10 những bông sợi của bạn và các bạn sẽ trở thành ngườihầu cho ông ta Đến lúc đó các bạn sẽ khóc vì vị vua này, người mà bạn sẽ phải lựachọn”

Tuy viễn cảnh chán chường thế nhưng những người Do Thái vẫn không nản lòng:mọi người từ chối lắng nghe lời nói của Samuel và họ nói: Không, sẽ có một vị vuacủa chúng tôi, và như vậy chúng tôi sẽ giống tất cả các quốc gia khác, vị vua đó sẽphán xét tất cả chúng tôi, đi trước chúng tôi và chiến đầu vì chúng tôi

Tình tiết này trong kinh thánh đã diễn tat những mâu thuẫn cũ xưa trong tư tưởng

về Chính phủ Chính phủ là cần thiết Xét cho cùng mọi quốc gia phải có nó, nhưngđồng thời nó vẫn có những khía cạnh phiền phức Những cảm nghỉ này về Chính phủgắn chặt với những hoạt động thu thuế và chi tiêu Chính phủ Nhà vua sẽ phân phối tất

cả các thứ mà con người cần nhưng chỉ khi họ trả giá Nguồn thu cho tất cả nhữngkhoản chi tiêu của Chính phủ cuối cùng cũng từ khu vực tư nhân Vậy, Chính phủ làai? Chính phủ có chức năng gì trong nền kinh tế và ai trao cho Chính phủ những chứcnăng như vậy?

Chính phủ là một tổ chức được thiết lập để thực thi những quyền lực nhất định, điều tiết hành vi của các cá nhân trong xã hội nhằm phục vụ lợi ích chung của xã hội

đó và tài trợ cho việc cung cấp những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu mà xã hội đó có nhu cầu.

Nhiều thế kỷ trôi qua, những suy nghĩ pha trộn về Chính phủ vẫn tồn tại và hầu hết

là những tranh luận xoay quanh các biểu hiện hoạt động tài chính của Chính phủ - làđối tượng của môn học

Vào thế kỷ 18, quan điểm nổi bật thống trị lúc đó là quan điểm của trường pháitrọng thương Trường phái trọng thương ra đời khoảng những năm 1450, thịnh hành vàphát triển tới những năm 1650 Đây là trường phái kinh tế ra đời trong thời kỳ tan rã

Trang 2

của phương thức sản xuất phong kiến, chuyển từ kinh tế hàng hóa giản đơn sang kinh

tế thị trường Thời kỳ này, sản xuất chưa phát triển, tích lũy của cải được thực hiệnthông qua hoạt động thương mại, mua bán và trao đổi Với sự khám phá ra châu Mỹ,làn sóng du thương phát triển mạnh mẽ để chuyển vàng từ châu Mỹ về châu Âu Điềunày chứng tỏ vai trò quan trọng của hoạt động thương mại

Chủ nghĩa trọng thương là những chính sách cương lĩnh của giai cấp tư sản (tầnglớp tư sản thương nghiệp Châu Âu trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tưbản Những chính sách, cương lĩnh này nhằm kêu gọi thương nhân tận dụng ngoạithương, buôn bán để cướp bóc thuộc địa và nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sảnđang hình thành

Một số đại diện: Các nhà kinh tế học như Thomas Mun (1571-1641) người Anh,Antoine Montchretien (1575-1629) và Jean Batiste Colbert (1618-1683) người Pháp.Những tư tưởng kinh tế chủ yếu của trường phái trọng thương:

Thứ nhất, họ đánh giá cao vai trò của tiền tệ, coi tiền tệ (vàng bạc) là tiêu chuẩn cơbản của của cải Theo họ “một xã hội giàu có là có được nhiều tiền”, “sự giầu có tíchluỹ được dưới hình thái tiền tệ là sự giàu có muôn đời vĩnh viễn” Tiền là tiêu chuẩncăn bản của của cải, đồng nhất tiền với của cải và sự giàu có, là tài sản thực sự của mộtquốc gia Quốc gia càng nhiều tiền thì càng giàu, hàng hoá chỉ là phương tiện làm tăngkhối lượng tiền tệ Tiền để đánh giá tính hữu ích của mọi hình thức hoạt động nghềnghiệp

Thứ hai, để có tích luỹ tiền tệ phải thông qua hoạt động thương mại, mà trước hết

là ngoại thương, họ cho rằng: “nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máybơm”, “muốn tăng của cải phải có ngoại thương dẫn của cải qua nội thương” Từ đóđối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa trọng thương là lĩnh vực lưu thông, mua bán traođổi

Thứ ba, họ cho rằng, lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông buôn bán, trao đổi sinh ra

Do đó chỉ có thể làm giàu thông qua con đường ngoại thương, bằng cách hy sinh lợiích của dân tộc khác (mua rẻ, bán đắt)

Thứ tư, Chủ nghĩa trọng thương rất đề cao vai trò của nhà nước, sử dụng quyềnlực nhà nước để phát triển kinh tế vì tích luỹ tiền tệ chỉ thực hiện được nhờ sự giúp đỡcủa nhà nước Họ đòi hỏi nhà nước phải tham gia tích cực vào đời sống kinh tế để thuhút tiền tệ về nước mình càng nhiều càng tốt, tiền ra khỏi nước mình càng ít càng pháttriển

Đối lập với các quan điểm trên, các đại biểu Cổ điển không phủ nhận sự tồn tạikhách quan của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, họ chỉ chống lại sự can thiệpsâu, cứng nhắc, quá mức của nhà nước (sản phẩm của tư tưởng Trọng thương) TheoA.Smith, người được coi là sáng lập viên của kinh tế học hiện đại đã viết cuốn sách

“sự giầu có của các quốc gia” Trong cuốn sách ông đã lập luận rằng: mỗi cá nhân

Trang 3

phục vụ luôn cho lợi ích của xã hội Động cơ lợi nhuận sẽ khiến người này cung ứnghang hóa cho người khác Còn cạnh tranh đảm bảo rằng chỉ có hàng hóa nào đáp ứngđúng nhu cầu của xã hội với chất lượng cao và giá thành rẻ mới có thể tồn tại Đóchính là hiệu quả hoạt độn của “Bàn tay vô hình” Lúc này, nhà nước chỉ cần thực hiệnđược 3 chức năng cơ bản: bảo đảm môi trường hoà bình, không để xảy ra nội chiến,ngoại xâm; tạo ra môi trường thể chế cho phát triển kinh tế thông qua hệ thống phápluật; và cung cấp hàng hoá công cộng Ngoài ba chức năng cơ bản đó, tất cả các vấn đềcòn lại đều có thể được giải quyết một cách ổn thoả và nhịp nhàng bởi “bàn tay vôhình.”

Tư tưởng về “bàn tay vô hình” đã thống trị trong các học thuyết kinh tế phươngTây đến đầu thế kỷ XX trong các trào lưu của học thuyết Tân cổ điển trường phái Tân

cổ điển không xem xét vai trò của nhà nước một cách biệt lập mà đặt nó trong một hệthống lý thuyết chung Họ đưa ra một quan niệm tổng quát về nền kinh tế thị trường để

từ đó đánh giá vai trò của nhà nước, phân biệt rõ chỗ nào để thị trường hoạt động, chỗnào cần nhà nước can thiệp

Những ý tưởng của Adam Smith có sức mạnh chi phối đối với cả các chính phủ lẫnnhững nhà kinh tế Nhiều nhà kinh tế học quan trọng nhất đầu thế kỷ 19, như JohnStuart Mill, và Nassau Senior, người Anh, đã đưa ra một thuyết gọi là Laisez Faire ( đểmặc cho tư nhân kinh doanh) Thuyết này cho rằng chính phủ nên để cho khu vực tưnhân hoạt động; chính phủ không nên điều hành hay kiểm soát các doanh nghiệp tưnhân Cạnh tranh tự do sẽ phục vụ cho những lợi ích tốt nhất của xã hội

Theo phái Tân cổ điển, nền kinh tế thị trường là một hệ thống mang tính ổn định,

mà sự ổn định bên trong là thuộc tính vốn có chứ không phải là kết quả sự sắp đặt củanhà nước Khả năng đó được quyết định bởi một cơ chế đặc biệt - “cơ chế cạnh tranh

tự do.” Cạnh tranh tự do thường xuyên bảo đảm sự cân bằng chung của nền kinh tế.Chính cơ chế này cho phép phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý, tận dụng triệt đểmọi nguồn lực và dẫn đến quan hệ phân phối mang tính công bằng giữa các bộ phận

xã hội Công bằng ở đây theo nghĩa, những bộ phận nào có khả năng thích ứng tốt nhấtvới những diễn biến và những nhu cầu thị trường thì sẽ có thu nhập và thu nhập chínhđáng Nếu như trên thực tế xảy ra những hiện tượng không bình thường thì phải tìmnguyên nhân của những hiện tượng đó từ chính sách can thiệp của nhà nước

Theo quan niệm phổ biến của phái Tân cổ điển, để lựa chọn được cách can thiệphợp lý, nhà nước phải hiểu được cấu trúc của nền kinh tế thị trường, cơ chế vận hànhcủa nó và tôn trọng những quy luật khách quan liên quan đến cung - cầu Muốn xácđịnh chính xác ngưỡng can thiệp thì phải hiểu những nhân tố ảnh hưởng tới cung - cầu

và những điều kiện cho sự cân bằng cung và cầu Cũng theo các nhà kinh tế Tân cổđiển, cạnh tranh tự do không bao giờ nảy sinh một cách tự nhiên, nó chỉ xuất hiện vàphát huy tác dụng khi được đảm bảo bởi nguyên tắc số một: sở hữu tư nhân Đây là cơ

sở để nền kinh tế thị trường thích ứng với mọi sự thay đổi của giá cả Chính chế độ sởhữu tư nhân là nhân tố cơ bản làm cho nền kinh tế thị trường luôn khôi phục được sự

Trang 4

cân bằng chung Do vậy, khi nhà nước thu hẹp không gian kinh tế của khu vực tư nhânchắc chắn dẫn tới sự bất ổn Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, quyền tự do kinhdoanh của các nhà sản xuất và quyền tự do lựa chọn của người tiêu dùng là những lựclượng chế ngự, chi phối; chế độ tư hữu là cơ sở bảo đảm cho sự hòa hợp tự nhiên, dovậy không cần sự điều chỉnh nào của chính phủ hay các cơ quan điều tiết khác.

Với những quan niệm trên đây, trường phái Tân cổ điển khuyến nghị nhà nước nêndừng ở những chức năng chính là: 1- Duy trì ổn định chính trị; 2- Tạo môi trường phápluật ổn định và chính sách thuế khóa hợp lý, khuyến khích người tiêu dùng; 3- Sửdụng hợp lý ngân sách quốc gia, hướng chi tiêu ngân sách cho mục tiêu phát triển kinh

tế như đào tạo nhân lực, nghiên cứu cơ bản để đổi mới công nghệ, hỗ trợ cho nhữngngành sản xuất có triển vọng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Ngoài nhữngchức năng cơ bản đó, nhà nước không nên can thiệp gì thêm, hãy để cho giới kinhdoanh và người tiêu dùng quyết định những vấn đề còn lại

Tuy nhiên, trước diễn biến và hậu quả của cuộc Đại suy thoái 1929 - 1933, nhữngcâu hỏi và nghi ngờ về vai trò của “bàn tay vô hình,” về khả năng có tính vô hạn trongviệc tự điều tiết của các quan hệ thị trường đã nảy sinh Keynes2 cho rằng, cần phải tổchức lại toàn bộ hệ thống kinh tế TBCN theo nguyên tắc lý thuyết mới Chính ông đãlàm một cuộc cách mạng về lý thuyết kinh tế trong đó nhấn mạnh vai trò của “bàn tayhữu hình” điều tiết nền kinh tế Từ những nguyên lý gốc của Keynes, giữa thế kỷ XXtrở đi đã xuất hiện trường phái Keynes và khuynh hướng “Hậu Keynes.”

So sánh cách nhìn của Keynes và cách nhìn của Tân cổ điển, có thể thấy sự khácnhau căn bản trong quan niệm về vai trò của nhà nước Nếu Tân cổ điển cho rằng nhànước không nên điều tiết trực tiếp mà chỉ dừng lại ở chức năng tạo môi trường thìKeynes khẳng định, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp và suy thoái, nhà nướcphải trực tiếp điều tiết kinh tế Cách thức điều tiết là thông qua những chương trìnhcông cộng và dùng những chương trình này để can thiệp tích cực với hướng kích thích

và duy trì tốc độ gia tăng ổn định của tổng cầu

Khi tổng cầu tăng sẽ kích thích sức sản xuất, các doanh nghiệp hoạt động mở rộng

sẽ thu nhận thêm nhân công, thất nghiệp được giải quyết và sản lượng quốc gia tănglên Để minh họa cho điểm này, Keynes đưa ra cách lập luận mới về đầu tư khác hẳnvới trường phái Tân cổ điển Theo các nhà kinh tế Tân cổ điển, mức đầu tư gắn chặtvới lãi suất và nếu lãi suất thấp, quan hệ vay vốn được khuyến khích dẫn đến sự giatăng quy mô đầu tư Khi nền kinh tế bắt đầu rơi vào tình trạng suy thoái, lãi suất sẽgiảm và do đó dẫn đến mức đầu tư tăng lên Trường phái Tân cổ điển cho rằng đây làquy luật tự điều tiết và chính quy luật đó giúp tạo khả năng ngăn chặn suy thoái.Ngược lại, theo Keynes, ở thời điểm suy thoái, ngay cả những nhà đầu tư mạo hiểmnhất cũng không dám đầu tư kể cả khi lãi suất thấp vì họ cho rằng bỏ vốn vào kinhdoanh trong bối cảnh như vậy chắc chắn sẽ thua lỗ Như vậy không có một cơ chế tựhành nào có thể thúc đẩy nền kinh tế tư bản đến khả năng sử dụng hết nguồn nhân lực

và làm cho hoạt động đầu tư tăng lên một cách đều đặn Do vậy, để ổn định nền kinh

Trang 5

tế và thích ứng với biến động suy thoái thì giải pháp tất yếu và cần thiết là sự can thiệpcủa chính phủ.

Chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế thông qua công cụ chính sách tài khóa,bao gồm thuế và chi tiêu ngân sách Keynes nhấn mạnh vấn đề chi ngân sách và chorằng chính phủ nên cung ứng những kích thích ban đầu bằng những chương trình kinh

tế công cộng Những chương trình kinh tế công cộng đó, một mặt tạo ra việc làm, mặtkhác dẫn đến tăng cầu về tư liệu sản xuất Nó còn có thể dẫn đến sự xuất hiện củanhững hình thức hoạt động dịch vụ thu hút khối lượng lao động lớn, làm tăng hơn nữa

số lượng việc làm Nhu cầu tiêu dùng của cá nhân có khả năng thanh toán tăng tạo lựcđẩy kích thích khu vực kinh tế tư nhân phát triển, khôi phục niềm tin kinh doanh Cáchthức can thiệp của chính phủ như vậy sẽ dẫn đến hiệu ứng số nhân cho nền kinh tế.Theo một hướng khác, nhà nước có thể kích thích cầu đầu tư bằng cách tăng sốcung về tiền tệ, hay là chấp nhận lạm phát “có kiểm soát.” Để làm tăng cung tiền tệ,chính phủ có thể tăng nguồn vốn cho vay, giảm lãi suất và do đó kích thích sự gia tăngcủa đầu tư Sự gia tăng này cũng nhân bội sản lượng và thu nhập của nền kinh tế quốcdân Theo Keynes, trong hai vấn nạn của nền kinh tế tư bản là lạm phát và thất nghiệpthì thất nghiệp nguy hiểm hơn nhiều lần so với lạm phát Khi nền kinh tế đạt trạng tháicân bằng với mức sản lượng và việc làm cao hơn thì lạm phát tự động ngừng lại

Để tác động đến tiêu dùng của dân cư, Keynes cho rằng sự điều tiết của chính phủcũng rất quan trọng Muốn kích thích nhu cầu tiêu dùng trước hết phải điều chỉnhchính sách thuế theo hướng giảm thuế thu nhập, kết hợp với các biện pháp kích thíchđầu tư Khi thuế giảm, thu nhập sẽ tăng nên tiêu dùng và tiết kiệm cũng tăng Nếu đầu

tư cùng tăng với tiết kiệm, kết quả tổng hợp lại là gia tăng mức tổng cầu, làm thu nhậpquốc dân tăng

Từ cách lập luận của Keynes có thể nhận định rằng, nền kinh tế thị trường không

có khả năng tự điều tiết tuyệt đối và vô hạn Do vậy, để thúc đẩy sự tăng trưởng đềuđặn, nhà nước phải trực tiếp can thiệp và điều tiết Keynes đề xuất phải tổ chức lại nềnkinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa theo một nguyên tắc gọi là: “Chủ nghĩa tư bản cóđiều chỉnh.”

