Từ thực trạng của việc dạy và học ở các lớp cũng như việc bồi dưỡng học sinh giỏi sinh học đang gặp một số khó khăn như: giáo viên chưa chuẩn bị tốt hệ thống lý thuyết và chưa xây dựng đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 35 Mẫu nghiên cứu 7
6 Câu hỏi nghiên cứu 7
7 Giả thuyết nghiên cứu 7
8 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
9 Phương pháp nghiên cứu 8
12 Cấu trúc của luận văn 9 CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10 1.1 Cơ sở lí luận 10 1.1.1 Hệ thống hoá kiến thức trong dạy học Sinh học 10
1.1.1.1 Hệ thống hoá kiến thức 10
1.1.1.2 Vai trò của việc hệ thống hoá kiến thức 11 1.1.1.3 Yêu cầu của sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức 13 1.1.1.4 Những nguyên tắc của việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng hệ thống hoá kiến thức 13 1.1.1.5 Những biện pháp hệ thống hoá kiến thức 15 1.1.2.6 Khái niệm về kỹ năng hệ thống hoá kiến thức 18 1.1.2 Cơ sở lí luận của việc sử dụng câu hỏi và bài tập trong dạy học
Trang 42
Sinh học 20 1.1.2.1 Khái niệm bài tập, bài tập nhận thức, câu hỏi tự lực 20 1.1.2.2 Lược sử ra đời của bài tập Sinh học trong dạy hoc Sinh học 22 1.1.2.3 Bản chất của bài tập di truyền trong dạy học 23 1.1.2.4 Vai trò của bài tập di truyền trong dạy học 23 1.1.2.5 Các tiêu chuẩn của bài tập di truyền trong dạy học Sinh học 24 1.1.2.6 Đặc điểm của bài tập trong dạy học nội dung các quy luật và
hiện tượng di truyền 26 1.2 Thực trạng việc dạy học sinh giỏi lớp 9 về nội dung kiến thức các quy luật và hiện tượng di truyền 29
1.2.1 Việc học của học sinh 29 1.2.2 Việc dạy của giáo viên 31
CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9 MÔN SINH HỌC 33 2.2 Chương trình và nội dung kiến thức phần các quy luật và hiện
tượng di truyền 33 2.2.1 Vị trí, tầm quan trọng của nội dung kiến thức quy luật và hiện
tượng di truyền trong chương trình Sinh học 9 33 2.2.2 Phân tích chương trình và nội dung kiến thức quy luật và hiện
tượng di truyền 33 2.3 Mục tiêu kiến thức và kỹ năng cần có khi học về nội dung các
quy luật và hiện tượng di truyền Sinh học 9 35 2.4 Biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học 36 2.4.1 Sử dụng phương pháp graph hệ thống hoá kiến thức về Các quy luật và hiện tượng di truyền cho học sinh 36 2.4.2 Thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi bài tập trong dạy học nội
Trang 53
dung Các quy luật và hiện tượng di truyền nhằm phát triển kĩ năng
2.4.2.1 Một số lý thuyết cơ bản về các quy luật di truyền 46 2.4.2.2 Bài tập quy luật và hiện tượng di truyền 50 CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 78 3.1 Mục đích thực nghiệm 78 3.2 Nội dung thực nghiệm 78 3.3 Phương pháp thực nghiệm 78
3.3.1 Chọn trường thực nghiệm 78 3.3.2.Chọn học sinh thực nghiệm 78
3.3.3 Chọn giáo viên dạy thực nghiệm 78
3.3.4 Phương án thực nghiệm 79 3.3.5 Bố trí thực nghiệm 79 3.3.5.1 Thực nghiệm dạy học 79
3.3.5.2 Thực nghiệm đánh giá hiệu quả của tiết học thông qua kiểm tra
3.4 Xử lý số liệu thực nghiệm 81 3.4.1 Phân tích kết quả định tính 81 3.4.2 Phân tích kết quả định lượng 82 3.5 Kết quả thực nghiệm 84
3.5.1 Kết quả định tính 84
3.5.2 Kết quả thực nghiệm định lượng 85 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96 1.Kết luận 96
2 Khuyến nghị 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 64
Trang 7Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công thì phải không ngừng đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Do đó, việc bồi dưỡng nhân tài là một nhiệm vụ của ngành Giáo dục – Đào tạo và mỗi người giáo viên Bồi dưỡng nhân tài phải được thực hiện sớm từ bậc tiểu học, THCS Việc bồi dưỡng nhân tài ở bậc THCS được thể hiện ở bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó có bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học
Sinh học có thể nói là một môn khoa học về sự sống rất lí thú Nhưng theo điều tra khảo sát có rất ít học sinh thật sự hứng thú với Sinh học Nếu việc lựa chọn học sinh vào đội tuyển bồi dưỡng gặp nhiều khó khăn thì việc dạy bồi dưỡng các em còn khó khăn hơn Nếu giáo viên không tìm được biện pháp thích hợp sẽ làm giảm chất lượng học sinh giỏi Từ thực trạng của việc dạy và học ở các lớp cũng như việc bồi dưỡng học sinh giỏi sinh học đang gặp một số khó khăn như: giáo viên chưa chuẩn bị tốt hệ thống lý thuyết và chưa xây dựng được hệ thống bài tập chuyên sâu trong quá trình giảng dạy; học sinh không có nhiều tài liệu tham khảo; nội dung giảng dạy chưa đáp ứng được nội dung thi học sinh giỏi ở các kì thi học sinh giỏi môn Sinh học các cấp
Trang 86
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “ Biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học ( nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền)” Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài giúp
cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh đạt kết quả cao trong những năm tới
- Luận văn “Rèn luyện học sinh kỹ năng hệ thống kiến thức trong dạy học Sinh học 9” của tác giả Ngô Văn Hưng năm 2006
Tuy vậy, chưa có một luận văn hay đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về việc dạy học nội dung Các quy luật và hiện tượng di truyền cho học sinh giỏi lớp
9
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp trong dạy học nội dung các quy luật và hiện tượng
di truyền góp phần nâng cao hiệu quả trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học
4 Phạm vi nghiên cứu
Các biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học đề xuất giới hạn trong nội dung Các quy luật và hiện tượng di truyền
Trang 97
5 Mẫu nghiên cứu
Mẫu điều tra, khảo sát và thực nghiệm sư phạm về việc dạy học bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học phần Các quy luật và hiện tượng di truyền ở các trường THCS: Trường THCS Lê Lợi, THCS Đồng Giao, THCS Quang Trung, THCS Đông Sơn, THCS Yên Bình, THCS Yên Sơn trong địa bàn TX Tam Điệp - Ninh Bình
6 Câu hỏi nghiên cứu