Dựa trên cơ sở lý thuyết của Keynes, các nhà kinh tế học tiếp tục xây dựng thànhtrường phái Keynes Trường phái này phát triển các lý thuyết Keynes trong điều kiệnmới trên cơ sở thừa nhận các nguyên nhân của khủng hoảng, thất nghiệp, tác động củatiêu dùng, đầu tư tư nhân đến tổng cầu và tiếp tục ủng hộ sự can thiệp của nhà nướcvào kinh tế thông qua các chính sách khuyến khích đầu tư, tiêu dùng Trường pháiKeynes đã phát triển việc phân tích nền kinh tế từ trạng thái tĩnh, ngắn hạn sang phântích động, dài hạn; đưa ra các lý thuyết giao động kinh tế và tăng trưởng kinh tế, cụ thểhóa các chính sách kinh tế và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh nền kinh tế TBCN

Trào lưu chính sau Keynes thể hiện sự dung hòa hai khuynh hướng: tuyệt đối hóa

vai trò của Nhà nước mà xem nhẹ vai trò của cơ chế tự điều chỉnh của trường pháiKeynes và khuynh hướng chỉ chấp nhận vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước trongmột phạm vi hạn chế của chủ nghĩa tự do mới Đại biểu cho trào lưu này là P.A.Samuelson7 với quan điểm về nền kinh tế hỗn hợp Samuelson cho rằng, “điều hành

Trang 6

một nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trường thì cũng như định vỗ tay bằng mộtbàn tay.” Để đảm bảo được ba tiêu chí cơ bản của nền kinh tế: hiệu quả, công bằng và

ổn định, cách tốt nhất là phải áp dụng mô hình kinh tế hỗn hợp trong đó cơ chế thịtrường xác định giá cả và sản lượng, nhất là đối với các lĩnh vực quan trọng, còn chínhphủ điều tiết thị trường bằng những chương trình thuế, các hoạt động chi tiêu và luật

lệ Cả hai bên: chính phủ và thị trường đều có tính thiết yếu, nhưng phải xác định thật

rõ ranh giới, ở đâu, lĩnh vực nào thì để thị trường điều tiết còn ở đâu, lĩnh vực nào thìchính phủ phải điều tiết Tuy nhiên, trên thực tế, điều khó khăn nhất đối với điều hànhkinh tế của các chính phủ là xác định được ranh giới này

Cho đến nay, mặc dù đã tồn tại nhiều dạng thức kinh tế thị trường khác nhau nhưngtrên thực tế chưa bao giờ tồn tại kiểu kinh tế thị trường hoàn toàn không có nhà nước,thoát ly khỏi nhà nước như những người theo chủ nghĩa tự do cực đoan vẫn thường cổ

vũ Đánh giá một cách khách quan, nhà nước luôn là một bộ phận hữu cơ nằm trongcấu trúc tổng thể của kinh tế thị trường Sự tồn tại của nhà nước trong cấu trúc đó làmột tất yếu kinh tế, tất yếu lịch sử, ở đó, nhà nước vừa có thể là một chủ thể sở hữu,bên cạnh những chủ thể sở hữu khác, đồng thời là một chủ thể quản lý Sự khác biệtgiữa các giai đoạn lịch sử và các quốc gia chỉ ở chỗ tính chất của nhà nước như thếnào, cách thức can thiệp, quản lý điều tiết và hệ quả của sự can thiệp này ra sao đối vớinền kinh tế Tất cả các trường phái kinh tế lớn trong lịch sử học thuyết kinh tế đều đềcập đến vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, cách tiếp cận vàquan điểm lý thuyết cụ thể của mỗi trường phái là khác nhau, do những nhân tố khácnhau quy định Những nhân tố này có thể là đặc điểm của kinh tế thị trường ở từnggiai đoạn lịch sử, có thể là những biến cố kinh tế lớn trong từng giai đoạn, hoặc do sựkhác biệt về động cơ lợi ích giai cấp đứng sau các quan điểm lý thuyết Từ việc hệthống hóa quan niệm của các trường phái về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thịtrường có thể thấy, không một cách tiếp cận nào mang tính vạn năng, có thể giải đápđược tất cả các tình huống khác nhau của nền kinh tế Do vậy, tác động thúc đẩy haykìm hãm sự phát triển kinh tế thị trường của mỗi cách tiếp cận đều có những giới hạnnhất định

1.1.2 Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế

Khu vực công cộng và khu vực tư nhân có những chức năng khác nhau trong nềnkinh tế Tuy nhiên hoạt động của chúng lại có sự tác động qua lại với nhau và cùngliên kết với nhau trong một quá trình kinh tế chung Để hiểu rõ hơn về mối liên kếtnày, chúng ta xem xét sự tồn tại của khu vực công cộng, hay Chính phủ trong vòngtuần hoàn kinh tế

Hình vẽ 1.1 mô tả các luồng thu nhập – chi tiêu – sản phẩm khác nhau của hai khuvực công cộng và khu vực tư nhân Mô hình được xây dựng dựa trên giả định là không

có tiết kiệm doanh nghiệp, và không có hoạt động ngoại thương Điều đó có nghĩa đây

là một nền kinh tế đóng Trong nền kinh tế này không có hoạt động xuất nhập khẩu

Trang 7

Trong mô hình này, các đường nét liền là luồng chu chuyển trong khu vực tư nhân,

và các đường nét đứt thể hiện luồng chu chuyển trong khu vực công cộng

Nếu nhìn dưới góc độ các luồng thu nhập và chi tiêu có thể thấy khu vực công cộngchi mua các yếu tố sản xuất cho các hộ gia đình như khu vực tư nhân thể hiện ở đường

số 2, đồng thời chi mua hàng hóa đầu ra cho các hãng như các hộ gia đình thể hiện ởđường số 7 Chính phủ tiến hành các khoản thanh toán chuyển nhượng tới các hộ giađình thể hiện ở đường số 8 Bên cạnh các luồng chi, Chính phủ nhận được các nguồnthu thu từ dân cư ví dụ như các khoản thuế, phí… thể hiện ở đường số 9 Chính phủ cóthể vay vốn qua thị trường vốn thể hiện ở đường số 10

Dưới dưới góc độ luồng nhân tố và sản phẩm, các yếu tố đầu vào từ hộ gia đìnhthông qua thị trường các yếu tố đầu vào chảy vào khu vực tư nhân và công cộng thểhiện ở đường số 1, và số 2 Các luồng sản phẩm đầu ra của các hãng sản xuất đượcchuyển tới người mua và Chính phủ thể hiện ở đường số 4, 6, 7

Luồng hàng hóa và dịch vụ công cộng được cung cấp miễn phí hoặc thu phí trựctiếp tới người sử dụng Hàng hóa và dịch vụ mà Chính phủ cung cấp chỉ một phần là

do Chính phủ sản xuất (Từ các yếu tố đầu vào huy động được ở đường 2), phần còn lại

là do các hãng tư nhân sản xuất nhưng được bán lại cho Chính phủ cung cấp

Hình 1.1: Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tếThông qua mô hình có thể thấy khu vực công cộng và khu vực tư nhân có mối quan

hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành nền kinh tế hỗn hợp Hai khu vựctham gia thị trường với tư cách là người mua trên thị trường đầu vào Khu vực côngcộng và các hộ gia đình có tư cách là người mua của khu vực tư nhân trên thị trường tưnhân Chính phủ hoạt động như bộ phận trong thị trường đầu và và đầu ra và là một bộ

Trang 8

phận không thể tách rời trong hệ thống định giá Do đó Chính phủ cần dự kiến trướcnhững phản ứng của khu vực tư nhân khi hoạch định các chính sách định giá Chínhphủ chuyển một phần thu nhập khu vực tư nhân sang sử dụng công cộng Chính phủtạo thêm thu nhập cho các hộ gia đình thông qua việc mua sắm trong thị trường yếu tốsản xuất và hàng hóa

Mô hình giúp chúng ta xem xét sự có mặt của khu vực kinh tế công cộng hayChính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế sẽ làm thay đổi bức tranh kinh tế nói chung

1.1.3 Đặc điểm chung của khu vực công cộng

Chúng ta đã đi nghiên cứu vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thông qua cácquan điểm kinh tế học, tìm hiểu mối quan hệ giữa khu vực công và khu vực tư nhânthông qua mô hình vòng tuần hoàn kinh tế Vậy điểm khác biệt cơ bản nào giúp phânbiệt giữa các cơ quan được gọi là “Chính phủ” và các tổ chức tư nhân Theo nhà kinh

tế học người Mỹ Joseph E Stiglitz – nhà kinh tế học đương đại thuộc Đại học tổnghợp Priceton Mỹ, khu vực công cộng có hai đặc điểm khác biệt so với khu vực tưnhân:

Thứ nhất, những người chịu trách nhiệm lãnh đạo các cơ quan công lập được bầuthông qua quá trình bầu cử hoặc do ai đó được bầu cử chỉ định Nói cách khác, tínhchất hợp lệ của việc người đó giữ chức vụ đang xét phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp

từ quá trình bầu cử Ngược lại những người chịu trách nhiệm quản lý các doanhnghiệp lại do các cổ đông trong doanh nghiệp lựa chọn ra

Thứ hai, Chính phủ được giao một số quyền hạn nhất định có tính cưỡng chế hoặcbắt buộc mà các tổ chức tư nhân không có Ngược lại mọi trao đổi của tư nhân là tựnguyện Ví dụ Chính phủ bắt buộc các cá nhân phải đóng thuế, nộp các khoản chi phúclợi chung theo như quy định Các tổ chức tư nhân không thể có quyền đó Mọi hoạtđộng trao đổi giữa các chủ thể tư nhân đều phải diễn ra trên cơ sở tự nguyện Quyềncưỡng chế này giúp Chính phủ thực hiện được một số hoạt động mà khu vực tư nhânkhông thể làm được ví dụ như khắc phục các thất bại thị trường mà chúng ta sẽ nghiêncứu ở phần sau

1.2 Cơ sở khách quan cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế.

1.2.1 Các tiêu chuẩn về hiệu quả sử dụng nguồn lực

“Mục tiêu của Chính phủ là phúc lợi cho con người Tiến bộ vật chất và sự thịnhvượng của quốc gia được mong đợi chỉ khi nào chúng mang lại vật chất và tinh thầncho tất cả những công dân tốt” - Theodore Rooseval

Là những công dân, chúng ta luôn phải liên tục đánh giá các đề nghị liên quan đếnvai trò của Chính phủ trong nền kinh tế Có nên tăng các loại thuế thu nhập haykhông? Chúng ta có cần các trung tâm chăm sóc trẻ em do Chính phủ tài trợ haykhông? Có cần kiểm soát chặt chẽ hơn việc lưu hành ô tô xe máy hay không? Rõ ràng

Trang 9

phủ, chúng ta cần một số khuôn khổ lý thuyết nào đó để đánh giá tính hấp dẫn của cáchoạt động khác nhau của Chính phủ Nếu không có khuôn khổ mang tính hệ thống nàythì mỗi chương trình của Chính phủ sẽ được đánh giá trên cơ sở không theo thể thức,

và việc thực hiện một chính sách kinh tế chặt chẽ trở nên không thể làm được

1.2.1.1 Hiệu quả Pareto và hoàn thiện Pareto

Hiệu quả Pareto hay còn gọi là tối ưu Pareto là một trong những lý thuyết trungtâm của kinh tế học với nhiều ứng dụng rộng rãi trong lý thuyết trò chơi, các ngành kỹthuật, cũng như khoa học xã hội Với 1 nhóm các cá nhân và nhiều cách phân bổnguồn lực khác nhau cho mỗi cá nhân trong nhóm đó, việc chuyển từ một phân bổ nàysang một phân bổ khác mà làm ít nhất một cá nhân có điều kiện tốt hơn nhưng khônglàm cho bất cứ một cá nhân nào khác có điều kiện xấu đi được gọi là một sự cải thiệnPareto hay một sự tối ưu hóa Pareto Khi đạt được một phân bổ mà không còn cáchnào khác để đạt thêm sự cải thiện Pareto, cách phân bổ đó được gọi là hiệu quả Paretohoặc tối ưu Pareto

Thuật ngữ này được đặt theo tên của Vilfredo Pareto, một nhà kinh tế học người Ý

đã sử dụng khái niệm này trong các nghiên cứu của ông về hiệu quả kinh tế và phânphối thu nhập

Một sự phân bổ nguồn lực được gọi là đạt hiệu quả Pareto nếu như không có cách nào phân bổ lại các nguồn lực để làm ít nhất một người được lợi hơn mà không phải làm thiệt hại đến bất kỳ ai khác.

Khái niệm hiệu quả Pareto thường được dùng như một tiêu chuẩn để đánh giá mức

độ đáng có của cách phân bổ nguồn lực khác nhau Nếu phân bổ chưa đạt hiệu quảPareto có nghĩa vẫn còn sự lãng phí theo nghĩa có thể cải thiện lợi ích cho người nào

đó mà không làm giảm lợi ích của người khác Theo khái niệm hiệu quả Pareto thì cócác tiêu chí giá trị sau: Thứ nhất mỗi cá nhân đánh giá tốt nhất thỏa dụng hay phúc lợicủa mình Thứ hai, xã hội đơn giản là tổng cộng các cá nhân trong cộng đồng Thứ ba,nếu có thể tái phân bổ các nguồn lực để làm tăng độ thỏa dụng của một cá nhân màkhông là giảm độ thỏa dụng của một cá nhân khác thì phúc lợi xã hội sẽ tăng thêm

Như vậy, hiệu Pareto được dùng như một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ đáng có

của các cách phân bổ nguồn lực khác nhau Nếu sự phân bổ chưa đạt hiệu quả Paretonghĩa là vẫn còn sự “lãng phí” theo nghĩa còn có thể cải thiện lợi ích cho người nào đó

mà không làm giảm lợi ích của người khác

Một khái niệm khác có liên quan mật thiết đến hiệu quả Pareto là hoàn thiện

Pareto Nếu còn tồn tại một cách phân bổ lại các nguồn lực làm cho ít nhất một người được lợi hơn mà không phải làm thiệt hại cho bất kỳ ai khác thì cách phân bổ lại các nguồn lực đó là hoàn thiện Pareto so với cách phân bổ ban đầu.

Theo cách hiểu thông thường của chúng ta về hiệu quả đó là hiệu quả có nghĩa làđưa ra một kết quả mong muốn với chi phí và nỗ lực tối thiểu Nói cách khác không có

Trang 10

nỗ lực nào hoặc chi phí nào bỏ ra một cách lãng phí, không mang lại kết quả hữu ích.Tuy nhiên nếu để ý kỹ có thể thấy rằng, khái niệm hiệu quả Pareto của các nhà kinh tế cũnghàm ý như cách hiểu thông thường về hiệu quả nhưng chính xác hơn Cụ thể:

Trong hoạt động sản xuất, giả định lợi ích của mỗi cá nhân tùy thuộc vào lượnghàng hóa và dịch vụ mà họ tiêu dùng mỗi năm Với tổng nguồn lực có hạn và điềukiện công nghệ kỹ thuật cho trước Sản lượng tặng thêm có thể giúp một số cá nhântiêu dùng nhiều hơn mà không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác Điều này chỉdừng lại khi không thể tăng thêm sản xuất được nữa Điều đó có nghĩa là đã đạt hiệuquả trong sản xuất

Trong hoạt động trao đổi, mọi người có thể làm tăng lợi ích của mình mà khônglàm giảm lợi ích của người khác bằng cách tiến hành những sự trao đổi đôi bên cùng

có lợi Cá nhân trong nền kinh tế được tự do trao đổi có thể tạo thêm lợi ích cho mìnhbằng cách trao đổi những hàng hóa không thiết yếu với mình bằng với người khác đểlấy những hàng hóa khác mà mình cần hơn người kia Quá trình này sẽ dừng lại khikhông còn khả năng tiến hàng những cuộc trao đổi như vậy Như vậy tức là đạt hiệuquả trong trao đổi

Tóm lại, tiêu chuẩn hiệu quả Pareto dựa trên quan điểm: Cá nhân phải được tự dotheo đuổi lợi ích cá nhân, với điều kiện sự theo đuổi đó không làm phương hại đến lợiích của người khác

1.2.1.2 Điều kiện biên về kết quả

Điều kiện cần thiết để có mức sản lượng hiệu quả về một hàng hóa nào đó trongthời gian xác định có thể dễ dàng suy ra từ tiêu chuẩn Pareto Để xác định xem liệu cácnguồn lực phân bổ cho việc sản xuất một loại hàng hóa nào đó đã hiệu quả hay chưangười ta thường so sánh 2 chỉ tiêu

Lợi ích biên (MB): Lợi ích tận thu thêm khi sản xuất một đơn vị hàng hóa MBđược đo bằng lượng tiền tối đa mà một người tiêu dùng sãn sàng từ bỏ để có thêm mộtđơn vị hàng hóa Lợi ích biên có thể được đo bằng lượng tiền tối đa mà một người tiêudùng sẵn sàng từ bỏ để có thêm một đơn vị hàng hóa Ví dụ như một cá nhân sẵn sàng

từ bỏ 2.000đ tiền mua hàng hóa khác để chuển sang mua bánh mỳ mà không thấy đượclợi hơn hoặc thiệt hại đi thì lợi ích biên của ổ bánh mỳ là 2000đ

Chi phí biên (MC): chi phí phát sinh thêm để sản xuất một đơn vị hàng hóa MC là

số tiền tối thiểu cần thiết để thù lao cho những người sở hữu yếu tố sản xuất mà khônglàm họ thấy thiệt thòi Nếu chi phí biên của ổ bánh mỳ là 1.000đ có nghĩa người chủcác yếu tố sản xuất sẽ thấy được lợi hơn khi được trả hơn 1000đ và thấy thiệt hơn khiđược trả thấp hơn 1000đ

Điền kiện biên về tính hiệu quả: Nếu lợi ích biên để sản xuất một đơn vị hàng

hóa lớn hơn chi phí biên thì đơn vị hàng hóa đó cần được sản xuất thêm Trái lại, nếu

Trang 11

lực Như vậy, mức sản xuất hiệu quả nhất về hàng hóa này đạt khi lợi ích biên bằngchi phí biên: MB=MC

1.2.2 Điều kiện đạt hiệu quả Pareto:

Để một nền kinh tế đạt hiệu quả Pareto toàn diện, trong cả lĩnh vực sản xuất, phânphối và hỗn hợp, cần có ba điều kiện như sau:

* Điều kiện hiệu quả sản xuất: Tỷ suất thay thế kỹ thuật biên giữa hai loại đầu

vào bất kỳ của tất cả các hãnh sản xuất phải như nhau:

MRTSX

LK= MRTSY

LK

* Điều kiện hiệu quả phân phối: Tỷ suất thay thế biên giữa 2 loại hàng hóa bất

kỳ của tất cả các cá nhân tiêu dùng phải như nhau:

MRSA

XY = MRSB

XY

* Điều kiện hiệu quả hỗn hợp: Tỷ suất chuyển đổi biên giữa 2 hàng hóa bất kỳ

phải bằng tỷ suất thay thế biên giữa chúng của tất cả các cá nhân:

MRTXY = MRSA

XY = MRS B

XY

1.2.3 Định lý cơ bản của kinh tế học Phúc lợi

Vấn đề đặt ra là liệu trong nền kinh tế thực thụ, có khi nào chúng ta đạt được tất cảcác điều kiện trên hay không? Định lý cơ bản của kinh tế học phúc lợi đã đưa ra câutrả lời cho điều đó

Định lý được phát biểu: Chừng nào nền kinh tế còn là cạnh tranh hoàn hảo, tức là những người sản xuất và tiêu dùng còn chấp nhận giá, thì chừng đó, trong những điều kiện nhất định, nền kinh tế sẽ tất yếu đạt được phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả Pareto.

Trong nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, mọi cá nhân đều đứng trước những mứcgiá như nhau, và họ không có khả năng thay đổi giá cả thị trường Nền kinh tế cạnhtranh sẽ tự động phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả nhất mà không cần bất kểmột sự định hướng tập trung hóa nào – theo quan điểm bàn tay vô hình của AdamSmith

Như vậy, chừng nào các cá nhân còn theo đuổi động cơ tối đa hóa lợi ích thì kếtquả phân bổ nguồn lực sẽ đạt hiệu quả Trong phương diện nào đó , định lý cơ bản củakinh tế học phúc lợi chỉ đơn thuần hình thức hóa một nhận thức từ lâu đã được côngnhận: khi nói đến việc cung cấp và dịch vụ thì các hệ thống doanh nghiệp tự do tỏ rarất năng suất và hiệu quả

Tuy nhiên chúng ta thấy rằng khi nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoạt động hoànhảo phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả, vậy Chính phủ đóng vai trò gì trong nềnkinh tế thị trường Phải chăng Chính phủ chỉ nên có những vai trò vô cùng nhỏ bétrong nền kinh tế Chức năng chủ chốt của Chính phủ là bảo vệ các quyền sở hữu đểthị trường có thể hoạt động, Chính phủ đề ra các quy tặc, hệ thống tòa án và quốcphòng Mọi thứ khác những điều trên đều trở nên thừa và không cần thiết Trên thực

tế chúng ta không thể hiểu và áp dụng quan điểm về kinh tế học phúc lợi tùy tiện nhưvậy bởi vì bất kỳ một định luất khoa học nào cũng có sự hạn của nó cũng như định lý

Trang 12

cơ bản kinh tế học phúc lợi hay hiệu quả Pareto Chúng ta không chắc chắn rằng tựthân hiệu quả Pareto là đáng được mong đợi Cụ thể:

Thứ nhất thấy rằng định lý cơ bản của kinh tế học phúc lợi chỉ đúng trong môitrường cạnh tranh hoàn hảo Trong thực tế, nền kinh tế không không phải lúc nào cũngđảm bảo đạt hiệu quả này Vì thế, khi sự không hoàn hảo của thị trường xuất hiện cũngđồng nghĩa với việc hiệu quả Pareto không được đảm bảo

Thứ hai hiệu quả chỉ là một tiêu chuẩn để quyết định xem một sự phân bổ nguồnlực cụ thể là tốt hay xấu Tiêu chuẩn hiệu quả Pareto chỉ mang đặc tính cá nhân chủnghĩa.Nó chỉ quan tâm đến mức lợi ích tuyệt đối của từng cá nhân mà không quan tâmđến mức lợi ích tương đối giữa các cá nhân Tiếu chuẩn Pareto không quan tâm đến sựbất bình đẳng Một sự thay đổi làm người giầu càng giầu thêm nhưng không giúp gìcho người nghèo vẫn được coi là hoàn Pareto Như vậy sẽ làm sự bất bình đẳng trong

xã hội càng trở nên sâu sắc

Các tiêu chuẩn Pareto thích hợp với nguyên trạng Để đáp ứng điều kiện cải thiệnPareto thì bất kỳ sự thay đổi tối thiểu nào phải làm cải thiện phúc lợi ít nhất là mộtngười và không làm tổn hại đến người khác Nếu như thực tế diễn ra như vây, có một

số tình huống người ta cư muốn giữ nguyên trạng mà không muốn thay đổi dù giữnguyên trạnh đo là không hợp lý và không công bằng Trong chế độ chiếm hữu nô lệtrước thời kỳ chiến tranh dân sự ở nam Mỹ và trong thời kỳ chế độ Apatheid ở Namphi Loại bỏ chế độ chiếm hữu nô lệ tạo ra công bằng xã hội và cải thiện phúc lợi xãhội nhưng lại gây tổn thất về kinh tế cho chủ nô Quan điểm này không thống nhât vàdẫn đến cuộc chiến tranh dân sự Tầng lớp chủ nô muốn giữ nguyên trạng trong khitầng lớp nô lệ muốn thay đổi Và giữ nguyên trạng trong trường hợp này là đi ngượclại quy luật phát triển Vì vậy, một số nhà kinh tế học, xã hội học phản đối việc ápdụng tiêu chuẩn Pareto như là công cụ để đo lường phúc lợi xã hội

1.2.4 Cơ sở để Chính phủ can thiệp vào nền kinh tê – thất bại thị trường:

Các nhà kinh tế chính thức sử dụng thuật ngữ thất bại thị trường từ năm 1958 Tuynhiên, nhà triết học thời Victoria Henry Sidgwick là người đầu tiên phát triển kháiniệm của thuật ngữ này Thất bại của thị trường là một thuật ngữ kinh tế học miêu tảtình trạng thị trường không phân bổ thật hiệu quả các nguồn lực Hoặc có thể hiểu thấtbại thị trường là những trường hợp mà thị trường cạnh tranh không thể sản xuất rahàng hóa và dịch vụ ở mức hiệu quả xã hội

* Những trường hợp thất bại thị trường chủ yếu là:

a Độc quyền thị trường

Độc quyền, trong kinh tế học, là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một ngườibán và sản xuất ra sản phẩm không có sản phẩm thay thế gần gũi Một số nguyên nhânchính dẫn đến độc quyền thường

- Chính phủ nhượng quyền khai thác tài nguyên nào đó: chính quyền địa phương có

Trang 13

chế độc quyền nhà nước cho một công ty như trường hợp chính phủ Anh trao độcquyền buôn bán với Ấn độ cho Công ty Đông Ấn.

- Nếu chi phí vận chuyển quá cao, thị trường có thể bị giới hạn trong một khu vựckinh tế nhất định nào đó và nếu trong khu vực đó có một doanh nghiệp cung cấp sảnphẩm thì sẽ dẫn đến tình trạng gần như chiếm đoạt quyền trong kinh doanh

- Chế độ sở hữu đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ: một mặt chế độ nàylàm cho những phát minh, sáng chế tăng theo một thời gian nhất định nhưng mặt khác

nó tạo cho người nắm giữ bản quyền có thể giữ được vị trí độc tôn trong thời hạn đượcgiữ bản quyền theo quy định do những văn bản do nhà nước ban hành

- Do sở hữu được một nguồn lực lớn: điều này giúp cho người nắm giữ có vị trígần như trọn vẹn trên thị trường Một ví dụ điển hình là Nam Phi được sở hữu những

mỏ kim cương chiếm phần lớn sản lượng của thế giới và do đó quốc gia này có vị trígần như đứng đầu trên thị trường kim cương

b Ngoại ứng

Ảnh hưởng ngoại ứng, trong kinh tế học, là ảnh hưởng gây ra bởi hoạt động củamột chủ thể kinh tế này và tác động trực tiếp tới chủ thể kinh tế khác (nghĩa là khôngthông qua cơ chế thị trường) Nếu chủ thể kinh tế chịu tác động bị tổn thất, thì có ảnhhưởng ngoại lai tiêu cực Còn nếu chủ thể kinh tế chịu tác động được lợi, thì có ảnhhưởng ngoại lai tích cực

Ảnh hưởng ngoại lai là một loại thất bại thị trường Lý luận chuẩn tắc cho rằngtrong cơ chế thị trường, các nguồn lực được phân bổ một cách tối ưu Tuy nhiên, cácảnh hưởng không thông qua thị trường, thì không xác định được giá trao đổi Điều nàydẫn tới chi phí hoặc lợi ích theo nhận thức của cá nhân không thống nhất với chi phíhoặc lợi ích thật sự của xã hội Vì thế, không thể có phân bổ nguồn lực tối ưu được

c Hàng hóa công cộng

Hàng hóa công cộng hay dịch vụ công cộng là hàng hóa và dịch vụ mang hai tính

chất: không cạnh tranh và không thể loại trừ Đối lập với hàng hóa công cộng là hàng hóa tư nhân không mang hai tính chất trên.

Thuộc tính không thể loại trừ là tính chất không thể loại trừ cũng được hiểu trêngiác độ tiêu dùng, hàng hóa công cộng một khi đã cung cấp tại một địa phương nhấtđịnh thì không thể hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân không trả tiềncho việc sử dụng hàng hóa của mình

Thuộc tính không cạnh tranh được hiểu trên góc độ tiêu dùng, việc một cá nhânnày đang sử dụng hàng hóa đó không ngăn cản những người khác đồng thời cũng sửdụng nó

Trang 14

Đối với những hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá thì để ngăn chặn tìnhtrạng tắc nghẽn, cần áp dụng việc thu phí để những người tiêu dùng có thể được hưởngđầy đủ lợi ích do hàng hóa công cộng mang lại Tuy nhiên nếu mức phí quá cao (chẳnghạn do chi phí giao dịch để thực hiện cơ chế loại trừ lớn) thì số lượng người sử dụng

có thể thấp hơn điểm gây tắc nghẽn quá nhiều dẫn đến tổn thất phúc lợi xã hội Trongtrường hợp khu vực tư nhân đứng ra cung cấp hàng hóa cộng cộng thì mức phí họ thucủa người tiêu dùng sẽ khiến cho tổn thất phúc lợi xã hội xảy ra

Một nguyên nhân nữa khiến cho tư nhân cung cấp hàng hóa công cộng không hiệuquả là nó thường có xu hướng được cung cấp với số lượng ít Một người có vườn bênđường được trồng hoa thì cả khu vực gần đó sẽ tăng vẻ mỹ quan cũng như nhiều ngườicùng được thưởng thức vẻ đẹp của hoa Thế nhưng người trồng hoa sẽ cân đối thờigian, chi phí bỏ ra với nhu cầu thưởng thức vẻ đẹp của hoa của cá nhân mình chứkhông tính đến nhu cầu của những người hàng xóm, chính vì vậy người đó nhiều khảnăng sẽ trồng ít hoa đi

d Thông tin không hoàn hảo

Thông tin không hoàn hảo (hay thông tin phi đối xứng) trong kinh tế học, là trạngthái bất cân bằng trong cơ cấu thông tin - giữa các chủ thể giao dịch có mức độ nắmgiữ thông tin không ngang nhau Một người sẽ có thông tin nhiều hơn so với ngườikhác về đối tượng được giao dịch Điều này dẫn tới nhiều vấn đề trong kinh tế học,hợp đồng và tài chính

Nguyên nhân của tình trạng phi đối xứng về thông tin, theo Joseph Stiglitz, trướctiên là do những chủ thể kinh tế khác nhau quan tâm tới những đối tượng khác nhau vàthông tin của họ khi về cùng một đối tượng sẽ khác nhau Thường thì các chủ thể kinh

tế hiểu mình rõ hơn là hiểu người khác Mức độ chênh lệch về thông tin tùy thuộc vào

cơ cấu, đặc trưng của thị trường

Phi đối xứng thông tin còn có nguyên nhân nhân tạo Chủ thể kinh tế tham gia giaodịch có thể cố tính che giấu thông tin để đạt được lợi thế trong đàm phán giao dịch

e Bất ổn định kinh tế

Sự vận hành mang tính chu kỳ của nền kinh tế đã khiến lạm phát và thất nghiệp trởthành căn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trường và gây ra rất nhiều tổn thất cho xãhội

Đối phó với sự bất ổn định kinh tế, Chính phủ chủ động sử dụng các chính sách tàikhóa và tiền tệ để cố gắng ổn định hóa nền kinh tế Các chính sách ổn định hóa củaChính phủ nhiều khi không tiêu hao nhiều nguồn lực của xã hội, nhưng đó lại là sự trợgiúp đắc lực để giúp thị trường hoạt động hiệu quả hơn

Trang 15

a Phân phối lại thu nhập và cơ hội kinh tế cho mọi người

Một trong những khuyết tật của nền kinh tế thị trường đó là sự bất bình đẳng trongnền kinh tế Nền kinh tế thị trường đã tạo ra những tầng lớp siêu giầu nhưng đồng thờicũng tồn tại những người có thu nhập dưới mức ngưỡng nghèo Hơn thế nữa ngay cả ởnhững nền kinh tế mà sự bất bình đẳng kinh tế giữa các tầng lớp không quá sâu sắc thìbản thân nền kinh tế đó vẫn tồn tại những tầng lớp yếu thế như người già, người tàntật, trẻ em Chính phủ có trách nhiệm phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân

cư, đồng thời giúp các đối tượng dễ bị tổn thương như người già, người nghèo, trẻ em,người tàn tật thông qua các chương trình hỗ trợ trự tiếp hoặc gián tiếp.Cụ thể Chínhphủ sẽ hỗ trợ thông qua các chương trình trợ cấp trực tiếp bằng tiền cho cá nhân đểgiúp họ thoát khỏi cảnh nghèo đói

Hoặc Chính phủ có thể hỗ trợ gián tiếp thông qua các chương trình phân phối lạiđược thực hiện dưới dạng như cung cấp các phương tiện dịch vụ cho cả cộng đồng nhưchương trình xây dựng điện, đường, trường trạm ở nông thôn, góp phần xóa đói giảmnghèo

Việc sử dụng quyền lực của Chính phủ tạo ra sự bình đẳng cho mọi công dân,không phân biệt tình trạng cá nhân, giúp các cá nhân có nhiều cơ họi hơn để đặt nănglực của mình vào công việc phù hợp nhất Từ đó có thể làm lợi cho xã hội nói chung

b Hàng hóa khuyến dụng

Nguyên nhân thứ hai để Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế đó là do sự xuất hiệncủa hàng hóa khuyến dụng Những hàng hóa hay dịch vụ mà việc tiêu dùng chúng cólợi cho cá nhân và xã hội, nhưng cá nhân không tự nguyện tiêu dùng, khiến Chính phủbắt buộc họ sử dụng gọi là hàng hóa khuyến dụng

Đôi khi, cá nhân đôi khi khá thiển cận, không nhận thức được đầy đủ lợi ích hoặctác hại của việc tiêu dùng một hàng hóa hay dịch vụ nào đó, ngay cả khi họ có đầy đủthông tin Do đó Chính phủ sẽ phải sử dụng quyền lực chính trị của mình để can thiệpvào hành vi tiêu dùng của các cá nhân Cơ sở ủng hộ sự can thiệp của Chính phủ trongtrường hợp hàng hóa khuyến dụng đó là chức năng phụ quyền của Chính phủ