Biện pháp nào có hiệu quả trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học được tiến hành trong dạy học sinh giỏi lớp 9 nội dung Các quy luật và hiện tượng di truyền?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Việc xây dựng - sử dụng câu hỏi, bài tập và rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh có hiệu quả cao trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học nội dung Các quy luật và hiện tượng di truyền
8 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết: Tổng hợp các tài liệu liên quan đến việc xây dựng và sử dụng câu hỏi và bài tập nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền Các tài liệu liên quan đến rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh về nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền
- Điều tra thực trạng việc dạy học học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học ở các trường trên địa bàn Thị xã Tam Điệp – Ninh Bình
- Thiết kế và sử dụng câu hỏi và bài tập về nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền trong dạy học sinh giỏi
Trang 109 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp các cơ sở lí luận
của việc sử dụng câu hỏi và bài tập trong dạy học Sinh học 9; cơ sở lí luận về hệ thống hóa kiến thức trong dạy học Sinh học 9
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra: Tìm hiểu việc dạy( thông qua nghiên cứu giáo
án, dự giờ, phỏng vấn, trao đổi với giáo viên) và việc học ( thông qua trao đổi với học sinh, phân tích các sản phẩm học tập của học sinh) nhằm đánh giá tình hình dạy và học nội dung kiến thức phần các quy luật và hiên tượng di truyền Sinh học lớp 9 từ đó đề xuất biện pháp
- Phương pháp xử lí số liệu: Các số liệu thu được trong quá trình điều tra
khảo sát trong thực nghiệm sư phạm được xử lí bằng bảng biểu và các giá trị đặc trưng của thống kê toán học( trị số trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn) kiểm định giả thuyết thống kê các tham số
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm với
tiến trình dạy học đã soạn thảo Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, đối chiếu với mục đích nghiên cứu và rút ra kết luận của đề tài
10 Luận cứ
- Luận cứ lý thuyết:
Trang 119
+ Cơ sở lý luận về câu hỏi và bài tập, hệ thống hóa kiến thức để làm cơ sở cho những tác động sư phạm nhằm nâng cao tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh từ đó nâng cao chất lượng học tập của học sinh
+ Những phân tích về nội dung kiến thức về các quy luật và hiện tượng di truyền Sinh học lớp 9 THCS và xác định được những khó khăn của học sinh khi học tập nội dung kiến thức này
- Luận cứ thực tế:
+ Phiếu dự giờ, trao đổi với giáo viên, phiếu khảo sát học sinh
+ Minh chứng của diễn biến dạy học thực nghiệm ( biên bản quan sát giờ học, ảnh chụp)
+ Các bài kiểm tra của học sinh
11 Những đóng góp mới của đề tài
- Xác định được các kiến thức học sinh giỏi cần phải có khi học về nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền
- Đề xuất được các biện pháp để dạy nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền cho đối tượng học sinh giỏi lớp 9
- Vận dụng các biện pháp để dạy học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học
12 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gòm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Các biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12hệ, có tương tác với nhau” Hay định nghĩa của Miller: “ hệ thống là tập hợp các yếu tố cùng với những mối quan hệ tương tác giữa chúng với nhau”
Khái niệm hệ thống đã được triết học đề cập tới: Đó là một tổ hợp các yếu
tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, trong đó mối quan
hệ qua lại biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng trở nên một chỉnh thể trọn vẹn và đến lượt mình, khi nằm trong mối quan hệ qua lại đó, chúng tạo nên những thuộc tính mới, các thuộc tính mới này không có ở những yếu tố cấu trúc khi chúng đứng riêng lẻ Mối tác động qua lại biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc đã sản sinh ra động lực cho sự tự thân vận động và phát triển của hệ thống
PH.Ăngghen đã nhấn mạn rằng sự tác động qua lại là nguyên nhân bên trong quy định sự phát triển vì vậy sự phát triển của tư duy lý thuyết khoa học không chỉ là sự gia công sắp xếp lại các tài liệu đã được tích luỹ trong các nghiên cứu khác nhau mà chính là việc xác định các mối quan hệ biện chứng giữa các tri thức đó với nhau trong một chỉnh thể trọn vẹn
Trang 1311
Trong bút kí triết học và nhiều tác phẩm của mình V.I.Lênin đã chú ý nhiều đến khái niệm chỉnh thể, cái chung tương ứng với khái niệm hệ thống, còn cái riêng tương ứng với bộ phận, cũng như mối liên hệ biện chứng giữa các bộ phận với nhau và với hệ thống, giữu hệ thống này với hệ thống khác
Nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau về Sinh học đã có những ý kiến của các nhà khoa học đề cập đến bản chất vai trò nhận thức của hệ thống và hệ thống hoá kiến thức
I.Pavlop đã thành công trong nghiên cứu sinh lý người khi và chỉ khi đã xem con người như một hệ toàn vẹn tự điều chỉnh
Tóm lại hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức
năng, có quan hệ hoặc liên hệ chặt chẽ với nhau làm thành một thể thống nhất
* Khái niệm hệ thống hoá kiến thức:
Hệ thống hoá là việc mà người ta làm cho các sự vật, hiện tượng, đối tượng… trở nên có hệ thống
Trong dạy học khi học các nội dung nào đó người ta xâu chuỗi các nội dung lại thành một tổ hợp hệ thống lôgic goi là hệ thống hoá kiến thức
Việc hệ thống hoá kiến thức phải dựa trên quan điểm tiếp cận cấu trúc hệ thống và có thể được trình bày bằng bảng hệ thống, sơ đồ hệ thống hay trình bày theo một lôgic nhất định
1.1.1.2 Vai trò của việc hệ thống hoá kiến thức
Hệ thống hoá kiến thức là một quá trình thực hiện các thao tác lôgic để sắp xếp các kiến thức vào một hệ thống
Vì vậy trong dạy học việc hệ thống hoá kiến thức được sử dụng để giáo viên trình bày tài liệu, sách giáo khoa một cách cô đọng Để giáo viên tổ chức
Trang 1412