Tuy nhiên việc lạm dụng chức năng này có thể khiến Chính phủ trở nên độc đoánhoặc vi phạm thô bạo vào quyền tự do cá nhân Do đó cần giới hạn phạm vi thực hànhvai trò phụ quyền của Chính phủ

1.3 Đánh giá chung về sự can thiệp của chính phủ

1.3.1 Chức năng của Chính phủ

Trong nền kinh tế thị trường, vốn tiền tệ là điều kiện và tiền đề cho mọi hoạt động kinh tế-xã hội Thực ra, chức năng tạo lập vốn là một khâu tất yếu của quá trình phân phối, nên khi nói về chức năng của tài chính nói chung, người ta thường không tách

Trang 16

riêng ra thành một chức năng Tuy nhiên, đối với tài chính công, vấn đề tạo lập vốn có

sự khác biệt với tạo lập của các khâu tài chính khác, nó giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình phân phối, vì vậy, có thể tách ra thành một chức năng riêng biệt

Chủ thể của quá trình tạo lập vốn là Nhà nước Đối tượng của quá trình này là các nguồn tài chính trong xã hội do Nhà nước tham gia điều tiết Đặc thù của chức năng tạo lập vốn của tài chính công là quá trình này gắn với quyền lực chính trị của Nhà nước Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mình để hình thành các quỹ tiền tệ của mình thông qua việc thu các khoản có tính bắt buộc từ các chủ thể kinh tế xã hội

a Phân bổ nguồn lực

Mục tiêu kinh tế trọng tâm của Chính phủ là phân bổ tốt các nguồn lực kinh tế đểnâng cao hiệu quả kinh tế đạt mức như xã hội mong muốn

Chức năng phân bổ nguồn lực là khả năng khách quan của Chính phủ mà nhờ vào

đó các nguồn lực tài chính được tập trung lại và được sử dụng một cách hợp lý nhằmthực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ

Chủ thể phân phối và phân bổ là Chính phủ với tư cách là người nắm giữ quyềnlực chính trị Đối tượng phân phối và phân bổ là các nguồn tài chính công tập trungtrong ngân sách Nhà nước và các quỹ tiền tệ khác của Nhà nước, cũng như thu nhậpcủa các pháp nhân và thể nhân trong xã hội mà nhà nước tham gia điều tiết Biểu hiệncủa việc thực hiện chức năng: Chính phủ đứng ra cung cấp các loại hàng hóa côngcộng, điều tiết các luồng đầu tư vào các ngành, các vùng theo quy hoạch chung, khắcphục thất bại thị trường liên quan đến tình phi hiệu quả như độc quyền, ngoại úng haythông tin không hoàn hảo Thông qua chức năng này, các nguồn nhân lực tài chínhcông được phân bổ một cách có chủ đích theo ý chí của Nhà nước nhằm thực hiện sựcan thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế-xã hội Trong điều kiện chuyển từ

cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết củaNhà nước, chức năng phân bổ của tài chính công được vận dụng có sự lựa chọn, cânnhắc, tính toán, có trọng tâm, trọng điểm, nhằm đạt hiệu quả phân bổ cao

b Phân phối lại thu nhập

Chức năng phân phối lại thu nhập là khả năng khách quan mà nhờ đó Nhà nước cóthể chiếm hữu và chi phối một phần của cải xã hội (trước hết là sản phẩm mới đượctạo ra) để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội

do Nhà nước đảm nhiệm

Chính phủ cần tiến hành phân phối lại thu nhập do sự khuyết tật của nền kinh tếthị trường Sự phát triển của nền kinh tế thị trường tạo ra những sự phân phối thu nhậpbất bình đẳng Khi quốc gia còn phát triển ở trình độ thấp, những nguồn lực sãn có

Trang 17

sự thịnh vượng chung, Chính phủ cũng sẽ có khả năng dành nhiều nguồn lực để cungcấp cho người nghèo Đối tượng phân phối tài chính công là giá trị của cải xã hội,trong đó chủ yếu là giá trị sản phẩm mới được tạo ra Nhà nước là chủ thể phân phốitài chính công Chính phủ thực hiện thông qua chính sách thuế và chi tiêu nhằm giảmbớt khoảng cách giữa người giầu và người nghèo Đôi khi Chính phủ điều tiết trực tiếpbằng các mệnh lệnh hành chính.

Thông qua chức năng phân phối, tài chính công thực hiện sự phân chia nguồn lựctài chính công giữa các chủ thể thuộc Nhà nước, các chủ thể tham gia vào các quan hệkinh tế với Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước, chứcnăng phân phối của tài chính công nhằm mục tiêu công bằng xã hội Tài chính công,đặc biệt ngân sách nhà nước, được sử dụng làm công cụ để điều chỉnh thu nhập củacác chủ thể trong xã hội thông qua thuế và chi tiêu công

c Ổn định kinh tế vĩ mô

Ổn định kinh tế vĩ mô là chức năng mà chỉ có Nhà nước mới đủ khả năng gánhvác Ổn đinh kinh tế vĩ mô nhìn chung đó là việc duy trì mức giá cả ổn định và thấtnghiệp thấp

Công cụ để Chính phủ thực hiện chức năng này là các chính sách tài khóa, tiền tệ,

sự giám sát chặt chẽ thị trường tài chính Ngoài ra, Chính phủ còn tập trung vào việchoạch định các chính sách thúc đẩy tăng trưởng dài hạn

d Đại diện cho quốc gia trên trường quốc tế

Chính phủ đóng vai trò thiết yếu là đại diện cho quyền lợi quốc gia trên các diễnđàn quốc tế, và đàm phán các hiệp định có lợi với quốc gia khác trên thế giới Các lĩnhvực thường xuất hiện trên diễn đàn quốc tế:

+ Tự do hóa thương mại: là sự nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vàolĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiềucủa hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nướcngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài Trong những nămgần đây, Việt Nam cũng tham gia đàm phán về hàng loạt các hiệp định tự do hóathương mại song phương và đa phương như khu vực tự do Asean, tổ chức thương mạithế giới WTO…

+ Các chương trình hỗ trợ quốc tế: Một số quốc gia có tiềm lực kinh tế, tài chínhlớn thường thực hiện nhiều chương trình hỗ trợ, giúp cải thiện đời sống cho các nượcnghèo, kém phát triển Những chương trình này có thể tiến hành dưới dạng viện trợnước ngoài trực tiếp, cứu trợ thiên tai và hỗ trợ kỹ thuật, cho vay ưu đãi, ưu đãi đối vớihàng hóa xuất khẩu nước nghèo…

+ Phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô: Các nước phải có sự phối hợp với nhautrong các chính sách vĩ mô để chống lại lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng Sự ra đời

Trang 18

của đồng tiền chung châu Âu là một ví dụ về sự phối hợp chính sách của các nướctrong Liên minh Châu Âu.

+ Bảo vệ môi trường thế giới: Trong các chính sách kinh tế quốc tế có sự phối hợpgiữa các nước để bảo vệ môi trường ở những khu vực mà nhiều nước cùng sử dụnghay chịu ảnh hưởng lan tỏa của ô nhiễm

1.3.2 Những thất bại của Chính phủ khi can thiệp

Trong khi những thất bại của thị trường đã dẫn đến việc đề ra những chương trình lớn của chính phủ trong những năm 1930 và 1960, thì trong những năm 1970 những khiếm khuyết của các chương trình đó lại dẫn các nhà khoa học kinh tế và chính trị đến việc nghiên cứu sự thất bại của chính phủ

Trong những điều kiện nào thì chương trình của chính phủ thực hiện không tốt?Những thất bại của chương trình đó có phải là thuần túy tình cờ không, hay chúng

là những kết quả có thể dự đoán trước, do bản chất vốn có trong hoạt động chính phủ?

Có thể rút ra những bài học cho tương lai về các chương trình này không? Có bốn

lý do chủ yếu gây ra thất bại mang tình hệ thống của chính phủ nhằm đạt được những mục tiêu đã định: thông tin của chính phủ bị hạn chế; kiểm soát hạn chế của chính phủ đối với những phản ứng của tư nhân với hành động của chíng phủ; kiểm soát hạn chế của chính phủ đối với bộ máy hành chính quan liêu; và những hạn chế do các quá trìnhchính trị áp đặt

a Thiếu thông tin

Một chính sách muốn thực sự hữu hiệu thì cần có đầy đủ thông tin về thị trường.Tuy nhiên, Chính phủ cũng đứng trước những thông tin không đầy đủ, khiến cho sựcan thiệp cảu Chính phủ không chính xác hoặc thiếu tính thực tiễn

Những hậu quả của nhiều hành động là rất phức tạp và khó thấy trước Khi chínhphủ liên bang áp dụng chương trình đổi mới thành thị, chính phủ đã không thấy trướcđược rằng các chương trình đó có thể dẫn đến giảm cung nhà ở cho người nghèo.Tương tự như vậy, chính phủ không dự đoán được sự tăng bất ngờ chi tiêu cho chămsóc sức khỏe khi thực hiện chương trình chăm sóc y tế

b Thiếu khả năng kiểm soát của cá nhân

Chính phủ không thể lường hết các phản ứng của mỗi cá nhân trước các nhữngthay đổi về chính sách do Chính phủ đề ra Sự phản ứng của khu vực tư nhân đi theochiều hướng mà người hoạch định chính sách chưa dự kiến được thì chính sách có thểkhông đạt được hiệu quả mong muốn, hoặc có thể thất bại

-Ví dụ tại Mỹ Chính phủ chỉ có sự kiểm soát hạn chế đối với những kết quả hànhđộng của mình, đặc biệt trong phạm vi nền dân chủ Khi thành phố New York thôngqua văn bản luật pháp về kiểm soát tiền thuê nhà của thành phố mình, những người đề

ra văn bản này đã bỏ qua một thực tế là nếu lợi nhuận bị giảm thì chủ tư nhân đangcho thuê nhà có thể quay sang đầu tư vào nơi khác Những người ra văn bản đã không

dự đoán được rằng nhà cho thuê có thể giảm, và chất lượng dịch vụ cho thuê cũng có

Trang 19

thành công một phần, và còn làm giảm nghiêm trọng hơn việc cho thuê nhà Thànhphố New York ít có khả năng chặn đứng việc này, ngoại trừ việc hủy bỏ các thể chếkiểm soát tiền thuê nhà.

c Thiếu khả năng kiểm soát bộ máy hành chính quan liêu

Việc ra quyết định trong khu vực công cộng thường phải trải qua một quá trìnhphức tạp, qua nhiều khâu nấc trung gian Sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước thiếuđồng bộ hoặc không nhất quán về phương hướng hoạt động khiến các chính sách củaChính phủ không có sức sống trong thực tiễn

Quốc hội và các cơ quan lập pháp bang và địa phương xây dựng luật pháp, nhưnggiao quyền thực hiện cho một số cơ quan chính phủ nào đó Cơ quan này có thẻ bỏ rakhá nhiều thời gian để viết các văn bản chi tiết; việc những văn bản này được soạnthảo ra sao là điều quyết định hiệu lực của các văn bản đó Cơ quan này có thể chịutrách nhiệm về việc thi hành các văn bản pháp luật đó

Ví dụ quốc hội thông qua đạo luật Bảo vệ môi trường với dụng ý rất rõ ràng là bảođảm để các hãng không làm ô nhiễm môi trường Song những chi tiết kỹ thuật , ví dụnhư xác định mức độ ô nhiễm có thể được chấp nhận đối với các ngành khác nhau, lạigiao cho cơ quan bảo vệ môi trường giải quyết Trong hai năm đầu, dưới chính quyềnReagan đã xảy ra nhiều cuộc bàn cãi về việc liệu cơ quan bảo vệ môi trường có lỏnglẻo trong việc quy định và ban hành các quy định đó không Do đó mà làm hỏng ýdụng của quốc hội

Trong nhiều trường hợp, việc không thực hiện các ý định của Quốc hội không phải

là những nỗ lực thiếu thận trọng nhằm tránh ý muốn của quốc hội Còn có một vấn đềnữa là việc bảo đảm để những người thi hành luật pháp làm việc một cách công minh

và có hiệu quả Vì chủ đề chính trong điều tra về kinh tế học chuẩn là phân tích nhữngkhuyến khích trong khu vực tư nhân, do đó một trong những chủ đề nghiên cứu ở đây

là phân tích các động cơ khuyến khích trong khu vực công cộng: nguyên nhân gì đãkhiến các công chức hành động như họ vẫn làm?

d Hạn chế do các quá trình chính trị gây ra

Việc ra quyết định trong khu vực công cộng là một quá trình phức tạp mà khôngphải bỏ phiếu lúc nào cũng đem lại kết quả có hiệu quả Hành động của Chính phủ sẽảnh hưởng đến nhiều người, nhưng lại chỉ di một nhóm ít người quyết định

- Người ra quyết định chịu sự chi phối của cử tri do đó phải tìm cách xoa dịu nhữnglợi ích trái ngược nhau để duy trì phiếu bầu Điều đó dẫn đến các quyết định của Nhànước không nhất quán, rõ ràng, hoặc chỉ phản ánh quyền lợi của những nhóm lợi íchđặc biệt thay vì đại diện cho đại đa số quần chúng nhân dân phân tán nên không có sứcmạnh thương lượng

Ngay cả khi chính phủ được thông tin đầy đủ về những hậu quả của tất cả mọi hànhđộng có thể có, thì việc lựa chọn trong số những hành động đó qua quá trình chính trịcũng có thể gây thêm những khó khăn Hành động của chính phủ có ảnh hưởng đếnnhiều người, nhưng lại chỉ do một nhóm ít người quyết định, đó là những người đạidiện đã được bầu ra Những người ra quyết định phải tìm hiểu ý thích của những cử tri

Trang 20

của mình và phải tìm ra cách gì đó để hòa giải hoặc lựa chọn cho những ý thích tráingược nhau.

Người ta thường cho là chính phủ hoạt động không nhất quán Hơn nữa quá trìnhchính trị của chúng ta là một quá trình trong đó những người được bầu ra để phục vụcông chúng đôi khi có động cơ hành động vì lợi ích của cá nhóm lợi ích đặc biệt Do

đó, thất bại của các chính khách trong việc thực hiện công việc dường như vì lợi íchcủa công chúng, không chỉ là hậu quả của lòng tham hay ác ý của một số chính kháchthất thường, mà đó là hậu quả không thể tránh khỏi của những công trình về thể chếchính trị trong xã hội dân chủ

Những người chỉ trích sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế cho rằng, bốn lý

do làm cho chính phủ thất bại đã đủ tầm quan trọng để chính phủ phải thận trọngtrong việc cứu chữa cái gọi là tính phi hiệu quả của thị trường Nhưng nếu có ngườikhông đồng ý với kết luận đó, thì việc công nhận bốn hạn chế đó trong hành động củachính phủ vẫn là tiền đề để xây dựng các chính sách thành công của Chính phủ

Câu hỏi ôn tập

Câu 1 Phân tích các quan điểm về vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường.Câu 2 Phân tích những chức năng cơ bản của Chính phủ đối với nền kinh tế và đối với

xã hội

Câu 3 Phân tích nguyên nhân dẫn đến các thất bại của Chính phủ khi can thiệp vàonền kinh tế

Câu 4 Phân tích các tiêu chuẩn về hiệu quả sử dụng nguồn lực

Câu 5 Phân tích định lý cơ bản của Kinh tế học Phúc lợi

Câu 6 Phân tích hiệu quả Pareto, hoàn thiện Pareto Phân tích ví dụ minh họa thực tếCâu 7 Phân tích những thất bại của Chính phủ khi can thiệp vào nền kinh tế

Câu 8 Phân tích vị trí của Chính phủ trong vòng tuần hoàn kinh tế

Tổng chi phí XH(TSC)

Tìm phương án tối ưu

Bài 2: Thành phố xem xét cấp kinh phí từ nguồn ngân sách thành phố cho việc cung cấp hàng hóa công cộng với các số liệu được cho trong bảng:

P/a Số lượng

hàng hóa

Lợi ích XH biên (MSB)

Tổng chi phí XH(TSC)

Trang 21

C 3 5.000 9.000

Tìm phương án tối ưu

Bài 3: Thành phố xem xét cấp kinh phí từ nguồn ngân sách thành phố cho việc cung cấp hàng hóa công cộng với các số liệu được cho trong bảng:

P/a Số lượng

hàng hóa

Tổng lợi ích XH (TSB)

Chi phí XH biên(MSC)

CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ

Trang 22

2.1 Độc quyền

Độc quyền trong tiếng Anh là monopoly có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp monos

(nghĩa là một) và polein (nghĩa là bán) Đây là một trong những dạng của thất bại thịtrường, là trường hợp cực đoan của thị trường thiếu tính cạnh tranh Mực dù trên thực

tế hầu như không thể tìm được trường hợp đáp ứng hoàn hảo hai tiêu chuẩn của độcquyền và do đó độc quyền thuần túy có thể coi là không tồn tại nhưng những dạng độcquyền không thuần túy đều dẫn đến sự phi hiệu quả của lợi ích xã hội Độc quyềnđược phân loại theo nhiều tiêu thức: mức độ độc quyền, nguyên nhân của độc quyền,cấu trúc của độc quyền

2.1.1 Độc quyền thường

Ở trạng thái thuần túy nhất, độc quyền thường là trạng thái thị trường chỉ có duynhất một người bán và sản xuất ra sản phẩm không có loại hàng hóa nào thay thế gầngũi

Từ khái niệm về độc quyền ta có thể rút ra một số đặc điểm:

+ Trong thị trường độc quyền chỉ có một người bán duy nhất một loại hàng hóa haydịch vụ nào đó

+ Sản phẩm sản xuất ra không có hoặc có rất ít sản phẩm thay thế

+ Sức mạnh thị trường thuộc về người bán Doanh nghiệp có thể điều hành đượcgiá cả để đạt được mục tiêu hay doanh nghiệp là người ấn định giá

+ Cung của doanh nghiệp là cung của thị trường, đồng thời nhu cầu thị trường cũngchính là nhu cầu đối với doanh nghiệp

Chính những đặc điểm này đã khiến cho thị trường khi xuất hiện độc quyền đềudẫn đến sự phi hiệu quả lợi ích xã hội, đòi hỏi cần có sự can thiệp của Chính phủ

2.1.1.1 Nguyên nhân xuất hiện

Độc quền thường có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân, chủ yếu tập trung vàonhững nguyên nhân sau:

- Chính phủ nhượng quyền khai thác thị trường: Một số ngành được coi là chủ đạocủa quốc gia, Chính phủ thường tạo cho nó một cơ chế có thể tồn tại dưới dạng độcquyền nhà nước Ví dụ các ngành quốc phòng, hay công nghiệp sản xuất vũ khí nên doChính phủ nắm giữ vì nó liên quan đến an ninh quốc gia

Chính quyền địa phương có thể nhượng quyền khai thác rác thải cho một công tynào đó hay nhà nước tạo ra cơ chế độc quyền nhà nước cho một công ty như trườnghợp chính phủ Anh trao độc quyền buôn bán với Ấn độ cho Công ty Đông Ấn.Nhiềudoanh nghiệp trở thành độc quyền là nhờ được Chính phủ nhượng quyền khai thác mộtthị trường nào đó

- Do chế độ sở hữu bản quyền đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ: Chế

độ bản quyền là một cơ chế bảo vệ quyền lợi của những nhà phát minh, khuyến khích

họ đầu tư công sức thời gian và tiền của vào hoạt động nghiên cứu và triển khai, gópphân nâng cao năng suất lao động và đời sống tinh thần cho xã hội Rõ ràng rằng Sẽkhông có doanh nhân hoặc công ty nào đầu tư vào các nghiên cứu thường là tốn kém

và đòi hỏi nhiều thời gian để tìm ra các loại thuốc mới chữa bệnh, các chương trình

Trang 23

đối thủ có thể đơn giản bắt chước và đem bán các công trình của họ mà không phải trảtiền bản quyền hay các khoản phí khác phản ánh trong chi phí sản xuất của họ Nhằmbảo vệ và khuyến khích các nhà khoa học và nghệ sĩ, chính phủ ban hành các đặcquyền, hay còn gọi là bản quyền, để bảo vệ các loại hình tài sản trí tuệ nhất định nhưsách, âm nhạc, điện ảnh và các chương trình phần mềm máy tính; hoặc còn gọi là bằngsáng chế khi họ bảo vệ các loại hình khác như phát minh, thiết kế, sản phẩm và cácquy trình sản xuất Những quy định này trao cho chủ sở hữu, bất kể là cá nhân haycông ty, độc quyền bán hoặc dùng cách khác để đưa ra thị trường các sản phẩm vàsáng tạo của họ trong một khoảng thời gian cụ thể Như Tổng thống Abraham Lincoln

đã nói, những quyền này đã thêm "năng lượng của lợi ích vào ngọn lửa của thiên tài".Một mặt chế độ này làm cho những phát minh, sáng chế tăng theo một thời gian nhấtđịnh nhưng mặt khác nó tạo cho người nắm giữ bản quyền có thể giữ được vị trí độctôn trong thời hạn được giữ bản quyền theo quy định do những văn bản do nhà nướcban hành

- Do sở hữu được một nguồn lực đặc biệt: điều này giúp cho người nắm giữ có vịtrí gần như trọn vẹn trên thị trường Một ví dụ điển hình là Nam Phi được sở hữunhững mỏ kim cương chiếm phần lớn sản lượng của thế giới và do đó quốc gia này có

vị trí gần như đứng đầu trên thị trường kim cương

- Do có khả năng giảm giá thành khi mở rộng sản xuất: Do tính chất đặc biệt củangành có hiệu suất tăng dần theo quy đã khiến việc có nhiều hang cùng cung cấp mộtdịch vụ trở nên không hiệu quả, và hang nào có mặt trong thị trường từ trước thì có thểliên tục giảm giá khi mở rộng sản xuất, biến đó thành hàng rào hữu hiệu ngăn cản sựxâm nhập thị trường của những hãng mới

- Nếu chi phí vận chuyển quá cao, thị trường có thể bị giới hạn trong một khu vựckinh tế nhất định nào đó và nếu trong khu vực đó có một doanh nghiệp cung cấp sảnphẩm thì sẽ dẫn đến tình trạng gần như chiếm đoạt quyền trong kinh doanh

2.1.1.2 Tổn thất phúc lợi do độc quyền gây ra

* Xét trong mô hình thị trường cạnh tranh hoàn hảo:

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp sẽ lựachọn mức sản lượng tối ưu tại đó doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên: MR = MCDoanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo đứng trước đường cầu nằm ngang Doanh thucận biên trùng với đường cầu hay doanh thu cận biên không đổi và bằng giá bán:MR=P

Do đó mức sản lượng tối ưu thỏa mãn điều kiện: P= MC

Trang 24

Hình 2.1: Sản lượng tối ưu của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo

Trong hình 2.1, doanh nghiệp sản xuất tại mức sản lượng có giá bán bằng chi phícận biên, sản lượng tối ưu của doanh nghiệp là Qo

Tổng doanh thu: TR = Q*P là diện tích hình chữ nhật OPoBQo

Tổng chi phí: TC = ATC*Q là diện tích hình chữ nhật ODCQo

Tổng lợi nhuận: TP= TR – TC là diện tích hình chữ nhật DCBPo

* Xét trong mô hình thị trường độc quyền thuần túy

Trong thị trường độc quyền, chỉ có một doanh nghiệp cung ứng hàng hóa hoặc dịch

vụ cho thị trường, nên đường cầu của doanh nghiệp độc quyền bán là đường cầu thịtrường Và đường cầu của doanh nghiệp là đường dốc xuống

Đường doanh thu cận biên luôn nằm dưới đường cầu hay doanh thu cận biên luônnhỏ hơn giá bán (MR<P) Nguyên nhân là do việc tăng sản lượng bán ra không chỉ làmcho giảm giá bán của số sản lượng bán ra tăng thêm mà còn làm giảm giá bán của tất

cả sản lượng được bán ra từ trước Chính vì vậy đường MR có độ dốc gấp đôi độ dốccủa đường cầu D

Để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp độc quyền sẽ lựa chọn sản lượng tại đódoanh thu cận biên bằng chi phí cận biên: MR=MC

Hình 2.2: Lựa chọn sản lượng của doanh nghiệp độc quyền

Hình 2.2 mô tả thị trường độc quyền về một sản phẩm Khi không có sự điều tiếtcủa Nhà nước, hãng độc quyền sẽ quyết định sản xuất tại mức sản lượng Q1 và bán ởmức giá P1 thu lợi nhuận siêu ngạch là diện tích BCDP1

* Tổn thất xã hội do độc quyền gây ra:

Trang 25

Theo tiêu chuẩn biên về tính hiệu quả, thì mức sản lượng Q1 không hiệu quả vì tại

đó MB > MC Cụ thể:

Đường cầu thể hiện mức giá tối đa mà người tiêu dùng sãn sàng trả cho 1 đơn vịhàng hóa cung cấp thêm Đó là số tiền tối đa mà người tiêu dùng sãn sàng trả thêm chomột đơn vị sản phẩm mà không cảm thấy bị thiệt, phản ảnh lợi ích biên mà việc tiêudùng hàng hóa đã tạo ra Như vậy đường cầu (D) chính là đường lợi ích biên (MB) của

xã hội

Như vậy, điểm sản xuất hiệu quả phải là điểm tại đó MB=MC Đó chính là điểm Avới mức sản lượng hiệu quả của xã hội là Q0 sản phầm Đây là mức sản lượng sẽ đượcsản xuất nếu thị trường là thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Tại mức sản lượng Q1 nếu so sánh tổng thặng dư với tổng thặng dư tại mức sảnlượng Qo có thể thấy độc quyền đã làm giảm bớt một phần thặng dư là diện tích ABD.Đây chính là phần mất không của xã hội (DWL), chính là cái giá của xã hội phải trảcho sức mạnh độc quyền

Do tối đa hóa doanh thu nên doanh nghiệp chiếm đoạt quyền sẽ sản xuất hàng hóa

ở mức sản phẩm mà tại đó doanh thu biên bằng với thu nhập biên thay vì sản xuất ởmức sản lượng mà ở đó giá sản phẩm cao hơn nhiều chi phí biên như trong thị trường(cân bằng cung cầu) Khác với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi mà giá bán sảnphẩm phụ thuộc vào số lượng sản phẩm do một doanh nghiệp sản xuất ra, trong tìnhtrạng chiếm đoạt quyền giá bán sẽ tăng lên khi doanh nghiệp chiếm đoạt quyền giảmsản lượng Vì thế lợi nhuận biên sẽ lớn hơn giá bán sản phẩm và cứ một đơn vị sảnphẩm sản xuất thêm doanh nghiệp chiếm đoạt quyền sẽ thu thêm được một khoản tiềnlớn hơn giá bán sản phẩm đó Điều này có nghĩa là nếu cứ sản xuất thêm sản phẩm thìdoanh thu thu thêm được có thể đủ bù đắp tổn thất do giá bán của tất cả sản phẩm giảmxuống Mặt khác, nếu áp dụng nguyên tắc biên của tính hiệu quả nghĩa là sản xuất sẽđạt hiệu quả khi lợi ích biên bằng doanh thu biên, tất nhiên lợi ích biên và chi phí biên

ở đây xét trên góc độ xã hội chứ không phải đối với doanh nghiệp độc quyền ta thấyrằng: ở mức sản lượng mà doanh nghiệp chiếm đoạt quyền sản xuất thì lợi ích biên(chính là đường cầu) lớn hơn chi phí biên đồng nghĩa với tình trạng không hiệu quả.Tóm lại, doanh nghiệp chiếm đoạt quyền sẽ sản xuất ở sản lượng thấp hơn và bán vớigiá cao hơn so với thị trường cạnh tranh Tổn thất mà xã hội phải gánh chịu do sảnlượng tăng lên trừ đi tổng chi phí biên để sản xuất ra phần sản lượng đáng lẽ nên đượcsản xuất ra thêm đó chính là tổn thất do chiếm đoạt quyền

Trang 26

2.1.1.3 Các giải pháp can thiệp của Chính phủ

Để giảm bớt phần lợi ích ròng bị mất do đi do độc quyền, Chính phủ sẽ phải cónhững giải pháp can thiệp để buộc các nhà độc quyền phải tăng mức sản lượng từ Q1lên Qo hoặc giảm giá bán xuống từ P1 xuống Po Cụ thể chúng ta sẽ xem xét một số giảipháp can thiệp của Chính phủ:

- Thi hành các chính sách chống độc quyền Chính phủ ban hành các văn bản pháp

luật nhằm ngăn ngừa một số hành vi xấu như các doanh nghiệp cấu kết với nhau đểnâng giá hay hạn chế một số cơ cấu thị trường nhất định có hại đến nền kinh tế củamột đất nước Các nước có thị trường phát triển thường dùng biện pháp này để điềutiết những doanh nghiệp lớn, chiếm thị phần rất cao trong khoảng thời gian dài Biệnpháp này thường được sử dụng phổ biến ở các có thị trường phát triển, nhằm điều tiếtnhững hẵng lớn, tồn tại lâu đời với một thị phần rất lớn

Chính phủ đưa ra luật bảo vệ cạnh tranh bằng cách không cho phép các thông lệđộc quyền hoặc chống cạnh tranh Bắc Mỹ là nơi đầu tiên trên thế giới ban hành LuậtChống độc quyền đầy đủ và hiện đại Các công ty độc quyền nằm trong số những thựcthể kinh doanh đầu tiên mà chính phủ Mỹ cố gắng điều tiết vì quyền lợi cộng đồng Sựsáp nhập các công ty nhỏ thành các công ty lớn hơn đã tạo điều kiện cho một số tậpđoàn có quy mô rất lớn tránh khỏi những nguyên tắc thị trường bằng cách “cố định”giá cả hoặc loại bớt đối thủ cạnh tranh Các nhà cải cách lập luận rằng những hànhđộng này cuối cùng đều khiến cho người tiêu dùng phải trả giá cao hơn hoặc hạn chế

sự lựa chọn của họ Đạo luật chống độc quyền Sherman, được thông qua năm 1890,tuyên bố rằng không một ai hoặc một doanh nghiệp nào được phép độc quyền hóathương mại hoặc phối hợp hay liên kết với người khác nhằm hạn chế thương mại Vàođầu những năm 1900, chính phủ đã sử dụng đạo luật này để chia tách công ty dầu mỏStandard Oil Company của John D.Rockefeller và một số hãng lớn khác bị coi là đãlạm dụng sức mạnh kinh tế của mình Năm 1914, Quốc hội lại thông qua hai luật nữađược xây dựng để củng cố Đạo luật chống độc quyền Sherman: Đạo luật chống độcquyền Clayton và Đạo luật về ủy ban thương mại liên bang Đạo luật chống độc quyềnClayton xác định rõ ràng hơn cái gì bị coi là hạn chế thương mại bất hợp pháp Đạoluật này cấm phân biệt giá làm cho một số người mua nhất định có ưu thế hơn ngườikhác; cấm các hợp đồng trong đó các nhà sản xuất chỉ bán cho các đại lý đồng ý khôngbán hàng hóa của đối thủ cạnh tranh; và ngăn cấm một số kiểu sáp nhập và những hoạtđộng khác làm suy giảm cạnh tranh Đạo luật về ủy ban thương mại liên bang lập ramột ủy ban của chính phủ nhằm mục đích ngăn cản các hoạt động kinh doanh khôngcông bằng và chống lại cạnh tranh

Một số các đạo luật nhằm gia tăng tính cạnh tranh tự do trong nền kinh tế tại ViệtNam: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 và sửa đổi năm 1990, 2000; Xóa

bỏ hình thức kinh tế bao cấp, Ban hành luât thương mại năm 1997, Ban hành luậtdoanh nghiệp năm 1999…đã dàn giảm bớt tình trạng độc quyền Nhà nước trong nềnkinh tế

- Khuyến khích cạnh tranh Để khắc phục độc quyền, Chính phủ đề ra nhiều chính

Trang 27

Để làm được điều này, Chính phủ có thể tìm cách hạ thấp các rào cản sự xâm nhập thịtrường, thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, dỡ bỏ sự ngăn cách giữathị trường trong nước và thị trường quốc tế.