học sinh nghiên cứu các nguồn tài liệu và diễn đạt những tài liệu đọc được, gia công nó theo một định hướng nhất định để rút ra được những kết luận có tính khái quát, tim ra trong đó những mối quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật và hiện tượng
Như vậy việc hệ thống hoá kiến thức giúp giáo viên củng cố cho học sinh những điều đã học, sẵp xếp chúng thành một hệ thống chặt chẽ, giúp học sinh lý giải được ý nghĩa sâu xa của kiến thức ấy, biết cách diễn đạt ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ của chính mình khi nghiên cứu nội dung Sinh học
Trong dạy học việc hệ thống hoá kiến thức sẽ có tác dụng rèn luyện ở học sinh những phẩm chất trí tuệ sau đây:
- Rèn luyện kỹ năng đọc sách, tài liệu giáo khoa, phát triển năng lực nhận thức cho học sinh Muốn hệ thống hoá kiến thức được học sinh phải đọc kỹ nội dung sách giáo khoa để chắt lọc, lựa chọn kiến thức cơ bản, cốt lõi nhất Đồng thời phải thiết lập mối quan hệ giữa các phần kiến thức Quá trình này đòi hỏi học sinh phải vận dụng thành thạo cá thao tác tư duy cơ bản như: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá…Đấy là quá trình gia công chuyển hoá tri thức sách vở thành tri thức bản thân Như vậy việc hệ thống hoá kiến thức giúp học sinh sử dụng được các nguồn tài liệu đa dạng, phát triển tư duy lôgic, tư duy hình tượng, tư duy biện chứng trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động chủ động và sáng tạo
- Qua việc hệ thống hoá kiến thức học sinh biết cách đối chiếu so sánh sự vật hiện tượng để tìm ra quy luật nghĩa là rèn luyện học sinh khả năng khái quát hoá rút ra kết luận
- Bằng phương pháp hệ thống hoá kiến thức, tri thức mà học sinh lĩnh hội được không phải ở dạng cung cấp sẵn mà trên cơ sở hoạt động với đối tượng,
Trang 151.1.1.3 Yêu cầu của sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức
Việc hệ thống hoá kiến thức cho học sinh giáo viên phải luôn bám sát và thực hiện cho được mục tiêu của bài học đề ra
Một sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức khi xây dựng xong phải đạt các yêu cầu cơ bản sau:
- Sơ đồ, bảng hệ thống hoá phải đảm bảo tính khoa học, chính xác, lôgic
và mang tính sư phạm cao
- Sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức cần phải đạt được mục đích dạy học
đã đề ra
- Sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức phải đảm bảo sự liên hệ chặt chẽ giữa các thứ bậc và trong từng thứ bậc
- Sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức phải bao quát được nội dung cơ bản
về kiến thức cần hệ thống trong sách giáo khoa
- Sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức phải dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
1.1.1.4 Những nguyên tắc của việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng hệ thống hoá kiến thức
Trang 1614
a Quán triệt mục tiêu dạy học khi hệ thống hoá kiến thức:
Mục tiêu của mỗi bài học không phải chỉ là hình thành kiến thức, kỹ năng
mà quan trọng hơn cả là việc phát triển các thao tác tư duy và vận dụng được kiến thức Do đó trong quá trình rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức, giáo viên phải luôn bám sát mục tiêu bài học và hình thành các thao tác phù hợp với nội dung bài học
b Phát huy tính tích cực của học sinh:
Khi hệ thống hoá kiến thức điều quan trọng là đưa học sinh tham gia vào việc lập bảng, sơ đồ hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất Bằng những chỉ dẫn hay hệ thống câu hỏi dựa vào đó học sinh sẽ xác định được nội dung và xác định được mối quan hệ giữa các nội dung qua đó lĩnh hội được kiến thức
c Giúp học sinh nâng dần khả năng hệ thống hoá kiến thức:
Trong quá trình rèn luyện kỹ nănng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh tuỳ thuộc vào trình độ năng lực cụ thể của học sinh để giáo viên nâng dần yêu cầu các mức độ hệ thống hoá từ dễ đến khó, không nóng vội sẽ dễ làm cho học sinh chán nản khi không thực hiện được các yêu cầu mà giáo viên đặt ra
Các mức độ hệ thống hoá được sắp xếp từ dễ đến khó như sau:
- Nghiên cứu nội dung qua bảng, sơ đồ hệ thống hoá do giáo viên trình bày
- Học sinh nghiên cứu bảng, sơ đồ cho trước để rút ra nhận xét
- Điền bảng, sơ đồ thiếu khuyết, sơ đồ câm cho trước nhờ nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa theo hướng dẫn của giáo viên
- Tự xây dựng bảng, sơ đồ hệ thống hoá kiến thức qua hướng dẫn của giáo viên
Trang 17Trong tiến trình tổ chức bài học, các bước xây dựng hệ thống phải được sắp xếp thành một chỉnh thể theo một thứ tự nhất định, tính đến sự kế thừa nội dung từ những bài đã học đang học và sẽ học Từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất cấp thấp đến bản chất cấp cao
Tóm lại, khi hệ thống hoá kiến thức phải đảm bảo được các nguyên tắc trên Tất nhiên, không phải lúc nào cũng đầy đủ các nguyên tắc đó tuỳ thuộc vào mục đích sư phạm của việc hệ thống hoá Ví dụ như việc sử dụng hệ thống hoá trong khâu nghiên cứu tài liệu mới, trong khâu luyện tập hay tổng kết, trong khâu kiểm tra đánh giá… Tuy nhiên các nguyên tắc đó phải cố gắng thể hiện trong mỗi bảng, sơ đồ hệ thống hoá
1.1.1.5 Những biện pháp hệ thống hoá kiến thức
Để hệ thống hoá kiến thức trong sách giáo khoa ta có thể thể hiện bằng bảng hệ thống hay sơ đồ:
a Xây dựng bảng hệ thống hoá kiến thức
Bảng hệ thống là một hình thức diễn đạt nội dung theo một hệ thống nào
đó Bảng hệ thống được cấu trúc với các cột theo lôgic chiều dọc, ngang, chéo cho phép chúng ta đối chiếu, so sánh và thiết lập các mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức Giá trị sư phạm của bảng giúp khảo sát sự vật hiện tượng một
Trang 1816
cách toàn diện và đặt nó vào một hệ thống các mối quan hệ với nhau giúp người
ta dễ hình dung các logic có tính quy luật của sự vật hiện tượng
Để xây dựng bảng hệ thống kiến thức có thể tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Xác định nhiệm vụ học tập
Bước 2: Xác định các khía cạnh( các mặt) của nội dung kiến thức
sở nào? để có thể thực hiện được nhiệm vụ đó
- Bước 2: Xác đinh các khía cạnh ( các mặt) của nội dung kiến thức: Nghĩa
là phân tích sự phát triển của kiến thức dựa trên một tiêu chí nhất định nào đó
Bằng các câu hỏi gợi ý, hướng dẫn cua giáo viên, học sinh sẽ xác định được tiêu chí để phân tích sự phát triển của kiến thức, từ đó xác định được các khía cạnh (các mặt) của nội dung kiến thức để đưa vào cấu trúc của bảng
- Bước 3: Thiết lập các cột, hàng nghĩa là xác định cách trình bày bảng hệ thống hoá bằng cách:
Tiến hành đếm kiến thức và căn cứ vào chủ đề định thể hiện để xác định cấu trúc của bảng: số hàng, số cột, kích thước của các hàng các cột kích thước của bảng, bố trí theo chiều ngang hay chiều dọc…
Trang 1917
- Bước 4: Hoàn thiện bảng hệ thống
Điền nội dung cụ thể vào các ô giữa cột và hàng tương ứng trong bảng vừa thiết kế và hoàn thiện bảng hệ thống cho phù hợp với mục đích đề ra Có thể đọc bảng vừa xây dựng để từ đó rút ra những kết luận cần thiết
b Xây dụng sơ đồ hệ thống hoá kiến thức
- Sơ đồ hoá là phương pháp diễn đạt nội dung dạy học bằng ngôn ngữ sơ
đồ Ngôn ngữ sơ đồ được thể hiện bằng các kí hiệu khác nhau như: hình vẽ lược
đồ, mạng lưới đồ thị, graph nội dung Trong đó Graph nội dung là dạng hệ thống hoá kiến thức nêu rõ được quan hệ ở các cấp độ và các thành phần của mỗi cấp làm cho toàn bộ nội dung được tóm tắt dưới dạng tổng quát Graph nội dung dạy học bao gồm Graph nội dung cho một khái niệm, một bài, một chương hoặc một phần
- Điểm đặc trưng cho tất cả các nội dung dạy học có thể Graph hoá đó là trong mỗi nội dung dạy học ta xét các phần tử của một tập hợp nào đó có quan
hệ với nhau Các phần tử của tập hợp được biểu thị bằng các đỉnh của Graph còn các quan hệ của các cặp phần tử bằng tập hợp các cạnh hay các cung
- Lập Graph nội dung có thể thực hiện theo các bước cụ thể sau:
Bước 1: Tổ chức các đỉnh: gồm các công việc chính sau:
* Chọn kiến thức tối thiểu cần và đủ
* Mã hoá chúng cho thật xúc tích, có thể dùng kì hiệu quy ước
* Đặt chúng vào các đỉnh trên mặt phẳng
Bước 2: Thiết lập các cung: Thực chất là nối đỉnh với nhau bằng các đoạn(
có hướng hoặc vô hướng) để diễn tả mối liên hệ phụ thuộc giữa nội dung các đỉnh với nhau sao cho phản ánh được lôgic phát triển của nội dung đó
Trang 2018
Bước 3: Hoàn thiện Graph: làm cho Graph trung thành với nội dung được
mô hình hoá về cấu trúc lôgic nhưng lại giúp cho học sinh lĩnh hội dễ dàng nội dung đó và nó phải đảm bảo mỹ thuật về mặt trình bày
Tom lại Graph nội dung cần tuân thủ cả về mặt khoa học, mặt sư phạm và hình thức trình bày bố cục
1.1.2.6 Khái niệm về kỹ năng hệ thống hoá kiến thức
a Kỹ năng
Theo gốc Hán - Việt, “kỹ” là sự khéo léo, “năng” là có thể Kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn Kỹ năng đạt tới mức hết sức thành thạo khéo léo thì trở thành kỹ xảo.( Theo Trần Bá Hoành - Một số cơ sở lý thuyết của các hướng cải cách môn Sinh học - 1996)
Theo M.A Đanilop (1980) kỹ năng là khả năng của con người biết sử dụng
có mục đích và sáng tạo những kiến thức trong hoạt động lý thuyết cũng như thực tiễn Kỹ năng bao giờ cũng dựa trên kiến thức lý thuyết, kỹ năng chính là kiến thức trong hành động
Theo quan niệm của A.V.Petrovxki (1982) thì kỹ năng là cách thức hành động dựa trên cơ sở tri thức Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập tạo cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà
cả trong những điều kiện thay đổi
Từ những quan niệm về kỹ năng trên ta thấy các tác giả đã xét kỹ năng ở hai khía cạnh khác nhau:
Thứ nhất: Coi kỹ nănng như là cách thức hành động phù hợp với mục tiêu
và điều kiện hành động
Trang 2119
Thứ hai: Coi kỹ năng như là năng lực của con người, nghĩa là coi kỹ năng
là thực hiện có kết quả với chất lượng cần thiết với thời gian tương ứng, không những trong điều kiện quen thuộc mà còn trong điều kiện mới
Như vậy quan niệm thứ hai không chỉ coi kỹ năng là kĩ thuật, cách thức hành động mà còn coi kỹ năng là một biểu hiện của năng lực con người, đòi hỏi
ở con người phải luyện tập theo một quy trình xác định mới hình thành được kỹ năng đó
b Kỹ năng hệ thống hoá kiến thức
* Khái niệm:
Kỹ năng hệ thống hoá kiến thức: là khả năng thực hiện các thao tác tư duy
để làm cho kiến thức của bài học trở nên có hệ thống Học sinh phải sử dụng các thao tác tư duy cơ bản như: so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá…
- So sánh: là quá trình con người dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các sự vật hiện tượng So sánh bao giờ cũng đi kèm với đối chiếu
- Phân tích: Là quá trình tách ra trong sự vật hiện tượng những mặt này hay mặt khác, các thuộc tính này hay thuộc tính kia, các thành phần, tìm kiếm các bằng chứng cho một luận điểm, nguyên nhân hay kết quả của một hiện tượng, làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa các bộ phận…
- Tổng hợp: là quá trình con người dùng trí óc để hợp nhất các thành phần
đã tách rời nhờ sự phân tích thành một thể thống nhất Phân tích và tổng hợp có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau để tạo thành sự thống nhất không thể tách rời
Trang 2220
- Trừu tượng hoá: là quá trình con người dùng trí óc để gạt bỏ những mặt thuộc tính, những liên hệ, quan hệ thứ yếu không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu toó nào cần thiết để tư duy
- Khái quát hoá: là quá trình hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau nhưng có chung những thuộc tính liên hệ, quan hệ nhất định thành một nhóm loại
Tóm lại: Cùng một lúc học sinh vừa phải phân tích đối tượng nhận thức thành các sự kiện, các yếu tố cấu thành lại phải vừa tổng hợp chúng lại, thiết lập các mối quan hệ qua lại giữa chúng
* Quá trình hình thành kỹ năng hệ thống hoá kiến thức :
Thực chất của quá trình hình thành kỹ năng hệ thống hoá kiến thức trong học tập là hình thành ở học sinh khả năng sử dụng các thao tác tư duy đê phân tích nội dung xác định các yếu tố của kiến thức và mối quan hệ giữa chúng, từ đó sắp xếp các kiến thức thành hệ thống Vi vậy, muốn hình thành kỹ năng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh cần:
- Hướng dẫn học sinh biết cách phân tích nội dung để tìm ra kiến thức cơ bản cốt lõi nhất hay chính là xác định các đỉnh của sơ đồ hệ thống hoá
- Hướng dẫn học sinh tìm ra được các mối quan hệ và tính chất của mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức để xác định được các cạnh và chiều của các cạnh trong sơ đồ hệ thống hoá
- Hướng dẫn học sinh hình thành một mô hình khái quát để diễn đạt các yếu tố kiến thức thành một sơ đồ thể hiện tính hệ thống
1.1.2 Cơ sở lí luận của việc sử dụng câu hỏi và bài tập trong dạy học Sinh học
1.1.2.1 Khái niệm bài tập, bài tập nhận thức, câu hỏi tự lực
Trang 2321
a Khái niệm bài tập
Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học nhằm hình thành kiến thức mới, củng cố, hoàn thiện kiến thức đã học
Bài tập có thể là; Một câu hỏi, một thí nghiệm, một bài toán, một bài toán nhận thức
- Bài tập tạo ra một định hướng nhận thức của người học, đẻ người học hướng tới việc tìm hiểu, sử dụng vốn hiểu biết tri thức, định hướng bổ sung thêm những tri thức mới từ tài liệu giáo khoa Trên cơ sở đó bằng năng lực tư duy, vốn kinh nghiệm của mỗi cá nhân tạo ra tiềm lực nhận thức được vấn đề đặt ra Lúc này người học đã tiếp thu được một tri thức mới từ một bài tập
- Bài tập xây dựng từ tri thức tài liệu giáo khoa tạo ra định hướng nghiên cứu tài liệu giáo khoa ở mức độ cao Dạy cho người học biện pháp tiếp cận với nguồn tri thức mới nhanh hơn
Ở mỗi người học đều chứa đựng cái tiềm ẩn, cái kinh nghiệm nhận thức còn đang rời rạc, thiếu lôgic Khi có bài tập, phần lớn là tình huống có vấn đề, từ
đó nảy sinh một hướng tư duy mới buộc người học phải tận dụng những khả năng vốn có để phanh phui, tìm hiểu, làm lộ ra bản chất có trong mỗi bài tập Bài tập tạo ra “ một chuỗi đo nhận thức” cho mỗi người học biết được năng lực nhận thức của chính bản thân người học, từ đó có hướng bổ sung, tìm phương pháp để nhận thức có hiệu quả
- Về mặt lôgic nội dung bài tập nhằm củng cố, hoàn thiện, nâng cao, kiểm tra, đánh giá và tự đánh giá một phần nào đó kiến thức Qua việc giải bài tập giáo viên nhận thấy được uu điểm, nhược điểm của người học trong nội dung kiểm tra nhận thức Trên cơ sở đó người học có thể đề ra phương án khắc phục, còn người dạy có thể tự bổ sung hoàn chỉnh lại phương pháp
Trang 2422
Bài tập là hiện tượng khách quan đối với học sinh, nó có ở trong sách giáo khoa, hay viết trên bảng hoặc ở đâu đó
b Khái niệm bài tập nhận thức
Bài tập được giáo viên đưa đến cho học sinh theo mục đích dạy học, giúp học sinh định hướng được việc học và qua bài tập học sinh hinh thành được kiến thức mới thì bài tập trở thành bài tập nhận thức
Không phải lúc nào bài tập cũng trở thành bài tập nhận thức, bài tập chỉ trở thành bài tập nhận thức khi mâu thuẫn khách quan trong bài tập được học sinh ý thức như là một vấn đề, nghĩa là biến thành mâu thuẫn chủ quan Từ đó học sinh dựa vào những kiến thức trong sách giáo khoa, những kiến thức đã tiếp thu từ trước, những kiến thức từ thông báo của giáo viên để tìm cách khắc phục, biến đổi mâu thuẫn, khi giải quyết được mâu thuẫn thì lĩnh hội được kiến thức từ bài tập
c Khái niệm câu hỏi tự lực
Các câu hỏi tự lực là những câu hỏi gợi ý của giáo viên theo một định hướng sư phạm trong dạy học Đó là loại câu hỏi hướng dẫn tư duy tìm tòi tài liệu mới của học sinh khi đọc tài liệu giáo khoa Điều này có tác dụng rút ngắn thời gian nhận thức các tri thức mới của học sinh từ tài liệu giáo khoa, tập dượt cho học sinh tác phong tự học, tự nghiên cứu tìm tòi có định hướng từ các tri thức hờ hững của tài liệu giáo khoa
1.1.2.2 Lược sử ra đời của bài tập Sinh học trong dạy hoc Sinh học
Tuỳ thuộc vào từng môn học mà sự ra đời của bài tập trong dạy học có khác nhau Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến sự ra đời của bài tập di truyền trong dạy học Sinh học
Trang 2523
Từ sau kết quả nghiên cứu của Menđen, các bài tập di truyền mới được thiết lập Trước hết là để nghiên cứu các quy luật di truyền, sau đó phục vụ cho công tác dạy học Lĩnh vực di truyền học là một mũi nhọn của Sinh học đề cập đến những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm Do sự xâm nhập ngày càng sâu của toán học vào các lĩnh vực Sinh học Cho nên người ta mô hình hoá ngày càng nhiều nội dung Sinh học bằng các biểu thức toán học gọn nhẹ tạo ra những thông số để khám phá những điều bí ẩn về vật chất di truyền, cơ chế và quy luật truyền đạt cho thế hệ sau
Trên thế giới bài tập di truyền thực sự đưa vào dạy học năm 1965, còn ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1971 Trong tài liệu giáo khoa phổ thông và đại học sau mỗi bài, mỗi chương đều có bài tập nhằm củng cố kiến thức, tập dượt cho người học phương pháp tự nghiên cứu
1.1.2.3 Bản chất của bài tập di truyền trong dạy học
- Chứa đựng thông tin: Thông tin cần lình hội , cần truyền đạt đó là các mối quan hệ phản ánh bản chất của các quy luật di truyền Thông tin đó có dung lượng nhất định, dung lượng đó tuỳ thuộc vào mục đích dạy học, đối tượng dạy học, đối tượng nhận thức, nghĩa là phụ thuộc vào trình độ năng lực của giáo viên, trình độ nhận thức của học sinh và các kiến thức chứa đựng trong bài tập là kiến thức mới cần tiếp cận hay là kiến thức cũ cần ôn tập, củng cố, hoàn thiện nâng cao
- Chứa đựng lôgic của những vấn đề cần được đưa ra để nhận thức kiến thức cũ rõ hơn, làm tiền đề để nhận thức kiến thức mới, nghĩa là nó làm cầu nối giúp người học vượt qua trở ngại nhận thức để đi đến kiến thức mới đồng thời người học cũng nhận thức được nội dung kiến thức một cách lôgic hệ thống
1.1.2.4 Vai trò của bài tập di truyền trong dạy học
Trang 2624
1 Bài tập và lời giải của bài tập là nguồn tri thức mới cho học sinh
2 Phát triển năng lực tư duy cho học sinh, đặc biệt rèn luyện những thao tác trí tuệ, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết về di truyền học