- Đề ra các quy định – Giám sát một cách chặt chẽ: Một số quốc gia có thể đưa ra

các quy định cho phép các cơ quan chức năng của Nhà nước được thường xuyên kiểmtra việc định giá và cung ứng sản lượng của các hang, chẳng hạn trong ngành phục vụcông cộng Đây là biện pháp phổ biến mà Chính phủ sử dụng để kiểm soát giá nhữnghang thuộc sở hữu Nhà nước trong một nền kinh tế mới và đang phát triển

- Sở hữu Nhà nước đối với độc quyền cũng là giải pháp thường được áp dụng với

những ngành trọng điểm quốc gia như khí đốt, điện năng

- Kiểm soát giá đối với các hàng hóa và dịch vụ do hang độc quyền cung cấp

Việc kiểm soát giá sẽ buộc các hãng độc quyền phải bán sản phẩm ở mức giá cạnhtranh, tức là mức giá P0 Về mặt lý thuyết, nếu có thể định mức giá trần P0 thì hãng độcquyền sẽ phải sản xuất ở mức sản lượng Q0 và giải pháp của Chính phủ là triệt để

Về thực tế, Chính phủ rất khó khăn trong việc xác định mức giá P0 Việc định mứcgiá trần P0 chủ yếu chỉ dựa vào ý nghĩa chủ quan của cơ quan điều tiết Việc định giátrần không chính xác dẫn đến sự thiếu hụt hàng hóa Tuy nhiên biện pháp này có mộtkhó khăn cơ bản là chính phủ rất khó xác định mức giá chung của nền kinh tế và dễdẫn đến một sự lạm phát hay giảm phát không tốt cho nền kinh tế

- Đánh thuế: nhằm giảm bớt lợi nhuận siêu ngạch do độc quyền, góp phần phân

phối lại của cải xã hội Tuy nhiên, thuế là công cụ gây méo mó nền kinh tế Thuế làmđường chi phí biên của độc quyền dịch chuyển thì độc quyền sẽ tiếp tục giảm sảnlượng và tăng giá -> thực chất người tiêu dùng sẽ phải san sẻ một phần gánh nặng thuếvới các hang độc quyền

Trên đây là một số giải pháp mà Chính phủ thường áp dụng nhằm hạn chế sự phihiệu quả của độc quyền Nhìn chung, mỗi giải pháp đều có những ưu và nhược điểmriêng, không có giải pháp nào là hoàn hảo theo nghĩa có thể khắc phục được hết mọi

sự phi hiệu quả của thị trường độc quyền mà không gây méo mó nào đối với nền kinh

tế Vì thế khi quyết định một giải pháp nhằm kiểm soát sự phi hiệu quả của độc quyền,Chính phủ cần cân nhắc các khía cạnh giữa lợi ích đạt được với tổn thất từ chính cáchchính sách đó để có sự can thiệp hợp lý

2.2.2 Độc quyền tự nhiên

2.2.2.1 Nguyên nhân xuất hiện và khái niệm:

Độc quyền tự nhiên hình thành là tình trạng sản xuất cho phép hãng có thể liên tụcgiảm chi phí sản xuất khi quy mô sản xuất mở rộng,do đó dẫn đến các tổ chức sản xuấthiệu quả nhất thông qua một hãng duy nhất

Hình thức tổ chức sản xuất này thường thấy trong các ngành dịch vụ công cộngnhư điện, nước, đườngsắt….Những ngành sản xuất này có đặc điểm là những yếu tốhàm chứa trong quá trình sản xuất cho phép đạt được thu nhập giảm khi gia tăng mộtquá trình sản xuất hay nói cách khác chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm tăng nếu giatăng một quá trình sản xuất Khi đó một doanh nghiệp nhỏ cung cấp sản phẩm là cáchsản xuất có hiệu quả nhất Điều này có thể thấy ở các ngành dịch vụ như sản xuất và

Trang 28

phân phối dịch vụ, cung cấp hàng hóa, giáo dục, y tế Lấy ví dụ như ngành cung cấpdịch vụ: sẽ là có hiệu quả hơn nếu chỉ một doanh nghiệp cung cấp cho một vùng thay

vì có hai doanh nghiệp cung cấp với hai hệ thống dịch vụ khác nhau

Ở một góc độ khác độc quyền tự nhiên xuất hiện khi người cung cấp lớn nhất trongmột ngành, hoặc người cung cấp đầu tiên trong một khu vực, có lợi thế vượt trội về chiphí so với những đối thủ cạnh tranh khác đang có mặt tại thị trường hoặc dự định thamgia thị trường Lợi thế này còn được gọi là "lợi thế của người đến đầu tiên." Xu hướngnày thường xuất hiện ở những ngành có chi phí cố định lớn, người cung cấp đầu tiên

đã chiếm được gần hết thị phần, vì vậy chi phí cố định bình quân cho một sản phẩmcủa họ nhỏ Trong khi đó, những người cung cấp khác có thị phần nhỏ, vì thế chi phí

cố định bình quân cho một sản phẩm lớn hơn nhiều Chẳng hạn như ngành điện vànước là hai ngành có tính chất độc quyền tự nhiên Độc quyền tự nhiên cũng có thểphụ thuộc vào việc kiểm soát một nguồn tài nguyên thiên nhiên nào đó

Ở Việt Nam, sự độc quyền của ngành điện, mà cụ thể là sự độc quyền của EVN làmột dạng độc quyền tự nhiên Từ trước tới nay, việc sản xuất, truyền tải, phân phối vàkinh doanh mua bán điện năng; xuất nhập khẩu điện năng; đầu tư và quản lý vốn đầu

tư các dự án điện; quản lý, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, đại tu, cải tạo, nâng cấpthiết bị điện, công trình điện; thí nghiệm điện đều do EVN thực hiện EVN sở hữuphần lớn các nguồn điện (chiếm hơn 60% thị trường bao gồm cả công ty con củaEVN) Nếu như ở những lĩnh vực kinh doanh khác, có nhiều doanh nghiệp trên cùngmột "sân chơi", doanh nghiệp nào có chất lượng sản phẩm tốt, phục vụ chu đáo, giá cảhợp lý sẽ được khách hàng lựa chọn, khách hàng thực sự là các "thượng đế" Nhưng,điều này đã không xảy ra ở ngành điện khi người dân và các doanh nghiệp buộc phảimua điện với mức giá do EVN "định sẵn", trong khi chất lượng dịch vụ, cung ứng cònrất thấp và quá bất cập Sự độc quyền đã khiến phần thiệt thòi luôn thuộc về phíangười tiêu dùng Điện là loại hàng hóa đặc biệt, có tác động rộng lớn tới đời sống vànền kinh tế, nhưng ngành điện luôn chậm khắc phục những bất cập Điều đáng nói là

do tình trạng quản lý kém, gây ra nhiều thất thoát trong việc cung ứng điện, nhưngnhững khoản thất thoát này EVN lại tính vào chi phí và đương nhiên là sẽ tăng giá bán

để bù đắp lại các chi phí đó

Việc tăng giá bán điện chủ yếu do EVN xây dựng, trình Chính phủ (cụ thể là BộCông Thương) phê duyệt Nhưng, hầu như phương án giá nào đưa trình cũng đượcchấp thuận Việc Bộ Công Thương trao quyền cho EVN tự tính toán yếu tố đầu vào đểlàm căn cứ điều chỉnh giá bán điện càng khiến cho Tập đoàn này tăng cấp độ độcquyền Giá điện có tăng, nhưng lại không bao giờ giảm Ngay cả khi hội tụ đầy đủ cácyếu tố có thể giảm giá điện, như: thời kỳ tăng công suất của các nhà máy thủy điệntrong mùa mưa; giảm tổn thất; giảm giá thành khi vận hành thị trường phát điện cạnhtranh, thì không bao giờ được tính đến Đây là điều không thể chấp nhận vì nếu ápdụng cơ chế thị trường, thì giá phải có lúc tăng, lúc giảm Hơn nữa, việc dùng càngnhiều điện không được giảm giá, mà lại bị tăng giá cho thấy, khả năng yếu kém trongcấp điện của EVN đang đổ gánh nặng vào người tiêu dùng

Trang 29

Để thấy hiện tượng độc quyền tự nhiên quan trọng như thế nào đối với các nhà điềutiết, xem xét mô hình:

Mô hình 2.3 Độc quyền tự nhiên

Trong mô hình 2.3, đường chi phí trung bình ATC giảm dần khi quy mô sản xuất

mở rộng Đường chi phí cận biên MC cũng đi xuống và luôn nằm dưới đường ATC.Trong trường hớp đầu tiên, nhà độc quyền tự nhiên không bị điều tiết Để tối đahóa lợi nhuận, doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất tại mức sản lượng Q1 là điểm tại đó

MR = MC

Do đó lợi nhuận siêu ngạch bằng Diện tích hình chữ nhật P1EGF Mức sản lượng

Q1 không hiệu quả Do đó Nhà nước sẽ phải can thiệp vào hoạt động của hẵng sảnxuất Theo nguyên tắc biên về tính hiệu quả, mức sản xuất hiệu quả sẽ thỏa mãn điềukiện: MB = MC Trên mô hình 2.3 đó chính là điểm A - giao điểm của đường cầu Dvới đường MC Tại đây mức sản lượng hiệu quả xã hội yêu cầu là Qo, và mức giá hiệuquả là Po Tuy nhiên tại mức giá Po lại nhỏ hơn mức chi phí sản xuất trung bình Do đódoanh nghiệp không bù đắp được chi phí sản xuất

Tổng mức lỗ của doanh nghiệp là mức chênh lệch giữa chi phí trung bình và giá(đoạn NP0) nhân với Mức sản lượng (Q0) bằng Diện tích AMNP0

Nói tóm lại, do chi phí sản xuất ra một đơn vị sản phẩm tăng dần theo quy mô nên(chi phí biên) của doanh nghiệp độc quyền tự nhiên có xu hướng giảm và luôn thấphơn chi phí sản xuất trung bình Cũng do tối đa hóa doanh thu, doanh nghiệp trên thịtrường sẽ cung ứng sản phẩm sao cho lợi nhuận biên bằng giá sản phẩm Tại trạng thái

đó sản lượng sẽ thấp hơn và giá cao hơn so với trạng thái cân bằng của thị trường cạnhtranh khi mà giá bán hay lợi ích biên bằng giá sản phẩm Sự giảm sút sản lượng cũnggây ra tổn thất Tuy nhiên nếu như trong trường hợp khác, khi bị điều tiết để sản xuất ởmức sản xuất hiệu quả, doanh nghiệp vẫn có lợi nhuận (tuy đã bị giảm xuống) thìtrong trường hợp này, nếu sản xuất ở mức sản lượng không hiệu quả, doanh nghiệpluôn bị lỗ vì giá bán sản phẩm (bằng doanh thu biên) thấp hơn chi phí sản xuất Do đó,Chính phủ sẽ phải có giải pháp hợp lý nhằm giải quyết được sự phi hiệu quả của độcquyền tự nhiên vừa đảm bảo quá trình hoạt động của nó

2.2.2.3 Các giải pháp can thiệp của Chính phủ:

Nếu doanh nghiệp độc quyền tự nhiên, có nghĩa sự tồn tại của nó là hợp lý nếunhìn từ khía cạnh kinh tế, thì chính phủ thường phải áp dụng biện pháp can thiệp vàogiá Mức giá phải đảm bảo tính xã hội và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực đầu

Trang 30

vào sao cho giá (P) phải bằng với chi phí biên (MC) Một số giải pháp mà Chính phủthường áp dụng nhằm giảm sự phi hiệu quả của độc quyền tự nhiên:

- Định giá băng chi phí trung bình:

Doanh nghiệp sẽ tính tất cả mọi chi phí sản xuất của mình, bao gồm Chi phí cốđịnh và chi phí biến đổi, chia cho bình quân cho đơn vị sản phẩm Chi phí trên mỗi đơn vịgọi là chi phí bình quân đã phân bổ hoàn toàn

Chi phí bình quân đã phân bổ hoàn toàn = Chi biến đổi + Chi phí cố định

Tổng số lượng sản phẩm sản xuấtKhách hàng sẽ phải trả giá đúng bằng mức chi phí bình quân đã phân bổ (Mức giáP2)

Với phương pháp này ưu điểm là loại bỏ hoàn toàn được lợi nhuận siêu ngạch củadoanh nghiệp độc quyền Các doanh nghiệp buộc giảm giá xuống P2 Nhờ đó Chínhphủ thu hẹp được khoảng cách giữa giá và chi phí biên

Tuy nhiên do Q2 vẫn nhỏ hơn Q0 nên giải pháp này có làm doanh nghiệp độc quyềnsản xuất nhiều hơn trước nhưng vẫn chưa đạt mức sản lượng hiệu quả Vẫn gây ra tổnthất phúc lợi xã hội

- Định giá bằng chi phí biên cộng với khoản thuế khoán: Chính phủ sẽ yêu cầu

doanh nghiệp độc quyền đặt giá bán P=MC, và bù đắp lỗ cho doanh nghiệp bằng mộtkhoản hỗ trợ ví dụ như cho vay với một lãi xuất thấp Biện pháp này hoặc sẽ gâyméo mó về giá cả nếu sử dụng loại thuế không phải thuế khoán hoặc sẽ làm ngườiđóng thuế thắc mắc nếu áp dụng thuế khoán

Với biện pháp này sẽ không gây ra méo mó của thuế do đó không tạo ra thêm sựphi hiệu quả cho nền kinh tế Các loại thuế khác gây ra sự thay đổi về giá tương đốigiữa các loại hàng hóa (ví dụ nếu như đánh thuế gạo thì gạo trở nên đắt tương đối so

với vải) và do đó gây ra tổn thất vô ích (hoặc còn gọi là gánh nặng quá mức) nghĩa là

số tiền mà chính phủ thu được từ thuế ít hơn độ thỏa dụng mất đi của người tiêu dùng(do thuế làm tăng giá nên người tiêu dùng phải tiêu dùng ít đi) Trái lại, thuế khoánkhông gây ra sự thay đổi về giá cả tương đối giữa các sản phẩm nên nó có hiệu quảkinh tế hơn so với các loại thuế khác vì để chính phủ thu được một số tiền thuế bằngnhau thì thuế khoán sẽ làm độ thỏa dụng của tất cả các cá nhân giảm đi ít hơn so vớicác loại thuế khác

Thuế khoán rất dễ tính toán, quản lý do đó chính phủ tiêu tốn ít chi phí để thu thuếhơn và giảm thiểu được gian lận thuế vì nó đơn giản chỉ là một số tiền cố định đánhvào tất cả các cá nhân (tất nhiên có trường hợp một số cá nhân có thể được miễn thuế

ví dụ người có thu nhập quá thấp hay tàn tật, mất khả năng lao động )

Tuy nhiên giải pháp này lại khó áp dụng trong thực tế Nguyên nhân là do thuếkhoán không phân biệt cá nhân nên thường bị chỉ trích là không công bằng Theonguyên tắc lợi ich, ai tiêu dùng hàng hóa phải trả thuế, thì có thể sẽ công bằng hơn nếuphần thâm hụt đó được trang trải bằng một thứ thuế chỉ đánh vào người tiêu dùng sảnphẩm độc quyền Nhưng tất cả những loại thuế có phân biệt đều gây ra sự phi hiệu quả

và tổn thất có thể lớn không kém sự phi hiệu quả của độc quyền mà Chính phủ tìm

Trang 31

phải nộp thuế bằng nhau không phân biệt mức thu nhập của họ, ảnh hưởng của thuếkhoán đến các cá nhân có mức thu nhập khác nhau cũng khác nhau và dĩ nhiên đối vớingười thu nhập thấp thì ảnh hưởng rất lớn Do vậy thuế khoán gặp phải sự phản đốicủa người đóng thuế, đặc biệt là người đóng thuế có thu nhập không cao, nó chỉ khảthi khi mức thuế đủ nhỏ và khi đó số tiền thuế mà chính phủ thu được cũng khôngnhiều Muốn loại trừ điều này chỉ có cách đánh thuế theo mức thu nhập của từng cánhân nhưng nếu làm như thế các cá nhân lại điều chỉnh hành vi làm việc và tiết kiệmcủa mình đồng thời thuế khoán mất đi bản chất của nó Hơn nữa thuế khoán dườngnhư đánh vào sự tồn tại của con người, người đóng thuế sẽ cảm thấy rằng sự tồn tạicủa bản thân bị chính phủ sở hữu Trên khía cạnh khác, mặc dù mỗi cá nhân đóng thuếvới mức giống nhau nhưng những gì họ nhận lại được từ chính phủ lại khác nhau.Chính vì vậy trên thực tế thuế khoán cho dù hiệu quả kinh tế hơn các loại thuế khác vàkhá phổ biến trong quá khứ nhưng hầu như không được áp dụng trong thời hiện đại.Năm 1990, chính phủ Anh dưới thời bà Margaret Thatcher đã áp dụng thuế khoán(miễn thuế đối với người có thu nhập thấp và người không có khả năng lao động)nhưng gặp phải sự phản đối kịch liệt thậm chí dẫn đến bạo động của dân chúng và đã

bị bãi bỏ năm 1993 bởi chính phủ của thủ tướng John Major

- Định giá hai phần: Định giá hai phần gồm một khoản lệ phí để được sử dụng

dịch vụ của hang độc quyền (Mức này bằng NP0) cộng với mức giá bằng chi phí biênvới mỗi đơn vị sử dụng

Cách này thường áp dụng trong các công ty sử dụng điện thoại

Tuy nhiên với giải pháp này người tiêu dùng phải trả trước một khoản chi phí đểđược phép sử dụng dịch vụ Điều này có thể làm một số người sd ngần ngại, khiếnmức tiêu dùng thực tế thấp hơn mức hiệu quả

2.2 Các ngoại ứng (một số tài liệu gọi là ảnh hưởng ngoại sinh hay ngoại lai)

2.2.1 Khái niệm và đặc điểm

a Khái niệm:

Khi tham gia vào các giao dịch thị trường, người ta phải trả tiền để nhận đượcnhững lợi ích mong muốn Ví dụ, để có được những hàng hóa hữu ích dành cho tiêudùng, chúng ta phải bỏ tiền ra để mua sắm chúng Ngược lại, khi bị thiệt hại, người ta

sẽ nhận được khoản tiền đền bù Chẳng hạn, khoản tiền lương mà những người côngnhân làm trong một nhà máy lắp ráp xe máy nhận được chính là khoản đền bù màngười chủ nhà máy chi trả cho việc “buộc” những người công nhân này phải hy sinhnhững giờ nghỉ ngơi để làm việc Khi ngoại ứng tồn tại, người ta có thể nhận đượcnhững khoản lợi ích mà không phải trả tiền hoặc bị thiệt hại mà không được đền bù Ví

dụ, hoạt động sản xuất xi măng của một doanh nghiệp có thể gây ô nhiễm môi trườngnặng nề cho vùng xung quanh nhà máy Những người sống ở vùng này có thể sẽ phảihít thở bầu không khí ô nhiễm, phải sử dụng nguồn nước kém trong sạch mà khôngđược đền bù Trong trường hợp này, ta nói, hoạt động sản xuất xi măng nói trên đă gây

ra một ngoại ứng

Vậy ngoại ứng là khi hành động của một đối tượng (có thể là một cá nhân hoặchãng) có ảnh hửng trực tiếp đến phúc lợi của một đối tượng khác nhưng những ảnh

Trang 32

hưởng đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trường thì ảnh hưởng đó được gọi

là các ngoại ứng

Ngoại ứng xuất hiện khi một quá tŕnh sản xuất hay tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụnào đó tác động (gây thiệt hại hay mang lại ích lợi) đến cả những người không trựctiếp tham gia vào các giao dịch thị trường

Khi xem xét các sự ảnh hưởng của ngoại ứng, chúng ta thấy có những ngoại ứng

mà sự tác động của nó có thể gây thiệt hại đến lợi ích của người thứ 3, ngược lại cónhững ngoại ứng lại tạo ra lợi ích cho đối tượng khác Căn cứ vào sự tác động củangoại ứng ta có thể chia ngoại ứng thành:

Ngoại ứng tiêu cực là những chi phí áp đặt lên một đối tượng thứ ba (ngoài ngườimua và người bán), nhưng chi phí đó lại không được phản ánh trong giá cả thị trường.Khi một quá tŕnh sản xuất hay tiêu dùng hàng hóa (hoặc dịch vụ) gây thiệt hại cho

ai đó mà người này không được đền bù thì ta nói quá tŕnh đó đă gây ra một ngoại ứngtiêu cực Nói cách khác, ngoại ứng tiêu cực xảy ra trong trường hợp một hoạt động sảnxuất hay tiêu dùng nào đó tác động tiêu cực (tạo ra một tổn hại hay chi phí) cho ngườikhác song người gây ra tác động lại không bị trừng phạt bởi những gì mà anh ta gây

ra Tác động gây ô nhiễm môi trường của việc sản xuất xi măng nói trên là ví dụ điểnhình của một ngoại ứng tiêu cực

Ngoại ứng tích cực là những lợi ích mang lại cho bên bên thứ 3 (không phải làngười mua và người bán), lợi ích đó cũng không được phản ánh trong giá bán

Ngược lại, một hoạt động sản xuất hay tiêu dùng nhất định có thể gây ra ngoại ứngtích cực nếu như nó đem lại lợi ích cho một người nào đó mà người này không phải trảtiền Chẳng hạn, việc chúng ta sửa chữa hay xây dựng ngôi nhà của mình có thể làmđẹp thêm cả ngôi nhà của người hàng xóm nếu như ngôi nhà của ta được thiết kế mộtcách cẩn trọng và tỏ ra hài hòa với những ngôi nhà xung quanh Trong trường hợp này,người hàng xóm đă được thụ hưởng một ngoại ứng tích cực: anh ta được lợi mà khôngphải tốn kém gì thêm

Ngoại ứng và sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả của thị trường: Ở trên, chúng

ta nói rằng, khi thị trường là thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì sản lượng cân bằng thịtrường chính là sản lượng hiệu quả Pareto Thật ra điều khẳng định đó chỉ đúng với giảđịnh rằng mọi hành vi sản xuất hay tiêu dùng có liên quan đến thị trường này đềukhông gây ra ngoại ứng

Khi không có ngoại ứng, lợi ích hay chi phí xă hội trong việc sản xuất hay tiêudùng một khối lượng hàng hóa nào đó được thể hiện chính bằng lợi ích hay chi phí màchính những cá nhân trực tiếp tham gia vào các giao dịch thị trường có liên quan đượcthụ hưởng hay bị gánh chịu Nói một cách quy ước: trong trường hợp này, lợi ích haychi phí xă hội cũng chính là lợi ích hay chi phí tư nhân Ví dụ, khi việc sản xuất 1 tấnbánh trung thu của doanh nghiệp A không gây ra một ngoại ứng nào (tức sự kiện nàykhông gây ra một tổn hại – chi phí nào cũng như không đem lại thêm một lợi ích nàocho những người không tham gia vào việc mua bán bánh) thì chi phí (về nguồn lực)của xă hội để tạo ra tấn bánh trên được đo chính bằng chi phí kinh tế để sản xuất ra tấn

Trang 33

chẳng hạn) không gây ra ngoại ứng gì (không đem lại lợi ích cũng như không làm thiệthại gì đến người khác) thì lợi ích xă hội của việc tiêu dùng chiếc bánh trên sẽ đượcbiểu hiện chính bằng độ thỏa dụng mà B có được do ăn chiếc bánh trên.

Trái lại, khi ngoại ứng xuất hiện, lợi ích hay chi phí xă hội trong việc sản xuất haytiêu dùng một khối lượng hàng hóa nào đó sẽ không trùng khớp với lợi ích hay chi phícủa các cá nhân (ta gọi là lợi ích hay chi phí tư nhân) Chẳng hạn, nếu việc sản xuấthàng hóa của một doanh nghiệp gây ra ô nhiễm đối với môi trường và những ngườidân sinh sống xung quanh không được doanh nghiệp đền bù gì thì chi phí xă hội củaviệc sản xuất một khối lượng hàng hóa nhất định, ngoài những chi phí kinh tế màdoanh nghiệp phải bỏ ra hay hy sinh còn phải bao hàm cả những tổn hại về môi trường

mà người dân phải gánh chịu do có việc sản xuất trên Trong trường hợp ngoại ứngtiêu cực này, chi phí xă hội của việc sản xuất một khối lượng hàng hóa nhất định rơràng lớn hơn chi phí tư nhân của các nhà sản xuất

b Đặc điểm:

Ngoại ứng có thể được chia thành ngoại ứng tiêu cực hoặc ngoài ứng tích nhưng tất

cả đều có những đặc điểm chung đó là:

Ngoại ứng có thể do cả hoạt động sản xuất lẫn tiêu dùng gây ra Một nhà máy gây

ô nhiễm là ngoại ứng tiêu cực do sản xuất Một cá nhân hút thuốc là làm nguy hiểmđến sức khỏe của người ngồi xung quanh là ngoại ứng tiêu cực do tiêu dùng

Trong ngoại ứng, việc ai là người gây tác hại (hay lợi ích) cho ai nhiều khi chỉmang tính tương đối

Sự phân biệt giữa tính chất tích cực và tiêu cực của các ngoại ứng chỉ mang tínhchất tương đối Cùng một hoạt động ngoại ứng nhưng nó được đánh giá tốt hay xấucòn tùy thuộc vào quan điểm, góc nhìn của những người chịu ảnh hưởng

Tất cả các ngoại ứng đều phi hiệu quả, nếu xét dưới quan điểm xã hội Trên thịtrường khi tham gia vào các giao dịch mua bán hàng hóa, những người sản xuất haytiêu dùng chỉ quan tâm đến những chi phí và lợi ích trực tiếp mà chính họ phải bỏ rahay được thụ hưởng Vì thế, giá cả thị trường, phản ánh quá tŕnh mặc cả của nhữngngười này, trên thực tế chỉ phản ánh các chi phí và lợi ích tư nhân (của những ai trựctiếp tham gia giao dịch) Khi ngoại ứng xuất hiện, giá cả thị trường không thể hiện vàphản ánh đầy đủ chi phí hay lợi ích đứng trên quan điểm xă hội Do vậy, trong trườnghợp này, sản lượng cân bằng thị trường không còn là sản lượng hiệu quả xă hội, cho

dù thị trường là thị trường cạnh tranh hoàn hảo

2.2.2 Ngoại ứng tiêu cực

2.2.2.1 Sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực

Giả định 1 nhà máy và một hợp tác xã đánh cá cùng sử dụng chung một hồ nước

Và hồ nước không có ai là chủ sở hữu.Nhà máy dùng chiếc hồ làm nơi xả chất thải.Hoạt động của nhà máy khiến cả hồ nước bị ô nhiễm khiến cá chết hàng loạt Như vậyhoạt động của nhà máy làm cho hợp tác xã bị thiệt hại mà không phải thông qua cơchế giá trên thị trường

Trong ví dụ trên, nguồn nước sạch cũng là một trong các yếu tố đầu vào của quátrình sản xuất của nhà máy Như tất cả các yếu tố khác như đất đai, lao động, vốn,

Trang 34

nguyên vật liệu, nước sạch cũng là 1 nguồn lực khan hiếm với các cách lựa chọn sửdụng khác như để hợp tác xã đánh cá Đối với các nguồn lực khác, nhà máy sử dụngchúng hiệu quả vì nhà máy phải chi trả cho những người sở hữu các nguồn lực vớimức giá thể hiện giá trị sử dụng chúng thay thế của chúng Tuy nhiên, nhà máy lạikhông chi trả cho nước như là một nguồn lực khan hiếm có thể sử dụng cho các hoạtđộng khác Do đó hệ quả là nhà máy sử dụng khối lượng nước lớn và không hiệu quả.

Cụ thể theo dõi mô hình:

Hình 2.3: Ngoại ứng tiêu cực

Trong mô hình, trục hoành phản ảnh sản lượng Q do nhà máy sản xuất Trục tung

đo lường chi phí và lợi ích mà hoạt động sản xuất tạo ra, được tính bằng tiền Đường

MB cho biết lợi ích biên mà nhà máy thu được, ứng với từng mức sản lượng đầu ra.Đường MB có chiều dốc xuống do lợi ích biên của nhà máy có xu hướng giảm dần khisản phẩm đầu ra tăng

Liên quan đến mỗi mức sản lượng đầu ra có Đường MPC thể hiện chi phí tư nhânbiên, thể hiện khoản chi phí mà nhà máy thực sự phải chi ra để sản xuất thêm một đơn

vị sản lượng và chi phí tư nhân biên này sẽ tăng cùng với sản lượng đầu ra

Hoạt động của nhà máy tạo ra ô nhiễm làm cho hợp tác xã bị thiệt hại Giả sử khisản lượng đầu ra của nhà máy tăng lên thì quy mô ô nhiễm nó tạo ra cũng tăng Quy

mô ô nhiễm được thể hiện trên đường MEC - chi phí ngoại ứng biên Đường MEC chobiết tổng thiệt hại mà hợp tác xã phải gánh chịu khi nhà máy sản xuất thêm một đơn vịsản lượng Mức thiệt hại này được giả định tăng dần khi sản xuất của nhà máy mởrộng do đó đường MEC chiều đi lên giống đường MPC

Trên góc độ của mình, nhà máy quyết định sản xuất khi lợi ích biên đối với nhàmáy vượt quá chi phí biên đối với anh ta Trong đồ thị, nhà máy sản xuất toàn bộ mứcsản lượng của mình để MB vượt MPC nhưng sẽ không sản xuất khi MPC vượt quá

MB Do đó, anh ta sản xuất đến mức Q1 là nơi MPC cắt MB tại điểm B Tại đó MB =

= MPC Như vậy Q1 là mức sản lượng tối ưu của nhà máy

Trên góc độ xã hội, chi phí biên đối với xã hội bao gồm 2 phần: Phần thứ nhất làgiá trị chi phí mua sắm đầu vào của nhà máy được phản ánh trên đường MPC, phầnthứ hai là giá trị chi phí thiệt hại do ô nhiễm từ hoạt động của nhà máy mà hợp tác xãphải gánh chịu được thể hiện bằng đường MEC

Như vậy chi phí biên đối với xã hội, ký hiệu là MSC sẽ bao gồm MPC và MEC

Trang 35

Trên phương diện hình học là đường MSC phản ảnh chi phí biên với xã hội, đượcxác định bằng cách cộng chiều cao của MPC và MEC tại mỗi mức sản lượng đầu ra.Theo nguyên tắc biên của tính hiệu quả, vì quan tâm đến chi phí của cả xã hội nênmức sản lượng tối ưu theo quan điểm xã hội phải đặt tại A, khi MB = MSC, với mứcsản lượng hiệu quả là Qo Nhà máy gây ngoại ứng tiêu cực đã sản xuất quá nhiều vớimức tối ưu của xã hội.

Vậy khi sản lượng của nhà máy bị cắt giảm từ Q1 xuống còn Q0 sẽ có điều gì xảyra? Chúng ta cùng xem xét:

Đối với nhà máy khi bị cắt giảm sản lượng từ Q1 xuống Qo sẽ khiến lợi nhuậngiảm Cụ thể chúng ta thấy rằng khoảng cách thẳng đứng giữa đường MB và MPC làlợi ích ròng mà nhà máy thu được khi sản xuất thêm 1 đơn vị sản phẩm Nếu bắt buộcphải cắt giảm sản lượng từ Q1 xuống Qo nhà máy mất đi 1 phần lợi nhuận là khoảngcách giữa MB và MPC đối với mỗi đơn vị sản phẩm giữa Q1Qo Như vậy tổng lợinhuận bị mất đi là tam giác ABE

Trong cùng lúc đó, đối với hợp tác xã khi sản lượng giảm từ Q1 xuống còn Q0 sẽđược lợi hơn khi nhà máy cắt giảm sản lượng Đối với mỗi đơn vị sản phẩm đầu ragiảm xuống của nhà máy, hợp tác xã thu được lợi ích bằng số lượng thiệt hại ròng liênquan đến mỗi đơn vị sản phẩm đầu ra giảm đi Cụ thể trong hình vẽ khoản hợp tác xãđược lợi trên mỗi đơn vị sản phẩm đầu ra bị giảm đi là bằng khoảng cách thẳng đứnggiữa đường MEC và trục hoành Như vậy khoảng thu lợi của HTX khi đầu ra bị giảm

từ Q1 xuống Qo là diện tích dưới đường MED giữa Q1 va Qo , là hình thang abQ1Q0Chúng ta dễ dàng thấy được diện tích hình thang abQ1Q0 bằng diện tích AEBC.Như vậy nếu mức sản lượng giảm xuống từ Q1 xuống Q, nhà máy sẽ mất đi diện tíchABE và HTX sẽ được hưởng lợi với diện tích abQ1Q0

Đối với quan điểm xã hội thì một đồng của hợp tác xã tăng thêm tương đương với

1 đồng nhà máy mất đi Khi dịch chuyển mức sản lượng từ Q1 xuống Qo xã hội thuđược khoản lợi nhuận bằng hiệu số giữa abQ1Q0 và ABE là phần diện tích ABC

Với phân tích trên, về tổng thể ô nhiễm bằng 0 không hẳn là được mong đợi theoquan điểm xã hội Việc xác định quy mô ô nhiễm đúng đòi hỏi phải cân bằng các yếu

tố so sánh giữa chi phí là lợi ích Mức sản lượng hiệu quả không có nghĩa là mức sảnxuất không gây ô nhiễm, bởi vì yêu cầu như vậy đồng nghĩa với việc chấm dứt sảnxuất Đây rõ ràng là một biện pháp không hiệu quả Do đó, Cái mà xã hội yêu cầu làphải tìm ra một mức ô nhiễm chấp nhận được theo nghĩa lợi ích của sản xuất manh lạiphải đủ bù đắp những chi phí mà xã hội phải gánh chịu khi tiến hành sản xuất, trong

đó tính đến cả chi phí do ô nhiễm

2.2.2.2 Giải pháp khắc phục:

Với sự hiện diện của ngoại tác, vấn đề phân bố nguồn lực không hiệu quả sẽ nổilên nếu ta không có biện pháp tác động Phần này sẽ bàn về các trường hợp trong đócác cá nhân, khi hoạt động dựa trên quyền lợi của mình có thể tránh được ngoại tácxảy ra

Trang 36

a Các giải pháp tư nhân đối với ngoại ứng: Những giải pháp mang tính tư nhân

là những giải pháp mà khu vực tư nhân sẽ tự điều chỉnh hành vi của mình từ đó giảmbớt sự phi hiệu quả của ngoại ứng

* Sáp nhập: Một cách để đối phó với ngoại tác là nội hóa ngoại ứng bằng cách sáp

nhập các bên liên quan với nhau (Giả sử ta chỉ có một người gây ô nhiễm và mộtngười chịu ô nhiễm như trường hợp nhà máy và hợp tác xã) tạo thành một liên doanh.Khi đó, liên doanh sẽ phải cân nhắc lợi ích của cả hai hoạt động sản xuất của nhà máy

và hoạt động đánh bắt cá của hợp tác xã và liên doanh sẽ dừng lại ở mức sản lượng tối