3 Tăng độ bền kiến thức, cá thể hóa việc học một cách tối ưu Kiến thức đến với học sinh không phải thông qua kênh độc thoại của giáo viên mà qua kênh hoạt động tư duy của học sinh, do đó học sinh hiểu sâu hơn những kiến thức đã học, tránh được những động hình sai lệch trong nhận thức
4 Là phương tiện để tổ chức cho học sinh tự chiếm lấy tri thức mới đồng thời nó cũng là phương tiện để kiểm tra các kiến thức đã dạy của thầy, đã học của trò Từ đó giúp giáo viên đánh giá hiệu quả những phương pháp của mình đã vận dụng để truyền tải kiến thức cho học sinh, phát hiện và có biện pháp bù đắp những lỗ hổng kiến thức cho học sinh Còn học sinh sẽ rút ra kinh nghiệm học,
tự bổ xung đào sâu kiến thức
5 Bài tập có vai trò định hướng nhận thức, định hướng nghiên cứu sách giáo khoa, lúc này sách giáo khoa đóng vai trò là nguồn tư liệu để học sinh phân tích tìm lời giải
6 Củng cố và nâng cao kiến thức, thường xuyên hệ thống hoá và khái quát hoá các kiến thức đã học giúp học sinh hình thành kiến thức một cách hệ thống Khi giải bài tập học sinh tái hiện các kiến thức cũ và xác lập mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết trong bài tập từ đó tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhận thức
1.1.2.5 Các tiêu chuẩn của bài tập di truyền trong dạy học Sinh học
Để thực hiện chức năng sư phạm bài tập được xây dựng để dạy học nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền cần phải đạt các tiêu chuẩn sau:
Trang 2725
1 Đảm bảo được nội dung khoa học của các quy luật di truyền
Bài tập phải chứa đựng nội dung kiến thức trong các quy luật di truyền, phản ánh được nội dung cơ bản của cả nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền Đặc biệt làm nổi bật quy luật tổng quát chi phối sự di truyền của các tính trạng, đó là quy luật vận động vật chất di truyền( gen, nhiễm sắc thể) Nghĩa là phải tô đậm mối quan hệ nhân - quả giữa kiểu gen và kiểu hình hay giữa gen và tính trạng
2 Bài tập di truyền phải tải được nhiều tri thức Sinh học nhất
Bài tập phải chứa đựng nhiều mối quan hệ có bản chất Sinh học, nghĩa là
có “ dung lượng tối đa” đảm bảo khi giải học sinh rút ra được nhiều tri thức nhất Cần tránh hiện tượng phức tạp hoá bài tập bằng các thuật toán mà giảm tỉ trọng kiến thức Sinh học Khi xây dựng bài tập di truyền phải xuất phát từ quan niệm: bài tập là phương tiện để truyền tải nội dung kiến thức Sinh học chứ không phải
là để luyện tập khả năng tính toán Để có một “ dung lượng tối đa” bài tập di truyền cần phải có nhiều khả năng không chỉ đề cập đến một mà nhiều quy luật
di truyền, nghĩa là nhiều quan hệ vận động của các yếu tố di truyền “Dung lượng” không chỉ nói về mặt số lượng mà điều quan trọng hơn là về mặt chất lượng, chất lượng được xác định bởi mức “ đánh lừa” tư duy giáo điều và phiến diện của học sinh Để có chỉ số “ đánh lừa cao” thì bài tập vừa đan xen sự vận động của nhiều quy luật di truyền vừa có mối quan hệ phức tạp giữa nguyên nhân và kết quả được thể hiện qua mối quan hệ giữa dữ kiện và ẩn số
3 Đảm bảo tính kế thừa, có mức độ phức tạp dần, trong đó bài tập trước là
cơ sở bài tập sau sao cho bài tập trở thành một hệ thống trọn vẹn “ ăn khớp” với nội dung kiến thức quy định trong chương trình và sách giáo khoa
Trang 2826
4 Phải có nhiều khả năng huy động tính sáng tạo, chủ động của giáo viên
và học sinh Muốn vậy bài tập phải được tính toán phù hợp với trình độ học sinh Bài tập phải chứa đựng nhiều mối quan hệ Sinh học chứ không thuần tuý về mặt toán học
5 Đáp ứng một cách mềm dẻo đối với từng đối tượng học sinh với các trình độ nhận thức khác nhau, đảm bảo cá thể hoá việc học một cách tối ưu, cho phép sử dụng linh hoạt để tổ chức nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập củng cố, hoàn thiện nâng cao kiến thức, kiểm tra đánh giá bằng những bài tập có mức độ khó
dễ khác nhau
6 Phải rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản, khắc sâu kiến thức lý thuyết, đặc biệt là kiến thức về bản chất của các quy luật di truyền cũng như mối liên hệ bản chất giữa các quy luật di truyền
để dạy học nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền phải phản ánh được quy luật vận động của vật chất di truyền theo một trình tự lôgic nhất định
1.1.2.6 Đặc điểm của bài tập trong dạy học nội dung các quy luật và hiện tượng di truyền
Trang 2927
Dựa vào nội dung kiến thức hay mục đích của dạy học, bài tập tổ chức dạy học phần này có thể chia thành nhiều dạng nhằm nâng cao tính độc lập sáng tạo của học sinh
Nếu dựa vào mục đích của dạy học ta có thể phân chia thành các dạng sau: bài tập trong khâu nghiên cứu tài liệu mới, trong khâu củng cố hoàn thiện kiến thức, bài tập hoàn thiện nâng cao kiến thức
a Bài tập trong khâu nghiên cứu tài liệu mới
Dạng bài tập này khi giải sẽ là nội dung kiến thức mới, cụ thể là giới thiệu nội dung khoa học của một, vài quy luật di truyền nhất định nằm trong một bài theo chương trình và sách giáo khoa Nó không chỉ đề cập đến khâu giới thiệu kiến thức mới mà còn tiếp tục khai thác ở khâu củng cố, hoàn thiện thậm chí trong cả khâu kiểm tra đánh giá
Mỗi bài tập dùng để dạy kiến thức mới cần phải truyền tải được nội dung khoa học cua quy luật di truyền được đề cập đến, trong đó phản ánh quy luật tác động của gen và quy luật vận động của nhiễm sắc thể quy định sự biểu hiện và tỉ
lệ phân li kiểu hình ở thế hệ lai.Việc trình bày các quy luật di truyền thông qua
hệ thống bài tập, cho nên giữa các bài tập phải có mối quan hệ nhất định để phản ánh được tính hệ thống, nghĩa là tính kế thừa, liên tục và phát triển của tri thức
về các quy luật di truyền Cho nên “ sức chứa” của mỗi bài tập về cơ bản là nội dung khoa học của quy luật di truyền được đề cập tới, đồng thời cố gắng kế thừa bài trước đó
Khi xây dựng bài tập phải kết hợp các câu hỏi tự lực làm việc với sách giáo khoa để học sinh nhặt nhạnh những kiến thức trong giả thiết đang còn nằm lẫn lộn ít nhiều với các kiến thức khác trong sách giáo khoa Giả thiết mỗi bài tập phải chọn sao cho qua nghiên cứu có định hướng sách giáo khoa có thể tăng
Trang 3028