ưu xã hội Vì nếu nhà máy cùng hợp tác xã kết hợp hoạt động của họ thì lợi nhuận từliên doanh sẽ cao hơn tổng lợi nhuận từng cá nhân khi họ không có sự kết hợp Cụ thểkhi giảm mức sản lượng của nhà máy từ Q1 xuống Q0, lợi nhuận của chi nhánh sảnxuất công nghiệp giảm, lợi nhuận của chi nhánh đánh cá tăng nhanh hơn (Sự đánh đổigiữa tam giác ABE của nhà máy với hình thang abQ1Q0) Nhờ đó tổng lợi nhuận củaliên doanh tăng

Tuy nhiên với giải pháp này khó khăn trong việc tạo ra các liên doanh trong thực

tế, nhất là khi ngoại ứng có ảnh hưởng đến rất đông đối tượng như cộng đồng dâncư…

* Dùng dư luận xã hội: Dùng dư luận hoặc tập tục, lề thói xã hội làm một công cụ

để buộc phải lưu tâm đến các ngoại ứng mà mình gây ra Không giống như các công

ty, các cá nhân không thể hợp nhất lại để nội hóa ngoại ứng Dù vậy, các quy ước xãhội có thể được xem như là nỗ lực buộc mọi người phải quan tâm đến các ngoại ứng

do họ gây ra Ví dụ trẻ em được giáo dục không gây mất vệ sinh nơi công cộng Nếucách dạy dỗ là hiệu quả, đứa trẻ hiểu rằng ngay cả khi nó phải chịu ít chi phí để manggiấy gói kẹo đến thùng rác, nó vẫn nên hành động bởi vì chi phí đó nhỏ hơn chi phíngười khác phải gánh chịu khi có rác bẩn trên đường phố Xã hội có thể dùng dư luận

để buộc các doanh nghiệp này phải chú trọng đến việc sử dụng công nghệ sạch…Chúng ta hãy nghĩ đến một nguyên tắc vàng đó là: hãy nghĩ đến người khác như làđến bản thân mình Những quy tắc đạo đức làm cho con người thông cảm người khác

và do đó nội bộ hóa được các ngoại ứng Các quy tắc đạo đức điều chỉnh lại các khiếmkhuyết của thị trường

b Các giải pháp của Chính phủ

Trong trường hợp các cá nhân hành động với lợi ích riêng của mình không thể đạtđược giải pháp hiệu quả, có một số phương pháp theo đó, Chính phủ có thể can thiệpvào

* Đánh thuế:

Chúng ta thấy rằng nhà máy sản xuất không hiệu quả bởi vì mức giá trả cho cácyếu tố đầu vào không thể hiện đúng chi phí sản xuất xã hội (Chi phí cho nguồn nước bịnhà máy làm ô nhiễm) Do đó, biện pháp được nhà kinh tế học người Anh Arthur.CecilPigou đề nghị là đánh thuế vào nhà máy gây ô nhiễm để bù lại các yếu tố đầu vào sảnxuất có giá quá thấp

Thuế Pigou là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị sản phẩm đầu ra của hãng gây ô

Trang 37

Hình 2.4: Đánh thuế đối với ngoại ứng tiêu cực

Vậy nhà máy sẽ phản ứng như thế nào nếu bị áp thuế AE mỗi đơn vị sản phẩm đầura? Khi Chính phủ đánh thuế t lên mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất ra, thuế làm tăng chiphí tư nhân biên của nhà máy Đối với mỗi đơn vị sản phẩm nhà máy phải chi trả chonhà cung cấp đầu vào (đo bằng MPC) và cho Chính phủ (Người thu thuế) một khoản t.Xét trên hình vẽ, chi phí tư nhân biên của nhà máy được xác định bằng cách cộngthêm một khoảng t vào MPC tại mỗi mức sản lượng đầu ra Như vậy đường MPC củanhà máy dịch chuyển song song lên trên thành đường MPC+t

Để tối đa hóa lợi nhuận, nhà máy sẽ đặt (MPC+t) = MB Do đó nhà máy sẽ sảnxuất tại điểm có sản lượng Q0 Chính sách thuế của Chính phủ đã buộc nhà máy phảigiảm mức sản lượng từ Q1 xuống Q0, mức sản lượng hiệu quả hơn

Trong giải pháp này Chính phủ thu được khoản thuế Pigou, được xác định:

T= t x Q0 = S(AEHG)

Chính phủ có thể sử dụng khoản thuế thu được này để bồi thường cho hợp tác xãđánh cá, đối tượng vẫn bị thiệt hại do các hoạt động của nhà máy mặc dù mức độ thiệthại đã được giảm đi rất nhiều trước khi có thuế

Dù vậy, chúng ta vẫn cần thận trọng Nếu mọi người ai cũng biết rằng nếu đi bắt cátrên sông sẽ nhận được tiền bồi thường thì các hợp tác xã khác sẽ bắt cá tại dòng sông

đó Kết quả sẽ có rất nhiều hợp tác xã khác cùng hoạt động đánh bắt cá trên dòng sông

Do đó điều chủ chốt ở đây không nhất thiết phải đền bù cho nạn nhân của ô nhiếm môitrường để đạt được hiệu quả

Tuy nhiên khi thực hiện biện pháp này, có những vấn đề thực tế trong việc thựchiện hệ thống thuế Pigou Phương pháp tiếp cận thuế dựa trên giả thiết rằng ta biết ai

là người gây ô nhiễm với quy mô ra sao Trên thực tế, trong nhiều trường hợp, các câuhỏi đó rất khó trả lời hoặc muốn tìm được câu tra lời thì chi phí vô cùng lớn Do đó,không dễ dàng xác định chính xác mức thuế suất Tuy vậy, người ta có thể sử dụngnhững cách đánh thuế gián tiếp vào những hàng hóa bổ sung với hoạt động gây ônhiễm Ví dụ một số loại xe ô tô thải ra khói độc hại Trên lý thuyết, một loại thuế đặt

cơ sở trên số km xe chạy sẽ đề cao tính hiệu quả Nhưng loại thuế trên km xe chạy thìchi phí thực hiện và quản lý rất cao Thay vào đó, Chính phủ đánh thuế tiêu thụ đặcbiệt lên xe ô tô, mặc dù chủ sở hữu ô tô tự mình không xác định được quy mô ngoại

Trang 38

tác mà chỉ xác định được số km xe chạy Thuế tiêu thụ đặc biệt này có thể không manglại kết quả hiệu quả nhất nhưng nó có cải thiện phần nào hiện trạng.

* Trợ cấp:

Trong điều kiện số người gây ô nhiễm là cố định thì có thể đạt mức sản lượng hiệuquả bằng cách trả cho người gây ô nhiễm để họ giảm bớt mức độ gây ô nhiễm môitrường Mặc dù phương pháp này nghe có vẻ không bình thường, nó có thể thực hiệnđược giống như một hệ thống thuế Có điều này bởi vì trợ cấp cho việc không gây ônhiễm môi trường hay đơn giản một phương pháp khác là làm tăng thêm chi phí sảnxuất hiệu quả của người gây ô nhiễm

Chính phủ tuyên bố với mỗi đơn vị sản lượng mà nhà máy ngừng sản xuất Chínhphủ sẽ trợ cấp một khoản bằng AE Khi được trợ cấp, phản ứng của nhà máy đó là sẽcân nhắc giữa lợi ích biên ròng mà mình nhận được khi sản xuất thêm một đơn vị sảnlượng (khoảng cách giữa hai đường MB và MPC) và mức trợ cấp nhận được nếukhông sản xuất đơn vị sản lượng đó

Với tất cả các đơn vị sản lượng từ Q0 đến Q1: mức lợi ích biên ròng thấp hơn mứctrợ cấp Khoản trợ cấp hấp dẫn đối với nhà máy do đó khi có trợ cấp nhà máy khôngsản xuất những đơn vị sản lượng dư thừa

Những đơn vị sản lượng từ Q0 trở xuống có lợi ích biên ròng lớn hơn mức trợ cấp

do đó chính sách trợ cấp không hấp dẫn đối với nhà máy Nhà máy sẽ dừng sản xuấttại Q0 – Mức sản lượng hiệu quả mà xã hội yêu cầu

Với phương pháp đánh thuế, nhà máy là người trả tiền, trong trợ cấp doanh nghiệp

là người nhận tiền

Với biện pháp trợ cấp rõ ràng có thể khiến cho sản lượng gây ô nhiễm giảm xuống

từ đó giảm sự phi hiệu quả của ngoại ứng tiêu cực Tuy nhiên, biện pháp này đi ngượcvới quan điểm chung của xã hội là người gây hại cho xã hội phải bị trừng phạt chứkhông phải được thưởng Do đó trợ cấp không được mong đợi theo quan điểm đạođức

Bên cạnh đó, nhắc lại giả định ban đầu là có một số lượng công ty cố định Trợ cấpdẫn đến lợi nhuận của các doanh nghiệp cao hơn, do đó trong xu hướng dài hạnphương pháp này có thể khuyến khích những nhà máy khác cũng đến hoạt động bên

bờ hồ để nhận được trợ cấp Do đó có thể làm cho tổng thể ô nhiễm tăng lên Vì vậy,biện pháp này chỉ hữu hiệu khi nó được kết hợp với các biện pháp khác nhằm ngănchặn nguy cơ xuất hiện những người gây ô nhiễm mới

Hơn thế nữa để có tiền trợ cấp, Chính phủ sẽ buộc phải tăng thuế ở đâu đó trongnền kinh tế, và thuế có thể gây ra tính phi hiệu quả ở những nơi khác trong nền kinh tế

Do đó Chính phủ cần xem xét giữa lợi ích đạt được từ biện pháp với những hệ lụy cóthể xảy ra từ việc tăng thuế

* Hình thành thị trường về ô nhiễm: Như chúng ta đã nhấn mạnh, tính không hiệu

quả liên quan đến các ngoại ứng có thể được kết nối với sự vắng mặt của thị trườngcác nguồn lực thích hợp Điều này đề xuất một phương cách khác để nâng cao tínhhiệu quả đó là Chính phủ bán quyền gây ô nhiễm thông qua các giấy phép gây ô

Trang 39

Cụ thể Chính phủ bán giấy giấy phép cho phép các nhà sản xuất được xả thải mộtlượng phế thải Z* (tương đương với lượng phế thải khi sản xuất tại Q0) Các hãng sảnxuất sẽ tiến hành đấu giá để mua những giấy phép này Hãng nào trả giá cao nhất sẽđược nhận giấy phép.

Mức giá của những giấy phép này sẽ là mức giá cân bằng thị trường, sao cho lượng

ô nhiễm sẽ đúng bằng mức Chính phủ mong muốn Mức giá cân bằng đối với các giấyphép xả thải được gọi là phí xả thải

Bằng cách này thực tế Chính phủ tạo ra một thị trường không khí sạch hay nướcsạch mà nếu không làm như vậy thì các thị trường không bao giờ xuất hiện

Với hệ thống này, Chính phủ công bố bán các giấy phép được xả thải Z* chất ônhiễm môi trường (lượng chất ô nhiễm liên quan đến mức sản lượng đầu ra Q0) Cáccông ty sẽ đấu thầu các quyền gây ô nhiễm này Giấy phép sẽ cấp cho công ty nào trảgiá cao nhất Mức phí thu được là mức quy định bởi thị trường, do đó quy mô ô nhiễm

là bằng mức do Chính phủ đặt ra Giá phải trả cho giấy phép tính bằng giá trị đối vớinhà sản xuất đang có khả năng gây ô nhiễm tính bằng giá trị đối với nhà sản xuất đang

có khả năng gây ô nhiễm môi trường

Phương pháp tiếp cận được thể hiện trong hình vẽ:

Hình 2.6 Thiết lập thị trường về giấy phép xả thải

Trong hình vẽ, trục hoành cho biết số lượng giấy phép xả thải được Chính phủ cấp,trục tung là giá của các giấy phép xả thải

Chính phủ tuyên bố bán đấu giá Z* số lượng giấy phép xả thải Số lượng giấy phépđược Chính phủ ban hành là cố định Do đó cung về giấy phép xả thải là đường thẳngđứng SzZ* Đường cầu về giấy phép là đường dốc xuống Mức giá cân bằng cho giấyphép đạt tại P* Những hãng sản xuất không sẵn sàng trả mức giá P* cho mỗi đơn vị ônhiễm gây ra sẽ phải giảm sản lượng hoặc lựa chọn một công nghệ sản xuất sạch hơn.Trong trường hợp Chính phủ cấp không giấy phép xả thải cho các hãng, rồi các hãngđược trao đổi mua bán trên thị trường thì kết quả đạt được vẫn như thế Vì hãng nào cóbiện pháp làm giảm ô nhiễm rẻ tiền hơn thì trị giá giấy phép xả thải sẽ có giá trị thấphơn P* Hãng đó có thể bán lại cho những hãng khác cần giấy phép hơn

Về ỹ nghĩa phân phối, với cơ chế đấu giá Chính phủ sẽ thu được tiền Với cơ chếcho phép chuyển nhượng các giấy phép được cấp số tiền chuyển nhượng sẽ thuộc vềnhững hãng may mắn được Chính phủ cấp cho giấy phép

Trang 40

Chúng ta so sánh giữa hai phương pháp đánh thuế và phí xả thải thấy rằng haiphương pháp đều tạo ra kết cục hiệu quả như nhau Trong mọi trường họp, trong môhình đơn giản này, cả giấy phép và thuế Pigou đều thực hiện đến mức ô nhiễm hiệuquả

Cả hai phương pháp đều có điều kiện áp dụng giống nhau Việc thực hiện mộttrong các phương pháp đều đòi hỏi kiến thức về người gây ô nhiễm, tức là đều phảixác định chính xác từ đầu ai là người gây ô nhiễm, và gây ô nhiễm ở mức độ baonhiêu Vậy người ta lựa chọn giữa 2 phương pháp trên như thế nào?

Tuy nhiên khi xem xét hai biện pháp thấy rằng biện pháp phí xả thải có lợi thế hơnbiện pháp đánh thuế Điểm quan trọng nhất của hệ thống giấy phép là Chính phủ giảmđược tính không ổn định của mức gây ô nhiễm cuối cùng Biện pháp đánh thuế đòi hòinhà hoạch định phải nắm được khá rõ về các đường chi phí biên và lợi ích biên Khi đó

họ có thể xác định một cách tương đối chính xác mức thuế suất Pigou Do đó Chínhphủ có thể sẽ gặp khó khăn do thiếu thông tin Nếu có quá ít thông tin rất khó biếtđược loại thuế đang xét sẽ giảm được bao nhiêu ô nhiễm Sự thiếu thông tin này buộccác nhà làm chính sách lựa chọn hệ thống giấy phép

Trong cơ chế giấy phép, nếu các hãng đều có động cơ tối đa hóa lợi nhuận, họ sẽ

cố gắng tìm ra các công nghệ sản xuất với chi phí thấp nhất để đạt tiêu chuẩn do Chínhphủ đề ra

Hơn thế nếu nền kinh tế xảy ra lạm phát, hệ thống thuế đòi hỏi phải điều chỉnh liêntục để đảm bảo mức thuế phản ánh đúng giá trị của chi phí ngoại ứng biên Cũng nhưviệc thay đổi mức thuế suấ đòi hỏi một quy trình rất lâu dài Trong cơ chế giấy phép xảthải, mức phí xả thải tự động điều chỉnh theo lạm phát vì nó tuân theo quy luật cânbằng cung cầu

Tuy nhiên vấn đề có thể này sinh đó là các hãng lớn có thể coi đây là một công cụ

để chặn các cơ hội xâm nhập thị trường của các hãng mới bằng cách bỏ tiền ra mua hếtcác giấy phép xả thải Từ đó ảnh hưởng đến sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường.Trong thực tế, rất khó dự đoán được cung cách và chiến lược hoạt động như vậy củacác công ty

* Quy định về quyền sở hữu tài sản:

Ta nhắc lại nguyên nhân sâu xa của tính không hiệu quả liên quan đến ngoại ứng làkhông có quyền sở hữu Khi quyền sở hữu được chỉ định các cá nhân có thể phản ứngvới các ngoại ứng bằng cách thường mặc cả với nhau

Nhà kinh tế học người Mỹ Ronald Coase cho rằng nguyên nhân từ việc thiếu hụtmột quy định rõ ràng về quyền sở hữu các nguồn lực được các bên sử dụng chung Do

đó ông đã đưa ra biện pháp: Nếu chi phí đàm phán là không đáng kể thì có thể đưa ra được một giải pháp hiệu quả đối với ngoại ứng bằng cách trao quyền sở hữu đối với các nguồn lực được sử dụng chung cho một bên nào đó Kết quả này không phụ thuộc vào việc bên nào trong số các bên có liên quan đến ngoại ứng được trao quyền sở hữu.

Từ quan điểm của nhà kinh tế học người Mỹ Ronald Coase chúng ta sẽ xem trong

Ngày đăng: 30/03/2019, 20:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w