nhanh được trị số giữa biết và chưa biết để mỗi kết luận nhỏ mang tính lôgic cao
Tổ hợp những tìm tòi nhỏ sẽ đạt tới kiến thức cần lĩnh hội
Việc thiết kế bài tập cụ thể có thể dựa vào những dữ kiện của ngay trong thí nghiệm, những câu hỏi, những bài tập được trình bày trong sách giáo khoa, hoặc dựa trên kinh nghiệm của người giáo viên
b Bài tập để củng cố, hoàn thiện và nâng cao kiến thức
Việc củng cố, hoàn thiện và nâng cao kiến thức được thực hiện sau khi nghiên cứu bài mới
Thông qua hệ thống bài tập củng cố, nâng cao học sinh lĩnh hội được tri thức mới vững chắc hệ thống hơn Những thu nhận mới ở đây là sự hệ thống hoá
và khái quát hoá về các quy luật vận động của vật chất di truyền( gen, nhiễm sắc thể) đã chi phối sự biểu hiện và phân li kiểu hình ở thế hệ lai, về mối quan hệ giữa các quy luật di truyền, đặc biệt là mối quan hệ giữa các quy luật di truyền chi phối một tính trạngvới các quy luật di truyền chi phối nhiều tính trạng
Đặc điểm nổi bật phân biệt với bài tập dùng trong khâu nghiên cứu tài liệu mới là ở tính chất yếu tố cần tìm Cái cần tìm ở đây không phải là phương thức
để qua đó tiếp thu kiến thức mới, mà giúp học sinh vận dụng kiến thức mới vào từng trường hợp cụ thể mới trong vô vàn trường hợp cụ thể đa dạng Nhờ sự vận dụng này người học khái quát hoá, hệ thống hoá kiến thức ở mức cao hơn, có điều kiện rèn luyện tư duy
Căn cứ vào tính chất và mức độ khái quát của kiến thức, các bài tập sử dụng trong khâu này có thể xếp vào 3 loại chính:
1 Bài tập vận dụng tri thức lý thuyết: Gồm chủ yếu những bài tập thuận
và những bài tập đảo, ngắn và đơn giản Loại bài tập này sử dụng phổ biến để
Trang 3129
củng cố kiến thức sau từng tiết học lý thuyết nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ
năng vận dụng lý thuyết vào giải các bài tập trong các trường hợp cụ thể, qua đó
khắc sâu kiến thức về một vấn đề nào đó của tiết học
2 Bài tập vận dụng các tri thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn: Bao
gồm những bài tập gắn liền với một số vấn đề thực tiễn sản xuất( tất nhiên là ở
mức độ khái quát và mức độ phức tạp khác nhau) Xây dựng được những loại bài
tập này sẽ góp phần tích cực rèn luyện tư duy thực nghiệm và làm cho quá trình
học tập gắn liền với thực tiễn
3 Bài tập phát triển trí thông minh: Đây là những bài tập có tính tổng
hợp, thể hiện được sự đan xen, tổ hợp giữa các quy luật di truyền chi phối nhiều
tính trạng Loại bài tập này thể hiện tính liên tục, kế thừa và phát triển của tri
thức về các quy luật di truyền Để giải loại bài tập này đòi hỏi học sinh phải có
sự huy động các thao tác tư duy lôgic ở mức độ cao
Cách phân loại trên chỉ có tính chất tương đối vì nó còn phụ thuộc vào đối
tượng học sinh
1.2 Thực trạng việc dạy học sinh giỏi lớp 9 về nội dung kiến thức các
quy luật và hiện tượng di truyền
1.2.1 Việc học của học sinh
Để có cơ sở thực tiễn cho đề tài chúng tôi tiến hành khảo sát học sinh khối
9 của 8 trường trên địa bàn thị xã Tam Điệp thu được kết quả như sau:
Trang 32- Tái hiện đầy đủ kiến thức đã học, trình bày không logic, không vận dụng vào việc giải bài tập
- Tái hiện không đầy đủ, hiểu sai
- Số đông học sinh chỉ coi bộ môn là nhiệm vụ, ít yêu thích môn học còn
bộ phận đáng kể học sinh không thích môn Sinh học Đa số học sinh coi môn học là môn phụ do vậy không đầu tư thời gian và công sức vào học tập mà chỉ mang tính chất đối phó
Trang 3331
- Nội dung kiến thức về các quy luật và hiện tượng di truyền là kiến thức rất mới , bên cạnh đó kiến thức lại rất trừu tượng nên việc tiếp thu kiến thức trở nên khó khăn hơn
- Số học sinh hiểu sâu kiến thức có phương pháp học tập chủ động sáng tạo chiếm tỉ lệ rất thấp, học sinh còn quá thụ động, chưa tích cực, chủ động sáng tạo để lĩnh hội kiến thức từ đó dẫn đến chất lượng lĩnh hội kiến thức, kết quả bộ môn còn thấp
- Chưa thấy được mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức để chắt lọc
và hệ thống hóa kiến thức đã học thành hệ thống
Qua dự giờ của một số giáo viên chúng tôi thấy rằng:
- Với những tiết học giáo viên tổ chức các hoạt động học tập của học sinh như: làm việc với sách giáo khoa, quan sát tranh, thí nghiệm, bảng biểu, sơ đồ, các hệ thống câu hỏi tự lực, bài tập… thi học sinh rất hứng thú, tích cực sôi nổi Ngược lại nếu giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình, giảng giải thì không khí học tập kém sôi nổi
- Ở những lớp giáo viên sử dụng hệ thống bảng biểu, bài tập, câu hỏi, sơ
đồ hệ thống thì học sinh có khả năng vận dụng kiến thức tốt hơn học tập sôi nổi hơn
1.2.2 Việc dạy của giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Nhiều giáo viên trình độ kiến thức về di truyền học đặc biệt là phần các quy luật và hiện tượng di truyền còn nhiều hạn chế, do
đó ít có khả năng phân tích sâu về bản chất của từng quy luật và hiện tượng di truyền, về các mối quan hệ giữa các quy luật di truyền và hiện tượng di
Trang 3432
truyền…đồng thời ít sáng tạo khi phân tích tài liệu sách giáo khoa, tài liệu tham khảo
- Các tài liệu tham khảo thường hạn chế do tài liệu danh cho học sinh lớp
9 hầu như không được quan tâm Các giáo viên phần lớn tự mình biên soạn nội dung và kiến thức để bồi dưỡng cho học sinh của mình dựa trên khung giới hạn của chương trình thi học sinh giỏi
- Phương pháp giảng dạy: Do lối dạy cổ truyền đã ăn sâu tồn tại phổ biến
ở các trường hiện nay Hiện tượng thầy đọc trò chép, thuyết trình giảng giải xen
kẽ vấn đáp tái hiện, biểu diễn trực quan minh họa vẫn phổ biến
Trang 3533
CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
LỚP 9 MÔN SINH HỌC 2.1 Chương trình và nội dung kiến thức phần các quy luật và hiện tượng di truyền
2.1.1 Vị trí, tầm quan trọng của nội dung kiến thức quy luật và hiện tượng di truyền trong chương trình Sinh học 9
Nội dung kiến thức quy luật và hiện tượng di truyền có vi trí rất quan trọng trong chương trình Sinh học 9 Nội dung kiến thức này là mở đầu trong chương trình Sinh học 9 do đó nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh lớp
9 Nó là cơ sở tiền đề để học sinh tiếp thu các kiến thức sau này cũng như sau này cho các em học lên trung học phổ thông( lớp 11 và lớp 12 các học sinh lại trở lại nghiên cứu ở mức độ sâu hơn)
2.1.2 Phân tích chương trình và nội dung kiến thức quy luật và hiện tượng di truyền
Nội dung kiến thức quy luật và hiện tượng di truyền được đưa vào giảng dạy ở học kỳ I của lớp 9 bao gồm:
- Chương I: Các thí nghiệm của Menđen
- Chương II có các bài: + Bài 12: Cơ chế xác định giới tính
+ Bài 13: Di truyền liên kết
Về cấu trúc chương trình được trình bày tương đối hợp lý Sự hợp lý đó thể hiện: được trình bày theo trình tự từ hiện tượng di truyền đến giải thích cơ chế, từ các tính trạng do gen trên nhiễm sắc thể thường quy định đến các tính
Trang 36ý nghĩa của quy luật
Mặc dù vậy loogic của tài liệu giáo khoa cũng còn có nhiều hạn chế gậy trở ngại cho nhận thức của học sinh đó là:
- Các quy luật di truyền được trình bày có phần nghiêng về tính lịch sử: Học thuyết của Menđen được trình bày trước Trình tự này làm nổi bật công lao đóng góp của Menđen, người đặt nền móng cho sự ra đời của ngành di truyền học Tiếp đến là học thuyết của Moocgan người đã cống hiến tích cực cho sự phát triển của di truyền học Tuy nhiên phần di truyền liên kết với giới tính là phát hiện đầu tiên của Moocggan trong di truyền học lại tách ra và trình bày sau
Nội dung chính của kiến thức về quy luật và hiện tượng di truyền đề cập đến kiểu di truyền ở động vật và thực vật bậc cao Dựa trên cơ sở phương thức vận động của các cấu trúc vật chất di truyền, của nhiễm sắc thể qua các quá trình nguyên phân và giảm phân
Mở đầu bằng học thuyết di truyền gián đoạn do Menđen đề xướng và được trình bày bằng 2 quy luật di truyền cơ bản của Menđen Tiếp đó cùng với sự ra đời của thuyết di truyền nhiễm sắc thể, người ta đã chứng minh được các nhân tố
di truyền theo quan niệm của Menđen chính là các gen nằm trên nhiễm sắc thể
và trên mỗi 1 nhiễm sắc thể có tồn tại một gen
Nhưng những nghiên cứu sau đó của Moocgan đã chứng minh rằng: Cơ thể sinh vật có rất nhiều gen, mà số lượng nhiễm sắc thể có hạn nên trên 1 nhiễm sắc thể có tồn tại nhiều gen Cùng với những thành tựu của tế bào học đã phát
Trang 3735
hiện ra cơ chế trong nguyên phân, giảm phân để hình thành giao tử và thụ tinh đã rút ra kết luận: Trong quá trình giảm phân phát sinh giao tử, các gen nằm trên các cặp nhiễm sắc thể khác nhau thì phân ly riêng rẽ và tổ hợp tự do khi hình thành hợp tử đó là cơ chế giải thích quy luật Menđen; các gen trên mỗi cặp nhiễm sắc thể liên kết với nhau thành từng nhóm và phân phối cùng nhau về 1 giao tử đó là cơ chế của hiện tượng liên kết gen
Trong tế bào, ngoài các nhiễm sắc thể thường còn có các nhiễm sắc thể giới tính Các nhiễm sắc thể này mang gen quy định giới tính và gen quy định tính trạng thường liên kết với giới tính Những tính trạng do gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính quy định có đặc điểm di truyền riêng biệt khác với sự di truyền của cá tính trạng do gen nằm trên nhiễm sắc thể thường quy định Quy luật di truyền thẳng và quy luật di truyền chéo là những quy luật di truyền riêng đặc thù cho sự di truyền các tính trạng liên kết với giới tính
2.3 Mục tiêu kiến thức và kỹ năng cần có khi học về nội dung các quy luật
và hiện tượng di truyền Sinh học 9
Kiến thức
- Trình bày được cơ sở tế bào học của quy luật phân li và phân li độc lập của Menđen
- Nêu được một số đặc điểm cơ bản của di truyền liên kết hoàn toàn
- Nêu được ý nghĩa của di truyền liên kết hoàn toàn
- Trình bày được cơ sở tế bào học của di truyền nhóm máu và ý nghĩa của di truyền nhóm máu trong cuộc sống
- Trình bày được các thí nghiệm và cơ sở tế bào học của di truyền liên kết với giới tính
- Nêu được ý nghĩa của di truyền liên kết với giới tính
Trang 3836
Kĩ năng
- Rèn luyện kỹ năng viết sơ đồ lai
- Rèn kỹ năng so sánh, phân tích, tổng hợp, kỹ năng khái quát hóa
- Rèn kĩ năng giải các dạng bài tập về quy luật và hiện tượng di truyền: quy luật phân li, quy luật phân li độc lập, di truyền liên kết gen, di truyền liên kết với giới tính…
2.4 Biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Sinh học
2.4.1 Sử dụng phương pháp graph hệ thống hoá kiến thức về Các quy luật và hiện tượng di truyền cho học sinh
GV hướng dẫn HS xây dựng Graph về quy luật phân li
HS sẽ tự xây dựng Graph: Quy luật phân li độc lập, liên kết gen
Xây dựng Graph về quy luật phân li
GV yêu cầu HS hoàn thành các câu hỏi trong phiếu học tập
Trang 3937
quy luật
Giải thích quy luật
Điều kiện nghiệm
đúng của quy luật
Nhận xét kết quả thí nghiệm - F1 mang tính trạng của bố hoặc mẹ
- Tính trạng được biểu hiện F1 là tính trạng trội
- F2 phân li theo tỉ lệ 3 trội : 1 lặn
Nội dung của
- Trong tế bào lưỡng bội Các gen tồn tại thành từng cặp tương ứng trên cặp NST tương đồng
Trang 4038
Giải thích quy luật
- Cặp NST phân li và tổ hợp trong giảm phân
và tổ hợp trong thụ tinh Sự phân li và tổ hợp của các gen tương ứng
- Do các gen trội lặn hoàn toàn nên kiểu gen Aa
có kiểu hình trội
Điều kiện nghiệm đúng
của quy luật
- Tính trạng trội phải trội hoàn toàn
- Số cá thể phân tích phải lớn (F2)
Để xây dựng Graph học sinh sẽ làm phiếu học tập theo 3 phần:
1 Thí nghiệm, nhận xét kết quả thí nghiệm và phát biểu nội dung quy luật
2 Giải thích quy luật
3 Điều kiện nghiệm đúng
Giai đoạn 1: Thí nghiệm, nhận xét kết quả thí nghiệm và phát biểu nội dung quy
luật
học sinh nghiên cứu SGK
Giai đoạn 2: Giải thích quy luật: giáo viên sử dụng sơ đồ thiết bị dạy học và xây
dựng Graph mối quan hệ giữa các cấp độ của vật chất di truyền Học sinh quan sát Graph, nghiên cứu SGK để giải thích quy luật Giai đoạn 3: Điều kiện nghiệm đúng: học sinh nghiên cứu SGK
Giai đoạn 1: Lập Graph phần thí nghiệm, nhận xét kết quả thí nghiệm và phát biểu nội dung quy luật
HS đã hoàn thành phiếu học tập phần thí nghiệm, nhận xét và quy luật giáo viên sử dụng phương pháp phát vấn
Giáo viên: Trình bày thí nghiệm của Menđen?
(Lai 2 giống đậu thuần chủng hoa đỏ và hoa trắng
F1 toàn hoa đỏ